1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các thành viên trong gia đình tại tp hồ chí minh

150 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết thực góp tiếng nói vào công việc bảo vệ các thành viên của gia đình, thì việc nghiên cứu về hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các thành viên gia đình nhằm định r

Trang 1

Nguyễn Thụy Diễm Chi

BIỂU HIỆN HÀNH VI HUNG TÍNH

CỦA NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU, BIA ĐỐI VỚI CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH TẠI TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thụy Diễm Chi

BIỂU HIỆN HÀNH VI HUNG TÍNH

CỦA NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU, BIA ĐỐI VỚI CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH TẠI TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

Để thực hiện được đề tài nghiên cứu này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô Khoa Tâm lí - Giáo dục của Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh đã hướng dẫn, dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập đại học; xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô đã giảng dạy ở lớp Cao học Tâm lí K24 - Trường Đại học Sư

p hạm TP.Hồ Chí Minh Tôi đặc biệt tri ân PGS.TS Huỳnh Văn Sơn, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, động viên, khích lệ cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô ở phòng Sau Đại học Trường Đại học

Sư phạm TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn các bạn cùng khóa học, đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài nghiên cứu này Tôi cảm ơn Báo Phụ nữ TP.HCM đã cung cấp số liệu cho đề tài Cảm ơn các cơ quan Công an, Hội Liên h iệp Phụ nữ các Quận Huyện, Phường Xã nơi tổ chức nghiên cứu đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiếp cận khách thể nghiên cứu

Mặc dù tôi đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn

Tác giả luận văn

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi chú rõ ràng về nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trang 5

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

Phụ lục của đề tài

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI HUNG TÍNH CỦA NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU, BIA ĐỐI VỚI CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia 7

1.1.1 Những nghiên cứu về hành vi hung tính 7

1.1.2 Những nghiên cứu về hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia 9

1.2 Lý luận nghiên cứu về hành vi hung tính 13

1.2.1 Các vấn đề lý luận về hành vi 13

1.2.2 Khái niệm hành vi hung tính 17

1.2.3 Các nguyên nhân xuất hiện hành vi hung tính 23

1.3 Biểu hiện hành vi hung tính của người đàn ông nghiện rượu, bia 28

1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của người đàn ông nghiện rượu, bia 28

1.3.2 Biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu bia đối với các thành viên trong gia đình 31

Chương 2 BIỂU HIỆN HÀNH VI HUNG TÍNH CỦA NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU, BIA ĐỐI VỚI CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 37

2.1 Tổ chức nghiên cứu 37

2.1.1 Mục đích nghiên cứu 37

2.1.2 Mô tả về khách thể nghiên cứu 37

Trang 6

thành viên trong gia đình tại TP.HCM 50

2.2.1 Biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia 50

2.2.2 Biểu hiện hành vi hung tính cụ thể của người nghiện rượu bia tại TP.HCM 51

2.2.3 Biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các thành viên trong gia đình tại TP.HCM 54

2.2.4 So sánh mức độ biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia tại TP.HCM trên các phương diện 60

2.2.5 Hậu quả tác động hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia tại TP.HCM đối với các thành viên trong gia đình 72

2.2.6 Nguyên nhân xuất hiện hành vi hung tính ở người nghiện rượu, bia đối với các thành viên trong gia đình 79

2.2.7 Bước đầu thử nghiệm một vài biện pháp tác động 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

TÀI L IỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 7

DSM IV Sách Chẩn đoán và Thống kê của Hội

Tâm thần học Hoa kỳ-APA),

Trang 8

Bảng 2.1 Mô tả về khách thể nghiên cứu 37Bảng 2.2 Mức độ quy đổi tương ứng điểm trung bình của biểu hiện hành vi

hung tính 44Bảng 2.3 Mức độ hung tính quy đổi tương ứng mức điểm tổng hợp 45Bảng 2.4 Tổng hợp cách quy điểm từng câu 45Bảng 2.5 Mức độ quy đổi tương ứng điểm trung bình của biểu hiện hành vi

sử dụng rượu bia dành cho khách thể bổ trợ 46Bảng 2.6 Tổng hợp cách quy điểm từng câu 46Bảng 2.7 Mức độ biểu hiện hành vi hung tính của người đàn ông nghiện rượu

bia tại TP.HCM 50Bảng 2.8 Biểu hiện hành vi hung tính cụ thể của người nghiện rượu bia tại

TP.HCM 52Bảng 2.9 Biểu hiện cụ thể hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối

với các thành viên trong gia đình 54Bảng 2.10 Đối tượng mà người nghiện rượu bia tại TP.HCM thực hiện hành vi

hung tính 58Bảng 2.11 Việc người nghiện rượu, bia sử dụng các công cụ, đồ vật để hành

hung các thành viên trong gia đình tại TP.HCM 59Bảng 2.12 So sánh sự khác biệt hành vi hung tính của người nghiện rượu bia

trên phương diện địa bàn cư trú 60Bảng 2.13 So sánh sự khác biệt hành vi hung tính của người nghiện rượu bia

trên phương diện tình trạng hôn nhân 63Bảng 2.14 So sánh sự khác biệt hành vi hung tính của người nghiện rượu bia

trên phương diện tình hình tự cai nghiện rượu bia 65Bảng 2.15 So sánh sự khác biệt hành vi hung tính của người nghiện rượu bia

trên phương diện hoàn cảnh kinh tế gia đình 67Bảng 2.16 So sánh sự khác biệt hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia

trên phương diện nghề nghiệp 68

Trang 9

hiện hành vi hung tính 70Bảng 2.18 So sánh mức độ nghiện với hành vi hung tính của người nghiện

rượu, bia tại TP.HCM 71Bảng 2.19 Phản ứng của những người thân trong gia đình khi người nghiện đi

uống rượu bia trở về theo góc nhìn của người nghiện 72Bảng 2.20 Phản ứng ngược của người nghiện trước ứng xử của người thân

trong gia đình sau khi uống rượu, bia trở về 75Bảng 2.21 Trạng thái mong muốn sau khi đi uống rượu, bia trở về của người

nghiện rượu bia tại TP.HCM 77Bảng 2.22 Nơi người thân của người nghiện rượu bia tại TP.HCM đã cầu cứu

khi người nghiện biểu hiện hành vi hung tính 82Bảng 2.23 Hiệu quả việc kêu cứu khi bị người nghiện rượu, bia thực hiện hành

vi hung tính qua đánh giá của người thân 83

Trang 10

Biểu đồ 2.1 Mức độ % biểu hiện hành vi hung tính của người đàn ông nghiện

rượu, bia tại TP.HCM 51Biểu đồ 2.2 So sánh sự khác biệt về mức độ biểu hiện hành vi hung tính của

những người nghiện rượu, bia theo địa bàn cư trú 62Biểu đồ 2.3 So sánh sự khác biệt về mức độ biểu hiện hành vi hung tính của

người nghiện rượu, bia giữa người đã kết hôn và nhóm khách thể

đã kết hôn nhưng ly hôn 64Biểu đồ 2.4 So sánh sự khác biệt về mức độ biểu hiện hành vi hung tính của

người nghiện rượu, bia có cai nghiện và nhóm không cai nghiện 66Biểu đồ 2.5 So sánh sự khác biệt về mức độ biểu hiện hành vi hung tính giữa

người nghiện rượu, bia có tình trạng nghề nghiệp khác nhau 69

Trang 11

với các thành viên trong gia đình

Phụ lục 7: Xác nhận số liệu của Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có tốt thì xã hội mới có nền tảng phát triển; cụ thể là môi trường gia đình tốt sẽ giúp các trẻ em trong gia đình đó định hình nhân cách tốt Chính vì vậy, việc bảo vệ các thành viên gia đình có người nghiện rượu, hạn chế việc lạm dụng dẫn đến nghiện rượu, bia là vấn đề cấp bách của xã hội

Việc người nghiện rượu bia gây tai nạn giao thông, ẩu đả đánh người, vi phạm pháp luật vì xâm hại đến sức khoẻ, sinh mạng của người khác, đặc biệt là gây tổn hại sức khoẻ, tinh thần của người thân trong gia đình là một vấn đề đang tồn tại trong xã hội [31] Ngày 12/5/2007, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật Phòng chống bạo lực gia đình, trong đó cũng xuất phát từ một nguyên

đo là để bảo vệ các thành viên gia đình trước hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia [31] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, một người có hành vi hung tính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự xung đột và phần lớn mang tính bạo lực với nhiều biểu hiện như dễ bị kích động, quát tháo, gây gổ, cáu gắt, thù địch với người khác, thậm chí

là cả với người thân yêu, ruột thịt [17]

Người nghiện rượu, bia có hành vi hung tính đối với các thành viên trong gia đình đã là một thực tế trong cuộc sống Thông tin từ báo chí và nhiều phương tiện truyền thông cho thấy ngày càng có nhiều hơn những trường hợp người say rượu, nghiện rượu có những hành vi xâm hại đến sức khỏe, tinh thần và tính mạng của các thành viên trong gia đình Theo tài liệu của Hội Tâm Thần học Hoa Kỳ (American Psychiatric Associatin-APA, khi một người say rượu sẽ bị những biến đổi về cảm xúc (khó kiềm chế cảm xúc), rối loạn về tư duy (nói nhiều, tư duy hổ lốn, nói lặp lại, khả năng phân tích, phê phán kém…) và các rối loạn về hành vi (hành động kỳ cục, khó kiểm soát và kiềm chế hành vi, hung hăng, thô bạo… Ở cấp độ nặng hơn là nghiện rượu dẫn đến rối loạn tâm thần do rượu, biến đổi nhân cách người nghiện và các bệnh

lý cơ thể kèm theo Khoảng 10% người nghiện rượu sẽ bị rối loạn tâm thần ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời [35]

Trang 13

Ở góc độ gia đình, nếu có một người nghiện rượu dễ mang đến bi kịch đối với các thành viên còn lại Do mất hết lý trí, sức khoẻ sau khi uống quá nhiều, người đó không chỉ bị ảnh hưởng đến khả năng lao động, tình dục, mà nguy cơ có các hành vi bạo lực thể chất, tinh thần với các thành viên gia đình là điều có thể tiên lượng Rõ ràng, số lượng người nghiện rượu, bia không hề có chiều hướng giảm mà khuynh hướng gia tăng trong những năm gần đây, và nguy cơ sẽ xuất hiện thêm nhiều người nghiện rượu, bia trong xã hội chúng ta là điều có thật Đồng thời, viễn cảnh gia đình xuất hiện người nghiện rượu, bia có những hành vi hung tính, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người thân của mình là điều có thể dự đoán

Thiết thực góp tiếng nói vào công việc bảo vệ các thành viên của gia đình, thì việc nghiên cứu về hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các thành viên gia đình nhằm định ra chi tiết về các dạng hành vi hung tính, nguyên nhân, biểu hiện và cách ứng phó… là một việc làm thật sự cần thiết, và có ý nghĩa Xuất phát từ những lý

do trên, đề tài “Biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các

thành viên trong gia đình tại TP.HCM” được xác lập

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia tác động lên các thành viên trong gia đình Từ đó đề xuất một số biện pháp ứng phó của các thành viên trong gia đình với trước hành vi hung tính, bước đầu thử nghiệm một số biện pháp hỗ trợ, bảo vệ các thành viên gia đình trước hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia

3 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các thành viên trong gia đình

4 Khách thể nghiên cứu

Người đàn ông trưởng thành nghiện rượu, bia trên địa bàn TP.HCM

Khách thể nghiên cứu bổ trợ là các thành viên gia đình của những người nghiện rượu, bia (gồm vợ, cha mẹ, anh chị em ruột và các con)

Trang 14

5 Giả thuyết nghiên cứu

Các hành vi hung tính của người nghiện rượu đối với các thành viên của gia đình biểu hiện trên cả hai mặt: thể chất và tinh thần trong đó hành vi hung tính về mặt thể chất có xu hướng rõ hơn

Trên 50% người nghiện rượu, bia biểu hiện có hành vi hung tính

Biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện với các thành viên trong gia đình

có sự khác biệt từ cách phản ứng, cư xử từ tiêu cực, chống đối chống đối ra mặt, bỏ mặc, đáp trả ngược bằng hành vi hung tính; Hoặc cách phản ứng, cư xử thụ động: im lặng, chịu đựng; Hoặc cách phản ứng, cư xử tích cực như nói năng hoà nhã, chăm sóc người nghiện chu đáo hơn… của các thành viên trong gia đình

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các thành viên gia đình: “hành vi hung tính”, “người nghiện rượu”, “hành vi hung tính đối với các thành viên gia đình”

6.2 Xác định thực trạng hành vi hung tính, thực trạng biểu hiện hành vi của người nghiện rượu bia đối với các thành viên trong gia đình Xác định một số nguyên nhân của thực trạng trên Bước đầu đề xuất một số biện pháp giúp người nghiện rượu, bia tiết chế hành vi hung tính; đồng thời, giúp các thành viên trong gia đình có lối ứng

xử phù hợp

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

7.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu đối với các thành viên gia đình cụ thể là đối với người đang sống chung là chủ yếu Về nội dung, đề tài tiếp cận biểu hiện hành vi hung tính trên bình diện tâm lý mà không đi quá sâu vào y học

Hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia được hiểu là những hành vi tấn công gây tổn hại hoặc thương tích về thể chất hoặc tinh thần cho người khác một cách

có chủ ý

Trang 15

Tiến hành thử nghiệm ban đầu một số biện pháp ứng xử phù hợp từ các thành viên gia đình trước hành vi hung tính của người nghiện rượu; giúp người nghiện rượu

tự tiết chế hành vi hung tính trên một vài trường hợp nhất định

7.2 Giới hạn về khách thể - địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 87 khách thể là những người đàn ông nghiện rượu, bia, đang chung sống với gia đình tại các Quận 12, Quận Tân Phú, Huyện Hóc Môn và Huyện Củ Chi TP.HCM

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Các phương pháp tiếp cận

Đề tài dựa trên các cách tiếp cận sau:

- Tiếp cận hệ thống: Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc xây dựng cơ sở lý

luận như hành vi hung tính, người nghiện rượu, bia, biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được xác lập

- Tiếp cận hoạt động: Thông qua hoạt động của người đàn ông nghiện rượu tại

gia đình, những hành vi hung tính mới có khả năng bộc lộ một cách rõ ràng Chính vì vậy, để nhận biết hành vi hung tính của người nghiện rượu đối với các thành viên gia đình, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thông qua hoạt động thực tiễn của người nghiện rượu ngay tại gia đình Cách tiếp cận này nhằm nghiên cứu (Quan sát) các biểu hiện của hành vi hung tính, tác động và phản ứng của các thành viên gia đình

- Tiếp cận thực tiễn: Tìm hiểu thông tin qua các báo, đài trong cả nước nói về

tình hình thời sự liên quan đến những hành vi tiêu cực của người uống rượu, bia tại Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng; tiếp cận thông tin từ phòng tư vấn Hạnh Dung, tư vấn về tâm lý, tình yêu hôn nhân gia đình của Báo Phụ Nữ TP.HCM từ năm

2010 đến nay để ghi nhận những số liệu có liên quan đến việc người sử dụng rượu, bia thực hiện hành vi hung tính với người thân trong gia đình Thông qua phương pháp tiếp cận này, người nghiên cứu bước đầu nắm bắt được thực trạng của vấn đề đang được xã hội lẫn người thân trong gia đình những người nghiện rượu, bia đã nhìn nhận, ứng phó ra sao trước những hành vi hung tính của người nghiện; hiệu quả của việc ứng

Trang 16

phó ấy cho được các kết quả thế nào, để có thể lựa chọn biện pháp phù hợp khi tiến hành một số thực nghiệm của đề tài

8.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

8.2.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

Đọc các tài liệu, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tìm những cơ sở nghiên cứu nhằm khái quát hóa, hệ thống hoá một số vấn đề lý luận, trên

cơ sở đó xây dựng bảng hỏi

8.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

8.2.2.1 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Đây là phương pháp chính của đề tài Việc xây dựng bảng hỏi dành cho những người nghiện rượu bia về hành vi của họ sau khi dùng bia rượu lâu ngày để khảo sát tự đánh giá của bản thân với mức độ nghiện bia rượu, đánh giá hành vi hung tính của mình với người thân trong gia đình

Bên cạnh đó là các bảng hỏi với các thành viên gia đình có người đàn ông nghiện rượu, bia

8.2.2.2 Phương pháp quan sát

Người nghiên cứu đến tận nhà để quan sát một số khách thể trong mẫu nghiên cứu Phương pháp này nhằm mục đích ghi nhận một số biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, hậu quả tác động của nó và phản ứng của các thành viên gia đình Bảng quan sát này được sử dụng trên 10 khách thể được quan tâm theo suốt thời gian của tiến trình nghiên cứu

8.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn sâu từ 10-15 người nghiện rượu bia, cũng như thành viên gia đình những người bị nghiện rượu bia dựa theo bảng phỏng vấn đã soạn sẵn Mục đích để làm rõ hơn biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, tác động của

nó đối với các thành viên gia đình, cách phản ứng của họ trước các hành vi này ra sao

và hiệu quả của cách phản ứng đó

Trang 17

8.2.2.4 Phương pháp thực nghiệm

- Tiến hành hỗ trợ các thành viên gia đình thay đổi thái độ phản ứng, cư xử với người nghiện rượu bia Cụ thể, người nghiên cứu sẽ giúp các thành viên gia đình chuyển đổi từ phản ứng, cư xử thụ động: im lặng, chịu đựng sang hướng phản ứng, cư

xử tích cực như nói năng hoà nhã, chăm sóc người nghiện chu đáo hơn… của các thành viên trong gia đình Hoặc chuyển đổi từ sang hướng cư xử tích cực, nói năng hòa nhã, chăm sóc người nghiện rượu, bia chu đáo hơn Hoặc chuyển từ phản ứng, cư

xử thụ động: im lặng, chịu đựng hướng phản ứng cư xử tiêu cực, chống đối ra mặt, bỏ mặc, đáp trả ngược bằng hành vi hung tính

- Phối hợp với các cơ quan chức năng ở địa phương mà gia đình người nghiện cư trú (như tổ trưởng dân phố, Khu phố, Hội Liên Hiệp phụ nữ xã, phường, Công an khu vực và UBND xã, phường) để tác động đến người nghiện bằng các quyết định quản lý hành chính, từ đó theo dõi chuyển biến hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các thành viên trong gia đình

8.2.3 P hương pháp thống kê toán học

Người nghiên cứu sẽ sử dụng phần mềm SPSS, phiên bản 16.0 để: tính tần số, tỷ

lệ phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm nghiệm T, F cho giá trị trung bình, kiểm nghiệm ANOVA, Chi-bình phương làm cơ sở để bình luận số liệu thu được thu được từ phương pháp điều tra bảng hỏi

Trang 18

C hương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI HUNG TÍNH

CỦA NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU, BIA ĐỐI VỚI CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia

1.1.1 N hững nghiên cứu về hành vi hung tính

1.1.1.1 Những nghiên cứu về hành vi hung tính trên thế giới

Hành vi hung tính được nghiên cứu từ những năm đầu của thế kỷ 19 Nhiều nhà khoa học cho rằng hung tính có ở mọi loài động vật, kể cả con người là sự đấu tranh để chiếm hữu và bảo vệ lãnh thổ Rất ít xã hội không tồn tại sự thù hằn và hung hãn tính [trích từ tài liệu Các thực nghiệm trong tâm lý học xã hội, của tác giả Trần Thị Minh

Đức [9]

Chính vì cách nhìn nhận vấn đề này, cho nên nhiều nhà khoa học đã theo thuyết bẩm sinh để lý giải về hành vi hung tính Thoạt đầu, nhà Phân tâm học Sigmund Freud cho rằng hung tính là một lực bẩm sinh đi song song với tính dục Về sau Freud đồng nhất hung tính với sự chết Ở loài người, sự xuất hiện ngôn ngữ và trí tuệ tạo ra nhiều hình thái tấn công tượng trưng [11]

Còn Lombroso coi những dị dạng về sinh lý, giải phẫu bẩm sinh là nguồn gốc của hành vi hung tính chẳng hạn những người mũi bẹt, trán thấp, quai hàm và xương

gò má lớn, đặc biệt những người có dị tật về mắt, chân to bè

Thuyết nhiễm sắc thể cho rằng những người đàn ông thừa nhiễm sắc thể Y - XYY thường có những hành vi quá khích và hung bạo Năm 1966 Richard -Speck một người đàn ông bị kết án tù khổ sai vì giết liên tiếp 7 người y tá ở Chicagô Khi xét nghiệm, người ta thấy người đàn ông này thừa 1 nhiễm sắc thể Y [9]

Song song với thuyết bẩm sinh, các nhà khoa học theo thuyết nội tâm cho rằng nguồn gốc của hành vi hung tính không phải do bẩm sinh mà hành vi hung tính là sự đáp ứng lại đối với hẫng hụt và đau đớn Hai tác giả Doller và Miller (1939) cho rằng

Trang 19

nếu một người bị ngăn cản hoạt động để đạt tới mục đích nào đó sẽ có nguy cơ bị hẫng hụt nhiều hơn, anh ta sẽ phản ứng đối với những hẫng hụt đó bằng sự thể hiện hung tính với vật thể hoặc người cản trở hoạt động của anh ta

Tuy nhiên, tác giả Bandura (1973) cho rằng phần lớn các ứng xử của con người

là do bắt chước, hành vi hung tính chính là do tập nhiễm xã hội chứ không phải do bẩm sinh hay đơn thuần chỉ là sự đáp trả những hụt hẫng và đau đờn trong cuộc sống Theo Bandura, nếu những nhà giáo dục, bố mẹ, thầy cô giáo tỏ ra hung hãn thì trẻ sẽ bắt chước và trở thành hung hãn Ngược lại, nếu trẻ bị phạt vì ứng xử hung hãn thì tần

số ứng xử hung hãn cũng sẽ giảm [9]

Cùng đứng trên bình diện quan điểm tập nhiễm xã hội, Eron đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa những đứa trẻ hung bạo và những đặc điểm của bố mẹ và môi trường chúng sống (tại Chicago - Mỹ) Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em hung bạo

là trẻ ít được người khác yêu mến và ít quan tâm đến các hoạt động của trường học Có đến 96% cha mẹ của trẻ hung tính đã dùng những hình thức trừng phạt về thân thể đối với chúng Ngoài ra, trẻ dễ bị rơi vào các tưởng tượng hung tính nhất là khi xem những bộ phim bạo lực và các nhân vật mà chúng tự đồng nhất Eron khẳng định: Xem phim bạo lực là nguyên nhân cơ bản tạo ra hung tính của trẻ [9]

Như vậy, trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành vi hung tính

ở con người dưới nhiều góc độ khác nhau và nhiều lĩnh vực khác nhau Trong đó, Tâm

lý học và Y học có nhiều công trình nghiên cứu về hành vi hung tính hơn cả

1.1.1.2 Những nghiên cứu về hành vi hung tính tại Việt Nam

Việc nghiên cứu về hành vi hung tính ở con người tại Việt Nam hầu như rất ít

ỏi Qua ghi nhận của người nghiên cứu, chủ yếu những nghiên cứu về hành vi hung tính tại Việt Nam tập trung trên dân số trẻ em Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, nghiên cứu biểu hiện hành vi hung tính của học sinh tiểu học ngày nay đang là nội dung cần thiết để giảm thiểu các hành vi mang tính bạo lực ở lứa tuổi lớn hơn [63]

Ông cho rằng, hành vi hung tính của trẻ tiểu học là một dạng hành vi khi trẻ chuyển từ trạng thái bình thường sang trạng thái cáu giận, bực tức với tần suất vài lần trong ngày hay trong tuần được biểu hiện ra bên ngoài bằng ngôn ngữ hoặc bằng hành động [63]

Trang 20

Trong khảo sát thực trạng biểu hiện hành vi hung tính của học sinh tiểu học trên

402 học sinh tại trường tiểu học Phan Chu Thiên Thành phố Đà Nẵng, nhóm tác giả

Đỗ Thị Hải và các đồng nghiệp ở trường ĐH Đà Nẵng đã phát hiện có đến 208 học sinh, có biểu hiện hung tính, chiếm 51,7% Trong đó, mức độ thấp chiếm tỷ lệ cao nhất 2,7%, mức độ trung bình chiếm 15,2% [17]

Bàn về nguyên nhân tác động và các mặt biểu hiện hành vi hung tính của học sinh tiểu học, tác giả Nguyễn Thị Trâm Anh cho rằng: Hung tính là một phần của phẩm chất tâm lý của con người dưới sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn tới nhận thức và xúc cảm âm tính, được biểu hiện ra ngoài bằng các hành vi tấn công hoặc gây tổn thương cho người khác và cho bản thân” Và, “hành vi hung tính là những tác động của trạng thái cơ thể được thể hiện qua hành vi đó là sự tấn công người khác hay lời nói mang tính đe dọa, chỉ trích, vu khống trong mối quan hệ giữa người và người” [2]

Ngoài ra, còn có một số bài báo khoa học như: “Trẻ hung tính, cấu trúc tâm lý thế nào?” của hai tác giả Trần Thu Hương và và Đặng Hoàng Ngân và bài báo cáo khoa học “Hung tính ở trẻ và trẻ hung tính Chẩn đoán và can thiệp” của tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng cũng đã đề cập đến hành vi hung tính từ nhiều góc nhìn khác nhau [18], [23]

Nói tóm lại, những nghiên cứu về biểu hiện hành vi hung tính tại Việt Nam chỉ

ít ỏi Bước đầu, đó là các nghiên cứu về thực trạng biểu hiện, chẩn đoán, sàng lọc trẻ

em có hành vi hung tính để đề xuất hướng ứng xử, giáo dục phù hợp mà chưa có những nghiên cứu về hành vi hung tính ở người trưởng thành

1.1.2 Những nghiên cứu về hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia

Trên thế giới, đã có những nghiên cứu về hành vi hung tính của người nghiện bia rượu, trong đó có những nghiên cứu về biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện đối với các thành viên trong gia đình Đó không chỉ là việc dùng vũ lực với người xung quanh mà còn thể hiện sự độc ác, có chủ ý gây đau đớn và tổn thương người, vật xung quanh, là sự thiếu trách nhiệm, kỷ luật và gian dối trong cuộc sống hằng ngày lẫn ở nơi làm việc

Bác sĩ E.M Jellinnek (1951, Mỹ) đã có một nghiên cứu sâu sắc về nghiện rượu

và tác động của nó đối với cá nhân nghiện Ông phân biệt nghiện rượu thành bốn giai

Trang 21

đoạn, gồm giai đoạn triệu chứng, giai đoạn tiền nghiện, giai đoạn nguy kịch và giai đoạn mãn tính Sau khi người nghiện rượu ở mức độ nặng, hay xuất hiện hoang tưởng, ghen tuông, hành vi thô bạo, dễ nổi khùng, giảm trí nhớ, gần như mất khả năng học tập

và công tác Người nghiện không nhìn thấy lỗi lầm của mình mà đổ lỗi cho người khác

và bắt đầu có thái độ hung hãn (aggressive) [35]

Các tác giả G.J MacArthur, M.C Smith, R Melotti, J Heron, J Macleod, M Hickman, R.R Kipping, R Campbell, G Lewis với nghiên cứu “Mô hình sử dụng rượu và biểu hiện hành vi nguy cơ theo giới tính trong tuổi đầu và cuối vị thành niên”

Kết quả nghiên cứu cho thấy ở tuổi 15, hơn một nửa số trẻ em trai và trẻ em gái đã

uống rượu Ở độ tuổi 15 - 16, hành vi nguy cơ phổ biến nhất là hoạt động thể chất (74%), hành vi chống đối xã hội và tội phạm (42%) và uống các chất độc hại (34%) [52]

Nghiên cứu của Brown, S.A và cộng sự (1995) về tỷ lệ gặp sang chấn tâm lý ở nhóm tái nghiện cao hơn nhóm chưa tái nghiện Điều này chứng tỏ các sang chấn tâm

lý có ảnh hưởng đến việc tái nghiện rượu Phần lớn những người nghiện rượu sau khi cai nghiện, trở về với gia đình và cộng đồng gặp rất nhiều áp lực tâm lý xã hội Những lúc đó, một số người vẫn xem rượu như cách để giải quyết hay đối phó với các vấn đề khó khăn trong cuộc sống và dễ dàng sử dụng trở lại và tiếp tục nghiện [36]

Ngày 29/12/2010, Một nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu về nghiện rượu ở Maryland (Mỹ) đã phát hiện thấy gen HTR2B có vai trò quan trọng trong việc kích thích những hành vi bạo lực ở một số người sau khi uống bia rượu [59]

Theo báo Telegraph, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích DNA của những người có tính hung hăng sau khi uống bia rượu và DNA của những người không có biểu hiện hung hăng Kết quả, các nhà nghiên cứu nhận thấy sự khác biệt của hai nhóm này nằm ở gen HTR2B [59]

Cụ thể, khi các gen HTR2B bị ức chế do men rượu, chất serotonin trong não sẽ

bị giảm đột ngột khiến con người không thể kiềm chế được các hành động vô thức như tính bạo lực, hiếu chiến hay những hành vi tiêu cực hơn như nghiện, tự tử,

Trang 22

Tác giả David Goldman, thuộc Viện Nghiên cứu về nghiện rượu ở Maryland, cho biết: “Những người có gen HTR2B thường chỉ trở nên hung hăng và hiếu chiến khi họ uống rượu bia vì gen này bị ức chế làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất chất serotonin trong não” Nhóm nghiên cứu cũng tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng của gen HTR2B tới các hành vi ở chuột Kết quả cho thấy, khi các nhà khoa học loại bỏ hoặc vô hiệu hóa chức năng của HTR2B, các con chuột thường trở nên hiếu chiến hơn những con chuột bình thường [59]

Ở Việt Nam, nghiện rượu được thừa nhận là một vấn đề xã hội đáng quan tâm Theo con số thống kê của chuyên ngành tâm thần, Việt Nam hiện có 4% dân số nghiện rượu; kết quả nghiên cứu "Đánh giá tình hình lạm dụng rượu bia tại Việt Nam" của Viện Chiến lược và chính sách y tế - Bộ Y tế công bố mới đây cho thấy: Bình quân một người đàn ông Việt Nam uống 15,8 lít bia, 3,9 lít rượu một năm Cũng xuất phát

từ thực trạng này, nhiều nhà tâm lý học, y học, tâm thần học đã có những nghiên cứu

về tác hại của hành vi nghiện rượu đối với bản thân người nghiện lẫn gia đình và cộng đồng [12]

Trong đề tài“Nghiên cứu cách ứng phó của người bệnh nghiện rượu với những khó khăn trong cuộc sống” tác giả Nguyễn Thị Hương sau khi khảo sát 105 người

bệnh nghiện rượu đang điều trị tại Bệnh viện tâm thần Trung Ương I và Bệnh viện tâm thần Hà Nội, đồng thời, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lý, người nhà người bệnh nghiện rượu và một số khách thể khác đã đưa ra nhiều khuyến cáo về hành vi lệch chuẩn dẫn đến các khó khăn trong cuộc sống của người nghiện rượu, đồng thời định hướng cho việc can thiệp, trợ giúp đối với người bệnh nghiện rượu trước những khó khăn trong cuộc sống; góp phần định hướng trị liệu tâm lý cho người bệnh nghiện rượu; bổ sung kiến thức trong hệ thống lý luận về cách ứng phó tâm lý [12]

Bài báo khoa học “Tệ nạn nghiện rượu: Vấn đề Y học và xã hội” trên tạp chí Y khoa của tác giả Nguyễn Hữu Đức giải thích về cơ chế nghiện rượu Rượu làm cơ thể

bị ức chế như khi hít phải ether gây mê ở liều nhỏ Khi rượu được hấp thu vào cơ thể, tác động ức chế đầu tiên được biểu lộ ở vùng phía trước bộ não Ðó là nơi tập trung các tế bào não chịu trách nhiệm về chức năng phán đoán, ý thức tự chủ, sự kiềm chế

Trang 23

về mặt đạo đức Chính do vùng này bị ức chế mà người uống rượu sẽ huênh hoang nói nhiều, không còn giữ gìn ý tứ trong cử chỉ lời nói, dám làm những hành động mà bình thường lòng tự trọng không cho phép Kế đến, nếu tiếp tục uống rượu, những vùng não

chịu trách nhiệm về ngôn ngữ, về sự điều khiển phối hợp các cử động, về thị giác cũng

bị ức chế [10]

Phân tích về các chất gây tác động tâm trí, tác giả Đặng Phương Kiệt khẳng định dưới tác động của các thuốc tác động tâm trí (trong đó có alcohol - có trong bia, rượu), lối sống của người bị phụ thuộc thuốc khả năng vận hành bị hạn chế hoặc nhiễu lọan Hơn nữa, để kiếm ra tiền, duy trì thói quen dùng thuốc, người nghiện thường lao vào trộm, cướp, trấn lột, làm nghề mãi dâm hoặc buôn bán ma túy… Nghiện rượu, người ta trở nên khờ dại và nói nhiều, thô tục, hoặc ủ rũ, yên lặng Khi nồng độ rượu trong máu đạt tới 0.15%, thì con người sẽ trải nghiệm những tác động tiêu cực thô lỗ trên suy nghĩ, ký ức và xét đoán, đồng thời cảm xúc trở nên bất ổn [27, tr.109]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn, cho biết, không chỉ có một số hậu quả như xơ gan, giãn tĩnh mạch thực quản, chảy máu dạ dày, viêm tuyến tụy, động kinh, ung thư thực quản, viêm cơ, giảm sức đề kháng cộng với nhiều khả năng nhiễm bệnh viêm phổi và lao… mà người nghiện rượu còn cảnh bị cô lập trong xã hội (mất bạn bè, gia đình, việc làm) Ngoài ra, chứng nghiện rượu còn ảnh hưởng đến toàn gia đình Việc dùng

vũ lực đối với người chung sống hay con cái có thể gây nên áp lực rất lớn lên cuộc sống gia đình, thường hay dẫn đến ly dị hoặc chia tay Con cái những người nghiện rượu sau này thường hay có những kiểu cách hành vi nhất định và đặc biệt là có nhiều hiểm nguy trở thành nghiện hay gắn bó với một người nghiện rượu [35, tr.172]

Bên cạnh đó, trong nghiên cứu trên 670 nam sinh viên và người trưởng thành trẻ tuổi về “Thực trạng biểu hiện hành vi nghiện rượu bia của nam sinh viên và người trưởng thành trẻ tuổi tại Việt Nam” của tác giả Huỳnh Văn Sơn cho thấy, dù các hành

vi lệch chuẩn thuộc mức hiếm khi và không bao giờ như: “hành vi bạo lực với người khác khi bị ngăn cản uống rượu bia”,“từng lấy tiền của người thân hoặc cá nhân khác

để mua rượu mà không được sự cho phép”, “hành vi bạo lực với người khác khi uống rượu say”, “đập phá đồ đạc khi đã uống rượu say” nhưng cũng đã mang lại những vấn

đề rất đáng lo ngại Bởi các hành vi này không đơn thuần và vi phạm chuẩn mực đạo

Trang 24

đức xã hội, rối loạn trật tự công cộng và ảnh hưởng đến người thân mà nghiêm trọng hơn, một số hành vi đã vi phạm pháp luật một cách rõ ràng [36]

Tóm lại, vấn đề nghiên cứu về hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đã được nhiều nhà khoa học trên đủ mọi lĩnh vực y học, tâm lý học, xã hội học trên thế

giới cũng như ở Việt Nam đã từng quan tâm Tuy nhiên, việc nghiên cứu sâu về những

biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia với các thành viên gia đình vẫn còn rời rạc, thiếu tính hệ thống

Ở Việt Nam, tình trạng nghiện rượu bia thật sự được nhìn nhận như một vấn nạn của xã hội Trong khi đó, số lượng người dùng rượu, bia mới vẫn liên tiếp gia tăng, mặc cho việc nghiện rượu, bia có thể gây nên nhiều tác hại trực tiếp cho bản thân người nghiện lẫn cộng đồng xã hội mà đặc biệt là đối với những người thân trong gia đình người nghiện Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng nghiện rượu, bia cũng như tác hại của việc nghiện này đối với cộng đồng, tuy nhiên, việc nghiên cứu về hành

vi hung tính của người nghiện rượu, bia thật sự hãy còn là một lĩnh vực mới mẻ Đề tài

nghiên cứu “Biểu hiện hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các

thành viên trong gia đình tại TP.HCM” sẽ bước đầu góp thêm tiếng nói trong việc

nghiên cứu hành vi của những người nghiện rượu, bia dưới góc độ tâm lý học nói chung ở Việt Nam

1.2 Lý lu ận nghiên cứu về hành vi hung tính

1.2.1 Các v ấn đề lý luận về hành vi

1.2.1.1 Khái ni ệm về hành vi

Thuật ngữ hành vi đã xuất hiện rất lâu đời trong khoa học tâm lý cũng như nhiều ngành khoa học xã hội và y học khác nhau Đến nay, trong lý luận lẫn thực tiễn vẫn có

vô vàn cách định nghĩa về hành vi

Các nhà tâm lý học hành vi quan niệm rằng: “Bất kỳ cái gì một người làm là hành vi, còn cái gì một người có là nét tính cách” và “cá nhân khác nhau ở hành vi của mình do những khác biệt”[9]

Theo Wastson, tâm lý (của cả người và con vật) chỉ là các dạng hành vi khác nhau Hành vi là tập hợp các phản ứng ® của cơ thể đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài (S) Nhiệm vụ của nhà tâm lí học là mô tả và lượng hoá các hành vi

Trang 25

đó, đúng như nó diễn ra trong tình huống xác định Phương pháp của nhà tâm lí học là quan sát khách quan và thực nghiệm các phản ứng của cơ thể khi có tác nhân kích thích, nhằm mục đích xác định tương quan giữa kích thích và phản ứng [15]

Với các nhà tâm lý học Mácxít, hành vi con người không còn đơn thuần là hành

vi phản ứng mà thành hành vi tích cực, theo X.L Rubinstêin: “Hành vi là kết quả của hành động tích cực của chủ thể đối với các đối tượng chủ thể gặp trong một hoàn cảnh nào đó” [12, tr.172]

Theo A.N Leonchiev, hành vi không phải là những phản ứng máy móc của một

cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động [12]

Theo Hersey và Hard, đơn vị cơ sở của hành vi là một hành động Toàn bộ hành

vi là một chuỗi hành động [15, tr.29]

Tại Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo khoa học nghiên cứu

về hành vi, định nghĩa về hành vi vì thế cũng vô cùng phong phú, đa dạng

Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên thì “hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn

cảnh cụ thể nhất định” [32, tr.424]

Từ điển Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng định nghĩa hành vi như sau: Hành vi là sự tác động qua lại giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh, do tính tích cực bên ngoài (kích thích) và bên trong (nhu cầu) thúc đẩy Thuật ngữ hành vi dùng để chỉ hành động của các cá thể riêng biệt hay của nhóm, loài (hành vi một chủng loại sự vật hay một nhóm xã hội) [7, tr.259]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc, người có rất nhiều bài viết, giáo trình nghiên cứu

về hành vi và hoạt động, hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động và bao

giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích [12, tr.105]

Tác giả Vũ Gia Hiền cho rằng hành vi của con người bao giờ cũng có mục tiêu,

mục đích và thông qua sự thúc đẩy của động cơ Ông cho rằng, sở dĩ hành vi xuất hiện

là do có nhu cầu muốn đạt được một mục đích nào đó Hành vi bao giờ cũng hướng đến mục đích, mục đích là đối tượng của nhu cầu mà con người cần thỏa mãn, chiếm đọat, sử dụng, xác lập, sở hữu, hoặc giải phóng con người [19]

Trang 26

Trong Tâm lý học xã hội thì hành vi được quan niệm như “hành động hay ý định hành động mà cá nhân sẽ ứng xử với đối tượng” Khi nói đến hành vi người, chúng ta

hiểu đó “là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm

lý bên trong của chủ thể” [21, tr.325]

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, hành vi là những biểu hiện ra bên ngoài nhưng lại

thống nhất với cấu trúc tâm lý bên trong của nhân cách, là sự thống nhất giữa hình

thức bên ngoài và nội dung tâm lý bên trong Hành vi bên ngoài chỉ là biểu hiện của

một đời sống tâm lý bên trong và được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của nhân cách [35]

Tiếp thu những qua niệm đa chiều về hành vi, chúng tôi cho rằng hành vi là

nh ững phản ứng, ứng xử của cá nhân trước một đối tượng, hoàn cảnh nào đó; mà

ph ản ứng, ứng xử này thể hiện cấu trúc tâm lý bên trong của người thực hiện hành vi đó

Đây chính là cơ sở quan trọng để xác lập khái niệm hành vi hung tính của người nghiện rượu bia đối với các thành viên trong gia đình

1.2.1.2 Phân lo ại hành vi

Trong tâm lý học, đã có rất nhiều cách phân loại hành vi khác nhau Từ khi mới

bắt đầu nghiên cứu về Tâm lý học hành vi, B.F Skiner, nhà hành vi tạo tác của Mỹ đã cho rằng, hành vi được phân loại thành hành vi tốt, hành vi xấu, hành vi đúng, hành vi sai, không quy vào lòng tốt hay ác ý, không quy về tính cách tốt, xấu, không quy về những tri thức về cái đúng hay cái sai Hành vi được quy về các hoàn cảnh [15, tr 84,

85]

Theo tâm lý học ngày nay, có thể phân loại hành vi thành các nhóm như sau:

* Xét theo khía c ạnh giá trị

- Hành vi tiêu cực: Hành vi tiêu cực của chủ thể xuất hiện trong các hành động đối lập với những nhu cầu của cá nhân hoặc các nhóm xã hội khác Hành vi tiêu cực có

thể là phản ứng theo tình huống, hoặc là đặc điểm cá nhân xuất hiện do nhu cầu của

chủ thể nhằm tự khẳng định bản thân, nhằm bảo vệ “cái tôi” của mình Hành vi tiêu

cực còn là kết quả của tính ích kỷ, thờ ơ với lợi ích và nhu cầu của người khác Cơ sở tâm lý của hành vi tiêu cực là tâm thế xuất hiện do chủ thể không đồng tình, phủ nhận

Trang 27

những đòi hỏi, những mong đợi của các thành viên trong các nhóm xã hội Hành vi tiêu cực xuất hiện cũng do sự chối bỏ hoặc chống lại các quan hệ vốn đã hình thành trong tập thể

- Hành vi tích cực: Hành vi tích cực là hành vi chủ thể có thể làm được và mong

muốn làm điều đó, tuy nhiên nó phải đáp ứng được sự mong đợi của người khác Để

tiến hành hành vi tích cực thì chủ thể phải có nhận thức đúng đắn, có tâm thế sẵn sàng, thái độ tích cực và có ý chí để thực hiện [1]

* N ếu căn cứ vào tính chất của hành vi

- Hành vi công khai: Hành vi công khai là hành vi được chủ thể tiến hành trong

một môi trường cụ thể và trước sự quan sát và chứng kiến của người khác

- Hành vi che giấu: Hành vi che giấu là hành vi được chủ thể thực hiện nhằm không cho người khác chứng kiến [1]

* N ếu xem xét theo chuẩn mực hành vi

- Hành vi hợp chuẩn: Hành vi hợp chuẩn là hành vi phù hợp với chuẩn mực của

một nhóm, một cộng đồng xã hội; những hành vi mà mọi người mong đợi từ một thành viên nào đó

- Hành vi lệch chuẩn: Hành vi lệch chuẩn là những hành vi không đáp ứng được

sự mong đợi của một nhóm người nào đó, nó lệch với chuẩn mực của một nhóm, một

cộng đồng [19]

* N ếu căn cứ vào phạm vi tác động của hành vi

- Hành vi hướng vào chính mình: Hành vi hướng vào chính mình là những hành

vi ảnh hưởng trực tiếp lên chính chủ thể

- Hành vi hướng đến người khác: Hành vi hướng đến người khác những hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến những mối quan hệ xung quanh, thông qua đó tác động trở lại

với chính chủ thể

- Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng: Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng

là những hành vi tác động và ảnh hưởng trực tiếp lên các sự vật và hiện tượng và

những hành vi tác động này sẽ ảnh hưởng đến chính chủ thể gây ra hành vi [1]

Tóm lại, tùy thuộc vào quan điểm, hoàn cảnh cụ thể sẽ có những cách phân loại hành vi khác nhau

Trang 28

Khi nghiên cứu hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các thành viên gia đình, chúng tôi phân loại hành vi theo phạm vi tác động của hành vi Cụ thể là hành vi của các khách thể nghiên cứu của đề tài này hướng vào chính mình, đến người khác và hướng đến các sự vật, hiện tượng xung quanh Bởi từ cách phân loại hành vi này, sẽ nhìn được “hậu quả” tác động của hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia một cách rõ ràng nhất

1.2.2 Khái niệm hành vi hung tính

1.2.2.1 Các định nghĩa về hành vi hung tính

Để định nghĩa được hành vi hung tính, cần phân tích về thuật ngữ hung tính Từ

“hung tính” – aggressive (tiếng Anh) có nguồn gốc từ tiếng Latinh “aggressio” có nghĩa là “sự tấn công” Hiện tượng này gắn liền với các cảm xúc âm tính (cơn tức giận), các động cơ (cố gắng gây nhiều tác hại), các mục đích và các hành vi phá hủy [2]

Trong từ điển Tiếng Việt chữ “hung” có nghĩa là sẵn sàng có những hành động thô bạo, dữ tợn mà không tự kiềm chế nổi Nó là gốc của các từ như: hung tàn, hung

ác, hung bạo, hung dữ, hung hăng, hung hãn… [30], [32]

Cho đến nay, thuật ngữ hung tính được các nhà nghiên cứu định nghĩa rất khác nhau L Bender cho rằng: hung tính là khuynh hướng tiến tới đối tượng hoặc rời xa đối tượng Theo H Delgado, tính hung tính của loài người có phản ứng hành vi được biểu hiện thông qua sức mạnh của sự nỗ lực mang lại sự đau khổ và gây thiệt hại cho

cá nhân và cho xã hội A Bace xem xét hung tính như một phản ứng mà kết quả của

nó là nhưng tác động đau đớn Wilson lại cho rằng, hung tính có các hành vi thể chất hoặc sự đe dọa của hành động đó từ hướng một cá thể làm giảm bớt sự tự do hoặc là

sự thích ứng bẩm sinh của cá thể khác [63]

Hung tính được xác định là kiểu hành vi tấn công gây tổn hại hoặc thương tích cho người khác một cách có chủ ý, vi phạm các chuẩn mực xã hội (pháp luật và đạo đức) Hành vi hung tính được lặp đi lặp lại và kéo dài Hung tính gây tật chứng có ý nghĩa lâm sàng trong các hoạt động xã hội, học tập hay lao động Kiểu hành vi này thường có ở nhiều môi truờng như gia đình, trường học hay cộng đồng [2]

Trang 29

Có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về khái niệm hung tính Dưới góc độ của tâm sinh học, giống như một số loài động vật, ở loài người cũng tồn tại một cơ chế sinh lý làm nảy sinh các cảm giác nóng giận chủ quan và một số biến đổi thể chất mà

cơ thể phải đối kháng lại; Quan điểm của tiếp cận nhận thức - hành vi lại cho rằng, hung tính có mối quan hệ chặt chẽ với nhu cầu tấn công hoặc xúc phạm người khác nhằm làm giảm giá trị, chế giễu hoặc gây thiệt hại cho họ Phân tâm học có cách tiếp cận đầy đủ hơn về hung tính như sau: hung tính là một phản ứng xung năng, đó cũng

là một phản ứng do những trở gây ra cho các nguyên tắc khoái cảm, hay hung tính sản sinh ra từ xung năng chết (Freud) nhằm làm hại đối tượng theo một cách thức riêng, có thể là phá hủy hoặc làm tổn thương đối tượng [11], [63]

Tác giả Nguyễn Khắc Viện định nghĩa hung tính là những hành vi hung bạo

nhằm tấn công gây đau thương chết chóc cho đối thủ [42]

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, hành vi hung tính là một phần của phẩm chất tâm lý của con người dưới sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn tới nhận thức và xúc cảm âm tính, được biểu hiện ra ngoài bằng các hành vi tấn công hoặc gây tổn thương cho người khác và cho bản thân” Và, “hành vi hung tính là những tác động của trạng thái cơ thể được thể hiện qua hành vi đó là sự tấn công người khác hay lời nói mang tính đe dọa, chỉ

trích, vu khống trong mối quan hệ giữa người và người” [33]

Theo DSM IV (Sách Chẩn đoán và Thống kê của Hội Tâm thần học Hoa APA), từ phiên bản đầu tiên được công bố vào năm 1952, đến nay đã là phiên bản thứ

kỳ-5 (DSM-IV-TR: APA 2000) thì hung tính được xếp vào các dạng rối loạn hành vi Cơ chế của hành vi rối loạn hung tính: Ở một người bình thường thì xung lực cân bằng với

sự kiểm soát Nghĩa là cá nhân ấy còn kiểm soát được hành vi của mình Còn đối với

cá nhân hung tính thì quá trình xung lực mạnh hơn và tạo ra sự mất cân bằng ở họ Hung tính còn do những tác động của trạng thái bên trong cơ thể (internal states): đó là những sai lệch về cấu trúc hoặc bị thương tổn một chức năng gì đó: người ta nhận thấy, trung khu kiểm soát hung tính là ở hạnh nhân Ví dụ, nếu kích thích dòng điện rất nhỏ vào vùng hạch nhân của một người nào đó thì thấy người đó nổi xung ngay lập tức Ngược lại, người ta cũng làm thí nghiệm cắt bỏ vùng hạch nhân của một số đối tượng hung tính thì thấy tính tình của họ thay đổi và trở nên không hung tính như

Trang 30

trước nữa Hung tính, nói chung, thường do tác động của môi trường một cách vô thức [62]

Theo tổ chức y tế thế giới WHO, hành vi hung tính được chẩn đoán theo một số tiêu chuẩn sau:

Đó là sự hung hãn với người, súc vật, sự vi phạm nghiêm trọng các luật lệ; đó là một kiểu hành vi lặp đi lặp lại Một người có biểu hiện hung tính là người có ba hay nhiều hơn trong các tiêu chuẩn sau trong 12 tháng qua

1 Thường bắt nạt đe dọa hay uy hiếp người khác

2 Thường khởi xướng đánh nhau

3 Dùng vũ khí có thể gây hại nghiêm trọng về thể chất cho người khác (ví dụ gậy, gạch, mảnh chai, dao, súng )

4 Độc ác về thể chất với người khác

5 Độc ác về thể chất với súc vật

6 Ăn cắp trong khi đối mặt với nạn nhân (cắp giật, tống tiền ) Phá hoại tài sản

7 Cố ý gây cháy với ý định gây thiệt hại nghiêm trọng

8 Cố ý phá hoại tài sản của người khác

9 Thường sống qua đêm ngoài gia đình ít nhất hai lần trong khi đang sống ở nhà cha mẹ hay nhà người đại diện bố mẹ (hay một lần không trở về trong một thời

kỳ dài)

10 Thường trốn học, bắt đầu trước tuổi 13, đối với trẻ lớn tuổi hơn, hành vi này biểu hiện bằng thường xuyên vắng mặt không lý do ở nơi làm việc [51]

Đây cũng chính là những tiêu chí định hướng mà người nghiên cứu lựa chọn để

sử dụng trong bảng hỏi của đề tài, nhằm tìm hiểu thực trạng hành vi hung tính của người nghiện rượu, bia đối với các thành viên gia đình

1.2.2.2 Các thuật ngữ liên quan

* Phân biệt các thuật ngữ hung tính, bạo lực và gây hấn

Nhiều người có sự nhầm lẫn khi đồng nhất thuật ngữ hung tính, bạo lực và gây hấn Tuy nhiên cả về mặt thực tế và khoa học đều không phải vậy Theo nguyên bản

tiếng Anh, từ agrresive, được dịch là hung tính, hay gây hấn tùy từng ngữ cảnh Còn violence behavior có nghĩa là hành vi bạo lực [25]

Trang 31

Trong Từ điển tiếng Việt (1994), Nxb Khoa học xã hội, tác giả Văn Tân định nghĩa gây hấn là sự khiêu khích nhằm làm nổ ra chiến tranh Tương tự, tác giả Nguyễn Lân cũng định nghĩa rằng gây hấn là khiêu khích để cho chiến tranh bùng nổ [30] Hung tính chỉ sự tác động trực tiếp của người gây hành vi, có hậu quả (gây tổn hại về thể chất hoặc tinh thần) tức thì [30] Hung tính là những hành vi hung bạo nhằm tấn công gây đau thương chết chóc cho đối thủ [32]

Trong các nghiên cứu về hành vi của con người, các tác giả P.U Bender, L Berkowitz, R Beron cho rằng, gây hấn là một dạng đặc biệt của hành vi, còn tính hung tính là đặc điểm tâm lý trong cấu trúc của nhân cách Gây hấn được xem xét như một quá trình có tổ chức, thực hiện chức năng đặc trưng, còn hung tính được hiểu như một thành phần của hệ thống phức tạp, là một phần của hệ thống tâm lý con người [33]

Tương tự, tác giả Trần Thị Minh Đức, cho rằng, hành vi gây hấn (hay còn gọi là xâm kích) được hiểu là hành vi có chủ ý, có ý thức nhằm gây tổn hại hoặc gây thương tích cho người, vật, cho dù mục đích có đạt được hay không Đó là loại hành vi vi phạm các chuẩn mực xã hội ở khía cạnh pháp luật, đạo đức và tâm lý Gây hấn còn là hành vi có ý nghĩa đánh giá về mặt nhân cách xã hội của con người Gây hấn chỉ tính chất của hành vi là tính hung hãn, hung tính, tính xâm kích [9]

Còn thuật ngữ ”bạo lực” được hiểu là sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ [12] Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị,

nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ

xã hội nói chung Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với

trẻ em… Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại… với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình) Nói một cách dễ hiểu hơn, đó là việc “các thành viên gia đình vận dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề gia đình” [28]

Gây hấn không đồng nhất với bạo lực Trong khi bạo lực thường được nhắc tới như là những hoạt động thiên về thể chất như “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”, hay ám

Trang 32

chỉ cách ứng xử, những hành động mang tính phi pháp, thù địch mang sắc thái tiêu cực; thì gây hấn mang trường nghĩa rộng hơn: có thể mang tính bạo lực hoặc cũng có thể không mang sắc thái thù địch trong hành vi gây hấn, khi đó hành vi gây hấn chỉ là công cụ giúp chủ thể của hành vi nhận được một kết quả khác khi thực hiện hành vi gây hấn đó Hành vi bạo lực thường được xem xét ở mức độ hậu quả đã gây ra, nếu chưa gây hậu quả “đáng tiếc” thì chưa gọi là hành vi bạo lực; còn hành vi gây hấn lại được chú ý tới nhiều hơn ở mặt bản chất của hành động, kể cả khi chưa gây ra hậu quả đáng tiếc hay tổn hại nào thì cũng vấn được xem là có biểu hiện của hành vi gây hấn Còn đối với gây hấn phương tiện, hành vi gây hấn chỉ mang ý nghĩa như một phương tiện, một công cụ nhằm đạt được những mục đích khác mà không phải là sự giải tỏa trực tiếp những giận dữ hay căng thẳng nội tại như trên Trong nhiều nền văn hóa, nam giới có nhiều khả năng thể hiện sự gây hấn trực tiếp, đặc biệt là bạo lực thể chất Trong khi đó phụ nữ có nhiều khả năng thể hiện sự gây hấn gián tiếp, hoặc gây hấn phi bạo lực như là qua lời nói, qua kiểu bắn tin, nói xấu sau lưng… [9]

Như vậy, xét ý nghĩa trong ngôn ngữ đời sống bình thường lẫn trong nghiên cứu khoa học Tâm lý các thuật ngữ ”hung tính”, ”bạo lực” và ”gây hấn” hoàn toàn không đồng nhất với nhau Thực tiễn cho thấy, khi gây hấn một người có thể bộc phát hành vi bạo lực, trong hành vi bạo lực cũng có thể biểu hiện rõ thái độ gây hấn Khi gây hấn, một cá nhân sẽ biểu hiện hành vi hung tính, tuy nhiên, có những hành vi hung tính lại không hàm ý gây hấn Nhưng, có một điều chắc chắc, “gây hấn”, “bạo lực” và

“hung tính” không phải là một Một cá nhân có hành vi hung tính, có thể là người gây hấn, gây bạo lực Nhưng không thể đảo ngược kết luận này khi cho rằng người gây bạo lực là người hung tính

Sự phân biệt các khái niệm này, một lần nữa khẳng định hành vi hung tính là

s ự tấn công có chủ đích, mang tính chất hung bạo, của một cá nhân với sự vật,

hi ện tượng, con người xung quanh; mà sự tấn công có chủ đích này thể hiện cấu trúc tâm lý bên trong c ủa người thực hiện hành vi đó Đây cũng chính là định

nghĩa về hành vi hung tính mà người nghiên cứu xác định ở đề tài này

Trang 33

Dưới góc độ pháp lý, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này (Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000)

Tuy nhiên, trong thực tế đời sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm gia đình: gia đình là tập hợp những người cùng có tên trong một sổ hộ khẩu; gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà…

Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình được chia thành rất nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống; gia đình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầy đủ… Tóm lại, gia đình được

chúng tôi quan niệm là tập hợp những người gắn bó với nhau hôn nhân, quan hệ

huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, có chung các giá trị vật chất, tinh thần, có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi duỡng, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau

Xuất phát từ những quan niệm khác nhau về gia đình dẫn tới những quan niệm khác nhau về thành viên gia đình [31]

* Thuật ngữ thành viên gia đình

Thành viên gia đình có thể được hiểu là những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng; hoặc cũng có quan điểm cho rằng thành viên gia đình là những người cùng được ghi tên trong một sổ hộ khẩu; hoặc là những người cùng sống trong một gia đình…

Trang 34

Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa truyền thống là tất cả những người trong cùng dòng họ, trong một đại gia đình từ cụ, kỵ, ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, cháu chắt (bao gồm cả con dâu, con rể, cháu dâu, cháu rể )

Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa hiện đại là những người sống trong cùng một gia đình, có đời sống chung về mặt vật chất và tinh thần như cha mẹ và con cái,

vợ và chồng, những người khác sống cùng như người giúp việc, giữa những người đã từng là con dâu với cha mẹ chồng, đã từng là con rể với cha mẹ vợ, giữa những người sống chung với nhau như vợ chồng Những người này có một khoảng thời gian sống chung với nhau ổn định, có sự quan tâm chia sẻ với nhau những công việc của gia đình

và xã hội, từ đó hình thành nên mối liên hệ đặc biệt về tâm lý, tình cảm, tạo nên cách ứng xử giữa họ với nhau [24]

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, thành viên trong gia đình được giới hạn

là vợ, con, cha mẹ, anh chị em ruột thịt, chung sống trong gia đình với người nghiện rượu, bia Đây chính là các khách thể bổ trợ của đề tài nghiên cứu này

1.2.3 Các nguyên nhân xuất hiện hành vi hung tính

Các nhà nghiên cứu Tâm lý học đương đại, nhìn nhận về nguyên nhân chủ yếu của hành vi hung tính như sau:

1.2.3.1 Yếu tố sinh học

- Yếu tố gen: Những nghiên cứu gần đây cho rằng di truyền rõ ràng đóng một vai trò trong sự xuất hiện những khác biệt cá nhân về hành vi hung tính Những đứa trẻ sinh đôi đồng hợp tử có hung tính hơn những đứa trẻ sinh đôi dị hợp tử [9]

- Yếu tố hoóc môn: Những bằng chứng gần đây cho thấy những đứa trẻ có khó khăn như dễ gắt gỏng, dễ cáu kỉnh, khó trấn tĩnh (bình tĩnh trở lại) thì dễ phát triển khuôn mẫu hành vi hung tính ở lứa tuổi sau này Những đứa trẻ được xem xét là khó khăn ở 6 - 13 - 24 tháng tuổi sẽ có tỷ lệ sợ hãi, hiếu động và thù ghét nhiều hơn khi chúng lên 3 tuổi Vậy vấn đề đặt ra là sự tác động của nhân tố sinh học có kết thúc ở giai đoạn trẻ thơ không? Những nghiên cứu cho thấy tác động của nhân tố sinh học còn tồn tại cho tới tuổi vị thành niên Trong một nghiên cứu đối với những đứa trẻ trên

15 - 17 tuổi ở Thụy Điển đã phát hiện thấy mối liên hệ giữa hàm lượng hoóc môn Testosterone và hung tính Những đứa trẻ có hàm lượng Testosterone cao thì dễ có khả

Trang 35

năng phản ứng hung hãn, thô bạo đối với những sự khiêu khích và đe dọa của người khác Trong trường hợp này thì Testosterone có ảnh hưởng trực tiếp tới việc nảy sinh hành vi hung tính ở con người

Những đứa trẻ có hàm lượng Testosterone cao thì thường kém kiên nhẫn hay gắt gỏng, cáu kỉnh, sẵn sàng tham gia các loại hung tính hủy hoại mà không phải do khiêu khích, không do kích động (như bắt đầu đánh nhau, nói những điều tục tĩu, xấu

xa mà không phải do bị kích động, khiêu khích) Trong trường hợp này hoóc môn có tác động gián tiếp tới mức độ hung tính

Ảnh hưởng hoóc môn không chỉ đối với trẻ trai mà còn ảnh hưởng đến cả trẻ gái Trong một nghiên cứu khác về tác động của hoóc môn cho thấy lượng hóc môn tăng lên ở tuổi dậy thì có liên quan tích cực đến sự thể hiện giận dữ và hung tính khi trẻ em gái ở tuổi vị thành niên tương tác, giao tiếp với bố mẹ

- Nguyên do từ những tổn thương khi đẻ non: Điều này có thể là tiền đề cho hành vi chống xã hội bởi khi sinh ra trẻ phải cần một sự chăm sóc y tế tích cực, trẻ cần phải tách khỏi cha mẹ để chăm sóc trong bệnh viện trong nhiều tuần, thậm chí vài tháng Điều này có thể làm ảnh hưởng xấu đến quá trình gắn bó, góp phần vào khó khăn trong các quan hệ người - người sau này Tổn thương não sau khi sinh có thể liên quan tới hành vi chống đối xã hội Não bị tổn thương làm cho trẻ học tập khó khăn Hung tính thường gặp hơn ở những đứa trẻ có trí tuệ thấp Não bị tổn thương là một trong các nguyên nhân trí tuệ chậm phát triển Hung tính không phải do bệnh lý của hệ thầnkinh tham gia Trẻ bị tổn thương về thần kinh, có thể bị bố mẹ hoặc người thân bỏ mặc Điều này có thể ảnh hưởng đến tự trọng của trẻ và liên quan tới việc nuôi dạy không tốt [9]

- Yếu tố khí chất: Cá nhân khó khăn về khí chất (không cân bằng, hưng phấn mạnh hơn ức chế) thì có cơ hội phát triển các vấn đề hành vi hơn những trẻ có khí chất

dễ dàng Tuy nhiên điều này phụ thuộc nhiều vào khí chất và trách nhiệm của bố mẹ

Sự xung đột giữa khí chất của trẻ và bố mẹ đôi khi là nền tảng của hung tính nghiêm trọng và kéo dài Tuy nhiên, một số gia đình lại thành công trong việc nuôi dạy trẻ có khí chất khó khăn [9]

Trang 36

1.2.3.2 Yếu tố môi trường

Patterson đã quan sát gia đình của những trẻ hung tính và trẻ không hung tính tại môi trường gia đình của chúng Những đứa trẻ trong nghiên cứu của ông là những trẻ đang đi học và những trẻ đang ở các cơ sở y tế để điều trị hành vi hung tính Ở gia đình có trẻ hung tính thì có xu hướng làm ngơ, không quan tâm và mâu thuẫn trong việc trừng phạt những hành vi sai lệch của trẻ và không có hiệu quả trong việc tặng thưởng cho trẻ có những hành vi hợp chuẩn Những cha mẹ của trẻ em hung tính thường trừng phạt chúng nhiều hơn, họ trừng phạt trẻ ngay cả khi chúng có những hành vi phù hợp Kết quả là làm phát triển ở trẻ thái độ thù ghét hoặc hành vi chống đối với những cưỡng bức/ ép buộc của cha mẹ chúng [9]

Trong các nghiên cứu đã chỉ ra có một bộ phận không nhiều các bậc cha mẹ có chủ ý dạy trẻ tính tấn công, xâm kích người khác để tự vệ hoặc để trở thành người đàn ông Nhưng hầu hết cha mẹ nào sử dụng hình phạt về thể chất, đặc biệt dựa trên cơ sở bất đồng thì thường có những đứa con hung hăng và có thái độ thù ghét [9]

Ngoài ra nguy cơ với hành vi hung tính tăng ở trẻ em có cha mẹ bị rối nhiễu nhân cách chống xã hội hoặc một anh, chị hay em bị rối nhiễu hành vi Hành vi này thường gặp hơn ở trẻ em có cha mẹ học sinh bị nghiện rượu, bị các rối nhiễu khí chất hay tâm bệnh phân liệt hoặc cha mẹ học sinh có tiền sử rối nhiễu thiếu sót chú ý/háu động hay rối nhiễu hành vi chống đối xã hội Gia đình không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển hành vi hung tính của trẻ thông qua cách thức giáo dục con cái mà còn mang tính gián tiếp khi cha mẹ không kiểm soát được các hoạt động của trẻ ở ngay trong gia đình và ngoài gia đình Nhiều bậc cha mẹ có con hung tính không biết con họ đang làm gì, đang chơi ở đâu, chơi với ai [9]

Không riêng gì gia đình, các yếu tố xã hội bên ngoài gia đình cũng có những ảnh hưởng nhất định tới hành vi hung tính ở cá nhân Người ta thấy trẻ em thường xuyên phải chuyển nhà hoặc chuyển trường có tỷ lệ hành vi hung tính cao Tỷ lệ trẻ có hành vi hung tính ở thành phố cao hơn nông thôn, đặc biệt ở khu vực tầng lớp khó khăn của thành phố lớn [9]

Ngoài ra, trẻ hung tính ở trường thường bị các bạn tẩy chay, chúng thất bại trong học tập Từ đó những đứa trẻ này sẽ tìm kiếm những nhóm trẻ tự phát ngoài nhà

Trang 37

trường mà thường là những nhóm trẻ có hành vi lệch chuẩn, chống đối xã hội Nhóm trẻ tự phát này là môi trường thuận lợi để duy trì và tập nhiễm những hành vi chống đối xã hội và hoạt động phạm pháp [64]

1.2.3.3 Việc nghiện các chất và hành vi hung tính

Theo tổ chức y tế thế giới, nghiện rượu là một lọai bệnh tật dạng rối loạn tâm thần do sử dụng các chất tác động tâm thần Phân loại quốc tế về bệnh tật (International Classification of Diseases, viết tắt: ICD) các bệnh tật dạng rối loạn tâm thần sẽ có mã từ F10 đến F19 Trong đó, rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, hành vi sử dụng các chất giúp người nghiện có cảm giác sảng khoái và tránh được cảm giác khó chịu vì thiếu chất Cảm giác này do các serotonin hoặc adrenalin phát sinh trong não của người nghiện Hành vi nghiện rượu bia là những biểu hiện được lặp đi lặp lại, tương đối ổn định của người nghiện rượu bia đáp ứng với môi trường xung quanh do bị lệ thuộc về mặt thể chất và tinh

thần vào chất cồn Hành vi nghiện rượu bia bao gồm hành vi bên ngoài và hành vi bên trong để đáp ứng sự lệ thuộc rượu bia bất chấp hành vi đó có ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, cuộc sống của bản thân cũng như của người khác [35]

Đặc điểm chủ yếu của hành vi nghiện chất là:

1 Gây sự lệ thuộc về mặt thể chất hoặc về mặt tâm lý, nghĩa là người nghiện sẽ khó long kềm chế, không sử dụng chất gây nghiện nữa dù lý trí của họ thật sự không muốn sử dụng chúng Về mặt tâm lý, người nghiện luôn có sự ham muốn không kiềm chế nên phải sử dụng chất như ma túy, bia, rượu, thuốc lá… Còn về mặt thể chất, nếu một người đã quen dùng chất kích thích nào đó mà lại ngưng, không sử dụng tiếp, sẽ

Trang 38

bị các rối loạn mà chuyên môn y học gọi đó là “ hội chứng cai thuốc” gây cơn vật vã

dữ dội như bị tiêu chảy, ói mửa, đau nhức cơ xương, tim đập hỗn loạn… gây sự khó chịu, thậm chí là đau đớn khổ sở không chịu được nên phải tiếp tục sử dụng

2 Có khuynh hướng tăng liều, nghĩa là người sử dụng chất sau một thời gian cần phải tăng liều mới đạt được tác dụng mong muốn Ví dụ ban đầu người sử dụng bia rượu, chỉ uống 1, 2 ly mỗi ngày, sau đó tăng dần liều đến mức lệ thuộc hẳn vào bia rượu, không thể sống thiếu bia, rượu… [35]

Tác giả Vũ Dũng cho rằng nghiện là trạng thái tâm lý thường là bất bình thường

của con người, xảy ra sau khi bị tiêm nhiễm một cách không chủ định một chất nào đó,

hoặc sử dụng nhiều lần một sự vật, hiện tượng nào đó kèm theo sự biến đổi các quá trình tâm - sinh lý của cơ thể và biểu hiện ra ngoài thông qua hành vi, cách ứng xử và quan hệ của họ với những người xung quanh Nghiện biểu hiện ở ba mức độ sau đây:

- Mức độ nhẹ: Hành vi và cách ứng xử của người nghiện rất khó phân biệt so

với người bình thường

- Mức độ trung bình: Hành vi và trạng thái bất bình thường thỉnh thoảng lại

xuất hiện, nhưng người nghiện vẫn còn ý thức được hành vi, cách ứng xử của mình

- Mức độ nặng: Hành vi và cách ứng xử của người nghiện hoàn toàn hoặc gần như mất khả năng kiểm soát ý thức [7]

Người nghiên cứu căn cứ trên những đặc điểm chủ yếu của hành vi nghiện chất

và bộ lọc do tác giả Huỳnh Văn Sơn xây dựng trong đề tài nghiên cứu khoa học về

Thực trạng hành vi nghiện rượu bia của sinh viên và người trưởng thành trẻ tuổi tại Việt Nam [36] cùng ba mức độ nghiện nhẹ, vừa và nặng theo đề xuất của tác giả Vũ

Dũng để phân biệt mức độ nghiện của những người nghiện rượu, bia trong đề tài nghiên cứu của mình

1.2.3.4 Ảnh hưởng của hành vi hung tính đối với bản thân người thực hiện hành vi

Theo DSM IV thì hành vi hung tính có thể khởi phát từ 5-6 tuổi nhưng thường

ở cuối tuổi trẻ em hay đầu tuổi thanh thiếu niên Khởi phát ít gặp sau 16 tuổi Hung tính sẽ giảm đi khi trẻ vào tuổi người lớn nhưng có một tỷ lệ nhất định tiếp tục kéo dài hành vi này [54]

Trang 39

Thực sự, hung tính là khuôn mẫu hành vi kéo dài, ổn định, thường xuyên, mạnh

mẽ Những hành vi tấn công, xâm kích người khác một cách chủ ý, nghiêm trọng, thô bạo với tần suất cao (thường xuyên), tuy nhiên, không chỉ gây tổn thương cho đối tượng bị thực hiện hành vi, mà hành vi hung tính còn gây tật chứng có ý nghĩa về mặt lâm sàng trên hoạt động xã hội, học tập hay lao động của cá nhân thực hiện hành vi [54] Trong đó, có nhiều dấu hiệu nhận biết rất rõ ràng như: cá nhân dễ dàng chuyển từ trạng thái ôn hòa sang trạng thái cáu giận/ bực tức vừa phải với tần suất là một vài lần trong ngày hoặc trong mỗi tuần

Ở trẻ thơ, sự bực tức giận dữ là hành vi có vấn đề thì liên quan đến sự kéo dài dai dẳng trầm trọng và mức độ của trạng thái tình cảm tiêu cực khá cao

Những cá nhân hung tính thể hiện kỹ năng nhận thức bị suy giảm sau khi nghe một lời đe dọa, bị tẩy chay, bài xích của nhóm bạn cùng tuổi hoặc của những người khác Phản ứng hành vi bao gồm cả bạo lực, có thể diễn ra khi thể hiện sự giận dữ Những hành vi thô bạo có thể là sản phẩm của sự tương tác giữa các cá nhân ở nơi mà những kỹ năng xã hội bị thiếu hụt [2], [17]

Việc xác định những tác hại của hành vi hung tính lên chính bản thân người thực hiện hành vi giúp xác định rõ hơn thực trạng biểu hiện hành vi hung tính trong nghiên cứu này

1.3 Biểu hiện hành vi hung tính của người đàn ông nghiện rượu, bia

1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của người đàn ông nghiện rượu, bia

Khách thể nghiên cứu của đề tài là những người đàn ông trưởng thành, đã tự kiếm sống bằng sức lao động của chính mình Đó có thể là trụ cột kinh tế của một gia đình, cũng có thể là người thất nghiệp, không thể tự kiếm tiến lo cho những nhu cầu của bản thân

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về người trưởng thành Theo Từ điển tiếng Việt thì người trưởng thành được hiểu là người đã lớn khôn và tự lập được [45] Trong

Từ điển Anh - Việt thì từ “adult” được dịch là người lớn với nghĩa là người trưởng thành về mặt tâm tư tình cảm, đủ tuổi để đi bầu cử, lập gia đình; là người thành niên

Sự trưởng thành của con người phụ thuộc rất cụ thể vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, xã hội, giáo dục của lừng cộng đồng, từng dân tộc, từng thời đại khác nhau

Trang 40

Nghiên cứu về Tâm lý học phát triển, tác giả Vũ Thị Nho (2006) đã kết luận, từ 20 -

40 tuổi là giai đoạn những người đàn ông trưởng thành lập thân và lập nghiệp Ở giai đoạn này ở nhiều người trẻ tuổi xuất hiện nhu cầu sẵn sàng gắn bó với người khác, tình yêu nam nữ đích thực xuất hiện Tình yêu nam nữ ở giai đoạn này không chỉ dừng lại

ở sự thơ mộng, lãng mạn mà còn có sự gắn kết lâu dài để trở thành vợ thành chồng, thành những gia đình bền vững Tính có trách nhiệm, giá trị nhân cách trong tình yêu nam nữ được thể hiện rõ rệt [32]

Trong giai đoạn này, ở con người đã hội tụ các tiêu chuẩn cần và đủ để xây

dựng gia đình Nhu cầu của sự gắn kết đối với tình yêu nam nữ có vị trí đặc biệt quan

trọng như vậy nên vấn đề tâm lý tiềm tàng của giai đoạn này là sự cô độc, thất vọng,

thậm chí tuyệt vọng do những thất bại trong quá trình dẫn đến tình yêu và sự gắn bó

bởi nhiều lý do khác nhau Đời sống tâm lý của những cặp vợ chồng trẻ sau ngày cưới

ở độ tuổi này cũng có nhiều vấn đề Hạnh phúc vợ chồng phụ thuộc nhiều vào tình yêu, văn hóa vợ chồng, tinh thần trách nhiệm, đạo đức, nhân phẩm của chính họ trong quá trình sống và hoạt động cụ thể [24]

Nghĩa vụ đối với gia đình, xã hội của những ông bố nặng nề hơn trước và sắc thái hạnh phúc vợ chồng, do đó cũng có nét mới so với trước đây Trong giai đoạn này, việc nuôi dạy con cái sao cho nó phát triển tốt về mặt thể lực, trí tuệ và nhân cách (con khoẻ, con ngoan, trò giỏi) trở thành mục tiêu phấn đấu, trách nhiệm, nghĩa vụ và

niềm hạnh phúc to lớn của những người làm cha Điều này chi phối không ít đến cuộc

sống và tâm lực của người đàn ông trưởng thành bên cạnh sự phấn đấu cho chính bản thân mình [24]

Tác giả Vũ Thị Nho cũng cho rằng quãng đời từ 20 - 40 tuổi là giai đoạn con người tập trung cho sự lập nghiệp Nhìn chung đây là giai đoạn con người đã có nghề

và đang đi vào giai đoạn hành nghề một cách tích cực Cũng chính vì vậy khi người ta

35 - 40 tuổi mà chưa có một nghề nghiệp ổn định, chưa được lao động bằng chính nghề của mình để sống và hoạt động thì sự hụt hẫng về mặt tâm lý xã hội là rất lớn

Những người này cảm thấy bi quan, chán nản, bất mãn, tự ti trong cuộc sống Đây là nguyên nhân tâm lý, xã hội tạo điều kiện cho những tệ nạn xã hội nảy sinh trong đó có

cả hành vi nghiện rượu, bia [32]

Ngày đăng: 01/01/2021, 12:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w