1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng phương pháp của simon baron cohen dạy trẻ tự kỷ hiểu nội tâm người khác

54 25 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến các phương pháp như phương pháp PECSsử dụng hình ảnh dụng cải thiện khả năng giao tiếp của trẻ, phương pháp sensorimotor therapy dùng trị liệu cảm giác vận động, trị liệu b

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM KHOA GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT

Trang 2

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Baron Kiến nghị việc sử dụng phương pháp này cho việc giảng dạy cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam

2 Nội dung chính

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy trẻ tự kỷ hiểu nội tâm người khác

- Thực nghiệm phương pháp trên 3 trẻ tự kỷ

- Phân tích và đưa ra kiến nghị về việc sử dụng phương pháp trên trong việc giảng dạy cho trẻ tự kỷ Việt Nam

Trang 3

3 Kết quả chính đạt được:

- Cơ sở lý luận về phương pháp của Simon Baron-Cohen dạy trẻ tự kỷ hiểu nội tâm người khác

- Một số bài tập tình huống được điều chỉnh cho phù hợp tình huống Việt Nam

- Báo cáo kết quả ứng dụng phương pháp để dạy cho 3 trẻ tự kỷ

- Kiến nghị việc sử dụng phương pháp dạy trẻ tự kỷ hiểu nội tâm người khác

Trang 4

Cooperating Institution(s) : Psychology Unit of Children Hospital 1,

Duration : from April 2008 to April 2009

- Review literature to serve as a base on which the research derive from

- Experiment the teaching approach on Vietnamese children with autism

- Data analysis and suggestions on the use of this approach to teach Vietnamese children with autism

3 Results obtained

- Literature review of the method of teaching children with autism to mind-read

Trang 5

- Emotion situation tasks adapted to Vietnamese context

- Report on the teaching experiment

- Suggestions on the use of the method in teaching Vietnamese children with autism

to mind-read

Trang 6

CHƯƠNG MỘT: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1.Lý do chọn đề tài

1.1.1.Tình hình nghiên cứu về trẻ tự kỷ trên thế giới

Người tự kỷ nói chung và trẻ tự kỷ không phải mới xuất hiện gần đây mà đã luôn tồn tại trong lịch sử loài người Tuy nhiên, mãi đến 1943, khi Leo Kanner công bố nghiên cứu của mình về nhóm trẻ có những đặc điểm bất thường trong giao tiếp xã hội, tương tác

và hành vi kì lạ, thì người ta mới bắt đầu quan tâm và tìm hiểu đến chứng tự kỷ Số lượng trẻ tự kỷ được phát hiện và chuẩn đoán ngày càng tăng Trong chương viết về tự kỷ của giáo sư Simon Baron-Cohen trong Bách khoa toàn thư về Sự phát triển của trẻ em của Đại học Cambridge, Vương Quốc Anh (Baron-Cohen 2005), ông ước tính có khoảng 1 trên

166 trẻ nằm trong phổ tự kỷ Phổ tự kỷ là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến hiện nay

để chỉ chung những dạng tự kỷ bao gồm tự kỷ điển hình, hội chứng Asperger và tự kỷ không điển hình

Đến nay, các nhà chuyên môn đều cho rằng đây không phải là một loại “bệnh” để có thể chữa trị dứt điểm Đây là một rối loạn theo trẻ suốt đời Tuy nhiên những khó khăn của trẻ có thể đựơc cải thiện đáng kể nếu trẻ được can thiệp giáo dục kịp thời, đúng phương pháp.Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự kỷ trên thế giới trong những năm qua.Humphrey & Parkinson (2006) chia các công trình nghiên cứu về tự kỷ thành 2 nhóm, nhóm các nghiên cứu về chương trình can thiệp toàn diện và nhóm các nghiên cứu

về phương pháp dạy trẻ cụ thể Theo đó, 2 chương trình can thiệp toàn diện nổi tiếng và được ứng dụng rộng rãi ở các nước có thể kể can thiệp “early intensive behavioural intervention” ( can thiệp tăng cường cho hành vi) dựa trên Applied Behavioural Analysis ( phân tích hành vi ứng dụng) được thực hiện đầu tiên do Viện Can thiệp sớm Lovaas và chương trình TEACCH (Điều trị và giảng dạy cho trẻ có rối loạn tự kỷ và khó khăn trong giao tiếp); ngoài ra còn có chương trình Daily Life Therapy, chương trình Sonrise, chương trình Hanen Nhóm nghiên cứu các phương pháp can thiệp cụ thể tìm kiếm những biện pháp cải thiện những lĩnh vực phát triển cụ thể mà trẻ gặp khó khăn như hành vi, kĩ

Trang 7

năng giao tiếp, kĩ năng tương tác xã hội, nhạy cảm về giác quan Có thể kể đến các phương pháp như phương pháp PECS(sử dụng hình ảnh dụng cải thiện khả năng giao tiếp của trẻ), phương pháp sensorimotor therapy dùng trị liệu cảm giác vận động, trị liệu bằng

âm nhạc và dạy trẻ tự kỷ hiểu nội tâm người khác

Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không có phương pháp nào là phương pháp duy nhất và phù hợp hoàn toàn cho mọi trẻ tự kỷ (Dempsey & Foreman 2001), khi dạy cho trẻ

tự kỷ cần lưu ý đến đặc điểm của từng cá thể để lựa chọn những phương pháp hỗ trợ thích hợp cho trẻ

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về trẻ tự kỷ ở Việt Nam

Ở Việt Nam, phương tiện thông tin đại chúng gần đây đã đề cập rất nhiều đến “tự kỷ” Đài truyền hình có cả phóng sự giới thiệu về trường chuyên dạy trẻ tự kỷ ở Hà Nội

và trình chiếu một số buổi nói chuyện về đề tài này Báo giấy, tạp chí cũng đã có nhiều bài viết về tự kỷ.Ở các khoa tâm lý ở bệnh viện nhi đồng hoặc bệnh viện tâm thần ở các thành phố lớn ngày càng có nhiều phụ huynh đưa con đến khám với nghi ngờ con của mình mắc chứng tự kỷ

Số trẻ được chuẩn đoán tự kỷ ở Việt Nam cũng ngày càng tăng Theo số liệu ghi chép ở đơn vị tâm lý Bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2007 đã chuẩn đoán được 191 trường hợp trẻ tự kỷ và còn rất nhiều trẻ chưa được phát hiện và chuẩn đoán

Năm 2008 đã có 2 hội thảo lớn được tổ chức tại TPHCM và Hà Nội về “tự kỷ” tập trung nhiều nhà chuyên môn, phụ huynh và những người quan tâm Hội thảo cho thấy thực trạng phát hiện, chuẩn đoán và can thiệp giáo dục cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam Hiện nay trên cả nước chỉ có Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có cơ sở thực hiện chuẩn đoán và trị liệu cho trẻ tự kỉ như Khoa Tâm lý bệnh viện Nhi đồng 1và 2( TPHCM), Khoa Tâm lý Bệnh viện Nhi Trung Ương Về can thiệp giáo dục, ngoài các khoa tâm lý ở bệnh viện nhi, còn có một số trung tâm và trường chuyên biệt nhận dạy trẻ

Trang 8

HCM) Một số phương pháp can thiệp cho trẻ tự kỉ ở các cơ sở này là : Tâm vận động, trị liệu ngôn ngữ, trị liệu hành vi(ABA),TEACCH, chưa thấy có các phương pháp phát triển khả năng hiểu được cảm xúc người khác Đặc biệt các nghiên cứu khoa học về trẻ tự

kỷ và phương pháp dạy trẻ rất hiếm hoi

Như đã nói ở trên, không có một phương pháp can thiệp nào là hoàn toàn phù hơp cho mọi trẻ, trẻ tự kỷ gặp khó khăn phát triển diện rộng ảnh hưởng đến nhiều mặt chức năng của trẻ do đó cần có nhiều phương pháp can thiệp khác nhau để tác động đến những lĩnh vực khó khăn cụ thể của trẻ

Vì lí do này, tác giả đã thực hiện đề tài nhằm tìm hiểu việc ứng dụng một phương pháp can thiệp mới đã được nghiên cứu ở Vương Quốc Anh , phương pháp dạy trẻ tự kỷ

hiểu nội tâm người khác trên trẻ tự kỷ Việt Nam

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài ứng dụng phương pháp của Simon Baron-Cohen thực nghiệm trên trẻ tự kỷ Việt Nam nhằm mục tiêu

-Tìm hiểu xem trẻ tự kỷ Việt Nam được can thiệp bằng phương pháp này có đạt được sự tiến bộ về khả năng hiểu nội tâm người khác hay không

- Kiến nghị việc sử dụng phương pháp này cho việc giảng dạy cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu case study, thực nghiệm phương pháp trên trẻ tự kỷ Các phương pháp dùng để lượng giá kết quả thực nghiệm bao gồm :

Trang 9

- Thực nghiệm trực tiếp với trẻ qua các bài tập tình huống

- Đánh giá về sự tiến bộ của trẻ về khả năng hiểu cảm xúc người khác ( xem cách đánh giá ở phần phụ lục)

- Phỏng vấn phụ huynh về sự tiến bộ của trẻ về khả năng hiểu cảm xúc người khác

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian, kinh phí nên đề tài chỉ thực nghiệm trên các trẻ nằm trong tiêu chí chọn mẫu được chọn từ Đơn vị tâm lý Bệnh viện Nhi Đồng 1, thành phố Hồ Chí Minh Trong phương pháp của Simon Baron-Cohen dạy trẻ hiểu nội tâm người khác có các phần: dạy trẻ hiểu cảm xúc người khác, dạy trẻ hiểu niềm tin, dạy trẻ chơi giả bộ Đề tài chỉ ứng dụng phần dạy trẻ hiểu cảm xúc người khác

Trang 10

CHƯƠNG HAI: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.Trẻ tự kỷ và một số đặc điểm của trẻ tự kỷ

Năm 1943, nhà tâm thần nhi Leo Kanner đã công bố nghiên cứu của ông về một nhóm trẻ có những đặc điểm như khó khăn trong giao tiếp, thu mình, không tương tác với người khác và hành vi bất thường và ông đã sử dụng thuật ngữ “tự kỷ” để mô tả loại

“bệnh” đó Ngày nay, người ta không còn xem “tự kỷ” là một “bệnh” nữa mà là một rối

loạn phát triển diện rộng và kéo dài suốt đời trẻ Theo DSM IV ( Sổ tay chuẩn đoán và

thống kê về rối loạn tâm thần) thì tiêu chí chuẩn đoán tự kỷ gồm:

• Khiếm khuyết về giao tiếp

• Khiếm khuyết về tương tác xã hội

• Có hành vi lặp đi lặp lại và cứng nhắc trong suy nghĩ

Cụ thể, về giao tiếp, trẻ có thể không có nhu cầu giao tiếp, nhiều trẻ không phát triển ngôn ngữ lời nói, những trẻ phát triển ngôn ngữ nói thì ngôn ngữ rập khuôn, chỉ mang nghĩa đen, không thể bắt đầu hoặc duy trì cuộc hội thoại

Bên cạnh đó, khả năng giao tiếp phi ngôn ngữ cũng kém Trẻ ít giao tiếp mắt, hạn chế về biểu lộ cảm xúc trên gương mặt, hoặc qua cử chỉ điệu bộ

Trong tương tác xã hội, trẻ ít có nhu cầu tương tác với người khác Trẻ không quan tâm đến người khác, chỉ quan tâm đến nhu cầu của chính mình, tương tác không phù hợp

do không hiểu các qui tắc xã hội Trẻ không hiểu được người khác có có thế giới tinh thần riêng, có suy nghĩ, cảm xúc, tình cảm riêng

Trẻ có hành vi lặp đi lặp như lắc tay, đi vòng vòng.Ngoài ra, trẻ cũng không biết chơi đồ chơi theo chức năng Trẻ chỉ quan tâm đến một bộ phận của đồ chơi như bánh xe quay vòng Trẻ cũng không biết chơi những trò chơi phù hợp với lứa tuổi, không biết chơi trò giả bộ, tưởng tượng Trẻ không thể tự điều chỉnh cảm xúc và hành vi trước những sự thay đổi ( Hannah 2002)

Trang 11

2.2.Thuyết nội tâm và Khó khăn của trẻ tự kỷ trong việc hiểu nội tâm người khác Thuyết nội tâm

“Theory of Mind”, tạm dịch là thuyết nội tâm Thuyết nội tâm được định nghĩa là khả năng suy diễn được trạng thái tinh thần của người khác ( suy nghĩ, niềm tin, mong ước, dự định ) và khả năng sử dụng thông tin này để nắm được những gì người khác nói, hiểu được những hành vi của họ và có thể tiên đoán họ sẽ làm gì tiếp theo (Baron-Cohen 1999) Trẻ tự kỷ theo Jordan (1999) thì “không chỉ không biết người khác nghĩ gì mà thậm chí còn không biết là người khác có thể suy nghĩ và có có cảm xúc”

Đối với trẻ bình thường, từ tháng 18-30, trẻ thường đã có thể nói đến một loạt những trạng thái tinh thần: cảm xúc, mong ước, niềm, tin, ý nghĩa, giấc mơ, sự giả bộ Vào 3-4 tuổi, trẻ đã phát triển khả năng hiểu được người khác có trạng thái tinh thần riêng, trẻ ý thức được người ta lưu giữ những thông tin trong đầu

Về mặt cảm xúc, trẻ rất nhỏ đã có thể phân biệt được những biểu hiện cảm xúc của gương mặt như vui vẻ, buồn bã, giận giữ và sợ hãi Được 3 tuổi, trẻ đã có thể tiên đoán được những tình huống như thế nào thì sẽ ảnh hưởng đến cảm xúc của một người nào đó

ví dụ tình huống tốt làm người ta vui, những tình huống khó chịu làm người ta buồn bực Trẻ cũng hiểu được những mong muốn được thực hiện làm người ta vui, những mong muốn không được thỏa mãn làm người ta buồn bực Vào khoảng 4-6 tuổi, trẻ bình thường cũng hiểu được niềm tin có thể ảnh hưởng đến cảm xúc ( ví dụ, nếu 1 người suy nghĩ mình có thể có được điều mình muốn, người đó sẽ cảm thấy vui, và nếu người đó nghĩ mình sẽ không có được, thì sẽ rất buồn, không kể đến việc người đó có thật sự nhận được chưa

Nghiên cứu thực nghiệm “Sally-Anne” do Simon Baron-Cohen và đồng sự thực hiện năm 1985 cho thấy rất rõ trẻ tự kỷ không có khả năng hiểu nội tâm người khác Nghiên cứu thực hiện trên 3 nhóm trẻ: 20 trẻ tự kỷ với tuổi trí tuệ trên 4 tuổi; nhóm trẻ Hội chứng Down, và một nhóm trẻ 4 tuổi phát triển bình thường Nhiệm vụ dành cho 3

Trang 12

hỏi dành cho các trẻ trong nghiên cứu là “Sally sẽ tìm viên bi ở đâu?” 80% trẻ tự kỷ cho rằng Sally sẽ tìm trong hộp Ngược lại, 86% trẻ hội chứng Down trả lời đúng rằng Sally

sẽ tìm trong rổ Dĩ nhiên trẻ bình thường thực hiện bài kiểm tra này dễ dàng Nghiên cứu này cho thấy, trẻ tự kỷ không có khả năng hiểu được rằng người khác có trạng thái tinh thần và đôi khi những cảm xúc hoặc suy nghĩ của họ khác biệt với thế giới thực tại

Không có khả năng hiểu nội tâm người khác thể hiện thành những hạn chế ở trẻ tự kỷ, cụ thể như

(i) Không có sự nhạy cảm đối với cảm giác của người khác:

(ii) Không có khả năng biết người khác biết gì

(iii) Không có khả năng kết bạn bằng cách đọc được và phản ứng với những ý kiến của người khác

(iv) Không có khả năng đọc được mức độ hứng thú của người nghe dựa vào lời nói của người đó

(v) Không có khả năng phát hiện ra ẩn ý của người nói

(vi) Không có khả năng đoán được người khác sẽ nghĩ thế nào về hành động của người nào đó

(vii) Không có khả năng hiểu việc hiểu lầm

(viii) Không có khả năng che dấu hoặc hiểu được sự lừa gạt

(ix) Không có khả năng hiểu được những lí do đằng sau hành động của người khác (x) Không có khả năng hiểu những “luật bất thành văn” hoặc những thông lệ (Howlin,Baron-Cohen& Hadwin 1999)

2.3.Phương pháp của Simon Baron-Cohen dạy trẻ tự kỷ hiểu nội tâm người khác

Vấn đề khó khăn của trẻ tự kỷ là kĩ năng giao tiếp và xã hội Thông thường, các chương trình giảng dạy cho đối tượng này thường tập trung dạy những hành vi xã hội được chấp nhận

Tuy nhiên, giáo sư Simon Baron-Cohen (1999) cho rằng phát triển việc hiểu biết những quy ước xã hội có thể đem đến nhiều thay đổi trong hành vi xã hội Nghĩa là, thay

vì cố thay đổi những hành vi cụ thể trong một hoàn cảnh cụ thể, can thiệp nên hướng đển

Trang 13

cải thiện việc hiểu các quy ước xã hội để có thể tạo nên những thay đổi lớn và có chất lượng cho kĩ năng giao tiếp xã hội Ông và nhóm nghiên cứu của mình đã nghiên cứu và đưa ra phương pháp “dạy trẻ tự kỷ hiểu nội tâm người khác” (Teaching children with autism to mind-read)

Dựa vào thuyết nội tâm, giáo sư Simon Baron-Cohen đã chia trạng thái tinh thần làm 3 phần,mỗi phần thành 5 mức độ từ đơn giản đến phức tạp

Bảng 1.Năm mức độ dạy trạng thái tinh thần

MỨC 1

Nhận diện cảm xúc qua hình chụp mặt người ( vui/ buồn/ giận /sợ)

Nắm khía cạnh đơn giản

Trò chơi giác quan vận động

MỨC 2

Nhận diện cảm xúc qua hình vẽ mặt người ( vui/ buồn/ giận / sợ)

Nắm khía cạnh phức tạp

Trò chơi chức năng ([ 2 ví dụ)

MỨC 3

Những cảm xúc dựa trên tình huống ( vui/ buồn/ giận / sợ)

Nhìn dẫn tới biết ( bản thân/ người khác)

Trò chơi chức năng (> 2 ví dụ)

MỨC 4

Những cảm xúc dựa trên mong muốn ( vui/ buồn/ giận /sợ)

Đoán hành động/

niềm tin thật

Trò chơi giả bộ ( [2 ví du)

MỨC 5

Những cảm xúc dựa trên niềm tin ( vui/

buồn/ giận / sợ)

Niềm tin giả Trò chơi giả bộ (

> 2 ví du)

(Howlin,Baron-Cohen& Hadwin 1999, tr.15)

Trang 14

Nhóm nghiên cứu của giáo sư Simon Baron-Cohen đã thực nghiệm phương pháp này cho trẻ tự kỷ Trẻ được chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm được dạy một phần: cảm xúc, niềm tin, hoặc giả bộ

Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả giới hạn ở phần dạy cảm xúc cho trẻ tự kỷ

Sau đây là một số hình minh hoạ tình huống dạy cảm xúc

Những tình huống gây sợ hãi

Giáo viên: Miêu tả bức tranh cho trẻ và yêu cầu trẻ cho biết nhân vật trong chuyện cảm thấy thế nào, hoặc chỉ vào những hình khuôn mặt diễn tả tâm trạng ở dưới

Hình 1: Con cho to đang rượt theo Dan trên đường

Câu hỏi cảm xúc: Dan cảm thấy thế nào khi con chó đuổi theo cậu?

Gợi ý: Cậu sẽ cảm thấy vui/buồn/giận dữ/ sợ hãi?

Câu hỏi lý giải: Tại sao cậu cảm thấy vui/buồn/giận dữ/ sợ hãi?

(Howlin, Baron-Cohen & Hadwin 1999)

Trang 15

Đặc điểm của phương pháp của Simon Baron-Cohen dạy trẻ hiểu cảm xúc người khác

Cảm xúc là một trạng thái tinh thần và là một khái niệm rất khó để có thể truyền đạt cho trẻ Do đó, để dạy trẻ, cảm xúc cần được đơn giản hóa và mức độ khó được nâng dần lên để trẻ có thể hiểu được Việc giáo sư Simon Baron-Cohen chia cảm xúc thành 5 mức

độ từ khó đến dễ đã đáp ứng được yêu cầu trên.Ngoài ra, ông còn đưa nhiều tình huống khác nhau cho mỗi cảm xúc để giúp trẻ khái quát hóa

Phương pháp này cũng nhấn mạnh đến việc sử dụng hình ảnh minh họa các tình huống khác nhau, phù hợp với việc học thông qua kênh nhìn của trẻ tự kỷ Nhân vật được

vẽ trong các tình huống không có nét cảm xúc trên gương mặt Nhiệm vụ của trẻ là phải dựa vào tình huống để hiểu được nhân vật đó có cảm xúc gì

Trang 16

CHƯƠNG BA: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Qui trình thực hiện

Tiêu chí chọn mẫu: Trẻ được chuẩn đoán tự kỷ, độ tuổi từ 4-13 tuổi, tuổi ngôn ngữ tương đương 3 tuổi

Qui trình chọn mẫu: Mẫu được chọn từ số trẻ được chuẩn đoán tự kỷ ở Đơn vị tâm

lý Bệnh viện Nhi Đồng 1 Trẻ đến đơn vị Tâm lý được chuẩn đoán, đánh giá qua các test: test PEP-r (Psychology Education Profile), test Thang Lượng Giá Bệnh Tự Kỷ Trẻ Em (CARS), , trẻ được xác định là tự kỷ hay không và tuổi phát triển ngôn ngữ

Sau khi trẻ được chọn theo tiêu chí chọn mẫu, trẻ sẽ được đánh giá khả năng hiểu cảm xúc người khác ( xem bảng hướng dẫn cách đánh giá khả năng hiểu cảm xúc người khác ở phần phụ lục 1)

Những trẻ có thể làm được tất cả các mức độ trong bài test thì sẽ không nằm trong mẫu được can thiệp

Kết quả chọn mẫu :3 trẻ được chọn để can thiệp

Bảng 2 Kết quả chọn mẫu

Tuổi đời Ngày làm test

PEP

Tuổi ngôn ngữ

Trang 17

Thực nghiệm phương pháp để dạy trẻ

Thời lượng giảng dạy: trong 10 tuần, mỗi tuần 1 buổi dạy kéo dài từ 30-45 phút (Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999)

Nội dung và phương pháp dạy:

Mức 1: Nhận dạng cảm xúc qua hình chụp nét mặt cảm xúc

Vật dụng: Chuẩn bị các hình chụp mặt người biểu hiện cảm xúc vui/buồn/giận/sợ Bắt đầu bằng hình chụp của giáo viên đang thể hiện 4 cảm xúc trên Sau đó là chụp hình những người thân quen trong gia đình trẻ và đến hình chụp người lạ

Qui trình dạy:

Bước 1: Dạy từng cảm xúc

Cảm xúc vui: Cho trẻ xem hình chụp mặt vui của giáo viên

Hỏi: Người trong hình vui/buồn vậy con?

Nếu trẻ không trả lời được thì dạy trẻ

Nói: “Người trong hình vui Đây là gương mặt vui Đưa gần mặt giáo viên Con xem này,

cô vui này”

Củng cố hình chụp mặt vui bằng các hình chụp mặt vui của người thân quen và người lạ

để trẻ khái quát hoá Để hình chụp mặt vui của người thân gần hình cô giáo và nói: “con xem này, cô vui Mẹ cũng vui”

Tương tự: dạy hình chụp mặt buồn/ giận/sợ của giáo viên và củng cố bằng các hình chụp của người thân và người lạ

Bước 2: phân biệt hình chụp các cảm xúc

Giáo viên: Đưa ra 4 hình chụp 4 gương mặt cảm xúc vui/buồn/giận/sợ

Chọn một trong bốn biểu hiện của gương mặt và yêu cầu trẻ chỉ vào

Hỏi: Con chỉ cho cô gương mặt vui/ buồn/giận / sợ

Nếu trẻ không trả lời được thì dạy trẻ “ đây rồi, đây là gương mặt vui/buồn/giận/ sợ

Mức 2: Nhận dạng cảm xúc từ hình vẽ

Trang 18

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.26)

Qui trình dạy:

Bước 1: Dạy từng cảm xúc

Cảm xúc vui: Cho trẻ xem hình vẽ mặt vui

Hỏi: Mặt trong hình vui/buồn vậy con?

Nếu trẻ không trả lời được thì dạy trẻ:

Nói: “Mặt trong hình vui Đây là gương mặt vui Đưa gần hình chụp mặt giáo viên Con xem này, miệng cười giống hình cô này”

Tương tự: dạy hình vẽ mặt buồn/ giận/sợ

Bước 2: phân biệt hình vẽ các cảm xúc

Giáo viên: Đưa ra 4 hình vẽ 4 gương mặt cảm xúc vui/buồn/giận/sợ

Chọn một trong bốn biểu hiện của gương mặt và yêu cầu trẻ chỉ vào

Hỏi: Con chỉ cho cô gương mặt vui/ buồn/giận / sợ

Nếu trẻ không trả lời được thì dạy trẻ “ đây rồi, đây là gương mặt vui/buồn/giận/ sợ

Mức 3 Nhận dạng cảm xúc dựa vào tình huống

Vật dụng : Chuẩn bị các hình tình huống ( sử dụng các hình tình huống trong sách

Howlin, P., Baron-Cohen, S & Hadwin, J (1999) Teaching Children with Autism to Mind-Read Wiley England).Với mỗi cảm xúc, có 12 hình tình huống khác nhau

Qui trình dạy:

Bước 1: Dạy trẻ từng cảm xúc

Cho trẻ xem hình, miêu tả tình huống trong hình

Ví dụ : Con chó to đang đuổi theo bạn Bình

Trang 19

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr 31)

Hỏi trẻ: Bình cảm thấy như thế nào khi bị con chó to đuổi theo? Bạn ấy cảm thấy

vui/buồn/giận/sợ?

Nếu trẻ không trả lời được câu hỏi cảm xúc thì dạy trẻ “ Bạn ấy cảm thấy sợ”

Dùng lời và cử chỉ để minh hoạ thêm nếu cần VD : “Con chó to lắm, bạn Bình sợ con chó sẽ cắn mình Ôi chao, đau lắm”

Tượng tự cho các cảm xúc dựa trên tình huống khác

Một số tình huống không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam đã được biên soạn, vẽ lại cho phù hợp

Ví dụ: Tình huống: Bạn Minh thích đựơc đạp xe đến cửa hàng bách hoá

Trang 20

Tình Huống: Bạn Bảo được đi xe gắn máy với ba

Bước 2: Phân biệt các tình huống cảm xúc

Cho trẻ xem 4 tình huống của 4 cảm xúc vui/buồn/giận/sợ

Hỏi: Bạn nào cảm thấy sợ Con hãy chỉ vào hình cho cô? Vì sao?

Nếu trẻ không trả lời được thì dạy trẻ “Bạn Bình cảm thấy sợ, đây là hình bạn Bình cảm thấy sợ Bạn sợ con chó to đuổi theo”

Mức 4: Nhận diện cảm xúc dựa trên mong muốn

Khi một người được thoả mãn mong muốn của mình, người đó sẽ cảm thấy vui, nếu không được thoả mãn mong muốn, người đó sẽ cảm thấy buồn

Vật dụng: Chuẩn bị 24 hình chỉ cảm xúc dựa trên mong muốn được thoả mãn, nhân vật trong hình cảm thấy vui Và 24 hình chỉ cảm xúc dựa trên mong muốn không được thoả mãn, nhân vật trong hình cảm thấy buồn

Bước 1: Dạy từng cảm xúc

Cho trẻ xem hình, miêu tả tình huống trong hình

Ví dụ 1: Bạn Hồng muốn ăn táo

Trang 21

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.83)

Kết quả: Mẹ cho bạn Hồng trái táo

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.83)

Hỏi: Bạn Hồng sẽ cảm thấy thế nào?

Nếu trẻ không trả lời được Dạy trẻ “Bạn Hồng sẽ cảm thấy vui vì được mẹ cho táo Đúng với điều bạn muốn”

Muốn

Trang 22

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.107)

Mẹ cho bạn Hồng trái táo

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.107)

Hỏi: Bạn Hồng sẽ cảm thấy thế nào?

Nếu trẻ không trả lời được Dạy trẻ “Bạn Hồng sẽ cảm thấy buồn vì mẹ cho táo Không đúng với điều bạn muốn”

Mức 5: Nhận diện cảm xúc dựa trên niềm tin

Cảm xúc này xuất hiện khi một người nào đó tin vào một chuyện gì đó sẽ xảy ra, dù chuyện đó có xảy ra đúng hoặc không đúng với thực tế Mong ước và niềm tin của nhân

Muốn

Trang 23

vật sẽ được biểu hiện bằng 2 hình đen trắng nhỏ chèn vào hình lớn Bức cuối cùng cho biết kết quả thực tế

Có 4 trường hợp cảm xúc dựa trên niềm tin như sau:

1 Niềm tin đúng với thực tế / Niềm tin giống với mong muốn

Niềm tin

Tuấn nghĩ rằng mẹ

sẽ mua cho mình hộp màu vẽ

Cảm xúc: Vui

Kết quả

Mẹ đưa cho Tuấn hộp màu, Tuấn cầm hộp màu vẽ

Cảm xúc: Vui

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.136)

2 Niềm tin đúng với thực tế / Niềm tin không giống với mong muốn

Thực tế

Mẹ mua cho Quân

máy bay đồ chơi

Trang 24

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.160)

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.161)

3 Niềm tin không đúng với thực tế/ Niềm tin không giống với mong muốn

Trang 25

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.184)

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.185)

4 Niềm tin không đúng với thực tế/ Niềm tin trùng với mong muốn

Niềm tin

Ngọc nghĩ bà sẽ tặng búp bê cho minh

Cảm xúc: Vui

Kết quả

Bà đưa cho Ngọc gấu bông

Cảm xúc: Buồn

Nghĩ Muốn

Trang 26

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.208)

(Howlin, Baron-Cohen, & Hadwin 1999, tr.209)

Vật dụng: Chuẩn bị mỗi trường hợp 12 hình khác nhau

Qui trình dạy:

Dạy trẻ nếu niềm tin trùng với mong muốn, người đó sẽ cảm thấy vui Nếu niềm tin

không trùng với mong muốn, người đó sẽ cảm thấy buồn

Dạy trẻ, đôi khi niềm tin không đúng với thực tế

Sau khi dạy các nội dung trên được 10 buổi hoặc khi trẻ đã đạt được mức cao nhất thì dừng việc giảng dạy và làm test lần 2 cho trẻ

Trang 27

3.2.Các phương pháp lượng giá việc ứng dụng phương pháp của Simon

Baron-Cohen dạy trẻ tự kỷ hiểu nội tâm người khác

3.2.1 Sử dụng test khả năng hiểu cảm xúc người khác

Mục tiêu

Mục tiêu của việc sử dụng test là để xác định mức khởi điểm về khả năng hiểu nội tâm của người khác và xác định mức đạt được của trẻ sau khi được giảng dạy phương pháp Việc so sánh mức khởi điểm và mức đạt được sẽ cho thấy trẻ có tiến bộ trong việc hiểu nội tâm người khác hay không

Nội dung

Bài test được thiết kế dựa trên bài test của nhóm nghiên cứu của giáo sư Simon Cohen (Howlin, Baron-Cohen, Hadwin, & Hill 1996)

Baron-Bài test phân mức độ hiểu cảm xúc người khác làm 5 mức độ:

Mức 1: Nhận diện cảm xúc qua hình chụp mặt người ( vui/ buồn/ giận dữ/sợ)

Mức 2: Nhận diện cảm xúc qua hình vẽ mặt người ( vui/ buồn/ giận dữ/sợ)

Mức 3: Những cảm xúc dựa trên tình huống ( vui/ buồn/ giận dữ/sợ)

Mức 4: Những cảm xúc dựa trên mong muốn ( vui/ buồn/ giận dữ/sợ)

Mức 5: Những cảm xúc dựa trên niềm tin ( vui/ buồn/ giận dữ/ sợ)

(Xem bài test cụ thể ở phần phụ lục 1)

Qui trình thực hiện

Để đảm bảo tính khách quan của kết quả test, tác giả đã nhờ chuyên gia chuyên thực hiện test ở đơn vị tâm lý Bệnh viện Nhi Đồng 1 thực hiện test Người này được tập huấn

về nội dung test, cách đặt câu hỏi khi test, và cách ghi kết quả test

Trẻ được test trước khi vào chương trình can thiệp và sau khi trẻ được can thiệp đủ

số buổi hoặc khi học trẻ thể hiện thành công ở mức 5, mức cao nhất của bài test

Ngày đăng: 31/12/2020, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w