Bên cạnh những nhà văn nam tài hoa này, nền văn học ở Nam Bộ cũng xuất hiện những nhà văn nữ sắc sảo, cá tính từ thời chiến tranh như Dạ Ngân, đến thời kì bao cấp và kinh tế thị trường n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Anh Thi
VẤN ĐỀ CHẤN THƯƠNG TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ
15 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Anh Thi
VẤN ĐỀ CHẤN THƯƠNG TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ
15 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS BÙI THANH TRUYỀN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Mọi số liệu, nội
dung trình bày trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố ở bất
cứ công trình nào
Học viên
Nguyễn Anh Thi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Bùi Thanh
Truyền, người đã nhiệt tình hướng dẫn, ủng hộ và tạo mọi điều kiện cũng như truyền
niềm đam mê nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy/ Cô Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy Khóa 26 chuyên ngành Văn học
Việt Nam Đồng gửi lời cảm ơn đến quý cán bộ Phòng Sau Đại học đã tạo mọi điều
kiện để tôi có thể hoàn thành khóa học này
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên và ủng
hộ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2017 Học viên
Nguyễn Anh Thi
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ CỦA SỰ HÌNH THÀNH CHẤN THƯƠNG TRONG VĂN HỌC VÀ TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ 15 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 14
1.1 Vấn đề chấn thương trong văn học 14
1.1.1 Khái niệm chấn thương và văn học chấn thương 14
1.1.2 Các dạng thức chấn thương 16
1.1.3 Tự sự chấn thương 19
1.2 Tiểu thuyết nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI 21
1.2.1 Sự hùng hậu về lực lượng sáng tác 21
1.2.2 Những cơ sở của bước ngoặt chuyển mình 22
1.3 Tính khả thủ của việc tiếp cận tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI từ vấn đề chấn thương 25
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 VẤN ĐỀ CHẤN THƯƠNG TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ 15 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI NHÌN TỪ NỘI DUNG PHẢN ÁNH 33
2.1 Những con người bị chấn thương thể xác và tinh thần 33
2.1.1 Lạc lõng ngay giữa gia đình và chốn đông người 34
2.1.2 Hoang hoải đi tìm cái tôi bản thể 44
2.2 Những con người bị vứt bỏ và tự vứt bỏ bản thân 51
2.2.1 Sự chủ động thay đổi số phận bản thân 51
2.2.2 Sự xô đẩy ngang trái của cuộc sống gia đình và xã hội 59
2.3 Những sợi dây vô hình trói buộc cuộc đời con người 65
2.3.1 Sự đổ vỡ niềm tin và những giá trị đạo đức truyền thống 65
Trang 62.3.2 Sự ràng buộc của các quy tắc, chuẩn mực về tư tưởng, thể chế xã hội 71
Tiểu kết chương 2 76
Chương 3 VẤN ĐỀ CHẤN THƯƠNG TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ 15 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT 77
3.1 Kết cấu trần thuật 77
3.1.1 Sự đứt gãy mạch truyện tương ứng với những thương tổn tinh thần của nhân vật 77
3.1.2 Không gian trần thuật – cõi tồn sinh những chấn thương tâm lý 86
3.1.3 Thời gian trần thuật – biểu hiện của sự vụn vỡ 89
3.2 Điểm nhìn trần thuật 92
3.2.1 Điểm nhìn nội quan hóa 93
3.2.2 Điểm nhìn dị biệt hóa 102
3.3 Ngôn ngữ trần thuật 106
3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại – biểu hiện của sự đổ vỡ 107
3.3.2 Ngôn ngữ độc thoại – sự vang dội của chấn thương 111
3.4 Giọng điệu trần thuật 114
3.4.1 Giọng da diết quan hoài 115
3.4.2 Giọng xót xa thương cảm 118
3.4.3 Giọng giễu nhại, hoài nghi 121
Tiểu kết chương 3 125
KẾT LUẬN 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tháng 12 năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề xướng công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội, trong đó có đổi mới nền văn
nghệ Từ đó, nền văn học Việt Nam đã được “cởi trói”, thoát khỏi một “giai đoạn văn
học minh họa” để tiến hành công cuộc đổi mới Trên văn đàn lúc này, các tác phẩm thể hiện rõ sự đổi mới cả về mặt nghệ thuật lẫn nội dung đã bắt đầu xuất hiện Việc đổi mới này là một thách thức nhưng đồng thời cũng là cơ hội để các nhà văn được sáng tác theo hướng tự do, dân chủ và đầy cá tính sáng tạo Song song với thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết với thế mạnh phản ánh được bức tranh xã hội rộng lớn về những vấn
đề của cuộc sống con người đã phát triển rất mạnh mẽ
1.2 Nền văn học miền Nam, một mảnh ghép của nền văn học Việt Nam, với những cây bút tài hoa mang đậm cá tính riêng: Vương Hồng Sển, Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng,… đã khẳng định một phong vị riêng của mình Bên cạnh những nhà văn nam tài hoa này, nền văn học ở Nam Bộ cũng xuất hiện những nhà văn
nữ sắc sảo, cá tính từ thời chiến tranh như Dạ Ngân, đến thời kì bao cấp và kinh tế thị trường như Bích Ngân, Lý Lan, Nguyễn Lập Em… nối tiếp họ là thế hệ người viết trẻ của thời công nghệ hóa như Nguyễn Ngọc Tư, Võ Diệu Thanh, Phan Hồn Nhiên, Thu Trân… Những nhà văn nữ dù xuất phát điểm khác nhau về tuổi tác, kinh nghiệm, môi trường sống… nhưng với sự tiếp nối thế hệ họ đã sáng tác nên những tác phẩm tuôn trào những nhịp thở dồn dập của cuộc sống mới không mấy êm ả này Việc cập nhật
và nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI là cách
để nhìn nhận và đánh giá tài năng cũng như những đóng góp của họ cho nền văn học Nam Bộ nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung
1.3 Trong những năm gần đây, vấn đề chấn thương trong văn học đang được các nhà phê bình, nghiên cứu và các tiểu thuyết gia thực hiện cuộc khám phá nhằm soi chiếu, bóc tách và cũng là để thấu hiểu và xoa dịu nỗi đau Những tác phẩm văn học được soi rọi dưới những góc nhìn khác nhau về các dạng thức chấn thương do chiến tranh; do xê dịch môi trường sống, văn hóa sống quen thuộc dẫn đến việc sốc văn hóa;
Trang 8hay do quá trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Tôi là ai?” để khám phá “bản thể” của con người thời hiện đại… Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định đi vào nghiên cứu
và tập trung tìm hiểu đề tài: “Vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của các nhà
văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI”
lòng của các khuê nữ (Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều), của người chinh phụ (Chinh phụ ngâm khúc – Đặng Trần Côn),… Song song với dòng văn học viết,
văn học dân gian cũng có những bài ca dao, dân ca vang vọng tiếng khóc thương cho
số phận bọt bèo của mình trong chùm thơ Than thân hay trong những bài vè tố cáo chế
độ phong kiến,… Thời gian trải dài qua các cuộc biến thiên của lịch sử, xã hội, nền văn học Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với nhiều đề tài, nguồn cảm hứng đa dạng, các nhà văn đã viết nên những trang sách hằn sâu những vết thương do nhiều nguyên nhân Những tiếng khóc, tiếng máu chảy đã được thể hiện trong hàng loạt các tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thời xa vắng (Lê Lựu), Những ngã tư và
những cột đèn (Trần Dần),… Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, đất nước đang trên đà
phát triển, những cơ chế hình thành nên chấn thương trong các tác phẩm văn học ngày càng xuất hiện nhiều Cho đến thời điểm này, vấn đề chấn thương đã được đề cập đến trong văn học với những công nghiên cứu sau:
+ Trần Lê Hoa Tranh (2009), Nhân vật nữ trung tâm và những chấn thương tinh
thần trong truyện ngắn Lỗ Tấn [215]
Bài viết này đã góp thêm một cái nhìn về nhân vật nữ trung tâm và những chấn thương tinh thần trong truyện ngắn Lỗ Tấn Đó là những số phận phụ nữ phải chịu cảnh đa đoan, không trọn vẹn, không một cuộc tình êm ả Ẩn dưới những trang văn xuôi giản dị, cô đúc và lạnh lùng, Lỗ Tấn đã phác thảo nên những chân dung con
Trang 9người mang linh hồn dân tộc Trung Hoa thời bấy giờ
+ Nguyễn Thành Thi (2010), Tiếng nói của cái tôi bị chấn thương và tính khả
dụng của các yếu tố nhật kí, trinh thám trong tiểu thuyết, Những lằn ranh văn học,
Nxb Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh [171]
Bài viết chủ yếu tập trung đề cập đến phương diện thẩm mỹ của thể loại và xu
hướng tổng hợp thể loại trong tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn Đồng thời,
qua đó tác giả cũng đề cập đến tiếng kêu khắc khoải của “cái tôi” bị chấn thương về mặt tinh thần góp phần cung cấp thêm một cứ liệu về chấn thương – một vấn đề còn cần nhiều nhà nghiên cứu góp sức để làm rõ
+ Lê Văn Hiệp (2012), Đặc trưng mĩ học của văn học vết thương trong văn xuôi
Việt Nam thời kì đổi mới (Luận văn Thạc sĩ), Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội [79]
Luận văn cung cấp những nét cơ bản nhất về diện mạo cũng như đặc trưng mỹ học của văn học vết thương trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới Việc so sánh với dòng văn học vết thương ở Trung Quốc đã làm nổi bật cả hai phương diện hình thức nghệ thuật và nội dung Đồng thời, luận văn này sẽ là nguồn tài liệu cho những người nghiên cứu các vấn đề tổng thể và đầy đủ về văn học vết thương ở Việt Nam gắn liền trong hệ thống nền văn học đương đại
+ Lê Thanh Nga (2012), Chấn thương trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp,
Tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến nay, Nxb Đại học Vinh, Nghệ An
[124]
Bài viết bước đầu đã khái quát những biểu hiện của chấn thương trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp ở khu vực truyện ngắn Trong công trình này, tác giả chủ yếu xoáy sâu vào dạng thức nhân vật người trí thức cùng những dư chấn của những đau thương mà dân tộc ta đã trải qua Đây là nguồn tài liệu cung cấp cách vận dụng lý thuyết chấn thương vào việc phân tích tác phẩm cụ thể
+ Trần Phượng Linh (2012), Nhân vật chấn thương trong tiểu thuyết Việt Nam
giai đoạn 1986 – 1995: Nhìn từ hệ chủ đề và một số cảm hứng [110]
Thông qua 5 tiểu thuyết nổi bật giai đoạn 1986 – 1995 (Thời xa vắng – Lê Lựu,
Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh, Bến không chồng – Dương Hướng, Mảnh đất lắm
Trang 10người nhiều ma – Nguyễn Khắc Trường, Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai), bài viết đi sâu
phân tích về các dạng thức nhân vật chấn thương ở thời kì này, nhìn từ hệ hình chủ đề
và một số cảm hứng chính
+ Thái Thị Cẩm Thơ (2013), Vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của Philippe
Claudel (Luận văn Thạc sĩ), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội [173]
Luận văn là một công trình nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về tiểu thuyết của Philippe Claudel từ góc nhìn của lý thuyết chấn thương Với luận văn này, tác giả đã giải quyết được hai vấn đề: thứ nhất, hệ thống một cách tổng quát về lý thuyết văn học chấn thương, cũng như tính khả thủ của việc áp dụng lý thuyết này vào việc nghiên cứu tác phẩm văn học, cụ thể ở đây là trong tiểu thuyết của Philippe Claudel với đề tài chiến tranh Thứ hai, chỉ ra và phân tích được những biểu hiện của vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của nhà văn Pháp này ở cả hai mặt hình thức nghệ thuật và nội dung
+ Lê Tú Anh (2013), Từ trường hợp Đoàn Minh Phượng, nghĩ về văn học chấn
thương ở Việt Nam và quan điểm nghiên cứu, Lý thuyết phê bình văn học, tiếp nhận và
ứng dụng, Nxb Đại học Vinh, Nghệ An [195]
Bài viết đã có những nhận định cơ bản sơ khởi về Lý thuyết chấn thương cũng như vấn đề chấn thương trong văn học Việt Nam đương đại, mà đại diện là cây bút
Đoàn Minh Phượng với tiểu thuyết Và khi tro bụi Đây là nguồn tài liệu góp phần cung
cấp thêm kiến thức về chấn thương trong văn học đang còn thiếu những cơ sở, hệ thống lý luận ở nước ta
Nhìn chung, những luận văn trên chỉ mới đề cập đến vấn đề chấn thương ở một tác giả hoặc một tác phẩm cụ thể, ít đi sâu vào tìm hiểu một cách khái quát một giai đoạn văn học, một khu vực sáng tác có liên quan đến vấn đề chấn thương Tuy vậy, đây cũng là những nguồn tài liệu quý giá để những nhà nghiên cứu tìm hiểu về nền văn học chấn thương ở Việt Nam
2.2 Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế
kỷ XXI
Những năm cuối thế kỷ XX, nhiều người trong giới văn nghệ sĩ đã ngạc nhiên trước sự nở rộ của các cây bút nữ Đề tài nổi cộm trên văn đàn của họ lúc này là đề tài
Trang 11tình yêu mà theo Phương Lựu, đã có nhận xét về cách viết của họ như sau: “Trước hết những sáng tác của nữ giới thường mang màu sắc tự truyện, bởi vì diện sống nói chung không được sâu rộng” Và “không ai nói các bạn gái này chỉ viết về tình yêu Nhưng rõ ràng đề tài tình yêu chiếm một vị trí khá lớn, và là đặc điểm chung trong
sáng tác của họ” [114] Từ xuất phát điểm, theo nhà phê bình Đặng Anh Đào nhận xét:
“Phụ nữ thường mạnh ở chỗ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trang sách, hoặc nói như ở phương Tây… họ tự ăn mình…”, “tuy nhiên phải nói thật là ở mỗi người, nguy cơ lặp lại mình, nguy cơ ấy khá rõ” [205], các nhà văn nữ đã dần chiếm được thế
ưu trội trên văn đàn Hòa trong không khí sôi sục ấy, các nhà văn nữ Nam Bộ đã tiến tới những chân trời mới hơn của văn chương Các nhà văn Bích Ngân, Dạ Ngân, Lý Lan, Phan Hồn Nhiên, Thu Trân, Trầm Hương, Trần Thu Hằng, Nguyễn Ngọc Tư, Trần Thị Hồng Hạnh, Võ Diệu Thanh đã đem đến những đều mới mẻ cho mảng tiểu thuyết của văn học Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XXI
Để hiểu rõ về những nhà văn nữ này, chúng tôi xin được tổng hợp những bài nghiên cứu, bài báo có liên quan đến tác giả cũng như tác phẩm của họ
Thứ nhất, nhà văn Bích Ngân, tên đầy đủ là Trịnh Bích Ngân, quê quán Cà Mau
Bà từng học khoa văn Trường Đại học Tổng hợp tại Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Viết văn Nguyễn Du tại Hà Nội Hiện đang sống và làm việc tại Thành phố
Hồ Chí Minh Tên tuổi của nhà văn Bích Ngân được các nhà nghiên cứu và bạn đọc
khen ngợi khi bà cho ra đời cuốn tiểu thuyết Thế giới xô lệch cùng 6 tập truyện ngắn, 1
tập truyện hài và một số kịch bản sân khấu Nhà phê bình Đặng Anh Đào nhận xét về
tiểu thuyết Thế giới xô lệch như sau: “Chi tiết ở truyện như những văn hoa, gợi lên bàn
tay người đàn bà thêu thùa Trong thế giới xô lệch một bàn tay, một ngón chân cũng trở thành một tín hiệu mở đầu cho tình yêu, hạnh phúc hoặc sự day dứt, ám ảnh Ngón chân Giao chỉ thật độc đáo, đâu phải vì nó là tín hiệu của một dòng giống cổ xưa! Nó trở đi trở lại trong những giây phút kịch tính nhất của đời Út Không chỉ những giai điệu, nhạc Beethoven, mà một tấm lưng vạm vỡ của người anh cao 1m75 biết “ăn” nhựa đường, sỏi đá, cuối cùng cúi xuống cõng người bà nội (nuôi) hấp hối… tất cả đều
là những mô típ ám ảnh Cả những chương hồi rất ngắn cũng gợi lên sự vặt vãnh, đứt gãy của bi kịch đời thường…” [58]
Trang 12Trong những luận văn thạc sĩ tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh: Người phụ nữ hiện đại trong sáng tác một số nhà văn nữ (2007) của Trần Thùy
An [1], và Thế giới nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết Bích Ngân (2015) của
Nguyễn Thị Thái [160] đã trình bày những khía cạnh về hình tượng người phụ nữ hiện đại được đặt trong mối quan hệ gia đình, xã hội; hay các dạng nhân vật được nhìn từ hình tượng nghệ thuật đến nội dung tác phẩm
Thứ hai, nhà văn Dạ Ngân – người tiếp nối thế hệ của những cây bút thời chiến với lực lượng sáng tác thời đại công nghệ hóa hiện nay Tiếng vang của bà song hành
cùng cuốn tiểu thuyết Gia đình bé mọn Nhà văn – dịch giả Trần Thiện Đạo đã nói về
bà như sau: “Một hình một bóng, trên con đường quen thuộc hơn một phần tư thế kỷ cầm bút trong Nam ngoài Bắc, tác giả đã nhè nhẹ nắm tay người đọc, “rù quến”, lôi
cuốn, dẫn họ cùng rảo bước với mình từ trang đầu cho tới hết trang chót” [59]
Số lượng bài viết và bài nghiên cứu về bà cũng như tác phẩm của bà khá nhiều:
Phương Lựu với bài viết Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ đăng trên Tác Phẩm Mới
số 3/1998 [114]; hay trong cuốn Lý luận – phê bình văn học ở đô thị miền Nam
1954 -1975, Trần Hoài Anh đưa ra nhận định về bà: “Ẩn chứa đằng sau sự phơi trải chua chát, thách thức là tiếng kêu đau đớn, tha thiết, tiếng kêu về một cảm thức đạo đức mới cần có giữa những con người với nhau mà Dạ Ngân muốn nhắn gửi tới bạn đọc” [8, tr.43]
Bên cạnh đó, số lượng các luận văn thạc sĩ làm về sáng tác của Dạ Ngân cũng
khá nhiều Có thể điểm qua một vài luận văn như: Phong cách truyện ngắn Dạ Ngân (2009) của Hoàng Thị Kim Cúc [37]; Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Dạ Ngân (2014)
của Đặng Thị Cúc [38]
Thứ ba, nhà văn Lý Lan, sinh ra ở Bình Dương, trưởng thành ở Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh Nhà văn Trần Thùy Mai từng nhận xét về Lý Lan: “Chị hiểu sâu sắc về sự cọ xát văn hóa diễn ra trong tâm lí con người, và hiểu được vai trò của người phụ nữ trong cuộc hội nhập và bảo tồn bản sắc vẫn đồng thời diễn ra thầm lặng trong nhiều ngõ ngách của thế giới Trong các nhà văn Việt Nam hiện nay không ai có thể mạnh hơn Lý Lan trong việc khai thác chủ đề này” [121]
Trang 13Ngoài những bài báo, các sáng tác của Lý Lan cũng được các bạn trẻ chọn làm đề
tài luận văn thạc sĩ Luận văn Người phụ nữ hiện đại trong sáng tác của các cây bút nữ
của Trần Thúy An [1] đã có một cái nhiều đa chiều, đa diện về các hình tượng nhân vật nữ trong sáng tác của bà
Thứ tư, nhà văn Phan Hồn Nhiên, sinh ra tại Hà Nội nhưng từ lúc 5 tuổi đã sống tại Thành phố Hồ Chí Minh Tài năng của bà sớm được bộc lộ khi giành được giải II
trong cuộc thi Nhà văn trẻ được tổ chức bởi báo Hoa học trò Cuốn tiểu thuyết Ngựa
Thép được chính Phan Hồn Nhiên gọi là “cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình”, điều
này đã cho thấy sự coi trọng trong việc phân loại tác phẩm cũng như ý thức, chủ đích của bà khi bắt tay thực hiện tác phẩm này Trên trang báo điện tử VnExpress, tác giả
Lam Thu với bài viết “Ngựa thép – cuộc khám phá những tâm hồn cô độc” đã đánh giá
cuốn tiểu thuyết này là “Sự hài hòa điêu luyện giữa tính chất trình diễn của một nghệ
sĩ và sự khéo léo tỉ mỉ của một nghệ nhân Đây là một tiểu thuyết đầy đặn, vững chãi
và sâu sắc của một trong những nhà văn trẻ có đam mê và ý thức rõ ràng về việc phải làm gì để hòa nhập với dòng chảy văn chương đương đại thế giới” [228]
Thứ năm, nhà văn Thu Trân, sinh ở Biên Hòa, Đồng Nai và hiện đang sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh Bà được Nhà văn Hồ Anh Thái nhận xét: “Bản lĩnh
ngòi bút đã làm cho Thu Trân vững vàng trong nhiều đề tài khó…” [168] Nhà phê
bình văn học Huỳnh Như Phương: “Đọc Thu Trân, thấy cuộc sống hôm nay thật là bề bộn Giữa cuộc đời này, có những người trẻ lúng túng và phân thân; đôi khi muộn
phiền, lẩm cẩm; nhưng tuổi trẻ đã không còn bơ vơ!” [168]
Thứ sáu, nhà văn Trầm Hương, tên khai sinh là Trần Thị Thủy, sinh ra tại Bến
Tre, hiện bà đang sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh Tiểu thuyết Người
cha hiện đại là một trong những tác phẩm chuyển tải một vấn đề nhức nhối trong cuộc
sống gia đình đương thời, đó là những sự vô trách nhiệm và ích kỷ của người lớn mà
cụ thể là người cha, đã đẩy ba mẹ con Chuồn Kim vào một hoàn cảnh sống trong gia đình không toàn vẹn Trên tờ Lao Động, tác giả Minh Thi có viết một bài báo với tựa
đề ““Người cha hiện đại” hay thế giới của những đứa trẻ bị bỏ rơi”, tiểu thuyết này đã
được phân tích trên những chấn thương trong tâm hồn của hai đứa trẻ vì những sai lầm
của người lớn [226] Hay trong bài viết “Nhà văn Trầm Hương và Người cha hiện đại”
Trang 14của tác giả Trà Giang, nhà văn Trầm Hương cũng đã bộc bạch nỗi lòng của mình trước vấn đề tổn thương của trẻ em do sự thiếu trách nhiệm của người lớn [209]
Thứ bảy, nhà văn Trần Thu Hằng Đây là một nhà văn trẻ có sức viết dẻo dai
Văn chương của bà giản dị, dễ gần và rất chân thành Tiểu thuyết Người đàn bà lưu
vong (2008) là một cuốn sách kể về cuộc sống lưu vong ngay trong chính cuộc đời của
mình - nữ tiến sĩ Vũ Bích Lương, dù trong mắt mọi người bà là người hạnh phúc và may mắn trong cả con đường học vấn và gia đình mẫu mực Trên trang Yume.vn, Trần
Công Thuấn có viết bài “Người đàn bà lưu vong – phê bình văn chương”, tác giả đã
dành những lời khen cho Trần Thu Hằng “Tôi nghĩ, lòng yêu thương con người và mong muốn viết “về sự thật một cách trần trụi, những nỗi đắng cay, những niềm khao khát…” sẽ còn giúp Trần Thu Hằng đi rất xa trên con đường sáng tạo Và chắc chắn nhà văn sẽ gặt hái được những kết quả tốt đẹp sau những mồ hôi và nước mắt lăn lộn cùng nhân vật để biến những điều không thể thành có thể” [230]
Thứ tám, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, một cây bút trẻ với nhiều tác phẩm hay được bạn đọc và cả giới nghiên cứu chú ý Các tác phẩm của nhà văn luôn căng tròn những vấn đề thời sự nhứt nhối đang tồn tại trong cuộc sống bộn bề này Các luận văn về
truyện ngắn của nhà văn như: Kiểu nhân vật cô đơn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư của Phạm Thị Thúy [231]; Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư qua
tập truyện Cánh đồng bất tận của Trần Thị Dung, trường Đại Học Vinh, Nghệ An
[204]; Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện quan niệm nghệ
thuật về con người của Nguyễn Trọng Bình [200]; Đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Lan Hoa, Trường Đại Học Cần Thơ
[214]…
Tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư được đánh giá là độc đáo, đầy tính thời
sự mà cũng giàu chất thơ Theo Nxb Trẻ, “Sông – Tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn
Ngọc Tư là một sự đổi mới toàn diện của chính cô Đẹp Đáo Để Trần tục và hư ảo Truyện kết thúc bằng dấu chấm hỏi về số phận một con người – không hề do dự, cô đã đẩy cái mầm ý tưởng vừa nhú lên sang tay người đọc, để họ nuôi dưỡng chúng, bằng trải nghiệm qua việc đọc cuốn sách này” [250]
Trang 15Thứ chín, Trần Thị Hồng Hạnh là một nhà văn trẻ sinh năm 1978 tại Sóc Trăng, từng đoạt giải nhất “Cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần III” do Nxb Trẻ phối hợp cùng báo Tuổi Trẻ, Hội Nhà Văn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Bà là nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch bản phim truyền hình Trên nhiều bài báo như “Trần Thị Hồng
Hạnh: Cố bán được chữ càng nhiều càng tốt” trên tờ Tiền Phong [206], “Tiểu thuyết trên blog “Quái vật” của nhà văn Trần Thị Hồng Hạnh ra mắt bản in” trên trang Thơ
trẻ [211], “Nhà văn Trần Thị Hồng Hạnh: “Người ta” có biết gì về văn học Việt Nam
đâu?” trên trang Nhịp cầu thế giới online [213] hay bài “Nhà văn Trần Thị Hồng Hạnh: Tôi không đánh lừa độc giả” [233], bà được đánh giá là một nhà văn có tiếng là
chịu khó giới thiệu sách của mình cho bạn đọc
Cuối cùng, nhà văn Võ Diệu Thanh, quê ở An Giang Bà được biết đến với
những tác phẩm hay Cô con gái ngỗ ngược, Người đàn bà đa tình, Con nước say
mèm… Tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng kể về số phận của những con người ở một vùng
quê nghèo, chất chứa những sự bế tắc, tiêu cực trong lòng nền giáo dục Vấn đề nhạy
bén về những tiêu cực ấy đã đưa bạn đọc tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng vào một không gian u ẩn, buồn bực của hiện thực xã hội Trên trang Sách hay, cuốn tiểu thuyết
này của Võ Diệu Thanh được đánh giá là “cái nhìn thấu thị về giáo dục” [223], còn
nhà văn Nguyễn Xuân Khánh lại nhận xét: “Đọc xong Lần đầu thấy trăng, thấy đúng
là phải cái cách giáo dục” [223] Cũng với cuốn tiểu thuyết này, trên tờ báo điện tử
Văn nghệ Công an, tác giả Đỗ Dương viết bài “Nhà văn trẻ Võ Diệu Thanh: Lần đầu
thấy trăng: lần đầu tiểu thuyết” đã bình luận về những trang văn của bà “đã bắt đầu từ
những cảm nhận xót xa và thương cảm như thế với những cảnh đời, những tréo ngoe
trớ trêu của số phận quanh mình” [205]
Với việc tìm hiểu mười nhà văn nữ Nam Bộ đã nêu trên, chúng tôi nhận thấy có nhiều công trình lớn, nhỏ khác nhau đã đi sâu vào phân tích các đặc điểm hình thức cũng như nội dung của tác phẩm Tuy nhiên, bên cạnh những nhà văn được giới nghiên cứu chú ý như: Bích Ngân, Dạ Ngân, Lý Lan, Nguyễn Ngọc Tư,… cũng còn những cây bút chưa được chú ý trong nghiên cứu, tìm hiểu Đồng thời, trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ trong 15 năm đầu thế kỷ XXI thể hiện rất rõ những vấn đề chấn thương nhưng lại không được nhiều nhà nghiên cứu chú ý Vì lẽ đó,
Trang 16chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu đề tài: “Vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của
các nhà văn nữ ở Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI” nhằm cung cấp một cái nhìn khái
quát về diện mạo của các nhà văn nữ ở Nam Bộ trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay ở thể loại tiểu thuyết từ góc nhìn văn học chấn thương
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Dựa trên cơ sở khảo sát về lịch sử vấn đề, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ ở Nam
Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI Từ đó, chúng tôi muốn cung cấp một cách nhìn mới mẻ về văn học nữ ở Nam Bộ để thấy được những thành tựu đóng góp của họ trong thể loại tiểu thuyết từ mặt nghệ thuật đến nội dung dưới góc nhìn của văn học chấn thương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ đại hội VI của Đảng, đội ngũ tác giả nữ ở Nam Bộ bắt đầu xuất hiện với nhiều cây bút tài năng, những tiểu thuyết của họ có cái nhìn đa chiều, đa âm và mang tính đối thoại cao dần có mặt Đến những năm đầu thế kỷ XXI, lực lượng sáng tác cùng số lượng tác phẩm của các cây bút nữ ở Nam Bộ như Dạ Ngân, Bích Ngân, Lý Lan,… trở nên hùng hậu hơn Và do vậy, chúng tôi không thể đi vào khảo sát tất cả mà chỉ lựa chọn mười tác giả, mỗi tác giả một tiểu thuyết tiêu biểu trong phạm vi khảo sát của mình Việc lựa chọn số lượng tác phẩm cũng như tác giả trong phạm vi khảo này được dựa trên những tiêu chí sau:
Thứ nhất, tiểu thuyết của các nhà văn nữ này có chứa đựng vấn đề chấn thương trong văn học đương đại
Thứ hai, đây là những nhà văn sinh ra, lớn lên và có nhiều năm sinh sống, làm việc tại các tỉnh thành của khu vực phía Nam – tức gồm các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh
Thứ ba, chúng tôi muốn khảo sát các nhà văn thuộc nhiều thế hệ với sự tiếp nối trong suốt các chặng đường sáng tác từ thời chiến tranh, thời bao cấp đến những cây bút thuộc thế hệ trẻ thời đại công nghệ hóa để có một cái nhìn bao quát, khách quan hơn
Trang 17Thứ tư, họ là những cây bút đã có tên tuổi trên văn đàn với số lượng tác phẩm đa dạng về thể loại, trong đó có những tiểu thuyết đạt được các giải văn học của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, Hội nhà văn Việt Nam,
Cuối cùng, khoảng cách 15 năm đầu thế kỷ XXI sẽ là một khoảng thời gian lý tưởng để chúng tôi có một cái nhìn cận cảnh nhất về những tiểu thuyết của những nhà văn nữ này
Do đó, luận văn của chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu 10 tiểu thuyết của các nhà văn sau:
1 Dạ Ngân: Gia đình bé mọn (2004), tác phẩm được trao giải thưởng Hội Nhà
văn Hà Nội năm 2005 và của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006
2 Thu Trân: Yêu và nổi loạn (tên gọi khác: Bay qua lửa của rừng) (2006)
3 Trần Thu Hằng: Người đàn bà lưu vong (2008)
4 Lý Lan: Tiểu thuyết đàn bà (2008), tác phẩm đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn
TP Hồ Chí Minh
5 Trần Thị Hồng Hạnh, Quái vật (2009)
6 Bích Ngân: Thế giới xô lệch (2009), tác phẩm được bằng khen của Hội Nhà
văn Việt Nam 2010
7 Trầm Hương: Người cha hiện đại (2011)
8 Nguyễn Ngọc Tư: Sông (2012)
9 Võ Diệu Thanh: Lần đầu thấy trăng (2013)
10 Phan Hồn Nhiên: Ngựa Thép (2014)
4 Phương pháp nghiên cứu
4.2 Phương pháp lịch sử
Giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện và khái quát hơn với việc tìm hiểu quá trình
Trang 18sáng tác văn học trước và trong giai đoạn được nghiên cứu về các nhà văn nữ
thuật đến nội dung tác phẩm
4.5 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Chấn thương với những cơ chế hình thành và những biểu hiện phức tạp của nó trong văn học, việc sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu sẽ giúp chúng tôi thấy rõ được những vấn đề trong từng tác phẩm, từng nhân vật
5 Đóng góp của luận văn
Với công trình “Vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam
Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI”, chúng tôi mong muốn được đóng góp vào kho Tri thức một cái nhìn mới mẻ về các sáng tác thuộc thể loại tiểu thuyết của nhà văn nữ Nam Bộ trong 15 năm đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn của vấn đề chấn thương
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở của sự hình thành chấn thương trong văn học và tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI
Ở chương này, chúng tôi tập trung làm rõ khái niệm, các dạng thức chấn thương,
tự sự chấn thương Từ cơ sở lí thuyết này, chúng tôi đi vào tìm hiểu tiểu thuyết nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI, cũng như tính khả thủ trong việc tiếp cận chúng từ vấn đề chấn thương
Chương 2: Vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI nhìn từ nội dung phản ánh
Ở chương 2, chúng tôi tiếp cận vấn đề từ phương diện nội dung phản ánh Cụ thể,
đó là những nguyên nhân cơ bản khiến cho các nhân vật bị chấn thương tinh thần và
Trang 19thể xác Qua đó, chúng tôi sẽ phân tích và lý giải cụ thể những yếu tố này qua từng cuốn tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ
Chương 3: Vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI nhìn từ phương thức trần thuật
Song hành với cách tiếp cận từ nội dung, phương thức trần thuật sẽ giúp chúng tôi tập trung sâu vào vấn đề nghệ thuật của 10 tiểu thuyết Từ đó, chúng tôi sẽ có một
sự minh giải về vấn đề chấn thương được chứa đựng trong tiểu thuyết của các nhà văn
nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI qua phương thức trần thuật một cách khách quan, chính xác
Trang 20Chương 1. CƠ SỞ CỦA SỰ HÌNH THÀNH CHẤN THƯƠNG TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ
15 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
Chấn thương trong văn học không phải là một sản phẩm tùy tiện mà nó chỉ xuất hiện khi lịch sử xã hội có những sự va chạm ngoài tầm kiểm soát gây ra những chấn động dữ dội, những cú sốc tinh thần quá lớn trong cuộc sống của con người Trong 15 năm đầu thế kỷ XXI, vấn đề chấn thương trong văn học và tiểu thuyết đã được các nhà văn nữ Nam Bộ khai thác và đưa vào các tác phẩm của mình
1.1 Vấn đề chấn thương trong văn học
1.1.1 Khái niệm chấn thương
Trước khi trở thành một hệ thống lý thuyết với đầy đủ những đặc trưng thẩm mỹ, vấn đề chấn thương đã in đậm các dấu vết trong cảm quan văn học và khái niệm chấn thương cũng đã được dùng khá phổ biến trên thế giới
Nguồn gốc ban đầu của khái niệm “chấn thương” (trauma) trong tiếng Hy Lạp là
một thuật ngữ y học, mang nghĩa là vết thương trên thân thể Trong bộ từ điển Anh –
Anh – Việt về thuật ngữ Y khoa do Tạ Quang Hùng và B.s Phạm Ngọc Trí chủ biên,
khái niệm “chấn thương” (trauma) được định nghĩa là một thuật ngữ y học, dùng để chỉ một vết thương sinh lý “bị thương hay tổn thương vật lý, như gãy xương hay bị đánh” [84, tr.1294]
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên năm 1999, khái niệm
“chấn thương” được định nghĩa là “Trạng thái của cơ thể bị một tác nhân ngoại lai tác
động gây những tổn thương với nhiều hình thái và mức độ khác nhau” [194]
Tương tự, trong bộ Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên năm 2011, khái
niệm “chấn thương được hiểu là [tình trạng] thương tổn ở bộ phận cơ thể do tác động
từ bên ngoài” [139, tr.195]
Ngoài nét nghĩa thuộc về chuyên ngành y khoa, “chấn thương” (trauma) còn được dùng để chỉ những thương tổn tâm lý trong chuyên ngành tâm lý học: “một số biến cố đau đớn và có hại về cảm xúc Các nhà lý thuyết ước đoán rằng một số biến cố (như sinh con) luôn luôn gây chấn thương Các triệu chứng loạn tâm thần có thể theo
Trang 21sau một biến cố gây stress quá mạnh như chiến trận hay tổn thương nặng” [84, tr.1294]
là định nghĩa được nhắc đến trong Từ điển Thuật ngữ Y khoa
Trong cuốn Từ điển Anh – Việt của Trần Văn Phước, Vĩnh Bá, Trương Văn
Khanh, Phan Minh Trị, “chấn thương” (trauma) được định nghĩa là “(một kinh nghiệm) khó chịu, gây đau khổ buồn phiền” hay “gây thương tổn tinh thần hoặc thể
xác” [140, tr.2163]
Còn theo Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ
biên), trong Từ điển Văn học (bộ mới) năm 2004, chấn thương được định nghĩa là “sự
va chạm với một sự kiện vượt ngưỡng” [80]
Trong các văn bản y học và tâm lý trị liệu, tập trung nhất trong văn bản của Simund Freud, thuật ngữ “chấn thương” được hiểu không phải như một vết thương
trên thân thể mà ở tinh thần Trong cuốn Beyond the Pleasure Principle, S Freud đã
gợi ý: vết thương trong tinh thần – lỗ thủng trong kinh nghiệm tinh thần về thời gian, bản ngã và thế giới – không giống như vết thương trên thể xác, nghĩa là, không phải như một sự kiện giản đơn và có thể hàn gắn; đúng hơn, nó là một sự kiện
Kế thừa khái niệm “chấn thương” (trauma) trong phân tâm học của S Freud,
Cathy Cruth trong cuốn Trauma: Explorations in Memory, đã định nghĩa khái niệm
“chấn thương” từ góc độ “cấu trúc của kinh nghiệm hay tri giác” là “sự kiện không
được đồng nhất hóa hay được trải nghiệm trong quá khứ một cách đầy đủ, mà về sau,
nó được tái chiếm lĩnh liên tục trong người trải nghiệm nó” Và trong văn bản
Unclaimed Experience: Trauma and the Possibility of History (Kinh nghiệm không
được khẳng định: Chấn thương và những khả năng của lịch sử) bà cho rằng: “Chấn thương mô tả một kinh nghiệm choáng ngợp về những sự kiện đột ngột hay thảm họa
mà phản ứng đối với sự kiện đó thường xuất hiện dưới dạng ảo giác và các hiện tượng mang tính chất xâm nhập thường bị trì hoãn và tái diễn một cách không kiểm soát được” [203] Bởi chấn thương xuất hiện bên trong, chứ không phải bên ngoài, thế giới tượng trưng Nó là sự gián đoạn triệt để, gây sốc lớn của thế giới song không phải là sự phá hủy hoàn toàn thế giới đó Những sự gián đoạn này khó có thể thấy ngay được trực tiếp, có ngay ngôn ngữ để gọi tên, biểu đạt, thường bị trấn áp để trở thành quên lãng nhưng mọi nguy cơ lại bắt đầu từ đây: chấn thương không thể bị hư vô hóa, nó
Trang 22âm ỉ, tiềm tàng rồi di căn sang những không gian, thời gian, thân thể khác Qua đó bà cũng nhấn mạnh rằng: “không có một định nghĩa chắc chắn về chấn thương, mà nó được mô tả rất khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, dưới những tên gọi khác
nhau Còn trong cuốn Review Article: Recent Theorisations of Trauma Fiction,
Postcolonialism, and the South African Novel, Thando Njovane cũng cho rằng: “chấn
thương được định nghĩa không chỉ như là một vết thương tinh thần của một cá nhân
mà còn là một liên kết giữa các nền văn hóa” [239]
Như vậy, giới thuyết về khái niệm “chấn thương” có rất nhiều định nghĩa, nhưng khi đi vào văn học, nó được nhận diện không chỉ đơn giản là một tình trạng thương tổn
ở bộ phận cơ thể do tác động từ bên ngoài, mà là những vết thương tinh thần
Khái niệm “văn học chấn thương” (traumatic literature) ra đời trong bối cảnh cuối thế kỷ XX cùng với vấn đề về “hội chứng sau chấn thương” (post traumatic stress disorder) Như đã nói trên, vấn đề chấn thương và văn học chấn thương được Cathy Caruth tiếp cận từ góc độ phân tâm học Tâm điểm của vấn đề chấn thương trong văn
học được Caruth phân tích dựa trên những ví dụ được S Freud nêu ra trong cuốn Vượt
xa hơn nguyên tắc khoái cảm Theo bà “sở dĩ Freud mượn văn học để mô tả kinh
nghiệm chấn thương vì lẽ văn học, giống như phân tâm học, quan tâm đến mối quan
hệ phức tạp giữa biết và không biết Và quả thật như vậy, một điểm đặc biệt là ở nơi biết và không biết giao cắt, ngôn ngữ văn học và lý thuyết phân tâm học về kinh nghiệm chấn thương thực sự gặp gỡ nhau” [202, tr.3]
Định nghĩa về khái niệm “chấn thương” đã được hiểu theo nhiều nghĩa tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Nhưng nhìn chung, chấn thương là khái niệm chỉ những dấu vết của sang chấn bắt nguồn từ sự trải nghiệm và thấu hiểu sâu sắc những va chạm vượt ngưỡng chịu đựng của con người Đó có thể là những nỗi ám ảnh của sự tồn tại bất toàn, mắc kẹt giữa hiện thực và quá khứ Từ đó, những âm vọng của chấn thương dần lan tỏa và xâm nhập vào vô thức và tiềm thức của nạn nhân – người trực tiếp hứng chịu hoặc người chứng kiến những cảnh huống tạo ra chấn thương
1.1.2 Các dạng thức chấn thương
Mặc dù, “chấn thương” ban đầu là một khái niệm dùng trong chuyên ngành y khoa phẫu thuật, tức là những vết thương sinh lý, nhưng về sau phạm vi của khái niệm
Trang 23đã trở nên rộng hơn khi nó được đặt vào trọng tâm tâm lý xã hội của cảm xúc và các phản ứng tâm lý của con người Những chấn thương tâm lý của con người khi vượt ngưỡng chịu đựng đã phải đối mặt với hàng loạt những biến chứng sau chấn thương Chấn thương tâm lý thường liên quan đến những sự đe dọa về mạng sống hoặc cảm giác an toàn của con người Theo WHO, có sáu loại nạn nhân chịu tác động của thảm họa: người trực tiếp bị nạn; người thân của nạn nhân; người đến cứu hộ, cứu nạn; các thành viên trong cộng đồng; người bị rối loạn khi nghĩ đến thảm họa và người tình cờ liên quan đến thảm họa
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi xin điểm qua những dạng thức chấn thương như sau:
Thứ nhất, chấn thương do con người phải đối diện với những biến đổi lớn của lịch sử, chính trị Dạng thức này chủ yếu là do các sự kiện như chiến tranh, khủng bố, biểu tình, các cuộc cải cách văn hóa gây nên Sau những cuộc chiến kéo dài hay những cuộc khủng bố đánh bom, những cựu chiến binh, những người sống sót sau thảm họa diệt vong và những thế hệ sau này sẽ “không bao giờ có sự hài hước và niềm vui, (họ) luôn buồn bã, thương tiếc” [238, tr.39] Theo Yale Danieli, những người sống sót sau cuộc tàn sát người Do Thái của Phát xít Đức không còn khả năng “muốn nói chuyện cùng ai” Hay những thành viên trong gia đình của những người từng chứng kiến thảm họa này luôn có cảm giác “bị cô lập và phản bội” [238, tr.40] Và nếu không được chữa trị kịp thời về mặt tư vấn sức khỏe sau chấn thương, những nạn nhân của chiến tranh và khủng bố này sẽ rơi vào những sự chuyển động phản ứng: (1) Các cơ chế bảo vệ chống lại các cách trị liệu của bác sĩ như tê liệt, muốn cách ly với đám đông và luôn phủ nhận, nghi ngờ tất cả (2) Có những phản ứng như cảm giác tội lỗi với người lạ, những cơn thịnh nộ, cảm giác sợ hãi, mặc cảm với những cảm xúc có liên quan (như: ghê tởm…), cảm xúc đau buồn chiếm lấy họ… Và nỗi sợ hãi này luôn khiến họ phải hoài nghi trước những cảnh huống trong cuộc sống Trên thực tế, theo
C Kolb, những nạn nhân chiến tranh sẽ “đột ngột bị chóng mặt, khó thở và nhiệt độ cơ thể tăng lên khi họ nghe một âm thanh đột ngột hoặc một loạt âm thanh nhắc họ nhớ lại cảnh bắn súng” [238, tr.134]
Trang 24Thứ hai, chấn thương tâm lý do phải đối mặt với những sự kiện xảy ra do sự tha hóa về đạo đức và lối sống của con người Ở dạng thức chấn thương này, nguyên nhân chủ yếu là do họ là nạn nhân hoặc là người chứng kiến các hành động như: hành hung tình dục (bạo lực tình dục, hiếp dâm, loạn luân), bạo lực gia đình, bị lạm dụng kéo dài,
bị ngược đãi, thậm chí là do hoàn cảnh nghèo khó của gia đình hoặc những đứa trẻ sinh ra trong một gia đình luôn có sự “chống đối” lại chính quyền, nhà nước hoặc bị bắt cóc và mất tích Những nạn nhân dù trực tiếp hay gián tiếp rơi vào trạng huống này thường có những biểu hiện của sự trầm cảm, lo lắng, rối loạn giấc ngủ và hầu hết họ chọn cách làm tổn hại đến cơ thể, tính mạng mình để giải thoát bản thân Bởi những chấn thương này buộc họ rơi vào những tình thế, những xung đột khó giải quyết như
sự kết nối hay tách rời với mọi người, sự toàn vẹn hay tan rã trước những mối quan hệ gắn kết trước đó (bạn bè, gia đình, người thân…) và chọn cách tiếp tục sống, hoạt động hay là chết, hoặc sống một cuộc sống ứ đọng của căn bệnh trầm cảm Loại chấn thương này có xu hướng trở lại khi chứng kiến những cảnh tượng như: tang lễ, chia ly, người sống sót, cảm giác tội lỗi, giận dữ và xấu hổ của người khác [238, tr.42]
Thứ ba, chấn thương do những đau buồn, mất mát hay mệt mỏi, căng thẳng gây
ra Ở dạng thức này, con người phải đối mặt với sự mất mát về người thân, bị bỏ rơi, thất tình, mất một phần thân thể, sai lệch về giới tính, bị sảy thai hoặc mang thai lần đầu, hay tâm lý sau sinh hoặc sau tai nạn nghề nghiệp, tai nạn giao thông… Theo Henry Krystal, nỗi đau do loại chấn thương này gây ra thường làm cho con người mất khả năng tự chủ trong mọi hoạt động sáng tạo hay khả năng quyết đoán Tại một thời điểm nào đó, chính những chấn thương này sẽ làm họ rơi vào tình trạng bế tắc, trạng thái tâm lý đóng băng (cái chết của tinh thần) hoặc cũng có thể giết người hoặc tự gây tổn hại cho mình nếu họ không đủ bản lĩnh để đối đầu với những vấn đề tâm lý, những tình huống căng thẳng [238, tr.144]
Thứ tư, chấn thương do sự khác biệt về văn hóa và môi trường sống Dạng thức này thường xảy ra khi con người di dân qua một đất nước mới mà văn hóa ở đó hoàn toàn xa lạ với họ Những thay đổi về mặt địa lý cũng như văn hóa buộc họ phải có khả năng tự sinh tồn và hòa vào đám đông nhưng phần lớn họ đều có cảm giác hoang mang, sợ hãi, cô đơn, hoài nghi…
Trang 25Cuối cùng, một dạng thức chấn thương tinh thần do thiên tai gây ra như bão, lũ lụt, sóng thần, động đất và các bệnh truyền nhiễm… Đây là nguyên nhân gây ra những chấn thương thứ yếu như dạng thức chấn thương do chứng kiến, người sống sót sau các tai nạn do thiên tai gây ra Dạng chấn thương này cũng gây ra những nỗi sợ hãi, căng thẳng, khủng hoảng tinh thần…
Tóm lại, dù là ở dạng thức nào, các chấn thương này cũng sẽ tạo ra những vết sẹo trong tâm lý của mỗi con người và nó luôn lặp đi lặp lại trong suốt quãng thời gian sống còn lại của nạn nhân Theo S Freud, những nguy cơ không thể tránh khỏi khi mà
họ cảm thấy “bất lực trước những nguy hiểm không thể tránh khỏi và phải đầu hàng
Sự đầu hàng số phận chính là điểm bắt đầu của trạng thái chấn thương” [238] sẽ làm
họ bế tắc, căng thẳng, mù cảm xúc và trơ lì trước những trạng huống của cuộc sống
Và những chấn thương tâm lý nghiêm trọng nhất, theo Besel van der Kolk “khi có sự phá vỡ mối quan hệ thân thiết, gây mất lòng tin nặng nề, như những trường hợp loạn luân, chứng kiến cái chết thảm khốc của người mà mình yêu thương, hoặc khi có sự phá vỡ bản ngã như trong trường hợp nạn nhân bị hiếp dâm, tra khảo” [238]
1.1.3 Tự sự chấn thương
Cùng với những biến đổi về cảm quan hiện thực và chủ đề sáng tạo, tình trạng chấn thương của con người đã dần trở thành mảnh đất cho những nhà tiểu thuyết giai đoạn mới khám phá, bóc tách Những chấn thương cả về thể chất lẫn tinh thần của con người sẽ được thấu cảm và xoa dịu nếu nó được thoát thai ra trang giấy Và do đó, mạch nguồn sáng tác khá đặc biệt này sẽ bị chi phối mạnh mẽ bởi “chỗ đứng và trạng thái tinh thần của bản thân nhà tiểu thuyết Nếu chỗ đứng của anh ta là hiện chứng (eyewitness), chúng ta có tự sự hiện chứng (eyewitness narratives) Còn nếu trạng thái tinh thần của anh ta là chấn thương (trauma), ta sẽ có tự sự chấn thương (trauma narratives) Tự sự chấn thương là dạng đặc biệt của tự sự hiện chứng, bởi trạng thái tinh thần bị chấn thương luôn xuất phát từ chỗ hiện chứng” [171]
Hiện chứng và tự sự hiện chứng là khái niệm của Amos Goldberg khi ông nghiên cứu về văn học chấn thương Trong đó, tự sự hiện chứng được hiểu là những sáng tác thường tự sự từ điểm nhìn ngôi thứ nhất Tác giả là người chứng kiến, trải nghiệm, kể
về những gì mình chứng kiến, trải nghiệm, thu nhận được từ chỗ đứng, góc nhìn, quan
Trang 26điểm cá nhân Theo đó, thế giới nghệ thuật mà nhà văn tạo ra trong tác phẩm là một vũ trụ riêng, như quan niệm của các nhà hiện tượng luận Ở đây, chất lượng, sức tác động của các trang viết phụ thuộc không ít vào độ trung thực, bề dày trải nghiệm
Cũng xuất phát từ việc chứng kiến, trải nghiệm những va chạm vượt quá sức chịu đựng, những âm vọng của chấn thương dần lan tỏa và chìm sâu vào tiềm thức, vô thức của con người để rồi từ đó những nỗi đau bị dồn nén ấy sẽ trở thành động lực sáng tạo Điều này đã được Cathy Caruth nhấn mạnh: “Nỗi đau thẳm sâu này, rất mạnh mẽ thế nhưng lại bị che giấu và chỉ chảy trôi trong “tiềm thức”; nó là cái không thể đến gần cũng không thể biểu đạt trực tiếp Nhưng bất chấp tình trạng thiếu vắng này, nỗi đau
đã tạo ra ham muốn làm một điều gì đó” “Ham muốn làm một điều gì đó” mà Cathy Caruth nhắc đến chính là hành động cầm bút để viết ra những điều đang khuất kín trong trái tim, đang xóa mòn nơi thăm thẳm và nằm dưới tiềm thức của những con người mang hội chứng sau chấn thương Với họ, cây bút không phải đơn giản chỉ là phương tiện để viết mà nó là một vật thể cho phép người ta bằng cách nào đó có thể nắm bắt được nỗi đau không thể chạm đến của mình Ngôn từ sẽ theo sau đó và như vậy “bằng động thái viết, nạn nhân đã cố gắng “đóng khung” chính mình trong vùng chấn thương để không rơi vào một trong hai hình thức tồi tệ hơn nhiều – nơi mối quan
hệ biện chứng giữa đời sống và cái chết bị dừng lại vì “cái chết do cái biểu đạt gây ra”
và “cái chết tượng trưng” – cả hai hình thức này đều do kẻ sát nhân áp đặt nhằm hư vô hóa nạn nhân trước khi giết anh ta hay chị ta”
Như vậy, lối viết mang dấu vết của những di chứng chấn thương được bắt nguồn
từ sự trải nghiệm và chứng kiến của chủ thể người cầm bút Viết là cách để họ trút bỏ gánh nặng và cũng là để xoa dịu chính bản thân mình và những người đồng cảnh ngộ
Do đó, theo Nguyễn Thành Thi, cũng như tự sự biện chứng, tự sự chấn thương có ba đặc điểm thi pháp đáng lưu ý như sau [171]:
Thứ nhất, người kể chuyện (trần thuật, xưng “tôi”) đồng thời là nhân vật trung tâm, người nắm giữ điểm nhìn chủ đạo, và tất nhiên, nắm giữ luôn diễn ngôn trần thuật của tác phẩm Đây là một vai trò nghệ thuật mang tính nguyên tắc của tự sự hiện chứng/ chấn thương, một hình thức mang tính nội dung Một khi nó bị thay thế, loại
bỏ, thì tác phẩm không còn là sáng tác hiện chứng/ chấn thương nữa, và sẽ mất đi hiệu
Trang 27quả nghệ thuật đặc biệt của mình
Thứ hai, trong nhiều trường hợp chức năng trần thuật còn được giao phó một phần cho nhân vật khác, thường là nhân vật “nhà văn” Đây là người kể chuyện thứ hai, không có chức năng thay thế mà giữ vai trò bổ sung tư liệu, sao chép hay sắp xếp lại bản thảo, hoặc bình luận thuyết minh thêm Danh nghĩa là “nhà văn”, song anh ta chỉ xuất hiện như là thư kí của người kể chuyện thứ nhất
Cuối cùng, diễn ngôn của tác phẩm mang đậm tính chủ thể và sắc thái hiện chứng/ chấn thương rất đậm nét [171]
Hình thức thể loại đắc dụng để tự sự chấn thương có thể lột tả được tất cả những
bi kịch kinh hoàng, những đớn đau, phi lý, bất công là nhật kí, hồi kí và tự truyện Bởi đây là những thể loại ghi chép cá nhân với những việc thường hằng hoặc những điều
bí mật chỉ riêng cá nhân người viết mới phải nếm trải và cảm nhận Mặt khác, đây là những thể loại ít có sự hư cấu và hoán đổi trật tự thời gian theo chủ ý của người viết
1.2 Tiểu thuyết nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI
Nối tiếp thế hệ trước, bước sang đầu thế kỷ XXI, bên cạnh những tác phẩm của nam giới, vẫn tồn tại một mảng văn học của giới nữ, mang đến một sức sống mới, với những cảm xúc mới mẻ bằng sự mẫn cảm nữ giới Số lượng tác giả cũng như tác phẩm
đã có sự phát triển vượt trội so với những giai đoạn trước Nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm đã có sự đổi thay rất lớn Trong đó, các tác giả nữ với những sáng tác của mình cũng đã tạo nên sự đa dạng, góp phần tạo nên tiếng nói cho dòng văn học nữ nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung
Để hình thành nên một diện mạo như ngày hôm nay, tiểu thuyết nữ Nam Bộ đã
có sự kết thừa, tiếp nối nền tiểu thuyết truyền thống Đồng thời, nhờ nhu cầu đổi mới
tư duy văn học cũng như những nỗ lực không mệt mỏi trong cuộc “chạy tiếp sức” (chữ
Trang 28dùng của Nguyễn Thị Bình) của những thế hệ nhà văn nữ giai đoạn này đã tạo ra một diện mạo mới cho thể loại tiểu thuyết Sau khi nước nhà được toàn vẹn lãnh thổ, và đặc biệt là sau mốc Đổi mới văn học (1986), hàng loạt các tác phẩm ra đời với những thể loại đa dạng Trong đó, các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết gây được sự chú ý ở
giai đoạn này có thể kể như: Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),
Vòng tròn bội bạc (Chu Lai), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân)… Đây chính là nguồn
động lực để các thế hệ nhà văn lớp sau cầm bút để viết nên những trang sách cho riêng mình Hòa vào tiếng nói đổi mới ấy không thể không nhắc đến vị trí của những nhà văn nữ như Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Ấm, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh… và những gương mặt mới của nền văn học Nam Bộ như Lý Lan, Dạ Ngân, Bích Ngân, Trần Thu Hằng, Thu Trân, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Diệu Thanh, Trần Thị Hồng Hạnh, Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Lập Em… đã làm nên “vườn hoa văn học nữ Nam Bộ những sắc màu tươi nguyên, đa dạng” [13, tr.54] Không có nhiều tuyên ngôn, song bằng những trang viết lặng thầm, bền bỉ, bằng số lượng tác phẩm được bạn đọc đón nhận, các nhà văn nữ thuộc thế hệ này đã góp phần không nhỏ trong sự đổi mới nền văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ nói riêng Có thể
kể tên những cây bút và tác phẩm của họ như: Sông (Nguyễn Ngọc Tư); Đàn đáy,
Rừng thiêng vẫy gọi, Người đàn bà lưu vong, Chuyện tình ở Hầm Hinh (Trần Thu
Hằng); Yêu và nổi loạn (tên gọi khác: Bay qua lửa của rừng) (Thu Trân); Ngựa Thép (Phan Hồn Nhiên); Bài học đầu tiên, Chuyện của nhóc Bill, Quái vật, Tổ ấm của
những người lạ, Thở sâu (Trần Thị Hồng Hạnh), Tiểu thuyết đàn bà (Lý Lan); Lần đầu thấy trăng (Võ Diệu Thanh); Thị trấn không đèn, Mưa biển, Người đẹp Tây Đô, Nhân ảnh, Đêm Sài Gòn không ngủ, Người cha hiện đại, Trong cơn lốc xoáy (Trầm Hương); Ngày của một đời, Gia đình bé mọn (Dạ Ngân); Thế giới xô lệch (Bích Ngân)… Đó có
thể là sáng tác đầu tay, hoặc là những sáng tác đoạt được những giải thưởng, nhưng ở mỗi tác phẩm đều in đậm những nét riêng của vùng miền Nam Bộ
1.2.2 Những cơ sở của bước ngoặt chuyển mình
Để tạo được cú nhảy vọt này, tiểu thuyết nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI đã dựa trên những nền tảng nhất định
Nhờ sự đổi mới của Đảng và sự đổi thay của cuộc sống đã làm nên một diện
Trang 29mạo mới cho văn học Cuộc sống thời bình không chỉ được đan dệt bởi các đại tự sự,
mà giờ đây hơi thở cuộc sống đã bắt đầu được chú trọng từ những chi tiết, tiểu tự sự
mà chỉ trái tim nhạy cảm của giới nữ mới có thể cảm nhận, trân quý và níu giữ Điều này đã tạo nên những tiểu thuyết viết về những đề tài riêng tư như gia đình, tình yêu cá nhân được nở rộ
Bước sang thế kỷ XXI – thế kỷ của nền công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
ở Việt Nam, sự bùng nổ nền kinh tế Tri thức của thế giới, con người phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề mang tính hai mặt của thời đại Bên cạnh những lợi ích đạt được, con người cũng phải đối mặt với các vấn đề nóng bỏng, cấp thiết như: sự tha hóa đạo đức của con người, sự ô nhiễm của môi trường, sự biến đổi của khí hậu… Điều này đã gây sang chấn tâm lý cho con người như chết chóc, sợ hãi, hoài nghi, bất an, căng thẳng… Bằng sự nhạy cảm vốn có của phái nữ, các cây bút nữ Nam Bộ đã đi vào những ngóc ngách sâu thẳm bên trong để khám phá, bóc tách những vỉa tầng của những số phận con người Đồng thời, qua đó, cuộc sống thậm phồn đến trần trụi cũng được phản ánh trong tiểu thuyết của họ
Phát triển song song với một xã hội hiện đại hóa, mạng lưới thông tin ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết với tất cả mọi người Các cuộc thi tìm kiếm tài năng sáng tác hàng năm cũng như những tạp chí nghiên cứu văn học đã, đang thu hút được
sự quan tâm sâu sắc của các nhà cầm bút và độc giả Thông qua các cuộc thi trên Tuần báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, Tạp chí Văn Nghệ Quân đội, cuộc thi Văn học Tuổi 20, các báo, tạp chí địa phương… những cái tên như: Nguyễn Ngọc Tư, Trầm Hương, Võ Diệu Thanh, Thu Trân, Phan Hồn Nhiên… đã trở thành những nhà văn nữ trẻ của Nam Bộ giành được sự chú ý từ phía các độc giả thuộc nhiều lứa tuổi, trình độ khác nhau Những tác phẩm của họ nhờ có sự phát triển của mạng Internet và nhà xuất
bản mà dễ dàng đến tay người đọc hơn Trong bài viết Văn xuôi Việt Nam 15 năm đầu
thế kỷ XXI – một vài ghi nhận, Trần Hữu Tá đã nhận xét: “Các tổ chức văn học, các tờ
báo và một số nhà xuất bản đã góp sức động viên phong trào sáng tác trong thế hệ trẻ nhằm phát hiện tài năng mới Chỉ xin đưa một dẫn chứng: Nhà xuất bản Trẻ (Thành
phố Hồ Chí Minh) kiên trì liên tục tổ chức các cuộc thi “Văn học Tuổi 20” tính đến
nay đã được 5 lần (1994 – 1995/ 2000 – 2001/ 2004 – 2005/ 2009 – 2010) và lần thứ 5
Trang 30đã có những con số rất đáng khích lệ: 328 tác phẩm dự thi, trong đó có 149 truyện dài
và 179 tập truyện ngắn) [158]
Mặt khác, chính nhờ sự phát triển của Internet và văn học mạng mà sự phóng khoáng trong tư duy và quyết đoán, mạnh dạn trong hoạt động sáng tác của các nhà văn được khích lệ hơn Từ đây, khái niệm “văn học thị trường” cũng được xuất hiện thường xuyên hơn trên các phương tiện truyền thông và đặc biệt là trên những trang
báo mạng, kênh đọc truyện mạng Trong bài viết Văn học thị trường ở Thành phố Hồ
Chí Minh, Võ Văn Nhơn và Nguyễn Thị Phương Thúy đã đưa ra hai ý kiến trái chiều
của các nhà nghiên cứu, nhà văn Trong đó, ý kiến mang thái độ lạc quan của nhà văn Nguyễn Đình Tú, phó tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội: “Đối với sự phát triển của văn học thì xu hướng thịnh hành tác phẩm giải trí, thị trường là tốt, vì một nền văn
học lành mạnh phải đa dạng, nhiều dòng” [229] và ý kiến của nhà văn Phan Việt:
“Việt Nam có sự nổi lên dần dần của dòng văn học thị trường Nó là kiểu sách mà phương Tây đã phát triển từ lâu Nó dành cho một phân khúc độc giả lớn trong xã hội,
là những người đi làm vất vả cả ngày; họ chỉ thích những thứ nhẹ nhàng, giải trí mà người ta có thể đọc trên tàu điện ngầm, khi nằm phơi nắng ngoài biển, hoặc đọc cho dễ ngủ [232] đã tạo động lực để các nhà văn vững tin hơn khi sáng tác
Bên cạnh đó, kỹ thuật in ấn cũng như việc xin giấy phép xuất bản ngày nay cũng trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn Nhờ vậy mà độc giả có nhiều kênh để cập nhật
và thưởng thức các tác phẩm mới một cách nhanh và tiện lợi
Ngoài ra, cơ sở để tạo nên sự chuyển biến của tiểu thuyết nữ Nam Bộ còn chịu sự ảnh hưởng về thị hiếu thẩm mỹ của người đọc “Cùng những thay đổi của xã hội trong quan niệm về chức năng, nhiệm vụ của văn chương; cùng với những đòi hỏi khác của độc giả về văn học như một loại hình giải trí, các câu chuyện của phụ nữ, gắn với phụ nữ… ngày càng được chú ý Chuyện thường ngày, chuyện tình yêu, hôn nhân, chuyện tủn mủn, và những vấn đề nhức nhối của xã hội… đĩnh đạt bước vào các trang văn phụ
nữ và trở thành những câu chuyện không chỉ của phụ nữ” [155, tr.276] Đồng thời, độc giả ở thế kỷ XXI luôn có nhu cầu và mong ước được thỏa mãn nhu cầu đọc của mình Trong quá trình đọc tác phẩm, độc giả luôn muốn được đối thoại, được suy ngẫm, chiêm nghiệm và đồng sáng tạo cùng với nhà văn Những quy luật và triết lý của cuộc
Trang 31đời được rút ra bởi độc giả khi đọc xong tác phẩm là một điều vô cùng quý giá Để được đón nhận nồng nhiệt từ phía bạn đọc, văn chương cần phải có sự độc đáo, mới lạ
từ tư tưởng, đề tài đến kết cấu nghệ thuật Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với những nhà văn để họ sáng tạo văn học và không ngừng đổi mới trong kỹ thuật cũng như nội dung viết
Nhờ vậy, tiếng nói của những nhà văn nữ Nam Bộ đã khiến độc giả phải có một cái nhìn khác về bộ phận văn học nữ nói chung trong tiến trình tạo nên diện mạo cho nền văn học nước nhà Dù là ở đề tài hay thể loại nào, các nhà văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI cũng tạo nên những dấu ấn, những đóng góp nhất định, không chỉ bởi tài năng, bởi nghiệp văn chương mà còn bởi những đặc trưng giới tính Bàn về các thế
hệ những nhà văn nữ, Ngô Văn Giá cho rằng: “Nhìn vào những đóng góp của nhà văn
nữ ở nước ta, thì thời nào cũng có những đỉnh cao, cái tôi trong văn học nữ hôm nay là cái tôi đa diện, đa ngã” [208] và lẽ tất nhiên đó cũng là lời nhận xét cho thế hệ nhà văn
nữ Nam Bộ
1.3 Tính khả thủ của việc tiếp cận tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ
15 năm đầu thế kỷ XXI từ vấn đề chấn thương
Ngô Văn Giá từng nhận xét: “Nhờ tiếp cận các lý thuyết văn chương và trào lưu
tư tưởng – văn hóa đương đại trên thế giới, các cây bút trẻ xác định rất sớm và dứt khoát cho mình một tinh thần nhập cuộc, dấn thân, đổi mới với một ý thức dân chủ và trách nhiệm Ngày hôm nay, người viết trẻ có học vấn, có ngoại ngữ, có tinh thần phiêu lưu, khao khát sáng tạo, khao khát bày tỏ và khẳng định con người mình” [208] Đúng như lời nhận xét này, các nhà văn nữ Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XXI đã có những tìm tòi sáng tạo mới với những trải nghiệm ở vấn đề chấn thương trong các tiểu thuyết của mình
Vấn đề “chấn thương” trong văn học Việt Nam nói riêng và nền văn học thế giới nói chung, không phải được hình thành một cách cảm tính và võ đoán, cảm thức chấn thương ra đời gắn liền với những sự kiện biến động kinh hoàng của thế giới ở thế kỷ
XX và đầu thế kỷ XXI
Ở Trung Quốc, vấn đề chấn thương trong văn học xuất hiện ở giai đoạn sau của Cách mạng Văn hóa như một trào lưu văn học Trào lưu này phản ánh những nỗi đau
Trang 32mà con người phải đối mặt Đó là cảnh loạn ly, chia cách, cảnh chết chóc cùng những
va chạm, xung đột với thời đại lịch sử thời bấy giờ
Còn ở phương Tây, trong hệ thống sáng tác, lý luận phê bình văn học, khái niệm này xuất hiện xuyên suốt thế kỷ XX Những thảm họa từ thế chiến thứ nhất và thứ hai, những cuộc khủng bố, hủy diệt người Do Thái của bọn phát xít Đức đã gây ra những sang chấn tâm lý mà con người phải gánh chịu một cách đau đớn và ám ảnh
Trong những bối cảnh đó, cảm thức chấn thương đã được các nhà văn đưa vào trong những trang sách của mình Nhưng vì không có một định nghĩa thống nhất nào
về văn học chấn thương – điều mà Cathy Caruth đã từng khẳng định, nên trong luận
văn Vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của Philippe Claudel, Thái Thị Cẩm Thơ đã
chỉ ra rằng: Trong văn học, chấn thương được xem như một tính chất lẫn một xu hướng Gắn với tính chất, nó là dấu hiệu biểu hiện lên diện mạo của nền văn học hoặc một giai đoạn văn học mang di chứng của nỗi đau và sự thương tổn Còn thuộc xu hướng, văn học chấn thương (traumatic literature) là một trong những dòng chảy nghệ thuật nảy sinh vào bối cảnh cuối thế kỷ XX, khi đời sống và xã hội nhân loại xuất hiện
các tình trạng biến động, loạn ly đầy mất mát [173]
Ở Việt Nam, vấn đề chấn thương trong văn học, theo chúng tôi, nó được biểu hiện ở những tác phẩm thể hiện những bi kịch, những đau thương, mất mát mà con người phải hứng chịu do những cuộc chiến tranh, cải cách văn hóa ruộng đất, những đổi thay về cơ cấu, chế tài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, những tác phẩm nói lên tiếng nói của những con người đang gánh chịu hậu quả từ những biến động khủng khiếp ấy lại bị coi là “đề tài nhạy cảm” và ít được các nhà văn mạnh dạn nêu lên khi sáng tác Mãi đến giai đoạn “cởi trói” 1986, nền “văn học minh họa” (chữ của Nguyễn Minh Châu) mới được “đọc lời ai điếu” thì những đề tài “nhạy cảm” này mới bắt đầu được viết nhiều Cùng với không khí dân chủ và độ lùi thời gian, những tác phẩm viết về những “chấn thương” mà con người đã trải qua trong quá khứ, hoặc đang trải qua đã thể hiện được độ cứng tay trong sự suy tư và chiêm nghiệm của người viết
Cũng từ sau giai đoạn đổi mới văn học năm 1986, vấn đề chấn thương trong văn học đã đi theo tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”
Trang 33Bên cạnh đó, từ góc độ thể loại, tiểu thuyết giai đoạn đầu thế kỷ XXI thể hiện bước chuyển nhanh chóng từ ý thức khái quát đời sống toàn thể đến chủ trương miêu tả cái
cụ thể, tức là từ việc coi tác phẩm là một bức tranh về xã hội trong một giai đoạn lịch
sử đến việc xem tác phẩm chỉ là một trải nghiệm của nhân vật trong cuộc sống đời thường Điều này đã chi phối sự xuất hiện ngày càng phổ biến những tác phẩm có tính hướng nội, các nhân vật lại ít giao tiếp mà chủ yếu là suy nghĩ, trăn trở về những vấn
đề như thân phận con người, về những vấn nạn của con người trong xã hội đô thị hóa,
về trạng thái bất an của con người trước nguy cơ bị hủy diệt do chiến tranh, thiên tai,
sự nghèo đói và ngu muội Đây chính là dòng chảy văn học chấn thương mà các nhà văn nữ Nam Bộ đang gắng sức để hòa chung vào nền văn học nước nhà Cũng từ chính những vấn đề chấn thương này, tên tuổi của nhiều cây bút nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế
kỷ XXI đã bắt đầu nhận được sự chú ý của độc giả trên văn đàn
Bước vào kỷ nguyên mới, những sáng tác về đề tài chiến tranh đã có sự tiếp nối với dòng văn học chiến tranh của những giai đoạn trước Tuy nhiên, với tinh thần dân chủ, đề tài này cũng được các nhà văn khai thác và mổ xẻ ở nhiều khía cạnh khác nhau Chiến tranh không chỉ là nơi để các anh ra trận với niềm tin “đường ra trận mùa này đẹp lắm” hay đó là nơi tình đồng chí “súng bên súng, đầu sát bên đầu”, thể hiện chí làm trai gánh vác giang sơn, mà còn là nơi chứa đựng biết bao sự chia ly, mất mát, đau thương
Theo mốc lịch sử 1975, nước Việt Nam đã thống nhất hoàn toàn nhưng chỉ sau
đó vài ngày, những người lính vẫn đang ngỡ ngàng và hừng hực với chiến thắng, thì đã
có những đơn vị nhận lại súng đạn, lương khô rời Sài Gòn ngược lên biên giới Tây Nam nhận nhiệm vụ Các cuộc tấn công, giết hại người dân, đốt phá làng mạc Việt Nam của bọn quân Khmer Đỏ đã biến các vùng đất dọc biên giới như: An Giang, Tây Ninh thành bể máu Và những cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc cũng như bảo vệ quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… cũng gây ra biết bao nhiêu đau thương mất mát cho người dân Việt Nam
Từ những sự kiện lịch sử này, những mất mát, đau thương đã trở thành chất liệu
và là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học có giá trị ra đời Nhiều cây bút như: Bùi Cát Vũ, Thanh Giang, Trần Văn Tuấn, Thu Bồn, Lê Lựu, Nguyễn Chí Trung,
Trang 34Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thụy, Lam Giang… và một đội ngũ những cây bút trẻ như: Phạm Sỹ Sáu, Lê Huy Khanh, Sương Nguyệt Minh… đã góp phần tạo nên lực lượng viết hùng hậu cho nền văn học giai đoạn này
Đặc biệt, những cuộc chiến này đã trở thành đề tài cho nhiều tiểu thuyết, không chỉ ra đời ngay trong lòng cuộc chiến mà đến nay vẫn còn là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn đương đại Với nhà văn Dạ Ngân, cuộc chiến Tây Nam đã qua đi nhưng những hậu quả mà nó gây ra vẫn còn hằn sâu trong mỗi cá nhân, gia đình và xã hội
Việt Nam Trong bài viết Thế giới xô lệch và những người ngay ngắn, Dạ Ngân đã
viết: “Ở nước ta, khó có người viết văn nào thoát khỏi di chứng của chiến tranh trong tâm thức Một thế kỷ tiến hành ba cuộc chiến, đất đai còn bị cày nát huống chi tâm tư của mỗi người” [126] Sau cuộc chiến, những con người còn sống sót đã phải đối mặt với những chấn thương tinh thần và cả nỗi đau thể xác Nổi bật ở đề tài này với tiểu
thuyết của một cây bút nữ, tiểu thuyết Thế giới xô lệch của nhà văn Bích Ngân đã
giành được Bằng khen của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010
Bên cạnh những biến đổi về mặt chính trị, sự phát triển của thời buổi kinh tế thị trường cũng là một trong những nguyên nhân gây nên những chấn thương cho con người Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã kéo Việt Nam cùng rơi vào những khủng hoảng Đó là nợ công, là sự thay đổi cơ cấu kinh tế, biên chế nhà nước, việc làm… đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn trong đời sống của người dân
Kinh tế phát triển, song song với những mặt tích cực, con người đã phải đối mặt với hàng loạt những hậu quả Các giá trị truyền thống đang dần thay đổi, con người ngày càng dễ sa đọa vào những con đường làm ăn bất chính, các mối quan hệ dần bị phá vỡ, những cuộc chia ly, hạnh phúc gia đình tan vỡ, thay đổi môi trường sống… Tất cả đó đang dần trở thành nỗi ám ảnh của mỗi người Những hậu quả này làm cho cuộc sống dần đi vào bế tắc, ngột ngạt, sự hoài nghi vào tất cả những việc đang diễn ra… đã gây nên những chấn thương cho con người
Voltaire từng nói: “Cần phải cày xới mảnh vườn của mình” và do đó, các vấn đề chấn thương bởi những nguyên nhân từ sự tha hóa, biến chất về mặt đạo đức của con người đã nhanh chóng trở thành mục tiêu khai phá của các nhà văn nói chung và các cây bút nữ Nam Bộ nói riêng
Trang 35Đầu tiên, vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI được hình thành bởi sự tận dụng lợi thế phái nữ cũng như ý thức
về vai trò nhà văn của những cây bút nữ Ý thức về vai trò của mình là phải phản ánh một cách đầy đủ và chân thực, nhà văn đã không ngần ngại và sợ hãi trước sự bề bộn của cuộc sống đương đại Không phản ánh những vấn đề mang tính đại tự sự, họ đã vận dụng những trải nghiệm sống của mình để viết nên những chấn thương của con người Không che giấu hay ngụy biện, các nhà văn nữ Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XXI sẵn sàng viết về những câu chuyện của chính cuộc đời mình
Mặt khác, sự nhạy bén của giới nữ trước những cảm xúc, nỗi cô đơn trong một
xã hội có quá nhiều biến cố đã khiến họ: “Hình như do sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới, họ luôn luôn gần với cái lỉnh kỉnh dở dang của đời sống Mặt khác, với cái cực đoan sẵn có – tốt, dịu dàng, rộng lượng thì không ai bằng, mà nhỏ nhen, chấp nhặt, dữ dằn cũng không ai bằng – từng cây bút nữ tìm ra mặt mạnh của mình khá sớm, định hình khá sớm” [128, tr.63] Không phải bỗng dưng những sự vụn vặt trong hôn nhân và cuộc sống được các tác giả nữ đem ra phơi bày trước mắt người đọc một cách trần trụi và tủn mủn như vậy Bởi hơn ai hết họ là những người phụ nữ, những người mẹ, người vợ nên họ hiểu được chính bởi những điều nhỏ nhặt ấy mà hạnh phúc và mối liên kết giữa người với người sẽ ngày càng dễ rơi vào sự vô vọng và đổ vỡ Người phụ nữ thường rất tỉ mỉ và tinh tế trước những cảm xúc yêu thương nên dù đó chỉ là một cuộc tình ngắn ngủi, họ cũng dễ dàng viết nên những câu chuyện ngập tràn hạnh phúc Cũng chính vì lẽ đó mà với họ những kỷ niệm, những cảm xúc đau buồn lại khó lòng được nguôi ngoai theo năm tháng Bằng
sự “yếu đuối” vốn có của phái nữ, những nhà văn nữ dễ dàng đi sâu vào phân tích những đớn đau, mất mát mà con người phải đối mặt khi tình yêu đổ vỡ, hạnh phúc không còn, sinh ly tử biệt mà cuộc sống bấp bênh thời nay vẫn diễn ra một cách hiển nhiên Họ dễ dàng thấu hiểu được nỗi dày vò, đau đớn trước những đổ vỡ và điều này
đã tạo nên những câu chuyện rất thật và cũng rất xúc động trong nhiều tiểu thuyết của những nhà văn như Bích Ngân, Dạ Ngân, Trầm Hương…
Trong bài viết Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật, Trần Văn Toàn đã
khẳng định giới tính sẽ giúp ta nhận thức đồng thời nhiều khía cạnh khác nhau về mối
Trang 36quan hệ phức tạp giữa nhà văn và đối tượng mà họ miêu tả, mối quan hệ giữa độc giả
và tác phẩm cũng như nguyên tắc tổ chức nghệ thuật của tác phẩm Đồng thời, tác giả bài viết cũng đặt ra câu hỏi “giới tính của người viết chi phối cách miêu tả nhân vật cùng giới và khác giới như thế nào?” [184, tr.41] Điều này cũng không ngoại lệ đối với các cây bút nữ Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XXI Vì là phái nữ viết về những chấn thương trong cuộc sống, tình yêu, hôn nhân, gia đình nên họ luôn có thiên hướng bênh vực giới nữ và dĩ nhiên “ở đây xảy ra một sự cực đoan thú vị: Hình như các nhân vật nam không còn là thần tượng của chị em nữa, họ bị hạ bệ, bị bóc mẽ, bị kết án” [184, tr.304-305] Nhận thức được sự thiệt thòi của phụ nữ cả về tinh thần và cấu trúc sinh lý, các nhà văn nữ Nam Bộ đương đại đã kiến tạo nên mẫu người phụ nữ để
“chống lại tình trạng bị lệ thuộc vào nam giới, nhiều nhà văn nữ đã quyết liệt khẳng định vị thế bình đẳng từ khát vọng làm chủ thân xác mình, cố ý vi phạm các cấm điều
đạo đức, thậm chí cưỡng lại cả “thiên chức” để bảo vệ tự do cá nhân” [184, tr.309] Và
lẽ tất nhiên, khi chống lại những thiên kiến, định kiến ấy, những nhân vật nữ đã phải hứng chịu nhiều tổn thương hơn
Thứ hai, các nhà văn nữ Nam Bộ những năm đầu thế kỷ đã lựa chọn thể loại tiểu thuyết làm phương tiện để chuyển tải những vấn đề chấn thương từ cuộc sống vào trong địa hạt văn học
Tiểu thuyết từ lâu vẫn được xem là “máy cái của văn học” vì nó có khả năng “lưu giữ hình ảnh lịch sử, vì nó là thể loại luôn ở thì hiện tại, hơn thế nó là một nghệ thuật
khám phá đời sống” [162, tr.65] Theo Trần Đình Sử, quan niệm truyền thống “Tiểu
thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn (…) Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa
dạng” [153] Nhưng quan niệm truyền thống này đã không còn đứng vững trong sự
biến đổi liên tục của hệ hình tư duy và giá trị Theo nhà nghiên cứu văn học Nga M Bakhtin, tiểu thuyết miêu tả cuộc sống “hiện tại” không ngừng biến đổi, sinh thành trên cơ sở kinh nghiệm của cá nhân [153, tr.297] và ở đó những câu chuyện được kể như là một sự tái hiện cuộc sống với những chi tiết giống như thật, không thi vị hóa,
lãng mạn hóa, lý tưởng hóa [153, tr.298]
Trang 37Với tư cách là đặc trưng thể loại, nhân vật trong tiểu thuyết xuất hiện như là một con người nếm trải, cảm nhận, tư duy, chịu khổ đau, dằn vặt trước những biến cố của cuộc đời Những nhân vật này luôn được miêu tả trong những hoàn cảnh khác nhau với những tâm lý và thế giới nội tâm đa dạng Gắn với đặc điểm này, kinh nghiệm sống cá nhân của nhà văn lại trở thành những tư liệu quan trọng trong việc thể hiện những sang chấn của nhân vật chấn thương
Ngoài nhân vật, kết cấu của tiểu thuyết cũng là một lợi thế để các nhà văn nữ Nam Bộ chuyển tải những vấn đề chấn thương vào trong văn học Đặc tính mềm dẻo, biến chuyển, chưa định hình của thể loại tiểu thuyết đã được các cây bút nữ vận dụng một cách triệt để trong việc chuyển tải nội dung và nghệ thuật của văn học chấn thương Thẳng thừng từ chối các đại tự sự, những nhà văn này chỉ hướng tới khám phá những mảnh vỡ của cuộc sống và con người thời đại mới “Cảm nhận về một thực tại đang rạn nứt, thiếu kết nối, cảm giác về những thân phận con người bơ vơ, lạc lõng, cô
đơn” [83] nên các nhà văn nữ Nam Bộ luôn có khát khao được thể hiện cá tính, phong
cách của riêng mình trong sáng tác Không còn bao quát quá lớn về các vấn đề vĩ mô, các tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI chỉ “chớp lấy những khoảnh khắc” (chữ dùng của Hoàng Thị Huệ) từ cuộc sống đang diễn ra hối hả nhằm mục đích đem đến cho bạn đọc “cảm giác tươi rói, đỏ hồng” của những số phận con người đang phải đối chọi với chấn thương
Mặt khác, cấu trúc mở của tiểu thuyết hiện đại cũng đã góp phần tạo nên những cái kết của những số phận con người đều trở nên dang dở như chính sự vượt ngưỡng của những chấn thương mà các nhân vật luôn phải vật lộn trong từng ngày từng giờ Những chi tiết “thừa” trong cốt truyện của thể loại tiểu thuyết cũng là nơi để các dòng
ý thức, dòng hồi tưởng của nhân vật được dàn trải, lặp đi lặp lại mà không sợ bị vượt quá dung lượng cho phép như các thể loại khác
Suy cho cùng, văn học cũng là một loại hình nghệ thuật mang chức năng phản ánh cuộc sống Nên những chấn thương tinh thần do cuộc sống đương đại gây nên đã được chuyển hóa vào những cảm quan sáng tác của các tác giả Đặc biệt là với sự nhạy cảm, tinh tế của phái nữ, các nhà văn nữ có ưu thế hơn trong việc chuyển tải những phức cảm của con người vào trong nhân vật của mình Do vậy, chấn thương là một đề tài mà các nhà văn đang khát khao được khơi sâu, khai thác
Trang 38Tiểu kết chương 1
Vấn đề chấn thương không chỉ được thể hiện trên bề mặt lý thuyết văn học mà nó còn là cảm hứng, đề tài sáng tác được nhiều nhà văn trên thế giới và Việt Nam lựa chọn Xuất phát điểm ban đầu, khái niệm chấn thương (trauma) được hiểu là một thuật ngữ dùng trong chuyên ngành Y khoa phẫu thuật nhưng khi đi vào văn học nó được nhận diện không chỉ đơn giản là tình trạng thương tổn ở cơ thể của con người mà còn
là những vết thương tinh thần Như vậy, tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu mà khái niệm chấn thương được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Thông qua hệ thống các dạng thức chấn thương và tự sự chấn thương, vấn đề chấn thương trong văn học Việt Nam nói chung và văn học nữ Nam Bộ nói riêng đã được các nhà văn chuyển tải vào trong các tác phẩm của mình với những nội dung phản ánh và hình thức nghệ thuật khác nhau
Sự phát triển của lực lượng sáng tác cũng như chất lượng tác phẩm của các nhà văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI đã tạo nên một tiếng nói riêng trên văn đàn Bằng tài năng và sự nhạy bén, các nhà văn nữ giai đoạn này đã dùng ngòi bút của mình để khám phá và bóc tách những mảng tối sâu bên trong những chấn thương mà con người đang gánh chịu Từ đó, những cuốn tiểu thuyết viết về chấn thương đã được
ra đời với những vấn đề xoay quanh cuộc sống thường nhật của mỗi con người – một cuộc sống với những xô bồ, ngang trái Những vấn đề này sẽ được thể hiện rõ trong từng tác phẩm và được diễn giải cụ thể hơn ở hai chương sau của luận văn
Trang 39Chương 2 VẤN ĐỀ CHẤN THƯƠNG TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ 15 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
NHÌN TỪ NỘI DUNG PHẢN ÁNH
Từ cơ sở tìm hiểu lý thuyết về chấn thương, ở chương 1 chúng tôi có đề cập đến
5 dạng thức chấn thương và các dạng thức này sẽ được chúng tôi phân tích ở chương 2 thông qua nội dung phản ánh của từng tác phẩm Tuy nhiên, vì là những tiểu thuyết chấn thương được viết theo kinh nghiệm của chính cá nhân nhà văn, đồng thời cũng chứa đựng các yếu tố hư cấu, tưởng tượng nên những dạng thức chấn thương này chỉ được phân tích dựa vào nội dung của từng tác phẩm được khảo sát Vì vậy ở chương 2 của luận văn, chúng tôi sẽ đi vào khai thác vấn đề chấn thương trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ 15 năm đầu thế kỷ XXI nhìn từ phương diện nội dung phản ánh
Là những sáng tác lấy hiện thực đời sống làm chất liệu, các tiểu thuyết giai đoạn này ẩn chứa những vấn đề chấn thương mà con người đương đại phải đối mặt và chịu đựng nó Ở chương 2, chúng tôi sẽ đi vào những luận điểm chính làm nổi bật lên những vấn đề chấn thương được chứa đựng trong mười cuốn tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ
2.1 Những con người bị chấn thương thể xác và tinh thần
Karl Marx từng khẳng định: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Vì vậy, chiều hướng tìm hiểu con người đúng đắn và sâu sắc nhất là đặt họ vào các mối liên kết giữa cá nhân với môi trường sống xung quanh Từ các mối quan hệ xã hội ấy, con người sẽ bộc lộ những tính cách thông qua hành động, lời nói
Tuy nhiên, hiện thực cuộc sống với các mối quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt đã đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống, cùng với đó là những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, khát vọng của con người đã dần dẫn họ đến những chấn thương tinh thần Vì vậy, con người thời đại mới luôn tồn tại cảm giác tự ti, lạc lõng dẫn đến hành động muốn xa lánh và cắt đứt những mối quan hệ với mọi người xung quanh
Trang 402.1.1 Lạc lõng ngay giữa gia đình và chốn đông người
2.1.1.1 Lạc loài ngay trong gia đình
Theo quan niệm truyền thống, gia đình là nơi những người thân cùng chung huyết thống chia sẻ tình yêu thương, những vui buồn trong cuộc sống Đây cũng là nơi ước mơ được ươm mầm và chắp cánh, nơi nhân cách được hình thành và phát triển của mỗi cá nhân Cuộc sống hiện đại với nhiều con đường, nhiều hướng để con người ra
đi, tìm kiếm những hy vọng thay đổi cuộc sống, thỏa mãn những nhu cầu, khát vọng của bản thân, nhưng họ chỉ có một nơi duy nhất để quay về sau những lần vấp ngã –
đó chính là gia đình Chính vì lẽ đó, trong tâm thức mỗi người, gia đình là một nơi không gì có thể thay thế được Thế nhưng, trong thời đại “bề bộn, ngổn ngang bóng tối
với ánh sáng” đầy bất trắc này, con người dần mất đi những cảm giác, những mong
muốn được gắn kết, được yêu thương, chia sẻ với mọi thành viên trong gia đình Đồng thời, gia đình cũng dần trở thành gánh nặng, dần trở thành nơi mà bản thân họ phải chịu những “tra tấn” cả về mặt thể chất lẫn tinh thần
Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc đã nhận xét: “Chiến tranh nghĩa là phân ly, thù hận, chết chóc… Nghĩa là người ta đánh mất mình, bị giết hoặc không được sống để thương yêu Người ta thất lạc nhau trong cuộc đời rộng lớn, hận thù rộng lớn Người ta cũng có thể thất lạc nhau dưới cùng một mái nhà Và thất lạc chính mình ngay trong cuộc đời của riêng mình” [39] Và điều này đã minh chứng cho những thất lạc trong
cuốn Tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan
Trong Tiểu thuyết đàn bà, hình ảnh gia đình với nhiều thế hệ của Liễu, Thoa, Ted
và Không Bé là những sợi dây gắn kết mỏng manh Với Ted, gia đình không phải là nơi đáng tin tưởng mà chỉ là nơi anh được sinh ra trong sự chỉ trích của người mẹ và
sự ghẻ lạnh của người cha Anh trưởng thành là nhờ một tay bà nội, người duy nhất yêu thương và chăm sóc anh Còn với Không Bé, một số phận sinh ra đã phải mặc định ngay từ đầu là cô “không bé”, cô không được phép khóc trong bất kì trường hợp nào, dù là không có tình thương của cha hay là sự vứt bỏ một cách nhẫn tâm của bà nội Sau ngày lập gia đình cùng Ted, Không Bé đến Mỹ sống cùng chồng Những ngày đầu mới tới Mỹ, Không Bé luôn mơ thấy cảnh tượng mình được chạy về nhà với má
Dù kết hôn với Ted xuất phát từ tình yêu nhưng khi đứng giữa đất Mỹ xa ngàn dặm ấy,