1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý nghĩa giáo dục trong thơ nguyễn trãi và nguyễn du từ góc nhìn so sánh

123 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 598,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Huyền Thương 2010 “Con người nhân văn trong tiến trình văn học trung đại qua thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du” đã thể hiện được vẻ đẹp tron

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Huỳnh Thị Kim Ngân

Ý NGHĨA GIÁO DỤC TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI VÀ NGUYỄN DU

TỪ GÓC NHÌN SO SÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Huỳnh Thị Kim Ngân

Ý NGHĨA GIÁO DỤC TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI VÀ NGUYỄN DU

TỪ GÓC NHÌN SO SÁNH

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cô Lê Thu Yến, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô trong khoa Ngữ văn, quý thầy cô

là nhân viên thư viện Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi

Bên cạnh đó, xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường THPT Nguyễn Du đã tạo điều kiện để tôi tham gia khoá học một cách thuận lợi

Chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015 Học viên thực hiện Luận văn

Huỳnh Thị Kim Ngân

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện Luận văn

Huỳnh Thị Kim Ngân

Trang 5

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Lịch sử vấn đề 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 5

7 Bố cục luận văn 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT 7

1.1 Khái niệm giáo dục và một số hình thức giáo dục 7

1.1.1 Khái niệm giáo dục 7

1.1.2 Một số hình thức giáo dục 9

1.2 Chức năng giáo dục của văn chương 12

1.3 Cuộc đời, thời đại và sáng tác của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du 16

1.3.1 Cuộc đời, thời đại và sáng tác của Nguyễn Trãi 16

1.3.1.1 Cuộc đời, thời đại Nguyễn Trãi 16

1.3.1.2 Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi 19

1.3.2 Cuộc đời, thời đại và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du 20

1.3.2.1 Cuộc đời, thời đại của Nguyễn Du 20

1.3.2.2 Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Du 22

Chương 2 Ý NGHĨA GIÁO DỤC TRONG THƠ VĂN NGUYỄN TRÃI VÀ NGUYỄN DU 24

2.1 Sáng tác của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du trong việc giáo dục con người xây dựng và bảo vệ tổ quốc 24

2.2 Sáng tác của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du trong việc giáo dục hoàn thiện nhân cách 44

2 3 Sáng tác của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du nhắc nhở con người sống gần gũi, hòa hợp với thiên nhiên 70

Trang 6

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN ĐẠT Ý NGHĨA GIÁO DỤC

TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ NGUYỄN DU 93

3.1 Nguyễn Trãi truyền đạt ý nghĩa giáo dục trực tiếp qua ngôn từ 93 3.2 Nguyễn Du truyền đạt ý nghĩa giáo dục gián tiếp thông qua hệ thống hình tượng 101 3.3 Giọng điệu trong những sáng tác mang ý nghĩa giáo dục của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du 105

KẾT LUẬN 111 TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

dân tộc, văn học giúp con người có thêm những hiểu biết và tư duy sáng tạo

sót nếu như không tìm hiểu về văn học của xã hội đó Văn học Việt Nam được hình thành từ những câu hát của con người lao động, từ trong lời ru ầu ơ ngọt

Việt Nam đã có những thay đổi và đã đạt được những thành tựu rực rỡ Đặc biệt

là thời kỳ văn học trung đại Đây có thể được xem như là mốc son của nền văn học nước nhà với rất nhiều nhà văn, nhà thơ kiệt xuất với những tác phẩm có giá trị Những tác phẩm của thời kỳ này được xem như chuẩn mực đạo đức của xã hội đương thời Nó được kết tinh từ những vị hiền triết có học vấn cao thâm đã tạo nên những áng thơ văn uyên bác

Hơn nữa, khi đi tìm ý nghĩa của văn chương, nhà phê bình Hoài Thanh đã

khẳng định trong bài “Ý nghĩa của văn chương” rằng “Văn chương gây cho ta

những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có” [32, tr.28] Sáng

tạo văn chương bắt nguồn từ những cảm xúc yêu thương chân thành của người

đọc nhận thức được nhiều điều bổ ích về cuộc sống Khi đọc ca dao, tục ngữ hay thần thoại, cổ tích, chúng ta hình dung được cuộc sống của ông cha trong kỳ dựng nước và giữ nước Những ước mơ, khát vọng chinh phục thiên nhiên, những bài học về đạo lí và kinh nghiệm sống ở đời được gửi gắm qua các loại hình văn học cứ thấm dần vào máu thịt, tạo nên đời sống tinh thần phong phú cho con người Văn chương hướng con người tới Chân, Thiện, Mĩ của cuộc đời,

Trang 8

nó giúp con người hoàn thiện nhân cách để trở nên hữu ích hơn đối với gia đình

và xã hội Điều đó cho ta thấy tác dụng to lớn của thơ văn là giáo dục con người Thêm vào đó, giáo dục là một trong những vấn đề quan trọng nhất của mỗi

quốc gia, mỗi dân tộc Ở Việt Nam, giáo dục được xem là “quốc sách hàng

đầu” Muốn phát triển đất nước thì phải phát triển giáo dục Để làm được điều

đó, vì vậy ta phải có cái nhìn sâu sắc hơn về ý nghĩa giáo dục trong những sáng

đi sâu tìm hiểu ý nghĩa giáo dục trong sáng tác của hai nhà tư tưởng lớn này để hiểu được quan điểm của hai tác gia và rút ra những điểm giống và khác nhau trong nội dung giáo dục qua thơ văn của họ Qua đó, chúng tôi muốn góp một phần nhỏ lòng nhiệt huyết của mình để có được cái nhìn đầy đủ hơn về nền văn học nước nhà

Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Ý nghĩa giáo dục trong thơ

Nguyễn Trãi và Nguyễn Du từ góc nhìn so sánh” để làm đề tài nghiên cứu luận

văn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích làm rõ ý nghĩa giáo dục

nhau để có cái nhìn sâu hơn về những đóng góp của “Đại thi hào dân tộc” và

Danh nhân văn hóa thế giới”

3 Lịch sử vấn đề

T ìm hiểu và nghiên cứu về văn học trung đại luôn có một sức hút đặc biệt và nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả Trong đó, có nhiều bài viết về hai tác gia Nguyễn Trãi và Nguyễn Du

Trang 9

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Huyền Thương (2010) “Con người nhân văn

trong tiến trình văn học trung đại qua thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du” đã thể hiện được vẻ đẹp trong tâm hồn của các tác gia thông qua những

nhận định, đánh giá về nét đẹp của con người thông qua những sáng tác của họ

TS Nguyễn Minh Tường trong “Nguyễn Trãi: Anh hùng giải phóng dân tộc, danh

nhân văn hóa thế giới” đã thể hiện ngắn gọn nhưng đầy đủ, dễ đọc, dễ phổ biến về tiểu

sử chân dung chân thực của Nguyễn Trãi với những cống hiến và những bài học của một nhà tư tưởng tài hoa Cuốn sách như một tấm gương về lòng yêu nước, về sự công bằng, bài học nhân bản về con người với con người, về tình cảm cá nhân…

Trong chuyên luận “Văn chương Nguyễn Trãi”, Bùi Văn Nguyên đã nhận định

lý tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi rất uyên thâm, vĩ đại và phóng khoáng, mang đậm tinh thần nhân văn, Tiên sinh mãi mãi là tấm gương sáng của bậc làm thầy, làm cha đối với chúng ta

Trong quyển “Nguyễn Trãi, một nhân vật vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt

Nam ”, Trần Huy Liệu viết “Nguyễn Trãi tỏ ra đặc biệt chú trọng về giáo dục, ông hy

vọng và tin tưởng sẽ đào tạo được hàng loạt nhân tài cho đất nước” [33,tr.23)

Lê Trí Viễn – Đoàn Thị Thu Vân với “Học tập thơ văn Nguyễn Trãi” đã có ý

kiến khẳng định đóng góp của Nguyễn Trãi đối với vấn đề giáo dục con người

Võ Xuân Đàn với “Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam” đã

đưa ra nhận định tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi đã góp phần đưa tư duy của dân tộc lên một bước mới, để lại nhiều bài học quý giá cho chúng ta hôm nay

Trong bài viết của Nguyễn Thị Quế Anh “Nguyễn Du và Truyện Kiều từ góc

nhìn giáo dục – văn hóa” đã nhận định “Từ góc độ giáo dục, Truyện Kiều không chỉ giúp người đọc hiểu một văn bản truyện thơ lục bát; hiểu một loại văn bản nghệ thuật ngôn từ thấm đẫm hương vị fonklore trong văn thơ Nôm, hiểu xã hội nhiễu nhương, hỗn loạn thời phong kiến mà còn cho người đọc thưởng thức, thụ hưởng một đỉnh cao ngôn ngữ hàm chứa nét riêng trong bản sắc văn hoá, mang hồn cốt dân tộc.”

Trang 10

Trong “Kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du”, Xã luận của báo Tiền Phong

đã khẳng định rằng “Chúng ta cùng nhau đọc lại những tác phẩm thiên tài của Nguyễn

Du Chúng ta đọc lại những trang thơ đầy nước mắt của ông giữa lúc chính chúng ta đang hát vang khúc anh hùng ca của dân tộc và thời đại Nước mắt của Nguyễn Du quyết không thể làm giảm sút tinh thần hăng say chống Mỹ, cứu nước của chúng ta Ngược lại, chính tinh thần hăng say đó đã bắt nguồn từ một hoàn cảnh làm Nguyễn

Du rơi nước mắt Lý Tự Trọng đã đọc Nguyễn Du vào những ngày gian khổ nhất trong khám tử hình Nước mắt của Nguyễn Du đã không làm người thanh niên ấy chùn bước

mà ngược lại, đã cổ vũ thêm tinh thần bất khuất của anh” [25, tr.127]

Nhìn một cách khái quát, chúng tôi đã được tiếp cận nhiều công trình nghiên cứu về nhà thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, trong đó có những công trình đã đề cập đến những tư tưởng giáo dục trong thơ văn của Nguyễn Trãi Tuy nhiên, tìm hiểu về ý

n ghĩa giáo dục trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du từ góc nhìn so sánh thì chưa từng thấy Vì vậy, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu vấn đề này để có cái nhìn cận cảnh hơn

về giá trị giáo dục trong những sáng tác của hai nhà thơ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng khảo sát

Chúng tôi lấy những tư liệu về Nguyễn Trãi và Nguyễn Du trong Nguyễn

Trãi toàn tập và Nguyễn Du toàn tập làm nguồn tư liệu chính để khảo sát

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu nghiên cứu về “ý nghĩa giáo dục” được thể hiện trong thơ văn Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, từ đó có cái nhìn khái quát và đầy đủ về quan niệm của từng tác gia về vấn đề này Hướng nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ

ý nghĩa giáo dục trong thơ văn của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du qua việc tìm hiểu thời đại, bối cảnh lịch sử xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến quan điểm của các tác gia

Trang 11

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Việc đi sâu tìm hiểu về ý nghĩa giáo dục thể hiện trong thơ văn Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp sự hiểu biết của mình để đưa văn học đến gần với bạn đọc hơn nữa Đồng thời, cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du được xem như là một tấm gương lớn cho thế hệ ngày nay Do vậy, việc thực hiện đề tài này là cần thiết Đặc biệt, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là một trong số những điểm tựa để nhà trường giáo dục học sinh về bài học làm người Mặc khác, với những cống hiến của mình, đề tài này hy vọng phần nào sẽ định hướng được phương pháp dạy học thơ văn Nguyễn Trãi và Nguyễn Du trong chương trình giáo dục

6 P hương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

6.1 Phương pháp nghiên cứu

từ góc nhìn so sánh”, chúng tôi đã vận dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Phương pháp phân tích – tổng hợp: phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản và đưa ra những luận điểm khái quát của luận văn

Phương pháp so sánh – đối chiếu: là phương pháp nhằm làm nổi bật nét tương đồng cũng như sự khác biệt về ý nghĩa giáo dục trong tác phẩm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du từ đó rút ra những điểm gặp gỡ, kế thừa cũng như những nét mới trong sáng tác của họ

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học

giáo dục con người

Những phương pháp này sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh hoạt

Trang 12

trong quá trình nghiên cứu

6.2 Nguồn tư liệu

Để thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi sẽ tiến hành tập hợp tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau Các nguồn tài liệu của các học giả có liên quan đến văn học trung đại, đặc biệt là hai tác gia Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, cùng với các

ấn phẩm như sách, báo, tạp chí của các nhà xuất bản và các bài viết đã công bố, các công trình nghiên cứu, biên khảo, bài viết đăng tải trên các tạp chí, hội thảo, hội nghị Ngoài ra còn có các tài liệu, được tập hợp từ các thư viện, phương tiện truyền thông đại chúng, trên mạng Internet…

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mục lục, dẫn luận, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và

phụ lục, nội dung dự kiến của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: “ Những vấn đề khái quát”: Ở chương này, chúng tôi sẽ nêu

lên khái niệm về giáo dục, chức năng giáo dục của văn chương để khẳng định lại vai trò của văn học trong việc giáo dục con người Bên cạnh đó, chúng tôi cũng

sẽ nêu lên cuộc đời, thời đại và sáng tác của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du một cách tổng quát nhất Đó là những tiền đề lí luận cho phần phân tích, đối sánh ở hai chương còn lại

Chương 2: “Sự tương đồng và khác biệt trong ý nghĩa giáo dục qua thơ

Nguyễn Trãi và Nguyễn Du” : Trong chương này, chúng tôi sẽ làm rõ ý nghĩa

giáo dục trong sáng tác của hai tác gia họ Nguyễn trên cơ sở đối sánh nhau

Chương 3: “Phương tiện truyền đạt ý nghĩa giáo dục trong sáng tác của

Nguyễn Trãi và Nguyễn Du ” : Ở chương này, chúng tôi sẽ nêu lên sự khác biệt

trong cách truyền đạt ý nghĩa giáo dục của hai tác gia để có cái nhìn sâu sắc, rõ nét hơn về nội dung thơ văn của cụ Ức Trai và cụ Tiên Điền

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT 1.1 Khái niệm giáo dục và một số hình thức giáo dục

1.1.1 Khái niệm giáo dục

Về cơ bản, các giáo trình giáo dục học ở Việt Nam trình bày “Giáo dục là

hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người” [21, tr.9] Định nghĩa này

nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của

việc giáo dục Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ “education”, đây là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-

Ducere ” Có nghĩa là dẫn (“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của

họ để vươn tới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn Như vậy, có

thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục

tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa

vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để phát triển loài người, phát triển xã hội Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội

Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp ngay trong lao động và trong cuộc sống, ở mọi lúc, mọi nơi Khi xã hội ngày càng phát triển, kinh nghiệm xã hội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đối với con người ngày càng cao hơn, các loại hình hoạt động xã hội ngày càng mở rộng hơn thì đòi hỏi phải có một phương thức giáo dục khác có hiệu quả hơn Giáo dục gián tiếp theo phương thức nhà trường, được thực hiện một cách chuyên biệt

Trang 14

càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp hơn và mang tính chuyên biệt hơn Sự phát triển đó là do yêu cầu tất yếu của xã hội và do sức mạnh to lớn của giáo dục tạo ra sự phát triển của xã hội Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển về mọi mặt của xã hội thì không ai có thể phủ nhận được

Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sự

phát triển cho xã hội Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “giáo dục”

Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Ví dụ ảnh hưởng của các hoạt động nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí…

Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và của mỗi quốc gia đang không ngừng đổi mới nhằm thích ứng tốt hơn với những xu thế phát triển, năng động của toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được những nguồn lực mới để phát triển nhanh, bền vững Việc định nghĩa về giáo dục cũng được nhiều nhà

nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Trong “Giáo dục học một số vấn đề lí luận và

thực tiễn”, Hà Thế Ngữ cho rằng “giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, bằng cách truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loại người, hướng con người đến với những chuẩn mực đạo lí…”

hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử -

xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên

cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên” [40,tr.9] Ông cho rằng

Trang 15

giáo dục là một hiện tượng đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người, giáo dục xuất hiện, phát triển gắn bó cùng loài người Giáo dục cũng là một hình thái ý thức xã hội, là hiện tượng văn minh của xã hội loài người, nó là sự truyền đạt và tiếp thu kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ trước cho sự phát triển của các thế hệ sau Bên cạnh đó, giáo dục là hiện tượng có tính lịch sử, nó phản ánh trình độ phát triển của lịch sử và bị quy định bởi trình độ phát triển của lịch sử; nó cũng tác động tích cực vào sự phát triển của lịch sử Giáo dục giữ vai trò đặc biệt trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách của con người Giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống con người, hoạt động này không chỉ là sản phẩm của xã hội mà trở thành nhân tố tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người Do đó, phát triển giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu, được thể hiện trong chiến lược phát triển các quốc gia

1.1.2 Một số hình thức giáo dục

Giáo dục là một trong những công cụ quan trọng nhất để tạo dựng, biến đổi nhận thức của con người Đồng thời với chức năng phát triển con người, giáo dục tất yếu đóng vai trò quan trọng trong sự thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người Nelson Mandela, vị anh hùng giải phóng dân tộc Nam Phi từng nói :

" Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà bạn có thể dùng để thay đổi thế giới."

quốc gia như của ông, khi mà nhận thức còn kém, giáo dục còn chưa tốt thì mọi cuộc cách mạng đều khó mà đi tới thành công, hoặc chỉ thu được những thành công tạm thời, không bền vững Chỉ có giáo dục, làm thay đổi nhận thức của nhân dân, mới mang đến cho họ cuộc sống mới, thế giới mới Trong xã hội loài người từ nguyên thuỷ đến nay đã ghi nhận nhiều phương tiện hình thức giáo dục

đa dạng Đó là những sự mô phỏng hành vi, những trải nghiệm thực tiễn khi con người mới vừa thoát thai khỏi thế giới hoang dã Rồi khi trình độ phát triển của

Trang 16

đầy quyền lực phục vụ cho mục tiêu giáo dục Tiếp đến có lẽ là văn chương, luật

phát huy tác dụng tốt ở từng khía cạnh của cuộc sống Cuộc sống con người hiện đại luôn chịu sự giáo dục tổng hoà từ nhiều hình thức giáo dục khác nhau

Trong khía cạnh tích cực, tôn giáo chân chính giáo dục con người nhân nghĩa, đạo đức, ứng xử giữa người với người, giữa người với vạn vật Trong xã hội loài người từ xưa đến nay, tôn giáo luôn đóng vai trò là một hình thức giáo dục quan trọng

nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Pháp luật với hình thức ban đầu xuất phát từ thời nguyên thuỷ là những quy tắc ứng xử chung thống nhất Đó là những tập quán, những tín điều tôn giáo Khi xã hội loài người xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp, cùng với sự ra đời của nhà nước, pháp luật là sản phẩm hay nói đúng hơn là công cụ của giai cấp cầm quyền Pháp luật với hệ thống những quy phạm, chuẩn mực và hình phạt của nó là công cụ quản lý xã hội của giai cấp cầm quyền nhưng đồng thời pháp luật cũng mang tính giáo dục hành vi con người

Nó cũng là một trong những công cụ giáo dục hiệu quả trong xã hội loài người Bên cạnh tôn giáo và pháp luật, văn học cũng là một công cụ giáo dục quan trọng của con người Điều đó thể hiện rõ nhất ở trong các thể loại văn học dân gian mà dân tộc nào trên thế giới đều tồn tại Sự xuất hiện của thần linh và những cái kết có hậu đã đem đến tiếng nói giáo dục nhân văn sâu sắc Đến khi

xã hội loài người phát triển hơn, văn học lại càng trở thành một trong những

công cụ giáo dục đặc biệt quan trọng Vũ Quỳnh đã từng nói: “Văn chương có

khả năng khuyến điều thiện, răn điều ác, bỏ giả, theo thật” [31,tr.10] Còn

Macxim Gorki trong bài viết “Tôi đã học tập như thế nào” lại tâm sự: “Mỗi

Trang 17

cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú để lên tới gần Con Người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy” [9, tr.45] Và, văn học là một trong những loại sách,

như quan niệm của M.Gorki, giúp người đọc “tới gần Con Người, tới gần quan

niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất” Văn học không phải là đạo đức học nhưng văn

học chân chính, bằng những hình tượng thẩm mỹ được xây dựng nên bởi một thứ chất liệu đặc biệt - ngôn ngữ nghệ thuật, lại có khả năng làm cho con người

văn học Ấy mới có những quan niệm như “văn dĩ tải đạo”, một quan niệm văn

chương tiêu biểu thời trung đại ở Việt Nam Trong đó, Nguyễn Trãi, Nguyễn

Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu,… là những tác gia tiêu biểu Đến văn chương hiện đại, văn học cũng trở thành một công cụ giáo dục hiệu quả phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước, phát triển con người Hồ Chí Minh

“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây núi trăng hoa tuyết núi sông Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Hoặc trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, Người cũng đã khẳng định “Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận Anh chị em

văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”

Có thể khẳng định, trong nhiều chức năng của văn học, giáo dục là một trong những chức năng đặc biệt quan trọng Tuỳ theo năng lực, tình cảm, nhận thức mà mỗi nhà văn có hướng tiếp cận, độ sâu sắc trong tiếp cận giáo dục khác

Trang 18

nhau Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, hai thời đại, hai cuộc đời, hai phong cách nghệ thuật và cũng có hai hướng tiếp cận, mang đến ý nghĩa giáo dục khác nhau qua

di sản văn chương của mình

1.2 Chức năng giáo dục của văn chương

Theo lí luận văn học, văn chương nghệ thuật là một hình thái ý thức đặc thù, nhưng tựu trung vẫn là một hình thái ý thức xã hội, nó nằm trong quy luật nhận thức chung của con người Vì vậy, văn chương không chỉ có chức năng nhận thức thế giới mà còn có chức năng cải tạo thế giới Tác dụng cải tạo của văn chương, vì vậy là một thuộc tính tất yếu, là một đặc điểm mang tính quy luật, tính bản chất Văn học có bốn chức năng cơ bản là nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và giải trí Trước hết, phải kể đến chức năng nhận thức Chức năng nhận thức thể hiện ở vai trò phản ánh của văn học Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống Nó có thể đem đến cho người đọc một thế giới tri thức mênh mông về đời sống con người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, ở khắp mọi nơi trên thế giới Văn học là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống Tuy nhiên, văn học không đơn thuần phản ánh hiện thực mà chủ yếu là giúp con người nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về bản thân mình và mối quan hệ tổng hòa trong cuộc sống, góp phần giáo dục con người thông qua tác phẩm Người ta gọi đó là chức năng giáo dục của tác phẩm văn học Trong các chức năng cơ bản của văn học thì chức năng giáo dục được đánh giá là quan trọng nhất, cơ bản nhất Nó giúp cho văn học chiếm được một vị trí vững chắc trong suốt chiều dài lịch sử Văn chương nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người Định

nghĩa nổi tiếng của nhà văn hiện thực Nga Macxim Gorki “Văn học là nhân

học” trước hết nhấn mạnh đến mục đích của văn học là giúp con người hiểu

được bản thân mình; nâng cao niềm tin vào bản thân và làm nảy sinh khát vọng

đi tìm chân lí, dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, hướng tới cái đẹp, cái thiện của cuộc đời Văn chương chân chính phải phục vụ con người, phải

Trang 19

phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của con người với những niềm vui, cũng như nỗi đau đời thường Nhà thơ Tố Hữu nhận xét “Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời” Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học Nói đến chức năng giáo dục của văn học là nói đến khả năng dẫn dắt và định hướng Văn học đến với con người bằng con đường tình cảm Nó đem lại cho người đọc những rung cảm sâu xa trước khung cảnh tươi đẹp của quê hương, đất nước, trước trạng thái muôn màu muôn vẻ của cuộc sống xung quanh và nhất là trước

sự phong phú, đa dạng của thế giới tâm hồn Văn chương chân chính có khả năng cảm hóa, nhân đạo hóa con người Nó góp phần vào việc hình thành nhân cách, hoàn thiện đạo đức, giúp con người sống tốt đẹp hơn Các tác phẩm văn học đích thực có khả năng giáo dục rất lớn, xứng đáng là những người thầy, người bạn đáng tin cậy của chúng ta Từ ngàn xưa, văn học dân gian đã làm tốt chức năng giáo dục Những thiên thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện cười… đều nhằm phản ánh hiện thực đời sống dưới những góc độ, màu sắc khác nhau Nhưng bao trùm lên hết thảy vẫn là khát vọng hiểu biết là chinh phục, là ước mơ công lí, chính nghĩa, là mục đích vươn lên, đạt tới những giá trị Chân, Thiện, Mĩ của con người Văn học giúp người ta làm lành, lánh dữ, bởi thế nên các tác phẩm xứng đáng gọi là văn chương có tác động mạnh mẽ tới tâm

tư, tình cảm người đọc, giúp người đọc có được một thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn Văn chương có thể làm thay đổi hoặc nâng cao tư tưởng, quan điểm, nhận thức của con người theo chiều hướng tiến bộ, giúp cho con người từ chỗ tán thành đến hành động theo lí tưởng nhân vật hoặc lí tưởng tác giả Hoặc bằng những hình tượng nghệ thuật sinh động và hấp dẫn, tác giả giúp con người phân biệt được tốt xấu, đúng sai, từ đó liên hệ đến mình và xác định cho mình một thái độ, một lập trường nhất định theo những điều đã hấp thụ qua tác phẩm

phương diện như học tập, nâng cao trình độ văn hóa, rèn luyện, trau dồi giác

Trang 20

quan thẩm mĩ, tu dưỡng đạo đức, phẩm chất, cải tạo thế giới quan và quan điểm chính trị - xã hội Bất cứ tác phẩm văn chương nào cũng có thể có tác dụng này hay tác dụng khác đối với người đọc có tác dụng tiêu cực, có tác dụng tích cực,

có tác dụng nhất thời, có tác dụng vĩnh cửu

Văn chương thực hiện chức năng giáo dục bằng cách, trước hết, là ở tư tưởng của nhà văn thể hiện ngay trong việc nhận thức và phản ánh hiện thực Tác phẩm văn chương là sản phẩm ý thức nhà văn, là kết quả hoạt động có mục đích của nhà văn Qua tác phẩm người sáng tác bao giờ cũng gửi gắm ký thác, truyền đạt một cái gì đó cho người đọc Ðó là lập trường quan điểm, tư tưởng, ý nghĩ và những lời giải đáp cùng những ước vọng của người sáng tác trước cuộc sống Những điều gửi gắm đó nếu rung động được lòng người thì giúp họ nhận thức được đúng đắn cuộc sống và khiến họ đi đến những suy nghĩ và hành động đúng Thứ đến là nội dung tư tưởng, ở khuynh hướng tuyên truyền, động viên và giáo dục của tác phẩm từ các nhân vật điển hình đại diện cho tư tưởng tác giả thông qua tâm tư, suy nghĩ, triết lí sống của nhân vật được trình bày dưới dạng này hay dạng khác Nó còn thể hiện ở tính thẩm mĩ của tác phẩm Tức là ở lí tưởng thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật mà tác giả vận dụng để truyền đạt có hiệu quả nhất những tư tưởng và kiến giải của mình đến với người đọc

Văn chương là một loại hình nghệ thuật, tác dụng cải tạo của nó còn ở hình thức nghệ thuật Nghệ thuật trong sáng giản dị tạo cho người ta cảm giác nhẹ nhàng, nghệ thuật sinh động phong phú, hấp dẫn làm con người trở nên yêu cuộc sống hơn Chức năng giáo dục của văn chương còn ở tính chiến đấu của nó Văn chương là vũ khí đấu tranh giai cấp Tính chất “vũ khí” của văn chương biểu hiện tập trung ở chỗ này Cải tạo là phê phán cái cũ, cái xấu, cái lạc hậu, đề xuất cái mới cái tốt cái tiến bộ cách mạng Nếu văn chương chỉ vạch ra cái tiêu cực

Như thế có nghĩa là chưa thực hiện trọn vẹn chức năng cải tạo Mặt khác, không

Trang 21

có một vụ “xây” nào mà không gắn với phê phán, phá bỏ cái cũ, cái xấu, cái lạc

hậu, cái cản trở sự phát triển đi lên Lê nin đã từng gọi “Người mẹ” của Gorki là

quyển sách kịp thời” bởi vì chính “Người mẹ” đã có sức mạnh cải tạo, sức

mạnh của một vũ khí tinh thần và tư tưởng cho công nhân Nga lúc bấy giờ

Người nói (theo lời thuật lại của Gorki) “Quyển sách này là cần thiết, nhiều

công nhân đã tham gia phong trào cách mạng một cách vô ý thức, tự phát, và bây giờ họ đọc “Người mẹ”, điều đó sẽ mang lại ích lợi lớn cho bản thân họ”

Và quả thật, những hình tượng điển hình về những công nhân - những chiến sĩ cách mạng Nga, qua sự miêu tả của nhà sáng lập ra nền văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa, đã tỏ ra là những tấm gương mà nhờ đó nhiều thế hệ chiến sĩ đấu tranh nhằm giải phóng nhân loại khỏi ách áp bức đã học tập được

Văn chương là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sản phẩm của ý thức, là sản phẩm của tài năng tư tưởng tình cảm của người nghệ sĩ Vì vậy, chức năng cải tạo của văn chương đạt được tới đâu là do người đẻ ra nó Sáng tạo nghệ thuật ngoài sự hiểu biết, tài năng ra còn là vấn đề lí tưởng sống

hồn bệnh hoạn, yếu đuối, một lí tưởng sống hưởng lạc thì chỉ tạo ra được những hình tượng nghệ thuật nhằm trụy lạc hóa con người không hơn không kém Nói đến chức năng cải tạo của văn chương là nói đến việc nhà văn dùng tác phẩm của mình để truyền đạt lí tưởng sống Lịch sử văn chương đã chứng tỏ rằng có những tác phẩm nghệ thuật có sức sống trường cửu, có sức cải tạo lớn lao là do

lí tưởng nhà văn gắn bó với lí tưởng thời đại đó, lí tưởng nhân loại cần lao lúc bấy giờ Ðặc trưng chức năng giáo dục của văn chương là ở chỗ, văn chương giáo dục con người thông qua con đường tình cảm Từ xúc động, lay động về tình cảm mà người đọc liên hệ đến bản thân, tự giác nhận ra đúng, sai Nghệ

phải bằng biện pháp cưỡng bách, hành chính gò ép mà hoàn toàn tự giác, thoải

Trang 22

mái Nghệ thuật giáo dục bằng hình thức hấp dẫn vui tươi, cuốn hút Tác dụng giáo dục của nghệ thuật thật là lâu bền, từ từ nhưng vô cùng sâu sắc

1.3 Cuộc đời, thời đại và sáng tác của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du

1.3.1 Cuộc đời, thời đại và sáng tác của Nguyễn Trãi

1.3.1.1 Cuộc đời, thời đại Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi sinh năm 1380 tại Thăng Long, dưới thời Trần Phế Đế

giữa dòng máu một nho sĩ nghèo nổi tiếng hay chữ, dạy học giỏi, được nhiều người quý mến là Nguyễn Ứng Long (Nguyễn Phi Khanh) với dòng máu quý tộc của mẹ là Trần Thị Thái con gái thứ tư của quan tư đồ Trần Nguyễn Đán

người đã từng đọc “vạn quyển sách”

Nguyễn Trãi lên năm tuổi thì mồ côi mẹ và năm lên mười tuổi thì ông ngoại qua đời Nguyễn Trãi ở với cha và nhận được giáo dưỡng rất chu đáo Mặc dù trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu thốn do chiến tranh tàn phá, kinh tế đình đốn, xã hội loạn lạc, nhưng Nguyễn Trãi vẫn quyết chí học hành Vào ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1400) Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, lên ngôi, đổi tên nước là Đại Ngu và mở khoa thi nhằm lựa chọn người tài để giúp việc nước Nguyễn Trãi thi đỗ Thái Học Sinh (Tiến sĩ) năm ông vừa tròn hai mươi tuổi, được bổ làm quan với chức Ngự Sử Đài chính chưởng

Thân phụ Nguyễn Trãi được nhà Hồ vời ra làm quan, giữ chức Đại Lý tự khanh kiêm Trung thư thị lang, Hàn lâm viện học sĩ, kiêm lãnh chức Tư Nghiệp Quốc Tử giám Hai cha con được trọng dụng, họ hy vọng sẽ có dịp thi thố chí

bình sinh, đem tài năng ra làm việc vì dân vì nước do họ cho rằng “dẫu họ Hồ là

bất trung, nhưng cũng bởi lòng trời chán ghét họ Trình (họ Trần) bất đức mà mượn tay người khác vậy” (Chiếu cấm các đại thần, tổng quản cùng các quan ở

viện sảnh cục tham lam lười biếng) Ông sinh ra trong buổi suy tàn của nhà

Trang 23

Trần, trong “ám ảnh vãn chiều” của hào khí Đông A, nơi mà dẫu sao ông cũng được dự phần vào dòng dõi “danh gia vọng tộc” là cháu ngoại của quan tư đồ

Trần Nguyên Đán thuộc trực hệ hoàng tộc, nó đã truyền vào tâm hồn ông những

giá trị rực rỡ về thời đại nhà Trần “Nguyễn Trãi sống trong thời kì quá độ, thời

kì bản lề của hai chặng đường lịch sử văn hóa Việt Nam Trước Nguyễn Trãi là một nền văn hóa Đại Việt được cấu trúc theo mô hình Phật giáo, sau Nguyễn Trãi là mô hình Nho giáo Đứng ở vị trí giao thoa này, Nguyễn Trãi có được một quan niệm thông thoáng và không câu nệ trong quan hệ với các triều đại Vì thế, là con cháu của nhà Trần, Nguyễn Trãi vẫn quyết định ra làm quan dưới tân triều Hồ với mong muốn góp phần vào việc chấn quốc an dân” [40,tr.727-

742]

Nhưng sau bảy năm trị vì, nhà Hồ đã để mất nước trong tay quân xâm lược Minh Một số triều thần, tướng lĩnh trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt làm tù binh, đưa về Trung Quốc Trước tình hình đó, Nguyễn Trãi được cha khuyên về phục thù và báo hiếu bằng con đường cứu nước Lời khuyên đó có tác dụng tạo chuyển biến quan trọng trong tư tưởng Nguyễn Trãi, đưa Nguyễn Trãi từ một người trí thức lên hàng một nhân vật cứu nước vĩ đại

Nghe lời cha, Nguyễn Trãi tìm đường trở về và đến Đông Quan thì bị tướng giặc Trương Phụ bắt Tổng binh Trương Phụ biết ông là người tài cao, học rộng nên tìm cách dụ dỗ ra làm quan cho nhà Minh, ông từ chối Trương Phụ định giết ông, nhưng một tướng giặc khác là Hoàng Phúc xin tha cho và ông

bị giam lỏng ở thành Đông Quan để chúng dễ bề kiểm soát

Khoảng từ 1416-1418, Nguyễn Trãi đã đến với Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn chống lại nhà Minh Và cuộc kháng chiến đã mau chóng thành công, lập lại nền hòa bình cho đất nước

Sau đó, Lê Lợi xếp ông vào hàng khai quốc công thần, cho đổi sang họ Lê, giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ thượng thư, tước Quan phục hầu,

Trang 24

góp phần đắc lực vào việc xây dựng và củng cố nước nhà Sau khi đất nước được giải phóng, Nguyễn Trãi tiếp tục là công thần đắc lực giúp Lê Lợi trong việc chỉnh đốn và xây dựng quốc gia phong kiến Đại Việt hùng mạnh Chú trọng

việc “chăn dân” với tinh thần trách nhiệm tối cao, đường lối xây dựng đất nước của Nguyễn Trãi là nhằm làm cho nước giàu dân mạnh đến mức “trong thôn

cùng xóm vắng không có tiếng hờn giận oán sầu” Xã hội Nguyễn Trãi muốn

xây dựng là một xã hội trong đó có những vua như vua Nghiêu, vua Thuấn – luôn luôn quan tâm đến đời sống của dân, coi việc an dân là mục đích của đời mình Tuy điều mong muốn của Nguyễn Trãi chỉ là ảo tưởng, nhưng nó xuất phát từ trái tim và lòng chân thành, tha thiết muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp Sau năm 1428, triều đình phong kiến nhà Lê vừa được thiết lập đã nhanh chóng đi vào khủng hoảng Những mâu thuẫn lục đục trong nội bộ giai cấp thống trị bắt đầu phát sinh và những hiềm nghi không đâu của Lê Lợi đã ngăn cản không cho Nguyễn Trãi phát huy hết mọi tài năng Do bị bọn gian thần gièm pha xúi giục, Lê Thái Tổ bắt đầu thanh toán những vị công thần: giết Phạm Văn Xảo, bức Trần Nguyên Hãn phải tự tử rồi bắt giam Nguyễn Trãi vì những lý do hết sức vô lý và mơ hồ Sau đó Nguyễn Trãi được thả ra, nhưng không còn được

Khoảng năm 1437, tình hình mâu thuẫn của các phe phái ngày càng gay gắt, Nguyễn Trãi đã xin lui về Côn Sơn, sống thanh bạch giữa thiên nhiên cây

cỏ, ôm nỗi buồn cô đơn của một triết gia suy nghiệm về mọi lẽ hưng vong của cuộc đời Đến năm 1439, Lê Thái Tông đã trưởng thành, bắt đầu củng cố lại triều đình, giết bọn quyền thần Lê Sát, Lê Ngân và cho vời Nguyễn Trãi về triều

giao những việc quan trọng Nguyễn Trãi với “đầu bạc lòng son” lại hăng hái ra

giúp vua, giúp nước Ngày 7/9/1442, sau mấy năm tận tâm, tận lực vì dân, vì

nước, vì triều đại mà mình bỏ công xây dựng, Nguyễn Trãi lại bị tội “tru di tam

tộc” với oan án Lệ Chi Viên

Trang 25

1.3.1.2 Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi là tác giả xuất sắc về nhiều thể loại văn học, trong sáng tác

lượng sáng tác lớn với nhiều tác phẩm có giá trị

Năm 1428, đất nước hoàn toàn giải phóng, vâng lệnh vua, Nguyễn Trãi

viết “Bình Ngô đại cáo” với niềm hứng khởi vô biên của chiến thắng oanh liệt, hào hùng lẫn đau thương suốt hai mươi năm trời chiến đấu “Bình Ngô đại cáo”

– “Áng thiên cổ hùng văn” – “Bản ngôn độc lập” đó là một áng văn tổng kết

thiên tài đanh thép và sâu sắc về nhiều mặt của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm Bài cáo đã trở thành áng văn bất hủ, là sản phẩm tinh thần, sản phẩm văn hóa vô cùng quý báu không chỉ riêng Việt Nam mà cho toàn nhân loại tiến bộ trên thế giới

Ngoài ra, ta thấy Nguyễn Trãi là một trong những nhà thơ trữ tình lớn trong

lịch sử văn học Việt Nam thời phong kiến Với “Quốc âm thi tập” và “Ức trai

thi tập”, Nguyễn Trãi đã nói lên tiếng nói tình cảm cao đẹp trong tâm hồn con

người Việt Nam Tác phẩm là sự thể hiện ý thức của con người cá nhân trong con người dân tộc một cách phong phú và đa dạng với những triết lý về nhân sinh, đạo đức, phong tục, tập quán… của người Việt Nam

Quân trung từ mệnh” là những thư từ gửi cho các tướng giặc và những

giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh, nhằm thực hiện kế tâm công – “đánh

vào lòng” (ngày nay gọi là địch vận)

Cũng có cả một số bài Chiếu viết theo lệnh Lê Thái Tổ để răn dạy thái tử

và các quan hãy lấy việc chăm lo cho dân làm đạo đức cao nhất

Chí Linh sơn phú” là bài phú nhắc lại trường hợp nghĩa quân gặp khó

khăn ở núi Chí Linh để ca ngợi chí bền, tài lớn, mưu sâu để giành thắng lợi, đạt tới chiến thắng cuối cùng nhằm khuyên mọi người được hưởng thái bình thì

Trang 26

đừng quên lúc chiến đấu gian nan

Vĩnh Lăng bi kí” là bài văn bia ở lăng Lê Thái Tổ tại Vĩnh Lăng, Lam

Sơn, viết năm 1433, nội dung thuật lại vắn tắt mà đầy đủ sự nghiệp cứu nước vĩ đại của nhà vua đồng thời ca ngợi đức độ của tổ tông

Dư địa chí” là một bộ sách địa lí cổ nhất của Việt Nam, cuốn địa lí lịch sử

viết theo yêu cầu của Lê Thái Tông muốn biết rõ đất nước mình Sách chỉ viết trong mười ngày mà nói tới những địa phương cụ thể, tỉ mỉ từ sông núi, sản vật đến con người như thể người viết đã từng sống ở đấy

Biểu tạ ơn” là bài văn dâng lên Lê Thái Tông khi nhà vua vời Nguyễn

Trãi ra làm việc trở lại, nội dung nói lên nỗi vui mừng lớn lao được phục vụ nhà vua, phục vụ đất nước

Sau thảm họa tru di tam tộc, tác phẩm của Nguyễn Trãi bị thất lạc hoặc vị thiêu hủy nhiều Năm 1467, vua Lê Thánh Tông đã ra lệnh sưu tập lại trước tác của ông và phải đến thế kỉ XIX, tác phẩm của Nguyễn Trãi mới được sưu tầm tương đối đầy đủ Tuy nhiên, di sản văn học của Nguyễn Trãi còn đến ngày nay chưa phải là toàn bộ sự nghiệp sáng tác vĩ đại của ông

Có thể nói, Nguyễn Trãi đã sống một cuộc đời vô cùng phong phú, gắn bó máu thịt với thời đại của mình, chứng kiến những vui buồn của lịch sử, tất cả đã được ông thể hiện qua tác phẩm của mình Với những cống hiến của Nguyễn

Trãi cho cuộc đời, ông xứng đáng là “danh nhân văn hóa thế giới”

1.3 2 Cuộc đời, thời đại và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du

1.3 2.1 Cuộc đời, thời đại của Nguyễn Du

Nguyễn Du sinh năm 1765 tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, dưới thời Lê Hiển Tông (1717 – 1786) trong một gia đình quý tộc lâu đời, cha và anh đều từng giữ chức tể tướng của triều đình, anh em họ hàng có nhiều người đỗ đạt và làm quan to, nhưng chưa hẳn đó là điều may mắn vì thời đại của

Trang 27

ông đã bước vào buổi hoàng hôn của chế độ phong kiến Việt Nam Đây có thể cho là thời kỳ giằng co quyết liệt giữa nhiều xu thế chính trị khác nhau Trong đời sống tư tưởng của xã hội từng mảng nhỏ của hệ thống giáo lí phong kiến bị lật xáo đến tận gốc, tạo nên những cuộc khủng hoảng tinh thần

Vừa mới lớn lên Nguyễn Du đã phải chứng kiến cái hồi kết đầy chua xót và nhục nhã của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh, mà màn bi hài nhất có lẽ là cảnh kiêu binh nổi loạn Cùng với tình cảnh “tan đàn xẻ nghé” của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh, thế kỉ XVIII còn là thế kỉ đánh dấu sự thắng lợi của phong trào khởi nghĩa nông dân, trong đó nổi bật nhất là chiến công lẫy lừng của Nguyễn Huệ Chính lúc nhà thơ chưa kịp làm quen với sự có mặt của con người “cờ đào

áo vải” trong cương vị chủ nhân đất nước, thì ông lại sửng sốt nhìn thấy tấn bi kịch đổ vỡ của triều đại Tây Sơn mà thấp thoáng phía sau là cái mưu đồ “phục quốc” của Gia Long – Nguyễn Ánh Nguyễn Du sống trong một thời đại vô cùng rối ren của nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX với chiến tranh, cát cứ, phân quyền, vua nhu nhược, quan lại mua quyền bán tước, ra sức áp bức, bóc lột, vơ vét của cải nhân dân để phục vụ cho cuộc sống xa hoa, trụy lạc của mình Kinh tế đất nước bị suy sụp, nhân dân cơ cực vì thuế khóa, quan lại tham nhũng cường hào áp bức, thêm vào đó, hạn hán lũ lụt, dịch bệnh làm cho nơi nơi tiêu điêu, xơ xác, nhân dân lầm than

Đồng thời, tình hình chính trị bất ổn như trên đã đẩy nhân dân vào tình cảnh khốn cùng, trăm họ không chỉ đói cơm, rách áo mà còn bị chà đạp về tinh thần Chế độ phong kiến liên tục thay ngôi đổi chủ, khiến cho giai cấp thống trị

ra sức củng cố quyền lực bằng đủ mọi thủ đoạn phi nhân để ngai vàng thuộc về tay mình dẫn đến những người tài đều không có đất dung thân “Có thể nói, những cơn bão táp chính trị mà gió luôn đổi chiều trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX đã thổi dồn dập vào Nguyễn Du, làm cho ông như sống trong một trạng thái choáng váng về tư tưởng, không dễ dàng để tìm

Trang 28

ngay được một một lẽ sống, một chỗ đứng nào vững vàng ổn định.”

1.3.2.2 Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Du

Thanh Hiên) gồm 78 bài thơ trong giai đoạn 1786- 1804, gồm 10 năm gió bụi, ông sống ở Thái Bình quê vợ, 6 năm trở lại nhà dưới chân núi Hồng, và 2 năm

đoạn 1805- 1812, ông được thăng hàm Đông các đại học sĩ, làm quan ở Kinh Đô

5 năm và làm cai bạ ở Quảng Bình 3 năm

gồm 131 bài thơ, giai đoạn 1813-1814, viết trong chuyến đi sứ sang Trung

Quốc

“Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột), tên phổ biến

là “Truyện Kiều”, được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm

Tài Nhân, Trung Quốc

“Văn chiêu hồn” tức “Văn tế thập loại chúng sinh” (dịch nghĩa: “Văn tế mười loại chúng sinh”), tác phẩm hiện chưa rõ thời điểm sáng tác Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên

“Đông Dương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn

“Thác lời trai phường nón” 48 câu, được viết bằng thể lục bát, nội dung là

thay lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải

“Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ” gồm 98 câu, viết theo lối văn tế, để bày

Trang 29

tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác Với những đóng góp trên Nguyễn Du xứng đáng là “Đại thi hào của dân tộc”

Trang 30

Chương 2 Ý NGHĨA GIÁO DỤC TRONG THƠ VĂN

NGUYỄN TRÃI VÀ NGUYỄN DU 2.1 Sáng tác của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du trong việc giáo dục con người xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Nguyễn Trãi sống vào thế kỷ XIV-XV còn Nguyễn Du sống vào khoảng

ông nó sẽ đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỉ XV còn Nguyễn Du sống vào lúc chế

độ phong kiến đang tan rã, đồng thời các đô thị phong kiến cũng đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ Và hơn hết Nguyễn Trãi là người anh hùng cứu quốc của dân tộc Việt Nam, là quân sư của Lê Lợi, là quan đầu triều thời Lê sơ, còn Nguyễn Du cũng là vị quan lớn của triều Nguyễn, làm đến chức Tham tri, Chánh sứ phái bộ sang Trung Quốc Nguyễn Trãi được coi là một nhà Nho chính thống còn Nguyễn Du được coi là nhà Nho tài tử Là một nhà đạo đức-chính trị, nên trước hết Nguyễn Trãi quan niệm “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, theo ông, làm thơ

là để truyền tải những đạo lý của các bậc thánh nhân Văn chương phải tham gia vào công cuộc giáo hóa, tổ chức xã hội, phải có ích cho quốc kế dân sinh Đây là chức năng cao quý của văn chương:

Văn chương chép lấy đòi câu thánh,

Sự nghiệp tua gìn giữ đạo trung

Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược,

Có nhân, có trí, có anh hùng.”

Ở nhà thơ luôn luôn thường trực một tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc đến khắc khoải, khôn nguôi:

Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng”

Nếu như Nguyễn Trãi đứng trên điểm nhìn của một ông quan, luôn mang

Trang 31

trong mình một hoài bão về mô hình xã hội lý tưởng “vua Nghiêu Thuấn, dân

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu no đủ khắp đòi phương.”

(Cảnh ngày hè) Thì đến Nguyễn Du đã có sự thức tỉnh, vỡ mộng và mất niềm tin vào hệ thống chính trị mà Nho giáo thường sử dụng để răn đe, cai quản dân chúng Ông

đã đứng trên điểm nhìn của một người nghệ sĩ, từ góc nhìn của một người dân

để thấu hiểu và cảm thông đối với những mảnh đời cơ cực, lầm than Để qua đó

tố cáo, lên án những kẻ đã gây ra cảnh khốn cùng trong nhân dân, đồng thời làm rung động trái tim của người đọc

Ở đây, Nguyễn Trãi luôn kìm nén cảm xúc của mình đến mức tối đa, không phải cuộc đời ông không gặp phải những sóng gió, bão táp Từ một đại thần được vua trọng dụng, bỗng chốc bị ruồng rẫy, thất sủng, được giao cho một chức

“nhàn quan”, có chức vụ mà không có quyền lực thực sự Với tình cảnh ấy, Nguyễn Trãi cũng không khác gì Khuất Nguyên khi bị Sở Hoài Vương thất sủng, nhưng cách ứng xử của Nguyễn Trãi và Khuất Nguyên lại có sự khác nhau Bởi vậy, trong khi tiếp nhận Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi tỏ ra không hứng thú với thuyết “phát phẫn trước thư” Cho nên, trong các sáng tác của Nguyễn Trãi, khó có thể tìm được những câu thơ viết theo tinh thần phẫn oán như Khuất Nguyên Hiện tượng này phù hợp với quan niệm văn học nho giáo chính thống của Nguyễn Trãi Ông giáo dục mọi người về ý thức cá nhân đối với

tổ quốc, nhắc nhở về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước, đó là nhiệm vụ của mỗi nhà, mỗi người, bởi “nước mất thì nhà tan” và nó là một nhiệm vụ thiêng liêng, cao quý Trong đó, nhiệm vụ của người đứng đầu bộ máy nhà nước là vô cùng quan trọng, họ chính là người đại diện, người dẫn đường cho cả dân tộc Thấy vậy, Nguyễn Trãi luôn chú trọng vào việc giáo dục bộ máy cầm quyền Vì

Trang 32

vua sáng thì mới chọn được tôi hiền và tôi hiền thì mới giúp vua lãnh đạo đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh Nguyễn Trãi mong muốn một đất nước mà vua không chỉ là người đại diện cho cả dân tộc còn phải là người “biết kế thuật tạo phúc cho nhân dân” Quan điểm giáo dục của Nguyễn Trãi vượt lên trên tư tưởng của một nhà Nho để tiếp cận với tư tưởng đạo đức tiến bộ Tư tưởng

“trung quân, ái quốc” mà ông nêu ra đó không phải là sự “trung quân” cực đoan theo Nho giáo chính thống mà trước tiên phải là sự yêu thương nhân dân, yêu thương những kiếp người nghèo khổ Ông nhắc nhở mọi người về “trung quân” ,

đó là việc giúp vua làm sao cho nhân dân “trong thôn cùng xóm vắng không có

tiếng hờn giận oán sầu”:

Phúc thay sinh gặp thuở thăng bình Nấn ná qua ngày được dưỡng mình”

Mừng thuở thái bình yêu hết tấc

No lòng tự tại quản chi là”

Ngoài chưng phần ấy cầu đâu nữa?

Cầu một ngồi coi đời thái bình”

Vua mặc nhiên chỉ là người đại diện cho cộng đồng dân tộc và phải là người mang đến hạnh phúc ấm no cho nhân dân Không ít lần Nguyễn Trãi đã

thay vua, ông nhắc nhở họ phải “coi công việc của quốc gia làm công việc của

mình; lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ” khiến cho “xã tắc yên như Thái sơn, cơ đồ vững như bàn thạch” (Chiếu cấm các quan đại thần, tổng quản

cùng các quan ở viện sảnh cục tham lam lười biếng) để cho “dân giàu đủ khắp

Trang 33

đòi phương” (Trần tình 7) Ông nhắc nhở vua phải “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu” nghĩa là lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ (Biểu tạ ơn) Bên cạnh đó, ông cho rằng trong quá trình xây dựng đất nước, người cầm quyền

“không lấy điều muốn của một người mà cưỡng ép nghìn muôn người không muốn phải theo để làm phép hay của một đời” (Chiếu bàn về phép tiền tệ) và kẻ

quyền thế không được “cậy mình giàu mặc dân khốn khổ” Hơn nữa, ta thấy

Nguyễn Trãi còn giáo dục những người cầm quyền ngoài việc yêu thương nhân dân còn phải biết trân trọng nhân dân:

Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”

Đồng thời, mọi người, đặc biệt là những người đứng đầu đất nước phải biết nhớ ơn những người đi trước đã lao động, đã hy sinh để cho họ có được hưởng

Ngoài ra, Nguyễn Trãi cũng hướng những người cầm quyền thực hiện quan điểm thân dân, bởi dân là gốc của một nước, sức dân là sức mạnh to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

“Phúc chu thủy tín dân do thủy”

(Quan hải)

Trong thơ Nguyễn Trãi ta còn thấy vang vọng cảm hứng ngợi ca khẳng định vai trò, sức mạnh của người dân Tuy chỉ là những “dân đen”, “con đỏ”,

“nô bộc”, “kẻ cấy cầy”…nhưng những người dân lao động, nghèo khó lại chính

thắng - thua, vinh - nhục của một dân tộc

Trang 34

Hơn ai hết, ông răn dạy người cầm quyền phải sống cương trực, liêm khiết, bình dị, phải giữ tấm lòng ngay thẳng để giữ tấm gương sáng suy xét mọi việc:

Vạn cổ bất ma kim giám lục”

(Thiều Châu Văn Hiến miếu)

Bài học to lớn cho những người đứng đầu là phải biết phân biệt đúng sai và

“trị dân phải theo phép nước công bằng”:

Cơn cớ nguyền cho biết sự do Xem mà quyết đoán lấy cương nhu Được thua cứ phép làm thừng mực Cao thấp nài nhau tựa đắn đo Lỗi thác sá toan nơi ủy khúc Hòa hưu thì khiến nọ tù mù Tội ai cho nấy cam danh phận

Bài thơ này nhắc nhở những người “cầm cân nảy mực” trong xã hội phải

khách quan trong điều tra và độc lập xét xử Theo Nguyễn Trãi, khi xét xử quan lại trước hết phải tìm hiểu thật kỹ nguyên nhân và động cơ phạm tội của vụ việc

sự do”, sau đó cân nhắc đắn đo xét xử vụ án theo hướng nghiêm khắc, trừng

phạt, răn đe “cương” hay chủ yếu là cảnh cáo, giáo dục, phòng ngừa “nhu” Có

tội hay không có tội cứ chiếu theo đúng luật mà quyết định xét xử, hoàn toàn

không bị lệ thuộc bởi các ý kiến chỉ đạo chủ quan của các thế lực “cứ phép làm

thừng mực” Khi quyết định mức án phạt cũng phải căn cứ vào các tình tiết tăng

nặng hay giảm nhẹ “cao thấp nài nhau tựa đắn đo”, khi xét lỗi lầm của tội phạm

Trang 35

cũng cần quan tâm đến những uẩn khúc hay hoàn cảnh đưa đẩy khiến người ta

có thể vô tình mà phạm tội chứ không hẳn là cố ý phạm tội, không được chủ

quan nhìn nhận vấn đề mà hời hợt đại khái “lỗi thác sá toan nơi ủy khúc” Khi

tuyên án cũng phải rõ ràng minh bạch và công khai, nếu không truy tố “hòa hưu” thì phải nói rõ lý do không được mập mờ bao biện “tù mù”, phải luôn xét

xử đúng người đúng tội để tránh hàm oan “tội ai cho nấy cam danh phận” Quan

xử án không được thiên vị quen biết hay cả nể, quân pháp bất vị thân, như thế mới giữ gìn kỷ cương phép nước nghiêm minh và đem lại sự công bằng cho xã

hội “chớ có thân sơ mới trượng phu”, xây dựng niềm tin vào công lý ở quần

chúng nhân dân Những người nắm giữ kỷ cương phép nước phải thực hiện công bằng trong xét xử thì mới tạo được lòng tin ở dân, có lòng tin thì chính quyền mới vững, nước nhà mới hưng được Đây là bài học muôn đời trong việc cũng

cố và xây dựng nước nhà

Người nắm quyền trong tay không được suy xét mọi việc một cách hời hợt phải biết “nghe can gián, ra một chính sách, một mệnh lệnh, phát một lời nói, một việc làm đều giữ chính trung” (Chiếu về việc làm bài “Hậu Tự huấn” để

răn bản thái tử) Nguyễn Trãi thường khuyên vua “đừng lãng quên cách ngôn

của tiền triết Chớ gần thanh sắc và tham của tiền; chớ ham chơi săn và thích dâm dật; chớ nghe sàm nịnh mà bỏ lời trung thực; chớ dùng tân tiến mà bỏ kẻ cựu thần” (Chiếu giáng Tư Tề làm quận vương đặt Nguyên Long nối nghiệp)

Cũng như trong các bài chiếu của mình, Nguyễn Trãi nhắc nhở người cầm quyền phải giữ tâm sáng để nhìn ra những tôi trung có thể giúp vua chỉnh đốn nước nhà, họ giống như “vườn còn hoa trúc cũ” mà “trồi thức tốt lạ mười phân:

Huống lại vườn còn hoa trúc cũ;

Trồi thức tốt lạ mười phân”

(Thơ tiếc cảnh, 13)

Trang 36

Nguyễn Trãi khuyên người làm quan phải tận tụy vì dân vì nước “không

làm những lễ nghi khánh hạ” tổn hao tiền của công sức nhân dân và “thờ vua

hết trung, đối dân hết hòa, đổi bỏ thói tham ô, sửa tệ lười biếng” (Chiếu cấm

các quan đại thần, tổng quản tham lam lười biếng) hay:

Ăn lộc quan chịu việc quan Chớ tham tiểu lợi phải gian nan”

Hằng lấy đạo trung làm nghĩa cả Qua ngày qua tháng được an nhàn”

Khỏi triều quan mới hay ơn chúa Sinh được con thì cảm đức cha.”

Với tấm lòng tha thiết với nhân dân, Nguyễn Trãi nhắc nhở vua chúa phải sống liêm khiết, yêu những người “chân lấm tay bùn”, tránh xa hoa lãng phí, tạo

Trang 37

phúc cho dân, không nên làm tổn hao sức lực nhân dân, làm cạn kiệt nguồn tài chính của nước nhà:

Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh

Áo bô quen cật vận xênh xang”

Ông cũng nhắc nhở con người không nên quá lụy “sắc dục”:

Sắc là giặc, đam làm chi!

Thuở trọng còn phòng có thuở suy”

(Giới sắc) Hay:

Tửu sắc là nơi nghiệp há chừa Thế sự trai yêu thiếp mọn

Nhân tình gái nhớ chồng xưa Chẳng say chẳng đắm là quân tử Người hiểm lòng thay! hãy sá ngờ”

Trong thơ cũng như trong những bài chiếu, ông cũng chú ý răn dạy thế hệ

kế tục cho vua, những người sẽ gánh trọng trách quản lí nhà nước sau này:

“Phàm những vị vua kế vị được chăn nuôi sung sướng thường không lập chí Nếu không dạy từ đầu, răn từ trước khiến cho biết sợ, giữ gìn, cảm kích hăng hái, thì sao hay hết đạo kế thuật để tạo phúc cho nhân dân” ( Chiếu về việc làm

bài “Hậu Tự Huấn” để răn bảo Thái tử)

Ông cũng nhắc nhở những vị tướng phải biết “tùy cơ ứng biến”, “thiên biến vạn hóa” trên chiến trường là một trong những quan điểm độc đáo trong việc

dụng binh của ông “người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi Được

Trang 38

thời có thế, thì mất biến hàn còn, nhỏ hóa ra lớn, mất thời không thế, thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy” (Lại thư dụ Vương Thông) và “cái điều đáng quý ở người quân tử là biết thời thông biến, lượng sức xử mình” (Thư dụ thành

Tam Giang)

Theo ông, tài trí thể hiện ở quân sự là sự khôn khéo “quyền mưu vốn dùng

để trừ gian” và người anh hùng phải là người:

Bởi, biết người, biết mình, hay yếu hay mạnh Đợi thời cơ, chờ dịp,

Giấu sắc, giấu tài”

(Phú núi Chí Linh)

Và người anh hùng thật sự phải là người có nhân nghĩa và phải có tài trí để

“trừ bạo yên dân” Muốn làm được điều đó, con người cần phải rèn luyện cho mình những đức tính “nhân, nghĩa, trung, cần”:

Nhân nghĩa trung cần chứa tích ninh”

Niềm khát khao cháy bỏng mà Nguyễn Trãi mong muốn thực hiện là việc hướng quan lại, vua chúa đến vai trò là người quan hiền, người vua sáng nhằm tạo phúc cho muôn dân:

Mới sự đã chăng còn ước nữa, Nguyện xin một thấy thuở thăng bình”

Con người chịu sự tác động của các tác nhân xã hội và bị tác nhân xã hội tác động, qua đó con người bộc lộ bản tính của mình Đối với sự phức tạp của cuộc sống, con người đặc biệt là quan phụ mẫu phải đối phó cũng một lúc giữa lợi, nghĩa, được, mất, mừng, thương,…

Trang 39

Đạo đức hiền lành được mọi phương

Tự nhiên cả muốn chúng suy nhường Lợi than hết lấy, nhiều thì cạnh, Nghĩa phải đem cho, ít chẳng phường

Sự thế sá phòng khi được mất Lòng người tua đoán thuở mừng thương

“Chẳng nhàn” xưa chép lấy lời truyền bảo Khiến chớ cho quan một đạo thường”

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, nhân dân đóng vai trò nồng cốt, quan trọng nhất và sức mạnh đoàn kết là điều thiết yếu Chỉ có đoàn kết thì đất nước ta mới vượt qua bao thăng trầm để có được độc lập tự do Nguyễn Trãi nhắc nhở con người phải biết yêu thương, đoàn kết với nhau:

Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền Cành bắc cành nam một cỗi nên”

Hay,

Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”

(Bình Ngô đại cáo) Bài học đoàn kết ta đã được học không biết bao nhiêu lần qua bao cuộc chiến, bao thử thách “Câu chuyện bó đũa” là một trong những bài học đắtF giá cho biết bao thế hệ Tiếp thu điều đó, Nguyễn Trãi luôn nhắc mọi người yêu thương, nhường nhịn nhau:

Ở thế nhịn nhau muôn sự đẹp

Trang 40

Cương nhu cùng biết hết hai bên”

thức chủ quyền độc lập dân tộc, trong “Bình Ngô đại cáo” đã thể hiện chủ quyền, cương vực, lãnh thổ:

“Thực vi Văn hiến chi bang

Sơn, xuyên chi phong vực ký thù

Na m Bắc chi phong tục diệc dị

Việt Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc;

Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương”

(Bình Ngô đại cáo)

Dịch: “Thực là một một nước văn hiến

Cõi bờ sông núi đã riêng, Phong tục Bắc Nam cũng khác

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương”

Đó là bài học to lớn mà Nguyễn Trãi đã để lại cho thế hệ đời sau, đặc biệt

là bộ máy cầm quyền muôn thuở

Qua sáng tác của mình, Nguyễn Du ngoài việc giáo dục con người về lòng nhân ái ông còn nhắc nhở chúng ta ý thức về lãnh thổ, về cương vực và khơi gợi

ở con người về tình yêu đất nước Trong thơ Nguyễn Du, người đọc có thể thấy được điều đó qua nhiều bài thơ viết về cửa ải Nam Quan, viết về hình tượng Kỳ Lân, hay hình tượng Mã Viện, cũng như những bài thơ về đất kinh đô Thăng Long

Ngày đăng: 01/01/2021, 12:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w