1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thảo luận triết học và mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn liên hệ ở việt nam

41 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 283 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc phân tích tìm hiểu mối liên hệ biện chứng giữa lý luận vàthực tiễn, từ đó rút ra quan điểm thực tiễn và vận dụng đúng đắn quan điểm đó trong hoạtđộng thực tiễn là rất cần thiết đối

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do –Hạnh phúc

TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LIÊN HỆ VỚI QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM.

***************************

M c l c ục lục ục lục LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Lý luận 6

1.1.1 khái niệm 6

1.1.2 Bản chất của lý luận 6

Trang 2

1.2 Thực tiễn 7

1.2.1 Khái niệm 7

1.2.2 Các tính chất cơ bản của thực tiễn 7

1.2.3 Các hình thức cơ bản của thực tiễn 7

1.2.4 Vai trò của thực tiễn 8

1.3 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn 9

1.3.1 thực tiễn quyết định lý luận 9

1.3.2 Vai trò tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn 9

1.3.3 Nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 10

CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THƯC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 11

2.1 Thời kỳ trước đổi mới (trước 1986) 11

2.1.1 Về chính trị 11

2.1.2 Về kinh tế- xã hội 12

2.1.3 Ưu điểm, hạn chế 15

2.2 Thời kỳ đổi mới.(1986 -2016) 16

2.2.1 Về nền kinh tế 16

2.2.2 về xây dựng Đảng và chính trị 21

2.2.3 Văn hoá – xã hội 24

2.3 Thời kỳ sau đổi mới (từ 2016 đến nay) 32

2.3.1 Thành tựu 32

2.3.2 Hạn chế 34

2.3.3 Đề xuất biện pháp giải quyết 34

2.4 So sánh thời kì trước và sau đổi mới ở Việt Nam 37

2.4.1.Giống nhau: 37

2.4.2 Khác nhau: 38

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự tồn tại và phát triển củabất cứ hình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn,phương pháp biện chứng luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thựctiễn, xây dựng và phát triển xã hội Có thể nói rằng “lý luận” và “thực tiễn” là hai phạmtrù thường xuyên được đề cập trong các hoạt động của con người Giữa chúng có mốiquan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau và nó cũng chính là một trong những vấn đề cơ bảncủa chủ nghĩa Mác – Lenin nói chung và của lý luận nhận thức macxit nói riêng

Nếu xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn, con người có thể có được nhữngcách giải quyết phù hợp với các vấn dề do cuộc sống đặt ra Việc chấp nhận hay khôngchấp nhận một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thếgiới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một cơ

sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động

Đối với đảng ta, việc kiên trì, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin

là vấn đề có tính nguyên tắc số một Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin có nghĩa lànắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin , vận dụng mộtcách đúng đắn , thích hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác –Lênin một cách sáng tạo Việc phân tích tìm hiểu mối liên hệ biện chứng giữa lý luận vàthực tiễn, từ đó rút ra quan điểm thực tiễn và vận dụng đúng đắn quan điểm đó trong hoạtđộng thực tiễn là rất cần thiết đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta - như Văn kiện Đại hội

Đảng lần IX đã xác định : : “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hóa, bổ sung phát triển đường lối, chính sách của Đảng, đấu tranh với khuynh hướng, tư tưởng sai trái”(Văn kiện Đại hội IX, trang 141).

Với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về đề tài này, nhóm chúng em đã chọn dề tài:

“ phân tích mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn,từ đó liên hệ với quá trình đổi mới ởViệt Nam”

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN.

Trang 5

1.1 Lý luận.

1.1.1 khái niệm.

Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh mối quan hệbản chất những quy luật khách quan Theo nghĩa chung nhất, lý luận là sự khái quát hóanhững kinh nghiệm thực tiễn, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội đã đượctích lũy trong suốt quá trình tồn tại của nhân loại Lý luận mang tính trừu tượng và kháiquát cao nên nó đem lại những hiểu biết sâu sắc về bản chất , tính quy luật của các sự vậthiện tượng khách quan Do đó lý luận là sản phẩm cao cấp của nhận thức, là tri thức vềbản chất, quy luật của hiện thực khách quan.Nhưng do là sản phẩm của nhận thức, nên lýluận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

1.1.2 Bản chất của lý luận

- Là hệ thống tri thức chặt chẽ mang tính trừu tượng khái quát

- Đúc kết từ thực tiễn, được diễn đạt thong qua các khái niệm,phạm trù, nguyên lý, quyluật

- Phản ánh bản chất của sự vận động, biến đổi, và hát triển của sự vật hiện tượng trongthế giới khách quan

- Là sản phẩm của nhận thức, được hình thành trong mối quan hệ với thực tiễn

1.1.3 Những đặc trưng và tính chất của lý luận.

Từ bản chất của lý luận và từ việc xem xét những hình thức, biểu hiện khác nhau củahoạt động lý luận, có thể chỉ ra và phân tích những đặc trưng và tính chất của nó như sau:

- Về nội dung phản ánh: Lý luận phản ánh cái bên trong, cái tất yếu của đối tượng.Cái bên trong, tất yếu này có thể là cái chung, cái bản chất, cái căn bản, cái quy luật củađối tượng, lý luận có thể phản ánh cái bên trong, cái tất yếu của sự vật trong tính chỉnhthể, toàn vẹn của nó, nhưng cũng có thể chỉ phản ánh cái bên trong, tất yếu của từng mặtnào đó của đối tượng

- Về hình thức phản ánh: Lý luận biểu hiện, “trình bày” đối tượng trong hình thứcnhững khái niệm, phạm trù, quy luật hoặc hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật

Lý luận có tính chất trừu tượng hoá, khái quát hoá, những tính chất này hình thànhtrên cơ sở của phân tích, so sánh Tính chất này thể hiện không chỉ trong quá trình hoạtđộng, mà cả trong kết quả của hoạt động lý luận và nó thể hiện rõ ở việc chủ thể sử dụngnhững công cụ là các phạm trù, khái niệm, quy luật trong hoạt động nhận thức

Trang 6

Lý luận còn mang tính khuynh hướng Có lý luận tiên tiến, cách mạng, có lý luậnbảo thủ, phản cách mạng, có lý luận giáo điều, chiết trung, nguỵ biện, duy lý, phi duy lý,duy khoa học, có lý luận khoa học và không khoa học, phản khoa học v.v Tuy nhiên, tínhkhuynh hướng của lý luận không phải là quá trình tự thân của lý luận, mà do thực tiễn quyđịnh.

1.2.2 Các tính chất cơ bản của thực tiễn

- Tính khách quan: thực tiễn là hoạt động vật chất hướng đến cải tao thế giới kháchquan vì sự tồn tại và phát triển của thế giới loài người

- Tính mục đích: thực tiễn là hoạt đông có ý thức có mục đích, nhằm cải tạo tự nhiên

xã hội phục vụ con người Thực tiễn là hoạt động có tính tự giác cao của loài người vàkhác với hoạt động mang tính bản năng của loài vật

- Tính lịch sử - xã hội: thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội, với sự tham gia của đông đảo người trong xã hội Thực tiễn không bất biến mà luôn biến đổi

theo từng thời kỳ lịch sử

1.2.3 Các hình thức cơ bản của thực tiễn.

- Hoạt động sản xuất vật chất: Là hoạt động thực tiễn quan trọng nhất của xã hội.Thựctiễn sản xuất vật chất là tiền đề xuất phát để hình thành những mối quan hệ đặc biệt củacon người đối với thế giới, giúp con người vượt ra khỏi khuôn khổ tồn tại của các loàivật

Trang 7

- Hoạt động chính trị - xã hội : Là hoạt động của con người trong các lĩnh vực chính trị

xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bànrộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bảnchất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội

- Hoạt động thực nghiệm khoa học: Là hoạt động thực tiễn đặc biệt vì con người phảitạo ra một thế giới riêng cho thực nghiệm của khoa học tự nhiên và cả khoa học xã hội Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có chức năng khác nhau nhưng chúng

có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Trong mối quan hệ đó hoạt động sảnsuất vật chất là hoạt động có vai trò quyết định đối với các loại hoạt động thực tiễn khác

1.2.4 Vai trò của thực tiễn

Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức : Trong hoạt động thực tiễn, con ngườilàm biến đổi thế giới khách quan, bắt các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phảibộc lộ những thuộc tính và quy luật của chúng Trong quá trình hoạt động thực tiễn luônluôn nảy sinh các vấn đề đòi hỏi con người phải giải đáp và do đó nhận thức được hìnhthành Như vậy, qua hoạt động thực tiễn mà con người tự hoàn thiện và phát triển thế giớiquan( tạo điều kiện cho nhận thức cao hơn)

Qua hoạt động thực tiễn, não bộ con người cũng ngày càng phát triển hơn, các giácquan ngày càng hoàn thiện hơn Thực tiễn là nguồn tri thức, đồng thời cũng là đối tượngcủa nhận thức Chính hoạt động thực tiễn đã đặt ra các nhu cầu cho nhận thức, tạo ra cácphương tiện hiện đại giúp con người đi sâu tìm hiểu tự nhiên

Thực tiễn là động lực của nhận thức: Ngay từ đầu, nhận thức đã bắt nguồn từ thựctiễn, do thực tiễn quy định Mỗi bước phát triển của thực tiễn lại luôn luôn đặt ra nhữngvấn đề mới cho nhận thức, thúc đẩy nhận thức tiếp tục phát triển Như vậy thực tiễn trang

bị những phương tiện mới, đặt ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà soát sự nhận thức.Thực tiễn lắp đi lắp lại nhiều lần, các tài liệu thu thập được phong phú, nhiều vẻ, conngười mới phân biệt được đâu là mối quan hệ ngẫu nhiên bề ngoài, đâu là mối liên hệ bảnchất, những quy luật vận động và phát triển của sự vật

Trang 8

Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thựctiễn khi nó được vận dụng vào thực tiễn Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải làbản thân các tri thức mà là nhằm cải tạo hiện thức khách quan, đáp ứng những nhu cầu vậtchất và tinh thần xã hội Sự hình thành và phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ thựctiễn, do yêu cầu của thực tiễn Nhận thức chỉ trở về hoàn thành chức năng của mình khi

nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn Chỉ cóthông qua hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mới thể hiện được sức mạnh củamình, sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa

Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức : Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thứcđúng hay sai Khi nhận thức đúng thì nó phục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại

Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý: thực tiễn có vai trò là tiêu chuẩn là thước đo giátrị của những tri thức đã đạt đượctrong nhận thức,từ đó bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa vàphát triển hoàn thiện nhận thức Nhận thức của con người phải được kiểm tra trong thựctiễn, nếu chưa hoàn thiện thì bổ sung, nếu sai lầm thì bác bỏ trong thực tiễn con ngườiphải chứng minh chân lý

1.3 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

1.3.1 thực tiễn quyết định lý luận

Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ tác đọng qua lại lẫn nhau trong đó thực tiễngiữ vai trò quyết định

Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là hoạt động vật chất, sản xuất ra mọi thứ; còn lý luận làsản phẩm tinh thần, phản ánh thực tiễn

Thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận Tức là, thực tiễn là bệ phóng, cung cấp cácnguồn lực cho lý luận Thực tiễn còn vạch ra tiêu chuẩn cho lý luận Thông qua hoạt độngthực tiễn, lý luận mới được vật chất hóa, hiện thực hóa, mới có sức mạnh cải tạo thế giớikhách quan

Chỉ có thông qua thực tiễn con người mới vật chất hóa dược lý luận vào đời sốnghiện thực Lý luận không có sức mạnh tự thân mà chỉ có thông qua thực tiễn thì lý luậnmới phát huy tác dụng, mới tham gia vào quá trình biến đổi hiện thực

Đánh giá vai trò của thực tiễn đối với lý luận, Lênin viết: "Thực tiễn cao hơn nhậnthức, lý luận Vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà còn của tính hiện thựctrực tiếp"

1.3.2 Vai trò tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn

Trang 9

Lý luận có thể thúc đẩy tiến trình phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận khoa học

và ngược lại có thể kìm hãm sự phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận phản khoa học,phản động, lạc hậu.Lý luận khoa học sẽ trở thành kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn

Nó hướng dẫn, chỉ đạo, soi sáng cho thực tiễn, vạch ra phương pháp giúp hoạt động thựctiễn đi tới thành công Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: "Không có lý luận thì lúng túng nhưnhắm mắt mà đi"

Lý luận đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận động

và phát triển của thế giới khách quan, giúp con người xác định đúng mục tiêu để hànhđộng có hiệu quả hơn, tránh được những sai lầm, vấp váp

Lý luận khoa học thâm nhập vào hoạt động của quần chúng tạo nên sức mạnh vậtchất, điều chỉnh hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động của con người trở nên tự giác,chủ động, tiết kiệm được thời gian, công sức, hạn chế những mò mẫm, tự phát.Lý luậnkhoa học dự kiến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong tương lai, từ đóchỉ ra phương hướng mới cho sự phát triển

Con người ngày càng đi sâu khám phá giới tự nhiên vô cùng vô tận bằng nhữngphương tiện khoa học hiện đại thì càng cần có những dự báo đúng đắn Nếu dự báo khôngđúng sẽ dẫn đến những sai lầm, hậu quả xấu không thể lường được trong thực tiễn Vì thế,chức năng dự báo tương lai là chức năng quan trọng của lý luận.Lý luận cách mạng có vaitrò to lớn đối với thực tiễn cách mạng Lênin cho rằng: "Không có lý luận cách mạng thìkhông thể có phong trào cách mạng" Mác thì nhấn mạnh: "Lý luận khi thâm nhập vàoquần chúng thì nó biến thành lực lượng vật chất".Vai trò của lý luận khoa học ngày càngtăng lên, đặc biệt trong giai đoạn mới của thời đại ngày nay, thời đại của cuộc đấu tranhgiai cấp và dân tộc diễn ra gay go, phức tạp, cùng với sự phát triển mạnh mẽ, nhanhchóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ Ph Ăngghen chỉ ra rằng: một dân tộcmuốn đứng trên đỉnh cao khoa học thì không thể không có tư duy lý luận.Sự lạc hậu, giáođiều về lý luận dẫn đến sự khủng hoảng về lý luận của chủ nghĩa xã hội trong thời gianqua là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội nóichung, cụ thể là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trước đây

1.3.3 Nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.

Theo quan điểm mácxít, lý luận và thực tiễn không tách rời nhau mà giữa chúng có

sự liên hệ, xâm nhập và tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển Sự thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của triết học Mác – Lênin

Trang 10

Chủ nghĩa Mác – Lênin là tiêu biểu cho sự gắn bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễntrong qúa trình hình thành và phát triển của nó Lý luận Mác – Lênin là sự khái quát thựctiễn CM và lịch sử xã hội, là sự đúc kết những tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận trêncác lĩnh vực khác nhau Sức mạnh của nó là ở chỗ gắn bó hữu cơ với thực tiễn xã hội,được kiểm nghiệm, bổ sung trong thực tiễn Chính vì vậy mà nó có vai trò cải tạo thế giớichứ không chỉ giải thích thế giới.

Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và triết học Mác – Lênin nói riêng đã tìm thấy ởgiai cấp vô sản vũ khí vật chất của mình và giai cấp vô sản đã tìm thấy ở triết học Mác –Lênin vũ khí tinh thần của mình.Lênin từng nhắc nhở những người cộng sản ở các nướcphải biết cụ thể hóa chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từnglúc, từng nơi Lý luận cần phải được bổ sung bằng những kết luận mới được rút ra từ thựctiễn sinh động.Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "Thống nhất lý luận với thực tiễn là nguyên tắccăn bản của triết học Mác – Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thựctiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông" hoặc "Có kinhnghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ"

CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THƯC TIỄN TRONG QUÁ

TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM.

2.1 Thời kỳ trước đổi mới (trước 1986)

2.1.1 Về chính trị

Việt Nam đã trải qua chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm và từ cuối thế kỷXIX là thuộc địa của đế quốc Pháp Khát vọng độc lập, tự do và dân chủ là lớn lao và bứcthiết Mục tiêu cách mạng mà Đảng đề ra trước hết là giành lại độc lập cho dân tộc, ruộngđất cho nông dân Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản và lãnh tụ Hồ ChíMinh lãnh đạo đã xóa bỏ chế độ thuộc địa, chấm dứt chế độ phong kiến, mở ra thời đạimới của dân tộc Việt Nam, thời đại dân tộc độc lập, nhân dân được làm chủ xã hội vàcuộc sống, xây dựng xã hội tốt đẹp độc lập- tự do- hạnh phúc

Sau Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, nhiệm vụgiải phóng dân tộc vẫn là vấn đề sống còn và vì vậy mục tiêu tiến lên CNXH vẫn chưa thểđặt ra trực tiếp, mà phải vừa kháng chiến vừa kiến quốc Trong nhiệm vụ kiến quốc, Đảng

và Chính phủ chú trọng phát triển chế độ dân chủ nhân dân tạo những tiền đề, mầm mốngtiến tới CNXH khi kháng chiến thắng lợi

Trang 11

Những điều kiện cần thiết chưa có đủ đòi hỏi trên con đường phát triển theo địnhhướng XHCN, Đảng và chính quyền cách mạng phải cùng với toàn dân chủ động tạodựng những điều kiện: phát triển kỹ nghệ tức lực lượng sản xuất hiện đại để phát triểncông nghiệp, nông nghiệp ở trình độ cao, đặc biệt là nhân tố con người, phải nâng cao dântrí, xây dựng con người phát triển toàn diện có trí tuệ và năng lực tự giác xây dựng một xãhội mới Quan điểm của Hồ Chí Minh thật sự là sự khởi đầu nhận thức về xây dựngCNXH xuất phát từ thực tiễn Việt Nam.

Luận cương cách mạng Việt Nam được Đại hội II của Đảng (2-1951) thông qua đãxác định phương hướng rõ ràng là: hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhândân, tiến tới CNXH Những điều kiện để tiến lên CNXH mà Hồ Chí Minh và Đại hội IIcủa Đảng nêu ra phản ánh sự nhận thức đúng đắn về CNXH từ thực tiễn Việt Nam có ýnghĩa chỉ đạo thực tiễn Sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng khẳng định dù hoàncảnh như thế nào, miền Bắc cũng phải tiến lên CNXH Đó là yêu cầu khách quan bảo đảm

sự phát triển của miền Bắc, đồng thời còn là yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóngmiền Nam, thống nhất đất nước Miền Bắc trải qua 3 năm (1954-1957) khôi phục kinh tế

và hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (cải cáchruộng đất) và cũng là chuẩn bị những điều kiện cần thiết và phát triển nhận thức để chínhthức thực hiện cách mạng XHCN theo Nghị quyết Trung ương 14 (1958) và Nghị quyếtĐại hội III (9-1960)

Năm 1956, 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ những quan điểm về CNXH vàphương châm, phương pháp đi tới CNXH có ý nghĩa định hướng trong nhận thức của toànĐảng Người quan niệm: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”(5) Đó

là tư tưởng rất mới mẻ và sáng tạo về CNXH Về cách thức tiến hành phải tiến dần từngbước lên CNXH, cải tạo giai cấp tư sản cũng cần có cách thức khác, “Ta không thể giốngLiên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”(6) Phải luôn chú

ý đặc điểm, hoàn cảnh riêng của Việt Nam Hồ Chí Minh cho rằng giai cấp tư sản ViệtNam “họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước”, “nếu mình thuyết phụckhéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội”(7) Chủ tịch Hồ Chí Minhđặc biệt nhấn mạnh việc vận dụng lý luận vào thực tiễn Việt Nam trong cách mạngXHCN Phải nắm vững điều kiện đặc biệt của nước ta “là một xã hội vừa mới thoát khỏiách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu” Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ýnghĩa rất quan trọng trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng XHCN và công cuộc đổimới

Trang 12

Sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc (1954-1975) và trên cả nước sau năm 1975

đã bước đầu tạo dựng một xã hội mới với bản chất tốt đẹp và sức mạnh về mọi mặt bảođảm giành thắng lợi trong đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước và bảo vệ Tổquốc XHCN

2.1.2 Về kinh tế- xã hội

Sau khi kháng chiến chống pháp thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nước xã hộichủ nghĩa trước đó, nước ta bắt đầu xây dựng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung dựatrên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Các hình thức tổ chức sản xuất và dịch vụ quốcdoanh được phát triển Cùng với quốc doanh hợp tác xã được tổ chức rộng rãi do ta họctập được mô hình tổ chức kinh tế của Liên Xô cũ

Hợp tác xã hóa ở miền Bắc được thực hiện từ năm 1958, đến năm 1960 cơ bản hoànthành Khi đó chúng ta cho rằng làm ăn tập thể ưu việt hơn làm ăn cá thể, kinh tế có thể tựphát dẫn đến phân hóa giàu nghèo phân chia giai cấp.Làm ăn tập thể sẽ tạo ra sức mạnh,

sẽ giải quyết được vấn đề kinh tế xã hội của cộng đồng nông thôn.Do vậy hợp tác xã hóađược đồng nhất với tập thể hóa, xóa bỏ sản xuất theo hộ, chỉ cho phép tồn tại dưới hìnhthức kinh tế phụ gia đình, mọi tue liệu sản xuất đều thuộc về tập thể, tổ chức lao động tậptrung dưới sự chỉ huy điều hành của ban chủ nhiệm hợp tác xã và ban chỉ huy đội phânphối theo ngày công, sau khi trừ chi phí sản xuất, khấu trừ nộp cho nhà nước và phúc lợi

xã hội ở nông thôn, ban chủ nhiệm làm cả chức năng của chính quyền cơ sở Tuy vậy,nhờ lao động tập thể và sử dụng tập trung các nguồn lực nên đã xây dựng được nhữngcông trình thủy lợi kiến thiết đồng ruộng, đường giao thông, bộ mặt của miền Bắc cũng

có những thau đổi đáng kể Tính đến cuối tháng 3-1959, toàn miền Bắc đã có 6.830 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bao gồm 7% nông hộ và gần 70% nông hộ vào tổ đổi công(21% nông hộ vào tổ đổi công thường xuyên) Trong số 6.830 hợp tác xã đã có 119 hợptác xã cấp cao và có một ít xã đã thu hút trên 90% nông hộ vào hợp tác xã Số xã viên củatừng hợp tác xã cũng đông hơn Trung bình mỗi hợp tác xã gồm 30 hộ Cá biệt có hợptác xã gồm tới 100 hộ và kinh doanh nhiều mặt: nông nghiệp, thủ công nghiệp, mua bán(như hợp tác xã Vũ La, Hải Dương).Hợp tác xã nông nghiệp tồn tại nhiều hạn chế ngaytrong giai đoạn đầu Nhưng chúng ta lại cho rằng những hạn chế ấy là do chế độ sở hữutiên tiến, chỉ cần hoàn thành chế độ quản lý thì sẽ phát huy tính ưu việt của hợp tác xã,thậm chí có ý kiến cho rằng chúng ta đã có quann hệ sản xuất tiên tiến cần phải kéo lựclượng sản xuất lên cho phù hợp Điều này trái với quy luật lực lượng sản xuất quyết địnhquan hệ sản xuất của chủ nghĩa Mác

Trang 13

Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước miền Bắc vừa là hậu phương lớn chi viện chomiền nam, vừa trực tiếp chiến tranh chống trả phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ Do tácđọng của chiến tranh và nguồn viện trợ không hoàn lại từ các nước XHCN , các hợp tác

xã lại có thêm động lực sức mạnh tư tưởng và vật chất để củng cố hạn chế bên trong chưabộc lộ ra ngoài Mô hình tổ chức hợp tác xã tập trung bao cấp tỏ ra có tác động tích cực vìhuy động tối đa sức người, sức của cho chiến đấu Hợp tác xã còn giúp đỡ những gia đình

có người đi chiến đấu, phục vụ chiến đấu đảm bảo thực hiện chính sách hậu phương quânđội Trong kháng chiến chống Mỹ mô hình hợp tác xã ở miền Bắc khá phù hợp, với quyếttâm tất cả cho tiền tuyến, cho thống nhất đất nước Năm 1975,miền Nam được hoàn toàngiải phóng, thống nhất đất nước, cả nước bước vào xây dựng xã hội chủ nghĩa trong bốicảnh chiến tranh lạnh và cấm vận kinh tế, điều kiện thục tế đã thay đổi mô hình kinh tếdần bộc lộ hạn chế, nền kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng.Thực tiễn đòi hỏi Đảng và nhà nước phải thực hiện đổi mới đường lối phát triển kinh tế-

xã hội Tuy nhiên do chưa nhận thức đúng thực tiễn nên vẫn vận hành nền kinh tế kếhoạch tập trung quan liêu bao cấp

Năm 1979, Đảng và Nhà nước tập trung hơn vào mặt trận kinh tế trong thời gian đónền kinh tế gặp nhiều khó khăn, việc triển nghị quyết Đại hôi IV đang vấp váp và tổn thấttrên nhiều mặt Trên thực tế nghị quyết này là nấc thang mới đầu tiên cho việc đổi mới tưduy kinh tế ở việc chấp nhận kinhh tế cá thể kinh tế tư nhân trong đó tiêu biểu là khoán100.Qua tổng kết thực tiễn trên, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ban hành “Chỉ thị 100” vềkhoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, thường gọi tắt là khoán 100

"Khoán chui", một mặt, phản ánh sự bắt đầu đổ vỡ khó tránh khỏi của mô hình tậpthể hoá triệt để ruộng đất, sức lao động và tư liệu sản xuất khác của nông dân; mặt khác,phản ánh tính tất yếu kinh tế - khôi phục lại chức nǎng kinh tế hộ nông dân Khoán 100bước đầu đáp ứng được yêu cầu khách quan này

Trang 14

Khoán 100 đã đưa lại tác dụng phân chia lại chức nǎng kinh tế giữa tập thể và hộ giađình cả về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và phân phối, mở đầu cho quá trình dân chủhoá về mặt kinh tế, bằng việc gắn bó trở lại lao động với ruộng đất, mang lại lợi ích thiếtthực cho nông dân, tạo ra động lực kích thích phát triển sản xuất Xét về mặt cơ chế quản

lý kinh tế, khoán 100 đã phá vỡ cơ chế tập trung quan liêu trong sản xuất nông nghiệp.Trong thời gian đầu, khoán 100 đã có tác dụng làm sống động nền kinh tế nông thôn vàtạo ra một khối lượng nông sản lớn hơn so với thời kỳ trước Tuy vậy, khoán 100 cũngchỉ có tác dụng trong một thời gian, sau đó giảm dần vì cơ chế tập trung quan liêu vẫn cònđược duy trì trong hợp tác xã, cũng như toàn bộ hệ thống tái sản xuất xã hội trong nôngnghiệp Hệ thống này cùng tính chất mệnh lệnh hành chính, mà hậu quả của nó đè lên vaingười nông dân, trước hết là hộ nhận khoán Hộ nông dân không đủ khả nǎng bảo đảm táisản xuất và nhu cầu đời sống nên đã phải trả lại bớt ruộng đất Những nghị quyết của banchấp hành TW khóa IV đều dự trên cơ sở chấp nhận và triển khai cơ cấu kinh tế hàng hóanhiều thành phần.Chính nhờ đó sản xuất lưu thông đã bung rất sôi động rộng khắp Trênthực tế, một mặt đã diễn ra một thực tế chưa từng có, một phong trào quần chúng năngđộng phát triển lưu thông sản xuất, phong trào nông dân tự khoán phòng trào phát huy tựchủ năng động của đơn vị cơ sở và địa phương với những điển hình làm ăn có hiệuquả.Mặt khác sự bung ra của thị trường tự do với sự tham gia của nhiều thành phàn kinh

tế cũng gây ra hậu quả tiêu cực

Trên cơ sở tổng kết những thành công và hạn chế từ cuối nhiệm kỳ Đại hội ĐBTQlần thứ IV về đổi mới tư duy, nhất là đổi mới tư duy kinh tế, Đại hội ĐBTQ lần thứ V củaĐảng (tháng 3/1982) đã đề ra một số chủ trương đổi mới quan trọng Văn kiện Đại hộiĐBTQ lần thứ V khẳng định tư tưởng về sự phân kỳ thời kỳ quá độ (TKQĐ) lên chủnghĩa xã hội (CNXH) với khái niệm “chặng đường đầu tiên”; xác định mục tiêu phấn đấucho từng giai đoạn, cụ thể trong giai đoạn 1981-1985 coi nông nghiệp là mặt trận hàngđầu; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơcấu hợp lý, xem đó là nội dung chính của công nghiệp hóa XHCN trong chặng đườngtrước mắt

Trước khuynh hướng muốn quay trở lại với quan niệm và cách làm cũ, Đảng đãkhẳng định quyết tâm chính trị: muốn tồn tại và đứng vững phải quyết tâm đổi mới Trêntinh thần đó, HNTW lần thứ 8, khóa V (tháng 6/1985) thông qua chủ trương dứt khoátxóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xóa bỏ chế độ cungcấp hiện vật theo giá thấp; chuyển mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh sang cơ chế hạchtoán kinh doanh XHCN; chuyển ngân hàng sang hoạt động theo nguyên tắc kinh doanh.Điểm quan trọng là Nghị quyết HNTW lần thứ 8, khóa V thừa nhận sản xuất hàng hóa vànhững quy luật của sản xuất hàng hóa Như vậy, nghị quyết HNTW lần thứ 8 khóa Vđược coi là bước đột phá thứ hai của quá trình hình thành đường lối đổi mới

Trang 15

2.1.3 Ưu điểm, hạn chế.

 Ưu điểm

Sau kháng chiến chống pháp thắng lợi, từ 1 nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phântán, bằng công cụ kế hoạch hoá, ta đã tập trung được vào trong tay một lực lượng vật chấtquan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng về thành thị và nông thôn, đất đai,máy móc, tiền vốn để ổn định và phát triển kinh tế

Vào những năm sau của thập niên 60, trong thời kì đầu, nền kinh tế tập trung bao cấp

đã tỏ ra phù hợp với nền kinh tế tự cung tự cấp, phù hợp với điều kiện 2 nhiệm vụ sảnxuất và chiến đấu

Sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, hàng hoá, sản phẩm trở nên khan hiếm

Ngân sách thâm hụt nặng nề, thu thập từ nền kinh tế quốc dân không đủ chi dùng, vốnđầu tư chủ yếu dựa vào vay và viện trợ nước ngoài

Năm 1979, nền kinh tế suy yếu, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân khó khăn

Từ năm 1975 đến 1985, các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cá thể bị tiêu diệt hoặckhông còn điều kiện phát triển

 Kết luận:

Ta đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận:”những chính sách kinh tế là bệnh chủquan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủquan” Chúng ta đã ưu tiên phát triển công nghiệp nặng quá mức mà hiệu quả kinh tế pháttriển chậm Hơn thế nữa, ta chưa chú ý đúng mức sản xuất nông nghiệp và hàng tiêu dùngnên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

2.2 Thời kỳ đổi mới.(1986 -2016)

2.2.1 Về nền kinh tế

Trang 16

Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật”, Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản ViệtNam tháng 12 năm 1986 đã có quyết định đúng đắn về thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xãhội Đảng đã nhận thức về việc vận dụng và phát triển sáng tạo những tư tưởng lý luậncủa Lenin về Chính sách kinh tế mới (NEP) Chuyên gia kinh tế Võ Đại Lược, một trongnhững thành viên nhóm nghiên cứu về NEP thời kỳ đó, nhớ lại: Thời kỳ đầu đổi mới,chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang quan hệ hàng hóa- tiền tệ thì Chính sách kinh tếmới NEP rất quan trọng với hai tư tưởng chính Một là phát triển quan hệ hàng hóa, tiền

tệ Hai là sử dụng Chủ nghĩa tư bản Nhà nước để phát triển kinh tế Vào thời điểm lịch sửđấy, nếu ta dùng 2 quan điểm kinh tế hàng hóa để bác nền kinh tế kế hoạch, nếu khôngphải là của Lenin thì quan điểm đó chắc chắn sẽ không được chấp thuận

2.2.1.1 Về các thành phần kinh tế và các chủ thể kinh tế thị trường

Đổi mới về mối quan hệ giữa củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất với phát triển lựclượng sản xuất - một trong những căn cứ quan trọng cho sự đổi mới tư duy về cấu trúcnền kinh tế (cấu trúc sở hữu và các thành phần kinh tế)

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất của phương thức sảnxuất, trong đó, mỗi mặt có vị trí và tác động không giống nhau Lực lượng sản xuất là mặtđộng nhất, cách mạng nhất và giữ vị trí quyết định đối với quan hệ sản xuất Mối quan sảnxuất được thiết lập thích ứng với trạng thái, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽgiữ vai trò mở đường tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất: Lựclượng sản xuất quyết định tính chất của quan hệ sản xuất, quyết định sự phát triển củaquan hệ sản xuất, do đó, không thể nóng vội thiết lập quan hệ sản xuất mới khi chưa tạo rađược lực lượng sản xuất mới và cũng không thể tuỳ tiện xoá bỏ quan hệ sản xuất hiện cókhi nó còn tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển

Như vậy, từ chỗ chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất phải đi trước để mở đường,thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, chúng ta đã nhận thức lại yêu cầu củng cố,hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, để giảiphóng sức sản xuất, đã khẳng định thước đo của đổi mới là thực tiễn: sản xuất phát triển,lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân từng bước được nângcao, xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ xã hội chủ nghĩa được củng cố Đã khẳng địnhmục tiêu đúng đắn của đổi mới, hoàn thiện quan hệ sản xuất nhằm giải phóng sức sảnxuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đồng thời tạo sự đồng thuận trong xã hội, tạo

sự lực thu hút mọi nguồn lực trong xã hội đầu tư cho phát triển

 Về vấn đề sở hữu

Trang 17

Trước đây, trong xây dựng quan hệ sản xuất chỉ chú trọng quan hệ sở hữu mà mấuchốt là cải biến chế độ sở hữu cá thể và chế độ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuấtthành các hình thức khác nhau của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa Đổi mới yêu cầuphải chú trọng cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới bao gồm ba mặt:xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hộichủ nghĩa Từ chỗ coi các hình thức sở hữu tồn tại biệt lập trong từng thành phần kinh tếđến chỗ coi các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất vốn có bản chất riêng nhưng tronghoạt động sản xuất kinh doanh không ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình đa dạng, đanxen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu.

Quan niệm về sở hữu cũng có những đổi mới rất căn bản, từ chỗ chỉ nhìn nhậnđối tượng sở hữu về mặt hiện vật, tiến đến chú trọng đối tượng sở hữu về mặt giá trị

và sở hữu trí tuệ; có sự phân định và ngày càng làm rõ quan hệ giữa quyền sở hữu vàquyền sử dụng, đặt cơ sở quan trọng cho việc phân định trong mối quan hệ giữa quyềnchủ sở hữu và quyền tài sản tại doanh nghiệp nhà nước

Đại hội IX đã xác định ba hình thức sở hữu tồn tại căn bản trong nền kinh tế nhànước, bao gồm sở hữu toàn dân; sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể Nhà nước chú trọng pháttriển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa cácthành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước và nước ngoài Phát triển mạnh hình thức tổchức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội

Trang 18

Trong các thành phần kinh tế ấy, kinh tế xã hội chủ nghĩa với khu vực quốc doanhlàm nòng cốt phải giành được vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc dân, cụ thể làchiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông Thể hiện tính ưu việt và chi phối đượccác thành phần kinh tế khác.

Đổi mới lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước để củng cố và tăng cường vai trò chủđạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế Phân biệt sở hữu nhà nước với hình thứcdoanh nghiệp nhà nước Tài sản và vốn thuộc sở hữu nhà nước được sử dụng dưới nhiềuhình thức để bảo đảm hiệu quả kinh tế đồng thời tăng cường khả năng kiểm soát trực tiếpcủa nhà nước Tập trung xây dựng doanh nghiệp nhà nước ở những ngành, lĩnh vực kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống tài chính ngân hàng Trong nhiều lĩnh vực, thực hiệnchủ trương giảm bớt những doanh nghiệp nhà nước không cần giữ hình thức quốc doanh,đồng thời cho phép các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác tham gia Tăngcường hệ thống thương nghiệp nhà nước, khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế trongnông nghiệp, đồng thời coi trọng phát triển ngành dịch vụ

2.2.1.2 Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Nhờ sự đổi mới tư duy, nhận thức về CNXH mà qua 30 năm đổi mới, đất nước đã đạtđược những bước phát triển có ý nghĩa lịch sử Từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trungquan liêu bao cấp chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng CNXH là một đổimới có tính đột phá, bước ngoạt từ tư duy, nhận thức lý luận đến hành động Thực tế đãchứng minh, đường lối đổi mới là vô cùng sáng tạo và hoàn toàn đúng đắn trong bướcthăng trầm lịch sử Thực tế cho thấy, phát triển nền kinh tế thị trường là một yêu cầukhách quan để đất nước phát triển và giàu mạnh Theo đó, mọi nguồn lực, tiềm năng và sựsáng tạo được khơi dậy và giải phóng

Đại hội IX đưa ra khái niệm” kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” xem đó

là mô hình tổng quát trong suốt thời kì qua độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đại hội Xtiếp tục khẳng định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đại hội XI cũngchỉ rõ: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Tại Đại hội XII tiếnthêm một bước khẳng định, “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp vớithực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử Thành tựu và những kinh nghiệm,bài học đúc kết từ thực tiễn tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổimới và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới”

Trang 19

Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội; trong đó quá trình sản xuất,phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường Vì thế kinh tếthị trường không chỉ là “công nghệ”, là “phương tiện” để phát triển kinh tế - xã hội, màcòn là những quan hệ kinh tế - xã hội, nó không chỉ gồm lực lượng sản xuất, mà còn cảmột hệ thống quan hệ sản xuất Như vậy rõ ràng là không thể có một nền kinh tế thịtrường chung chung, trừu tượng tách rời khỏi hình thái kinh tế - xã hội, tách rời khỏi chế

độ chính trị - xã hội của một nước

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vừa tuân theo quy luậtcủa kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi phối của các nhân tố định hướng xã hội chủ nghĩa

Vì thế kinh tế thị trường ở nước ta vừa có những đặc trưng chung, phổ biến của mọi nềnkinh tế thị trường, vừa có những đặc trưng mang tính đặc thù - định hướng xã hội chủnghĩa Theo tinh thần của các đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam từ lần thứ VI đến lần thứXII định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường thể hiện ở các nội dung sau đây:Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; giảiphóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩymạnh xóa đói giảm nghèo, đồng thời khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng vàgiúp đỡ, tạo điều kiện để người khác thoát khỏi nghèo, từng bước khá giả hơn; phát triểnkinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữvai trò chủ đạo; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chínhsách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục giảiquyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người; thực hiện chế độ phân phốichủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùngvới nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội; phát huy quyền làm chủ xã hội của nhândân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định thành công sự phát triển rútngắn, bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và côngcuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, kinh tế thị trường mới không bị chệch địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Trang 20

Về tốc độ tăng trưởng, trong những năm khởi đầu công cuộc đổi mới (1986-1990),mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 4,4%/năm, tổng sản phẩm quốc nội (GDP)tăng trưởng tương đối chậm Nhưng khi quá trình đổi mới diễn ra rộng khắp và đi vàothực chất thì tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt mức cao và ổn định kéo dài, mặc dù cólúc bị giảm sút do dự báo chủ quan và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (2006-2010), Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,32%/năm Giai đoạn2011-2015, GDP của Việt Nam tăng chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao củakhu vực và thế giới.

Năm 2008 là năm kỷ lục thu hút FDI của Việt Nam (đạt trên 60 tỷ USD) Năm

2009, dù kinh tế thế giới đang suy thoái và khủng hoảng tài chính nhưng đến nay cam kếtđầu tư nước ngoài đã đạt 18 tỷ USD Mặc dù kinh tế thế giới suy thoái nhưng Việt Namvẫn là một trong những nước đạt tăng trưởng dương (khoảng 5,2% năm 2009) Kết quảnày cũng nhờ vào chính sách mở cửa, thu hút đầu tư, tăng trưởng xuất khẩu Năm 2014,kinh tế tăng trưởng đạt 5,98%, và năm 2015, tăng trưởng GDP đạt 6,68%

Do tốc độ tăng GDP cao nên GDP/người/năm cũng tăng lên đáng kể, từ 289 USD(năm 1995) lên hơn 2.200 USD (năm 2016), cho thấy Việt Nam đang từng bước vượt quaranh giới của quốc gia đang phát triển có thu nhập thấp và đang vươn lên nước đang pháttriển có thu nhập trung bình Xét trên tổng quy mô kinh tế, thì Việt Nam chỉ xếp sauTrung Quốc về tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong 10 năm 2006-2016

Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng củacác thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu Khu vực kinh tế nhà nướcđược tổ chức lại, đổi mới và chiếm 31.9% GDP vào năm 2015 Kinh tế dân doanh pháttriển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, chiếm 48% GDP, đóng gópquan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhândân Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, chiếm 20.1%GDP, là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế Thành tựu đổi mới trong nước kết hợp với thực hiện chính sách mở cửa, tích vực vàchủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tếViệt Nam và mang lại cho Việt Nam một vị thế quốc tế mới Từ một quốc gia bị phongtỏa, cấm vận; từ một nền kinh tế kém phát triển và “đóng cửa”, sau 30 năm đổi mới, ViệtNam đã vươn mạnh ra thế giới Đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hơn 185nước và vùng lãnh thổ; mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với 172 quốc gia và vùnglãnh thổ Ngoài ra, Việt Nam còn là thành viên chính thức của nhiều tổ chức kinh tế quốc

tế và khu vực, và điều đáng nói nhất là năm 2007 Việt Nam đã trở thành thành viên chínhthức thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Ngày đăng: 31/12/2020, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w