1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa nam bộ trong văn xuôi phi hư cấu của vương hồng sển

147 96 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhắc đến nhà văn của Nam Bộ nhiều người sẽ nghĩ ngay đến những cái tên quen thuộc như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Đoàn Giỏi với thể loại truyện ngắn; Anh Đức với những trang tiểu thuyết đậ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS BẠCH VĂN HỢP

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người thực hiện

Nguyễn Thị Cẩm Viên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn này, người viết đã nhận được sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của khá nhiều bạn bè, đồng nghiệp và quý Thầy Cô Tôi xin chân thành cảm ơn:

Xin cảm ơn quý Thầy Cô trong Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, phòng sau đại học, quý Thầy Cô trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

đã truyền đạt kiến thức và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt tôi xin cảm ơn TS Bạch Văn Hợp, người trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn này

Người thực hiện luận văn

Nguyễn Thị Cẩm Viên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1 

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 13 

1.1. Cơ sở lý luận 13 

1.1.1 Thể loại văn xuôi phi hư cấu 13 

1.1.2 Khái niệm văn hóa 18 

1.1.3.  Quan hệ văn học – văn hóa và hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa 23 

1.2 Nhà cổ ngoạn – nhà văn Vương Hồng Sển 26 

1.2.1 Cuộc đời 26 

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác 30 

Tiểu kết chương 1 34 

Chương 2 VĂN HÓA VẬT CHẤT NAM BỘ QUA VĂN XUÔI PHI HƯ CẤU CỦA VƯƠNG HỒNG SỂN 35 

2.1 Thế giới cổ vật – chứng tích văn hóa 35 

2.1.1. Đồ sứ “đặc biệt” thời chúa Trịnh 35 

2.1.2. Đồ sứ đề “thi nôm” triều Tây Sơn 41 

2.1.3. Đồ sứ cổ triều Nguyễn 43 

2.2 Hệ thống danh lam thắng cảnh – văn hóa kiến trúc 45 

2.2.1 Của người Việt 46 

2.2.2 Của người Hoa 48 

2.2.3 Của người Pháp 50 

2.3 Hệ thống các công trình tôn giáo 52 

2.3.1 Các công trình tôn giáo của người Việt – người Hoa 53 

2.3.2 Các công trình tôn giáo của một số dân tộc khác 60 

2.4. Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 64 

2.4.1 Văn hóa ẩm thực 64 

Trang 6

2.4.2 Văn hóa trang phục 73 

2.4.3 Văn hóa giao thông 77 

Tiểu kết chương 2 81 

Chương 3 VĂN HÓA TINH THẦN NAM BỘ QUA VĂN XUÔI PHI HƯ CẤU CỦA VƯƠNG HỒNG SỂN 82 

3.1. Văn hóa tổ chức cộng đồng 82 

3.1.1 Tính chất cộng đồng tự trị – người Việt, người Hoa 82 

3.1.2 Tính chất hiền hòa – người Cao Miên 91 

3.1.3 Tính chất cơ động – người Chà Và 92 

3.2. Văn hóa giao tiếp và ngôn ngữ 93 

3.2.1 Sự giao lưu giữa người Việt với các dân tộc khác 94 

3.2.2 Sự giao lưu giữa người Sài Gòn với người phương Tây 96 

3.3. Văn hóa tâm linh 99 

3.3.1 Của người Việt 99 

3.3.2 Của người Hoa 101 

3.3.3 Của các dân tộc khác 103 

3.4. Văn học nghệ thuật 106 

3.4.1 Văn học dân gian 106 

3.4.2 Cải lương – một loại hình sân khấu hiện đại 109 

3.4.3 Tân nhạc miền Nam 112 

3.4.4 Văn học quốc ngữ 115 

Tiểu kết chương 3 119 

KẾT LUẬN 120 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 123  PHỤ LỤC 

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong lịch sử văn học thế giới nói chung, văn học Việt Nam nói riêng nhiều nhà văn nổi tiếng nhờ biết phát huy những tinh hoa văn hóa dân tộc mình Khi nhắc đến tên tuổi của họ ta sẽ nghĩ ngay đến dáng dấp một vùng đất, vùng văn hóa, làm nên nét đặc trưng trong sự sáng tạo của chủ thể Tiêu biểu, nhiều nhà văn Nam Bộ đã ghi tên tuổi của mình vào lịch sử văn học nước nhà nhờ biết khai thác bản sắc độc đáo của văn hóa vùng miền Nhắc đến nhà văn của Nam

Bộ nhiều người sẽ nghĩ ngay đến những cái tên quen thuộc như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Đoàn Giỏi với thể loại truyện ngắn; Anh Đức với những trang tiểu thuyết đậm chất phương Nam,… Nhưng cái tên Vương Hồng Sển dường như không được chú ý nhiều, mặc dù những sáng tác của ông phản ánh chân thực những biến cố lịch sử, đặc trưng sinh hoạt văn hóa văn nghệ và con người vùng đất phía Nam Tổ quốc

1.2 Cả cuộc đời ông trải qua bao cuộc bể dâu, chứng kiến những bước thăng trầm của dân tộc ngót cả thế kỉ XX, một xã hội hỗn loạn, lố lăng, nào

“Tây cuốn gói, Nhật chạy càng, đến ông Ngô băng lẹ như diều dứt dây” Đồng

thời, ông muốn góp sức cùng các nhà văn khác như Vũ Hạnh, Sơn Nam, Võ Hồng,… trong phong trào về nguồn trong những năm 1970 nhằm giữ gìn những nét văn hóa của dân tộc, phản ứng lại văn hóa ngoại lai

1.3 Công sức của một đời người ông hiến tặng tất cả cho nhà nước gồm

ngôi nhà cổ, sách quý, số lượng lớn các cổ vật có giá trị chỉ mong lập được “Bảo

tàng Vương Hồng Sển” Nhưng thực tế, kể từ khi cụ mất đến nay, ước nguyện

này vẫn chưa được thực hiện Báo Sài Gòn Giải phóng đưa tin: “Thật vậy, đã

nhiều năm trôi qua với rất nhiều dự định, chỉ định, quyết định, …từ phía các cơ quan hữu trách, cho đến nay, “vuông nhà cổ tích” 150 tuổi từng được học giả

và nhà sưu tập cổ vật nổi tiếng đất Sài Gòn – Gia Định, Vương Hồng Sển (1902 – 1996), yêu quý gọi là Vân Đường Phủ vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” và ngày

Trang 8

càng xuống cấp nghiêm trọng, nguy cơ sụp đổ hoàn toàn có thể xảy ra” Thực

hiện luận văn này, chúng tôi mong muốn đóng góp chút công sức của mình vào việc bảo lưu những thành tựu trong sự nghiệp văn hóa – văn học của Vương Hồng Sển Đồng thời, giới thiệu những thành tựu đó đến với độc giả đương thời

và thế hệ mai sau

1.4 Đất nước ta đang trong thời kì hội nhập nền kinh tế thị trường, mở cửa giao lưu với các nước trên thế giới, đời sống vật chất của nhân dân được nâng cao nhưng xã hội lại xem trọng đồng tiền, các giá trị văn hóa truyền thống dần dần bị mai một Bên cạnh đó, các luồng văn hóa ngoại lai xâm nhập, ảnh hưởng nhiều đến nhận thức của nhân dân, đặc biệt là giới trẻ Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước gắn liền với việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Vì vậy, việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc là điều cần kíp Nên việc tìm hiểu, nghiên cứu và giới thiệu nền văn hóa dân tộc nói chung và nền văn hóa vùng miền nói riêng đến bạn đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ thông qua các tác phẩm văn chương đặc sắc là điều đã, đang và phải thực hiện Xuất phát từ thực tiễn và lý luận, từ yêu cầu khoa học mà chúng tôi đã nêu

ở trên Đồng thời, đây là dịp để chúng tôi tìm hiểu, vận dụng phương pháp văn

hóa học trong nghiên cứu văn học Chúng tôi quyết định chọn đề tài “Văn hóa

Nam Bộ trong văn xuôi phi hư cấu của Vương Hồng Sển” để thực hiện nghiên

cứu

2 Lịch sử vấn đề

Người viết chia các tài liệu liên quan theo hai nhóm:

2.1 Những công trình nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa

Khi tìm hiểu văn học, người nghiên cứu có thể tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau: Thi pháp học, Tự sự học,… Những năm gần đây, hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa được nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu quan tâm, ứng dụng

Trang 9

Nhà nghiên cứu Ngữ văn học Trần Ngọc Vương với công trình “Nhà nho

tài tử và văn học Việt Nam” Bên cạnh đó là “Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung”; “Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa”

Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy với: “Từ cái nhìn văn hóa”, “Mối quan hệ

văn hóa - Văn học nhìn từ hệ thống lý thuyết” (www.vienvanhoc.org.vn, 1999)

Bên cạnh là “Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực” (Nxb Văn hóa – Thông tin,

Hà Nội, 1999), ông dùng phương pháp nhân học – văn hóa học để lý giải thơ Hồ Xuân Hương Đồng thời, ông góp phần vực dậy hướng nghiên cứu này sau những năm dài của hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn, tác giả của tập tiểu luận “Văn học Trung

đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa” cũng ứng dụng hướng tiếp cận văn hóa

học Ông chọn cách tiếp cận văn hóa như một hướng đi chủ yếu để nghiên cứu văn học Việt Nam

Nguyễn Văn Hạnh có những bài viết: “Văn hóa như một nguồn mạch

sáng tạo và khám phá văn chương” (đăng trên Tạp chí Văn học, số 1, năm

2007), “Khái niệm văn hóa – Vài khía cạnh luân lý và thực tiễn” (đăng Tạp chí

Văn học, số 9, trang 60 – 63, năm 2007), khẳng định tiếp cận văn học bằng khía cạnh văn hóa là một hướng đi tất yếu

Năm 2013, tác giả Lê Nguyên Cẩn ra cuốn sách “Tiếp cận Truyện Kiều từ

góc nhìn văn hóa” Ông cho rằng tính chất phi thường của tác phẩm Truyện

Kiều không chỉ thể hiện qua quan niệm độc đáo, qua nghệ thuật tài hoa mà còn

ở chỗ nó mang tầm vóc văn hóa, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, mang tính lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời

Công trình: “Văn học Trung Đại Việt Nam và những vấn đề tâm linh” do

Lê Thu Yến (Chủ biên) cùng Đàm Anh Thư, Nguyễn Hữu Nghĩa, Đàm Thị Thu Hương, Ngô Thị Thanh Tâm (Nxb Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2015) Người nghiên cứu đề cập đến những dạng thức tâm linh, các yếu tố tâm

Trang 10

linh trong văn học trung đại qua những nét văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc

Hiện nay, PGS.TS Phan Thị Thu Hiền được cho là người có nhiều nhận xét xác đáng về vấn đề văn hóa Bên cạnh đó, Phan Thị Thu Hiền còn hướng dẫn những luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ Văn học theo phương pháp Văn hóa học, tiêu

biểu như Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Đông: “Truyện ngắn Sơn Nam và

Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn văn hóa học” (2013)

Ngoài ra còn một số công trình khác như: luận văn Thạc sĩ “Đặc điểm

truyện ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954-1975” của Lê Thị Thùy Trang (Trường

ĐH Sư phạm TP.HCM); luận văn Thạc sĩ “Công trình văn hóa và con người

Nam Bộ” của Đinh Thị Thanh Thủy (Trường ĐH Khoa học xã hội & Nhân văn);

“Văn hóa Nam Bộ qua cái nhìn của Sơn Nam” (Nxb Trẻ, 2013) là luận văn Thạc

sĩ của Võ Văn Thành (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn) đã được sửa chữa, nâng cao khi in thành sách;…

Những năm gần đây, các tác phẩm văn học Nam Bộ đang được các nhà nghiên cứu ứng dụng hướng tiếp nhận từ góc nhìn văn hóa Thông qua đó, nền văn hóa phía Nam được giới thiệu đến độc giả trên cả nước và nước ngoài một cách sinh động, hấp dẫn, thi vị hơn Đồng thời, khẳng định hướng tiếp cận này

có những nét ưu Việt riêng, cần áp dụng khi nghiên cứu văn học

2.2 Những ý kiến đánh giá về các sáng tác của nhà văn Vương Hồng Sển

Vương Hồng Sển sáng tác theo nhiều thể loại ký như tùy bút, bút ký, truyện ký, nhật ký, biên khảo, tản văn,… Ở thế kỷ XX, thể loại này ít được chú

ý đến nên các nhà phê bình chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sách, những bài viết ngắn ca ngợi tài năng viết văn của tác giả và sự uyên thâm về kiến thức trong các tác phẩm

Tác giả Hoài Anh trong bài viết đăng trên Tạp chí Văn hóa số 3/ 1997:

“Vương Hồng Sển – nhà văn hóa của Nam Bộ” Nhưng ở bài viết này, Hoài Anh

Trang 11

chỉ đề cập đến Vương Hồng Sển là nhà văn hóa ở khía cạnh là những đóng góp của người chơi đồ cổ

Trong bài viết: “Nhân mùa Vu Lan tưởng nhớ nhà văn hóa Vương Hồng

Sển” đăng trên Tạp chí Xưa và Nay 7/ 1997, Phạm Hy Tùng đã trích lại lời nhà

văn Vương Trí Nhàn trên báo Văn Hóa Thể Thao: “…Với một nhà văn hóa, cái

chết thường khi không phải là sự kết thúc Những di vật người đó để lại, tác phẩm đã viết ra, công trình đã hoàn thành sẽ lên tiếng làm chứng cho sự có mặt của một con người trong cuộc đời này, từ đó nhắc nhở những người còn sống tiếp tục công việc của người quá cố Điều đó đúng với nhiều người, càng đúng với trường hợp cụ Vương Hồng Sển mà nhà văn Sơn Nam đã gọi một cách vừa quý mến vừa thân mật là “cụ Vương cổ ngoạn””

Hay nhà văn Sơn Nam cũng đã kể về Vương Hồng Sển trong cuộc nói chuyện cùng nhà báo Phạm Hy Tùng và đồng nghiệp được đăng trên Tạp chí

Xưa và Nay 11/ 1997: “Muốn hiểu phần nào văn hóa Việt Nam, phù hợp với khí

hậu phía Nam, có tiếp thu văn hóa Đông Nam Á và Tây phương cứ dạo chơi nhà ông Vương Hồng Sển được hướng dẫn và giải thích, ta sẽ có nụ cười hồn nhiên

và tự tin vào sức sống, sức tồn tại của dân tộc qua nhiều thăng trầm” Những

nhận xét này cũng mới chỉ đề cập đến Vương Hồng Sển là nhà văn hóa trong lĩnh vực nghiên cứu đồ cổ

Đến năm 1999, Nxb Văn hóa thông tin giới thiệu phần 2 và 3 của quyển

“Sài Gòn năm xưa” với nhan đề “Sài Gòn tạp pín lù”, với tựa đề như sau: “Cụ

Vương Hồng Sển là một học giả ở miền Nam, có nhiều tác phẩm được bạn đọc mến mộ Cụ sống suốt thế kỷ XX, từ khi Sài Gòn bắt đầu từ một Gia Định thời Nguyễn để chuyển sang một tỉnh, một thành phố của chế độ thực dân, một thủ

đô của chế độ cũ và nay là thành phố Hồ Chí Minh đã hơn 300 năm Tác giả là người am hiểu phong tục, địa lý, cổ ngoạn, danh lam, con người, sự tích xưa

…Cuốn “Sài Gòn năm xưa” của cụ viết trước đó đã là một tác phẩm không những được đánh giá cao ở trong nước mà cả ở nước ngoài” Đây là một nhận

Trang 12

xét khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Vương Hồng Sển nhưng vấn

đề văn hóa Nam Bộ chưa được người viết làm rõ

Nhà báo Song Phạm đã trích lại lời nhận xét của anh Trần Ngọc Sinh – biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ, người biên tập các quyển di cảo của cụ Vương,

trong bài viết “Người giữ di cảo của cụ Vương Hồng Sển” đăng trên báo Sài Gòn giải phóng thứ 7 ngày 24/09/2005: “Sách của cụ Vương khá kén độc giả

nhưng những ai đã đọc qua một cuốn thì không thể bỏ qua những quyển khác bởi sự cuốn hút hóm hỉnh, chân thật trong cách diễn đạt, bên cạnh những kiến thức ngồn ngộn về con người và về các thú tiêu dao mà ngày nay chỉ còn trong

kí ức” Nhận xét này đề cập đến lối viết cuốn hút và cũng phần nào hé mở vấn

đề văn hóa qua các tác phẩm của Vương Hồng Sển

Bài viết “Tưởng nhớ Vương Hồng Sển – nhà văn hóa Nam Bộ” của nhà báo

Phạm Hy Tùng, đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 274 tháng 12/ 2006 có nhận

định: “Tác phẩm Phong lưu cũ mới và Sài Gòn tạp pín lù là tập hợp của ông về

những điều mắt thấy tai nghe, từ những mẫu chuyện nhỏ ở giới cần lao đến sinh hoạt văn hóa dân gian như thú chơi chim, đá gà Bản sắc dân tộc đậm đà với đặc trưng vùng miền qua những câu chuyện kể trong hai tập này là những đóng góp đáng kể của Vương Hồng Sển giúp chúng ta những người đang hòa mình vào trong kinh tế thị trường với nhiều luồng văn hóa ngoại lai xâm nhập sẽ tìm thấy cội nguồn mà về, nếu muốn”, hay “ Sài Gòn năm xưa và Sài Gòn tạp pín lù

có giá trị hiện thực lịch sử cao bởi trong đó có nhiều giai thoại, điển tích liên quan đến Sài Gòn 300 năm được ông kể lại hoặc kiến giải cặn kẽ” Qua đó, tác

giả đã phần nào đề cập đến vấn đề văn hóa Nam Bộ trong tác phẩm của Vương Hồng Sển

Năm 2012, ký giả Trần Trung Sáng viết bài: “Đọc di cảo cụ Vương Hồng

Sển”, đăng trên: thusuutap.vn Nội dung có đoạn viết như sau: “Vẫn bằng giọng văn dung dị, mộc mạc, giàu sức cuốn hút, những bài viết trong tập di cảo của cụ Vương nhắc đến mọi chuyện thăng trầm dâu bể của đời người, từ lúc bé đến 90

Trang 13

tuổi, mang hoài vọng ca ngợi bản sắc văn hóa độc đáo của Sài Gòn xưa nay”

Người viết đã chỉ ra lối hành văn hấp dẫn của nhà văn cũng như những giá trị văn hóa đặc sắc có trong tác phẩm

Bài viết: “Văn chương Bình Nguyên Lộc - từ góc nhìn văn hóa – Phạm Phú Phong” (đăng trên http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/Van-chuong-

Binh-Nguyen-Loc-tu-goc-nhin-van-hoa.html (2008), trích nguồn Tạp chí Sông

Hương số 223 - 09 - 2007) có đoạn: “Một đặc điểm tương đối phổ biến của các

tác giả sáng tác ở miền Nam trước đây là hầu hết các nhà văn đều là những nhà văn hoá, tác phẩm của họ không chỉ thể hiện sự am hiểu đến tường tận các lĩnh vực văn hoá, mà trong một đời văn lực lưỡng của mình, họ không chỉ sáng tác văn chương mà còn sưu tầm, dịch thuật, khảo cứu nhiều lĩnh vực văn hoá như lịch sử, địa lý, địa chí, ngôn ngữ, dân tộc học, văn học và văn hoá dân gian, như các tác giả từng toả bóng một thời là Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Chánh Sắt, Đông Hồ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Xuân, Sơn Nam, ”

Như vậy, những bài viết được giới thiệu ở trên đã cung cấp thêm nhiều ý kiến đánh giá khách quan về sự nghiệp văn hóa – văn học của học giả Vương

Hồng Sển Vì thế, theo chúng tôi đề tài “Văn hóa Nam Bộ trong văn xuôi phi hư

cấu của Vương Hồng Sển” vẫn là một đề tài mới, ít ai đào sâu, nghiên cứu và

trình bày một cách có hệ thống, khoa học Đó vừa là điều kiện thuận lợi vừa đặt

ra những thách thức giúp chúng tôi có cơ hội tìm hiểu, khám phá thêm những đặc sắc văn hóa, nghệ thuật trong các sáng tác của vị học giả tài hoa này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là “văn xuôi phi hư cấu” của Vương

Hồng Sển

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Ông có một khối lượng lớn các tác phẩm văn học, khảo cứu đồ cổ, các thú

chơi dân gian,… Nhưng trong phạm vi của đề tài nghiên cứu này là “văn hóa

Trang 14

Nam Bộ” Vì vậy, chúng tôi chỉ khảo sát những tác phẩm tiêu biểu viết về con

người và văn hóa Nam Bộ

Gồm những tác phẩm sau:

1/ Sài Gòn năm xưa (1999) – Nxb Văn hóa thông tin (viết về đất và người

Sài Gòn từ khi chúa Nguyễn khai hoang đến buổi đầu người Pháp mới sang)

2/ Hồi ký 50 năm mê hát (2011) – Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh

(hồi ký về văn nghệ và cải lương miền Nam Việt Nam)

3/ Cuốn sách và tôi (2010) – Nxb Trẻ (tùy bút về thú chơi sách và những

câu chuyện thăng trầm ở Sài Gòn)

4/ Phong lưu cũ mới (1999) – Nxb thành phố Hồ Chí Minh (tùy bút về các

sinh hoạt văn hóa cổ truyền – văn hóa dân gian, các thú ăn chơi của người Sài Gòn)

5/ Sài Gòn tạp pín lù (1999) - Nxb thành phố Hồ Chí Minh (thiên truyện ký

về cô V.A, cô Ba Trà, cô Sáu Ngọc Anh, cô Bảy Hột Điều,… – những mỹ nhân nổi tiếng ở Sài Gòn thời pháp thuộc; bút kí về sinh hoạt mọi mặt ở Sài Gòn)

6/ Khám lớn ở Sài Gòn (2011) – Nxb Văn hóa nghệ thuật thành phố Hồ Chí

Minh (bút kí về những câu chuyện và sinh hoạt trong Khám lớn Sài Gòn)

7/ Hơn nửa đời hư (2013) – Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh (các

thiên hồi kí về những sinh hoạt văn hóa của tác giả ở đô thị Sài Gòn)

8/ Ăn cơm mới nói chuyện cũ: Hậu Giang Ba Thắc (2012) – Nxb Trẻ (hồi

ký về sinh hoạt và văn hóa ở Sài Gòn)

9/ Bên lề sách cũ (2013) – Nxb Trẻ (tùy bút về thú văn nghệ và thú chơi

sách của giới trí thức Sài Gòn)

10/ Dở mắm (2015) – Nxb Trẻ (viết về nhiều sự kiện và con người - kéo dài

từ thời Pháp thuộc cho đến thời điểm 1983 Các nhân vật "có máu mặt" như các quân vương, toàn quyền, thống đốc, các kỹ nữ, ngôi sao màn bạc, các thường nhân của dĩ vãng hiện lên sống động qua hồi ức và tư liệu mà tác giả lưu giữ được)

Trang 15

11/ Tạp bút năm Quý Dậu (1993), (2012) – NXb Trẻ (tạp bút, nhật ký về

văn hóa Sài Gòn và những chiêm nghiệm thế thái nhân tình của tác giả)

12/ Tạp bút năm Nhâm Thân (1992), (2013) – Nxb Trẻ (tạp bút, nhật ký về

văn hóa Sài Gòn và những chiêm nghiệm thế thái nhân tình của tác giả)

13/ Tạp bút năm Giáp Tuất (1994), (2014) - NXb Trẻ (tạp bút, nhật ký về

văn hóa Sài Gòn và những chiêm nghiệm thế thái nhân tình của tác giả)

14/ Tự vị tiếng Việt miền Nam (1999) – Nxb Trẻ (những chỉ dẫn quý báu về

địa danh, về tiếng nói Nam Bộ xưa và nay)

Bên cạnh đó là một số tác phẩm trong mảng khảo cứu của ông như:

15/ Nửa đời còn lại

16/ Thú chơi sách (1960)

17/ Thú xem chuyện Tàu (1970)

18/ Thú chơi cổ ngoạn (1971)

19/ Chuyện cười cố nhân (1971)

20/ Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn (1972)

21/ Khảo về đồ sứ từ hậu Lê đến sơ Nguyễn (1993)

22/ Nửa đời còn lại (1995)

- Thú ăn chơi

- Khảo về hát bội

Ngoài ra, chúng tôi có khảo sát một số tác phẩm của các nhà văn như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy,… để có cái nhìn tổng quát hơn khi viết

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp phân loại – thống kê

Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm phân loại các cổ vật, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, …được tác giả đề cập đến trong các tác phẩm Đồng thời lập các bảng thống kê theo những tiêu chí cụ thể nhằm giúp chúng tôi dễ trích dẫn trong bài viết và dùng làm phần phụ lục để độc giả dễ nắm bắt tư liệu

Trang 16

4.2 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để nghiên cứu mối liên hệ giữa văn học, văn hóa, khảo cổ học, ngôn ngữ học, Đồng thời làm sáng tỏ những mối liên hệ này trong các tác phẩm của Vương Hồng Sển

Hướng tiếp cận văn hóa được vận dụng như cách tiếp cận chính để giải

quyết vấn đề đặt ra trong đề tài Từ góc độ văn hóa, lấy tiêu chí văn hóa để phân tích, đánh giá tác phẩm văn học

Tìm hiểu văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong đời sống người Nam

Bộ của Vương Hồng Sển để thấy được tính văn hóa trong tác phẩm văn học cũng như mối quan hệ nội tại của văn học và văn hóa Văn học vừa là một thành

tố quan trọng của văn hóa vừa tác động đến sự phát triển văn hóa dân tộc Nhà văn vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là chủ thể tiếp nhận văn hóa Vì vậy, chính nhà văn là người lưu giữ những đặc trưng của văn hóa dân tộc qua văn chương của mình, đối với Vương Hồng Sển là văn hóa vùng miền

Tiếp cận cuộc sống từ góc nhìn lịch sử văn hóa, nhà văn đem đến những cách nhìn nhận mới mẻ về hiện thực Cũng như việc thể hiện bằng các hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học, những nét riêng của văn hóa dân tộc, văn hóa vùng miền được người đọc cảm nhận sống động hơn, cụ thể hơn Dĩ nhiên không thể đánh giá văn học bằng các tiêu chí và nội dung của văn hóa nhưng xét văn học từ góc độ này sẽ nhận ra được những giá trị rộng hơn và bền vững hơn của nghệ thuật ngôn từ

4.3 Phương pháp lịch sử cũng là phương pháp được vận dụng cùng với

hướng tiếp cận văn hóa học Yếu tố văn hóa giúp nhà văn miêu tả và lý giải, hay nói cách khác, tầm văn hóa giúp nhà văn thể hiện lối sống, tín ngưỡng, phong tục, tập quán,… của cá nhân, của một cộng đồng thì lịch sử cũng chi phối đời sống cá nhân, của cộng đồng cần được nhận thức và thể hiện Hiểu như thế văn hóa và con người là sản phẩm của lịch sử

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng các thao tác so sánh – đối chiếu, thao

Trang 17

tác phân tích tổng hợp để hệ thống lại những nguồn tài liệu, những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu

5 Những đóng góp của luận văn

Về mặt lý luận: Luận văn góp phần khẳng định hiệu quả của hướng nghiên

cứu mới – tiếp cận và đánh giá văn học từ góc nhìn văn hóa

Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần làm sáng rõ những hiểu biết về các

giá trị văn hóa đặc sắc của con người và vùng đất Nam Bộ - Sài Gòn – Gia Định Đồng thời, giới thiệu những đóng góp về mặt văn hóa – văn học qua các sáng tác của Vương Hồng Sển đến độc giả đương thời và thế hệ mai sau

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo và phụ lục, chúng tôi trình bày phần nội dung chính của đề tài trong 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung (20 trang)

Trong chương I, chúng tôi đề cập đến thể loại văn xuôi phi hư cấu, thể loại kí; khái niệm văn hóa; mối quan hệ văn hóa – văn học; hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa; cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhà văn – nhà cổ ngoạn Vương Hồng Sển

Chương 2 Văn hóa vật chất Nam Bộ trong văn xuôi phi hư cấu của Vương Hồng Sển (45 trang)

Chương này chúng tôi trình bày những luận điểm chính về văn hóa vật chất ở Sài Gòn qua các sáng tác văn học của Vương Hồng Sển Các luận điểm được triển khai theo năm bình diện: Thế giới cổ vật – chứng tích văn hóa; Hệ thống danh lam thắng cảnh - dấu tích lịch sử; Hệ thống các công trình tôn giáo –

biểu tượng của tín ngưỡng, tâm linh; Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên

Chương 3 Văn hóa tinh thần Nam Bộ trong văn xuôi phi hư cấu của Vương Hồng Sển (45 trang)

Chương tiếp theo, chúng tôi trình bày những luận điểm chính về văn hóa tinh thần ở Sài Gòn qua các sáng tác văn học của Vương Hồng Sển Các luận

Trang 18

điểm được triển khai theo bốn bình diện: Văn hóa tổ chức cộng đồng, Văn hóa

giao tiếp và ngôn ngữ, Văn hóa tâm linh, Văn học nghệ thuật

Trang 19

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Thể loại văn xuôi phi hư cấu

Hiện nay, thể loại văn học phi hư cấu được cả nhà văn, nhà nghiên cứu –

phê bình và cả độc giả chú ý đến Giá trị của các tác phẩm văn học phi hư cấu

được đề cao

Trong văn bản phi hư cấu, người trần thuật luôn là người chứng kiến câu

chuyện được kể lại Đó không phải là câu chuyện được tưởng tượng mà là những sự kiện, biến cố có thật, có thể được kiểm chứng một cách khách quan Điều tạo nên sức hấp dẫn cho văn xuôi phi hư cấu chính là sự xác tín

Điều chính yếu làm nên giá trị, phẩm chất và ưu thế của văn phi hư cấu là tính chính xác và trung thực của nó Sự kiện đã xảy ra khi nào? Ở địa điểm nào?

Ai đã tham gia vào sự kiện đó? Trong tất cả những trường hợp này, người đọc đòi hỏi câu trả lời cặn kẽ và rõ nghĩa, dù đó là con số, ngày tháng, lời khẳng định hay phủ định

Văn bản phi hư cấu giống như những mảnh tranh ghép, được xây dựng từ những bức chân dung nhân vật, những bức tranh miêu tả cảnh quan đời người và sân khấu chính trị – xã hội, những suy niệm và trầm tư thế sự…

Những thể loại phi hư cấu được phổ biến rộng rãi trên báo chí trước khi in thành sách là ký sự, phóng sự, hồi ký, bút ký, nhật ký, tạp bút,… Nhiệm vụ của

ký sự là trình bày và giải thích những sự kiện mới và đặc biệt quan trọng nhưng lúc đầu chưa được công chúng chú ý đúng mức

Qua đó, ta nhận thấy rằng ký được xem là thể loại văn học trung gian nằm giữa văn học và báo chí Bộ phận văn học ký rất linh động trong việc phản ánh những biến chuyển của xã hội góp phần tạo nên bộ mặt đa dạng, phong phú của đời sống văn học

Tác giả Sơn Tùng đã đưa ra nhận định về ký trên tạp chí văn học số 8/

1961: “Ký là một hình thức của thể loại kể truyện, phản ánh những hiện tượng

Trang 20

của hiện thực khách quan, đời sống xã hội, biểu hiện con người với những tư tưởng, tình cảm, hành động và quan hệ nhiều mặt của nó với những người khác, trong một giai đoạn lịch sử nhất định” [64, tr.71] Nhưng “kể” ở đây không đơn

thuần điểm qua những sự kiện chính mà có sự kết hợp các thủ pháp nghệ thuật lẫn cảm xúc người viết

Còn tác giả Đức Dũng lại định nghĩa: “Ký được coi là một thể loại khu biệt

với những loại thể khác bởi phương thức tiếp cận hiện thực riêng và có thể tạo

ra một kênh giao tiếp riêng giữa tác giả và công chúng” [15, tr.21]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ký là thể loại văn học có đặc điểm là: “tôn

trọng sự thật khách quan của cuộc sống, không hư cấu” và “nhà văn viết ký luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm” [23, tr.137]

Còn tác giả của Từ điển Tiếng Việt thì cho rằng ký là loại “thể văn tự sự có

tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất” [44, tr.501]

Đây là những khái quát rất cụ thể về đặc trưng cơ bản của thể loại này

Trong số các định nghĩa ấy, ta có thể thấy định nghĩa của Lại Nguyên Ân

và Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi khái quát hơn cả: “ký là tên

gọi chung cho một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại,…); chủ yếu là văn xuôi

tự sự, gồm các thể loại như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký,…” [4,

tr.176] Nói cách khác “Ký là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo

chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký, du

ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tùy bút,…” [23, tr.137]

Ký là một loại hình văn xuôi tự sự Với quan niệm luôn tôn trọng sự thật khách quan của cuộc sống, ký có khả năng cơ động lớn, phản ánh được trực tiếp những biến cố thời sự, những vấn đề bất cập đang được đặt ra trong cuộc sống cũng như những biểu hiện tư tưởng tình cảm của con người Ngoài ra, ký còn mang màu sắc tự sự, được tác giả kể lại, ghi lại những khoảnh khắc ấn tượng và

Trang 21

bộc lộ tâm tình của mình Đây cũng là đặc trưng đầu tiên, dễ nhận diện nhất ở thể ký

Ký là một thể loại bao trùm nhiều “thể” và “tiểu loại” khác nhau: bút ký, hồi ký, du ký, ký chính luận, ký sự, phóng sự, tùy bút, tạp văn, tản văn,… Có thể nói tùy theo hình thức khác nhau của đối tượng miêu tả mà ký có cách tái hiện riêng cho phù hợp

Ký sự luôn ở vùng giáp ranh giữa báo chí và văn học Ký sự đa dạng về nội dung, nó liên quan đến những vấn đề chính trị, kinh tế, khoa học và văn hóa, miêu tả những hiện tượng trong đời sống xã hội, thiên nhiên và môi trường, những câu chuyện ở chiến trường và pháp đình, những điển hình tiêu biểu cho các nhóm lợi ích và nghề nghiệp khác nhau

Phóng sự có đặc điểm là tính kịp thời, sự dồn nén thông tin và văn phong năng động Là một thể loại phi hư cấu, phóng sự còn mang yếu tố chính luận: câu chuyện kể về các sự kiện được xen kẽ với những suy nghĩ và bình luận ngoại đề của tác giả Đối tượng của phóng sự thường là những tình huống cực đoan: tai nạn, thảm họa, những sự kiện ở các điểm nóng, chẳng hạn ở vùng chiến sự, thiên tai…

Hồi ký là một dạng văn phi hư cấu, một dạng văn học tư liệu, đồng thời cũng là hình thức văn xuôi tự thuật Đó là sự trần thuật về những sự kiện và hiện tượng trong đời sống xã hội, chính trị, văn hóa, nghệ thuật mà tác giả là người chứng kiến hay tác nhân của lịch sử, với những nhân vật mà người ấy tiếp xúc Trong lịch sử của văn học Việt Nam, ký ra đời rất sớm Các tác phẩm như

từ “Thanh hư động ký” của Nguyễn Phi Khanh, “Lam Sơn thực lục” Nguyễn Trãi, “Việt điện u linh” của Lý Tế Xuyên, “Lĩnh Nam chích quái lục” của Trần Thế Pháp, đến “Thượng kinh ký sự” của Lê Hữu Trác, “Vũ trung tùy bút” của

Trang 22

Phạm Đình Hổ và đặc biệt là thiên ký sự lịch sử “Hoàng Lê nhất thống chí” của

Ngô gia văn phái

Bước sang thế kỷ XX, các tác phẩm ký xuất hiện phong phú hơn Đặc biệt,

giai đoạn 30 – 45 là sự nở rộ của thể phóng sự: Ngô Tất Tố với “Việc làng, Tập

án cái đinh”; Vũ Trọng Phụng với hàng loạt tác phẩm như “Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Lục xì”,…Trong giai đoạn này, tùy bút cũng bắt đầu phát

triển: “Hà nội – 36 phố phường” của Thạch Lam, …

Sau cách mạng tháng Tám, ký ngày càng phát triển mạnh mẽ Công cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc, tinh thần chiến đấu kiên cường của quân và dân ta đã tiếp thêm cảm hứng, thôi thúc ngòi bút của các tác giả tuôn chảy nhằm tái hiện lại tất cả hiện thực đương thời cũng như bày tỏ những tình cảm tha thiết, nghĩa tình sâu đậm đối với nơi chôn nhau cắt rốn, với Tổ quốc Các tác phẩm

tiêu biểu như “Ở rừng” của Nam Cao, “Kí sự Cao Lạng” của Nguyễn Huy Tưởng, “Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội” của Vũ Bằng,

Kháng chiến chống đế quốc Mỹ thành công, đất nước thống nhất và đặc biệt bước qua những năm đổi mới, chủ đề của ký ngày càng đa dạng phong phú hơn Ngoài chủ đề cũ, các tác giả chuyển hướng ngòi bút sang ghi nhận thực tại cuộc sống hàng ngày càng cụ thể, nhân bản, đậm tính dân tộc hơn, đồng thời còn thể hiện cái tôi của tác giả ngày càng rõ nét, sâu sắc và phong phú hơn Tiêu

biểu có “Sài Gòn Tạp pín lù, Tạp bút năm Nhâm Thân, Hơn nửa đời hư” của Vương Hồng Sển; “Người đàn bà quỳ” của Trần Khắc; tạp văn Nguyễn Khải,…

Đặc biệt, thể hồi ký văn học nở rộ, mang đậm yếu tố tự truyện vào những

thập niên cuối của thế kỉ XX, như “Từ rừng U Minh lên Cần Thơ” của Sơn Nam; “Cát bụi chân ai” của Tô Hoài; Hồi kí Đặng Thai Mai; Tố Hữu, Vì vậy, thế mạnh của tác phẩm ký chính là nó có thể đáp ứng yêu cầu nào đó của nghệ

thuật và tự khẳng định giá trị của mình trong nền văn học

Tác giả Hà Minh Đức nhận định rằng: “đặc điểm mấu chốt xác định ranh

giới giữa các thể ký văn học với các thể loại khác ở chỗ viết về cái có thật và tôn

Trang 23

trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả” Nhưng cần lưu ý rằng, người thật

việc thật ở đây là những sự việc đã xảy ra trong quá khứ và hiện tại đi kèm những diễn biến nội tâm của các nhân vật Ký đã miêu tả bức tranh xã hội qua những sự kiện và con người có thật, gồm kẻ xấu lẫn người tốt Những nhân vật lịch sử như chị Quyên, anh Trỗi, chị Út Tịch, …đã tạo nguồn cảm hứng đưa các

tác phẩm: “Sống như anh” của Trần Đình Vân, “Họ sống và chiến đấu” của Nguyễn Khải, “Chúng tôi ở Cồn Cỏ” của Hồ Phương,… Bên cạnh đó là những

con người bình thường hiện hữu trong cuộc sống hiện tại như Phan Văn Vĩnh,

Lê Ngọc Trụ, Nguyễn Hiến Lê, Phạm Văn Ngỡi, được khắc họa chân thật bằng con mắt khách quan trong những trang viết của Vương Hồng Sển Những tác phẩm ấy đến nay vẫn được độc giả đón nhận và sống mãi với thời gian Tuy nhiên, viết ký không có nghĩa chỉ ghi chép các sự kiện, con người mà nhà văn cần tưởng tượng, liên tưởng… nghĩa là cũng cần hư cấu Hư cấu trong

ký là chọn lọc, sắp xếp các ý tưởng, sự kiện một cách có nghệ thuật Qua các chi tiết điển hình, tác giả có thể hư cấu thêm, miễn không quá sai lệch với sự thật, tôn lên những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật Ở đây, nội tâm của nhân vật cũng được hư cấu Người viết sẽ đoán được tính cách nhân vật, tưởng tượng ra diễn biến tâm lý của họ trong từng hoàn cảnh khác nhau Bên cạnh đó, những nhân vật phụ, cảnh sắc thiên nhiên trong cảm xúc trữ tình của nhân vật cũng được hư cấu vì không có sự ảnh hưởng nhiều đến nội dung chính của tác phẩm Tuy vậy, việc hư cấu bắt buộc phải nằm trong một chừng mực nào đó, gắn với đặc điểm của thể ký Hư cấu ở đây là sự tô đậm, làm rõ những chi tiết còn mờ nhạt, bớt đi những sự kiện rườm rà Chính vì vậy, mức độ hư cấu trong tác phẩm dù cao hay thấp vẫn phải tôn trọng các yếu tố sau: tên tuổi, lai lịch, ngoại hình, thời gian, địa điểm, những quan hệ xã hội cơ bản, các diễn biến chính của sự việc,…

Nếu ta đặt ký và truyện trong cái nhìn đối sánh thì có thể nhận ra được những tiêu chí nhận biết thể loại rõ nét Ký ghi chép những sự kiện lịch sử có thật (con người, sự kiện, thời gian, không gian,…) chính xác; có hư cấu ở một số

Trang 24

chi tiết nhỏ; nhân vật xuất hiện trong sự kiện Còn truyện thì gắn sự kiện với những sáng tạo nghệ thuật; hư cấu nhiều; nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, có sự phát triển tính cách Nếu tác giả kịch chú ý đến xung đột hành động kịch thì người viết ký quan tâm đến tính tự nhiên của đối tượng hay nhà thơ quan tâm đến những tâm trạng và cảm xúc thẩm mỹ thì người viết ký sẽ ghi lại những cái có thật trong cuộc sống, tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả cho dù đó là một tác phẩm tường thuật lại những sự kiện hoặc phát biểu cảm nghĩ về những sự việc trong đời sống hay thiên về sự bình luận phân tích

Trong từng thời kỳ phát triển của văn học, ký luôn đảm nhiệm tốt vai trò biểu hiện sự vận động của cuộc sống và khẳng định nó là một bộ phận quan trọng hợp thành một nền văn học hoàn chỉnh Và chính những chủ thể sáng tạo cũng phải có sự nhạy bén với những biến động của thời cuộc cộng thêm kinh nghiệm cuộc sống và nhiệt huyết để tạo nên những tác phẩm có giá trị cao

1.1.2 Khái niệm văn hóa

Văn hóa phản ánh trình độ phát triển dân tộc, là nền tảng tinh thần của xã hội, là sự kết tinh của những giá trị tốt đẹp nhất giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên và xã hội Văn hóa là một phạm trù xã hội và tồn tại như một phương diện không thể thiếu trong đời sống xã hội của con người Văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Chính vì vậy, đối với mỗi quốc gia, dân tộc văn hóa luôn được chú trọng và đề cao Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa, lĩnh vực văn hóa lại càng được chú trọng

Về khái niệm “văn hóa” đến thời điểm hiện tại vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau về văn hóa Mỗi định nghĩa thể hiện một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau

Từ gốc của Văn hóa là culture Nhưng tùy vào quan điểm của mỗi khu vực, mỗi dân tộc nó lại có những biến đổi phù hợp Ở phương Tây, căn cứ vào chiết

tự, từ nguyên Culture của tiếng Anh và tiếng Pháp, người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha có từ Cutura,… xuất phát của nó từ tiếng La tinh Cultus mà nghĩa gốc

Trang 25

là trồng trọt được dùng theo hai nghĩa cultus agri là “trồng trọt ngoài đồng” và

cultus animi là “trồng trọt tinh thần” tức là “sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người” Vì vậy, xét theo nghĩa gốc, văn hóa gắn liền với giáo dục, đào tạo

con người, một tập thể người để cho họ có được những phẩm chất tốt đẹp, cần thiết cho toàn thể cộng đồng Còn ở phương Đông, người Trung Hoa quan niệm

“Văn” là nét vẽ, thể hiện vẻ đẹp bề ngoài, “hóa” là làm thay đổi, làm cho trở nên đẹp, tốt hơn, …Người Hoa lấy hai chữ ghép liền để dịch chữ Culture của tiếng Pháp, tiếng Anh và chữ Kultur của tiếng Đức (nghĩa là canh tác, nuôi

dưỡng, giáo dục, phát triển, tôn trọng)

Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái

niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể qui về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp

và theo nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu (nếp sống văn hóa, công trình văn hóa,…) hoặc chiều rộng (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh,…), theo không gian văn hóa (văn hóa Bắc Bộ, Văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ,…) và theo thời gian (văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh, …) Về nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã được xã hội hóa trong lao động sáng tạo của con người, là tất cả những giá trị do con người sáng tạo ra và được truyền từ thế hệ này đến thế hệ sau, là sự thể hiện sự phát triển của con người trong mỗi thời đại lịch sử nhất định

Nội dung và ý nghĩa của khái niệm văn hóa chịu sự tác động mạnh mẽ của

sự phát triển xã hội nên ngày càng phong phú, đa dạng hơn Vì vậy, các nhà nghiên cứu có thể tiếp cận khái niệm văn hóa ở nhiều lĩnh vực khác nhau như ngôn ngữ học, tâm lý học triết học, dân tộc học,…

Học giả Xô Viết A A Zvorkin trong cuốn sách “Xác định văn hóa và vị

trí của nền văn hóa vật chất trong nền văn hóa nói chung” đã định nghĩa “văn hóa là tất cả những gì do con người tạo ra, khác với những gì do thiên nhiên cung cấp”

Trang 26

Theo từ điển triết học: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh

thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội – lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay đổi theo các hình thái kinh tế xã hội” [26, tr.659]

Ông Federico Mayor Zaragza – tổng giám đốc UNESSCO đã có nhận định

về văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động, các hoạt động sáng tạo

trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỉ hoạt động và sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [66, tr.10] Hiện nay, UNESSCO đang

nhìn nhận văn hóa với ý nghĩa rộng hơn: “Một phức thể các đặc trưng, diện mạo

về tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng, miền, quốc gia, dân tộc Văn hóa bao gồm các giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tượng (đẹp hay xấu, đạo đức hay vô luân, phải hay trái, đúng hay sai) theo cộng đồng ấy” [30, tr.45]

Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 – 1917) đã đề

cập đến định nghĩa văn hóa trong cuốn Văn hóa nguyên thủy: “Văn hóa là một

chỉnh thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, bất kì năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên xã hội” [47, tr.13]

Trên đây là những định nghĩa, nhận định về văn hóa của các học giả nước ngoài Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đưa ra một số khái niệm, nhận thức cơ bản về văn hóa

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị

vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”

Văn hóa theo Trần Quốc Vượng: “Cái văn hóa là sự biến đổi cái tự nhiên

của từng cộng đồng người nhất định Văn hóa là sự phản ứng, sự chế ngự, sự trả lời của một cộng đồng người trước những thách đố của mọi cái gì tự nhiên Văn hóa là lối sống của một cộng đồng người, là thế ứng xử tập thể của một

Trang 27

cộng đồng người, của một xã hội, là tổng thể những đồng nhất thể của các thành viên về các phương diện nhận thức, quan điểm, chuẩn mực, biểu tượng và các

hệ thống giá trị… Văn hóa hiểu như vậy thì có mặt bao la vừa có mặt chặt chẽ”

[67, tr.159]

Học giả Phan Ngọc cho rằng: “Văn hóa không phải là kĩ thuật cũng không

phải là bản thân sản xuất, không phải là hoạt động tinh thần ở tự bản thân nó, không phải là hoạt động xã hội, chính trị,… cũng không phải là phong tục Văn hóa là các dấu ấn của một thể cộng đồng này từ tín ngưỡng, phong tục cho đến các sản phẩm công nghệ bán ra thị trường” [38, tr.20]

Trong cuốn sách Bản sắc văn hóa Việt Nam Phan Ngọc đã đưa ra định nghĩa văn hóa: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một

cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay dân tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong cái biểu tượng Điều kiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ nhận thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn của cá nhân hay của một tộc người khác” [38, tr.17]

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng trình bày một quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ

sinh tồn cũng như mục đích về cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh

ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày ăn, mặc, ở cũng như các phương thức sử dụng Toàn bộ sáng tạo và phát minh tức là văn hóa Văn hóa là tổng thể của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã phát sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống mà đòi hỏi sự sinh tồn” [69,

tr.21]

Phạm Xuân Nam có kiến giải về văn hóa như sau: “Yếu tố hàng đầu của

văn hóa là sự hiểu biết bao gồm tri thức khoa học, kinh nghiệm và sự khôn ngoan tích lũy được trong quá trình học tập, lao động sản xuất và đấu tranh để duy trì và phát triển cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc và các thành viên

Trang 28

trong cộng đồng ấy Nhưng chỉ riêng sự hiểu biết không thôi chưa làm nên văn hóa, sự hiểu biết chỉ trở thành văn hóa khi nó làm nền và định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối sống, thị hiếu, hành vi,… của mỗi cá nhân và cộng đồng hướng tới cái đúng, cái tốt, với người, với môi trường xã hội

và môi trường tự nhiên” [46, tr.27]

Theo Trần Văn Giàu: “Văn hóa không chỉ là bao gồm kiến thức chuyên

môn, kiến thức nghiệp vụ, ngoại ngữ, năng lực sử dụng thiết bị tin học, mà phải bao gồm cả đạo đức, tâm lý, nếp sống, sức khỏe,…” [46, tr.28]

Hồ Bá Thâm trong “Bản sắc văn hóa dân tộc” (2003) cũng đưa ra nhận định của mình: “Văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần theo tính

chân – thiện – mỹ, do hoạt động của con người sáng tạo ra thông qua các phương thức tồn tại của đời sống xã hội và ngày càng phát triển, tiến bộ là văn hóa” [53, tr.15]

Từ các định nghĩa trên, có thể xác lập khái niệm văn hóa dựa trên một số luận điểm chung sau: Thứ nhất: Văn hóa là sản phẩm của các hoạt động sáng tạo của con người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.Thứ hai: Văn hóa biểu hiện qua một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, bồi đắp qua tiến trình lịch sử Thứ ba: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là hồn cốt của một dân tộc, tạo nên sức sống và là đặc trưng riêng của từng dân tộc

Chính vì vậy, mà mỗi khu vực khác nhau và ngay cả chính mỗi vùng của một quốc gia cũng có những nền văn hóa, vùng văn hóa riêng tạo nên sự phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc Sự mở rộng giao lưu giữa các nước trên toàn cầu tạo điều kiện cho việc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Bên cạnh sự học hỏi tiếp thu có chọn lọc các nền văn hóa thì bản thân mỗi tập thể, cá nhân phải có ý thức giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống vốn có của chính dân tộc mình

Trang 29

1.1.3 Quan hệ văn học – văn hóa và hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa

Văn học là nhân học Chính vì vậy, văn học là biểu hiện của tâm thức dân tộc Đối với phần lớn người Việt Nam, văn hóa là văn học và gần như chỉ là văn học Cách lý giải về các vấn đề, hiện tượng, hoạt động của con người trong xã hội trong các tác phẩm văn học mang cốt cách và tâm hồn người Việt

Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa là một vấn đề có phạm vi rộng liên quan đến hai ngành khoa học lớn Chính vì vậy, chúng tôi chỉ có mục đích tìm hiểu một số nét cơ bản trong quan hệ văn hóa – văn học có liên quan đến đề tài luận văn nhằm xác lập những tiền đề có ý nghĩa phương pháp luận định hướng cho việc triển khai đề tài

Cơ sở để xác định quan hệ giữa văn hóa – văn học trước tiên dựa vào bản chất đặc trưng của văn hóa và đặc trưng của văn học Từ những ý kiến của các nhà văn hóa học có thể cho thấy rằng bản sắc văn hóa là khái niệm cơ bản thể

hiện bản chất, thuộc tính văn hóa Đó là “hệ giá trị hình thành từ mối quan hệ,

cách ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội và với chính bản thân” [58,

tr.41] Những thuộc tính đó của văn hóa quy định cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên, với xã hội và chính giữa con người với con người góp phần tạo ra những giá trị văn hóa theo quy luật cái đẹp

Bên cạnh đó, văn học với tư cách là một thành tố của văn hóa, là một loại hình nghệ thuật dùng ngôn từ làm chất liệu, phản ánh đời sống và cải tạo đời sống thông qua các hình tượng nghệ thuật Vì vậy, văn học có sức lan tỏa, xây dựng và lưu truyền cái đẹp Chính từ những phương diện này của văn học, quan

hệ với văn hóa được thể hiện rõ nét và sâu sắc

Văn học nằm trong văn hóa, là một bộ phận của văn hóa, văn học vì vậy chịu sự chi phối của văn hóa Hippolyte Taine (1828 – 1893) cho rằng văn hóa

là động lực giải thích sự xuất hiện của văn học Các tác động của môi trường, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, xã hội, tôn giáo,… đến đời sống tinh thần của con

Trang 30

người là một trong những cơ sở để xác định vị trí của văn hóa trong văn học Vì vậy, một hiện tượng văn học lớn bao giờ cũng được phát sinh trong một môi trường văn hóa lớn

Ngược lại, văn học là sản phẩm của văn hóa nên “có tính đại diện cho văn

hóa”, “có tác động tích cực trở lại” [58, tr.100] với văn hóa, có chức năng nhận

thức, phản ánh, sáng tạo, truyền tải và lưu giữ văn hóa

Khi xem xét tiến trình vận động, phát triển đổi mới của văn học phải căn cứ trên cơ sở kinh tế của xã hội Chính cơ sở hạ tầng quyết định những yếu tố thuộc phạm vi tinh thần như tư tưởng, tình cảm, thị hiếu, quan niệm thẩm mỹ, …Văn học khám phá đời sống, dùng ngôn ngữ đời sống làm chất liệu nên văn học cũng thể hiện phần nào trình độ sống, chất lượng sống của con người trong một thời

Khi tiếp nhận một tác phẩm văn học, tức người đọc đã tham gia sáng tạo với nhà văn, sống với đời sống nhân vật, vui buồn, hạnh phúc cùng nhân vật Và như vậy đã hình thành một cách tự nhiên mối liên hệ văn học với các phương diện văn hóa cả phía sáng tạo cũng như tiếp nhận

Không những thế, các lĩnh vực khác của văn hóa tinh thần là các ngành khoa học cũng có quan hệ chặt chẽ với văn học Bởi văn học khám phá chiều sâu của cuộc sống và con người, giúp khoa học nhận rõ hơn bản chất của nó Đồng thời, các thành tựu của khoa học khi bước vào cuộc sống sẽ trở thành đối tượng phản ánh của văn hóa

Từ việc xác định quan hệ của văn học với các lĩnh vực thuộc văn hóa tinh thần như chính trị, đạo đức, triết học, tâm lý,… ta thấy được vai trò của văn hóa

Trang 31

đối với văn học và ngược lại Nền văn hóa thay đổi sẽ dẫn đến văn học thay đổi theo

Khi chọn vấn đề nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa tức lựa chọn một tiêu chí, một phương pháp, một cách thức để khảo sát một đối tượng là văn học Như vậy nó đồng nghĩa với việc chọn ra những tiêu chí khoa học và phương pháp phù hợp để tiếp cận đối tượng, để tìm hiểu sâu vào bên trong mối quan hệ bản chất của văn hóa với văn học, từ đó xác định những tiêu chí để giải thích các hiện tượng văn học từ góc độ văn hóa

Quan hệ giữa văn hóa và văn học là mối quan hệ gắn bó ở cả hai phương diện vừa đồng đại vừa lịch đại Bởi nghiên cứu một hiện tượng văn học trong quan hệ đồng đại với văn hóa sẽ thấy được vai trò sáng tạo văn hóa, thấy được cấu trúc, chức năng văn hóa của văn học Văn học phản ánh “ý thức văn hóa” của một thời kì nhất định, mang diện mạo văn hóa của thời điểm nó ra đời Từ góc nhìn đồng đại sẽ giải thích được động lực xuất hiện của một hiện tượng văn học: hoàn cảnh kinh tế, xã hội, lịch sử, tôn giáo,… các thành tố của một thời kì văn hóa nhất định đã tác động sâu sắc đến văn học tạo nên những đặc trưng riêng của văn học giai đoạn đó Không những thế văn hóa – văn học nhìn từ quan hệ đồng đại sẽ giúp nhận chân những giá trị văn hóa của từng thời kì cụ thể được lưu giữ trong văn học Từ quan niệm về cuộc đời, về con người, cách hành

xử, quan niệm về cái đẹp và các biểu trưng văn hóa được lưu giữ làm phong phú thêm cho kho tàng văn hóa dân tộc Đó chính là tính văn hóa của một tác phẩm văn học

Song văn học không chỉ là sản phẩm của văn hóa một thời, mang trong mình giá trị văn hóa của một giai đoạn cụ thể là sản phẩm của một quá trình văn

hóa Bởi “đằng sau những nhà văn hóa lớn là cả một nền văn hóa của nhiều thế

kỉ” [24, tr.428] Mỗi hiện tượng văn học lớn bao giờ cũng ẩn chứa trong nó

những cấu trúc đa tầng của văn hóa với những yếu tố bền vững ở bề sâu, bất biến, hằn trong tâm thức văn hóa dân tộc

Trang 32

Mỗi một tác phẩm văn học đều mang trong nó tính văn hóa đặc trưng của dân tộc, của đất nước, của vùng đất mà tác phẩm được sinh ra Không có tác phẩm văn chương nào mà lại không mang trong nó một hoặc một vài đặc trưng văn hóa của dân tộc mình hoặc qua cách nói, cách diễn đạt hoặc qua cách xây dựng, cách khái quát hình tượng nhân vật,…

Nếu coi văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử nhằm tạo dựng khuôn mặt riêng cho nó, nhằm tạo ra bản sắc văn hóa riêng mình thì tác phẩm văn học là một trong những giá trị sáng tạo đó Tác phẩm văn học như là một sản phẩm kết tinh cao nhất của văn hóa một tộc người, một đất nước Tác phẩm văn học mang tính văn hóa cao sẽ trở thành tài sản chung của dân tộc

Vì vậy, tiếp cận một tác phẩm văn học nhìn từ góc độ văn hóa sẽ góp phần làm rõ thêm đóng góp của tác phẩm văn học vào tổng thể giá trị tinh thần của một dân tộc Đồng thời, thấy được vai trò sáng tạo của văn học qua những hình tượng nghệ thuật, qua xây dựng mô hình nhân cách văn hóa đẹp cho xã hội, cho dân tộc

Vận dụng hướng nghiên cứu văn học nhìn từ góc nhìn văn hóa trong luận văn, chúng tôi tập trung vào hai điểm: phân tích những phương diện văn hóa Nam Bộ được Vương Hồng Sển lựa chọn phản ánh và khẳng định hệ thống các giá trị văn hóa Nam Bộ

1.2 Nhà cổ ngoạn – nhà văn Vương Hồng Sển

1.2.1 Cuộc đời

Vương Hồng Sển (1902 – 1996), bút hiệu là Anh Vương, Vân Đường, Đạt

Cổ Trai,người Minh Hương; là một nhà văn, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng với nhiều công trình khảo cứu về đồ gốm cũng như các thú chơi sách, chọi gà, Ông có một bút pháp độc đáo, duyên dáng,… mà vài thập kỉ của thế kỷ XX chưa

có nhà văn nào có thể so sánh được Ông được kính trọng trong giới văn học, sử

Trang 33

học, khảo cổ học Việt Nam Ông cũng là người có hiểu biết sâu rộng về vùng đất Nam Bộ đặc biệt là tiểu vùng Sài Gòn – Gia Định

Ông sinh ngày 27 tháng 9 năm Nhâm Dần (1902) nhưng trong giấy khai sinh lại ghi là ngày 04 tháng 01 năm 1904 (giờ Thìn) tại làng Xoài Cả Nả (tên Khmer), tức làng Đại Tâm, tỉnh Sóc Trăng Tên thật của ông là Vương Hồng Thạnh (hay Vương Hồng Thịnh) nhưng khi khai sinh, người viết sổ bộ nghe nhầm âm “Thạnh” (giọng Phước Kiến) nên viết trong giấy khai sinh thành “Sển” – Vương Hồng Sển Theo cách phát âm Hán – Việt, chữ (âm) “Sển” đọc đúng là

“Thạnh” Nguyên quán của ông là thôn Lâm Mễ, làng Quan Khảo, huyện Đồng

Ấn, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến (Trung Quốc), đến đời tổ phụ sang cư ngụ tại làng Khánh Hưng, tổng Nhiêu Khánh, tỉnh Nguyệt Giang (sau đổi thành Sóc Trăng)

Ông mang ba dòng máu: Việt, Hoa, Miên (cha là người Hoa – Việt, mẹ là người Miên).Thuở nhỏ, ông nổi tiếng là người thông minh, rất chăm ngoan nhưng tính tình có chút ngang bướng Năm 8 tuổi ông vào học trường Sơ học Khánh Hưng Năm 18 tuổi ông đậu bằng tiểu học (Primaire) Pháp – Việt Năm

1919, ông được cha đưa lên Sài Gòn học tại trường Collège Chasseloup Laubat, sau là trường Jean Jacques Rousseau (nay là trường Phổ thông trung học Lê Quý Đôn, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh) Năm 1923, ông thi đỗ Brevet – Elementaire (18 – 06 – 1923) và bằng Thành Chung (diplôme d’etude Complementaires franco – in – digenes, 02 – 07 – 1923)

Năm 1923, ra trường đã được bổ chức Thư kí tại Trường Máy (L’Ecole des Mecannisiens Asiatique) đường Đỗ Hữu Vị - Sài Gòn (nay là trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng ở đường Huỳnh Thúc Kháng, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh) Năm hai mươi ba tuổi lấy vợ - Nguyễn Thị Th (do cụ Vương Hồng Sển viết tắt tên bà vì có nỗi niềm riêng không muốn nói) nhưng chỉ ở với nhau chín tháng rồi li dị

Trang 34

Người vợ đầu tiên “dứt áo ra đi” để lại trong ông vết thương lòng khá lớn

Mãi một thời gian sau, ông mới mở lòng mình xây dựng hạnh phúc với “em

Tuyết” – bà Dương Thị Tuyết sắc nước hương trời, người mà trong các tập tùy

bút, tạp văn ông thường hay nhắc tới Bên cạnh đó, Tuyết là cháu nội của bà phủ

An giàu có nức tiếng ở Nam Kỳ thuở bấy giờ Năm 1928, hai người thành thân khi đó cô Tuyết vừa tròn 17 tuổi, ông 26 tuổi Hai người chung sống được 19 năm thì chia tay mà vẫn chưa có con Cũng vì những tật ham đọc sách, đọc quên

ăn quên ngủ, thậm chí có khi quên cả phận sự buồng the, cho nên hai phen bị cắm sừng, bị mất vợ cũng không phải lỗi hoàn toàn do người phụ nữ

Năm 1929, Vương Hồng Sển được chuyển về làm việc tại Tòa bố Sa Đéc đến hết năm 1932 Năm sau, chuyển về tùng sự tại Sở Địa bộ tỉnh lỵ Sóc Trăng Năm 1936, ông được thăng chức, đổi lên “đứng bàn ông chánh” (thông ngôn chánh Tòa bố) tỉnh Cần Thơ Hai năm sau, ông quay lại Sài Gòn làm việc ở phòng Dân sự Dinh Thống đốc Nam Kỳ Tại đây, cũng vì sự vô tình mà dẫn đến

sự say mê nghiên cứu văn hóa Sài Gòn qua một số tài liệu mà ông đọc được Cuối năm 1941, ông được biệt phái lên Đà Lạt tùng sự tại Dinh Toàn quyền Decoux với chức danh “thơ ký hạng nhứt” (Secretaire de premiere classe)

Năm 1943, Ông được đổi về quê làm việc trong Tòa bố tỉnh Sóc Trăng cho đến ngày hưu trí ngạch công chức Nam Kỳ thuộc Pháp Ông làm trong ngành hành chánh thuộc địa hai mươi năm, ông đã tám lần thi vào ngạch tri huyện nhưng đều hỏng (khi đậu thi viết thì hỏng vấn đáp, lúc đậu tập sự thì hỏng

lý thuyết) Khi về già, ngồi ngẫm lại cuộc đời đã qua, ông tự cho mình là “thằng

hư” và “cám ơn đời được thi rớt” nên khỏi mắc tội lương tâm vì đã làm việc

cho Pháp

Năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, ông được tổ chức Thanh niên tiền phong địa phương tiến cử làm Phó tỉnh trưởng Hành chánh tỉnh lỵ Sóc Trăng cho đến ngày Pháp tái chiếm Nam Bộ Mùa mưa năm 1947, khi chia tay “em Tuyết” ông rời Sóc Trăng lên Sài Gòn Nỗi buồn tiếp theo vây chặt lấy ông Ông giết thời

Trang 35

gian bằng cách lang thang ở các rạp hát Sài Gòn và bắt đầu tìm hiểu “em Năm

Sa Đéc” – một trong những nghệ sĩ lừng danh đi tiên phong trên sân khấu hát

bội, được giới chuyên môn và khán giả đương thời đánh giá là “thanh sắc lưỡng

toàn” Lúc này, cả hai đều có chung niềm đau vì tình cảm đổ vỡ, nên khi gặp

nhau, họ nhanh chóng đồng cảm, chia sẻ, cảm thương nhau và nhanh chóng kết duyên vợ chồng Năm 1947, hai người về chung sống trong căn nhà lá ọp ẹp, ở xóm cù lao trên đường Võ Di Nguy (nay là đường Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh) Cả hai gắn kết keo sơn đến hết phần đời còn lại Tuy nhiên, cái kiếp lận đận tình duyên không rời ông, bà Năm Sa Đéc ra đi trước ông khá lâu, để lại ông bơ vơ giữa dòng đời Theo lời ông kể lại trong di

cảo thì ông “không có duyên với đàn bà và có vẻ như không được đàn bà yêu

thương hết mực Cưới người vợ thứ nhứt chưa được một năm, bà này ngoại tình dẫn đến việc li dị Năm 1923, kết hôn với tuyệt sắc giai nhân Dương Thị Tuyết, sau 19 năm chung sống, người vợ thứ hai này cũng từ bỏ để đi lấy một người bạn (bạn của Vương Hồng Sển – người viết chú thích) Đến khi có được cuộc sống an bình với người vợ thứ ba là em Năm Sa Đéc thì em lại mất sớm” [95,

Sau ngày về hưu, ông được mời giảng một số chuyên đề văn học miền Nam và cổ ngoạn tại Đại học Văn khoa Sài Gòn và Huế

Ông mất ngày 09 tháng 12 năm 1996 tại tư gia (quận Bình Thạnh), hưởng thọ 94 tuổi, thi hài được đưa về an táng tại quê nhà Sóc Trăng trong sự thương tiếc của người dân Sài Gòn Ông và bà Năm Sa Đéc có một người con trai duy nhất là Vương Hồng Bảo Do bị người khác dụ dỗ nên Hồng Bảo làm ăn thua lỗ,

Trang 36

mắc nợ đến mức không có khả năng trả phải vào tù Sau đó, gia đình ông suy tàn dần Mười hai nhân khẩu gồm con dâu, cháu nội và cháu họ phải sống chen chúc trong ngôi nhà cổ xiêu vẹo ở số 9/1, đường Nguyễn Thiện Thuật, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cho đến tận bây giờ

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác

Cuộc đời học giả Vương Hồng Sển gắn liền với thế kỉ XX cùng bao thăng trầm lịch sử Ông không chọn thể loại truyện ngắn hay tiểu thuyết với những câu

từ dễ đi vào lòng người, dễ chiếm được cảm tình của độc giả mà ông chọn thể

ký để sáng tác Ông viết lại trên những trang giấy trắng những sự thật, những trải nghiệm, những kiến thức mà ông cóp nhặt được từ thực tế cuộc sống, đôi khi hơi lan man, khô khan nhưng ai đã từng tiếp xúc với các tác phẩm của ông đều thán phục về sự uyên bác và tài viết văn của ông Ông là người am hiểu nhiều lĩnh vực liên quan đến văn học – văn hóa Nam Bộ và là nhà cổ ngoạn có uy tín ở

Việt Nam Ông đến với đồ cổ là do cái duyên và như ông nói “đồ cổ có ma” nên

đã chiếm hầu như gần cả cuộc đời ông cho việc sưu tầm và ghi chép

Ông để lại cho thế hệ mai sau những tác phẩm văn học và khảo cứu có giá trị như:

Thú chơi sách (1960)

Sài Gòn năm xưa (1962)

Hồi kí năm mươi năm mê hát - năm mươi năm cải lương miền Nam (1968)

Phong lưu cũ mới (1970)

Thú xem truyện Tàu (1970)

Chuyện người cổ nhân (1971)

Trang 37

Sài Gòn tạp pín lù (1992)

Hơn nửa đời hư (1991)

Khảo đồ sứ từ Hậu Lê đến Nguyễn (1993)

Những đồ sứ do đi sứ mang về (1993)

Những đồ sứ khác (Quốc dụng – Ngự dụng …- 1993)

Tự vị tiếng Việt miền Nam (1994)

Nửa đời còn lại (1995)

Cuốn sách và tôi (di cảo – 2010)

Khám lớn Sài Gòn (di cảo – 2012)

Ăn cơm mới nói chuyện cũ: Hậu Giang Ba Thắc (di cảo – 2012)

Bên lề sách cũ (di cảo - 2012)

Tạp bút năm Giáp Tuất (di cảo – 2012)

Tạp bút năm Nhâm Thân (di cảo – 2012)

Tạp bút năm Quý Dậu (di cảo – 2012) và nhiều bản thảo khác…

Ông tự thuật: “Tôi từ nhỏ đã có tánh ham mê đọc sách Tôi cho sách là

bạn cố tri trung thành, nên khi đọc và lúc cao hứng, tôi thường ghi lại bên lề trang sách những cảm tưởng nhứt thời, không khác được tỉ tê tâm sự với một bạn cố giao bằng xương bằng thịt” Và ông luôn luôn mang trong mình cuốn sổ

tay để tiện ghi chép những điều mắt thấy tai nghe, những kiến thức hay, mới từ

tài liệu mà ông đọc được Nhà văn Sơn Nam đã từng nhận xét về ông: “Những

gì ông viết ra, có khi chỉ là chuyện lụn vụn “tào lao”, “loạn xà ngầu”, nhưng với những người đến sau, nó mang một giá trị to lớn, nó chất chứa niềm say mê

và quyến rũ” [89] Những nhà nghiên cứu hay những độc giả muốn tìm hiểu về

văn học – văn hóa, lịch sử miền Nam chắc hẳn sẽ tìm thấy trong các tác phẩm của ông những tư liệu có giá trị

Bên cạnh đó, ngay từ thưở bé ông cũng đã bộc lộ sở thích tìm tòi đồ cổ Ông từng thuật lại giai thoại: mẹ ông biết ông không thích ăn mắm Một hôm bà đem về một con mắm lóc nguyên và nói rằng đây là thứ mắm quý vì đã được giữ

Trang 38

mười năm Thế là vì tò mò, ông đã ăn thử và từ đó không sợ mắm nữa Công trình sưu tập của ông thu được 849 cổ vật khác nhau, chiếm số lượng nhiều nhất, độc đáo nhất là gốm sứ men lam ở thế kỉ XVII – XIX, ông đã tìm hiểu tư liệu và

đi thực tế điền dã để thu thập thông tin xác lập cơ sở nhằm xác định niên đại và phân loại một số đồ gốm sứ cũng như hướng dẫn một cách tỉ mỉ, dễ hiểu về những kỹ năng ban đầu đến với những người thích sưu tầm đồ cổ

Vương Hồng Sển từng là “Giáo sư diễn giảng” của Khoa khảo cổ học Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn Ngoài ra, học giả còn được mời đi tham dự các hội nghị về khảo cổ học ở một số nước châu Âu Giới chuyên môn đánh giá cao các công trình khảo cổ của ông Khi về hưu, ông chuyển từ nghiên cứu cổ vật sang khảo cứu về hát bội, cải lương, các loại trò chơi dân gian như: đá dế, chọi gà, chơi chim, trồng kiểng, chuyện tiếu lâm xưa nay, … và cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn với các bút hiệu như Vân Đường, Đạt Cổ Trai, Anh Vương

Vì dòng máu ham thích đồ cổ luôn chảy trong người nên ông không tiếc tiền của và công sức tạo dựng ngôi nhà theo ý mình Ông bỏ công tìm kiếm và mua lại nhà nguyên căn từ vùng Phú Xuân – Nhà Bè dời về số 9/1, đường Nguyễn Thiện Thuật, quận Bình Thạnh Ông chế tác thêm nhiều nét cổ xưa cho ngôi nhà bằng những vật liệu quý trên trăm năm tuổi Nếu ai một lần có vinh hạnh đặt chân vào ngôi nhà cổ kính này sẽ được chiêm ngưỡng những đồ vật có một không hai với những nét quyến rũ khác nhau, mở rộng tầm kiến thức khi được gia chủ kể những câu chuyện liên quan đến từng món đồ và cùng nhâm nhi tách trà ngon

Ngày 05 tháng 08 năm 2003, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành

quyết định xếp hạng ngôi nhà “Vân đường phủ” này thành di tích cấp thành phố

và là di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ dân dụng truyền thống Khi qua đời, học giả có ý niệm hiến tặng ngôi nhà và toàn bộ đồ cổ cho thành phố với hi vọng nơi

đây sẽ là “Bảo tàng Vương Hồng Sển” Tuy nhiên từ năm 1996, Sở Văn hóa

thông tin thành phố Hồ Chí Minh, với sự đồng ý của UBND thành phố đã dời

Trang 39

các cổ vật về trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử thành phố và Thư viện Khoa học tổng hợp Còn trơ lại ngôi nhà cổ không được bảo dưỡng, trơ trọi với nắng mưa nên theo thời gian đã bị xuống cấp trầm trọng Năm 2012, ngôi nhà đã bị chiếm dụng và bị biến thành quán ốc Ước mong của học giả giờ như hạt bụi bồng bềnh như lớp sương mờ hoài cổ

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Vương Hồng Sển đã chọn thể loại ký để gửi gắm những nét tinh hoa văn hóa Nam Bộ Những sự việc, nhân vật được ông nhắc đến bằng tất cả tấm lòng Ông sống gần trọn cả thế kỷ XX chứng kiến bao thăng trầm lịch sử Ngay cả chính bản thân học giả cũng lận đận cả về đường tình duyên lẫn công việc Cả cuộc đời làm việc không ngừng nghỉ đã cống hiến cho nền văn học Việt Nam một số lớn tác phẩm văn học và hàng loạt cổ vật quý hiếm.Ông ham học hỏi, trải nghiệm thực địa và được ông yêu thích sưu tầm đồ cổ Lịch sử hình thành vùng đất mới Sài Gòn được học giả trình bày rất cụ thể và có cơ sở khoa học Điều đó cho thấy được tinh thần và trách nhiệm đối với những trang viết của mình Chính vì vậy, ông không chỉ được biết đến là một nhà cổ ngoạn mà còn là nhà văn hóa Nam Bộ

Ngày đăng: 01/01/2021, 12:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w