Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ nghiên cứu về hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 thông qua biểu hiện sức khỏe, nhận thức, tình cảm và hành vi ứng xử trong một số hoạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Đào Lưu
HÀNH VI NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI - FACEBOOK
Ở HỌC SINH LỚP 9 TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Đào Lưu
HÀNH VI NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI - FACEBOOK
Ở HỌC SINH LỚP 9 TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tâm lý học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HUỲNH VĂN SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả phân tích là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2015
Nguyễn Thị Đào Lưu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp cao học được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Để có được luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Sau đại học, Khoa Tâm lý – Giáo dục, quý thầy cô đã giảng dạy lớp Cao học Tâm lý học - K23
Xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, thầy cô giáo và học sinh tại các trường THCS Nguyễn Du - Quận 1, THCS Nguyễn Văn Luông - Quận 6 và trường TH Thực hành Sài Gòn - Quận 5 cùng các chuyên gia đã hỗ trợ tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Huỳnh Văn Sơn đã tận tình chỉ dẫn và định hướng trong suốt quá trình nghiên cứu
Cũng xin chân thành cảm ơn động viên từ phía bạn bè, người thân đã luôn đồng hành cùng tác giả trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
PHỤ LỤC 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI – FACEBOOK Ở HỌC SINH LỚP 9 TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 8
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook 8
1.1.1 Một số nghiên cứu về hành vi con người 8
1.1.2 Một số nghiên cứu về hành vi nghiện 10
1.1.3 Một số nghiên cứu về hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook và Internet 14
1.2 Lý luận về hành vi nghiện mạng xã hội – Facebook ở học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh 21
1.2.1 Các vấn đề lý luận về hành vi 21
1.2.2 Các vấn đề lý luận hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook 29
1.2.3 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook 37
1.2.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 9 53
1.2.5 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 56
Chương 2 THỰC TRẠNG HÀNH VI NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI – FACEBOOK CỦA HỌC SINH LỚP 9 TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 62
2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 62
2.2 Mô tả cách thức nghiên cứu đề tài 64
2.3 Phân tích thực trạng hành vi sử dụng và hành vi nghiện mạng xã hội -Facebook của học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh 67
2.3.1 Thực trạng hành vi sử dụng mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 67 2.3.2 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 82
2.3.3 So sánh hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 trên bình diện trường, giới tính, học lực 112
Trang 6KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 125
1 Kết luận 125
2 Kiến nghị 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129 PHỤ LỤC
Trang 7STT KÍ HIỆU Ý NGHĨA
1 THTH Sài Gòn Trung học Thực hành Sài Gòn
2 THCS Trung học cơ sở
3 ĐTB Điểm trung bình
4 ĐLC Độ lệch chuẩn (Độ lệch tiêu chuẩn)
5 Facebook Mạng xã hội - Facebook
6 “Check – in” Cập nhật
7 Online Đăng nhập
8 SNS Mạng xã hội
Trang 8Bảng 2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 63
Bảng 2.2 Cách quy điểm từng câu trong bảng hỏi 65
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp cách quy điểm từng câu 66
Bảng 2.4 Cách tính điểm mức độ hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook 66
Bảng 2.5 Mức độ sử dụng mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 tại thành phố Hồ Chí Minh 67
Bảng 2.6 Thời điểm bắt đầu sử dụng mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh 69
Bảng 2.7 Đánh giá về vai trò của mạng xã hội - Facebook với học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh 71
Bảng 2.8 Đánh về hành vi sử dụng mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh 73
Bảng 2.9 Nhu cầu sử dụng mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh 75
Bảng 2.10 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 83
Bảng 2.11 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua thời lượng truy cập 85
Bảng 2.12 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua tần suất truy cập tại các thời điểm trong ngày 87
Bảng 2.13 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua các biểu hiện sức khỏe 89
Bảng 2.14 Hành vi nghiện mạng xã hội – Facebook thông qua biểu hiện cảm xúc 93
Bảng 2.15 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua biểu hiện nhận thức 95
Bảng 2.16 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua biểu hiện ý chí 97
Bảng 2.17 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua cách ứng xử trong những hoạt động khác 103
Bảng 2.18 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua cách ứng xử với một số mối quan hệ trong cuộc sống 105
Bảng 2.19 Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua một số tình huống giả định 111
Bảng 2.20 So sánh hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 trên bình diện trường, giới tính, học lực 112
Trang 9Biểu đồ 2.1 Biểu đồ nguồn tiếp cận Facebook của học sinh lớp 9 69 Biểu đồ 2.2 Biểu đồ so sánh về thời gian sử dụng với tự đánh giá về hành vi sử
dụng mạng xã hội – Facebook của học sinh 74 Biểu đồ 2.3 Biểu đồ thể hiện tần suất sử dụng phương tiện truy cập mạng xã hội
- Facebook 81 Biểu đồ 2.4 So sánh hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua biểu hiện
sức khỏe và cảm xúc của học sinh lớp 9 trên bình diện trường học 115 Biểu đồ 2.5 So sánh hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook trên bình diện nghề
nghiệp cha mẹ 116 Biểu đồ 2.6 So sánh hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua biểu hiện
nhận thức và xử lý tình huống của học sinh lớp 9 trên bình diện kinh
tế gia đình 117 Biểu đồ 2.7 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi nghiện - Facebook
của học sinh lớp 9 119 Biểu đồ 2.8 Nguyên nhân khiến học sinh ngày càng phụ thuộc vào mạng xã hội
– Facebook 121
Trang 10Ra đời năm 2004 và thâm nhập vào Việt Nam từ năm 2009, với những tính năng công nghệ ưu việt, độ tương tác cao, mạng Facebook đang dần trở thành mạng xã hội phổ biến và được ưa chuộng nhất ở Việt Nam Nhưng việc lạm dụng Facebook quá đà
và thói quen “sống” thật trong môi trường ảo của giới trẻ đã kéo theo nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn trẻ Nhiều bạn trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên đã dành nhiều giờ liền để đăng nhập và cập nhật trạng thái, chia sẻ cảm xúc trên Facebook Trong 5 năm qua, mạng xã hội - Facebook đã phát triển một cách mạnh mẽ Tính đến cuối tháng 9 năm 2012, Việt Nam xếp thứ 54 trên tổng số 213 nước có người sử dụng Facebook [1]
Bên cạnh đó, giao tiếp là một trong những nhu cầu không thể thiếu của bất cứ ai bất cứ lứa tuổi nào mà đặc biệt là tuổi thiếu niên Thông qua giao tiếp, các em phát triển và dần hoàn thiện bản thân mình hơn Lứa tuổi thiếu niên có những thay đổi mạnh mẽ nhưng không đồng đều về mọi mặt cơ thể Những thay đổi gây ra cho các em không ít khó khăn, làm ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp Với sự tăng trưởng đột ngột
về chiều cao cùng sự phát triển không đều về hệ xương thiếu niên cảm thấy mình bị lóng ngóng, vụng về vì thế các em thường không thoải mái khi giao tiếp Ngay lúc đó, Facebook xuất hiện và nó nghiễm nhiên trở thành công cụ hữu hiệu giúp các em khắc phục những khó khăn đó Facebook giữ vai trò như một “chiếc phao cứu sinh” quan trọng
Trang 11Trước đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về học sinh lớp 9 như công trình nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp 9 trường Thực hành Sư phạm của tác giả Lê Duy Hùng cùng nhóm sinh viên trường Đại học Đà Nẵng, khó khăn tâm lý trong giao tiếp với bạn bè (Đề tài luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Thị Xuân Mai), mức độ biểu hiện lo âu trong học tập của học sinh lớp 9 (Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Ngọc Giàu)… Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, học sinh lớp 9 luôn có những vấn đề khó khăn riêng của mình mà vấn đề nổi bật nhất đó chính
là vấn đề về giao tiếp [30] Việc xuất hiện “chiếc phao” Facebook đã làm các em thật
sự tin tưởng và cảm thấy tự tin hơn Tuy nhiên việc các em say mê dẫn đến quá lạm dụng làm cho rất nhiều người đặc biệt là các bạn trẻ dành nhiều thời gian cho việc truy cập Facebook đã trở thành mối lo ngại cho các bậc phụ huynh, nhà trường và toàn xã hội
Ở trường học, lớp 9 là lớp cuối cấp Trung học cơ sở cũng là giai đoạn các phải thực hiện một “sứ mệnh” quan trọng đó là thi chuyển cấp và chọn trường Trung học phổ thông hoặc quyết định học nghề Có nhiều em chỉ vì bị phân tâm, chi phối bởi các yếu tố bên ngoài như nghiện Facebook, học hành giảm sút, nhận thức giá trị lệch lạc…
đã dẫn đến kết quả không như mong đợi Việc nghiên cứu biểu hiện của hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook sẽ giúp người nghiên cứu nắm rõ thực trạng và kịp thời đề xuất giải pháp cho nhằm hạn chế những hậu quả đáng tiếc
Chính vì những lí do trên, người nghiên cứu chọn đề tài “Hành vi nghiện mạng
xã hội - Facebook ở học sinh lớp 9 tại thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định mức độ hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook ở học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế hành
vi nghiện mạng xã hội - Facebook ở các em
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ hành vi nghiện mạng xã hội- Facebook ở học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 123.2.2 Khách thể bổ trợ
Khách thể nghiên cứu bổ trợ là các bậc phụ huynh có con đang học lớp 9 tại các trường, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn trực tiếp giảng dạy tại các lớp nghiên cứu và đội ngũ cán bộ tham vấn học đường tại các trường được nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài như: hành vi, hành vi dưới góc độ Tâm lý học; nghiện, hành vi nghiện dưới góc độ Tâm lý học; mạng xã hội - Facebook, hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook; biểu hiện hành vi nghiện mạng
xã hội - Facebook ở học sinh lớp 9
Khảo sát thực trạng hành vi nghiện mạng xã hội- Facebook ở học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh trên các phương diện sức khỏe, nhận thức, tình cảm và trong một số hoạt động khác
5 Giả thuyết nghiên cứu
Học sinh lớp 9 tại thành phố Hồ Chí Minh có hành vi sử dụng mạng xã hội – Facebook rơi vào mức nghiện nhẹ Hành vi nghiện mạng xã hội – Facebook ở học sinh được thông qua biểu hiện sức khỏe, nhận thức, cảm xúc…ở mức nghiện nhẹ
Có sự khác biệt về hành vi nghiện Facebook giữa học sinh các trường, hoàn cảnh kinh tế gia đình và nghề nghiệp của cha mẹ
Khoảng thời gian sử dụng Facebook của học sinh càng lâu thì mức độ hành vi nghiện càng nặng
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu về hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp
9 thông qua biểu hiện sức khỏe, nhận thức, tình cảm và hành vi ứng xử trong một số hoạt động khác
Trang 137 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc trong nghiên cứu khoa học để xây dựng
cơ sở lý luận như khái niệm hành vi, phân loại hành vi, mạng xã hội, biểu hiện, nguyên nhân và hậu quả của hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được xác lập
7.1.2 Quan điểm thực tiễn
Phương tiện thông tin đại chúng và cũng có một số công trình nghiên cứu khác
đã đưa ra những cảnh báo về thực trạng, một số hậu quả nghiêm trọng xảy ra từ việc nghiện mạng xã hội - Facebook như sa sút học hành, rối loạn hành vi giao tiếp ứng xử, thậm chí xuất hiện trường hợp xảy ra bạo lực học đường chỉ vì bị tác động bởi việc lạm dụng quá mức và mất kiểm soát khi sử dụng Facebook Vì vậy, việc tìm hiểu hành
vi nghiện mạng xã hội- Facebook thông qua biểu hiện sức khỏe, nhận thức, cảm xúc, ý chí và hành vi ứng xử trong những hoạt động khác ở học sinh lớp 9 là cấp thiết Trên
cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế một số biểu hiện của hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook
7.2 Các phương pháp nghiên cứu đề tài
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
a Mục đích
Khái quát hóa, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản, đưa ra những chỉ báo cho vấn đề nghiên cứu Tiến hành thiết lập bảng hỏi dựa trên những chỉ báo nhằm phục vụ cho nghiên cứu
Tổng hợp các tài liệu, bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến “hành vi”,
“hành vi nghiện”, “nghiện Internet, Facebook”, đặc điểm phát triển tâm lý và thể chất lứa tuổi thiếu niên
Trang 14Đưa ra một số quan điểm cá nhân đựa trên những nghiên cứu trước đó
Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài Xây dựng các công cụ nghiên cứu phục vụ cho quá trình tìm hiểu thực trạng hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook
7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài
a Mục đích
Xác định mức độ hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook của học sinh thông qua biểu hiện sức khỏe, nhận thức, tình cảm, ý chí và hành vi ứng xử trong hoạt động khác
b Yêu cầu
Bảng hỏi phải có số lượng và nội dung câu hỏi phù hợp với đối tượng khảo sát (Có
20 câu hỏi, trong mỗi câu hỏi bao gồm một số câu hỏi nhỏ)
Hỏi đúng trọng tâm và mục đích người nghiên cứu đã đặt ra ban đầu là tập trung nghiên cứu mức độ hành vi nghiện - Facebook thông qua nhận thức, sức khỏe, cảm xúc và mối quan hệ của học sinh học sinh lớp 9 với những người xung quanh
Sử dụng từ ngữ dễ hiểu, phù hợp với học sinh lớp 9
c Cách thực hiện
Hệ thống hóa cơ sở lý luận, đưa ra những khái niệm công cụ, chỉ báo và xây dựng
hệ thống câu hỏi dựa trên những chỉ báo đó Người nghiên cứu xây dựng bảng hỏi dành cho khách thể nghiên cứu chính là học sinh lớp 9 để tìm hiểu hành vi nghiện mạng xã hội – Facebook thông qua những biểu hiện của cơ thể, nhận thức, tình cảm và hành vi ứng xử của học sinh
Bảng hỏi gồm 3 phần: lời chào và giới thiệu mục đích nghiên cứu; phần thông tin
cá nhân và cuối cùng là nội dung câu hỏi Phần nội dung bao gồm các câu hỏi nhiều chọn lựa được cấu trúc ẩn gồm:
Phần 1: Thực trạng hành vi sử dụng mạng xã hội – Facebook
Phần 2: Tìm hiểu hành vi nghiện mạng xã hội – Facebook thông qua biểu hiện sức khỏe, cảm xúc, nhận thức, cách ứng xử với người khác
Trang 15 Phần 3: Nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến hành vi nghiện mạng xã hội – Facebook
7.2.2.2 Phương pháp quan sát
a Mục đích
Phương pháp này được thực hiện nhằm ghi nhận những biểu hiện hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook thông qua một số hoạt động cá nhân của học sinh Mục đích chủ yếu của phương pháp này là ghi nhận những biểu hiện về mặt cơ thể (sức khỏe) của học sinh
bè, thầy cô, cha mẹ và những người bạn trên mạng xã hội và cuộc sống
Sau khi ghi nhận lại, người nghiên cứu kiểm tra, sàng lọc những biểu hiện do hành
vi nghiện Facebook gây ra với các hành vi từ những nguyên nhân khác như dùng chất kích thích, mệt mỏi do đau bệnh bằng phương pháp phỏng vấn sâu những chủ thể đó
7.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn
a Mục đích
Phỏng vấn được thực hiện trên đối tượng là học sinh và một số khách thể bổ trợ (phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, bạn bè…) để có thể làm rõ thêm mức độ hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook ở học sinh lớp 9
b Yêu cầu
Hệ thống câu hỏi được soạn phải bám sát nội dung của bảng hỏi chính Đồng thời, bảng hỏi này cần được linh hoạt chỉnh sửa phù hợp với từng đối tượng được phỏng vấn
Người nghiên cứu cần tạo bầu không khí phỏng vấn, trao đổi một cách thoải mái Phải ghi chép cẩn thận các ý kiến của người được phỏng vấn
Cần đảm bảo sự riêng tư của các câu trả lời và ý kiến
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI – FACEBOOK Ở HỌC SINH LỚP 9
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook
1.1.1 Một số nghiên cứu về hành vi con người
1.1.1.1 Các nghiên cứu về hành vi trên thế giới
Từ khi chủ nghĩa hành vi ra đời, vấn đề hành vi con người rất được quan tâm nghiên cứu Đặc biệt là ở thế kỷ 21, vấn đề nghiên cứu tâm lý con người nói chung và hành vi con người nói riêng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết trong việc giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh từ đời sống tinh thần, vấn đề xã hội cũng như khai phá hết những tiềm năng còn tiềm ẩn của con người để đáp ứng sự phát triển không ngừng của
xã hội
Nghiên cứu tác động của các mô hình sống, bạo lực trên phim ảnh, trong phim hoạt hình dẫn đến hành vi bạo lực của trẻ em trước tuổi đi học, Albert Bandura nhận xét: các em được quan sát hành vi bạo lực nhiều hơn so với trẻ em ở nhóm đối chứng Nghiên cứu đã đề cập đến xu hướng mô hình hóa các hành vi của người được quan sát thành các “mô hình” hành vi của mình, hay nói cách khác đi là tính bắt chước trong hành vi của trẻ em [60, 20]
Nhà tâm lý học Gordon Olport (1897 – 1967) trong các công trình nghiên cứu của mình đã chứng minh ảnh hưởng của nhóm đến hành vi, tri giác và quan điểm của các thành viên Những nghiên cứu này dựa trên quan điểm của thuyết hành vi cổ điển và hành vi theo cơ chế “kích thích - phản ứng” [60, 20]
Trong một nghiên cứu khảo sát về Hiện tượng học (Phenomenology) của hành vi mua hàng cưỡng bức, hai nhà nghiên cứu O’Guinn và Faber cho biết: tỉ lệ những người có mua hàng cưỡng bức lệch nhiều về phía nữ giới, cụ thể là chiếm tới 92% trên tổng mẫu số khảo sát [15, 3]
Trang 181.1.1.2 Các nghiên cứu về hành vi ở Việt Nam
Vấn đề về hành vi cũng được rất nhiều nhà Tâm lý học, Giáo dục học ở Việt Nam quan tâm và nghiên cứu Trong vòng mười năm trở lại đây, có nhiều đề tài nghiên cứu xung quanh vấn đề này Cụ thể một số đề tài như:
Tác giả Hoàng Gia Trang nghiên cứu “Thực trạng biểu hiện hành vi lệch chuẩn
trong học sinh Trung học phổ thông hiện nay” Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh có vấn
đề về hành vi là 9,24%, hành vi sai lệch biểu hiện nhiều nhất ở những hành vi như nói dối nhiều lần (28,41%), trốn học bỏ tiết (21,22%), gây gổ (7,19%), phá hoại tài sản người khác (4,31%) [30, 47]
Luận văn Thạc sĩ “Một số biểu hiện ở hành vi mua sắm của nữ doanh nhân tại
Thành Phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Võ Huệ Anh cho thấy các nhóm sản
phẩm ưu tiên trong việc mua sắm của nữ doanh nhân là: thực phẩm (88%), vật dụng sinh hoạt gia đình (69,5%), quần áo (58,5%), và sách, báo, tạp chí (54,5%) Mức độ nghiện mua sắm hay còn gọi là mua hàng cưỡng bức trong nữ doanh nhân lên đến 9% [88, 3]
Tại hội nghị sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 tại Đà Nẵng, sinh viên Ngô
Thị Lệ Thủy đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hành vi tham gia giao thông của sinh
viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng” Tỉ lệ chấp hành luật an toàn giao
thông của sinh viên như sau: 33,3% chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ an toàn giao thông, 55,3% chấp hành luật lệ an toàn giao thông nhưng vẫn còn một số vi phạm nhỏ, 9% tùy thuộc vào trường hợp cụ thể, 2,4% thường xuyên vi phạm luật an toàn giao thông [44]
Trong công trình nghiên cứu “Hành vi hút thuốc lá của nam sinh viên trường Đại
học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng” năm 2009, tác giả Nguyễn Công Hậu cùng nhóm
nghiên cứu đã đưa ra kết luận tỷ lệ hút thuốc lá của sinh viên nam hiện nay là tương đối cao và nguyên nhân chủ yếu là do buồn chán, thất tình, căng thẳng trong học tập, công việc hay để thuận lợi khi giao tiếp [17]
Kết quả nghiên cứu “Hành vi xâm phạm bí mật đời tư người khác của người
trưởng thành trẻ tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Tứ cho thấy
đa số người trưởng thành trẻ tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh có hành vi xâm phạm bí
Trang 19mật đời tư của người khác ở mức độ ít Nhưng tính chất của các hành vi này rất phức tạp, được biểu hiện từ công khai đến che giấu [46]
Luận văn thạc sỹ Tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Diễm My nghiên cứu hành vi
tương đối mới đó là “Hành vi nói dối của học sinh THCS” Kết quả nghiên cứu cho
thấy có đến 79,8% học sinh thừa nhận mình đã nói dối ít nhất một lần và 5,2% học sinh tự đánh giá mình đã nói dối liên tục từ 2 tháng trở lên, 2,08% học sinh cho rằng mình đã nói dối liên tục trên 4 tháng và 12,9% học sinh thừa nhận liên tục nói dối trên
6 tháng Kết quả nghiên cứu của tác giả này đã góp phần vào quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về hành vi của con người [33]
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về hành vi của con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau Những nghiên cứu này chứng tỏ, hành vi đang dần trở thành mối quan tâm nghiên cứu hàng đầu của nhiều nhà khoa học Các nhà khoa học đã đào sâu nghiên cứu hành vi ở nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau Hành vi nghiện cũng được tiến hành nghiên cứu sâu hơn, trong đó hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook trong những năm gần đây đã được quan tâm nghiên cứu như một hành vi của con người
1.1.2 Một số nghiên cứu về hành vi nghiện
Các vấn đề về hành vi nghiện tạm được chia thành hai quan điểm: theo quan điểm truyền thống (liên quan đến các chất kích thích như ma túy, rượu, thuốc lá) và các hành vi nghiện theo quan điểm hiện đại (các hành vi nghiện liên quan đến những hoạt động, sinh hoạt của con người như cá độ, cờ bạc, Internet, mua sắm, tình dục, điện thoại, thể dục, ăn uống, trang điểm…) Tuy nhiên, dù là nguyên nhân nào thì những hành vi nghiện đang ngày càng ảnh hưởng đến đời sống của nhiều người trên thế giới Các nhà nghiên cứu lâm sàng cũng đã tiếp nhận, can thiệp ngày càng nhiều trường hợp liên quan đến các hành vi nghiện, nhất là việc mở rộng hành vi nghiện theo quan điểm mới Các nghiên cứu bắt đầu được tiến hành vào đầu những năm 90 của thế kỉ trước trở lại đây Tuy vậy, xung quanh vấn đề về hành vi nghiện cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi Một số nhà nghiên cứu khẳng định việc tham gia hay sử dụng các dịch vụ công nghệ hay các hoạt động giải trí, sinh hoạt quá mức cũng là hành vi nghiện như nghiện ma túy, rượu Một số nhà khoa học khác lại phản đối vì cho rằng, việc tham gia
Trang 20các hoạt động kể trên quá mức không thể là nghiện được vì bản chất chúng không chứa chất gây nghiện
a Những nghiên cứu trên thế giới về hành vi nghiện
Trên thế giới, liên quan đến một số vấn đề về hành vi nghiện có thể đề cập đến một
số nhà nghiên cứu tiêu biểu như Griffiths (Những khái niệm của nghiện ứng dụng kĩ thuật, 1996) và Shotton (Nghiện máy tính, 1991) Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu (Rachlin, 1990; Walker, 1989), thuật ngữ nghiện (addiction) chỉ nên đưa vào những trường hợp liên quan đến dùng ma túy, thuốc phiện vì nghiện đưa tới điều
gì đó xa hơn mà hành vi không liên quan đến chất gây nghiện chẳng hạn như đánh bài quá mức (theo Griffiths, 1990), chơi trò chơi quá mức (theo Leisuire & Bloome, 1993), tập thể dục quá mức (theo Morgan, 1997), quan hệ tình dục quá mức (theo Peele & Brody, 1975) và xem ti vi quá mức (theo Winn, 1983) Trong khi đó nhiều nhà nghiên cứu (Young, 1996; Griffiths, 2007; Block, 2008) vẫn kiên trì cho rằng việc
sử dụng Internet quá mức cũng giống như chơi cờ bạc quá mức không khác so với nghiện rượu hay nghiện ma túy
Bác sĩ người Mỹ A.Goodman đã đề xuất các tiêu chí về biểu hiện của người có hành vi nghiện Các tiêu chí mà ông đưa ra đã được in trên tạp chí của Viện Tâm thần
và thần kinh học dự phòng của Mỹ năm 1998 [54]
Nghiên cứu của tác giả Block (2008) đã cho thấy 13,7% thanh thiếu niên Trung Quốc được chẩn đoán với triệu chứng nghiện Internet và game online Một nghiên cứu khác của tác giả Tao Ran cũng đưa ra kết luận có 3- 4 triệu ca nghiện trên 162 triệu người sử dụng Internet
Những nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đã chứng tỏ rằng hành vi nghiện không chỉ liên quan đến việc sử dụng các chất kích thích như rượu, bia, thuốc
lá và ma túy mà hành vi nghiện còn xảy ra khi con người không trực tiếp sử dụng các chất gây nghiện Một hướng nghiên cứu mới được mở ra đó là hành vi nghiện Internet
b Những nghiên cứu trong nước về hành vi nghiện
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu về hành vi nghiện trước đây chỉ được tập trung quan tâm ở các hành vi nghiện liên quan tới chất kích thích Nội dung cuốn sách Thanh niên nghiện ma túy: nhân cách và hoàn cảnh xã hội của Phan Thị Mai Hương
Trang 21thể hiện một cách tiếp cận mới về nghiện ma túy của thanh niên - cách tiếp cận từ góc
độ của khoa học tâm lý [14] Tác giả đã phân tích khá sâu sắc những yếu tố nhân cách
và những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hành vi nghiện ma túy của thanh niên Hội thảo Giáo dục phòng chống lạm dụng ma túy và tái hiện trong trường học và cộng dồng được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2010, do Trung tâm Quốc tế Fogarti, viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kì, Chương trình Tâm lý học lâm sàng do Trường Đại học Giáo dục và Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng tổ chức, với mục đích thúc đẩy việc phát triển, sử dụng và đánh giá các phương pháp dựa trên những bằng chứng khoa học trong công tác giáo dục về tác hại của chất gây nghiện cũng như cách can thiệp và phòng ngừa những vấn đề liên quan đến nghiện Hội thảo này không thảo luận đến điều trị thuốc
mà tập trung đến các biện pháp giáo dục, trị liệu hành vi và những phương pháp trị liệu tâm lý khác [16]
Các vấn đề liên quan đến hành vi nghiện ma túy được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn các hành vi nghiện khác, trong khi đó các nghiên cứu về hành vi nghiện rượu hay thuốc lá dường như rất ít Đề tài nghiên cứu hành vi hút thuốc lá của nam sinh viên Đại học Sư Phạm –Đại học Đà Nẵng do nhóm sinh viên Nguyễn Công Hậu, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Danh Long, Nông Thị Hương Lý thực hiện cũng là một công trình nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng nghiện thuốc lá ở nam sinh viên Kết quả cho thấy, đa số sinh viên nam đều hiểu rõ tác hại của thuốc lá Tỉ lệ hút thuốc và mức độ nghiện thuốc lá có sự chênh lệch giữa sinh viên các năm Sinh viên hút thuốc do các nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do buồn chán, thất tình, căng thẳng trong học tập và công việc hoặc để thuận lợi khi giao tiếp [17]
Hiện nay, tình hình sử dụng rượu, bia tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là với thanh niên, Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY) năm 2003, kết luận: tỉ lệ thanh niên uống rượu, bia rất cao, chủ yếu là nam giới, trong đó có một nhóm nhỏ say bia, rượu thường xuyên Hiện nay, ở nông thôn, tỉ
lệ người nghiện rượu là 4% dân số, con số này ở thành thị là 6% Nếu tính tỉ lệ trên cho gần 90 triệu người dân Việt Nam thì con số người nghiện rượu là rất lớn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về hành vi nghiện rượu còn rất hạn chế, có thể đơn
cử đề tài “Tình hình và các yếu tố dẫn đến uống rượu bia trong học sinh Trung học
Trang 22phổ thông tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An”, năm 2008 của Bùi Thị Hy Hân và
Dương Thị Minh Tâm Kết quả cho thấy tỉ lệ uống rượu, bia là 32,8% mỗi lẫn uống trung bình 4,48 ly chuẩn, và lẫn uống nhiều nhất trung bình 7,72 ly chuẩn Từ đó, các tác giả kết luận: với số lượng rượu tiêu thụ này, một bộ phận không nhỏ học sinh được xếp vào nhóm uống nhiều rượu, bia [40]
Cũng là trường hợp hành vi nghiện liên quan tới chất kích thích tác giả Huỳnh Văn
Sơn đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực trạng hành vi nghiện rượu bia của sinh viên
và người trưởng thành trẻ tuổi tại Việt Nam” Khảo sát nghiên cứu với 470 người trẻ
tuổi từ 18 đến dưới 28 Kết quả cho thấy việc thỉnh thoảng uống bia rượu, thỉnh thoảng uống say đều là những biểu hiện khá nổi bật Thời điểm bắt đầu sử dụng rượu bia của nam sinh viên và người trưởng thành trẻ tuổi tại Tp.HCM tương đối dài - trên 48 tháng với 60,6% người được khảo sát Tiếp đó là 20,2% đã sử dụng rượu bia “trên 36 tháng đến 48 tháng”, 12,2% uống rượu bia “từ 12 tháng đến 36 tháng” và với số lượng lựa chọn ít nhất 7% uống rượu bia “dưới 12 tháng” Phải thừa nhận thực tế rằng thời gian bắt đầu uống rượu bia sớm hay muộn không đồng nghĩa với việc có nguy cơ nghiện rượu bia hay không, nghiện nặng hay nhẹ Tuy nhiên, nếu hành vi uống rượu bia được lặp lại đều đặn trong thời gian dài sẽ tạo thành thói quen và từ đó khả năng dẫn đến việc nghiện rượu bia cũng có chiều hướng tăng cao [40]
Tác giả Mai Mỹ Hạnh trong công trình nghiên cứu “Hành vi nghiện game online
của học sinh một số trường Trung học Phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” đã chỉ ra rằng đa phần biểu hiện hành vi nghiện game online bên ngoài và bên
trong ở học sinh THPT biểu hiện ở mức độ ít và rất ít là chủ yếu Tác giả cũng đã nêu
ra một số nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi nghiện game online trong đó đáng lưu ý
là phần lớn học sinh vẫn chưa nhận thức một cách đầy đủ về hành vi nghiện game online [14]
Tại Việt Nam, gần đây các nhà thực hành lâm sàng cũng đã gặp ngày càng nhiều các trường hợp hành vi nghiện không liên quan tới chất kích thích Điển hình như các tác giả Trần Thị Minh Đức, Trần Thị Giồng, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Minh Tiến và
Lê Minh Công chia sẻ quan điểm đa chiều và hệ thống nghiện Internet Các nhà nghiên cứu cho rằng, việc nghiện Internet có nguyên nhân do chính các yếu tố cuốn
Trang 23hút từ các ứng dụng trên Internet, đặc biệt là game online Cuốn sách Nghiện online - Những điều cha mẹ cần biết của Lê Minh Công và Phương Liên, Nghiện net - Phòng
và chữa trị của Saigonbook và Nói không với Game Online của Lê Khanh là những tài liệu góp phần vào việc phổ cập kiến thức đến cộng đồng nhằm ngăn ngừa hành vi nghiện phổ biến trong thanh thiếu niên và người trưởng thành hiện nay
Bên cạnh các nghiên cứu bước đầu về hành vi nghiện Internet nói chung và game online nói riêng thì nghiên cứu về các hành vi nghiện ở Việt Nam còn hạn chế Hầu hết chỉ dừng mức thông tin phổ thông trên các trang báo chứ chưa thực sự có một công trình nghiên cứu nào về hành vi nghiện ăn, nghiện tập thể dục, nghiện điện thoại mang tính hệ thống
Sơ lược qua lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi nghiện trên thế giới và Việt Nam
có thể nhận thấy: Hướng nghiên cứu về hành vi nghiện này đang nhận được sự quan tâm từ các nhà chuyên môn, đa phần hướng nghiên cứu tập trung xung quanh hành vi nghiện ma túy, hành vi nghiện Internet, game online mà các hành vi nghiện khác bước đầu đang dần được quan tâm nhưng vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, kết quả của các công trình nghiên cứu này chính là cơ sở tiền đề cho những công trình nghiên cứu khoa học sau
1.1.3 Một số nghiên cứu về hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook và Internet
Sự phát triển của thời đại công nghệ thông tin và mạng Internet đã tạo nên những điều kiện và cơ hội cho con người được giao lưu, liên kết, chia sẻ với nhau Sự quan tâm, những ý tưởng giữa người và người, xong chính nó cũng đem lại nhiều vấn đề, hệ lụy không nhỏ với người sử dụng Một hệ quả dễ nhận thấy và khá phổ biến hiện nay chính là sự quá phụ thuộc vào mạng Internet và mạng xã hội dẫn đến nghiện
Nghiện Internet nói chung và nghiện mạng xã hội nói riêng đang là vấn đề được quan tâm của xã hội hiện nay Giới trẻ, đặc biệt là thanh thiếu niên hiện nay đã có nhều biểu hiện “sống ảo”, phụ thuộc vào mạng xã hội Thậm chí, có rất nhiều trường hợp vì những ảo tưởng trên mạng xã hội mà đã gây ra những hành vi sai trái như sử dụng những lời lẽ thiếu văn hóa làm suy đồi đạo đức thậm chí là sử dụng bạo lực Trước sự phát triển “chóng mặt” của mạng xã hội kèm theo những ảnh hưởng mà mạng xã hội
Trang 24mang lại, trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã quan tâm và nghiên cứu vấn đề này
a Một số nghiên cứu trên thế giới về hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook
và Internet
Nghiên cứu mới đây của một trường Đại học ở Mĩ cho thấy: Những học sinh sử dụng Facebook có kết quả học tập kém hơn 20% so với học sinh khác Ngoài giờ học, 88% học sinh không sử dụng Facebook tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa Trong đó, có 75 % học sinh sử dụng Facebook không nghĩ rằng mạng xã hội này làm giảm sút kết quả học tập [30]
Ngày nay mạng xã hội được các nhà xã hội học phân tích ra thành ba chủ đề riêng biệt để đánh giá và đo lường các vấn đề liên quan Thứ nhất, xác định những vấn đề chung đang diễn ra Thứ hai, miêu tả những ảnh hưởng của mạng xã hội đến lối sống của giới trẻ hiện nay, thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, mục đích và các hình thức sử dụng mạng xã hội Thứ ba, đưa ra những đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc sử dụng mạng xã hội của giới trẻ
Có thể nói, ban đầu việc nghiên cứu về hành vi sử dụng Facebook chưa phải là vấn
đề trọng tâm khi việc nghiên cứu về hành vi sử dụng Internet hay hành vi nghiện Internet gắn liền với việc tán gẫu - kết bạn và trò chơi trực tuyến Trong báo cáo “Điều
gì khiến Internet gây nghiện: Những giải thích có khả năng cho việc sử dụng Internet” tại hội nghị lần thứ 105 của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kì vào tháng 8-1997, khi được hỏi
“Bạn sử dụng những ứng dụng nào nhiều nhất trên Ineternet?”, có đến 28% sử dụng để chơi trò chơi thủ vai nhân vật, còn lại là 15% đọc tin tức, 13% sử dụng thư điện tử Từ nghiên cứu này, tác giả rút ra nhận xét: “Những người lệ thuộc (nghiện) chủ yếu dùng những ứng dụng Internet để gặp gỡ, giao lưu và trao đổi ý kiến với những người mới thông qua phương tiện giao tiếp cao cấp” [50, 7]
Vài năm trở lại đây, khi mạng xã hội phát triển mạnh trên thế giới thì hành vi sử dụng mạng xã hội trở nên phổ biến, đặc biệt là mạng xã hội - Facebook Trên cơ sở này, nhu cầu lí giải về một kiểu nghiện mới hay một kiểu hành vi giải tỏa, kiểu hành động mang tính chất cá nhân- cộng đồng đan xen, hành vi tương tác ảo bắt đầu xuất
Trang 25hiện Các nhà Tâm lý học bắt đầu chú ý đến vấn đề này và đã có những lí giải ban đầu
về chúng
Trước hết, các nhà nghiên cứu ở Na Uy, là những người tiên phong trong nghiên cứu loại hình này trên toàn thế giới, họ đã công bố một quy mô mới để đo lường nghiện Facebook Những kết quả nghiên cứu đã được nêu ra trong báo cáo tháng 4/2012 trên tạp chí Tâm lý học Bên cạnh đó, họ cũng hy vọng rằng các nhà nghiên cứu sẽ nhanh chóng tìm thấy công cụ hữu ích trong việc điều tra hành vi nghiện liên quan đến sử dụng Facebook Tuy nghiên, trong một bài báo đi kèm cho thấy một cách tiếp cận hữu ích hơn chính là có thể đo lường nghiện mạng xã hội như một hoạt động, chứ không phải là nghiện một sản phẩm cụ thể Điều này có liên quan với nhận định rằng Facebook bây giờ hơn một trang web mạng xã hội và nó chính là mạng xã hội không giới hạn
Theo nhà nghiên cứu Cecilie Schou Andreassen, người bị “lôi cuốn” bởi mạng xã hội có những dấu hiệu tương tự với người nghiện cờ bạc Mặc dù Facebook không phải là một loại hóa chất như rượu hoặc cocaine, nhưng người sử dụng Facebook có thể có những biểu hiện tương tự với các tiêu chí nghiện được áp dụng cho những hành
vi nghiện khác [51]
Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 12/2012 cho thấy, nhiều sinh viên đại học dành cuộc sống của mình cho Facebook thường dễ cảm thấy tiêu cực hơn về cuộc sống của mình theo thời gian Một số người có thể lập luận rằng, Facebook rất hiệu quả trong việc “giải ngân” đồng cảm ảo Trên mạng xã hội, con người cảm thấy thoải mái khi có rất nhiều người muốn chúc mừng sinh nhật họ dù đời sống thực là không Tất nhiên, trò chơi con số “thích” (likes) tạo ra cảm giác thỏa mãn hoặc nghiện Chính nó định hướng hành vi của người sử dụng kể cả chủ nhân và khách hay bạn bè trên Facebook [51]
Theo một khảo sát gần đây nhất của WeAreSocial, một tổ chức có trụ sở chính ở Anh nghiên cứu độc lập về truyền thông xã hội toàn cầu cho biết: “Trong số 30,8 triệu người sử dụng Internet, ở Việt Nam có trên 8,5 triệu người dùng Facebook và đây là mạng xã hội phổ biến nhất ở Việt Nam cuối năm 2012” Số người dùng Facebook ở
Trang 26Việt Nam tăng thêm 500.000 chỉ trong 2 tuần, 28% người sử dụng Internet ở Việt Nam
có tài khoản Facebook [78]
Trước sự phát triển nhanh chóng và lan rộng của mạng xã hội, đặc biệt là mạng xã hội - Facebook, một số nhà khoa học trên thế giới đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu và đưa ra những cảnh báo về vấn đề này Rõ ràng, hành vi nghiện mạng xã hội đã trở thành một vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu Đồng thời những công trình nghiên cứu này cũng góp phần phác họa rõ nét về hành vi nghiện trên toàn thế giới
b Một số nghiên cứu tại Việt Nam hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook và Internet
Hiện ở Việt Nam, cũng đã có không ít các nghiên cứu và bài viết trong các tổ chức Nhà nước, hội thảo khoa học đã có nhắc tới và xây dựng lên những vấn đề đáng được quan tâm hiện nay và trước đó về mạng xã hội- một thời đại đa truyền thông
Trung bình ở Việt Nam, cứ mỗi ba giây lại có người đăng ký dịch vụ Facebook Chỉ một năm trước đây có khoảng 2,9 triệu người sử dụng Facebook, nhưng hiện nay con số này đã tăng lên trên 8,5 triệu người – tăng gần 20% Facebook được sử dụng ở mọi lúc, mọi nơi, tạo ra sức cuốn hút ghê gớm và tốc độ lan truyền mạnh mẽ, đặc biệt
là trong giới trẻ [67]
Tháng 4 năm 2013, trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức cuộc thi “Nhà truyền thông chuyên nghiệp” với chủ đề Mạng xã hội Nội dung cuộc thi xoay quanh những vấn đề nóng đang diễn ra hiện nay bằng cách quay phim, ghi âm, phỏng vấn những người không quen biết để họ bày tỏ quan điểm về ảnh hưởng của mạng xã hội tới đời sống giới trẻ đặc biệt là đời sống học sinh sinh viên hiện nay Đồng thời cũng truyền đi những thông điệp từ cuộc thi cho giới trẻ về vai trò và ảnh hưởng của mạng xã hội Dù chỉ là một cuộc thi, một sân chơi nhưng chủ đề này cũng khá bổ ích Nó giúp sinh viên nhận thức được tình trạng sử dụng và nghiện mạng xã hội được rõ ràng hơn [18]
Tại một số trường đại học ở Việt Nam, nghiên cứu xung quanh vấn đề hành vi sử dụng, thực trạng, mức độ sử dụng mạng xã hội – Facebook cũng đã được thực hiện Tuy nhiên, nhìn chung hiện nay số lượng công trình nghiên cứu về hành vi nghiện
Trang 27mạng xã hội – Facebook vẫn còn hạn chế Có thể điểm qua một số bài viết và đề tài như:
Bài viết của tác giả Đào Lê Hòa An cho thấy, theo xu hướng gia tăng sử dụng Facebook nói chung, vị thành niên là một trong những đối tượng cần được quan tâm Bởi vì, đối với nhiều bạn trẻ, Facebook là niềm đam mê “tìm hiểu xã hội” Nhưng khi lạm dụng thái quá sự đam mê ấy, lại trở thành tiêu cực, ảnh hưởng không ít đến thời gian học tập Có nhiều vị thành niên mải mê Facebook đến nỗi quên việc nhà, trì hoãn việc làm bài tập, học hành Nhiều trẻ sau khi quay lại bàn học vẫn “lưu luyến” mà không thể tập trung Chính điều đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả học tập của các em [1]
Tác giả Nguyễn Minh Hòa (2010) với bài viết Mạng xã hội ảo, đặc điểm và
khuynh hướng đã nêu lên những quan niệm truyền thống về mạng xã hội: đó là cách
liên kết các cá nhân và cộng đồng lại dưới một kiểu nào đó để thể hiện một vài chức năng xã hội và mạng xã hội ảo - một xu hướng mới của xã hội công nghệ thông tin [25]
Cùng năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Hậu, với bài viết Mạng xã hội với lối sống
của giới trẻ Tp.HCM đã cho rằng: Sự xuất hiện với những tính năng đa dạng, nguồn
thông tin phong phú, mạng xã hội đã cho phép người dùng tiếp nhận, chia sẻ và chọn lọc thông tin một cách có hiệu quả, vượt qua trở ngại về không gian và thời gian Nó giúp nâng cao vai trò của mỗi người công dân trong việc tạo lập quan hệ và tự tổ chức xoay quanh những mối quan tâm chung trong cộng đồng, thúc đẩy sự liên kết các tổ chức xã hội Tác giả nêu rõ ảnh hưởng của mạng xã hội đến lối sống giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, mục đích và hình thức sử dụng mạng xã hội Đồng thời có những đề xuất, phải góp phần nâng cao hiệu quả việc
sử dụng mạng xã hội của giới trẻ [18]
Tác giả Nguyễn Hữu Thọ (2011) đã có viết bài: “Suy nghĩ về tính tự chủ của học
sinh trong thời đại thông tin và truyền thông đa phương tiện” Trong đó đã đề cập đến
sự du nhập và sử dụng truyền thông đa phương tiện như hiện nay, các nhà tâm lý đang nhìn về khía cạnh cảm xúc và hành vi, những cảm xúc và hành vi tuy khỏe mạnh hay không khỏe mạnh đều là tự nhiên Các phương tiện thông tin, truyền thông đa phương
Trang 28tiện là biểu hiện của sự phát triển công nghệ của nền văn minh hiện đại Với tiện dụng
vô cùng to lớn của nó, nhiều người, nhất là lớp trẻ đã gắn bó chặt chẽ Internet với cuộc sống hàng ngày Bản thân Internet không có gì khiến chúng ta lo ngại, mặc dù trong việc sử dụng nó, bên cạnh tính tích cực cũng dễ nảy sinh nhiều tiêu cực [69]
Bên cạnh đó, có thể kể đến nhóm tác giả Trương Văn Sơn, Lê Vũ Quỳnh Nga,
Phạm Thị Nguyệt và Hoàng Thanh Tùng (2013), với đề tài “Tác động của mạng xã
hội – Facebook đến hành vi của sinh viên Trường đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay”,
Đại học Văn hóa Hà Nội Bằng phương pháp điều tra xã hội học, đề tài đã đưa ra những con số cụ thể về thời gian, mức độ cũng như mục đích sử dụng Facebook của sinh viên Đại học Văn hóa hiện nay Theo đó, đáng chú ý là, về thái độ học tập sau khi
sử dụng Facebook, có khoảng 70% sinh viên không có thay đổi, trong khi 18% đánh giá thay đổi tích cực hơn và 12% đánh giá thay đổi tiêu cực đi [41]
Tác giả Nguyễn Phi Long - sinh viên Trường ĐH Mở Tp.HCM, đã thực hiện đề tài
nghiên cứu khoa học năm 2013: “Ảnh hưởng của trang mạng Facebook đến việc hình
thành nhân cách giới trẻ tại TP Hồ Chí Minh” Bằng việc khảo sát, phỏng vấn 250 học
sinh, sinh viên (bốn trường THPT và một trường ĐH ở Tp.HCM) trong độ tuổi 15-25 Kết quả nghiên cứu cho thấy khi được hỏi: “Bạn có biết đến trang mạng Facebook không?”, 100% trả lời “có” Và với câu hỏi: “Bạn có sử dụng Facebook không?”, có đến 92,4% trong tổng số bạn trẻ được hỏi trả lời “có” Về thời gian truy cập Facebook của giới trẻ, kết quả đề tài cho thấy có hơn một nửa (51,9%) bạn trẻ khi được hỏi cho biết mình vào “mọi lúc khi có thể” Ngoài ra, những thời gian truy cập khác như buổi tối, những ngày cuối tuần, giải lao trong giờ học có tỉ lệ thấp hơn lần lượt là 22,5%, 13,4% và 11,3% Cuộc khảo sát cũng cho thấy giới trẻ chọn trang mạng xã hội - Facebook với ba mục đích chủ yếu như được chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với bạn bè (20,5%), đọc tin nhắn và trò chuyện với bạn bè (21,7%) và xem tin tức, hình ảnh, bình luận của bạn bè (chiếm 25,5%) Khi tham gia trang mạng này, bạn trẻ mong muốn
“được kết bạn với nhiều người”, “được chia sẻ, tâm sự nỗi buồn” Tuy vậy, hạn chế của đề tài là nghiên cứu lượng mẫu nhỏ, thuật ngữ nghiên cứu chưa được làm rõ và mô hình nghiên cứu “ảnh hưởng” cũng như giới hạn đề tài chưa cụ thể đã làm ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu [29]
Trang 29Tác giả Bùi Thị Ngọc Hân, với luận văn thạc sĩ Tâm lý học (2013) cũng đã thực
hiện đề tài: “Nhận thức và thái độ về các mạng xã hội của học sinh hệ trung cấp
chuyên nghiệp trường trung cấp Đông Dương tại Tp.HCM” Kết quả đề tài nghiên cứu
cho thấy, nhận thức và thái độ của học sinh trường Trung cấp Đông Dương về mạng
xã hội đều ở mức trung bình Có sự khác biệt về nhận thức và thái độ học sinh về mạng xã hội nhưng không đáng kể Đề tài cũng đã đưa ra một số biện pháp thử nghiệm nhằm nâng cao nhận thức và thái độ cho học sinh Kết quả thử nghiệm cho thấy, có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ nhận thức và thái độ về mạng xã hội của học sinh giữa nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm Nhận thức và thái độ của nhóm thử nghiệm cao hơn nhóm đối chứng [16]
Trong công trình nghiên cứu “Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook của sinh
viên một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh” Tác giả Lê Thị Bích cũng đã
bước đầu nghiên cứu về biểu hiện và tìm hiểu một số nguyên nhân dẫn đến hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook ở sinh viên [4]
Trong công trình nghên cứu mang tên “Nghiên cứu về hành vi sử dụng Facebook
của con người – Một thách thức mới cho tâm lý học hiện đại” tác giả Đào Lê Hòa An
đã nêu ra một thực trạng đáng lo ngại về tình hình sử dụng và những hệ lụy của mạng
xã hội – Facebook đã gây ra trong thời gian gần đây [1]
Như vậy, đã có một số công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề nghiện mạng xã hội – Facebook trong những năm gần đây Ở Việt Nam, đề tài xoay quanh vấn đề về mạng xã hội - Facebook cũng đang được sự quan tâm từ nhiều lĩnh vực như Giáo dục học, Tâm lý học và Xã hội học Bước đầu đã có những nghiên cứu khoa học tìm hiểu
về hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook nhưng chỉ dừng lại ở mức tìm hiểu thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và đối tượng chính của những nghiên cứu này chủ yếu vẫn là sinh viên Trong khi đó, hiện nay có một lượng không nhỏ các em học sinh đã
có thói quen sử dụng, thậm chí có biểu hiện lạm dụng quá mức mạng xã hội nhưng vẫn chưa được nghiên cứu tìm hiểu Không thể phủ nhận những đóng góp to lớn từ những công trình nghiên cứu trước đây của các nhà nghiên cứu, tác giả đề tài “Hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook của học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh” mong
Trang 30muốn đóng góp một số phát hiện về hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook tại Việt Nam cũng như nghiện mạng xã hội - Facebook dưới góc độ Tâm lý học
1.2 Lý luận về hành vi nghiện mạng xã hội – Facebook ở học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trong thuyết hành vi cổ điển, hành vi được hiểu một cách hết sức đơn giản là tổ hợp các phản ứng của cơ thể để trả lời các kích thích từ môi trường tác động vào [21 -148, 21] J.Watson đã đưa ra một công thức nổi tiếng để diễn tả mối quan hệ giữa
cơ thể và môi trường là S - R (trong đó S (Stimulation) là kích thích - xuất phát từ môi trường bên ngoài cơ thể - và R (Reaction) là phản ứng của cơ thể để đáp lại kích thích đó) Quan sát cũng như giảng giải hành vi đều phải tuân theo nguyên tắc: khi có một kích thích tác động vào cơ thể thì cơ thể trả lời bằng một phản ứng nào đó Từ đây phát biểu lên công thức nổi tiếng của hành vi chủ nghĩa S R được xác lập, công thức này biểu đạt mọi hành vi do cơ thể bị kích thích nào đó tạo ra Hành vi khẳng định là đối tượng của tâm lý học mới Mọi phản ứng - hành vi được Watson phân loại dựa theo hai tiêu chí: đó là phản ứng tiếp thu hay di truyền; phản ứng bên trong (kín) hay phản ứng bên ngoài và được chia ra thành các phản ứng:
Phản ứng bên ngoài hay tiếp thu nhìn thấy được (chơi quần vợt, mở cửa)
Phản ứng bên trong và tiếp thu nhưng ở dạng giấu kín (tư duy là phản ứng phát ra bên ngoài Ngôn ngữ là phản ứng của các cơ từ bộ máy phát âm phát ra)
Phản ứng bên ngoài và nhìn thấy được và di truyền (hắt hơi, vỗ tay và các phản ứng sợ hãi trong tình yêu), nghĩa là những bản năng và cảm xúc nhưng được trải nghiệm hoàn toàn khách quan theo thuật ngữ kích thích - phản ứng
Phản ứng bên trong giấu kín và di truyền: là phản ứng của các tuyến nội tiết, sự thay đổi tuần hoàn đã được nghiên cứu ở Sinh lí học [171, 8]
Trang 31Công thức trên cho thấy tính trực tiếp trong mối liên hệ giữa cơ thể và môi trường, không thông qua một trung gian nào cả, khi có kích thích thì tức khắc cơ thể “sản xuất” hành vi đáp trả như một phản xạ không điều kiện Có thể thấy rằng với cách hiểu này thì hành vi của cơ thể chỉ đơn thuần là những thao tác mang tính sinh học, máy móc; cho thấy ý thức không đóng vai trò gì trong việc điều khiển hoạt động của con người Con người hoàn toàn thụ động trước hoàn cảnh môi trường Hơn nữa, quan điểm này chủ trương rằng nguồn gốc của hành vi là do nhân tố bên ngoài tác động mà không đề cập đến “môi trường bên trong” của chủ thể Các nhà hành vi chủ nghĩa coi nhẹ tính tích cực của chủ thể, đề cao vai trò của kích thích bên ngoài trong việc tạo ra các phản ứng
Sự sai lầm này xuất phát từ định nghĩa của Watson về con người: con người là tổng các phản ứng cơ thể Ông coi con người như là “một cơ thể phản ứng” hay như là
“một cái máy sinh học nghiêm túc” Con người trong tâm lý học hành vi không phải là một chủ thể chủ động hoạt động trong môi trường xã hội, tác động và làm biến đổi môi trường đó, mà là các cơ thể, cá thể thụ động đối với áp lực của môi trường
Thuyết hành vi mới
Thuyết hành vi mới là các lí thuyết khắc phục nguyên tắc quyết định luận máy móc, trực tiếp giữa “kích thích - phản ứng” theo kiểu cơ học của thuyết hành vi cổ điển Xu hướng chung của sự cách tân này là cố gắng đưa các biến số trung gian vào công thức “kích thích - phản ứng” Trong số các lí thuyết hành vi mới, có ảnh hưởng quyết định là thuyết hành vi nhận thức của E.C.Tolman và thuyết hành vi diễn dịch giả thuyết của K.Hull
E.Tolman (1886 - 1959) gọi hành vi đó là “cử động hành vi” (behaviour acts) [85, 20] Các cử động hành vi có cả các sự kiện vật lý và sinh học và còn dựa cả vào những thuộc tính của bản thân Không thể từ một cái vận động đơn giản mà tách ra được những phẩm chất đặc trưng cho cử động hành vi Cử động hành vi không phải là phản ứng sinh lý học, vì vậy phải nghiên cứu hành vi tổng thể bằng con đường riêng với các yếu tố trung gian của chủ thể trong sơ đồ S - R Yếu tố đó chính là quá trình nhận thức với hy vọng sẽ xóa bỏ được tính trực tiếp trong sơ đồ S - R Tolman hiểu hành vi một cách tổng thể trong đó các biến số trung gian làm khâu gián tiếp giữa kích
Trang 32thích và phản ứng: S - O - R Biến số trung gian là những nhân tố không quan sát được, mang tính chất giả định của cơ thể, trên thực tế là yếu tố quy định hành vi Biến
số trung gian gồm: hệ thống nhu cầu, hệ thống động cơ giá trị và trường hành vi Ông cho rằng mọi hành vi đều là có nhận thức, do đó ít nhiều nó có ý thức.Tuy nhiên, tác giả lại giải thích khái niệm ý định, tính mục đích của hành vi theo tinh thần sinh vật hóa, phù hợp với sự giải thích hành vi động vật Đây chính là công lao của Tolman đối với toàn bộ trào lưu hành vi chủ nghĩa
K.Hull (1884-1952) là người đưa ra giả thuyết - diễn dịch của hành vi Ông cho rằng: “Quá trình tiến hóa của cơ thể làm xuất hiện thêm một hình thái hệ thần kinh ở các cơ thể cao cấp mà dưới sự tác động của nhu cầu loại hai (nhu cầu tích cực cơ bắp) loại hệ thần kinh này sẽ tạo ra vận động không có huấn luyện trước, các vận động này
có xác suất lớn là thực hiện hết các nhu cầu đó Tính tích cực đó là “hành vi”
[108-109, 19] Thuyết Hull đề cập đến công thức: kích thích - cơ thể - phản ứng Cơ thể ở đây là một số quá trình diễn ra bên trong, không nhìn thấy được Nhưng những quá trình này có thể mô tả khách quan tựa như kích thích và phản ứng, vì nó là kết quả của việc học tập trước đó (hay còn gọi là kỹ năng) Hành vi được bắt đầu bằng sự kích thích từ môi trường bên ngoài hay từ trạng thái nhu cầu và kết thúc bằng phản ứng Khi sử dụng sự phân tích Toán học và Logic học, Hull đã cố gắng tìm ra mối quan hệ giữa biến số, kích thích và hành vi Nhu cầu thúc đẩy nảy sinh tính tích cực của cơ thể
và hành vi của nó Cường độ của phản ứng phụ thuộc vào cường độ nhu cầu Nhu cầu quyết định sự khác nhau trong đặc điểm của hành vi biểu hiện sự đáp ứng khác nhau với những nhu cầu khác nhau [177, 8] Tóm lại, sai lầm của thuyết hành vi trong quan niệm về hành vi là:
Phủ nhận ý thức như dạng đặc biệt điều chỉnh hành vi
Quy hành vi về các hành động thích ứng bên ngoài
Phủ nhận các cơ chế thần kinh (cơ sở sinh lý của hành vi con người)
Tuyệt đối hóa vai trò của môi trường
Hậu quả sai lầm này đã dẫn đến “con người trong Tâm lý học hành vi không phải
là một chủ thể chủ động hoạt động trong môi trường xã hội, tác động và làm biến đổi môi trường đó, mà là các cơ thể, cá thể thụ động đối với các áp lực của môi trường
Trang 33 Thuyết hành vi tạo tác của B.F.Skinner
B.F.Skinner (1904-1990) trên cơ sở thừa nhận và phân tích hai thành phần trong sơ
đồ S-R của Watson, đối tượng nghiên cứu của hành vi con người được ông cho là khía cạnh hành động của nó Nghiên cứu thực nghiệm cũng như phân tích lý thuyết hành vi động vật Skinner đã đưa ra ba dạng của hành vi: hành vi phản xạ có điều kiện, hành vi phản xạ không điều kiện và hành vi tạo tác Các dạng hành vi có điều kiện và không điều kiện do kích thích (S) gây ra gọi là phản ứng kiểu S Chúng chỉ là một phần xác định trong cấu thành của hành vi và chỉ dựa vào phản ứng S thôi thì không có sự thích nghi với cuộc sống thực tế Thực chất, quá trình thích nghi được cấu trúc trên cơ sở các thử nghiệm tích cực do các tác động của con lên môi trường xung quanh mà một cách ngẫu nhiên có thể dẫn đến kết quả dương tính Những phản ứng sinh ra không phải do kích thích mà do cơ thể tự tạo ra gọi là hành vi tạo tác Đây là phản ứng dạng
R
Về cơ chế sinh học, cả hành vi có điều kiện cổ điển lẫn hành vi tạo tác đều có cơ
sở là phản xạ có điều kiện, nhưng chúng khác nhau về tính chủ động của hành vi cơ thể đối với kích thích môi trường Về nguyên tắc, cả hai đều có sơ đồ trực tiếp S R Điều khác cơ bản là trong sơ đồ của hành vi cổ điển S R, các kích thích (S) đóng vai trò tín hiệu, còn trong sơ đồ hành vi tạo tác, vai trò tín hiệu này được chuyển vào trong hành vi củng cố (do con vật tự tạo ra) có vai trò kích thích (S) trong sơ đồ SR
Vì vậy, có thể diễn đạt mối quan hệ này trong công thức S r s R Mặc dù bản chất trực tiếp kích thích - phản ứng là hiển nhiên trong cả hai sơ đồ nhưng trong sơ đồ hành vi tạo tác tính chất chủ động và tự do tác động của cá thể đối với môi trường là lớn hơn rất nhiều so với sơ đồ hành vi cổ điển [130, 21]
1.2.1.2 Hành vi theo quan điểm Tâm lý học Mácxit
Các ý định tìm hiểu một cách khoa học bản chất của hành vi đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng chỉ với sự ra đời thuyết phản xạ của Paplov thì thuyết hành vi mới đạt được những thành tựu đáng kể Trong Tâm lí học Macxit, hành vi con người được xem như
là hoạt động, tuy ít nhiều mang yếu tố bẩm sinh nhưng chủ yếu chịu sự chi phối từ phía xã hội thông qua ngôn ngữ và các hệ thống tín hiệu ý nghĩa khác Hình thức tiêu biểu nhất của hành vi người là lao động và giao tiếp Sự độc đáo của hành vi cá nhân
Trang 34phụ thuộc vào tính chất của các mối quan hệ tương hỗ trong nhóm, thái độ của cá nhân đối với những chuẩn mực, định hướng giá trị và vị thế xã hội mà người đó đảm nhiệm Sau khi tìm hiểu bản chất của hành vi các nhà Tâm lý học đi sâu vào việc tìm hiểu nguyên nhân hay yếu tố quyết định hành vi con người Trong lịch sử phát triển, Tâm lý học đã chứng kiến hai cách lý giải hoàn toàn khác nhau
Thứ nhất là cách giải thích của trường phái coi hoàn cảnh xã hội là cái quyết định hành vi con người, đây là xu hướng nghiên cứu Tâm lý học xã hội Trường phái thứ hai cho rằng hành vi con người do chủ thể tạo ra Tức là yếu tố con người với những đặc điểm nhân cách nhất định quyết định Nhưng cả hai trường phái trên chỉ lý giải hành vi con người phiến diện Từ đó nảy sinh một cách nhìn khác về vấn đề tìm hiểu nguyên nhân hay yếu tố quyết định hành vi con người, đó là những quan điểm của các thuyết tương tác cổ điển Luận điểm cơ bản của các lý thuyết này cho rằng hành vi chịu sự ảnh hưởng của sự tương tác giữa yếu tố con người và yếu tố hoàn cảnh
Quan điểm Triết học Mác - Lênin cho rằng mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh là mối quan hệ biện chứng, trong đó như Mác đã nhận định rằng trong chừng mực, con người tác động bao nhiêu lên hoàn cảnh thì nó cũng chịu tác động của hoàn cảnh bấy nhiêu Như vậy mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh là mối quan hệ tương tác hỗ trợ, mà ở đó con người vừa là chủ thể tác động, vừa chịu tác động của hoàn cảnh, môi trường sống Nhưng con người không phải thích nghi một cách thụ động mà là một chủ thể tích cực của hành động, tác động có ý thức nhằm cải tạo hoàn cảnh xung quanh và điều chỉnh chính bản thân mình trong cuộc sống Hoàn cảnh là yếu tố tạo nên hành vi con người
L.X Vưgotski khẳng định hành vi người và hành vi động vật có cấu trúc hoàn toàn khác nhau Theo ông, cấu trúc hành vi của con người bao gồm kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm kép Các kinh nghiệm này có điểm chung là nội dung của chúng đều xuất phát từ lao động, từ quá trình truyền đạt kinh nghiệm từ thế
hệ này sang thế hệ khác, từ người này sang người khác và từ việc lĩnh hội kinh nghiệm của cá nhân mỗi người [28, 5]
Từ năm 1926, L.X.Vưgotski đã xác định ý đồ chung trong việc cải tổ Tâm lý học trên cơ sở chủ nghĩa Mác là xây dựng “một khoa học về hành vi của con người xã hội”
Trang 35chứ không phải “hành vi của cơ thể con người” Theo L.X.Vưgotski, tâm lý học phải nghiên cứu cả hành vi người với tư cách là “cái con người làm ra” lẫn ý thức người, ý thức người cũng là một cái thực tại như hành vi L.X.Vưgotski đã dành vị trí trung tâm trong bài báo cương lĩnh của mình cho tư tưởng coi rằng Tâm lý học với tư cách là một khoa học cụ thể Phải hướng các cố gắng của mình vào nghiên cứu ý thức và hành
vi của người là một tồn tại lịch sử, xã hội, lao động, có ý thức, chứ không phải là “cái túi đựng đầy đủ phản xạ” Ông đã chỉ ra rằng chỉ có thể giải quyết vấn đề ý thức là hiện tượng chỉ có con người mới có trong sự phân tích các dạng hành vi phân biệt hành vi người và hành vi động vật Trong đó, hoạt động lao động là dạng chủ đạo trong các dạng hành vi người [29, 5]
1.2.1.3 Một số lý thuyết về hành vi
Có rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau về hành vi Thuật ngữ “hành vi” xuất hiện
từ thời Trung Cổ khi người ta miêu tả tính cách Năm 1843, khi đưa khái niệm “tập tính học”, John Stuart Mill đã nói đến “hành vi” Khái niệm hành vi được bàn đến rất nhiều trong Tâm lý học kể từ khi Thuyết hành vi trở thành một trường phái tâm lý học, lấy hành vi người làm đối tượng nghiên cứu [34, 21]
Theo X.L.Rubinstein: “Hành vi là kết quả của một hành động tích cực của chủ thể đối với các đối tượng chủ thể gặp trong một hoàn cảnh nào đó [172, 21] Hành vi ở đây là hành động tích cực, có nghĩa là cơ thể không phải hoàn toàn thụ động phản ứng trước kích thích của môi trường; cái hành động tích cực ở đây dường như phần nào đã loại bỏ đi tính trực tiếp trong công thức S - R của thuyết hành vi cổ điển mà thay vào
đó tính gián tiếp X.L.Rubinstein cho rằng: với cơ chế gián tiếp, hành động không phải chỉ bị quy định bởi các kích thích đi từ hoàn cảnh hiện có trực tiếp, mà còn bị quy định bởi mục đích và nhiệm vụ nằm ngoài hoàn cảnh ấy, nghĩa là còn nhiều yếu tố khác dẫn đến sự xuất hiện của hành vi chứ không chỉ duy nhất có kích thích từ môi trường bên ngoài Nhờ nguyên tắc gián tiếp mà con người thoát khỏi sự tác động trực tiếp của dòng kích thích, hành vi con người không còn đơn thuần là hành vi phản ứng mà trở nên hành vi tích cực
Theo A.N.Leonchiev, hành vi không phải là những phản ứng máy móc của một cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động Còn theo tác giả Phạm Minh
Trang 36Hạc, hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích [105, 22]
Theo Hersey và Hard, đơn vị cơ sở của hành vi là một hành động Toàn bộ hành vi
là một chuỗi hành động [29, 21]
Trong Tâm lý học xã hội thì hành vi được coi là “hành động hay ý định hành động
mà cá nhân sẽ ứng xử với đối tượng” Khi nói đến hành vi người, có thể hiểu đó “là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể” [325, 21]
Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (chủ biên) thì “hành vi là toàn bộ những phản ứng nói chung, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định [424, 36] Ở đây đề cập đến hoàn cảnh của sự xuất hiện hành vi (tức là những tác động bên ngoài chủ thể) và hành vi ở đây là những hành xử người khác có thể quan sát được
Từ điển Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng định nghĩa hành vi như sau: Hành vi là sự tác động qua lại giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh, do tính tích cực bên ngoài (kích thích) và bên trong (nhu cầu) thúc đẩy Thuật ngữ hành vi dùng để chỉ hành động của các cá thể riêng biệt hay của nhóm, loài (hành vi một chủng loại sự vật hay một nhóm xã hội) [259, 10]
Nhìn chung, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hành vi Tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng hành vi là tổ hợp những phản ứng của cơ thể dựa trên những kích thích từ bên ngoài Tuy nhiên, những quan điểm này chỉ mới quan tâm đến biểu hiện của hành vi Có thể nói cách khác rằng, những quan điểm mà các tác giả trên đưa
ra chỉ quan tâm hành vi với biểu hiện bên ngoài và cơ chế kích thích phản ứng mà chưa đề cập đến cơ chế bên trong chính là sự chi phối của tâm lý, ý thức lên hành vi Tiếp thu những quan điểm khác nhau về hành vi trên, đề tài này quan niệm hành vi
là những biểu hiện ra bên ngoài của đời sống tâm lý bên trong con người Hành vi là minh chứng cho mối quan hệ biện chứng giữa biểu hiện bên ngoài với nhân cách bên trong Hành vi mang đặc điểm tâm lý cá nhân nhưng vẫn bị những chuẩn mực xã hội chi phối
Trang 37Đây cũng là những nội dung cơ bản để người nghiên cứu xác lập khái niệm hành
vi nghiện, hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook trong đề tài này
1.2.1.4 Phân loại hành vi
Hành vi là sự hiện thực hóa trong những suy nghĩ, tư tưởng, thái độ bên trong của con người Có nhiều cách phân loại hành vi khác nhau Khi dựa vào mức độ biểu lộ của hành vi, toàn bộ hành vi con người được cắt ra theo một trục dọc cho ra hai phạm trù lớn, khái quát: hành vi bộc lộ (hành vi bên ngoài) và hành vi ngầm ẩn (hành vi nội tâm) Theo ý nghĩa tượng trưng, hành vi con người được chia thành từng mảng: một số mảng thuộc hành vi biểu tượng, những mảng còn lại thuộc hành vi phi biểu tượng [250-258, 20] Trong Tâm lý học, có nhiều cách phân loại hành vi khác nhau:
Xét theo mức độ biểu lộ: [250 - 258, 20]
Hành vi bộc lộ: Là tất cả những hành vi của con người mà người khác có thể trực tiếp quan sát Những hành vi này để xác minh, tức là khi nó được một nhà nghiên cứu quan sát, ghi lại, đánh giá thì một nhà nghiên cứu khác có thể kiểm tra được Những hành vi như đi, đứng, nói, cười, mua, bán đều thuộc hành vi bộc lộ
Hành vi ngầm ẩn: Được xem là không quan trọng với những người khác ngoài chủ thể của nó, nhưng gần đây các nhà khoa học đã nhận thức lại ý nghĩa của loại hành vi này Nhiều nhà khoa học đã khẳng định rằng tuy nó không có tác động trực tiếp nhưng rất quan trọng và ý nghĩa lâu dài
Nếu căn cứ vào tính chất của hành vi: [30, 3]
Hành vi công khai: Hành vi công khai là hành vi được chủ thể tiến hành trong một môi trường cụ thể và trước sự quan sát và chứng kiến của người khác
Hành vi che giấu: Hành vi che giấu là hành vi được chủ thể thực hiện nhằm không cho người khác chứng kiến
Nếu xem xét theo chuẩn mực hành vi: [22, 38]
Hành vi hợp chuẩn: Hành vi hợp chuẩn là hành vi phù hợp với chuẩn mực của một nhóm, một cộng đồng xã hội, những hành vi mà mọi người mong đợi từ một thành viên nào đó
Trang 38 Hành vi lệch chuẩn: Hành vi lệch chuẩn là những hành vi không đáp ứng được sự mong đợi của một nhóm người nào đó, nó lệch chuẩn mực của một nhóm, một cộng đồng
Nếu căn cứ vào phạm vi tác động của hành vi: [23, 38]
Hành vi hướng vào chính mình: Hành vi hướng vào chính mình là những hành vi ảnh hưởng trực tiếp lên chính chủ thể
Hành vi hướng đến người khác: Hành vi hướng đến người khác những hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến những mối quan hệ xung quanh, thông qua đó tác động trở lại với chính chủ thể
Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng: Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng là những hành vi tác động và ảnh hưởng trực tiếp lên các sự vật hiện tượng và những hành vi tác động sau này sẽ ảnh hưởng đến chính chủ thể gây ra hành vi
Tóm lại, cách phân loại hành vi tùy thuộc vào quan điểm, hoàn cảnh cụ thể Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi phân loại hành vi theo căn cứ vào phạm
vi tác động Nghĩa là, người nghiên cứu sẽ phân loại hành vi thành ba hướng chính: hành vi “hướng” vào chính mình, hành vi “hướng” đến người khác và hành vi "hướng” đến các sự vật hiện tượng
1.2.2 Các vấn đề lý luận hành vi nghiện mạng xã hội - Facebook
1.2.2.1 Lý luận về thuật ngữ “Nghiện”
a Lý luận về thuật ngữ “Nghiện” trên thế giới
Trong tiếng Anh người ta dùng từ “Abuse” hay “Addict” để diễn tả hành vi nghiện và “Abuser” để chỉ kẻ nghiện “Abuse” nghĩa là sử dụng cái gì đó quá mức cho phép của một con người bình thường [11, 26]
Theo tác giả X.Laquelle và K.Liot cho rằng nghiện là một nội dung hình thành từ môn tâm thần học, môn sức khỏe cộng đồng và một số chuyên khoa y khác Thời gian đầu những cách tiếp cận chỉ tập trung vào các chất như rượu, ma túy, chất gây nghiện
Sự gần gũi về lâm sàng, về sinh lý thần kinh, về trị liệu và những dạng nghiện ngập không hề liên quan đến chất gây nghiện như nghiện chơi bài, nghiện mua sắm, nghiện game online đã làm xuất hiện khái niệm chung về nghiện ngập Thuật ngữ nghiện (addiction) có nguồn gốc từ chữ cái latinh “addictere” chính là hình phạt cổ xưa nhằm
Trang 39mục đích cho những người phạm lỗi sửa chữa, thay đổi bản thân Bệnh lý nghiện là những rối loạn tâm lý bệnh thực thụ Quá trình cai nghiện là một quá trình lâu dài và phức tạp, phương thức trị liệu ngày càng phát triển trong đó bao hàm cả phương diện y khoa - tư pháp [62]
b Lý luận về thuật ngữ “Nghiện” tại Việt Nam
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, nghiện hay còn gọi là “ghiền” là ham thích đến mức thành thói quen khó bỏ [680, 48] Nếu không có cái để thỏa mãn
“cái nghiện” ấy thì cuộc sống của họ trở nên khó khăn về mặt tinh thần và thể chất Trong từ điển Bách khoa Y học phổ thông của Nguyễn Ngọc Lanh (chủ biên), nghiện là các triệu chứng khó chịu về tinh thần và thể chất khi người sử dụng một chất nào đó [522, 28]
Xét trên bình diện Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng cho rằng, “nghiện là trạng thái tâm
lý bất bình thường của con người, xảy ra sau khi bị tiêm nhiễm một cách không chủ định một chất nào đó, hoặc sử dụng nhiều lần một sự vật, hiện tượng nào đó kèm theo
sự biến đổi các quá trình tâm - sinh lý của cơ thể và biểu hiện ra ngoài thông qua hành
vi, cách ứng xử và quan hệ của họ với những người xung quanh” Theo tác giả, nghiện được biểu hiện ở ba mức độ:
Mức độ nhẹ: Hành vi và cách ứng xử của người nghiện rất khó phân biệt so với người bình thường
Mức độ trung bình: Hành vi và trạng thái bất bình thường thỉnh thoảng lại xuất hiện, nhưng người nghiện vẫn còn ý thức được hành vi, cách ứng xử của mình
Mức độ nặng: Hành vi và cách ứng xử của người nghiện hoàn toàn hoặc gần như mất khả năng kiểm soát ý thức [510, 10]
Nghiện chính là sự phụ thuộc quá mức vào một tác nhân kích thích nào đó và nếu chủ thể không được thỏa mãn sẽ dẫn đến trạng thái bất thường thậm chí mất kiểm soát trong cách ứng xử của bản thân
Dựa trên nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ “nghiện” ở trên, trong phạm vi nghiên cứu, đề tài này hiểu nghiện là trạng thái tâm lý bất bình thường biểu hiện bên trong và bên ngoài của con người khi họ sử dụng nhiều lần một sự vật, hiện tượng nào
đó kèm theo sự biến đổi các quá trình tâm - sinh lý của cơ thể và biểu hiện ra ngoài
Trang 40thông qua hành vi, cách ứng xử và quan hệ của họ với những người xung quanh Cụ thể trong đề tài này, sự vật - hiện tượng gây ra sự biến đổi bên trong suy nghĩ, nhận thức, trong tâm - sinh lý và biểu hiện qua hành vi bên ngoài của chủ thể học sinh lớp 9 chính là mạng xã hội - Facebook
1.2.2.2 Hành vi nghiện
a Quan điểm về hành vi nghiện
Quan điểm truyền thống về nghiện cho rằng, nghiện thường được gắn với việc lạm dụng các chất kích thích như thuốc, ma túy hoặc rượu, gây nên những biến đổi nhất định trong hệ thống sinh học của con người cũng như các chức năng xã hội của
họ Tuy nhiên, gần đây các bác sĩ và các nhà Tâm lý học cho rằng, nghiện không chỉ hạn chế đối với các chất mà còn bao gồm các hoạt động hoặc hành vi Loại nghiện này được gọi là hành vi nghiện [60, 28]
Thuật ngữ “hành vi nghiện” đang gây nhiều tranh cãi và các nhà khoa học vẫn chưa có sự đồng thuận thống nhất trong khái niệm Tác giả Rachlin (1990) và Walker (1989) cho rằng, chỉ có những chất đưa vào cơ thể mới có thể gọi là “nghiện”; nghiện chỉ dùng vào những trường hợp liên quan đến dùng ma túy, thuốc phiện hay một số chất gây nghiện khác
Trong thời gian gần đây nhiều nhà khoa học đã mở rộng định nghĩa về “nghiện”, bao gồm một số loại nghiện không liên quan đến chất gây nghiện như: Đánh bài quá mức (Griffiths, 1990), chơi trò chơi quá mức (Keeprs, 1990), ăn quá mức (Leisuire và Bloome, 1993), thể dục quá mức (Morgan, 1997), quan hệ tình dục quá mức (Peele và Brody, 1975), xem ti vi quá mức (Winn, 1983) [46, 11]
Các hoạt động này là một phần tự nhiên và là nhu cầu của cuộc sống con người không có bất kì tác động nào tiêu cực Nhưng một khi cá nhân không thể kiểm soát hoặc không ngừng hoạt động, dù trải qua những hậu quả xấu do hoạt động đem lại, người đó được gọi là người nghiện hành vi hay nói cách khác là có hành vi nghiện Tác giả Alexander và Scheweighofer (1988) đã bày tỏ quan điểm: khi không có liên quan đến việc kết hợp duy nhất thuật ngữ “nghiện” với thuốc phiện đã tạo ra sự khác biệt thực sự mà những khác biệt đó bỏ đi cách sử dụng thuật ngữ truyền thống về hành vi nghiện [46, 11]