1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hiệu quả đầu tư tài chính cho khối ngành kinh tế tại trường đại học nguyễn tất thành

71 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Mục tiêu cụ thể: + Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả đầu tư tài chính giáo dục đại học theo hướng phân tích chi phí – lợi ích; + Khái quát thực trạng đầu tư khối ngành kinh tế của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH

    

LÊ PHƯƠNG TRÚC THÙY

    

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

CHO KHỐI NGÀNH KINH TẾ TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH 

  

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

     

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH

LÊ PHƯƠNG TRÚC THÙY

  

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

CHO KHỐI NGÀNH KINH TẾ TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích hiệu quả đầu tư tài chính cho khối ngành kinh tế tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Ái Cầm. Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực. 

Trang 4

sự hỗ trợ từ thầy cô, bạn bè và người thân.  

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến  Ban  giám  hiệu  trường  Đại  Học Nguyễn Tất Thành với cơ sở vật chất và hệ thống thư viện đa dạng các đầu sách, tài liệu, thuận lợi cho việc tìm kiếm, nghiên cứu thông tin. 

  Xin cảm ơn Tiến sĩ Trần Ái Cầm đã tận tình giúp đỡ, động viên, định hướng cách 

tư duy cũng như cách làm việc khoa học. Đồng thời, tôi cảm ơn cô đã cho tôi những nhận xét quý báu, chỉnh sửa những sai sót của tôi trong bản thảo luận văn. 

  Xin cảm ơn Tiến sĩ Thái Hồng Thụy Khánh và quý thầy cô khoa Tài chính – Kế toán đã trang bị cho tôi những kiến thức quan trọng trong suốt thời gian học tập, làm nền tảng cho tôi có thể hoàn thành được bài luận văn này. 

  Xin  cảm  ơn  anh  Võ  Minh  Hải  –  Trưởng  phòng  Kế  toán,  thầy  Lê  Văn  Vượng  – Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính, cô Nguyễn Thị Vân Anh – giáo vụ khoa Tài chính – 

Kế toán đã chia sẻ kiến thức thực tế, đồng thời cung cấp các dữ liệu thực tiễn cần thiết để tôi hoàn thành luận văn. 

  Xin cảm ơn chị Lê Minh Nguyệt – Phó giám đốc Trung tâm Khảo thí đã hỗ trợ công việc trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này. 

Do chưa có nhiều kinh nghiệm cùng với những giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp từ phía quý Thầy/Cô để bài luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.  

  Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn! 

Lê Phương Trúc Thùy

 

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU   1

1. Sự cần thiết của đề tài   1

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài   2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài   3

4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài   3

4.1. Phương pháp nghiên cứu định tính:   3

4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng:   4

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu   4

6. Kết cấu của đề tài: gồm 04 chương   4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VÀ  CÁC VẤN  ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU   5

1.1 Tổng quan những nghiên cứu liên quan   5

1.1.1. Các nghiên cứu trong nước   5

1.1.2. Các nghiên cứu ngoài nước   7

1.2. Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu   9

1.3. Tóm tắt chương 1   9

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN   10

2.1 Một số vấn đề lý luận về đầu tư của các trường đại học tư thục theo cách tiếp cận  chi phí – lợi ích   10

2.1.1 Khái niệm đầu tư và phân loại đầu tư vào các trường đại học tư thục   10

2.1.2 Chi phí và lợi ích đầu tư của các trường đại học tư thục   12

2.1.3 Doanh thu, lợi nhuận và phương trình phân tích tài chính Dupont   15

2.2 Hiệu quả đầu tư tài chính cho giáo dục   17

2.2.1 Khái niệm hiệu quả đầu tư, phân loại hiệu quả đầu tư   17

2.2.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư cho giáo dục theo cách tiếp cận chi phí – lợi  ích   19

2.3 Tóm tắt chương 2   26

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ KHỐI NGÀNH KINH TẾ CỦA TRƯỜNG  ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH   28

3.1 Bối cảnh của khối ngành Kinh tế trường Đại học Nguyễn Tất Thành   28

3.1.1 Trường Đại học Nguyễn Tất Thành   28

Trang 6

3.1.3 Khoa Quản trị kinh doanh   29

3.2 Hiệu quả đầu tư tài chính của khối ngành kinh tế   30

3.2.1 Chỉ số đánh giá khái quát tình hình tài chính   30

3.2.2 Các chỉ số phân tích hiệu quả tài chính của khối Kinh tế   38

3.2.3 Phương trình phân tích tài chính DuPont   41

3.3 Tình hình phát triển các trường đại học tư thục tại Việt Nam   46

3.4 Tóm tắt chương 3   47

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU  QUẢ ĐẦU TƯ     49

4.1 Kết luận về hiệu quả đầu tư tài chính của khối ngành Kinh tế   49

4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính   50

4.3 Một số hạn chế cần tiếp tục nghiên cứu   53

DANH MỤC THAM KHẢO   54  

Trang 7

Chữ viết tắt Ý nghĩa

NPV  Chỉ số giá trị hiện tại thuần (Net Present Value) 

BCR  Chỉ số tỷ suất lợi ích - chi phí (Benefits Costs Ratio) IRR  Chỉ số tỷ suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate of Return) GDP  Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product) ROA  Chỉ số lợi nhuận trên tài sản (Return on Assets) 

ROE  Chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity) TPP  Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-

Pacific Partnership Agreement 

Trang 8

Hình 2-1 Phương trình phân tích tài chính DuPont   17

Hình 2-2 Mối quan hệ giữa NPV và IRR   27

Bảng 2-1 Quy định về các khoản chi phí trong dịch vụ giáo dục, đào tạo   14

Bảng 3-1 Thời gian các học kỳ và thời gian trên bảng cân đối kế toán   30

Bảng 3-2: Thống kê học phí của sinh viên Đại học khoa Tài chính - Kế toán   31

Bảng 3-3 Thống kê học phí của sinh viên Đại học khoa Quản trị kinh doanh   32

Bảng 3-4 Doanh thu các khoa thuộc khối ngành Kinh tế   32

Bảng 3-5 Thống kê chi phí đầu tư cho khoa Tài chính - Kế toán   34

Bảng 3-6 Thống kê chi phí đầu tư cho khoa Quản trị kinh doanh   34

Bảng 3-7 Lãi suất huy động vốn của các ngân hàng năm 2014   38

Bảng 3-8 Biểu đồ dòng tiền khoa Tài chính - Kế toán   40

Bảng 3-9 Biểu đồ dòng tiền khoa Quản trị kinh doanh   40

Bảng 3-10 Chỉ số tỷ suất lợi ích - chi phí của khối Kinh tế   41

Biểu đồ 3-1 Biểu đồ chi phí - doanh thu khoa Tài chính - Kế toán   37

Biểu đồ 3-2 Biểu đồ chi phí - doanh thu khoa Quản trị kinh doanh   37

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Việt Nam bước đầu gia nhập TPP đã đem lại cho nền kinh tế Việt Nam nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức đòi hỏi chính phủ và các ngành cần có 

sự quyết tâm và nỗ lực rất lớn. Một trong những thách thức đó chính là phát triển lực lượng lao động cần thiết. Vậy nên, việc đầu tư cho giáo dục nhằm tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực Đông Nam Á nói riêng, thị trường thế giới nói chung luôn trở thành mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ.  Theo khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân tại Việt Nam được Chính phủ phê duyệt ngày 18/10/2016 quy định các cấp học của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Giáo dục mầm non, Giáo dục phổ thông, Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục đại học. Như vậy, Giáo dục đại học trở thành cấp học cao nhất và nắm giữ vai trò quan trọng nhất trong việc cung cấp và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cho Việt Nam. Cấp học này cung cấp cho người học những nguyên lý, lý thuyết cơ bản trong các lĩnh vực khoa học phát triển các công nghệ nguồn làm nền tảng để phát triển các lĩnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ hoặc các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, thiết kế các công cụ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu đa dạng của con người. Với vai trò đó, Giáo dục đại học trở thành mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển nhân lực của Việt Nam qua các thời kỳ. 

Việc phát triển giáo dục đại học giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng suất lao động và thu nhập của người lao động, từ đó dẫn đến việc tăng tổng thu nhập quốc dân. Đây cũng là lý do khiến Việt Nam sẵn sàng bỏ ra nhiều nguồn lực để cho giáo dục đại học. Đồng thời, chính phủ luôn có những cơ chế, chính sách, tài chính hỗ trợ các trường Đại học. Tuy nhiên, các trường Đại học tư thục lại phải tự chủ tài chính. Việc 

tự chủ tài chính vô tình khiến các trường Đại học tư thục có nét tương đồng với một doanh nghiệp. Mà đã là doanh nghiệp thì phải nhắc đến cạnh tranh, lợi nhuận. 

Trang 10

và được gọi là đầu tư giáo dục. Nếu xét giáo dục là một thị trường đầu tư, thì ta có hai chủ thể đều được gọi chung là “nhà đầu tư”: một là người bỏ chi phí để sử dụng dịch vụ giáo dục (gọi chung là người học) và một là người bỏ chi phí để xây dựng dịch vụ giáo dục (gọi chung là các cổ đông). Trong giới hạn nghiên cứu này, tác giả sử dụng từ “nhà đầu tư” là nói đến các cổ đông. Song song đó, nói đến đầu tư chúng ta dễ nghĩ ngay đến 

“chi phí”, “lợi ích”, đến “lãi”, “lỗ”, … hay nói cách khác là hiệu quả đầu tư. Một số nhận định chủ quan cho rằng đầu tư giáo dục là đầu tư “siêu lợi nhuận” bao gồm lợi ích 

cá nhân và lợi ích xã hội. Tuy nhiên, cũng có một số nhận định khác cho rằng đầu tư giáo dục là đầu tư đầy tính rủi ro. Vậy, câu hỏi đặt ra là, đầu tư cho việc giáo dục có thực sự mang lại hiệu quả tài chính cho các nhà đầu tư hay không?  

Xét  riêng  trường  Đại  học  Nguyễn  Tất  Thành,  việc  thành  lập  Phòng  Kế  hoạch  tài chính vào năm 2016, cùng với việc yêu cầu các đơn vị lập các kế hoạch tài chính cho đơn vị mình vào đầu mỗi năm học, tạo cơ sở cho nhà trường lập kế hoạch doanh thu, chi phí hoạt động cũng như đảm bảo cân đối tình hình tài chính cho từng đơn vị là bước 

đi cần thiết. Nó giúp nhà trường, hay đúng hơn là các nhà đầu tư có cái nhìn bao quát hơn,  đồng thời  cũng  có  những  điều  chỉnh cần  thiết  nhằm  nâng  cao  “lợi  nhuận”. Mặc khác, có thể thấy, việc so sánh giữa chi phí hoạt động và doanh thu ở các Khoa đào tạo thì không quá khó khăn như các đơn vị hỗ trợ khác trong trường. 

Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài “Phân tích hiệu quả đầu tư tài chính cho

khối ngành kinh tế tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành” theo hướng tiếp cận phân 

tích chi phí – lợi ích, nhằm tìm ra lời giải đáp thỏa đáng dựa trên các căn cứ khoa học chặt chẽ. Từ đó rút ra những nhận định về hiệu quả đầu tư tài chính giáo dục, làm cơ sở cho việc đề xuất những định hướng nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho các khối ngành khác tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành. 

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Mục tiêu chung: Sử dụng cách tiếp cận chi phí – lợi ích để ước lượng và đánh giá hiệu quả đầu tư của khối ngành ở trường Đại học Nguyễn Tất Thành; xác định những 

Trang 11

đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho các khối ngành khác tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành trong giai đoạn tới. 

- Mục tiêu cụ thể: 

+  Hệ  thống  hóa  cơ  sở lý  luận  về  hiệu  quả  đầu  tư  tài  chính  giáo  dục  đại  học  theo hướng phân tích chi phí – lợi ích; 

+ Khái quát thực trạng đầu tư khối ngành kinh tế của trường Đại học Nguyễn Tất Thành thông qua các các chỉ số tài chính; 

+ Nhận định hiệu quả đầu tư tài chính của khối ngành kinh tế 

+ Đề xuất những định hướng nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho các khối ngành khác tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành. 

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: sử dụng thông tin của khoa Tài chính – Kế toán (ngành Tài chính và ngành Kế toán), khoa Quản trị kinh doanh (ngành Quản trị kinh doanh) thuộc khối ngành kinh tế trường Đại học Nguyễn Tất Thành. 

Trang 12

4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng:

Sử dụng phương pháp toán thống kê mô tả, phần mềm Microsoft Excel để tính:  + Chi phí trung bình mà khối ngành phải bỏ ra cho một khóa học.  

+ Tính toán các chỉ số tài chính phản ánh hiệu quả đầu tư cho khối ngành Kinh tế của trường Đại học Nguyễn Tất Thành. 

Kết quả phân tích được trình bày dưới dạng bảng biểu để có thể hỗ trợ cho người sử dụng thông tin. 

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Qua nghiên cứu đề tài này, tác giả mong muốn có được cái nhìn tổng quan hơn các vấn đề về đầu tư và hiệu quả đầu tư tài chính khối ngành kinh tế trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Từ đó có những nhận định về thực trạng hiệu quả đầu tư tài chính của khối ngành kinh tế ở trường Đại học Nguyễn Tất Thành theo tiếp cận phân tích chi phí – hiệu quả, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính ở các khối ngành khác. 

6 Kết cấu của đề tài: gồm 04 chương

Chương 1: Tổng quan những nghiên cứu liên quan và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận 

Chương 3: Thực trạng đầu tư khối ngành kinh tế của trường Đại học Nguyễn Tất Thành Chương 4: Kết luận và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư 

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VÀ CÁC VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1 1 Tổng quan những nghiên cứu liên quan

Nhân lực là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự phát triển của đất nước. Vậy nên giáo dục và đào tạo được xem là quốc sách trong việc phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Đồng thời, nhu cầu được đi học đại học từ phía cộng đồng, xã hội cũng ngày càng cao, theo đó, sự ra đời của các trường Đại học tư thục trở thành lẽ tất yếu. Theo Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ký ngày 26/ 11/2014 đã quy định hoạt động của 

cơ sở giáo dục đại học là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện [2]. Theo Phạm Thị Ly (2018) nhận định “Giáo dục đang là một thị trường thực sự. Các trường ĐH tư 

ở Việt Nam hiện nay đã và đang hoạt động hoàn toàn như một doanh nghiệp.”[15] Tuy nhiên, đầu tư vào trường Đại học tư thục là một hình thức đầu tư đặc biệt vì vốn của nhà đầu tư tư nhân lại tham gia vào hàng hóa công cộng.  

Dưới đây là một số nghiên cứu về hoạt động đầu tư cũng như hiệu quả đầu tư tài chính vào các trường Đại học tư thục được các tác giả trong và ngoài nước thực hiện: 

1 1 1 Các nghiên cứu trong nước

Đứng trên quan điểm của chủ đầu tác giả Phùng Chu Cường (2006) cũng đã đưa ra các cơ sở lý luận về phân tích tài chính của dự án và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của một dự án như NPV, IRR, BCR  đồng thời cũng đưa ra những ưu điểm và nhược điểm khi sử dụng các chỉ tiêu đánh giá trên.[8]  

Trần Việt Hùng (2013) đã nêu lên luận điểm rằng các trường Đại học ngoài công lập 

ở Việt Nam đều được “đặt dưới sự kiểm soát rất chặt chẽ của Chính phủ, từ đánh giá kiểm định chất lượng và phân loại đến hệ thống phân chia lợi nhuận để đảm bảo phát triển đúng hướng, chứ không được tự do nhiều như các doanh nghiệp thuần túy, cho nên 

đa số các trường Đại học không hoạt động theo Luật Doanh nghiệp” [12]. Tuy nhiên, ông  Hùng  cũng  nhận định  các  trường  Đại  học  ngoài công  lập,  đặc biệt  là các  trường thuộc các tập đoàn, công ty lớn cũng cần có các giải pháp nhằm gia tăng vốn đầu tư và 

Trang 14

Trong  một  bài  viết  về đầu  tư vào  trường  Đại  học  tư  thục,  Huỳnh  Hữu  Tuệ, Hiệu trưởng trường Đại học Bắc Hà cùng với Lê Trường Tùng, Hiệu trưởng trường Đại học FPT, có cùng quan điểm về việc “đầu tư vào đại học là một cuộc chơi hao tiền tốn của 

mà không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể tham gia”[18]. Quan điểm đó được thể hiện qua tỷ lệ doanh thu của trường FPT vào tập đoàn FPT là không cao, chỉ chiếm khoảng 1%. 

Theo  Nguyễn  Việt  Khôi,  Phó  chủ  nhiệm  Khoa  Kinh  tế  và  Kinh  doanh  quốc  tế (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội), “nhà đầu tư luôn “ngửi” thấy lợi nhuận. Nhu cầu về giáo dục lớn, hệ thống trường công không đáp ứng được nhu cầu đào tạo, mặt bằng học phí tại các trường tư rất cao… là những yếu tố hấp dẫn để nhà đầu tư 

tư nhân nhảy vào cuộc chơi. Thậm chí, nhiều trường công hiện cũng tư nhân hóa khi tự chủ thu - chi.”. Một bằng chứng cho thấy lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam đang là một thị trường thực sự sôi động và hấp dẫn chính là doanh thu của hệ thống giáo dục Thành Thành Công đạt 464 tỷ trong niên độ tài chính 2017-2018 [10]. 

Nghiên cứu của Đặng Thị Minh (2014) nhận định nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ nào khác nên nhiều trường Đại học tư thục phải tự bươn chải, thậm chí trong chính sách  tuyển  sinh  còn  bất  cập  ảnh  hưởng  đến  nguồn  tuyển  làm  cạn  kiệt  nguồn  thu  của trường Đại học tư thục, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của trường. Nghiên cứu chỉ rõ, nguồn thu của các trường Đại học tư thục phụ thuộc và số lượng sinh viên. Tuy nhiên, nếu sinh viên các trường Đại học công lập được nhà nước hỗ trợ học phí đến 70% thì sinh viên các trường ngoài công lập lại không như vậy. Điều này cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các nhà đầu tư vào trường Đại học tư thục. [17]. 

Trang 15

“là tài sản chung không chia””, bên cạnh Luật đầu tư quy định các trường đại học tư thục phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế này nếu không được ưu đãi thì lên đến 25% lợi nhuận. Như vậy, nếu cộng cả hai thì thực tế thuế của trường đại học tư thục có thể lên đến 50% lợi nhuận. Đây là mức thuế rất cao. Mặc dù vậy, “số liệu báo cáo của 

43 trường đại học tư thục cho thấy khoảng 77% số trường có thu vượt chi, nộp ngân sách nhà nước 111 tỷ đồng. Tỷ lệ tổng lợi nhuận trên tổng chi đạt đến 143% ”[9] 

1 1 2 Các nghiên cứu ngoài nước

Báo cáo của Daniel L. Bennett, Adam R. Lucchesi, and Richard K. Vedder (2010) chỉ ra, thị trường tiềm năng của các tổ chức giáo dục tư nhân chính là các sinh viên có tuổi đời từ 25 tuổi trở lên. Thông qua việc so sánh lợi nhuận của các tổ chức giáo dục tư nhân  như Apollo  Group (lợi  nhuận  đạt  được  trong  năm 2009  là 598 triệu  đô la Mỹ), Education Management Corporation (lợi nhuận đạt được trong năm 2009 là 100 triệu 

đô la Mỹ), …. cho thấy, giáo dục là một thị trường đầy tiềm năng. Đồng thời, khoảng thời gian của nghiên cứu các tổ chức giáo dục tư nhân trên (từ năm 2004 đến năm 2009), với doanh thu tăng từ 8% lên đến 34%, tỷ suất lợi nhuận dao động trong khoảng 11% đến 23% phần nào cũng cho thấy hiệu quả của việc đầu tư vào thị trường này. Báo cáo này cũng đưa ra kết luận, đặc điểm khác biệt duy nhất giữa các tổ chức giáo dục tư nhân 

và tổ chức giáo dục công cộng chính là động lực lợi nhuận. Tuy nhiên, động lực này không mang ý nghĩa tiêu cực mà trái lại, nó thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân cung cấp nhiều lựa chọn hơn cho sinh viên.[24] 

Lapovsky, L. (2014) cho biết để cải thiện sự ổn định tài chính, các trường đại học của Mỹ đang nỗ lực để vận hành hiệu quả hơn về chi phí, đặc biệt tập trung vào các chi phí liên quan đến các cơ sở, giảng viên và chương trình giảng dạy.[28] 

Sazonov,  S.  P.,  Kharlamova,  E.  E.,  Chekhovskaya,  I.  A.,  &  Polyanskaya,  E.  A. (2015) đã rút ra những định hướng cần thiết để các tổ chức giáo dục đại học hoạt động hiệu quả như: tăng tính bền vững tài chính, độc lập kinh tế và linh hoạt trong quản lý cơ 

Trang 16

và doanh nghiệp tư nhân; [31] 

Nghiên  cứu  của  Ashwin  Assomull,  Maryanna  Abdo,  Roisin  Pelley  (2017)  chỉ  ra rằng: Đầu tư cho giáo dục tư nhân là một công việc lâu dài và ít rủi ro. Chính phủ, nhà điều hành và nhà đầu tư có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ triển khai sử dụng vốn 

tư nhân hiệu quả và có trách nhiệm trong giáo dục. [22] 

Nghiên cứu của Sami Al Kharusi (Oman), Sree Rama Murthy Y. (2017) đã phân tích 

mô hình kinh doanh của hai tổ chức giáo dục, Dhofar University and Majan College, để thấy được những khó khăn về tài chính của trường tư thục. Trước hết, Sami Al Kharusi nhìn nhận rằng các tổ chức giáo dục tư nhân hoạt động như một doanh nghiệp, do đó việc tối đa hóa lợi nhuận trở thành vấn đề họ quan tâm bên cạnh các vấn đề về thuế. Bên cạnh đó, hai nhà nghiên cứu này cũng đã chia chỉ số tài chính thành 4 nhóm bao gồm: phân tích lợi nhuận, phân tích thanh khoản, phân tích khả năng thanh toán dài hạn và phân tích quản lý tài sản. Theo đó, bằng việc phân tích các chỉ số ROA, ROE, Sami Al Kharusi đã so sánh sự bền vững của tài chính giữa hai trường tu thục Dhofar University and Majan College. Mặt khác, nghiên cứu cũng chỉ ra những xung đột lợi ích giữa lợi ích cổ đông và mục tiêu giáo dục của đơn vị đào tạo. Từ các phân tích trên, nghiên cứu đưa ra được khó khăn về tài chính của trường tư thục là sự cân bằng giữa ngân sách và chất lượng đào tạo.[30] 

Paweł Trippner, Iwona Gawryś (2017) đã dùng các chỉ số ROS, ROE, ROA để đánh giá lợi nhuận thu được từ hoạt động giáo dục đối với sinh viên bán trú của trường Đại học  tư  thục  tại  Ba  Lan  trong  năm  học  2015  -  2016.  Dựa  và  các  chỉ  số  trên,  Paweł Trippner và Iwona Gawryś đã đi đến kết luận rằng nguồn thu từ học phí của sinh viên không bù đắp được chi phí mà trường đã bỏ ra khi mà chi phí chiếm từ 91% đến 94% doanh thu. [29] 

Trong khi đó, Wondwosen Tamrat & Damtew Teferra (2019) lại nhìn nhận rằng đầu 

tư vào lĩnh vực giáo dục là rủi ro với các nhóm rủi ro chính bao gồm: rủi ro liên quan đến chính sách và quy định, rủi ro về tài chính, rủi ro về cách dạy và học, rủi ro về cơ 

Trang 17

1 2 Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Từ các nghiên cứu trên ta thấy rõ, giáo dục nói chung và giáo dục Đại học nói riêng 

là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong sự phát triển của mỗi quốc gia, cả về phát triển vốn nhân lực và về kinh tế. Việc để nhà nhà đầu tư tư nhân nhập cuộc vào thị trường giáo dục đang trở thành xu thế chung, và đang là mối quan tâm của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Thị trường giáo dục đang trở thành môi trường kinh doanh với nhiều tiềm năng đầy hấp dẫn. Thế nên, việc nghiên cứu hiệu quả đầu tư tài chính ở các trường Đại học tư thục có thể đưa ra những định hướng đầu tư có ích cho các nhà đầu tư, tạo tiền đề phát triển môi trường giáo dục cạnh tranh, minh bạch. 

1 3 Tóm tắt chương 1

Dựa vào các nghiên cứu trong và ngoài nước, ta có thể thấy, để trả lời cho câu hỏi đầu tư tài chính cho giáo dục có mang lại hiệu quả hay không chính là xem xét các chỉ 

số  tài  chính  quan  trọng.  Các  chỉ số  thường  được  sử  dụng bao  gồm: NPV, IRR,  BCR (Phùng Chu Cường, 2006) để bước đầu có cái nhìn mang tính lựa chọn có nên đầu tư hay không; thêm vào đó là các chỉ số ROA, ROE, ROS (Sami Al Kharusi , Sree Rama Murthy Y., 2017) (Paweł Trippner, Iwona Gawryś, 2017). Cùng với việc xem xét các chỉ  số  tài  chính  trên,  việc  đánh  giá  các  rủi  ro  cũng  là  vấn  đề  cần  được  quan  tâm (Wondwosen Tamrat & Damtew Teferra, 2019). 

Đối  với  nghiên  cứu  này,  tác  giả  cho rằng  việc  xác  định  được  các  chỉ  số  tài  chính IRR, NPV, BCR, ROA, ROE, ROS có ý nghĩa quan trọng trong việc so sánh hiệu quả đầu tư tài chính giữa các đơn vị đào tạo trong một trường Đại học, giữa các trường Đại 

Trang 18

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

2 1 Một số vấn đề lý luận về đầu tư của các trường đại học tư thục theo cách tiếp cận chi phí – lợi ích

2 1 1 Khái niệm đầu tư và phân loại đầu tư vào các trường đại học tư thục

2 1 1 1 Khái niệm đầu tư

Benjamin Graham và David Dodd (1934) thì định nghĩa “Hoạt động đầu tư là một quá trình, thông qua phân tích kỹ lưỡng và cẩn trọng, có thể đảm bảo an toàn vốn và thu lời thỏa đáng. Tất cả những hoạt động không đáp ứng được những yêu cầu trên là đầu cơ.”[23] 

Theo Luật Đầu tư (2014) quy định: “đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu 

tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.”[2] 

Theo World Bank, “đầu tư là sự bỏ vốn trong một thời gian dài vào một lĩnh vực nhất định và đưa vốn vào hoạt động của doanh nghiệp tương lai trong nhiều chu kỳ kế tiếp nhằm thu hồi vốn và mang lại lợi ích cho nhà đầu tư, lợi ích kinh tế - xã hội cho đất nước được đầu tư.”[34] 

Theo Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2007), đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Có ba loại đầu tư chính là đầu tư phát triển, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại.[20] 

Kevin A. Hassett (2008) định nghĩa “đầu tư trong tài chính là việc mua một tài sản hay mục với hy vọng rằng nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tương lai và được bán với giá cao hơn”. Đầu tư khác với đầu cơ về thời gian và mức độ rủi ro. [27] Investopedia – trang web tài chính hàng đầu thế giới về tin tức thị trường, chiến lược, đầu tư giáo dục thì định nghĩa: “đầu tư là việc mua một tài sản hay mục với hy vọng 

Trang 19

Như  vậy  có  thể  hiểu, đầu  tư vào  các  trường đại  học  tư thục  chính  là  sử dụng  các nguồn lực của trường đại học tư thục như tài chính, thông tin, nhân lực, thiết bị máy móc, thương hiệu, uy tín … có sự nghiên cứu và phân tích rủi ro, trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đạt được những kết quả trong tương lai. Và kết quả này được kỳ vọng là có giá trị lớn hơn so với các nguồn lực đã sử dụng cho quá trình đầu tư. 

Các nguồn lực được các trường đại học tư thục sử dụng dưới dạng tiền tệ được gọi 

là chi phí của đầu tư. Những kết quả có được trong quá trình đầu tư được gọi là lợi ích đầu tư. Trong giới hạn nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến đầu tư tài chính cũng như lợi ích đầu tư tài chính. 

2 1 1 1 Phân loại đầu tư

Có nhiều cách phân loại đầu tư cho giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, Đặng Thị Minh Hiền (2016) cho rằng đứng ở góc độ chủ thể đầu tư từ phía cung cấp dịch vụ, ta có thể chia thành các nhóm: 

- Đầu tư của khu vực nhà nước (các trường Đại học công lập) 

- Đầu tư của khu vực tư nhân (Các trường Đại học ngoài công lập) 

- Đầu tư của cá nhân viện trợ cho các trường Đại học.[11] 

Luật Giáo dục (2005) nêu rõ “đầu tư cho các trường Đại học tư thục chính là hình thức đầu tư của khu vực tư nhân. Các tổ chức tư nhân trong và ngoài nước đầu tư chịu trách nhiệm quyết định về phương hướng hoạt động của nhà trường, huy động và giám sát việc sử dụng các nguồn lực dành cho nhà trường, gắn nhà trường với cộng đồng và 

xã hội, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục.”[3] 

Thêm vào đó, nếu căn cứ theo mục đích đầu tư, theo Luật Giáo dục (2012) ta có thể chia thành hai loại hình đầu tư chính: “đầu tư vì mục đích lợi nhuận (các trường Đại học 

tư thục vì lợi nhuận) và đầu tư không vì mục đích lợi nhuận (các trường Đại học tư thục không vì lợi nhuận). Điểm khác nhau giữa hai hình thức đầu tư này chính là cách ứng 

xử đối với lợi nhuận.”[4] 

Trang 20

Như vậy, theo những cách phân loại trên, tác giả thấy trường Đại học Nguyễn Tất Thành  thuộc  đầu  tư  của  khu  vực  tư  nhân,  và  được  hiểu  như  một  doanh  nghiệp  kinh doanh có điều kiện. Qua cách xử sự của các nhà đầu tư với lợi nhuận trong những năm qua  thì  trường  Đại  học  Nguyễn  Tất  Thành  thuộc  khối  trường  Đại  học  tư  thục  vì  lợi nhuận. 

2 1 2 Chi phí và lợi ích đầu tư của các trường đại học tư thục

2 1 2 1 Chi phí

Chi phí là một khái niệm cơ bản nhất của bộ môn kế toán, của việc kinh doanh và trong kinh tế học, là cái mà chúng ta từ bỏ để nhận được một cái gì đó, có thể thông qua hành vi mua, trao đổi hay sản xuất. Theo chuẩn mực số 1 thuộc hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam thì “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ 

kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho 

cổ đông hoặc chủ sở hữu.”[1] 

Theo điều 82, nguyên tắc kế toán các khoản chi phí của thông tư 200/2014/TT-BTC hướng  dẫn  kế  toán áp dụng  đối với  các  doanh  nghiệp  thuộc mọi  lĩnh  vực, mọi  thành phần kinh tế quy định: “Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa.”[7] 

Như vậy, nhìn chung, chi phí được định nghĩa như là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm thu được các loại tài sản, hàng hóa hoặc các dịch vụ. Có nhiều cách phân loại chi phí của một doanh nghiệp như: 

- Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế: Chi phí vật tư mua ngoài,chi phí tiền lương 

và các khoản trích theo lương, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác  

- Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế: Chi phí vật tư trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung và các chi phí sử dụng cho hoạt động sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. 

Trang 21

Tuy nhiên, như đã nói, trường Đại học tư thục được hiểu là một doanh nghiệp có điều kiện, vậy nên, cách phân loại chi phí cũng được nhà nước quy định khác so với các doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác. 

Theo thông tư số 14/2019/TT-BGDĐT hướng dẫn xây dựng, thẩm định, ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật và phương pháp xây dựng giá dịch vụ giáo dục đào tạo áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, giá dịch vụ giáo dục đào tạo là tổng của các khoản chi phí tiền lương, chi phí vật tư, chi phí quản lý, chi phí khấu hao/hao mòn tài sản cố định (tích lũy đầu tư), chi phí khác. Cụ thể, những khoản chi phí này có thể hệ thống 

Trang 22

Bảng 2-1 Quy định về các khoản chi phí trong dịch vụ giáo dục , đào tạo

Chi phí tiền lương Chi phí vật tư Chi phí quản lý Chi phí khấu hao tài

sản cố định Chi phí khác

-  Khoản  tiền  phải  trả  cho 

giảng  viên,  cán  bộ  quản  lý 

cụ  dụng  cụ,  điện, nước,  nguyên liệu,  nhiên  liệu, vật liệu và các chi phí khác được xác định  trên  cơ  sở mức  tiêu  hao  vật 

tư  và  đơn  giá  vật 

tư. 

- Chi phí tuyển sinh; 

- Chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho công tác quản lý; các khoản chi mua và 

sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế  (không đủ tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định) được tính theo phương pháp phân  bổ  dần  vào  chi  phí  quản  lý;  tiền thuê tài sản cố định; chi phí trả cho nhà thầu (nếu có); 

-  Chi  phí  bằng  tiền  khác  thuộc  quản  lý chung, ngoài các chi phí đã nêu trên như: 

chi  phí  hội  nghị,  tiếp  khách,  công  tác phí, tàu xe, khoản chi cho lao động nữ, nghiên  cứu,  đào  tạo,  chi  nộp  phí  tham gia hiệp hội và chi phí hợp lý khác; 

- Chi phí khấu hao hoặc hao  mòn  nhà  cửa,  vật kiến trúc, máy móc thiết 

bị và các tài sản cố định khác sử dụng trong hoạt động  cung  cấp  dịch  vụ giáo  dục  đào  tạo  được tính  theo  quy  định  của 

Bộ Tài chính và lộ trình kết cấu chi phí khấu hao hoặc hao mòn tài sản cố định  vào  giá  dịch  vụ giáo dục đào tạo do cấp 

có  thẩm  quyền  quy định. 

- Thuế môn bài, tiền  thuê  đất  và các  khoản  phí, 

lệ phí khác. 

(Nguồn: Thông tư số 14/2019/TT-BGDĐT)[6]

Trang 23

2 1 2 2 Lợi ích

Theo từ điển Kinh tế học thì lợi ích là “khái niệm dùng để chỉ sự quan tâm của một 

cá nhân hay nhóm người tới sự thay đổi của một số biến số kinh tế nào đó”. Chẳng hạn lợi ích của người lao động là tiền lương (sự quan tâm tới tiền lương ), các nhà sản xuất trong nước có lợi ích ở chính sách bảo hộ mậu dịch (họ quan tâm tới việc chính phủ áp dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch chống lại hàng nhập khẩu)[19]. Vậy, như đã nói ở trên, lợi ích đầu tư chính là sự quan tâm đến đầu tư, hay lợi ích đầu tư là kết quả có được trong quá trình đầu tư. Lợi ích được xác định trên cơ sở so sánh kết quả của nhà đầu tư khi có hoặc không đầu tư vào các trường Đại học tư thục. Những chủ thể nhận được lợi ích bao gồm cá nhân và xã hội. Cụ thể: 

Lợi ích cá nhân: Lợi ích mang lại cho cá nhân, tổ chức khi đầu tư vào các trường Đại học tư thục thì trực tiếp và được lượng hóa bằng các giá trị tiền tệ. Mặt khác, có những lợi ích khó lượng hóa và qui đổi về mặt giá trị như uy tín, thương hiệu, sự tôn trọng từ 

xã hội, …. 

Lợi ích xã hội: Việc đầu tư cho các trường Đại học tư thục không chỉ góp phần tạo thêm lựa chọn về môi trường học tập cho xã hội, đồng thời nó còn lan tỏa tinh thần nâng cao kiến thức. Mặt khác, thông qua giáo dục còn nâng cao năng lực và tố chất của người lao động làm cho số lượng hàng hóa và dịch vụ của quốc gia hoặc khu vực ngày càng tăng lên. 

2 1 3 Doanh thu , lợi nhuận và phương trình phân tích tài chính Dupont

2 1 3 1 Doanh thu

Theo chuẩn mực số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” thì “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”.[1] Điều 78 Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định “Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được 

Trang 24

Dựa vào các định nghĩa trên, tác giả cũng thấy, doanh thu của các trường Đại học tư thục chính là học phí của các sinh viên đang theo học.  

2 1 3 2 Lợi nhuận

Karl Marx và Friedrich Engels định nghĩa: “Giá trị thặng dư, hay là lợi nhuận, chính 

là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hoá so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá so với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng hoá”.[26] 

Theo từ điển Kinh tế học thì “Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng  chi  phí.”  Lợi  nhuận  kinh tế  khác  lợi  nhuận  kế  toán ở  chỗ  nó  tính đến  tất  cả  các khoản chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, chứ không chỉ bao gồm các khoản chi phí hiện, phải thanh toán bằng tiền.[19] 

Tóm lại, lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa tổng doanh thu 

và  toàn  bộ  chi  phí  hoạt  động  kinh  doanh  trong  kỳ  hoạch  toán.  Lợi  nhuận  của  doanh nghiệp bao gồm: lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận từ các hoạt động khác. Lợi nhuận của một doanh nghiệp thông thường được phân phối theo thứ tự sau: Nộp thuế, trả tiền phạt, trừ các khoản lỗ không được trừ vào lợi tức trước thuế, trích lập các quỹ đối với những doanh nghiệp kinh doanh trong một số ngành đặc thù, chia lãi cho các đối tượng góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (nếu có), trích lập quỹ của doanh nghiệp. 

2 1 3 3 Phương trình phân tích tài chính DuPont

Được phát minh bởi Frank Donaldson Brown, giám đốc điều hành tài chính và giám đốc  công  ty  của  DuPont,  phương  trình phân tích  tài  chính DuPont trở  thành kỹ  thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Đây là phương pháp phân tích dựa trên mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính với nhau. [13] Mối quan hệ đó được thể hiện qua sơ đồ sau:

Trang 25

Hình 2-1 Phương trình phân tích tài chính DuPont

2 2 Hiệu quả đầu tư tài chính cho giáo dục

2 2 1 Khái niệm hiệu quả đầu tư , phân loại hiệu quả đầu tư

2 2 1 1 Khái niệm hiệu quả đầu tư

Hiệu quả đầu tư của ác dự án đầu từ được hiểu là “tất cả những lợi ích do việc thực hiện đầu tư đem lại như lợi ích kinh tế xã hội, lợi ích của chủ đầu tư và lợi ích cho người 

sử dụng. Một dự án đầu tư được coi là có hiệu quả khi đạt được mục đích đầu tư của dự án.” [14] 

Mặt khác, với cách tiếp cận phân tích chi phí – lợi ích, thì đầu tư cho trường Đại học 

tư thục cũng được xem như bất kỳ dự án đầu tư ở các lĩnh vực khác. Vậy, hiệu quả đầu 

tư cho trường Đại học tư thục cũng được hiểu là một phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ 

so sánh giữa các kết quả kinh tế - xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định. 

Tỷ số lợi nhuận trên 

vốn chủ sở hữu 

(ROE)

Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

Trang 26

2 2 1 2 Phân loại hiệu quả đầu tư

Có nhiều tiêu chí khác nhau dùng để phân loại hiệu quả đầu tư. Chẳng hạn, nếu xét theo tính chất thể hiện bản chất của hiệu quả thì ta có thể chia thành: Hiệu quả về kinh 

tế, hiệu quả về kĩ thuật, hiệu quả về xã hội và môi trường, hiệu quả về an ninh quốc phòng; nếu xét theo mức độ trực tiếp và gián tiếp: Hiệu quả thu được trực tiếp từ dự án 

và hiệu quả thu được ngoài dự án; nếu phân loại theo phương pháp tính toán, thì hiệu quả đầu tư bao gồm: Hiệu quả theo số tuyệt đối (Lợi nhuận, đóng góp cho ngân sách Nhà nước) và hiệu quả tính theo số tương đối (Mức doanh lợi của một đồng vốn, suất thu lợi nội tại).[14] 

Tuy nhiên, theo cách tiếp cận phân tích chi phí – lợi ích ta có thể chia hiệu quả đầu 

tư thành hai loại: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội. Nếu như các chỉ tiêu hiệu quả tài chính phản ánh quyền lợi ích của nhà đầu tư như: Lợi nhuận, thu nhập… thu được hàng năm, thì các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội phản ánh lợi ích của Nhà nước, của xã hội như: tăng thu cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế và các nghĩa vụ tài chính; tăng thu nhập cho người lao động… 

Theo như Từ Quang Phương và Phạm Văn Hùng (2013) thì hiệu quả tài chính của một dự án đầu tư được thể hiện ở sự chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Hiệu quả tài chính được xác định qua các chỉ tiêu cụ thể như giá trị hiện tại thuần (NPV), 

tỷ suất lợi ích chi phí (BCR), tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR),… [21] 

Ở góc độ là nhà đầu tư thì các doanh nghiệp luôn có mục đích là tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động đầu tư sinh lời đều tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội tốt đẹp. Từ Quang Phương và Phạm Văn Hùng (2013) đã định nghĩa hiệu quả kinh tế - 

xã hội của một dự án đầu tư được thể hiện ở sự chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh 

tế xã hội thu được so với đóng góp xã hội phải bỏ ra khi thực hiện đầu tư. Nói cách khác, hiệu quả kinh tế xã hội chính là sự so sánh giữa lợi ích được dự án tạo ra với cái giá mà 

xã hội phải trả để sử dụng tài nguyên có hiệu quả nhất đối với nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả kinh tế - xã hội được xác định qua các chỉ tiêu như: giá trị gia tăng thuần tuý, chỉ số lao động có việc làm, …. 

Trang 27

để xác định có nên ra quyết định đầu tư hay không. Thế nhưng, trên thực tế, các khoa thuộc khối Kinh tế của trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã được đầu tư. Vấn đề tiếp theo đặt ra là, vào thời điểm trước khi đầu tư, các chỉ số NPV, BCR, IRR như thế nào, 

và sau bốn năm hoạt động (một khóa học) thì dự án này có mang lại cho các nhà đầu tư lợi nhuận thực tế hay không? Nếu có, thì lợi nhuận này là bao nhiêu? Nếu không, thì nguyên nhân là từ đâu? 

Cũng vì lý do này, ngoài các chỉ số NPV, BCR, IRR tác giả sẽ dùng phương trình DuPont để đánh giá lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư này. 

2 2 2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư cho giáo dục theo cách tiếp cận chi phí – lợi ích

Như đã nói ở trên hoạt động của cơ sở giáo dục đại học là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Do đó, ta có thể áp dụng các công thức tính hiệu quả đầu tư của các ngành kinh tế khác cho giáo dục. Như vậy, hiệu quả đầu tư tài chính cho giáo dục theo cách tiếp cận chi phí – lợi ích có thể được phản ánh qua các chỉ số sau: Các chỉ số đánh giá khái quát tình hình tài chính của dự án đầu tư, các chỉ số phân tích hiệu quả tài chính 

Ta biết, nguồn thu chính ở các trường Đại học tư thục chính là học phí của sinh viên. Tổng doanh thu của một khóa học (ứng với thời gian nghiên cứu) được tính như sau: 

ổ ℎ ℎ = ố sinh ê × ọ ℎí  

Trang 28

Chỉ số về chi phí là toàn bộ khoản chi cho dự án của doanh nghiệp phát sinh trong chu kỳ sống của dự án. Đây là chỉ tiêu cho biết quy mô đầu vào của doanh nghiệp. Tổng chi phí của một khóa học (ứng với thời gian nghiên cứu) được tính như sau: 

ổ ℎ ℎí = ℎ ℎí ℎà ă  Trong đó chi phí hàng năm được hiểu là tổng các khoản chi phí đã được trình bày ở mục 2.1.3.1. 

2.2.2.1.2 Các chỉ số phân tích hiệu quả tài chính 

2.2.2.1.2.1 Chỉ số giá trị hiện tại thuần (Net Present Value - NPV) 

Giá trị hiện tại thuần là giá trị của dòng tiền dự kiến trong tương lai được quy về hiện tại sau khi trừ đi vốn đầu tư dự kiến ban đầu. Nói cách khác, NPV là tổng giá trị hiện tại của dòng thu nhập thuần mà dự án mang lại trong cả vòng đời của nó. 

Mục đích của việc tính NPV là để xem xét lợi ích của việc sử dụng các nguồn vốn trong thời gian thực hiện dự án. Do đó, NPV là chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tính khả thi của việc đầu tư. 

dự án đầu tư, có thể được tính bằng chi phí dùng để gọi vốn”[14]. Nói cách khác, lãi 

Trang 29

Như vậy, có 3 tình huống sẽ xảy ra đối với chỉ số NPV này, bao gồm: 

- Khi NPV 0: Thu nhập ròng và vốn đầu tư bằng nhau, đầu tư hòa vốn. 

- Khi NPV  0: Thu nhập ròng nhỏ vốn đầu tư, đầu tư lỗ vốn 

- Khi NPV 0: Thu nhập ròng lớn vốn đầu tư, đầu tư có lãi. Chỉ số NPV càng lớn thì hiệu quả đầu tư càng được đảm bảo. 

Trong thực tế, NPV được sử dụng để đánh giá tính khả thi của một dự án ở bước so sánh đầu tiên. Tuy nhiên, trong trường hợp này, NPV được tác giả kế thừa dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính của khối ngành Kinh tế.  

Ưu điểm của NPV:

Chỉ số này đánh giá hiệu quả tài chính của việc đầu tư có tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền (t). 

Có thể tính đến các yếu tố rủi ro tùy theo mức độ tăng trị số của tỷ suất chiết khấu (r). 

Có thể đo lường trực tiếp giá trị tăng thêm do vốn đầu tư tạo ra, từ đó giúp cho việc đánh giá được lợi nhuận của nhà đầu tư. 

Nhược điểm của NPV:

NPV phụ thuộc vào tỷ suất chiết khấu là chủ yếu để tính toán. Tuy nhiên, để xác định được tỷ lệ chiết khấu lại rất khó khăn khi thị trường vốn biến động. 

NPV chỉ cho biết tổng số tiền lãi (hoặc lỗ) của dự án nhưng lại không thể cho biết mức độ sinh lợi của dự án là bao nhiêu. Để khắc phục nhược điểm này, cần phải dùng đến chỉ số IRR) 

2.2.2.1.2.2 Chỉ số tỷ suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate of Return - IRR) 

Chỉ số tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) là tỷ lệ chiết khấu sao cho giá trị hiện tại của thu nhập từ dự án tương đương với giá trị hiện tại của đầu tư và NPV 0. 

Công thức tính IRR như sau: 

Trang 30

 0

0 1

- Nếu IRRr thì đầu tư không hiệu quả. 

- Nếu IRRr thì đầu tư hòa vốn. Việc đầu tư có lãi nhưng chỉ vừa đủ bù đắp chi phí. Nhà đầu tư không có lời. 

- Nếu IRRr thì đầu tư có lãi. 

Ưu điểm của IRR:

Thể hiện được sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian, hiệu quả được biểu diễn dưới dạng số tương đối, được gắn với một trị số hiệu quả tiêu chuẩn r. Việc xác định r đối với chỉ tiêu IRR thì chính xác hơn so với chỉ tiêu NPV. 

Đánh giá được mức sinh lời của dự án có tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền. 

Nhược điểm của IRR:

Giống với chỉ số NPV, kết quả chỉ đảm bảo tính chính xác trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo - ít phù hợp và khó khăn đối với thực tế. 

 2.2.2.1.2.3 Chỉ số tỷ suất lợi ích - chi phí (Benefits Costs Ratio - BCR) 

Tỷ suất lợi ích - chi phí được tính bằng tỷ số giá trị hiện tại thu nhập và giá trị hiện tại của các chi phí đầu tư với lãi suất chiết khấu r.  

Công thức tính BCR như sau: 

Trang 31

n t t t

B r BCR

C r

- Nếu BCR 1 thì NPV  0 và IRRr thì đầu tư không hiệu quả 

- Nếu BCR 1 thì hiệu quả phụ thuộc vào mục đích của nhà đầu tư. 

- Nếu BCR 1 thì NPV 0 và IRRr thì đầu tư mang tính khả thi 

Ưu điểm của BCR:

2.2.2.1.3 Phương trình phân tích tài chính DuPont 

Phương  trình  Dupont  dựa  trên  cơ  sở  kiểm  soát  các  chỉ  tiêu  phân  tích  tài  chính. DuPont cho thấy mối quan hệ và tác động của các nhân tố là các chỉ tiêu hiệu quả sử 

Trang 32

Tàisản bìnâ quân Vogn câủsởâư õu bìnâ q

Nếu ROEr: vậy nếu doanh nghiệp vay ngân hàng thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng mà thơi. 

Ngược lại, nếu ROEr: thì chứng tỏ doanh nghiệp cĩ năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh cao. 

Ngồi  ra,  ROE  cao  duy  trì  trong  nhiều  năm  cũng  thể  hiện  lợi  thế  cạnh  tranh  của doanh nghiệp. 

Bên cạnh đĩ, ROA (Chỉ số lợi nhuận trên tài sản - Return on Assets) thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một doanh nghiệp so với chính tài sản của nĩ. ROA sẽ cho 

ta biết hiệu quả của cơng ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. Tương tự như chỉ số ROE, về mặt lý thuyết ROA càng cao thì khả năng sử dụng tài sản càng cĩ hiệu quả.  Nguyên tắc chung thì nếu doanh nghiệp cĩ chỉ số ROA 7,5% và duy trì trong 3 năm liên tục thì được đánh giá là doanh nghiệp sử dụng hiệu quả tài sản. 

Trang 33

 Ưu điểm của phương trình Dupont:

Phương pháp Dupont mang tính đơn giản, cung cấp cho nhà quản lý các kiến thức căn bản và giải pháp sử dụng vốn doanh nghiệp hiệu quả. 

- Dễ dàng kết nối với các chính sách tài chính của doanh nghiệp. 

- Giúp doanh nghiệp thấy rõ hơn thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Từ đó đưa 

ra các phương án mở rộng đầu tư kinh doanh, nâng cấp hệ thống quản lý, quy trình hoạt động của doanh nghiệp trong chiến lược sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. 

Nhược điểm của phương trình Dupont: 

Phương pháp Dupont khá phụ thuộc vào mức độ tin cậy của số liệu đầu vào. Nếu số liệu đầu vào không chính xác sẽ ảnh hưởng đến cả một dây chuyền trong doanh nghiệp. Chính  vì  vậy  nó  chịu  ảnh  hưởng  từ  các  phương  pháp  và  giả  định  của  kế  toán  doanh nghiệp. 

2.2.2.2 Lợi ích xã hội

Lợi ích xã hội của đầu tư không phải việc so sánh lợi ích thu được trực tiếp mà nhà đầu tư thu được với chi phí trực tiếp mà học đã bỏ ra, mà là việc so sánh giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra trên quan điểm lợi ích của nền kinh tế quốc dân. Lợi ích thu được này được đánh giá trên cơ sở “sản phẩm của việc đầu tư” chính là các sinh viên đã ra trường đóng góp gì cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 

2.2.2.1 Đối với các doanh nghiệp sử dụng lao động 

Lợi ích mà các doanh nghiệp sử dụng lao động hưởng từ đầu tư cho giáo dục được thể hiện thông qua năng suất lao động của người lao động. Người lao động có trình độ  cao hơn sẽ không chỉ trực tiếp lao động đem lại năng suất lớn hơn cho doanh nghiệp mà trong cùng môi trường làm việc với họ, những người đồng nghiệp có trình độ giáo dục 

ở mức thấp hơn cũng sẽ chịu ảnh hưởng lan tỏa. Sự ảnh hưởng này được biểu thị qua hình thức noi gương (bắt chước) và cải thiện các kỹ năng trong quá trình làm việc với những người có trình độ giáo dục cao đó. 

Trang 34

Ngoài ảnh hưởng lan tỏa trong doanh nghiệp, lợi ích xã hội của việc đầu tư vào giáo dục còn thể hiện ở năng suất lao động bình của toàn xã hội tăng lên dẫn đến tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng lên và thu nhập bình quân đầu người cũng tăng lên. Từ đó tác động lên tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định xã hội.  

Bên cạnh đó, còn một số lợi ích khác như tăng cường sức khỏe cộng đồng, giảm ô nhiễm môi trường, giảm thiểu các tệ nạn xã hội, nâng cao tình trạng dân trí và tiến tới gắn kết cao hơn trong xã hội,…[21] 

Tuy nhiên, việc ước lượng các lợi ích xã hội này cũng không hề đơn giản. Trong giới hạn luận văn này, tác giả chỉ giới hạn trong việc ước lượng các lợi ích tài chính. 

2 3 Tóm tắt chương 2

Đầu tư vào giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là một hình thức đầu tư kinh doanh có điều kiện. Do đó, ta có thể áp dụng các công thức tính hiệu quả đầu tư của các ngành kinh tế khác cho giáo dục. 

Với cách tiếp cận phân tích chi phí – lợi ích, ta có thể sử dụng các chỉ số đánh giá khái quát tình hình tài chính của dự án đầu tư, các chỉ số phân tích hiệu quả tài chính và phương trình phân tích tài chính DuPont để đưa ra các nhận định về hiệu quả đầu tư. 

Để xác định các chỉ số NPV, IRR, ta có thể sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tính toán thông qua các hàm NPV (…), IRR ( … ). 

Mặt khác, ta có thể thấy mối quan hệ giữa NPV và IRR thông qua hình vẽ sau: 

Trang 35

Hình 2-2 Mối quan hệ giữa NPV và IRR

Bên cạnh đó, việc sử dụng phương trình phân tích tài chính DuPont có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tài chính doanh nghiệp. Với mỗi chỉ tiêu lại phản ánh mối quan 

hệ tài chính dưới dạng các tỷ số. Mỗi tỷ số tài chính lại chịu ảnh hưởng từ các quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các bên có liên quan. Dựa vào đó, việc thiết lập các mối quan hệ của mỗi tỷ số tài chính cùng các nhân tố ảnh hưởng cần theo một trình tự logic chặt  chẽ.  Cần nhìn  nhận  rõ ràng  hơn  các  hoạt động tài  chính  doanh  nghiệp.  Việc  tác động vào các nhân tố cũng cần thực hiện sao cho hiệu quả và hợp lý nhất. 

ĐẦU TƯ CÓ LÃI 

ĐẦU TƯ LỖ VỐN 

PHỤ THUỘC VÀO BCR VÀ CÁC YÊU TỐ KHÁC 

PHỤ THUỘC VÀO BCR VÀ CÁC YÊU TỐ KHÁC 

 

 

  

Ngày đăng: 01/01/2021, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w