Ngay từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, khả năng đi lại,giao thương giữa các vùng, miền trở nên thuận lợi, cùng với sự phát triển kinh tế - xãhội, vấn đề liên kết phát t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
HÀ NỘI - 9/2020
Trang 31.2 Tổng quan về một số công trình nghiên cứu phát triển du lịch và liên kết phát triển du lịch 15
2.2 Nội dung về liên kết phát triển du lịch 402.2.1 Liên kết tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến xây dựng thương hiệu
du lịch 402.2.2 Liên kết xây dựng sản phẩm du lịch, chương trình du lịch (tour du
lịch) chung của toàn vùng 402.2.3 Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 412.2.4 Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giaothông 422.2.5 Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tưphát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phùhợp với thế mạnh của từng địa phương 42
Trang 42.2.6 Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch 43
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch 43
2.4 Kinh nghiệm về liên kết phát triển du lịch và bài học kinh nghiệm cho các tỉnh Bắc Trung Bộ 45
2.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực 45
2.4.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 50
2.4.3 Bài học rút ra cho các tỉnh Bắc Trung Bộ 54
Chương 3: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ 58
3.1 Tiềm năng và lợi thế của du lịch vùng Bắc Trung Bộ 58
3.1.1 Vị trí địa lý 58
3.1.2 Tài nguyên du lịch 58
3.1.3 Cơ sở hạ tầng 59
3.1.4 Vị trí Vùng du lịch Bắc Trung Bộ trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước và quốc tế 59
3.1.5 Thực trạng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 61
3.2 Thực trạng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 63
3.2.1 Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch 63
3.2.2 Liên kết phát triển sản phẩm du lịch 67
3.2.3 Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 69
3.2.4 Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao thông 71
3.2.5 Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương 72
3.2.6 Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch 75
3.3 Phân tích mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch ở Bắc Trung Bộ 79
3.3.1 Khái quát về mô hình 79
3.3.2 Xây dựng thang đo và thiết kế bảng hỏi 81
3.3.3 Kết quả đánh giá dựa trên phần gốc của mô hình 82
3.3.5 Kiểm định độ tin cậy của mô hình 104
Trang 53.3.6 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu về liên kết phát triển du lịch vùng
Bắc Trung Bộ 108
3.4 Đánh giá chung 111
3.4.1 Kết quả đạt được 111
3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 112
Chương 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ 120
4.1 Quan điểm và định hướng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 120
4.1.1 Quan điểm 120
4.1.2 Định hướng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 121
4.2 Giải pháp tăng cường liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ 126
4.2.1 Xây dựng chiến lược hợp tác liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ 126
4.2.2 Giải pháp liên kết xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu du lịch vùng Bắc Trung bộ 127
4.2.3 Đẩy mạnh huy động vốn đầu tư phát triển du lịch Bắc Trung bộ 132
4.2.4 Phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Bắc Trung Bộ 134
4.2.5 Liên kết phát triển du lịch trong mô hình quản lý điểm đến 136
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 139
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
PHỤ LỤC 160
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân bổ phỏng vấn du khách tại điểm khảo sát 6
Bảng 3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Trung Bộ thời kỳ 2011 - 2018 60
Bảng 3.2 Lượng khách du lịch đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ 58
Bảng 3.3 Doanh thu từ du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ 60
Bảng 3.4 Số lượng buồng lưu trú du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ 61 Bảng 3.5 Số lượng lao động du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ 62
Bảng 3.6 Huy động vốn từ khu vực tư nhân cho phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ (2011 – 2018) 74
Bảng 3.7 Hiện trạng hợp tác, liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ 76
Bảng 3.8 Đặc điểm cá nhân của chuyên gia được hỏi ý kiến 83
Bảng 3.9 Đánh giá về các tài nguyên phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ 84
Bảng 3.10 Đánh giá về các tài nguyên thừa kế 85
Bảng 3.11 Đánh giá về các tài nguyên tạo thêm 85
Bảng 3.12 Đánh giá về các yếu tố phụ trợ 86
Bảng 3.13 Đánh giá về liên kết phát triển của chính quyền tỉnh đối với du lịch tại vùng Bắc Trung Bộ 88
Bảng 3.14 Đánh giá về các điều kiện hoàn cảnh 91
Bảng 3.15 Đánh giá về thị trường 92
Bảng 3.16 Đánh giá về kết quả hoạt động du lịch 93
Bảng 3.17 Đặc điểm nhân khẩu học của du khách được điều tra 94
Bảng 3.18 Tỷ trọng du khách theo nghề nghiệp 95
Bảng 3.19 Tỷ trọng du khách theo địa phương 96
Bảng 3.20 Mục đích chuyến thăm của du khách 97
Bảng 3.21 Số lần đi du lịch vùng Bắc Trung Bộ 97
Bảng 3.22 Hình thức tổ chức chuyến đi 97
Bảng 3.23 Hình thức thu thập thông tin về du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ .98
Bảng 3.24 Phương tiện giao thông 98
Bảng 3.25 Mức chi tiêu 98
Bảng 3.26 Khoản chi tiêu tốn kém nhất 99
Trang 7Bảng 3.27 Đánh giá về sản phẩm/điểm thu hút du lịch 99
Bảng 3.28 Đánh giá về an ninh, trật tự, môi trường xã hội 101
Bảng 3.29 Đánh giá về vệ sinh, môi trường 101
Bảng 3.30 Đánh giá về cơ sở hạ tầng, tiện ích 101
Bảng 3.31 Đánh giá về giá cả 102
Bảng 3.32 Đánh giá về độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên, cán bộ bản địa 103
Bảng 3.33 Đánh giá về thương hiệu điểm đến du lịch vùng Bắc Trung Bộ 103
Bảng 3.34 Kết quả phân tích hệ số Cronbach Alpha phần gốc của mô hình 104
Bảng 3.35 Kết quả phân tích nhân tố khám phá phần gốc của mô hình 106
Trang 8DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 4
Hình 2.1: Các bên tham gia trong các hoạt động du lịch 31
Hình 2.2: Các phạm vi của hợp tác, liên kết vùng trong phát triển du lịch 35
Sơ đồ 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch 45
Biểu đồ 3.1 So sánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Trung Bộ giai đoạn 2011 - 2018 60
Biểu đồ 3.2 So sánh lượng khách du lịch nội địa đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm (ĐVT: lượt khách) 59
Biểu đồ 3.3 So sánh lượng khách du lịch quốc tế đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm (ĐVT: lượt khách) 59
Biểu đồ 3.4 So sánh lượng buồng lưu trú du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm (ĐVT: buồng) 61
Biểu đồ 3.5 So sánh lao động du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm 63
Biểu đồ 3.6 So sánh huy động vốn từ khu vực tư nhân cho phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ 74
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâusắc, có tính liên kết ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Liên kết là một yếu tố khôngthể thiếu trong phát triển du lịch Liên kết góp phần phát huy tối đa lợi thế của các chủthể liên kết, tạo sự đa dạng, phong phú sản phẩm du lịch, giảm thiểu khiếm khuyết, tạo
sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau giữa các điểm đến, thúc đẩy phát triển du lịch
Liên kết vùng cũng như liên kết vùng du lịch bao hàm liên kết phát triển nộivùng và phát triển liên vùng Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp chiu sự tác động củanhiều ngành, đồng thời chịu ảnh hưởng của nhiều cấp theo chiều dọc và chiều ngang.Liên kết phát triển du lịch vùng cho phép khai thác lợi thế về tài nguyên du lịch, về cơ
sở hạ tầng và các nguồn lực khác của các địa phương và doanh nghiệp tham gia liênkết Mặt khác phát triển liên kết vùng du lịch còn là nhân tố quan trọng để làm tăngkhả năng cạnh tranh, thu hút các nguồn lực đầu tư cho du lịch, thu hút khách du lịchđến vùng du lịch với tư cách là một điểm đến thống nhất và đến lãnh thổ của từng địaphương liên kết Liên kết phát triển du lịch đã hình thành và phát triển từ nhiều nămtrước đây Ngay từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, khả năng đi lại,giao thương giữa các vùng, miền trở nên thuận lợi, cùng với sự phát triển kinh tế - xãhội, vấn đề liên kết phát triển du lịch đã được đặt ra và ngày càng trở nên cấp thiết.Trước đây, sự liên kết thường tập trung giữa các địa phương, điểm đến du lịch cókhoảng cách gần về địa lý, thuận lợi về giao thông Ngày nay, liên kết phát triển dulịch được thực hiện theo nhiều chiều, không chỉ giữa những điểm đến liền kề mà cảnhững điểm đến xa có chung định hướng phát triển; không chỉ giữa hai hay một vàiđiểm đến, địa phương mà còn giữa các vùng, miền; không chỉ liên kết trong phạm viquốc gia mà còn liên kết giữa các quốc gia trong một khu vực (ví dụ như liên kết giữacác quốc gia ASEAN trong phát triển du lịch)
Chính vì vậy, ngành du lịch Việt Nam được Đảng, Nhà nước xác định là ngànhkinh tế quan trọng và được xác định tập trung nguồn lực để đến năm 2020 trở thànhngành kinh tế mũi nhọn tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chínhtrị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn [4] Trong các Nghị quyếtcủa Đảng và trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 201 ngày22/01/2013 [16] và Quyết định số 2161/QĐ - TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt "quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung
Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã xác định: đến năm 2020, du lịch cơ bảntrở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, cạnh tranh được với cácnước trong khu vực và thế giới Đồng thời, cũng đã khẳng định vị trí, vai trò quan
Trang 10trọng của du lịch vùng Bắc Trung Bộ trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam,góp phần kết nối với các vùng du lịch trong nước, trong khu vực và quốc tế.
Khu vực Bắc Trung Bộ gồm 06 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, QuảngBình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế, có dân số trên 10 triệu người với 25 dân tộcanh em cùng sinh sống; Là vùng có khá nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch đặcthù, đặc sắc mà các vùng khác không có Thứ nhất, đây là vùng duy nhất có kế cấu địaphương trải dài liên tục, từ Thanh Hóa vào đến Thừa Thiên Huế, các tỉnh nối liền mộtdải, một tỉnh chỉ tiếp giáp với hai tỉnh hai đầu, trừ Thừa Thiên – Huế tiếp giáp với 3tỉnh Thứ hai,địa thế của vùng nối liền với biển (biển Đông) và núi (dãy Trường Sơn),sau lưng là nước bạn Lào Đồng bằng ít, núi nhiều, độ dốc lớn, rất khó khăn trong việcphát triển các loại kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông Tuy nhiên, tính theo
tỷ lệ chiều dài “biên giới” với diện tích của vùng, tiềm năng “mở cửa – hội nhập” củaBắc Trung Bộ là khá lớn Thứ ba, đây là vùng có nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc vàđẳng cấp
Vùng có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên đẳng cấp cao, thậm chí ở đẳng cấpquốc tế như khu vực hang động Sơn Đoòng –Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình),Núi Bạch Mã, bãi biển Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), rừng quốc gia Vũ Quang (HàTĩnh), rừng quốc gia Pù Mát (Nghệ An), thành nhà Hồ, suối Cá thần (Thanh Hóa),…Những đặc sản tự nhiện chỉ có ở vùng Bắc Trung Bộ như gió Lào, vùng Đầm pháThừa Thiên Huế, các cồn cát trắng Quảng Bình, Quảng Trị,… vốn là những yếu tố gâybất lợi thế cho phát triển du lịch của vùng nhưng hiện nay, đây có thể được coi là tiềmnăng lợi thế tuyệt đối để phát triển du lịch đẳng cấp cao
Tài nguyên văn hóa – lịch sử của vùng cũng khá phong phú Là nơi tập trung 4
di sản thế giới được UNESCO công nhận, đó là Thành nhà Hồ, Vườn quốc gia PhongNha – Kẻ Bàng, Quần thể di tích cố đô Huế và Nhã nhạc – âm nhạc cung đình ViệtNam Nơi đây là quê hương của nhiều danh nhân nổi tiếng Việt Nam như: Hồ ChíMinh, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Trần Phú, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, , các vuanhà Lê, nhà Hồ, nhà Nguyễn, chúa Nguyễn, chúa Trịnh,…; Là nơi tập trung nhiều ditích lịch sử, cách mạng có giá trị như Kinh thành Huế, đường mòn Hồ Chí Minh, địađạo Vịnh Mốc, nghĩa trang Trường Sơn, căn cứ Cồn Tiên, Thành cổ Quảng Trị,… Nơiđây còn là quê hương của nhiều lễ hội độc đáo như: lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễhội đền Cuông (Nghệ An), lễ hội Hòn Chén (Thừa Thiên – Huế); đặc biệt là FestivalHuế được tổ chức định kỳ 2 năm một lần đã trở thành một sự kiện văn hóa mang tầmquốc tế được nhiều du khách trong và ngoài nước quan tâm
Trang 11Tuy có tiềm năng, lợi thế lớn, mức độ khác biệt nhưng du lịch của vùng vẫn cònkém phát triển Vì sao vậy? Một là, cũng như các vùng, các địa phương khác trên cảnước, du lịch vùng Bắc Trung Bộ vẫn phát triển theo logic cổ điển (du lịch “đi sau”).Tính “tự lực địa phương” là chính, do đó, chia cắt, manh mún, nghèo nàn và không thểphối hợp vẫn là đặc điểm chính Hình thái du lịch chủ đạo vẫn chỉ là “nghỉ mát – tắmbiển” có tính thời vụ, “nhờ trời” Các lợi thế, tính đặc sắc riêng của các địa phươngkhông được kết nối, tạo ra sức mạng cộng hưởng nên khó phát huy Hai là, thiếunguồn lực khởi động, thiếu hạ tầng kết nối quốc tế đúng tầm, đúng cách, chưa có nhàđầu tư chiến lược, thiếu cơ chế phối hợp, liên kết và vận hành phù hợp, không có chínhsách đột phá, không đủ quyền chủ động điều hành và tổ chức,…đều có thể là nguyênnhân dẫn đến liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ còn chưa thực sự mạnh đểkhẳng định vai trò và tiềm năng du lịch của vùng.
Chính vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng liên kết phát triển du lịch vùng BắcTrung Bộ trong thời gian quan để nhìn nhận đúng nguyên nhân của vấn đề liên kếtphát triển du lịch của vùng còn yếu kém, để nhận diện, phác họa đúng chân dung đốitượng mà du lịch Bắc Trung Bộ đang nhắm đến để hội nhập quốc tế, đồng thời, địnhhướng và tìm giải pháp tăng cường liên kết du lịch để có thể làm cho ngành du lịchđóng vai trò “ngành mũi nhọn” tại vùng Bắc Trung Bộ Vấn đề đặt ra là cần phát huynhững lợi thế khác biệt bà trội bật đảm bảo chi vùng phát triển du lịch như thế nào? Cơ
sở nào để thực hiện? và giải pháp nào để tăng cường liên kết du lịch của vùng BắcTrung Bộ trong thời gian tới? Xuất phát từ những lý do đó, nghiên cứu sinh đã lựa
chọn đề tài “Liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ” làm đề tài luận án tiến
sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế với mong muốn đóng góp thêm những cơ sở lý luận
và thực tiễn cho quá trình liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
+ Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm làm rõ các vấn đề về lý luận và
thực tiễn về liên kết du lịch của các tỉnh Bắc Trung Bộ Từ đó, đề xuất các giải pháp tăngcường liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ
Để đạt được mục đích này, luận án hướng đến việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu:
2 Liên kết phát triển du lịch là gì? Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến quá trình liên kết đó?
3 Thực trạng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ như thế nào?
4 Cần có những giải pháp nào để tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ trong thời gian tới?
Trên cơ sở xác định mục đích nghiên cứu, luận án sẽ giải quyết các nhiệm vụ đặt
ra theo sơ đồ mô hình nghiên cứu như sau:
Trang 12Sơ đồ 1.1: Khung phân tích liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ
Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính
sách đầu tư phát triển du lịch
Trang 134
Trang 14+ Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:
- Làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận về phát triển du lịch và liên kết phát triển
du lịch; Kinh nghiệm một số quốc gia và một số địa phương trong nước về phát triển dulịch, từ đó rút ra bài học đối với các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
- Đánh giá đúng thực trạng về liên kết phát triển du lịch của các tỉnh Bắc Trung
Bộ trong thời gian qua, đưa ra các thành tựu, thách thức và hạn chế, đồng thời làm rõnguyên nhân dẫn đến các hạn chế đó
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Liên kết phát triển du lịch
Thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2015 – 2019, dự báo cho đến năm
2025 và những năm tiếp theo
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, luận án không chỉdựa vào phân tích định tính (thông qua miêu tả) mà còn cung cấp những phân tích địnhlượng (thông qua điều tra, phân tích thống kê số liệu) Cụ thể, những phương pháp sau
sẽ được đưa vào sử dụng:
4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên
cứu * Chọn mẫu điều tra:
+ Lựa chọn mẫu điều tra: Đối tượng điều tra và phỏng vấn mẫu nghiên cứu gồm
2 nhóm đối tượng: (1) các chuyên gia (đó là các chuyên gia du lịch làm việc tại cáctrường đại học, viện nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước cả ở cấp trung ương và cấpđịa phương, các doanh nhân, nhân viên kinh doanh du lịch; (2) khách du lịch (kháchnội địa và quốc tế)
Trang 15+ Quy mô và cách chọn mẫu:
- Đối với nhóm chuyên gia thì dự kiến số lượng phiếu điều tra phỏng vấn xin
ý kiến là 150 phiếu (150 người) Các chuyên gia được chọn một cách có chọn lọcnhằm đảm bảo thu thập được những thông tin chính xác Mặt khác, đối tượng đượcphỏng vấn ở nhiều địa điểm khác nhau chứ không tập trung một nơi cũng như nghềnghiệp khác nhau nhằm thu được những thông tin đa dạng về nhân khẩu học
Việc phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia thực hiện bằng cách gặp gỡ, liên lạc đểchuyên gia đồng ý đánh giá sau đó gửi cho chuyên gia Bảng hỏi qua email hoặc trựctiếp bản in Chuyên gia có thể cho ý kiến trực tiếp vào file mềm rồi trả lời lại bằngemail hoặc bản in
- Đối với khách du lịch dự kiến 250 phiếu cho cả khách nội địa và nước ngoài.Thời điểm lấy ý kiến đánh giá của du khách chọn thời điểm đông khách tại các điểm dulịch tại vùng Bắc Trung Bộ Nguyên tắc chọn du khách phỏng vấn theo cách thức ngẫunhiên Phân bổ phỏng vấn du khách đã thực hiện cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Phân bổ phỏng vấn du khách tại điểm khảo sát
Do đặc điểm về nguồn khách đến Bắc Trung Bộ, đối với khách quốc tế là từ tháng
2 – 5 (kéo dài đến giữa tháng sáu) và tháng 11 hàng năm Đối với khách nội địa là khoảng
cuối tháng 5 đến cuối tháng 8 hàng năm Tuy nhiên, đo đặc thù về điều kiện thời tiết nên
hoạt động du lịch tại Bắc Trung Bộ mạnh nhất từ giữa tháng 5 – 8 hàng năm (do thời gian
này ít mưa) Vì vậy, cuộc điều tra mới nhất tập trung vào việc đánh giá nhân tố ảnh hưởng
đến sự phát triển khách du lịch đến vùng Bắc Trung Bộ, tác giả luận án đã chọn thời điểmđiều tra được chọn từ tháng 5 9/2018 Số phiếu được tính
du lịch cộng đồng
- Thiết kế phiếu theo thang đo được đo lường bằng thang Likert 5 điểm, trong
đó 1 là Rất kém; 2 là Kém; 3 là Trung bình; 4 là Khá và 5 là Tốt
Trang 164.2 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu
4.2.1 Số liệu thứ cấp
- Các tài liệu, thông tin, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến
đề tài Điều tra, thu thập, nghiên cứu kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
du lịch, các định hướng, chính sách của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tại địaphương
- Số liệu về tình hình phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ từ năm 2010 đến 2018 (Niên giám thống kê, Cục Thống kê các tỉnh)
- Nguồn số liệu được dùng trong nghiên cứu này bao gồm là những thông tin đãđược công bố trên sách báo, tạp chí, trên các trang web, các báo cáo của Sở, Ban, Ngànhcác tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, gồm: (i) dựa trên các tư liệu, số liệu thống kê và các nguồn
dữ liệu, tài liệu từ các cơ quan chức năng tỉnh; (ii) ý kiến của các doanh nghiệp, du khách,người dân tham gia hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ;(iii) Ý kiến của các cán bộ thuộc các cơ quan chức năng của tỉnh Nhóm nghiên cứu đã kếthợp nhiều kỹ thuật thu thập thông tin để thu thập thông tin một cách tương đối đầy đủ vàchính xác theo những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
- Thu thập tài liệu liên quan từ các cơ quan chức năng tỉnh
- Phỏng vấn trực tiếp doanh nghiệp, du khách, người dân
- Phỏng vấn gián tiếp, phỏng vấn sâu một số cán bộ thuộc các cơ quan chức năng cấp tỉnh, huyện
- Toạ đàm với cán bộ thuộc các cơ quan chức năng cấp tỉnh, huyện và doanh nghiệp
Nội dung thu thập số liệu điều tra
STT Nội dung thu Nơi thu thập số liệu Cách thu thập số liệu
thập số liệu
Quy hoạch phát triển - UBND các Tỉnh vùng - Đề án phát triển du lịch các
du lịch Bắc Trung Bộ, Sở Văn tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đến
1 hóa - Thể thao và du lịch năm 2020, tầm nhìn 2030.
các tỉnh - Thu thập từ báo cáo của các
- Các doanh nghiệp du doanh nghiệp các tỉnh Bắclịch các tỉnh Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018
Tổ chức đầu tư, huy - Sở Văn hóa - thể thao và - Báo cáo tổng kết tình hìnhđộng vốn đầu tư phát Du lịch tỉnh các tỉnh Bắc phát triển du lịch các tỉnh Bắctriển du lịch trên địa Trung Bộ Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018
2 bàn - Các doanh nghiệp kinh - Thu thập số liệu từ báo cáo
doanh du lịch trong và của các doanh nghiệp các tỉnhngoài vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 -
2018
Quản lý, phát triển tài - Tác giả điều tra thực tế - Thống kê tài nguyên du lịch
3 nguyên du lịch và cơ - Sở Văn hóa-thể thao và các tỉnh Bắc Trung Bộ giai
sở hạ tầng phục vụ du du lịch đoạn 2010 - 2018
Trang 17STT Nội dung thu Nơi thu thập số liệu Cách thu thập số liệu
thập số liệu
lịch trên địa bàn - Các khu, điểm du lịch - Điều tra, đánh giá tài nguyên
Phát triển sản phẩm + Sở Văn hóa-thể thao và + Báo cáo tổng kết tình hình
du lịch trên địa bàn du lịch các tỉnh Bắc Trung phát triển du lịch các tỉnh Bắc
4 các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018 Trung Bộ giai đoạn 2010
vụ du lịch đoạn 2010 - 2018 2018 về nguồn nhân lực
5 + Điều tra tại các khu, +Thu nhập các mẫu điều tra về
điểm du lịch trong tỉnh, nguồn nhân lực, ngành nghề,địa bàn dân cư tại khu, thu nhập của dân cư trên địađiểm du lịch bàn điều tra
Chính sách quản lý - UBND các tỉnh Bắc - Đề án phát triển du lịch các
du lịch và thực hiện Trung Bộ giai đoạn 2010 - tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn
6 du lịch - Sở Văn hóa-thể thao và + Qui chế phối hợp hoạt động
du lịch kinh doanh du lịch trên địa bàn.+ Phỏng vấn chính quyền
địa phương (huyện, xã,thôn, buôn )
Tuyên truyền, nâng - Các doanh nghiệp kinh + Thu thập ý kiến các doanhcao nhận thức và doanh du lịch trong và nghiệp, du khách đến thamkhuyến khích cộng ngoài vùng quan tại các khu, điểm du lịch
7 đồng dân cư tham gia - Du khách trong và ngoài + Thu thập, tổng hợp ý kiếnhoạt động phát triển tỉnh đánh giá, nhận xét của ngườikinh tế du lịch - Phỏng vấn dân cư tại địa dân trên địa bàn du lịch
bàn khu du lịch
Liên kết phát triển + Tổng cục du lịch (liên + Thu thập ý kiến các hãng lữhoạt động du lịch, mở kết phát triển các tour, hành đến khu, điểm du lịch nămrộng thị trường du tuyến du lịch ) 2019
lịch + Phỏng vấn một số hãng + Thu thập ý kiến, đánh giá,
8 lữ hành du lịch trong và nhận xét của hướng dẫn viên,
ngoài vùng nhân viên du lịch tại các khu,+ Phỏng vấn hướng dẫn điểm du lịch
viên và nhân viên các khu,điểm du lịch
Trang 188
Trang 194.2.2 Số liệu sơ cấp
- Nghiên cứu tài liệu tại bàn: Tập hợp, sưu tầm và phân tích các nghiên cứu có
liên quan đã được công bố Phương pháp này giúp tìm ra khoảng trống cả về lý luận lẫnthực tiễn để nghiên cứu có thể bổ sung, đóng góp Phương pháp này còn giúp tiếp cận cácthành tựu, kết quả và cách giải quyết vấn đề, phương pháp nghiên cứu mà các học giả đitrước đã sử dụng thành công, nhờ đó có thể tiết kiệm thời gian, công sức và đi thẳng vàonhững vấn đề mà nghiên cứu đặt ra một cách hiệu quả nhất
4.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp chuyên gia: Đối tượng chuyên gia mà nghiên cứu này sẽ tiếp
cận, đó là các nhà nghiên cứu, giảng viên, doanh nhân, nhân viên kinh doanh, cán bộquản lý nhà nước, v.v… thuộc lĩnh vực du lịch Những đối tượng này sẽ được phỏng vấn,hỏi ý kiến về các tiêu chí đánh giá liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ lấy ra từ
mô hình tích hợp đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch của Dwyer và Kim (2003) [105].Trên cơ sở đó một mô hình phù hợp sẽ được xây dựng nhằm đánh giá liên kết phát triển
du lịch vùng Bắc Trung Bộ Các tiêu chí trong mô hình đánh giá sẽ được xây dựng vàchuyển thành bảng hỏi dùng để điều tra phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu
Ngoài ra, nghiên cứu này còn có mục tiêu khuyến nghị các giải pháp chính sáchnhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, do đó nội dung củaphỏng vấn còn quan tâm đến những ý kiến của chuyên gia trong đề xuất các giải phápchính sách nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ
- Phương pháp nghiên cứu so sánh: với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu là
đánh giá liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ nên phương pháp nghiên cứu sosánh được lựa chọn sử dụng Phương pháp này giúp nghiên cứu có thể tìm ra được nhữngđiểm tương đồng cũng như sự khác biệt giữa liên kết phát triển du lịch vùng Bắc TrungBộ
- Phương pháp xử lý số liệu:
Sử dụng xác suất thống kê để kiểm định độ tin cậy về kết quả điều tra phỏngvấn của các đối tượng Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để phân tích Cronbach Alphanhằm loại biến có hệ số tương quan với biến tổng nhỏ đồng thời kiểm tra độ tin cậycủa các thang đo Thêm vào đó phầm mềm SPSS 22.0 cũng được sử dụng để phân tíchnhân tố khám phá EFA
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Là một nghiên cứu mang tính hệ thống liên quan đến liên kết phát triển du lịch cáctỉnh Bắc Trung Bộ, luận án đã có những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
- Luận án đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận về liên kết vùng, liên kếtphát triển du lịch cả trong và ngoài nước, làm rõ nội hàm liên kết phát triển du lịch,
9
Trang 20phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch Luận án đã tổng kếtđược bài học kinh nghiệm về liên kết phát triển du lịch của các quốc gia trong khu vựcChâu Á và các địa phương trong nước như vùng Nam Bộ, vùng Tây Bắc Từ đó, rút rabài học kinh nghiệm về liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ.
- Luận án đã đưa ra các quan điểm về liên kết vùng và liên kết phát triển du lịch
- Đánh giá thực trạng liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ, nhữngthuận lợi và hạn chế, chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó Và đề xuất cácnhóm giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh BắcTrung Bộ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
+ Ý nghĩa lý luận của luận án:
- Lý luận về liên kết vùng, liên kết phát triển du lịch thực hiện trong luận án gópphần khẳng định việc liên kết phát triển du lịch là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo hiệuquả kinh tế - xã hội của hoạt động này, là cơ sở gợi mở cần thiết cho các nghiên cứu tiếptheo
- Kết quả nghiên cứu cho thấy muốn tăng cường liên kết phát triển du lịch cầnquy hoạch tập trung xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng cho từng vùng, tránh tình trạngchồng chéo, liên kết du lịch giữa các tỉnh trong vùng và các vùng trong cả nước, nângcao nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và những người trực tiếp tham giahoạt động du lịch Bên cạnh đó là định hướng phát triển du lịch từ chiều rộng sang chiềusâu, phát triển du lịch bền vững với chất lượng dịch vụ cao hơn; tăng cường sự phối hợpgiữa các cấp, các ngành…; vì vậy tính đồng bộ trong thực hiện các giải pháp cần phảiđược đặc biệt quan tâm
+ Ý nghĩa thực tiễn của luận án:
- Luận án đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường liên kết phát triển dulịch vùng Bắc Trung Bộ; các giải pháp này nếu được áp dụng sẽ góp phần tăng cườngliên kết phát triển du lịch Bắc Trung Bộ trong thời gian tới
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo bổ ích cho các đốitượng có nhu cầu tìm hiểu về vấn đề liên kết vùng, liên kết du lịch; các địa phương kháctrong cả nước cũng có thể tìm thấy những thông tin bổ ích trong luận án này
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài Lời mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu, phụ lục, nội dungluận án được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu có liên quan đến luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết phát triển du lịch
Chương 3: Phân tích thực trạng liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ
Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cường liên kết phát triển
du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Liên kết phát triển du lịch giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng với các địabàn khác trong một nước và liên kết quốc tế, với các nước nằm trong khu vực nhằm đadạng hóa sản phẩm du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương, tạo sự độc đáotrong các tour du lịch, tăng cường chất lượng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá dulịch , vừa tạo sự hài hòa, thống nhất và sức mạnh tổng hợp của từng địa phương, củavùng nhằm tạo lập không gian du lịch thống nhất toàn vùng để cùng phát triển, tăngkhả năng cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Lý luận và thựctiễn về liên kết phát triển du lịch được đề cập trong một số các nghiên cứu lý thuyết vàthực nghiệm như sau:
1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan liên kết và liên kết phát triển vùng
1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến liên kết
Thuật ngữ liên kết (linkage) từ lâu đã được sử dụng trong nhiều ngành khoa họckhác nhau như vật lý học, sinh học, quân sự, chính trị học,… Trong mỗi ngành nó lại
có nội hàm và ý nghĩa riêng Ngay bản thân trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liênkết, với các tác giả khác nhau, cũng được dùng với nhiều cách khác nhau Trong lýthuyết phát triển, thuật ngữ liên kết được sử dụng đầu tiên trong các công trình củaPerroux (1955) [165] và Hirschman (1958) [130] Tuy vậy, Perroux và Hirschman lại
đi theo hai hướng khác nhau, và chính hai hướng đi này có ảnh hưởng chi phối đối vớinhiều công trình nghiên cứu về liên kết của các tác giả đi sau
Hirschman (1958) [130] sử dụng khái niệm liên kết bao gồm các liên kết ngược(backward linkages, upstream linkages) và liên kết xuôi (forward linkages, downstreamlinkages) Hiệu ứng liên kết ngược (backward linkage effects) nảy sinh từ nhu cầu cungứng đầu vào của một ngành nào đó mới được thiết lập; còn hiệu ứng liên kết xuôi phátsinh từ việc sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các hoạt động kéo theo Ôngkhuyến nghị cần tập trung đầu tư vào những ngành có các mối liên kết mạnh, để thôngqua sức lan tỏa của chúng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng không cân đối) Vớicách quan niệm của mình khi định nghĩa liên kết là quá trình làm thế nào một hoạt độngnày dẫn đến một hoạt động khác và giải thích thêm rằng liên kết tồn tại
Trang 22khi một hoạt động đang diễn ra kéo theo các chủ thể khác bắt đầu một hoạt động mới,Hirschman đã gây ra rất nhiều sự nhầm lẫn về sau này khi không có sự phân biệt bảnthân mối liên kết với những hiệu ứng của nó (Kristiansen, 2003) [146].
Ở góc độ khác, Perroux (1955) [165] tiếp cận liên kết vùng dựa trên ý tưởng về
“cực tăng trưởng”, với chiến lược thiết lập các khu vực trong đó có ngành có sức lan tỏamạnh Từ đó, ngành cốt lõi này tạo xung lực cho sự phát triển của các khu vực và ngànhkhác trong phạm vi lân cận
Mặc dù vậy, nhiều người cho rằng quan điểm về không gian kinh tế và khônggian địa lý của Perroux không trùng khớp Vì thế Boudeville (1966) [86] đã cố gắngnhấn mạnh yếu tố địa lý trong lý thuyết cực tăng trưởng bằng cách đưa ra các ranh giới
rõ ràng về mặt địa lý của các hiệu ứng phát triển tích cực (Capello, 2007) [88] Từ đây,yếu tố then chốt trong phát triển không chỉ là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngànhnữa mà để có sự phát triển kinh tế vùng phải có sự tập trung về mặt không gian của cáchoạt động sản xuất; và Boudeville giả định luôn rằng sự tập trung đó nằm ở đô thị Cácliên kết trong phát triển vùng ở đây nằm ở sự tương tác giữa cực tăng trưởng/đô thị vàcác vùng nằm trong ảnh hưởng của nó
Một cách tiếp cận khác ngược với kiểu liên kết cực/trung tâm tăng trưởng nêutrên do Friedman and Douglass (1978) [112] đề xuất Đây là cách tiếp cận theo kiểu từdưới lên (bottom-up), hướng tới giải quyết các vấn đề nghèo đói thông qua các dự án ởnông thôn và nông nghiệp, với sự tham gia liên kết của nhiều phía: khu vực tư nhân vànhà nước, các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học, các tổ chức xã hội,…, vàđược triển khai trên quy mô tương đối nhỏ Nói cách khác, theo cách tiếp cận này, sựphát triển vùng có thể đạt được một cách tốt nhất thông qua sự kết nối giữa phát triển
đô thị và phát triển nông thôn ở cấp độ địa phương (Douglass, 1998) [102]
Douglass (1998) chỉ ra 5 liên kết cần lưu ý: (1) Hệ thống thương mại và vận tải
đô thị và sản xuất nông nghiệp; (2) Các dịch vụ vật tư nông nghiệp và cường độ sảnxuất nông nghiệp; (3) Các thị trường hàng hóa phi nông nghiệp và thu nhập và sức cầu
ở nông thôn; (4) Công nghiệp chế biến và đa dạng hóa nông nghiệp; và (5) Việc làm phi nông nghiệp và lao động nông thôn
Martin (2003) [155] tiếp cận khái niệm liên kết giữa đô thị và nông thôn trongvùng trên cơ sở phức hợp các mối quan hệ trong đó Có 7 liên kết chủ yếu: (1) Liên kết
về cơ sở hạ tầng bao gồm đường sá, cảng và hệ thống cơ sở giáo dục và y tế; (2) Liên
Trang 23kết kinh tế bao gồm cấu trúc thị trường, các dòng vốn, lao động và nguyên vật liệu,hợp tác trong sản xuất và chuyển giao công nghệ; (3) Liên kết dịch chuyển dân số baogồm các dòng di cư tạm thời và lâu dài; (4) Liên kết xã hội bao gồm tương tác giữa cácnhóm xã hội, tôn giáo và văn hóa, và sức khỏe, kỹ năng của dân cư; (5) Liên kết tổchức bao gồm các chuẩn mực và quy tắc, các tổ chức chính thức và phi chính thức; (6)Liên kết hành chính bao gồm các mối quan hệ về cơ cấu hành chính, các chuỗi quyếtđịnh chính trị phi chính thức; và (7) liên kết môi trường bao gồm các mối quan hệ vềvốn tự nhiên và chất thải.
Trên khía cạnh khác, xem xét mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và thể chế,Kristiansen (2003) [146] chia liên kết thành 3 nhóm: (1) Liên kết như là tổng giá trịkinh tế của các giao dịch giữa các khu vực kinh tế hay khu vực địa lý theo thời gian;(2) Liên kết như là mối liên hệ liên tục giữa các tác nhân kinh tế, bị chi phối bởi cáchợp đồng hoặc sự can thiệp của nhà nước; và (3) Liên kết như các quan hệ xã hội haymạng lưới mà có thể được sử dụng để phát triển vốn xã hội, văn hóa và con người haythúc đẩy giá trị của các quyết định, giao dịch kinh doanh hoặc phát triển kinh tế
1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến liên kết
Ở Việt Nam, hiện đã có nhiều kết quả nghiên cứu về vai trò của liên kết trongphát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung theo hướng bềnvững ở các vùng khác nhau Vấn đề liên kết ở nhiều vùng ở Việt Nam đều đã được xemxét, chẳng hạn Vũ Thành Hưng (2011) [40] đánh giá về liên kết phát triển Vùng Kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ, Vũ Minh Trai (2011) [71] nghiên cứu vị trí và vai trò của Hà Nộitrong mối liên kết vùng kinh tế Đồng Bằng Sông Hồng Về liên kết phát triển ở miềnTrung và Tây Nguyên, có các nghiên cứu của Lê Thế Giới (2008) [23], Đào Hữu
Hòa (2008) [26], Trương Bá Thanh (2009) [65], Nguyễn Danh Sơn (2010) [60], Trần
Du Lịch (2011) [45], Nguyễn Văn Huân (2012) [31] và Nguyễn Danh Sơn (2014) [61].Đối với liên kết phát triển ở phía Nam, có các công trình của Nguyễn Xuân Thắng(2010) [66], Trương Thị Hiền (2011) [39] hay Đinh Sơn Hùng (2011) [29], trong sốnhiều tác giả khác Các tác giả đều thống nhất rằng điều quan trọng là phải có sự liênkết hỗ trợ cùng phát triển, cần xoá bỏ “cát cứ hành chính”, cần có “người nhạc trưởng”
để chỉ huy sự phát triển của một vùng
Các nghiên cứu vùng mang tính nền tảng về vùng cũng được nhiều tác giả thựchiện Chẳng hạn, Lê Thông và Nguyễn Văn Phú (2004) [67] đã đưa ra một số lý luận
Trang 24cơ bản về vùng và phát triển vùng, đó là các khái niệm về vùng, vùng kinh tế; quanniệm về phát triển bền vững theo vùng; vấn đề xử lý liên vùng trong quá trình pháttriển vùng; cơ chế chính sách phát triển vùng; vấn đề phát triển các lãnh thổ đặc biệt vàcác trung tâm đô thị làm hạt nhân đột phá trên các vùng Trong đó các tác giả đã đua
ra các quan điểm phát triển vùng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đếnnăm 2020 gồm các điểm: (1) Phát triển vùng có trọng tâm, trọng điểm, tránh tràn lan,dàn trải Trước hết tạo ra sự phát triển nhanh của một vùng lãnh thổ làm động lực, độtphá cho sự phát triển chung của cả nước; (2) Mỗi vùng luôn chú ý phát hiện nhữngnhân tố mới, nổi trội để hình thành các hạt nhân trong vùng để bứt phá đi trước, trởthành động lực trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nước; (3) Bêncạnh phát triển có trọng điểm, luôn chú ý đến sự phát triển của các vùng kém phát triển
ở mức độ nhất định nhằm đảm bảo ổn định và phát huy tiềm năng thế mạnh của tất cảcác vùng; (4) Phát triển vùng trên cơ sở tận dụng khả năng tài nguyên, nguồn nhân lực tạichỗ và đáp ứng nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích cộng đồng trong mỗi vùng và hiệuquả kinh tế - xã hội cao; (5) Phát triển vùng phải đảm bảo “giữ được bản sắc vùng”, mỗivùng phải thể hiện được đặc thù của mình cả về kinh tế và văn hoá; và 6) Phát triển kinh
tế vùng phải đảm bảo bền vững cho mỗi vùng và cho cả nền kinh tế
Các tác giả Đỗ Hoài Nam và Võ Đại Lược (2005) [51] đã có đánh giá tương đốitoàn diện về vấn đề phát triển các vùng Theo đó, sự phát triển kinh tế thị trường sẽ tạo
ra sự chênh lệch về trình độ phát triển và thu nhập, vì những vùng có nhiều lợi thếcạnh tranh sẽ tăng trưởng cao hơn các vùng sâu vùng xa, các thành phố sẽ có tốc độtăng trưởng cao hơn các vùng nông thôn, những lao động có kỹ năng cũng sẽ có thunhập cao hơn những lao động không có kỹ năng Do vậy sự chênh lệch về phát triển làkhó tránh khỏi Và cũng phải nói là kinh tế thị trường ra đời cùng với sự chênh lệch vềphát triển, vì nếu một quốc gia phải cùng một lúc đầu tư phát triển đồng đều tất cả cácvùng - kể cả các vùng có lợi thế, cũng như các vùng không có lợi thế, thì quốc gia đó khó có thể tăng trưởng cao được và cũng khó có các nhà đầu tư chịu lỗ để kinh doanh
ở những vùng không có lợi thế cạnh tranh Mọi nhà kinh doanh trong nền kinh tế thịtrường đều phải tìm kiếm lợi nhuận, họ sẽ tìm đến những nơi có lợi nhất để kinh doanh,
do vậy ở đó phát triển và những nơi kém lợi thế sẽ kém, hoặc không phát triển, nhữnglĩnh vực kinh doanh cũng vậy Đó là quy luật của kinh tế thị trường Sự chênh lệch vềtrình độ phát triển do lợi thế cạnh tranh tạo ra sẽ thúc đẩy tăng trưởng và phát
Trang 25triển, tạo ra những cơ hội để các chính phủ có thể hỗ trợ cho các vùng sâu vùng xa,những người nghèo, giảm bớt sự bất bình đẳng duy trì được sự ổn định xã hội và anninh quốc gia Tuy vậy trong cuốn sách này các tác giả không đi sâu giải quyết các vấn
đề liên kết vùng để các vùng cùng phát triển một cách bền vững
Về vai trò của liên kết vùng, Lê Anh Đức (2014) [21] khẳng định, liên kết vùng
là đòi hỏi tất yếu hiện nay bởi ba lý do: (1) Liên kết vùng nâng cao khả năng cạnhtranh; (2) Liên kết tạo ra lợi thế so sánh và phân công hợp lý hơn; và (3) Liên kết đểtham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu Luận điểm này tiếp nối và bổ sung chonghiên cứu của Đào Hữu Hòa (2008) [26] cho rằng liên kết vùng mang lại nhiều lợiích cho các bên tham gia: (1) Tăng quy mô hoạt động nhằm đạt đến quy mô hiệu quảnhờ có phân công lao động xã hội; (2) Tăng khả năng linh hoạt của mỗi bên trong việcphát huy thế mạnh; (3) Tăng được sức mạnh cạnh tranh chung nhờ phối hợp sử dụngđược những ưu thế riêng biệt của các bên; và (4) Giảm thiểu các rủi ro nhờ chia cơ chế
sẻ trách nhiệm giữa các bên tham gia
Ngoài các nghiên cứu liên kết theo chiều cạnh không gian hành chính, liên kếtvùng thông qua các chủ thể cũng đã được đào xới Đào Hữu Hòa (2008) [26] và LêAnh Vũ (2016) [74] cho rằng liên kết kinh tế được là sự thiết lập các mối quan hệ giữacác chủ thể sản xuất, kinh doanh, có thể giữa các doanh nghiệp thuộc cùng lĩnh vựchoạt động, giữa các đối tác cạnh tranh hoặc giữa các doanh nghiệp có các hoạt độngmang tính chất bổ sung, nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả caohơn trong sản xuất - kinh doanh, tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ cáckhả năng, mở ra những thị trường mới Mặc dù vậy, hầu hết các tác giả đều không đưa
ra khái niệm liên kết vùng là gì, và nếu có đưa ra thì quan niệm cũng có sự khác biệtđáng kể hoặc chỉ tập trung chủ yếu vào liên kết kinh tế vùng
1.2 Tổng quan về một số công trình nghiên cứu phát triển du lịch và liên kết phát triển du lịch
Vấn đề hội nhập khu vực trong du lịch đã được đặt ra và tập trung trong bối cảnhmới sự phát triển trong cạnh tranh khu vực và những thay đổi trong ngành du lịch như
sự phát triển của công nghệ thông tin, internet và nhu cầu du lịch của người tiêu dùngmới Theo Mills và Law (2004) [159], internet đang thay đổi cấu trúc của ngành du lịchbằng cách thay đổi các rào cản gia nhập, cách mạng hóa các kênh phân phối, tạo điềukiện minh bạch giá cả và cạnh tranh; như kết quả, nâng cao hiệu quả kinh doanh Nhiều
Trang 26học giả đã lập luận rằng cơ sở lý thuyết của liên kết vùng trong du lịch xuất phát từchiến lược điểm đến của Porter (1990) [173], quan niệm về du lịch của Gilbert (1984)[119] nhà nước và hàng hóa hoặc khái niệm chuyên môn hóa năng động và đổi mớithường xuyên của Poon (1994) [171] Trong lĩnh vực liên kết cụm, Anderson et al.
(2004) [77] lập luận rằng việc hình thành các mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hoặc liênminh giữa các chủ thể là rất quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh và đẩy mạnhliên kết du lịch Coi điểm đến là một loại hình du lịch đặc biệt, nhiều nghiên cứu đãnhấn mạnh sự cần thiết phải hợp tác và liên kết (Gunn, 1997) [122] Đạt được mức độcao của liên kết, với các sản phẩm và dịch vụ khác biệt dựa trên sự đổi mới thườngxuyên, là một chiến lược cho tăng khả năng cạnh tranh của các điểm đến du lịch mộtcách bền vững, vì lợi ích của địa phương cộng đồng Gần đây, các mối liên kết du lịch
đã chuyển từ một cách tiếp cận dựa trên cạnh tranh sang một phương pháp hợp tác(Baggio et al., 2013 [80]; Mariani và Kylanen, 2014 [154]) theo hướng du lịch cácđiểm đến được quảng bá, tiếp thị và giao dịch như một nỗ lực chung (Wang & Shaul,2008) [198]
Khi các công ty du lịch tham gia sâu hơn vào các mạng lưới khu vực, trong nước
và quốc tế, việc hợp tác và duy trì các mối quan hệ trong mạng lưới kinh doanh trở nêncần thiết để nâng cao hiệu quả cạnh tranh (Erkus-Otzurk và Eraydın, (2010) [109];Plummer et al., (2006) [168]) Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy rằng liên kết vùngkhông chỉ là một yêu cầu cho du lịch phát triển trong một thời kỳ nhất định nhưng cũng
là một lựa chọn không thể thiếu để phát triển du lịch Các nghiên cứu quốc tế về hộinhập khu vực có thể cung cấp cơ sở lý thuyết và thực tiễn hữu ích cho nghiên cứu khuvực tại Việt Nam
Ở Việt Nam có những nghiên cứu sau đây nghiên cứu về ngành du lịch:
Đề tài cấp bộ “Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam” của Phạm Trung Lương năm 2002 [46] Kết quả nghiên cứu là thử nghiệm xây
dựng mô hình phát triển du lịch bền vững trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và đề xuất
hệ thống các giải pháp đảm bảo phát triển du lịch bền vững trong điều kiện Việt Nam
Du lịch là một hoạt động có tính thời vụ cao, nhất là hoạt động du lịch biển, do đó
“Nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch ở Việt Nam” của
Nguyễn Thăng Long năm 1998 [49] đã nghiên cứu tác động của tính thời vụ đối với hoạtđộng của một số loại hình du lịch chủ yếu ở Việt Nam bao gồm: du lịch biển, du
Trang 27lịch núi, du lịch lễ hội và du lịch tham quan nghiên cứu Đề tài đã xác lập được cơ sởkhoa học về ảnh hưởng của tính thời vụ trong hoạt động du lịch góp phần nâng caohiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch và là căn cứ để xây dựng các giải pháp cụ thểnhằm hạn chế ảnh hưởng của tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch ở nhữngvùng lãnh thổ khác nhau với những mức độ ảnh hưởng khác nhau.
Với mục tiêu là đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự phát triển của các
khu du lịch quốc gia biển miền Trung một cách hiệu quả và bền vững, tác giả NguyễnThu Hạnh đã tiếp cận theo phương pháp khảo sát thực địa, điều tra xã hội học, phươngpháp bản đồ, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp ma trận, chuyên gia, dựbáo (cả định tính và định lượng) để đánh giá tiềm năng tài nguyên và hiện trạng cáckhu du lịch biển một cách hệ thống và tổng quát nhằm nhận biết rõ vai trò ảnh hưởng
của các yếu tố đến phát triển khu du lịch biển trong đề tài cấp bộ năm 2009 "Cơ sở khoa học phát triển các khu du lịch quốc gia biển miền Trung", từ đó đánh giá được
thực trạng phát triển du lịch biển tại các địa bàn để có các định hướng và giải phápphát triển các khu du lịch biển phù hợp với tương lai [34]
Liên quan đến chính sách phát triển biển có cuốn “Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững” do tác giả Hoàng Ngọc Giao, Nguyễn Bá Diễn (chủ biên) được xuất bản năm 2006 bởi NXB Tư pháp Cuốn sách đề
cập một cách tổng quan đến các vấn đề chính sách pháp luật về biển cũng như cácnguyên tắc phát triển bền vững [22]
Trong đó đi sâu nghiên cứu các chính sách biển của Việt Nam trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững, các vấn đề hợp tác quốc tế Đề cập đếncác chính sách của phát triển du lịch bền vững ở những vùng sinh thái nhạy cảm như
du lịch ven biển, miền núi, sinh thái, các tác giả Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu
(trong cuốn “Du lịch bền vững” - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001) đã chứng minh được rằng do tính nhạy cảm của hoạt động du lịch ở ven biển nên cần thiết phải
có những chính sách phù hợp để đảm bảo tính bền vững của khu vực cũng như quốcgia, vùng hay địa phương trong phát triển du lịch [27]
Bên cạnh đó, có khá nhiều đề tài dưới hình thức luận án, luận văn nghiên cứu các vấn đề
có nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về phát triển du lịch nói chung và du lịch biển cấp
độ quốc gia Với tác giả Hoàng Văn Hoan trong luận án tiến sĩ năm 2002“Hoàn thiện quản lý
nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam” thì tiếp cận trên
Trang 28góc độ các công cụ quản lý nhà nước (trong đó có chính sách) đối với lao động trongkinh doanh du lịch ở Việt Nam [28].
Từ năm 2006 đến nay, trong các đề tài cấp Bộ, nghiên cứu về các khía cạnh khácnhau trong phát triển du lịch, khi đề cập đến các giải pháp thúc đẩy du lịch phát triểnthì liên kết giữa du lịch - hàng không luôn được coi trọng và được xem là một trongcác giải pháp quyết định cho sự phát triển của ngành du lịch
Đề tài cấp Bộ (2006): “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu
du lịch” do Thạc sĩ Lê Văn Minh chủ nhiệm và Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch
chủ trì [50] Đề tài tập trung vào nghiên cứu vai trò của đầu tư trong phát triển các khu
du lịch, khi nêu ra các giải pháp để tạo lập các điều kiện hạ tầng vật chất - kỹ thuật bảođảm cho các khu du lịch hoạt động có hiệu quả, tác giả đã đề xuất các giải pháp liênkết với các ngành liên quan, trong đó liên kết với ngành giao thông vận tải được chútrọng Đặc biệt, đề tài nhấn mạnh tới việc hình thành các cơ sở hạ tầng giao thông nhưđường xá, sân bay, bến cảng, coi đây là điều kiện hạ tầng vật chất kỹ thuật thiết yếuđảm bảo cho các khu du lịch ra đời và hoạt động có hiệu quả
Đề tài cấp Bộ (2007): “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh trong khu vực và quốc tế” do Tiến sĩ Đỗ Cẩm Thơ chủ nhiệm, Viện Nghiên
cứu và Phát triển Du lịch chủ trì [69], trong đó đã trình bày được những vấn đề cơ bản
về sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch, phân tích được cấu thành sản phẩm chung củađiểm đến và sản phẩm theo các loại hình du lịch, định vị được sản phẩm du lịch ViệtNam trên thị trường khu vực và quốc tế Đặc biệt khi đề cập đến đặc trưng của sảnphẩm du lịch được cấu tạo bởi sự liên kết hoạt động giữa các ngành, vùng đề tài đãtập trung phân tích vai trò của liên kết giữa hàng không và du lịch như một trong cácgiải pháp cơ bản đề giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch, nhất là sảnphẩm của lữ hành du lịch
Đề tài cấp Bộ (2011): “Hiện trạng và giải pháp phát triển các khu du lịch biển quốc
gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ”do Nguyễn Thu Hạnh chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu và
Phát triển Du lịch chủ trì [35] Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch biển
và phát triển du lịch biển quốc gia, tác giả đề tài đã nêu ra 10 bài học kinh nghiệm, trong
đó đã khẳng định: Việc tổ chức hình thành khu du lịch phải gắn liền với mạng lưới giaothông đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt và đường không Đặc biệt cần tìmđịa hình thuận lợi để phát triển các cảng hàng không cho loại hình LCA
Trang 29nhằm gắn khu du lịch với các thị trường du lịch quốc tế lớn, bảo đảm cho khu du lịchphát triển và tăng trưởng ổn định, bền vững.
Luận án tiến sĩ kinh tế, “Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Việt Nam” (2010)
của Nguyễn Tuấn Anh, bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội [2] Trong luận án, tác giả
đã trình bày cơ sở lý luận, thực tiễn về năng lực cạnh tranh của các điểm đến du lịch.Trong đó đã đưa ra khái niệm điểm đến và năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch.Trong cấu thành năng lực điểm đến, tác giả coi việc hình thành cơ sở hạ tầng giaothông hoàn chỉnh cho các điểm đến du lịch, đặc biệt là phát triển các cảng hàng không,nhất là các cảng hàng không dùng cho các loại máy bay giá rẻ có thể cất hạ cánh thuậnlợi nhằm liên kết với loại hình vận tải này để giảm chi phí cho các sản phẩm lữ hành
du lịch, nối liền điểm đến với các trung tâm du lịch của khu vực và quốc tế, tăng sứccạnh tranh của các điểm đến
+ Khi phân tích thực trạng của các điểm đến du lịch của Việt Nam, tác giả đã chỉ
ra hạn chế về năng lực cạnh tranh của các điểm đến du lịch nước ta là thiếu một hệ thống
hạ tầng giao thông hiện đại, hoàn chỉnh, đặc biệt là nhiều điểm đến du lịch ở quá xa cáccảng hàng không
của các điểm đến thì giải pháp xây dựng một hệ thống giao thông đồng bộ, hiện đại, đặc biệt
là những điểm đến du lịch có địa hình thuận lợi có thể phát triển các cảng hàng không phụtạo điều kiện để các hãng LCA cung ứng LCAS là một giải pháp quan trọng
Luận án tiến sĩ kinh tế, “Thị trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế” (2011) của Trần Xuân Ảnh, bảo vệ tại Học viện Chính trị-Hành chính quốc
du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã nhấn mạnh đến phát triển
hệ thống đường bộ, đường thủy và đường không Đặc biệt sự liên kết giữa hàng không,trong đó có LCA với các cơ sở lưu trú, du thuyền và đưa khách tham
Trang 30quan vịnh bằng các loại máy bay du lịch và máy bay lên thẳng.
Luận án tiến sĩ kinh tế, “Phát triển kinh doanh lưu trú du lịch tại vùng du lịch Bắc Bộ của Việt Nam” (2011) của Hoàng Thị Lan Hương, bảo vệ tại Đại học Kinh tế
Quốc dân, Hà Nội [36]
+ Trong luận án, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về lưu trú du lịch
và kinh doanh lưu trú du lịch, xây dựng được một hệ thống các tiêu thức đánh giá về kinhdoanh lưu trú du lịch Trong đó phân tích các tiêu thức xác định kinh doanh lưu trú dulịch bền vững với việc liên kết với các hãng hàng không, trong đó có LCA để duy trìlượng khách ổn định là một tiêu thức quan trọng
+ Trong phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp đảm bảo cho kinh doanhlưu trú du lịch phát triển bền vững thì liên kết giữa du lịch - hàng không được xem nhưmột tiêu thức, giải pháp giúp loại hình kinh doanh này phát triển
Luận án tiến sĩ, “Phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế: Kinh nghiệm một số nước Đông Á và gợi ý chính sách cho Việt Nam” (2012) của Nguyễn Trùng Khánh bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện
Hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam [41]
+ Nội dung cơ bản của luận án là hướng vào phân tích lý luận về lữ hành du lịch,dịch vụ lữ hành du lịch và các đặc điểm cơ bản của dịch vụ lữ hành du lịch trong hộinhập kinh tế quốc tế
+ Phân tích kinh nghiệm phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong hội nhập kinh tếquốc tế của một số nước Đông Á như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, từ đó rút ra bàihọc cho Việt Nam
+ Đặc biệt, tác giả luận án kết luận, khi phân tích về các bài học phát triển dịch
vụ lữ hành du lịch thì liên kết du lịch - hàng không được coi như là một yếu tố quan trọng
để phát triển các doanh nghiệp lữ hành du lịch Việt Nam Trong đó được tác giả tập trungphân tích những lợi thế căn bản của quan hệ liên kết này trong phát triển các doanhnghiệp lữ hành và bảo đảm thành công các hoạt động của chúng
Hoàng Văn Hoa và các cộng sự (2018), Liên kết khu vực trong du lịch: trường
hợp nghiên cứu tại Việt Nam, Tạp chí của Học viện Quản lý văn hóa nghệ thuật quốc gia Herald, năm 2018 [211] Nghiên cứu này được thực hiện để điều tra các tình
huống hiện tại về mối liên kết khu vực trong phát triển du lịch ở các khu vực Trung du
và vùng núi phía Bắc Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ một cuộc khảo sát trên 755
Trang 31người, bao gồm các quan chức từ các cơ quan quản lý nhà nước phụ trách du lịch, cácquan chức và nhân viên tại các khu du lịch, công ty du lịch, nhà khoa học du lịch vàkhách du lịch Ngoài ra, chúng tôi đã tiến hành nhóm tập trung và phỏng vấn các quanchức cơ quan du lịch và các công ty du lịch ở các tỉnh miền trung và miền núi của ViệtNam Kết quả cho thấy sự phát triển du lịch ở Việt Nam nói chung và khu vực TâyBắc nói riêng là vô cùng rời rạc, chưa hình thành mối liên kết khu vực; các dự án pháttriển du lịch khu vực và quốc gia chỉ mang tính hình thức Một số nguyên nhân làchính sách hội nhập khu vực hạn chế, thiếu các cơ chế quản trị khu vực thích hợp và
sự tham gia không tích cực của khu vực tư nhân trong hội nhập khu vực Dựa trênnhững phát hiện, chúng tôi đề xuất một mô hình liên kết ngành du lịch; bên cạnh đó, ýnghĩa chính sách được đưa ra để thực hiện các chính sách liên kết ở Việt Nam nóiriêng và rộng hơn cho các nước mới nổi nói chung.1
Hoàng Văn Hoa và các cộng sự (2018), Liên kết vùng phát triển du lịch ViệtNam, Bài viết đăng trên https://www.preprints.org/manuscript/ năm 2018 [212].Nghiên cứu này được thực hiện để điều tra tình trạng liên kết vùng trong phát triển dulịch ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ mộtcuộc khảo sát trên 755 người, bao gồm các quan chức từ các cơ quan quản lý nhà nướcphụ trách du lịch, các quan chức và nhân viên tại các khu du lịch, công ty du lịch, nhàkhoa học du lịch và khách du lịch Ngoài ra, chúng tôi đã tiến hành 10 cuộc thảo luậnnhóm, phỏng vấn 30 quan chức cơ quan du lịch nhà nước và các công ty du lịch ở cáctỉnh miền trung và miền núi của Việt Nam Kết quả cho thấy sự phát triển du lịch ởViệt Nam nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng là vô cùng rời rạc, chưa hình thànhmối liên kết khu vực; Các chương trình phát triển du lịch khu vực và quốc gia chỉmang tính hình thức Nguyên nhân chính của tình hình là chính sách hội nhập khu vựchạn chế ở Việt Nam, thiếu cơ chế quản trị khu vực thích hợp và sự tham gia không tíchcực của khu vực tư nhân trong hội nhập khu vực Dựa trên những phát hiện, chúng tôi
đề xuất một mô hình liên kết ngành du lịch; bên cạnh đó, các hàm ý chính sách đượcđưa ra để thực hiện chính sách liên kết ở khu vực Trung du và vùng núi phía Bắc2.Hoàng Ngọc Hải và cộng sự (2020), Liên kết vùng trong phát triển du lịch ở cáctỉnh Tây Bắc của Việt Nam, bài viết đăng trên Tạp chí lý luận (bản online) ngày22/03/2020 [213] Bài viết đã cho thấy liên kết khu vực để tạo ra các sản phẩm du lịch
1 http://journals.uran.ua/visnyknakkkim/article/view/178168
2 https://www.preprints.org/manuscript/201807.0578/v1
Trang 32tiêu biểu và độc đáo để thu hút khách du lịch đã được triển khai ở nhiều nơi trên thếgiới cũng như tại Việt Nam Đối với Tây Bắc, liên kết là một xu hướng tốt, đã đượctích cực tham gia vào nhiều địa phương để phát triển du lịch, một số mô hình liên kết
đã cho thấy kết quả ban đầu Bài viết này nhằm cung cấp một số gợi ý về chính sáchliên kết khu vực cho phát triển du lịch Tây Bắc dựa trên phân tích kết quả cũng nhưnhững hạn chế cần khắc phục ở các tỉnh Tây Bắc3
Ngoài ra, Nghiên cứu nổi bật nhất về hội nhập khu vực tại Việt Nam là "Nghiêncứu về chính sách và Khuyến nghị về phát triển liên kết vùng và kinh tế khu vực (Kinh
tế trung ương Ủy ban, 2015) [7] Nghiên cứu đã nâng cao kinh nghiệm quốc tế về kinh
tế khu vực phát triển và hội nhập khu vực, để cung cấp một cái nhìn tổng quan về pháttriển kinh tế khu vực và hội nhập khu vực và đề xuất một số giải pháp cho phát triểnkinh tế khu vực và khu vực liên kết tại Việt Nam
Trần Đình Thiên (2016) [68] và Vũ Trọng Bình (2017) [13] đã nhấn mạnh tìnhhình của khu vực liên kết tại Việt Nam Các tác giả này cho rằng mối liên kết khu vực
ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, chưa chưa thành lập thể chế quản trị khu vực, mỗi tỉnh
có quy mô kinh tế nhỏ, chưa thành lập một chuỗi liên kết
Ngô Thắng Lợi và Vũ Cương (2015) [44], Liên kết phát triển và tổ chức điều phối liên kết phát triển vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị.
Nghiên cứu này đã phân tích ba yếu tố liên kết phát triển trong nền kinh tế trọng điểmkhu vực: liên kết phát triển kinh tế, liên kết phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, điện,Nước); liên kết để giải quyết ô nhiễm môi trường và liên kết phát triển nguồn nhân lực.Tuy nhiên, các khu vực kinh tế trọng điểm vẫn chủ yếu phát triển dựa trên số lượng,không hình thành kinh tế khu vực không gian
Trần Đình Thiên (2016) [68], Thể chế điều hành liên kết phát triển vùng độc lập– yếu tố quyết định sự phát triển cấp vùng, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Liên kếttrong quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam Bàiviết đã phân tích và đánh giá các hoạt động liên quan đến các tỉnh ven biển miềnTrung Có nhiều hạn chế về khu vực hóa ở Việt Nam, như thiếu nhận thức về sự cầnthiết phải liên kết vùng và ý tưởng hội nhập khu vực trong phát triển kinh tế xã hội
Vũ Trọng Bình (2017) [13], Phát triển kinh tế vùng – vấn đề và giải pháp, Kỷ yếuhội thảo khoa học quốc gia: Thực trạng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong
3 northwest-provinces-of-vietnam.html
Trang 33http://lyluanchinhtri.vn/home/en/index.php/practice/item/689-regional-linkage-in-tourism-development-in-the-phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nxb Lao động – xã hội Bài viết nhấn mạnh rằng liên kếtvùng tại Việt Nam vẫn là tự nguyện, ít dựa trên cơ sở khoa học và lập luận thực tế,thiếu động lực cho các bên liên quan, thiếu liên kết chặt chẽ giữa các địa phương vàthiếu quản trị thể chế khu vực thích hợp.
Trong bối cảnh của Việt Nam, gần đây đã có một số bài viết về liên kết du lịchđược công bố trên các tạp chí khoa học và hội nghị, hội thảo Nội dung của các bài viếtnày bao gồm một số vấn đề chính sau đây:
Đầu tiên, quan điểm, mục tiêu và nội dung của liên kết du lịch
Vũ Trọng Bình (2017), Trần Đình Thiên (2016) đã đưa ra quan điểm về mối liênkết du lịch: bình đẳng, cùng có lợi; liên kết dựa trên tinh thần tự nguyện; mối liên kếtđược thiết kế thành các dự án và chương trình cụ thể rõ ràng mục tiêu
Hà Văn Siêu (2017) [53], Tiềm năng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng pháttriển du lịch ở vùng miền núi Tây Bắc, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Thực trạng
và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nxb Lao động– xã hội Nghiên cứu này đã xây dựng 6 nguyên tắc: chấp hành, tự nguyện, đồng thuận,bình đẳng, tương hỗ lợi ích, chia sẻ Tương tự, Phạm Trung Lương (2014), Phát triển
du lịch Điện Biên trong mối liên kết với vùng Tây Bắc, Kỷ yếu Hội thảo khoa học:Phát huy giá trị đặc biệt của di tích lịch sử Điện Biên Phủ để đẩy mạnh phát triển dulịch Điện Biên trong mối liên kết với vùng Tây Bắc, ngày 13/03/2014, Điện Biên Phủ.Bài viết này cũng cụ thể hóa 3 nguyên tắc bình đẳng, tình nguyện, thiết kế thành các dự
Phạm Trung Lương (2014) [47] đã đặt mục tiêu dài hạn để khai thác và phát huyhiệu quả tiềm năng và thế mạnh của từng khu vực; các Mục tiêu ngắn hạn là ưu tiênđầu tư vào các lĩnh vực quan trọng như phát triển du lịch cơ sở hạ tầng, kết nối "điểmđến" với các điểm đến du lịch chính của khu vực, đang phát triển sản phẩm du lịch, đàotạo nguồn nhân lực
Vũ Trọng Bình (2017), Trần Đình Thiên (2016) đã phác thảo nội dung liên kết:
Trang 34phân phối lại lực lượng sản xuất; điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch; xây dựngđồng bộ vận tải liên tỉnh cơ sở hạ tầng; thiết lập không gian du lịch thống nhất; đào tạochung và phát triển nguồn nhân lực; đến huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chínhsách chung cho toàn khu vực; phối hợp xúc tiến du lịch.
Nguyễn Văn Khánh (2016) [43], Phát triển bền vững vùng Tây Bắc: Từ chínhsách đến thực tiễn, Nxb Thế giới Trong nghiên cứu này đã đề xuất rằng nội dung liênquan nên bao gồm sự phát triển của chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển dulịch; phối hợp giữa các tỉnh phát triển cơ chế liên kết hiệu quả; liên kết du lịch cần tăngcường cả liên kết ngang và dọc liên kết
Thứ hai, giải pháp tăng cường liên kết du lịch
Trần Hữu Sơn (2016) [57], Nguyễn Ngọc Sơn (2015) [59] đã đề xuất một số đềxuất: lập kế hoạch du lịch khu vực, thiết lập cơ cấu tổ chức quản lý khu du lịch; tăngcường quản lý liên kết ngang và dọc; quảng bá và phát triển thương hiệu du lịch; huyđộng các nguồn lực trong việc liên kết quảng bá và quảng cáo du lịch; phát triển sảnphẩm du lịch và quản lý chất lượng sản phẩm du lịch
Như vậy, kết quả của nhóm công trình khoa học này có ý nghĩa về mặt thực tiễn
quan trọng đối với xu thế phát triển ngành du lịch ở Việt Nam Kết quả này đã đưa rađược nhiều hướng mở cho quá trình phát triển ngành du lịch nói chung, đồng thời gìngiữ và phát huy bản sắc và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam trong quá trìnhhội nhập quốc tế nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đềliên kết du lịch nói chung và liên kết du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ Chính vì vậy, đâychính là khoảng trống cho nghiên cứu của nghiên cứu sinh
1.3 Những vấn đề rút ra
Qua nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước, những vấn đề sau đây đãđược đề cập đến, luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển, hoàn thiện theo hướng phùhợp với nội dung và yêu cầu của đề tài luận án đề ra:
Thứ nhất, một số công trình trong và ngoài nước đã đề cập tới khái niệm phát
triển du lịch, liên kết phát triển du lịch và vai trò của liên kết phát triển du lịch Tuynhiên, để sử dụng được các khái niệm trên trong luận án cần phải khái quát lại và bổsung những đặc trưng mới cho phù hợp với nội dung và yêu cầu của luận án đòi hỏi
Thứ hai, trong một số công trình đã đề cập đến nội dung liên kết phát triển du lịch.
Những nội dung này luận án đã kế thừa và phát triển rộng ra, gắn kết các đặc điểm các
Trang 35hoạt động du lịch của vùng Bắc Trung Bộ cho phù hợp và tương đồng hơn.
Thứ ba, nhiều tư liệu thực tiễn và tình hình hoạt động liên kết phát triển du lịch ở
một số quốc gia và địa phương trong nước được tác giả luận án kế thừa và cơ cấu lạitheo các tiêu thức cho phù hợp với đề tài
Thứ tư, hầu như tất cả các công trình nghiên cứu đều đề cập tới quan điểm,
phương hướng và hệ thống các giải pháp để thúc đẩy du lịch phát triển Ở đây luận ánchỉ kế thừa các giải pháp liên kết du lịch hoặc liên kết du lịch để phát triển và hoànthiện hơn
Cho đến nay, tác giả luận án chưa có tìm thấy một luận án nào viết về liên kết pháttriển du lịch vùng Bắc Trung Bộ Do đó, nội dung cốt lõi trong đề cương được phê duyệtcủa luận án do tác giả tự nghiên cứu và triển khai Đó là các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, chứng minh tính khách quan của liên kết phát triển du lịch do yêu cầu
phát triển nội tại của các địa phương, trong đó sản phẩm du lịch với tư cách là sảnphẩm ra đời trên cơ sở tài nguyên của địa phương và liên kết với các dịa phương kháctrong vùng để tăng giá trị gia tăng của ngành dịch vụ du lịch
Thứ hai, phân tích thực trạng liên kết phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh BắcTrung Bộ với các nội dung cốt lõi: (1) Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến dulịch; (2) Liên kết phát triển sản phẩm du lịch; (3) Liên kết đào tạo và phát triển nguồnnhân lực; (4) Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giaothông; (5) Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư pháttriển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thếmạnh của từng địa phương; (6) Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch
Thứ ba đưa ra được những quan điểm cơ bản và hệ thống các giải pháp khả thi để
tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ và bảo đảm cho nó phát triển ổnđịnh bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 36Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ
ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tuynhiên, cho đến nay, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Do hoàn cảnhkhác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi tổ chức, mỗi cá nhân có cáchhiểu khác nhau về du lịch
Theo Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch (IUOTO), du lịch được hiểu là việc đilại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong một khoảngthời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí và chữa bệnh
Năm 1963, Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch (tổ chức tại Rome) cho rằng: “Dulịch và tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từcác cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyêncủa họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc” [64].Năm 1980, Tổ chức Du lịch quốc tế (tại Hội nghị Manila) đưa ra định nghĩa về
du lịch như sau: “Du lịch là việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích khôngphải là di cư và một cách hòa bình, hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển
cá nhân về các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa tinh thần cùng với việc đẩy mạnh
sự hiểu biết và hợp tác giữa mọi người” [141]
Năm 1991, Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm” [19].
Ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác [55]
Từ những định nghĩa trên, theo tác giả, du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến
đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm và vui chơi, giải trí trong một khoảng thời gian nhất định; là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
Du lịch là một ngành năng động và cạnh tranh, đòi hỏi khả năng thích ứng với nhucầu và mong muốn của khách hàng vì sự hài lòng, an toàn và hưởng thụ của khách hàng làtrọng tâm chính của kinh doanh du lịch Mục tiêu phát triển của ngành du lịch là góp phầnnâng cao về chất lượng và sự đa dạng của các sản phẩm và dịch vụ du lịch tại các điểmđến mục tiêu nhằm tăng số lượng khách du lịch, thu nhập ngoại tệ và việc làm
26
Trang 37Phát triển du lịch chủ yếu đề cập đến tình hình tăng trưởng chất lượng trong các ngành
du lịch về sự phát triển, mạnh mẽ kế hoạch và chính sách và tiếp thị trên toàn thế giới.Hơn nữa, phát triển du lịch bao gồm cách tiếp cận điểm đến, cơ sở vật chất thích hợpnhư khách sạn, phương tiện giao thông, tiện nghi, để khách du lịch có sự hài lòng hoàntoàn ở điểm đến cụ thể Chất lượng là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của công ty
du lịch hoặc chìa khóa để cạnh tranh [162]
Từ đó có thể hiểu phát triển du lịch là một khái niệm chỉ quá trình vận động tiếnlên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơncủa các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú nhằm đápứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịchhoặc kết hợp với các mục đích hợp pháp khác
Các tiêu chí về phát triển du lich cũng nằm chung trong các tiêu chí phát triểnkinh tế - xã hội nói chung Theo đó, phát triển du lịch là quá trình các cơ quan nhànước,đơn vị kinh doanh, các tổ chức cùng phối hợp để thúc đẩy du lịch phát triển, tạoviệc làm, nâng cao mức sống của người dân địa phương nơi có du lịch Việc phát triển
du lịch cũng cần đảm bảo các nhân tố cho phát triển bao gồm: (i) khai thác hợp lý cáctài nguyên du lịch trên cơ sở nghiên cứu, chọn lọc các tài nguyên du lịch hấn dẫn, xâydựng thành các sản phẩm du lịch đặc thù, các sản phẩm du lịch chính và các sản phẩm
du lịch bổ trợ; khai thác các tài nguyên du lịch phù hợp với đặc thù của địa phương vàcủa vùng; khai thác tài nguyên du lịch đi đôi với việc trùng tu, tôn tạo, bảo vệ các tàinguyên, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; (ii) đảm bảo đem lại lợiích kinh tế cho các bên liên quan bao gồm cộng đồng dân cư, các nhà đầu tư, cácdoanh nghiệp Đồng thời, đảm bảo sự liên kết chặt chẽ và bình đẳng giữa các địaphương tham gia vào chuỗi cung ứng các sản phẩm du lịch; (iii) bảo vệ môi trường tựnhiên, môi trường xã hội ở các khu/điểm/tuyến du lịch; khai thác các tài nguyên dulịch đi đôi với việc đầu tư cho các hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường
xã hội ở các khu/điểm/tuyến du lịch
Như vậy, theo tác giả, phát triển du lịch là một dạng phát triển kinh tế với tư cách là một ngành Các chỉ số thể hiện kết quả của quá trình phát triển du lịch bao gồm: số lượng khách du lịch và thu nhập du lịch; số lượng lao động/số việc làm mà ngành du lịch tạo ra; số lượng các doanh nghiệp du lịch được thành lập; số lượng các khu/điểm du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của khách trong một khoảng thời gian nhất định tại điểm đến cụ thể Điểm đến đó có thể là khu vực, quốc gia, vùng, địa bàn, hoặc địa phương (tỉnh/thành phố).
Theo UNEP và UNWTO, du lịch bền vững là du lịch giảm thiểu các chi phí vànâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường thiên nhiên và cộng đồng địaphương, và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn sinhthái mà du lịch phụ thuộc vào Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đếncác vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giácao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cảhiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lạinhững lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương[202] Cần xem xét đầy đủ các tác động kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại và tươnglai nhằm giải quyết các nhu cầu của du khách, các ngành công nghiệp, môi trường vàcộng đồng chủ nhà
Trang 38Theo UNWTO “phát triển du lịch bền vững đáp ứng các nhu cầu của khách dulịch hiện nay và cộng đồng sở tại trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạocác nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch trong tương lai” [193] Phát triển du lịchbền vững cần được chấp nhận như là tất cả các loại của sự phát triển du lịch mà tạonên một đóng góp đáng kể hay, ít nhất, không mâu thuẫn với việc duy trì các nguyêntắc phát triển trong một thời gian vô hạn định mà không ảnh hưởng đến khả năng củacác thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu và ham muốn của họ Khái niệm phát triển dulịch bền vững không chỉ tập trung vào việc bảo vệ môi trường mà còn tập trung vàoviệc duy trì những văn hóa của địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế, manglại lợi ích công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia.
Theo khoản 14 Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, phát triển du lịch bềnvững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môitrường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làmtổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai [55]
Từ những phân tích trên, theo tác giả, du lịch được coi là phát triển bền vững khi nền du lịch đó tốt cho đất nước ở thời điểm hiện tại và còn bền vững lâu dài mai sau.
2.1.2 Vùng, liên kết, liên kết phát triển du lịch
2.1.2.1 Khái niệm vùng trong phát triển du lịch
Vùng du lịch là một cộng đồng lãnh thổ của các xí nghiệp chuyên môn hóa phục
vụ khách du lịch, có quan hệ mật thiết về kinh tế nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu củakhách trên cơ sở sử dụng tổng thể tự nhiên, văn hóa lịch sử hiện có và các điều kiệnkinh tế - xã hội của lãnh thổ [75] Một số nghiên cứu cho thấy, vùng du lịch là khônggian du lịch gồm nhiều địa phương khác nhau, là một tổng thể thống nhất của các đốitượng tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội Ở đó có các yếu tố của du lịch như tài nguyên
du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch, nguồn lao động du lịch, nhu cầu và số lượng khách dulịch và các yếu tố kinh tế - xã hội khác Đặc trưng của mỗi vùng thể hiện ơ sự khácbiệt về tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Để liên kết phát triển du lịch, việc tổ chức lãnh thổ du lịch là vấn đề được quantâm hàng đầu, lý do là không thể tổ chức và quản lý có hiệu quả hoạt động liên kết nếukhông xem xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó Tổ chức lãnh thổ du lịch(Territorial organization of tourism) là phân chia lãnh thổ quốc gia thành các vùngkinh tế du lịch, nhằm phát huy lợi thế, tổ chức và kinh doanh du lịch đạt hiệu quả kinh
tế, xã hội và môi trường cao nhất Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là: (1) Một hệthống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ; (2) Nhằm sửdụng tối ưu các nguồn tài nguyên, kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác; (3) Tổ chứclãnh thổ du lịch mang tính lịch sử
Có hai hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch phổ biến bao gồm:
Một là, hệ thống lãnh thổ du lịch Đó là một thành tạo toàn vẹn về hoạt động vàlãnh thổ, có sự lựa chọn các chức năng xã hội nhất định Một trong những chức năngđược lựa chọn là phục hồi và tái tạo sức khỏe, khả năng lao động, thể lực và trí lực Hệthống lãnh thổ du lịch chỉ là nơi tập trung tài nguyên du lịch và công trình kĩ thuật, do
đó các hệ thống lãnh thổ du lịch có thể không khép kín toàn bộ lãnh thổ tự nhiên Hệthống lãnh thổ du lịch là hạt nhân tạo nên vùng du lịch
Hệ thống được tạo thành bởi các phân hệ có quan hệ mật thiết với nhau, gồm: (i)Phân hệ khách: Là phân hệ trung tâm, chi phối các thành phần khác của hệ thống Số
Trang 39lượng và đặc điểm xã hội, nhân khẩu, dân tộc của khách du lịch quyết định các thànhphần khác của hệ thống (ii) Phân hệ tài nguyên: Là điều kiện để thoã mãn nhu cầunghỉ ngơi du lịch và là cơ sở lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống (iii) Phân hệ côngtrình kĩ thuật: Đảm bảo cho cuộc sống bình thường của khách và nhân viên phục vụ về
ăn ở, đi lại và những nhu cầu giải trí, tham quan, đặc biệt như chữa bệnh (iv) Phân hệcán bộ nhân viên phục vụ: Đáp ứng các dịch vụ cho khách hàng và đảm bảo cho các xínghiệp hoạt động bình thường (v) Bộ phận điều khiển: Có nhiệm vụ giữ cho cả hệthống nói chung và từng phần hệ nói riêng hoạt động tối ưu
Hai là, vùng du lịch Vùng du lịch là một hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội, mộttập hợp các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có liên hệ với nhau và các xínghiệp thuộc cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cho hoạt động của các hệ thống lãnh thổ dulịch có chung chuyên môn hoá và các điều kiện kinh tế xã hội để phát triển du lịch.Như vậy vùng du lịch gồm 2 yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau: Hệ thống lãnh thổ
du lịch; và không gian kinh tế - xã hội bao quanh
Vùng du lịch có không gian rộng hơn, bao gồm cả các khu vực sản xuất hàng hoá,vật liệu, năng lượng, kho tàng, các công trình công cộng Vùng du lịch là không giankinh tế - xã hội nên có tính chất lịch sử, nghĩa là có thể thay đổi theo thời gian [214]
Á vùng du lịch được hiểu là cấp phân vị thứ hai sau vùng du lịch, là noi tập hợpcác điểm du lịch, trung tâm du lịch (nếu có) và các tiểu vùng du lịch, tạo thành khônggian lãnh thổ du lịch lớn hơn tiểu vùng du lịch; Á vùng du lịch bao gồm cả những địaphương không có điểm du lịch Trong Á vùng du lịch, sự chuyên môn hóa bắt đầu hìnhthành, tuy chưa đậm nét Sự hình thành Á vùng du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố Ởmột số vùng du lịch, có thể không định hình rõ Á vùng du lịch và trong nhiều trườnghợp, hệ thống phân vị chỉ thực sự có 4 cấp: Điểm du lịch – Trung tâm du lịch – Tiểuvùng du lịch – Vùng du lịch
Trung tâm du lịch là sự kết hợp lãnh thổ của các điểm du lịch với mật độ cao, baogồm các điểm du lịch chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế
- kỹ thuật và tổ chức, nơi có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch khá đồng
bộ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách trong thời gian lưu trua dài Trung tâm dulịch có quy mô nhất định về mặt diện tích, thường tương ứng với 1 tỉnh, là nơi có khảnăng tạo vùng cao và liên kết vùng rất cao nên thường được xem là hạt nhân của vùnghay cực tăng trưởng của vùng du lịch
Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị Về mặt lãnh thổ, điểm dulịch có quy mô nhỏ, là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa –lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hoặc một công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kếthợp cả hai ở quy mô nhỏ Điểm du lịch có thể được phân thành hai loại: điểm tàinguyên và điểm chức năng Sự kết nối các điểm du lịch gắn với các hệ thống giaothông (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không) và các dịch vụ sẽ tạothành tuyến du lịch; thời gian lưu trú của khách du lịch ở địa điểm du lịch thường làtương đối ngắn
2.1.2.2 Liên kết vùng du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, liên quan tới nhiều ngành nghề, nhiều bêntham gia Các hoạt động đi du lịch và kinh doanh du lịch cũng diễn ra trên phạm virộng, đòi hỏi sự hợp tác của các bên trong quá trình tổ chức hoạt động du lịch, kinhdoanh và quản lý du lịch
Trang 40Trước hết, xét trên góc đi chuyến đi của khách du lịch, được hiểu là quá trình rờikhỏi chỗ ở thường xuyên, di tới và lưu lại một địa điểm mới thể tham quan, tìm hiểu,khám phá, nghỉ ngơi …, hoạt động du lịch trải trên một phạm vi rộng, với thời gian dài(ít nhất là một ngày, theo định nghĩa du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới - UNWTO).Quá trình đi du lịch của khách trải qua nhiều địa phương khác nhau, ít nhất là trênquãng đường từ nơi cư trú của khách tới nơi khách đi du lịch Hoạt động của khách dulịch cũng không bó hẹp tại một địa điểm, một điểm du lịch mà thường có xu hướng tớinhiều điểm du lịch khách nhau có thể ở nhiều địa phương khác nhau.
Liên kết vùng du lịch bao gồm liên kết nội vùng và liên kết vùng
Liên kết nội vùng là sự hợp tác, hỗ trợ và phân công giữa các á vùng (nếu có),các tiểu vùng và các địa phương trong vùng dựa trên những lợi thế so sánh của từng ávùng (nếu có), tiểu vùng và từng địa phương nhằm thực hiện thành công các địnhhướng chiến lược phát triển du lịch của chính các á vùng, tiểu vùng và các địa phươngtrong vùng
Liên kết liên vùng là sự hợp tác và phân công giữa vùng du lịch dựa trên nhữnglợi thế so sánh của từng vùng nhằm thực hiện thành công các định hướng chiến lượcphát triển du lịch, góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển du lịch của chính các vùng
du lịch đó Thông thường liên kết liên vùng được thực hiện giữa hai vùng có địa giớiliền kề
Theo tác giả, liên kết vùng du lịch chính là hợp tác và phân công giữa các bên thamgia trong một số lĩnh vực phát triển du lịch chính, bao gồm: hợp tác phân bổ lại nguồn lực,điều chỉnh quy hoạch phát triển phù hợp với thế mạnh của từng địa phương trong vùng,trong từng giai đoạn phát triển; liên kết trong phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt là cácsản phẩm đặc trưng của nhóm các địa phương, của các tiểu vùng trong vùng hoặc giữa haivùng du lịch liền kề; liên kết trong xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu điểm đến
và sản phẩm du lịch; liên kết thiết lập sự thống nhất về không gian du lịch vùng (hệ thốngđiểm, tuyến du lịch) thông qua phát triển hạ tầng kết nối lãnh thổ; liên kết trong đào tạophát triển nguồn nhân lực; hợp tác trong huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chínhsách để đầu tư phát triển du lịch chung của vùng; hợp tác cải thiện môi trường kinh doanh
và đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh vùng du lịch; hợp tác xây dựng hệ thống thông tin
và trao đổi thông tin du lịch phục vụ các mục tiêu phát triển du lịch của vùng; hợp tác bảo
vệ môi trường đối với các vấn đề môi trường mang tính vùng, ứng phó với thiên tai vàbiến đổi khí hậu trong lĩnh vực du lịch
Liên kết tiểu vùng là liên kết các loại phân vị lãnh thổ thuộc vùng du lịch Tuynhiên, đối với liên kết tiểu vùng có một số nội dung liên kết cụ thể không được đặt ra.Tuy nhiên, liên kết vùng và liên kết tiểu vùng du lịch sẽ rất khó thực hiện nếu không
có tổ chức chuyên trách quản lý hoạt động du lịch của vùng và từng tiểu vùng Điềunày cũng đồng nghĩa với việc sẽ không có chủ thể cụ thể đại diện vùng và các tiểuvùng tham gia thực hiện liên kết Chính vì vậy, có lúc, liên kết vùng và liên kết tiểuvùng chỉ mang ý nghĩa “biểu trưng” và “ý tưởng” trong quy hoạch phát triển du lịchcủa vùng du lịch, đặc biệt là kết nối giao thông
Ở góc độ tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ du lịch, khách du lịch thường tiêu dùngnhiều loại sản phẩm và dịch khác nhau, từ những sản phẩm mang tính đặc trưng của dulịch như khách sạn, nhà hàng, tua du lịch, tới cá sản phẩm mang tính bổ trợ, có thể lànhững sản phẩm hàng hóa thông thường tại địa phương
30
Hoạt động du