Đánh giá của sinh viên về mức độ thể hiện đặc điểm nhân cách qua những yếu tố liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên .... Mặt khác, nếu trong quá trình học tập tại t
Trang 1Võ Ng ọc Hòa
ĐỘNG CƠ THÀNH ĐẠT
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ
LU ẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2Võ Ng ọc Hòa
ĐỘNG CƠ THÀNH ĐẠT
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, các kết quả nêu trong đề tài là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kì công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận văn
Trang 4L ỜI CÁM ƠN
Trân trọng cám ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh, quý Thầy (Cô) thuộc phòng Sau Đại học và Khoa Tâm lí học,
giảng viên hướng dẫn GS.TS Đoàn Văn Điều Đồng thời, xin trân trọng cám ơn
Ban Giám Hiệu, giảng viên và sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ đã tạo điều
kiện và nhiệt tình giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn
Trân trọng cám ơn và kính chào
Tác giả luận văn
Trang 5M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG CƠ THÀNH ĐẠT TRONG H ỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về động cơ 5
1.1.1 Những nghiên cứu về động cơ 5
1.1.2 Những nghiên cứu về động cơ thành đạt 8
1.2 Một số khái niệm chính sử dụng trong đề tài 11
1.2.1 Động cơ 11
1.2.2 Động cơ thành đạt 14
1.3 Lý luận về động cơ của con người 18
1.3.1 Đặc điểm của động cơ 18
1.3.2 Cấu trúc của động cơ 19
1.3.3 Phân loại động cơ 20
1.3.4 Vai trò của động cơ đối với hoạt động của con người 22
1.3.5 Quá trình hình thành và phát triển động cơ 23
1.4 Lý luận về động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên 24
1.4.1 Đặc điểm tâm lí của sinh viên 24
1.4.2 Cấu trúc của động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên 25
1.4.3 Biểu hiện của nhận thức, xúc cảm và hành vi của sinh viên có động cơ thành đạt cao trong học tập 26
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên 30
Trang 61.5.1 Những yếu tố khách quan 30
1.5.2 Những yếu tố chủ quan 32
Ti ểu kết chương 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN VÀ GIẢNG VIÊN V Ề ĐỘNG CƠ THÀNH ĐẠT TRONG HỌC TẬP C ỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ 35
2.1 Khái quát về trường Cao đẳng Cần Thơ 35
2.2 Tổ chức nghiên cứu 36
2.2.1 Công cụ nghiên cứu 36
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê 36
2.2.3 Mẫu chọn 37
2.3 Kết quả nghiên cứu 38
2.3.1 Đánh giá của sinh viên về động cơ thành đạt trong học tập 38
2.3.2 Đánh giá của giảng viên về động cơ thành đạt 61
2.4 Một số biện pháp nâng cao động cơ thành đạt trong học tập cho sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ 81
2.4.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 81
2.4.2 Các biện pháp nâng cao động cơ thành đạt trong học tập cho sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ 81
Ti ểu kết chương 2 84
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 89
Trang 7Bảng 2.6 Kết quả học tập của sinh viên trong học kỳ 1 vừa qua trong
năm học 2014 – 2015 (trên mẫu 594 sinh viên) 50
Bảng 2.7 Đánh giá của sinh viên về mức độ ảnh hưởng của những yếu tố
đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên 50
Bảng 2.8 Đánh giá của sinh viên về mức độ thể hiện đặc điểm nhân cách
qua những yếu tố liên quan đến động cơ thành đạt trong học
tập của sinh viên 54
Bảng 2.9 So sánh đánh giá của sinh viên về mức độ thể hiện đặc điểm
nhận cách qua những yếu tố liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo hệ đào tạo 55
Bảng 2.10 So sánh đánh giá của sinh viên về mức độ thể hiện đặc điểm
nhận cách qua những yếu tố liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo giới tính 56
Bảng 2.11 So sánh đánh giá của sinh viên về mức độ thể hiện đặc điểm
nhận cách qua những yếu tố liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo năm học 57
Trang 8Bảng 2.12 Đánh giá của sinh viên về mức độ ảnh hưởng của những yếu tố
liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên 58
Bảng 2.13 So sánh đánh giá của sinh viên về mức độ ảnh hưởng của
những yếu tố liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo hệ đào tạo 59
Bảng 2.14 So sánh đánh giá của sinh viên về mức độ ảnh hưởng của
những yếu tố liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo giới tính 60
Bảng 2.15 So sánh đánh giá của sinh viên về mức độ ảnh hưởng của
những yếu tố liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo năm học 60
Bảng 2.16 Đánh giá hiểu biết của giảng viên về động cơ thành đạt trong
học tập của sinh viên 62
Bảng 2.17 Đánh giá của giảng viên về mức độ thể hiện của động cơ thành
đạt trong học tập 63
Bảng 2.18 Đánh giá của giảng viên về tiêu chí thể hiện sinh viên thành
đạt trong học tập 67
Bảng 2.19 Đánh giá của giảng viên về mức độ quan trọng của kỹ năng thể
hiện động cơ thành đạt trong học tập 68
Bảng 2.20 Đánh giá của giảng viên về mức độ hình thành các kỹ năng thể
hiện động cơ thành đạt trong học tập 70
Bảng 2.21 Đánh giá của giảng viên về mức độ ảnh hưởng của những yếu
tố đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên 72
Bảng 2.22 Đánh giá của giảng viên về mức độ thể hiện yếu tố đặc điểm
nhân cách liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên 76
Trang 9Bảng 2.23 So sánh đánh giá của giảng viên về mức độ thể hiện yếu tố đặc
điểm nhân cách liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo giới tính 77
Bảng 2.24 So sánh đánh giá của giảng viên về mức độ thể hiện yếu tố đặc
điểm nhân cách liên quan đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo thâm niên 78
Bảng 2.25 Đánh giá của giảng viên về mức độ ảnh hưởng của những yếu
tố đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên 79
Bảng 2.26 So sánh đánh giá của giảng viên về mức độ ảnh hưởng của
những yếu tố đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo giới tính 79
Bảng 2.27 So sánh đánh giá của giảng viên về mức độ ảnh hưởng của
những yếu tố đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo thâm niên 80
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ XI đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, trong đó giáo dục - đào tạo được coi là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, là điều kiện
để phát huy nguồn lực con người Giáo dục - đào tạo phải đi trước một bước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội [3] Tư tưởng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã khẳng định: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm thì phải trồng người” Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu khẳng định
quan điểm nhất quán của Đảng về vai trò của giáo dục và đào tạo: “Muốn tiến
tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” [22]
Việc chọn ngành, chọn nghề và chọn trường của học sinh cuối bậc phổ thông trung học được xem là vấn đề cấp thiết và được quan tâm rất nhiều Với lý tưởng học tập để lập thân lập nghiệp, thực hiện nghĩa vụ công dân là góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc Thực tế giáo dục Đại học, Cao đẳng cho
thấy, đại bộ phận sinh viên - học sinh sau khi chọn và theo học một trường Đại
học, Cao đẳng nào đó thì họ thường gắn bó, tâm huyết, dành nhiều thời gian và công sức, tài chính để theo đuổi sự lựa chọn của mình Nếu sự lựa chọn ấy dựa trên động cơ tích cực, phù hợp với nhu cầu, sở thích, khả năng và điều kiện của
bản thân thì động cơ đó sẽ có tác dụng thúc đẩy cá nhân tích cực, chủ động sáng
tạo, lạc quan, say sưa học tập, nghiên cứu, rèn luyện trong quá trình học ở trường Ngược lại, nếu động cơ chọn ngành, chọn nghề và chọn trường không phù hợp với những yếu tố trên, động cơ theo học ngành, học trường chưa rõ ràng, cảm tính có thể dẫn đến những thiệt hại của cá nhân và gia đình về thời
Trang 11gian, công sức và tiền bạc, đồng thời gây lãng phí cho cơ sở đào tạo và xã hội
Mặt khác, nếu trong quá trình học tập tại trường, sinh viên có khát vọng thành đạt trong học tập và xúc cảm liên quan đến thành tích học tập của họ, điều đó sẽ thúc đẩy sinh viên cố gắng nỗ lực trong mọi hoạt động và muốn trở thành những người dẫn đầu, luôn luôn được thầy cô và bạn bè yêu quý
Trường Cao đẳng Cần Thơ được thành lập ngày 08/09/1976 và hiện tại trường có hai nhóm ngành đào tạo là sư phạm và ngoài sư phạm với 25 mã ngành đào tạo Trong tình hình mới tại thành phố Cần Thơ, nhiều trường Đại
học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp được thành lập và đưa vào hoạt động
Sự cạnh tranh trong việc xây dựng thương hiệu, uy tín đối với người học và xã
hội ngày càng tăng Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên đóng vai trò
rất quan trọng trong việc nỗ lực thực hiện nhiệm vụ học tập của sinh viên Hình thành và phát triển động cơ thành đạt trong học tập cho sinh viên là góp phần tạo nên sức mạnh tinh thần giúp sinh viên thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động học tập
của bản thân nhằm hướng tới sự thành công trong học tập và cuộc sống
Chất lượng dạy học ở trường Cao đẳng Cần Thơ phụ thuộc vào nhiều yếu
tố Trong đó, yếu tố tích cực của người học giữ vai trò quyết định Thực tiễn
giảng dạy trên lớp cho thấy, một bộ phận không nhỏ sinh viên chưa có thái độ tích cực, nghiêm túc trong học tập, biểu hiện như: thường xuyên đi trễ, nghỉ học nhiều, hay nói chuyện và sử dụng điện thoại không đúng mục đích trong giờ
học, chưa tích cực trong thực hiện các nhiệm vụ học tập của nhóm, còn đùng đẩy trách nhiệm cho nhau,… Do đó, việc tìm hiểu động cơ thành đạt trong học
tập của sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ, từ đó làm cơ sở đề xuất một số biện pháp thúc đẩy động cơ thành đạt trong học tập cho sinh viên và cải thiện tình hình bỏ học của sinh viên trường là vấn đề nghiên cứu cấp thiết hiện nay
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Động cơ thành đạt trong học tập
c ủa sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ” để nghiên cứu
Trang 122 M ục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ từ đó, đề xuất một số biện pháp thúc đẩy động cơ thành đạt trong học tập cho sinh viên trường
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về động cơ, động cơ thành đạt trong
học tập của sinh viên để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
3.2 Khảo sát thực trạng đánh giá của sinh viên và giảng viên về động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên tại trường Cao đẳng Cần Thơ, từ đó xuất
một số biện pháp thúc đẩy động cơ thành đạt trong học tập cho sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ
4.2 Khách th ể nghiên cứu
- Khách thể chính: Sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ
- Khách thể bổ trợ: Giảng viên trường Cao đẳng Cần Thơ
5 Gi ả thuyết khoa học
- Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ chưa dựa trên cơ sở đánh giá một cách đúng đắn về đặc điểm bản thân đối với ngành học
- Có sự khác biệt về động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ xét trên bình diện ngành học và niên khóa
- Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ
chịu tác động của các yếu tố chủ quan cao hơn các yếu tố khách quan
6 Gi ới hạn về nội dung và phạm vi nghiên cứu
6.1 V ề nội dung nghiên cứu
Trang 13Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ và
những biện pháp thúc đẩy động cơ thành đạt trong học tập cho sinh viên trường
Cao đẳng Cần Thơ
6.2 V ề khách thể người được nghiên cứu
- Khảo sát trên 594 sinh viên, trong đó 300 sinh viên thuộc ngành sư phạm,
294 sinh viên thuộc ngành ngoài sư phạm
- Khảo sát 61 giảng viên qua đó tìm hiểu thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên trường Cao đẳng
Cần Thơ
6.3 Địa bàn nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu tại trường Cao đẳng Cần Thơ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp này trong việc phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu lý luận, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ
đó, xây dựng cơ sở lý luận và biện pháp thúc đẩy động cơ thành đạt trong học
tập cho sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phương pháp này để
trưng cầu ý kiến của giảng viên, sinh viên nhằm thu thập những thông tin về
thực trạng động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phương pháp này để trao đổi với
sinh viên để tìm hiểu thêm những vấn đề có liên quan đến thực trạng
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Dùng phương pháp này trong việc xử lý số liệu thu được từ quá trình nghiên cứu thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS for win, phiên bản 13.0
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG CƠ THÀNH ĐẠT
TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề về động cơ
1.1.1 Nh ững nghiên cứu về động cơ
1.1.1.1 Những nghiên cứu về động cơ ở nước ngoài
Trong Tâm lí học, lĩnh vực động cơ của nhân cách là lĩnh vực khá phức tạp
và khó xác định nhất Các nhà Tâm lí học đã khẳng định vai trò đặc biệt quan
trọng của hoạt động trong sự hình thành, phát triển và thể hiện nhân cách của con người, đặc biệt là vai trò của hoạt động có đối tượng Đối tượng của hoạt động chính là động cơ Có nhiều quan điểm thuộc các trường phái Tâm lí học khác nhau nghiên cứu về động cơ, cụ thể:
Quan niệm của một số nhà Tâm lí học Phương Tây cho rằng động cơ bao
gồm nhân tố chủ quan bên trong con người nhằm đáp lại các kích thích từ phía khách quan của hoàn cảnh
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, E Thorndike, nhà Tâm lí học động vật,
tiền thân của chủ nghĩa hành vi cho rằng: “Động cơ là những kích thích hướng hành vi đạt kết quả” [2]
R Woodworth vào những năm 60 của thế kỷ trước trong bài: “Lý thuyết đầu tiên về động cơ hành vi” đã phê phán học thuyết về nhu cầu cơ thể coi động
cơ mang tính bản năng Ông cho rằng, con người có những hứng thú đặc biệt, nhưng không phải chúng xuất hiện do những nhu cầu cơ thể mang tính bản năng, mà xuất phát từ các hành động của con người qua các trải nghiệm Việc
thỏa mãn nhu cầu công việc không chỉ do kết quả của công việc mang lại mà còn nảy sinh từ trong quá trình thực hiện công việc Kích thích hoạt động của con người có tính chuyên biệt, mang tính người, không hoàn toàn thuộc về bản năng mà nó xuất hiện và thể hiện trong quá trình con người tích cực hoạt động trong môi trường tự nhiên và xã hội [2, tr.22]
Trang 15Carl Rogers vào những năm 60 trong cuốn “Tiến trình thành nhân” đã nêu lên vấn đề về động lực học tập Ông cho rằng: Động lực thôi thúc sự học hỏi
xuất phát từ sự thể hiện nhân cách người học, hướng vào tiềm năng phát triển đưa đến sự tăng trưởng bản thân trong tiến trình thành nhân, trong đó người học
thật sự đối đầu với những vấn đề do cuộc sống đặt ra, mong muốn học hỏi tiếp, mong muốn trưởng thành, hy vọng thành công và khát khao sáng tạo” [2]
Theo các nhà Tâm lí học hoạt động, có các đại diện như: L.X Vưgôtxki, X.L Rubinstein, A.N Lêônchiev Ngay từ những năm 40 của thế kỷ XX, dưới ánh sáng của quan điểm xã hội lịch sử trong Tâm lí học do L.X Vưgôtxki đề xướng những nguyên tắc thống nhất ý thức và hoạt động do X.L Rubinstein nêu lên, A.N Lêônchiev đã đi sâu nghiên cứu “những vấn đề phát triển tâm lí”, trong đó A.N Lêônchiev khẳng định: “Sự hình thành nhân cách con người, biểu
hiện về mặt tâm lí trong sự phát triển mặt động cơ của nhân cách” EV Shôrôkhôva cho rằng: “Muốn giải quyết nhiệm vụ thực tiễn về giáo dục con người, tâm lí học cần nghiên cứu sự phát triển động cơ của nhân cách”
Khi nói về động cơ hoạt động của con người, các nhà Tâm lí học đã chú ý đến kích thích cảm xúc chủ quan ảnh hưởng tới hoạt động Đối với chủ thể, động cơ của nó là động lực kích thích trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành vi [24, tr.124]
Quan điểm của L.I Bôzhôvich, ngay từ những năm 1951 của thế kỷ XX, L.I Bôzhôvich cho rằng: Một hoạt động có mục đích phải được kích thích bằng
những động cơ phù hợp Ông đã kết luận: “Sự thúc đẩy đi đến hành động của
chủ thể luôn luôn xuất phát từ nhu cầu, còn đối tượng thỏa mãn nhu cầu chỉ quyết định tính chất và phương hướng của hoạt động” [33, tr.6]
Quan điểm của D Brown (1994) khi nghiên cứu về động cơ hoạt động của con người Theo ông, nếu hoạt động không có động cơ thúc đẩy thì nó sẽ trở nên
trễ nải, kém nhiệt tình và việc đạt kết quả sẽ trở nên khó khăn Ông khẳng định:
“Động cơ hoạt động chính là sự khác biệt giữa thành công và thất bại Nếu hoạt
Trang 16động của con người có động cơ thúc đẩy, họ sẽ đạt được kết quả mong muốn và
nếu không có động cơ họ sẽ không đạt kết quả gì”
Đến đây, có thể nêu lên một vài nhận xét mang tính khái quát về quan điểm
của các nhà Tâm lí học hoạt động về động cơ như sau:
+ Động cơ hoạt động của con người có mối quan hệ biện chứng với hiện
thực khách quan
+ Ngoài ra, động cơ hoạt động còn có mối liên hệ mật thiết với nhu cầu
của chủ thể
1.1.1.2 Các nghiên cứu về động cơ ở trong nước
Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về động cơ, có thể kể đến:
- Đặng Xuân Hoài, “Động cơ và nhân cách”, (1976), trong các công trình nghiên cứu của mình ông tập trung nghiên cứu sâu về vấn đề động cơ nhân cách
- Trịnh Quốc Thái trong luận án tiến sĩ (1996): “Nghiên cứu động cơ học
tập của học sinh học lớp một dưới sự ảnh hưởng của phương pháp nhà trường”
đã đưa ra kết luận: Hoạt động học tập của các nhóm học sinh lớp một đều được thúc đẩy bởi một hệ thống những động cơ có nội dung phong phú và đa dạng
Những động cơ này không tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ, rời rạc mà chúng được sắp xếp theo một thứ bậc nhất định: có động cơ chiếm ưu thế, có những động cơ giữ vai trò thứ yếu tạo thành một cấu trúc động cơ học tập từ khi các em
bắt đầu tiến hành hoạt động học tập [33, tr.8]
Ngoài ra, có rất nhiều tác giả nghiên cứu đề tài có liên quan đến động cơ nói chung, động cơ học tập nói riêng Trong đó, có nhiều nghiên cứu sinh Việt Nam đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ Tâm lí học ở Liên Xô trước đây vào những năm 80 của thế kỷ XX như [2, tr.26]:
- Đỗ Mộng Tuấn, “Động cơ hoạt động của học sinh trong học tập và ảnh hưởng của việc tổ chức hoạt động đến động cơ” (1980)
Trang 17- Nguyễn Kế Hào, “Đặc điểm của cấu trúc động cơ hoạt động học tập trong
sự phụ thuộc vào các kiểu khái quát tài liệu học tập” (1981)
- Phạm Thị Đức, “Những điều kiện tâm lí của việc hình thành động cơ
nhận thức trong hoạt động học tập của học sinh thiếu niên” (1988)
Ngoài ra, một số nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ Tâm lí học về động cơ học tập ở các Viện nghiên cứu và Trường Đại học ở Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ XX, như:
- Trịnh Quốc Thái, “Nghiên cứu động cơ học tập của học sinh lớp 1 dưới ảnh hưởng của phương pháp nhà trường” (1996)
- Lê Xuân Tiến, “Động cơ học tập của học sinh lớp 5” (1997)
- Trần Thị Thìn, “Động cơ học tập của sinh viên sư phạm” (2004)
Trong những năm gần đây, trên bình diện thực tiễn, nhiều tác giả Việt Nam
đã tiến hành nghiên cứu vấn đề động cơ học tập của học sinh, sinh viên, đặc biệt chú ý quan điểm phát triển động cơ học tập qua việc tổ chức quá trình học tập ở người học
1.1.2 Nh ững nghiên cứu về động cơ thành đạt
Nghiên cứu về động cơ thành đạt không thể không kể đến John Atkinson
và David McClelland, đặc biệt trong cuốn sách “Động cơ thành đạt” (1953) John Atkinson và David McClelland hiểu động cơ thành đạt và nhu cầu thành đạt là hai phạm trù đồng nhất McClelland đưa ra hệ thống nhu cầu có liên quan đến nhau: nhu cầu quyền lực, nhu cầu liên minh và nhu cầu thành đạt Ông cho
rằng, những người có nhu cầu cao về quyền lực sẽ quan tâm nhiều đến việc tạo
sự ảnh hưởng đến những người khác Họ luôn cố gắng và theo đuổi sự phấn đấu
để có quyền lực ngày càng cao Họ luôn là người quyết đoán trong mọi công
việc Ngoài nhu cầu về quyền lực thì nhu cầu liên minh cũng được họ xem
trọng, họ thường tìm thấy niềm vui khi được hoạt động trong nhóm Họ thích tạo
dựng những mối quan hệ tốt đẹp, thân thiện và sẵn sàng giúp đỡ người khác khi
Trang 18họ yêu cầu Hơn hết là họ có nhu cầu thành đạt cao, luôn mong muốn đạt thành công trong công việc, do đó họ thường đưa ra mục tiêu có độ khó vừa phải và nỗ
lực thực hiện chúng Ba loại nhu cầu này có mối liên hệ mật thiết với nhau [13, tr.15]
John Nicholls (1984) cho rằng: động cơ thành đạt của cá nhân là một cách
thức thể hiện, chứng minh năng lực của bản thân đối với những người xung quanh Điều này có nghĩa là, cần có sự so sánh kết quả thực hiện công việc giữa các cá nhân với nhau Nếu công việc tạo ra sự cạnh tranh giữa người với người thì kết quả sau cùng sẽ cho thấy sự khác nhau giữa họ và người có động cơ thành đạt cao thường có xu thế chọn những công việc phù hợp với năng lực của
bản thân nhằm đảm bảo thành công Do đó, người làm việc trong điều kiện có sự
so sánh kết quả công việc với người khác là cơ sở để xuất hiện sự ganh đua và động cơ thành đạt [13, tr.16]
Từ nghiên cứu về động cơ thành đạt, David McClelland (1964) đã mô tả 3 đặc điểm của người thành đạt như sau:
+ Người thành đạt thích những tình huống khó khăn đòi hỏi cá nhân phải tìm ra các biện pháp khắc phục những tình huống khó khăn đó
+ Người thành đạt có xu hướng đặt ra những mục tiêu hợp lý và chọn
những công việc mà khả năng có thể biết được kết quả thực hiện như thế nào
+ Người thành đạt muốn nhận được đánh giá từ người khác về công việc mình đã thực hiện
Các nghiên cứu của Lipman – Blumen và các cộng sự vào năm 1983 đã đưa ra 3 kiểu người thành đạt, cụ thể [13, tr.16]:
+ Kiểu trực tiếp: Kiểu người này biết dựa vào khả năng của bản thân để
xử lý tình huống một cách trực tiếp và đạt kết quả
+ Kiểu phương tiện: Kiểu người này phải dựa vào sự giúp đỡ của người khác mới giải quyết được vấn đề của mình
Trang 19+ Kiểu quan hệ: Là kiểu người đạt sự thành công thông qua sự kết hợp với
những người khác
1.1.2.2 Những nghiên cứu về động cơ thành đạt ở trong nước
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên
rằng: Nhu cầu thành đạt của sinh viên có ảnh hưởng tới tính tích cực học tập của
họ Sự ảnh hưởng đó phụ thuộc vào tính cấp thiết của nhu cầu, vào thông tin về
khả năng thỏa mãn nhu cầu và điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện nhu
cầu đó [13, tr.17]
- Lã Thị Thu Thủy, “Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của tri thức trẻ” (2006) Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều điểm khác biệt giữa những người có nhu cầu thành đạt cao và những người có nhu cầu thành đạt thấp Nghiên cứu còn chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa nhu cầu thành đạt nghề nghiệp với các yếu
tố tâm lí cá nhân và các yếu tố tâm lí xã hội [13, tr.17]
- Lê Thị Thanh Hương và các cộng sự, “Động cơ thành đạt của thanh niên
hiện nay” (2008) Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã đề xuất mô hình cấu trúc của động cơ thành đạt gồm 5 thành tố: nhận thức, mong muốn, xúc cảm, nỗ
lực ý chí và mục đích vươn tới của con người Đề tài đã xác định một số đặc điểm của động cơ thành đạt trong thanh niên hiện nay như: động cơ thành đạt
của họ tương đối cao, trong đó hai mặt nhận thức và xúc cảm thể hiện rõ nét
nhất; mức độ nỗ lực của ý chí tuy cao nhưng chưa bền vững; mục đích vươn tới thành công nổi trội hơn mục đích né tránh thất bại,… [13, tr.18]
Trang 20- Vũ Bích Hạnh, “Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên khoa Tâm
lí học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”, luận văn Thạc sĩ (2010)
Kết quả nghiên cứu lý luận về động cơ thành đạt trong học tập tác giả đã chỉ ra
cấu trúc của động cơ thành đạt trong học tập gồm hai thành phần: phần nội dung
và phần lực của động cơ thành đạt trong học tập; tác giả còn chỉ ra động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên được biểu hiện ở ba mặt: nhận thức, xúc
cảm và hành động ý chí; các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên Kết quả về mặt thực tiễn cũng cho thấy động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên khoa Tâm lí học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn xét cả ba mặt: nhận thức, xúc cảm và hành động ý chí phần đông chỉ đạt ở mức trung bình [13]
- Trần Thị Thu Mai, “Nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp của giảng viên
trẻ Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” (2013)
Tóm lại, vấn đề động cơ thành đạt ở Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt dưới góc độ Tâm lí học Các công trình nghiên cứu về động cơ thành đạt phần nhiều tập trung vào các luận văn, luận án Trong khi đó, việc nghiên cứu về động cơ thành đạt có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực
tiễn trong giai đoạn phát triển hiện nay
1.2 M ột số khái niệm chính sử dụng trong đề tài
1.2.1 Động cơ
Động cơ là một thuật ngữ dùng để chỉ một quá trình tâm lí có thể khơi dậy, điều khiển và duy trì hành vi nhất định nào đó Có nhiều cách tiếp cận khái niệm động cơ như: sinh lý, hành vi, nhận thức và xã hội Theo các thuyết khác nhau, động cơ có thể bắt nguồn từ một nhu cầu cơ bản nào đó, có thể là nhu cầu sinh
lý, nhu cầu tinh thần Trong thực tế, nói tới động cơ là nói tới một sức mạnh (động lực) thúc đẩy con người hoạt động Sức mạnh thúc đẩy trên về cơ bản được phát sinh từ hệ thống nhu cầu nội tại của con người theo thứ tự ưu tiên thứ
Trang 21bậc (theo mô hình của A Maslow), tiếp đến được xuất phát từ tác động của yếu
tố bên ngoài xã hội [2]
Vào năm 1926, L.X Vưgôtxki đã đề xuất phải xây dựng “một khoa học về hành vi con người” Ông đề xuất nghiên cứu hành vi con người trong mối quan
hệ con người với thực tại xung quanh Mặc dù chưa đề cập đến động cơ thúc đẩy hành vi con người, nhưng Vưgôtxki đã xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp
luận làm nền tảng cho hàng loạt công trình nghiên cứu về động cơ sau này
- A.N Leonchiev, khi bàn về khái niệm động cơ đã đưa ra những ý tưởng
cơ bản như sau:
a) Động cơ và nhu cầu là hai hiện tượng tâm lí gắn bó chặt chẽ với nhau; b) Động cơ chính là đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã được chủ
thể tri giác, tưởng tượng, tư duy,… Đó là sự phản ánh chủ quan về đối tượng
thỏa mãn nhu cầu;
c) Động cơ có chức năng thúc đẩy và định hướng hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu
Như vậy, theo A.N Leonchiev, giữa động cơ và nhu cầu có mối quan hệ
với nhau và hoạt động là phương thức để con người thỏa mãn nhu cầu của mình [4, tr.130]
B.Ph Lomov cho rằng: Nhu cầu có quan hệ mật thiết với động cơ và chúng
ta không thể tách biệt nhu cầu và động cơ Vì thế, khi nghiên cứu động cơ phải nghiên cứu động cơ trong mối liên hệ với nhu cầu Theo ông, động cơ là sự biểu
hiện chủ quan của nhu cầu và ngược lại, nhu cầu là cơ sở của động cơ “Sự thay đổi những động cơ này chỉ xảy ra khi có thay đổi cơ bản về hoàn cảnh sống và
hoạt động cá nhân trong xã hội” [33, tr.24]
Theo X.L Rubinstêin, “Động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành vi
của con người bởi thế giới Sự quy định này được thực hiện gián tiếp bằng quá trình phản ánh động cơ đó Thông qua động cơ của mình con người liên hệ với
bối cảnh hiện thực” [33, tr.24]
Trang 22Trong tâm lí học Việt Nam cũng có những cách định nghĩa khác nhau về động cơ Các công trình nghiên cứu về động cơ đã được các nhà nghiên cứu đề
cập ở nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau, cụ thể:
Trong Từ điển tiếng Việt (2007), thuật ngữ “động cơ” giải thích nghĩa thứ
nhất trong kỹ thuật “máy phát động, máy có sức kéo”, nghĩa thứ hai “lý do, nguồn gốc, sức thúc đẩy”, phần nào có thể vận dụng vào Tâm lí học: động cơ
khởi đầu của bộ máy tâm lí, nhưng chưa nói tới “nguồn gốc”, “thúc đẩy” nhằm
tới đâu Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2000) đã định nghĩa “động cơ” là nguyên nhân hay mục đích thúc đẩy hành động, gần với Tâm lí học: “động cơ”
gắn liền với “mục đích” [2, tr.15]
Theo Vũ Dũng (Từ điển Tâm lí học, 2008), khái niệm động cơ được xác định là: a) Các kích thích thúc đẩy hành động Các kích thích này liên quan đến
việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể Đó là tập hợp các điều kiện bên trong
và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và định hướng cho tính tích cực đó; b) Đối tượng (vật chất hay tinh thần) thúc đẩy và xác định sự
lựa chọn xu hướng của hoạt động được thực hiện để đạt được đối tượng đó; c) Nguyên nhân được nhận thức là cơ sở của sự lựa chọn các hành động hay hành
vi của cá nhân [7, tr.182]
Khái niệm này cho thấy, động cơ của con người bao gồm các kích thích thúc đẩy hành động và kích thích đó có liên quan đến nhu cầu của chủ thể đồng
thời khơi dậy tính tích cực và định hướng hoạt động của cá nhân
Tác giả Dương Thị Diệu Hoa (2008) cho rằng: “Động cơ là lực hấp dẫn của đối tượng, cuốn hút chủ thể đến với nó, nhằm thỏa mãn một nhu cầu đã được
“hóa thân” trong đối tượng đó” [14, tr.44]
Nói tóm lại, trong tâm lí học có nhiều định nghĩa về động cơ, mỗi định nghĩa tuy khác nhau nhưng đều thống nhất động cơ được hiểu là những cái được con người phản ánh và trở thành lực thúc đẩy bên trong, định hướng hoạt động
Trang 23của con người vào những đối tượng nhất định, nhằm thỏa mãn những nhu cầu
đó
Dưới góc độ Tâm lí học, động cơ được hiểu là cái được con người phản ánh và trở thành động lực thúc đẩy bên trong, định hướng hoạt động của con người vào những đối tượng nhất định, nhằm thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng của con người
Từ những nghiên cứu về khái niệm động cơ nêu trên, khái niệm động cơ
được sử dụng cho đề tài nghiên cứu là: “Động cơ là cái thúc đẩy hành động,
g ắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ điều kiện bên trong và bên ngoài có kh ả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó” [2, tr.254]
1.2.2 Động cơ thành đạt
D McClelland và J Atkinson (1953) cho rằng: “động cơ thành đạt là sự
khao khát vươn tới thành công” Hai tác giả này quan niệm động cơ thành đạt
bao giờ cũng xuất phát từ một nhu cầu vươn tới sự thành công ở mức độ cao Nhu cầu này thúc đẩy cá nhân tiến hành các hành động tương ứng để thoả mãn nhu cầu đó
Theo James V McConnell quan niệm: “động cơ thành đạt là sự khát khao
ganh đua vươn tới những thành thạo và điêu luyện trong công việc” Ông cho
rằng: sự ganh đua vươn tới sự điêu luyện, thành thạo trong công việc là bản chất
của động cơ thành đạt Khi thực hiện một nhóm công việc có tính chất gần giống nhau, nếu các cá nhân có mong muốn thực hiện công việc tốt hơn những người còn lại thì khi đó họ đã có động cơ thành đạt [13, tr.31]
Từ đây, chúng tôi cho rằng: sự thành thạo và điêu luyện trong công việc được thể hiện ở chỗ cá nhân thực hiện công việc một cách trôi chảy, không vấp váp; hoặc nếu có vấp váp thì cá nhân đó cũng tìm ra cách thức để vượt qua được ngay
Trang 24Lê Thị Thanh Hương cùng các cộng sự trong nghiên cứu của mình đã đưa
ra cách hiểu về động cơ thành đạt như sau: “Động cơ thành đạt là động cơ thôi thúc con người vươn tới sự điêu luyện, thành thạo trong công việc với kết quả cao nhất Động cơ thành đạt có tính khái quát cao thể hiện như một nhân cách” [13, tr.31] Từ đó, có thể khẳng định rằng: Người thành thạo và điêu luyện trong công việc là người có tri thức vững vàng trong một loại công việc nào đó, có kỹ năng thực hiện công việc được phát triển ở trình độ cao, nhờ vậy mà họ thực
hiện công việc một cách trôi chảy, không vấp váp, nếu có vấp váp thì họ cũng
nỗ lực vượt qua để công viêc đạt được kết quả cao
Để có được sự thành thạo và điêu luyện trong công việc đòi hỏi trong quá trình hành động theo hướng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải
trải qua quá trình luyện tập kiên trì, lâu dài, vượt qua nhiều nấc thang từ thấp đến cao của sự thành đạt và điêu luyện Vì vậy, động cơ thành đạt cũng phát triển từ mức độ thấp tới mức độ cao [13, tr.32]
Từ những kết quả trình bày trên, tôi đồng tình với khái niệm về động cơ
thành đạt trong học tập do tác giả Vũ Bích Hạnh trình bày như sau: “Động cơ
thành đạt là sức mạnh tinh thần, bắt nguồn từ nhu cầu hoàn thành xuất sắc nhi ệm vụ đặt ra với kết quả cao nhất nhờ có được sự thành thạo, điêu luyện trong nh ững hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu đó [13, tr.32]
1 2.3 Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên
Cũng như động cơ thành đạt nói chung, động cơ thành đạt trong học tập
của sinh viên cũng phát triển dần dần từ mức độ thấp đến mức độ cao Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt trong đặc điểm nhân cách của cá nhân có động cơ thành đạt thấp với cá nhân có động cơ thành đạt cao Một số đặc điểm nhân cách của sinh viên có động cơ thành đạt trong học tập như sau [13, tr.33]:
qua những tình huống cạnh tranh hay thể hiện được khả năng của mình Những sinh viên này thường tích cực tham gia những cuộc thi năng khiếu, tài năng liên
Trang 25quan đến học tập do nhà trường tổ chức Trong lớp học, các sinh viên này tích
cực tham gia xây dựng bài, thuyết trình hoặc tranh luận với thầy cô, bạn bè về
những vấn đề trong học tập Ngược lại, sinh viên có động cơ thành đạt thấp trong học tập thường né tránh những tình huống thể hiện khả năng học tập của mình
khi đã hoàn thành công việc, đạt được thành công và làm việc chăm chỉ hơn khi
họ thất bại, trong khi những sinh viên có động cơ thành đạt thấp thì ngược lại
- Ba là, sinh viên có động cơ thành đạt cao trong học tập thường đạt được
thứ bậc cao nhất trong những môn học liên quan đến nghề nghiệp mà họ lựa
chọn, họ thường chiếm những vị trí hàng đầu trong lớp học Những sinh viên này xác định việc học tập của mình tại trường Cao đẳng, Đại học là nhằm có được công việc phù hợp với ngành học của mình trong tương lai nên họ rất tích
cực rèn luyện các kỹ năng trong các môn học liên quan trực tiếp đến công việc sau này Chính vì vậy, họ nỗ lực cao để khắc phục những khó khăn gặp phải trong quá trình học tập, kiên định đạt được mục đích học tập đã đề ra
thành đạt cao trong học tập thường chọn những nhiệm vụ học tập có mức độ khó khăn hợp lý, có thể thất bại nhưng cũng có cơ hội đạt được thành công Nói cách khác, sinh viên có động cơ thành đạt cao trong học tập thích đặt ra những nhiệm
vụ học tập có mức khó khăn, phức tạp nhưng có thể thực hiện được nếu họ cố
gắng hết sức mình, còn sinh viên có động cơ thành đạt thấp thì ngược lại
sự phản hồi từ những việc mình làm, họ đối mặt với thất bại một cách kiên trì,
mạnh mẽ Những sinh viên có động cơ thành đạt thấp trong học tập thường né tránh những lời nhận xét về năng lực học tập của mình, thường tỏ thái độ khó
chịu với những lời nhận xét đó Không như những sinh viên có động cơ thành đạt thấp, những sinh viên có động cơ thành đạt cao trong học tập sẵn sàng tiếp
Trang 26nhận những nhận xét, đánh giá, bàn luận từ người khác về việc học tập của mình Từ đó, họ có sự điều chỉnh theo cách tối ưu nhất nhằm tạo ra những thành công tốt hơn trong học tập của mình sau này
sáng tạo hơn khi giải quyết vấn đề, tình huống xảy ra trong quá trình học tập Họ năng động, linh hoạt trong cách thức sử dụng các công cụ, phương tiện học tập
nhằm tạo ra môi trường học tập thuận tiện nhất, đạt được hiệu quả học tập cao
nhất Ngược lại, sinh viên có động cơ thành đạt thấp trong học tập thường cứng
nhắc trong giải quyết nhiệm vụ học tập Họ không thường tìm tòi, khám phá các cách giải quyết mới để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra
thành công của họ là do năng lực và sự cố gắng của chính bản thân mình Họ không tin những thành công của mình là hoàn toàn do yếu tố may mắn, ngẫu nhiên từ bên ngoài mà chủ yếu là từ sự cố gắng, nỗ lực của chính bản thân họ
Những sinh viên có động cơ thành đạt thấp trong học tập thường tin tưởng vào
yếu tố may mắn, ngẫu nhiên đối với kết quả học tập của họ hơn là vào khả năng
của chính mình
Dựa trên quan niệm về sự khác biệt trong đặc điểm nhân cách của cá nhân
có động cơ thành đạt nêu trên, tôi đồng tình với khái niệm về động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên theo cách trình bày của tác giả Vũ Bích Hạnh như sau: “Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên là sức mạnh tinh thần,
n ảy sinh từ nhu cầu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập ở Cao đẳng, Đại
h ọc do cá nhân đã đề ra từ đầu nhờ có sự thành thạo và điêu luyện trong các hành động học tập nhằm thỏa mãn nhu cầu đó” [13 Tr.33] Đây cũng là khái
niệm dùng làm cơ sở để nghiên cứu thực trạng động cơ thành đạt trong học tập
của sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ
Trang 271.3 Lý lu ận về động cơ của con người
1.3.1 Đặc điểm của động cơ
Theo A.N Leonchiev thì động cơ hoạt động của con người gồm có các đặc điểm sau đây [13, tr.22]:
Leonchiev, giữa nhu cầu và động cơ có mối quan hệ biện chứng với nhau, động
cơ được hình thành trên cơ sở những nhu cầu của cá nhân Nhu cầu của con người là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển với
tư cách là một nhân cách
- Tính hệ thống và tính thứ bậc của động cơ Động cơ là một hiện tượng
tâm lí phức tạp Các động cơ không tồn tại một cách độc lập, riêng lẽ mà chúng
gắn kết với nhau tạo thành một hệ thống động cơ thống nhất trong mỗi cá nhân
Hệ thống này có tính thứ bậc Theo Leonchiev, hệ thống động cơ của con người bao gồm hai loại động cơ: động cơ tạo ý và động cơ kích thích
+ Động cơ tạo ý là động cơ gán cho hoạt động một hàm ý nhân cách với ý nghĩa làm xuất hiện ở chủ thể những mối liên hệ có tính chất thiết thân, trở thành những yếu tố của nhân cách, cái quyết định bên trong của chủ thể đối với
hiện thực khách quan
+ Động cơ kích thích là động cơ thúc đẩy hoạt động Hệ thống thứ bậc
của động cơ phụ thuộc vào mối quan hệ của cá nhân với môi trường văn hóa xã
hội mà cá nhân đó sinh sống, cũng như dạng hoạt động chủ đạo của cá nhân trong từ giai đoạn lứa tuổi
hưởng của động cơ đến hiệu quả của hoạt động, làm cho chủ thể tích cực hoạt động một cách bền vững nhằm đạt được kết quả cao nhất, kết quả cao này mang tính ổn định và phù hợp với nhu cầu
Trang 28- Tính biến đổi của động cơ Đặc điểm này của động cơ được thể hiện ở
hai tầng bậc: trước tiên là sự biến đổi trên bình diện hệ thống và tiếp theo là sự
biến đổi trong từng động cơ cụ thể Đối với từng giai đoạn trong đời sống cá nhân, con người thực hiện những hoạt động chủ đạo nhất định, những hoạt động
đó luôn được thúc đẩy bởi các động cơ tạo ý tương ứng Chỉ khi nào hoạt động thay đổi, hệ thống động cơ cá nhân cũng được thay đổi cho phù hợp với hoàn
cảnh khách quan
Tóm lại, cuộc sống của con người bao gồm dòng chảy các hoạt động, hoạt động bao giờ cũng được chúc đẩy bởi động cơ Động cơ hoạt động của con người luôn thay đổi trong quá trình sống Đặc biệt, khi cá nhân tham gia vào các
mối quan hệ xã hội mới thì cá nhân đó sẽ tự hình thành những động cơ hoạt động mới, từ đó làm phong phú thêm hệ thống động cơ của bản thân
1.3.2 C ấu trúc của động cơ
Axeev cho rằng, cấu trúc động cơ của con người gồm hai phần cơ bản sau:
phần nội dung và phần lực của động cơ [34, tr.116], cụ thể:
tới Nội dung của động cơ thực chất chính là nhu cầu của cá nhân đã được đối tượng hóa Nội dung của động cơ vừa có tính khái quát, vừa có tính cụ thể, tùy thuộc vào điều kiện khách quan nơi cá nhân sinh sống và tham gia các hoạt động Tính khái quát của động cơ thể hiện ở chỗ phần lớn những người sống trong cùng một thời đại, một xã hội thì thường có một số động cơ giống nhau như: động cơ học tập, động cơ thành đạt, động cơ khẳng định bản thân,…
+ Tính khái quát còn được thể hiện ở sự đa dạng của các hình thức thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn gắn liền với động cơ Động cơ con người có thể được thỏa mãn dưới dạng vật chất hoặc tinh thần
+ Tính cụ thể của nội dung động cơ thể hiện ở việc mỗi cá nhân có hệ
thống động cơ riêng biệt Hệ thống động cơ của cá nhân luôn được xếp theo
Trang 29những thứ bậc khác nhau, từ đó tạo ra sự khác nhau trong xu hướng hoạt động
của mỗi cá nhân
- Phần lực của động cơ: phản ánh độ mạnh của động cơ (mức độ sức mạnh
của cảm xúc và hành vi vươn tới những giá trị của mục tiêu mà cá nhân hướng
tới) Khía cạnh lực của động cơ thể hiện ở khả năng thúc đẩy chủ thể thực hiện
hoạt động nhằm chiếm lĩnh đối tượng để thỏa mãn nhu cầu Độ mạnh của lực thúc đẩy quy định tính bền vững và hiệu quả của hoạt động Khía cạnh lực của động cơ được thể hiện ở những trải nghiệm, xúc cảm, tình cảm,… của cá nhân đối với đối tượng của chiếm lĩnh Độ mạnh của lực thúc đẩy quy định tính hiệu
quả của động cơ
Hai thành phần nội dung và phần lực của động cơ luôn có mối quan hệ biện
chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau trong hệ thống động cơ của con người Tuy nhiên, trong quá trình hình thành và phát triển động
cơ, hai thành phần này vẫn có tính tương đối độc lập với nhau, song chúng có
mối quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau quy định chiều hướng phát triển
của động cơ hoạt động con người
1.3.3 Phân lo ại động cơ
Có nhiều quan niệm khác nhau về phân loại động cơ, theo cách phân loại
của G Murphay và một số nhà Tâm lí học phương Tây, động cơ được chia thành hai loại:
liền với nhu cầu của cơ thể
những công cụ nhằm đáp ứng các động cơ cấp một
Theo trường phái Tâm lí học hoạt động, động cơ được chia thành hai loại
cơ bản: Động cơ chủ đạo và động cơ thứ yếu Hai loại động cơ này có mối quan
hệ mật thiết với nhau và trong những hoàn cảnh cụ thể chúng tạo thành một hệ
thống thứ bậc động cơ
Trang 30Theo A.N Leonchiev, có hai loại động cơ, đó là động cơ tạo ý và động cơ kích thích [4, tr.132]:
- Động cơ tạo ý: là đối tượng đích thực của hoạt động, vì sau khi hoạt động
kết thúc, chủ thể thỏa mãn được nhu cầu về đối tượng
đối tượng hoạt động, khi kết thúc hoạt động, nhu cầu đi theo đó được thỏa mãn Hai tác giả Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị đã nêu lên năm loại động cơ
cụ thể [25, tr.125]:
các chuẩn mực và mục đích xã hội
- Động cơ nhận thức – khoa học: thể hiện ở thái độ đối với chính quá trình
nhận thức, với nội dung của vấn đề được nghiên cứu
cơ sở chuẩn bị cho nghề nghiệp
và mong muốn được thể hiện chúng
Theo Nguyễn Thạc, các nhóm động cơ trên đều có tác dụng thúc đẩy hoạt động học tập của sinh viên nhưng không đồng đều mà sẽ tạo nên tình trạng thứ
bậc các độntg cơ ưu thế [24, tr.125]
Theo Nguyễn Quang Uẩn [30, tr.127] cho rằng có nhiều cách phân loại động cơ như sau:
- Động cơ ham thích và động cơ nghĩa vụ
- Động cơ quá trình và động cơ kết quả
- Động cơ gần và động cơ xa
- Động cơ cá nhân, động cơ xã hội và động cơ công việc
- Động cơ bên ngoài và động cơ bên trong
- Động cơ tạo ý và động cơ kích thích
Trang 31Tóm lại, động cơ của con người rất phong phú và đa dạng, do vậy có nhiều cách phân loại động cơ Tuy nhiên, tùy theo từng lĩnh vực và tùy thuộc vào cách
tiếp cận khác nhau thì có những động cơ khác nhau Trong đề tài nghiên cứu này, người nghiên cứu sử dụng cách phân loại động cơ của tác giả Nguyễn Quang Uẩn trong giáo trình Tâm lí học đại cương, được xuất bản năm 2004 của nhà xuất bản Đai học Sư phạm làm cơ sở để phân loại động cơ Gồm có ba loại động cơ như sau: động cơ cá nhân, động cơ xã hội, động cơ công việc
1.3.4 Vai trò c ủa động cơ đối với hoạt động của con người
Động cơ đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc hoạt động nói chung, hoạt động học tập của sinh viên nói riêng, nếu hoạt động mà không có động cơ thì
hoạt động không thể thực hiện được
Trong hoạt động thì động cơ có tác dụng kích thích trực tiếp hoạt động của
chủ thể, từ đó chủ thể huy động toàn bộ sức mạnh vật chất và tinh thần để tác động vào khách thể (đối tượng) nhằm chiếm lĩnh đối tượng, và kết quả là tạo ra
sản phẩm cho thế giới và sản phẩm cho bản thân, tức là tạo ra năng lực tâm lí, ý
thức ở bản thân Như đã trình bày, động cơ luôn gắn liền với như cầu và luôn được thúc đẩy bởi nhu cầu Do đó, khi động cơ được xác định thì hoạt động của con người luôn được thực hiện với một thái độ tích cực và hoạt động sẽ đạt kết
quả cao
Động cơ kích thích hoạt động nhưng không quy định hoạt động, một hoạt động có thể được thúc đẩy bởi nhiều động cơ khác nhau và ngược lại, một động
cơ có thể biểu hiện trong nhiều hoạt động khác nhau Vì vậy, động cơ hoạt động
của con người là nguyên nhân bên trong thôi thúc con người hoạt động nhằm
thỏa mãn nhu cầu của bản thân
Mặt khác, động cơ còn là vấn đề trung tâm của nhân cách và có vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách Theo A.N Leonchiev cho rằng: “Sự hình thành nhân cách của con người biểu hiện về mặt tâm lí trong sự phát triển
về mặt động cơ của nhân cách” [34] Vì toàn bộ các phần trong xu hướng nhân
Trang 32cách như: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin là các thành phần trong hệ thống động cơ của nhân cách Chúng là động lực của hành vi, của hoạt động và của sự hình thành, phát triển nhân cách Các thành phần trong hệ thống động cơ của cá nhân có mối quan hệ chi phối lẫn nhau theo hệ thống thứ bậc, trong đó có những thành phần giữ vai trò chủ đạo, có những thành phần giữ vai trò bổ trợ, tùy theo từng hoàn cảnh của hoạt động
1.3.5 Quá trình hình thành và phát tri ển động cơ
Như trên đã trình bày, cấu trúc động cơ gồm hai phần: nội dung và lực thúc đẩy Trong quá trình hình thành động cơ, hai thành phần này luôn có sự đan xen, thâm nhập vào nhau, thể hiện mối quan hệ biện chứng không tách rời
Lúc mới hình thành động cơ, thông thường nội dung động cơ xuất hiện trước Nội dung của động cơ chính là nhu cầu của cá nhân đã được đối tượng hoá Trong quá trình hoạt động, giao tiếp, cá nhân tham gia vào các mối quan hệ
xã hội có liên quan đến điều mình mong ước đạt được, cá nhân có cơ hội trải nghiệm những cảm xúc liên quan đến đối tượng thoả mãn động cơ Khi đó, lực động cơ được hình thành và phát triển dần, quện chặt với nội dung động cơ Như vậy, từ mối quan hệ giữa hai thành phần của động cơ nêu trên có thể
biểu diễn quá trình hình thành động cơ con người như sau:
Hoạt động và giao tiếp làm xuất hiện ở chủ thể nhận thức về nội dung động
cơ với lực thúc đẩy tiềm năng Trên cơ sở đó tiếp tục diễn ra các hoạt động và giao tiếp nhằm tiếp nhận những giá trị mới cùng với những trải nghiệm xúc cảm liên quan tới giá trị của nội dung động cơ đối với nhân cách (quá trình này làm cho “nội dung động cơ với lực tiềm năng” trở thành “nội dung động cơ với lực đẩy có hiệu lực”) Nội dung động cơ với lực thúc đẩy có hiệu lực đảm bảo cho
hoạt động và giao tiếp của chủ thể diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao [20]
Trang 331.4 Lý lu ận về động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên
1.4.1 Đặc điểm tâm lí của sinh viên
Những nghiên cứu về đặc điểm tâm lí của sinh viên Cao đẳng, Đại học được biểu hiện ở ba mặt thống nhất sau đây:
- Thứ nhất, sự phát triển về mặt nhận thức của sinh viên Hoạt động nhận
thức của sinh viên phải vừa kết thừa những thành tựu khoa học đương đại, hoạt động học tập mang tính chất mở rộng theo năng lực và sở trường Cấu trúc thứ
bậc động cơ học tập bao gồm: động cơ nhận thức; động cơ nghề nghiệp; động cơ
có tính chất xã hội; và động cơ tự khẳng định
Động cơ học tập của sinh viên có thể bị chi phối bởi ba yếu tố sau: Các yếu
tố xuất phát từ chính chủ thể như: hứng thú, niềm tin, lý tưởng, tâm thế, mục đích,…; các yếu tố xuất phát từ phía xã hội như: danh vọng, mong muốn của gia đình và xã hội,…; và các yếu tố xuất phát từ chính hoàn cảnh học tập như: nội dung, phương pháp dạy học, nhân cách của giáo viên,…
Bên cạnh việc học tập, sinh viên còn tham gia hoạt động nghiên cứu khoa
học Hoạt động này của sinh viên có các đặc điểm sau: phải phục vụ cho mục đích học tập; nhận thức khoa học là động cơ chủ yếu; được tiến hành dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy ở bậc Cao đẳng, Đại học; và góp phần hình thành tính độc lập về nghề nghiệp, năng lực giải quyết nhiệm vụ thực tiễn, tương lai [23, tr.60]
đây là thời kỳ tuổi phát triển tích cực nhất những loại tình cảm cao cấp như: tình
cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm hoạt động và tình yêu nam nữ Những tình cảm này chiếm vị trí quan trọng và có ảnh hưởng không
nhỏ đến các hoạt động của sinh viên trong mọi lĩnh vực của đời sống
cách của sinh viên gắn liền với sự phát triển các nhu cầu; và sự phát triển về tự đánh giá, tự ý thức, từ giáo dục Một số kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức
Trang 34độ phát triển của những phẩm chất nhân cách có liên quan đến trình độ học lực cũng như kế hoạch sống trong tương lai của sinh viên Những sinh viên có thành tích học tập tốt thường chủ động và tích cực trong việc nhìn nhận, đánh giá về thái độ và hành vi của mình trong cuộc sống để ngày càng hoàn thiện Khi sinh viên tự nhìn nhận đánh giá bản thân một cách chính xác, họ sẽ có kế hoạch học
tập, rèn luyện bản thân hướng tới các thành tựu khoa học, lập kế hoạch học tập
và nghiên cứu một cách hiệu quả [23, tr.70-73]
Nhìn chung, sự phát triển các đặc điểm tâm lí nói trên tạo điều kiện cho sinh viên đáp ứng được các yêu cầu học tập và các loại hình hoạt động trong môi trường Cao đẳng, Đại học Điều này cũng là tiền đề thúc đẩy động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên
1.4.2 C ấu trúc của động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên
Khi nghiên cứu về cấu trúc của động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên, Lê Thị Thanh Hương và các cộng sự đưa ra năm thành tố trong cấu trúc
của động cơ thành đạt gồm năm thành tố như sau [13, tr.34]:
Theo các tác giả, thành tố thứ nhất và thành tố thứ hai là thể hiện mặt nhận
thức và xúc cảm của cá nhân liên quan đến thành tích Hai thành tố tiếp theo là thành tố thứ hai và thứ ba thể hiện lực của động cơ thành đạt Thành tố thứ năm
là thể hiện cho mục tiêu thành đạt mà cá nhân muốn hướng tới
Năm thành tố trên của động cơ thành đạt trong học tập thực chất là sự phân chia chi tiết hơn từ cấu trúc cơ bản của động cơ hoạt động nói chung, đó là hai thành phần: thành phần nội dung và thành phần lực
Trang 35Từ sự phân chia này, chúng tôi đưa ra cấu trúc của động cơ thành đạt có hai
Từ cấu trúc của động cơ thành đạt được trình bày ở trên, chúng tôi đưa ra
cấu trúc của động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên gồm hai thành phần như sau:
thức của sinh viên về những giá trị sẽ nhận được nếu như bản thân họ thành thục
và điêu luyện trong học tập bằng những kỹ năng tương ứng và đạt được kết quả cao
của những trải nghiệm xúc cảm và hành động ý chí liên quan đến những giá trị
mà bản thân sinh viên mong muốn đạt được những giá trị đó
Hai thành phần này được nảy sinh, hình thành và phát triển không ngừng trong suốt quá trình học tập của sinh viên, đồng thời hai thành phần này cũng quy định mức độ của động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên
1.4.3 Bi ểu hiện của nhận thức, xúc cảm và hành vi của sinh viên có động
cơ thành đạt cao trong học tập
Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên được biểu hiện qua ba mặt
cơ bản như sau: nhận thức, thái độ xúc cảm và hành động ý chí, cụ thể [13, tr.35-37]:
Trang 361.4.3.1 Những biểu hiện về mặt nhận thức của sinh viên có động cơ thành đạt cao trong học tập, nội dung nhận thức gồm:
- Nhận thức sâu sắc về những giá trị của sự thành đạt trong học tập
- Nhận thức rõ ràng các điều kiện không thể thiếu để đạt được thành tích cao trong học tập là sự nắm vững và vận dụng thành thục các kỹ năng trong học
đạt cao trong học tập, các biểu hiện xúc cảm đó gồm:
- Cảm thấy hài lòng mỗi khi vượt qua những khó khăn để hoàn thành các nhiệm vụ học tập
- Cảm thấy vui mừng khi tìm ra được những cách giải quyết khác nhau cho
một nhiệm vụ học tập
- Sung sướng khi được giao nhiệm vụ học tập mới mẻ và khó khăn
- Vui mừng khi nhận những yêu cầu cao trong học tập
- Hào hứng với những buổi thảo luận khoa học có liên quan đến ngành học
của mình
- Thấy thú vị mỗi khi được trao đổi với thầy cô và bạn bè về bài học
- Cảm thấy tự hào với những người xung quanh khi đạt được kết quả học
tập tốt và ngược lại
thành đạt cao trong học tập, nội dung hành động ý chí gồm:
Trang 37- Biết tìm mọi cách để có nhiều thời gian cho việc học kết hợp hài hòa với
việc vui chơi, giải trí lành mạnh
- Biết tìm mọi cơ hội và hình thức để nâng cao hiểu biết của bản thân về
những tri thức liên quan đến chuyên ngành của mình
- Biết tìm mọi cách khắc phục khó khăn để hoàn thành các nhiệm vụ học
tập và rèn luyện mà thầy cô và nhà trường yêu cầu
- Luôn tranh thủ trau dồi thêm tri thức, rèn luyện kỹ năng về tin học, ngoại
ngữ nhằm đáp ứng yêu cầu của việc học
- Không ngừng hoàn thiện, nâng cao các kỹ năng học tập: lập kế hoạch, tự
học, nghiên cứu khoa học, làm việc nhóm, kiểm tra đánh giá,…
Trên đây là biểu hiện trong ba mặt nhận thức, xúc cảm, hành vi của sinh viên có động cơ thành đạt trong học tập Nội dung này cũng là cơ sở để xây
dựng nội dung tìm hiểu về thực trạng động cơ hành đạt trong học tập của sinh viên nói chung và sinh viên trường Cao đẳng Cần Thơ nói riêng
1.4.4 S ự hình thành động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc (1978): “Động cơ không phải là những cái thuần túy tinh thần bên trong chủ thể Động cơ phải được vật thể hóa ở đối tượng của hoạt động Điều này có nghĩa là động cơ phải có một hình thức tồn tại
vật chất, gắn với hiện thực ở bên ngoài Do đó, đối tượng của hoạt động chính là nơi hiện thân của động cơ hoạt động ấy” [12, tr.78] Đến đây, chúng ta có thể
thấy được động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên được thể hiện ở thành tích học tập cao, ở sự khát khao đạt thành công trong hoạt động học tập của sinh viên
Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên có tính độc lập cao và mang đậm màu sắc cá nhân, động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên phải được thúc đẩy bởi một hệ thống các động cơ, đặc biệt là động cơ học tập Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên cũng có nhiều cấp độ khác nhau, đầu tiên được bắt đầu từ sự thỏa mãn nhu cầu học tập, nhu cầu tự khẳng định, nhu cầu có
Trang 38việc làm ổn định cho đến cấp độ cao hơn là thỏa mãn nhu cầu mở rộng vốn hiểu
biết, lòng khát khao tri thức vươn tới sự thành công
Theo Nguyễn Thạc (2009): “Tất cả sự kiện, vật chất, hoàn cảnh hay hành động đều có thể trở thành động cơ nếu chúng liên quan đến nguồn gốc tích cực
hoạt động của con người” [24, tr.124] Đó là ba nguồn gốc sau:
- Nguồn gốc bên trong, thể hiện ở nhu cầu của con người, mà trong học tập
đó chính là nhu cầu được thông tin, nhu cầu nhận thức, nhu cầu xã hội
- Nguồn gốc bên ngoài, do những yêu cầu của gia đình, nhà trường và xã
hội Đó là những điều kiện xã hội trong hoạt động sống của cá nhân, với những
mối quan hệ, liên hệ ràng buộc Những yêu cầu của xã hội có tác động đến hành
vi của cá nhân thúc đẩy cá nhân nhận thức, kiểm tra, điều khiển, điều chỉnh hành
vi của mình sao cho phù hợp Ví dụ, sinh viên học bậc Cao đẳng, Đại học đòi
hỏi tính tự giác rất cao trong học tập, cụ thể: chú ý nghe giảng ghi chép, làm
việc theo nhóm, tham gia thuyết trình, làm bài kiểm tra đánh giá trong quá trình
học và kết thúc học kỳ, tất cả những việc này được thực hiện trong một khoảng
thời gian nhất định Để làm việc có hiệu quả, sinh viên cần rèn luyện để có nhiều
kỹ năng: kỹ năng học tập, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giải quyết vấn đề,…
niềm tin, biểu tượng về viễn cảnh tương lai của bản thân,… Những yếu tố này
có vai trò tích cực trong việc rèn luyện, hoàn thiện nhân cách cá nhân
Ba nguồn gốc trên của động cơ được hình thành khác nhau ở mỗi người, nó
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình học tập, đến mục đích và kết quả học tập, đến sự thành đạt trong học tập Vì vậy, muốn có động cơ thành đạt trong học
tập, trước tiên cần có đối tượng bên ngoài chủ thể, có giá trị đối với chủ thể và làm này sinh ở chủ thể nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng đó Khi cá nhân ý thức được đối tượng cần chiếm lĩnh thì sẽ trở thành động cơ thúc đẩy, định hướng và duy trì hoạt động đạt kết quả
Trang 39Tóm lại, động cơ luôn gắn với nhu cầu, mong muốn của cá nhân Nói cách khác, nhu cầu, mong muốn của cá nhân chính là yếu tố bên trong đóng vai trò quan trọng nhất của việc hình thành động cơ Cần nhớ rằng, động cơ thành đạt trong học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt từ bên ngoài vào, mà được hình thành dần dần trong chính quá trình người học đi sâu chiếm lĩnh đối tượng
học tập Từ nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập mà hình thành nên động cơ
học tập, rồi hình thành nên động cơ thành đạt trong học tập, thúc đẩy tính tích
cực trong hoạt động học tập nhằm đạt tới những kết quả học tập cao như bản thân mong muốn
1.5 Nh ững yếu tố ảnh hưởng đến động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên
1.5.1 Nh ững yếu tố khách quan
Động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên cũng như các hiện tượng tâm
lí khác đều được hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể ngay từ khi còn là một đứa trẻ Gia đình gắn liền với sự phát triển của trẻ từ lúc
mới sinh ra đến trưởng thành Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên và gần gủi
nhất của trẻ em, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển những năm đầu đời của
trẻ Trong gia đình cách nuôi dạy của cha mẹ có ảnh hưởng đến sự phát triển của
trẻ thơ nói chung và sự phát triển động cơ thành đạt nói riêng Cần thấy rõ rằng,
nếu cha mẹ thường xuyên quan tâm, chăm lo đến việc học tập của con em ngay
từ nhỏ, đến khi trở thành sinh viên thì tính tự giác, tinh thần độc lập, ý thức trách nhiệm ở sinh viên đối với bản thân, gia đình và xã hội sẽ rõ ràng hơn, và điều này sẽ thúc đẩy các em mong muốn thành đạt hơn
Trong nhà trường, sinh viên là thành viên của nhiều tổ chức, các hoạt động
do nhà trường tổ chức cũng chính là điều kiện thuận lợi để sinh viên rèn luyện
Trang 40các kỹ năng học tập, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác cộng đồng,… Các hoạt động nghiên cứu khoa học thông qua việc tham gia viết tiểu luận cuối khóa của sinh viên; Hội thảo giới thiệu việc làm; Doanh nghiệp với ngày hội tuyển dụng; Các hoạt động do Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên;… và các hoạt động mà xã
hội tổ chức gắn liền với nhà trường có ảnh hưởng đến sự phát triển động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên Những hoạt động này thường kích thích sinh viên học tập, nghiên cứu nhằm đạt được những kết quả cao và để có những
trải nghiệm thú vị liên quan đến học tập trong hiện tại và tương lai
Ngoài ra, nội dung và phương pháp học tập mà sinh viên được lĩnh hội ở trường Cao đẳng, Đại học cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên Khi sinh viên khát khao làm chủ tri thức, làm chủ phương pháp học tập, đồng thời nhận thức sâu sắc ý nghĩa thiết thân của những giá trị và cơ hội sẽ nhận được nếu họ thành đạt cao trong học
tập, lúc này động cơ thành đạt trong học tập của sinh viên được hình thành và phát triển Bên cạnh đó, sự gương mẫu, tận tụy của giảng viên cũng có tác động không nhỏ đến mong muốn thành đạt trong học tập của sinh viên
Sự phát triển cũng như đặc điểm kinh tế xã hội của một nước quy định nội dung và chiều hướng phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Trong thời kỳ kinh
tế thị trường và hội nhập thế giới, đòi hỏi giới trẻ phải tích cực, năng động, sáng
tạo, dám nghĩ, dám làm, có tầm nhìn chiến lược,… Hiện nay, đất nước ta trong
thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, để thực hiện mục tiêu đó vấn đề cần quan tâm thực hiện cấp bách hiện nay là làm sao đào tạo được nguồn nhân lực đạt chất lượng cao nhằm đáp ứng những nhu cầu phát triển kinh tế của xã hội
Vì vậy, Nhà nước, Nhà trường, các tổ chức xã hội có nhiều hình thức khuyến khích học tập, thực hiện chính sách miễn giảm học phí, trao học bổng khuyến
học, khuyến tài nhằm tác động tích cực đến nhận thức, thái độ và hành động ý