1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Enseignement du francais sur objectifs spécifiques á lécole supérieure des douanes élaboration d1un livret niveau de base du francais de la douane pour les étudiants en formation initiale application pédagogique sur un dossier type

89 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 345,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lãnh đạo Tổng cục Hải quan đã giao cho Trường Cao đẳng Hải quan chịu trách nhiệm chính trong việc chuẩn bị chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình giảng dạy, song cho đến nay Trường v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐHSP- TPHCM - & -

Người thực hiện: GIANG THỊ THIỀM

Enseignement du français sur objectifs spécifiques à l’Eùcole Supérieure

des Douanes

Eùlaboration d’un livret niveau de base

du français de la douane pour les

étudiants en formation initiale

Application pédagogique sur un

dossier- type

Chuyên ngành:

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIẾNG PHÁP

TP Hồ Chí Minh- Năm 2005

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay trong kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu

“hiện đại hóa” giai đoạn 2004-2010, việc đào tạo ngoại ngữ cho công chức đã trở thành việc cấp thiết Lãnh đạo Tổng cục Hải quan đã giao cho Trường Cao đẳng Hải quan chịu trách nhiệm chính trong việc chuẩn bị chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình giảng dạy, song cho đến nay Trường vẫn chưa có bộ giáo trình ngoại ngữ chuyên ngành hoàn chỉnh, phù hợp với các nhóm đối tượng người học Do vậy là một giáo viên dạy tiếng Pháp của trường CĐHQ, tôi đã có nhiều trăn trở và quyết định chọn đề tài nghiên cứu này với hy vọng đem đến cho học viên của Trường cuốn giáo trình phù hợp với nhu cầu, thực tế công việc và thời gian của học viên, đóng góp phần nhỏ bé cho sự nghiệp đào tạo của ngành hải quan

2 Sơ lược tình hình nghiên cứu

Tại trường CĐHQ những năm trước đây đã có tập bài giảng ngoại ngữ ( Anh, Pháp, Trung) chuyên ngành hải quan do nhóm giáo viên ngoại ngữ của trường biên soạn, song đến nay tập bài giảng này cần phải điều chỉnh nhiều cho phù hợp với sự đổi mới và hoạt động đa dạng của hải quan Hơn nữa những tài liệu giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành hải quan của nước ngoài lại không phù hợp với thực tế của hải quan Việt nam… Đề tài nghiên cứu này sẽ là những cải tiến mới về phương pháp, nội dung so với tập bài giảng đã có, là sự tham khảo và lựa chọn các vấn đề sát thực với thực tế hoạt động của hải quan Việt nam từ các tài liệu của nước ngoài, xây dựng một tài liệu bổ ích cho người học Việt nam Đây là đề tài mang tính thực tiễn do vậy đã được sự ủng hộ của Lãnh đạo trường CĐHQ và đông đảo học viên, sinh viên của Trường

Tĩm tắt:

3 Nội dung nghiên cứu

Ở luận văn này chúng tôi đi sâu nghiên cứu

Trang 3

3.3: Biên soạn một bài học hoàn chỉnh trong cuốn giáo trình tiếng pháp chuyên ngành

4 Phương pháp nghiên cứu

Ở luận văn này chúng tôi sử dụng một số

phương pháp sau:

4.1: phương pháp luận:

- Xuất pháp từ phương pháp giảng dạy ngoại ngữ, đặc biệt từ phương pháp giảng dạy tiếng Pháp cho người nước ngoài, phương pháp dạy tiếng Pháp chuyên ngành và phương pháp biên soạn giáo trình mà bản thân tác giả đã được học trong chương trình đại học và sau đại học

- Xuất phát từ nhiệm vụ chính trị của trường Cao đẳng Hải quan trong việc đào tạo công chức đáp ứng cho việc“ hội nhập kinh tế quốc tế”

4.2: các phương pháp nghiên cứu dự kiến

- Phương pháp nghiên cứu – phân tích

- Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến

- Phương pháp tham khảo tài liệu

- phương pháp đối chiếu, so sánh Các phương pháp được sử dụng phụ thuộc

vào các nội dung khác nhau trong đề tài

5 Đóng góp của luận văn

- Luận văn sẽ giúp người đọc hiểu rõ về trường Cao đẳng Hải quan và tình hình giảng dạy tiếng Pháp chuyên ngành tại Trường

- Cung cấp cho giáo viên và học viên một đề cương chi tiết cuốn giáo trình tiếng Pháp chuyên ngành hải quan cơ sở dành cho sinh viên hệ chính quy

- Cung cấp một bài học mẫu làm cơ sở tham khảo để biên soạn những bài kế tiếp theo đề cương chi tiết đã giới thiệu

- Giúp cho giáo viên và học viên trường CĐHQ có cuốn giáo trình phù hợp với đặc thù công việc của họ

6 Kết cấu của luận văn

Phần I: Tình hình giảng dạy tiếng pháp chuyên ngành tại

trường Cao đẳng Hải quan

I.1 Giới thiệu trường CĐHQ

I.1.1 Tổ chức

Trường CĐHQ gồm 4 khoa ( khoa Kiểm tra giám sát, Thuế hải quan; khoa Kiểm soát hải quan, khoa Giáo dục Cơ bản; khoa Ngoại ngữ), 2 phòng chức

Trang 4

năng( phòng Tổ chức- Hành chính- Tài vụ; phòng Quản lý Đào tạo và Nghiên cứu khoa học); 1 trung tâm Bồi dưỡng cán bộ, công chức với 2 chi nhánh( một ở Hà nội, một ở Trường)

I.1.2 Đội ngũ giáo viên

Giáo viên cơ hữu của trường không đông ( 26 người), để đảm đương nhiệm vụ đào tạo cán bộ cho cả ngành, trường CĐHQ còn có thêm đội ngũ giáo viên thỉnh giảng đến từ các trường đại học, cao đẳng khác và các cán bộ có kinh nghiệm ở hải quan các địa phương, cơ quan Tổng cục Hải quan Giáo viên Trường CĐHQ ngoài kiến thức đại cương , họ phải có thêm kiến thức chuyên ngành hải quan Riêng môn tiếng Pháp có 2 giáo viên và đảm nhận dạy toàn bộ phần tiếng Pháp chuyên ngành

I.1.3 Học viên/ sinh viên

Học viên, sinh viên của Trường khá đa dạng:

- Sinh viên hệ chính quy, phải qua kỳ thi tuyển đại học và chương trình học là 3 năm Ngoài kiến thức đại cương, họ còn phải học về kiến thức chuyên ngành, khi tồt nghiệp được cấp bằng “ Cử nhân Cao đẳng Hải quan”

- Học viên đến từ các đơn vị chức năng thuộc cơ quan Tổng cục hải quan, từ các đơn vị hải quan địa phương

( số học viên này theo học ở các lớp tâp trung không thường xuyên tại Trường hoặc các lớp đào tạo ngắn hạn)

- Học viên là các nhân viên của các doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến hải quan

I.2 Các ngoại ngữ và vị trí của việc giảng dạy ngoại

ngữ tại Trường CĐHQ

Ba ngoại ngữ chính được dạy cho học viên, sinh viên là Anh, Pháp, Hoa Tổng số thời gian học ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính qui là 520 tiết ( 180-200 tiết ngoại ngữ đại cương, 320 ngoại ngữ chuyên ngành) Ngoại ngữ là môn bắt buộc trong kỳ thi tuyển công chức hải quan

I.2.1 Thực trạng của việc giảng dạy tiếng Pháp ở trường

CĐHQ

Tiếng Pháp chỉ được dạy rộng rãi cho sinh viên từ năm học 1996-1997, là

một trong 3 ngoại ngữ bắt buộc ở kỳ thi tuyển sinh của trường Số sinh viên theo học các lớp tiếng Pháp chỉ bằng 1/3 số sinh viên học tiếng Anh, các lớp tiếng Pháp không được mở thường xuyên ở các khoá học ( 4/8 khoá hệ chính quy có lớp tiếng Pháp)

Trang 5

I.2.2 Hieôn tráng, giaùo trình vaø caùc hoê trôï cho giạng dáy

Laõnh ñáo Toơng cúc Hại quan vaø Tröôøng Cao ñaúng Hại quan luođn táo mói ñieău kieôn thuađn lôïi cho vieôc giạng dáy nađng cao trình ñoô ngoái ngöõ cho sinh vieđn vaø cođng chöùc hại quan Trang thieât bò duøng giạng dáy ngoái ngöû ñaõ döôïc cại thieôn daăn, caùc lôùp hóc ngoái ngöõ ñöôïc phađn boơ phuø hôïp vôùi tính chaât mođn hóc ( 25-40 hóc vieđn/ lôùp), tröôøng coù 2 phoøng hóc tieâng phúc vú cho vieôc giạng dáy ngoái ngöõ Nhöng hóc sinh hóc ngoái ít khi ñöôïc tieâp xuùc vôùi giaùo vieđn ngöôøi nöôùc ngoaøi tái tröôøng

I.2.3 ñaùnh giaù keât quạ

Tính ñeân naím 2005 ñaõ coù 833 cöû nhađn Cao ñaúng Hại quan toât nghieôp, 476 ngöôøi ñaõ trôû thaønh cođng chöùc hại quan vaø cođng taùc ôû caùc ñôn vò, 30% soâ sinh vieđn naøy ñaõ coù nhöõng keât quạ toât trong cođng vieôc, 70% söû dúng ñöôïc kieân thöùc ngoái ngöõ ñaõ hóc vaøo cođng vieôc, moôt soâ caùn boô trẹ tham gia caùc khoaù ñaøo táo cụa Hại quan theẫ giôùi ñát keât quạ, khạng ñònh vò theâ cụa hại quan Vieôt nam trong hoôi nhaôp quoâc teâ

Phaăn II: Soán ñeă cöông chi tieât cuoân giaùo trình

tieâng Phaùp chuyeđn ngaønh cô sôû cho sinh vieđn heôchính quy

II.1 vò trí cụa tieâng Phaùp chuyeđn ngaønh hại quan

Giạng dáy tieâng Phaùp chuyeđn ngaønh ñöôïc döïa tređn nhu caău thöïc teâ cụa

ngöôøi hóc neđn caăn phại ñaùp öùng nhu caău cụa ngöôøi hóc Giạng dáy tieâng Phaùp chuyeđn ngaønh hại quan cuõng tuađn thụ giaùo hóc phaùp cụa mođn ngoái ngöõ chuyeđn

ngaønh Tuy nhieđn khi nghieđn cöùu vaân ñeă naøy, chuùng tođi ñaõ chón “ Scheùma

progressif” ñeơ bieđn soán taøi lieôu giạng dáy tieâng phaùp chuyeđn ngaønh cho hóc

vieđn hại quan vôùi múc tieđu giuùp hóc vieđn thöïc haønh toât tieâng Phaùp trong caùc tình huoâng thöïc teâ tái cöûa khaơu

II.2 Caùc vaân ñeă caăn giạng dáy

II.2.1 Tieân ñoô cụa cuoân giaùo trình

Giaùo trình ñöôïc bieđn soán tređn cô sôû caùc tình ghuoâng giao tieâp chính cụa hại quan, khai thaùc nhieău haønh ñoông lôøi noùi khaùc nhau trong cođng vieôc haøng ngaøy

II.2.1.1 Caùc haønh ñoông lôøi noùi

Trong moêi tình huoâng giao tieâp chính coù nhieău haønh ñoôpng lôøi noùi ñöôïc khai

thaùc vaø minh hóa, ñieơn hình laø 12 “actes de langage” nhö: hoûi vaø kieơm tra hoô

Trang 6

chiếu, tờ khai hành lý XNK, cung cấp thông tin cho hành kháck, hướng dẫn chủ hàng khai tờ khai hàng hoá XNK, yêu cầu xuất trình các giấy tờ đi kèm tờ khai, kiểm tra giấy phép nhập khẩu, yêu cầu xuất trình danh sách thuỷ thủ đoàn, trao đổi với đồng nghiệp nước ngoài, bày tỏ ý kiến cá nhân tại hội thaỏ, phát biểu tại hội nghị chuyên ngành của hải quan quốc tế

II.2.2.2 Các tình huống giao tiếp chính

Trong cuốn giáo trình cơ sở này, mọi hành động lời nói đều được xây dựng

dựa trên 4 tình huống giao tiếp chính:

- Tình huống 1: kiểm tra tờ khai xuất nhập cảnh của hành khách

- Tình huống 2: kiểm tra hàng hoá xuất nhập khẩu tại cảng biển, cảng sông

và cửa khẩu biên giới đất liền

- Tình huống 3: theo dõi và quản lý hàng đầu tư, gia công, hàng hoá phi mậu

dịch qua đường bưu điện

- Tình huống 4: Đào tạo nâng cao của hải quanViệt nam

II.2.2 Nội dung cuốn giáo trình

II.2.2 Nội dung từ vựng

Khi soạn tài liệu để dạy từ vựng chúng tôi đều xuất phát từ các bài khoá, bài hội thoại Những thuật ngữ chuyên ngành được chọn lọc từ những tài liệu chính thống cũng phải sát với thực tế công việc của hải quan Việt nam Cả cuốn sách có khoảng 550 từ mới, mỗi một bài có khoảng 35-45 từ mới trong đó 75% được dùng theo hình xoáy ốc Số từ mới này đều được phân chia số lượng và dùng trong các tình huốg giao tiếp, tuy nhiên số lần sử dụng ở các tình huống không giống nhau Toàn bộ từ mới đều được thống kê ở phần bảng từ, có dịch nghĩa sang tiếng việt

II.2.3 Các yếu tố ngữ pháp

Các yếu tố ngữ pháp được tập hợp để giảng dạy đều rút ra từ các bài khóa, bài hội thoại, không theo thứ tự và đều đã được giới thiệu trong phần tiếng Pháp đại cương song được sử dụng theo tình huống giao tiếp và theo hình xoáy ốc Mọi kiến thức ngữ pháp được cụm lại theo nhóm, tạo nên một khối thống nhất thuận lợi cho đối tượng người học Việt nam Bài tập thực hành trong các bài phong phú về thể loại song vẫn nằm trong ngữ cảnh thực tế của hải quan, những dạng bài tập như vậy đều đã được đưa vào trong phần tiếng Pháp đại cương

Trang 7

II.2.4 Phương diện văn hoá xã hội

Cuốn sách đưa ra những kiến thức liên quan đến nét đặc thù của hải quan thế giới như : các qui định trong luật hải quan, các loại tờ khai, các hoạt động, thái độ làm việc, cách ứng xử , tinh thần làm việc… Để hải quan Việt nam thấy được sự khác biệt, để rối làm quen và giúp cho việc giao tiếp, hội nhập thuận lợi hơn Mọi khía cạnh văn hóa- xã hội đư a ra đều với mục đích phục vụ các tình huống gia tiếp của hải quan, nâng cao kiến thức hiểu biết đối tác nước ngoài

II.2.3 Phương pháp luận

II.2.3.1 Phương pháp học

Trong cuốn giáo trình này, chúng tôi không tuân thủ phương pháp truyền thống mà đi theo phương pháp giao tiếp, tăng cường khai thác các hành vi lời nói Người học có thể tìm ra cách đi riêng cho mình, cách khai thác các tình huống khác nhau Việc tựï đánh giá của học viên được chú trọng, người học coi các bài tập củng cố như là phần tự đánh giá Người học có thể tìm thấy cho mình một phương pháp tốc độ phụ thuộc vào kỹ năng mà họ cần thực hành

( khả năng nói và viết) hay kết hợp cả nói và viết…

II.2.3.2 Cách khai thác một bài cụ thể

Một bài được phân phối thời gian là 15 tiết bao hàm cả thời gian làm bài trong sách bài tập Giáo viên có thể lựa chọn khai thác theo 5 cách tuỳ từng bài:

- “Entrée par la tâche à accomplir” đây là cách khai thác tập thể ngay từ trang

đầu tiên của bài, người học có thể định vị được các vẫn đề đã hiểu Cách khai thác này kéo sự tập trung của người học ngay từ đầu

- “ Entrée par la découvert des documents et des transcription ” , đây là cách khai

thác tạo cho người học có thể có những giả thiết nhằm giải quyết các vấn đề từ các tài liệu, tìm ra điều khác biệt

- “ Entrée par les éléments langagiers” các yếu tố ngôn ngữ được xác định từ

phần nội dung bắt buộc

- “ Entrée par les illustrations ou les documents” cách khai thác này cho phép xác

định được mục tiêu giao tiếp trong bài, nó có thể tạo ra một tình huống thú vị cho người học

- “” đây là cách khai thác từ các chi tiết chính ngay từ trang đầu của bài Với

cách khai thác này người học không thể bỏ qua các yếu tố chủ yếu cần giao tiếp., tuy nhiên cũng dễ tạo ra sự mất cân đối giữa các mục tiêu giao tiếp

Như vậy trong 5 cách khai thác , chúng tôi thiên nhiều về cách” la découverte

des documents et des transcriptions” và

“Entrée par les éléments linguistiques ou informatifs”

Trang 8

II.3.Cấu trúc cuốn giáo trình

II.3.1 Giới thiệu cuốn giáo trình

• Các chức năng chính

- chức năng kỹ thuật

- chức năng sư phạm

- chức năng thể chế

- chức năng văn hoá- xã hội

• Các tiêu chí

Các tiêu chí liên quan đến các giai đoạn học tập:

- liên quan đến tình huống học tập

- liên quan đến việc đánh giá kiến thức tiếp thu của người học

- liên quan đến việc củng cố các kiến thức đã tiếp thu

- liên quan đến việc chuyển tải các kiến thức đã tiếp thu

II.3.2 Giới thiệu các bài trong cuốn giáo trình

Giáo tình gồm 12 bài dựa trên cơ sở của 4 tình huống chính:

- Bài 1:” Kiểm tra tờ khai xuất nhập cảnh của hành

khách.”

- Bài 2: “ Mời ông xuất trình hộ chiếu.”

- Bài 3: “ Tại phòng quản lý hành lý thất lạc”

- Bài 4: “Bà có hoá đơn thương mại của những hàng hoá

này không?”

- Bài 5: “ Ông có biết tiêu chuẩn hành lý cá nhân

không?”

- Bài 6: “ Bà đã khai báo hành lý chưa?”

- Bài 7: “ Ông ấy có 2 bưu kiện”

- Bài 8:” Giấy phép đầu tư của ông đâu?”

- Bài 9: “ Cho tôi kiểm tra hàng mẫu”

- Bài 10: “ Ngài Cục Trưởng tại Bruxelles”

- Bái 11: “ Anh ấy đi thực tập tại Pháp”

- Bài 12: “ Ông Rouge đi công tác tại Việt nam”

Trong 12 bài chúng tôi luôn khai thác theo 2 trục chính là giao tiếp và ngữ pháp

• Phương diện giao tiếp

Mọi chủ đề giao tiếp đều xoay quanh 4 tình huống chính, kể cả giao tiếp trực tiếp hay giao tiếp gián tiếp trên văn bản, tài liệu Các tình huống giao tiếp thay đổi theo ngữ cảnh làm việc của hải quan và có sự gắn kết qua lại

• Phương diện ngữ pháp

Các chi tiết ngữ pháp đưa ra ở mỗi một bài đều khác nhau vì nó được dùng theo tình huống khác nhau, theo ngữ cảnh khác nhau Trong mẫu bài ta

Trang 9

gặp phần giới thiệu về các yếu tố ngữ pháp với tiêu mục” Votre grammaire”,

các bài tập áp dụng cũng chủ yếu xoay quanh các vấn đề ngữ pháp đã nêu

II.3.3 Các yếu tố chính trong một bài

• Khái quát bài học

Giới thiệu 3 vấn đề chính cần khai thác trong bài

• Các bước khai thác bài học

Có thể bắt đầu từ một bài hôi thoại, một bvài khoá về hoạt động của hải quan hay bắt đầu từ một văn bản chuyên ngành

Các dạng bài tập để người học thực hành các kỹ năng nghe hiểu, đọc hiểu, kỹ năng nói và viết

• Củng cố

Bao gồm các bài tập tổng kết để người học luyện tập và tự đánh giá được kiến thức đã tiếp thu trong bài và các bài đã học

II.3.4 Bảng tóm tắt nội dung cuốn giáo trình

Bảng tóm nêu khái quát các chi tiết chính trong một bài, bao gồm:

- tình huống giao tiếp trực tiếp bằng giọng nói

- tình huống giao tiếp viết, các loại văn bản dùng cho giao tiếp

- hành động lời nói, các khái niệm

- ngữ pháp

- khám phá các khía cạnh ngôn ngữ – xã hội

- các loại hoạt động

- tài liệu hỗ trợ chuyên ngành

Những chi tiết trên giới thiệu một cách tổng quát cho 12 bài theo thứ tự cột dọc, giúp người đọc dễ theo dõi các bài trong cùng một tình huống giao tiếp chính

PHẦN III: Aùp dụng giáo học pháp để soạn bài học mẫu

III.1: Phương pháp khai thác cụ thể bài học mẫu

Bài mẫu là bài số 1” Kiểm tra tờ khai xuất nhập cảnh của hành khách” Ở

bài này người học tập trung thường xuyên vào kỹ năng nói và nghe hiểu Người học sẽ được thực hành giao tiếp bắt đầu từ một bài hội thoại đề cập đến ngũ cảnh làm việc trực tiếp của hải quan tại sân bay Để giúp luyên tập khả năng đàm thoại trực tiếp, chúng tôi đưa ra phần trả lời câu hỏi sau khi nghe hiểu, các loại bài tập tình huống ( 6 bài/ jeu de rôle) Riêng phần luyện kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng viết người đọc phải nghiên cứu kỹ tờ khai, kết hợp với những kiến thức chuyên ngành đã được trang bị bằng tiếng mẹ đẻ hay đã được giới thiệu sơ lược ở phần tiếng Pháp đại cương để làm bài, các dạng bài tập đưa ra cũng rất đa dạng

Trang 10

tuy nhiên vẫn xoay quanh tình huống giao tiếp chính Có 7 baì để học viên thực

hành

Phần ngữ pháp được khai thác qua việc nhấn mạnh lại 3 động từ ( sortir , entrer, venir ) có đi kèm các giới từ chỉ nơi xuất phát., đích đến Đây là các động từ hiện diện chủ yếu trong các tình huống giao tiếp và trong các hành động lới nói của hải quan và hành khách

Khía cạnh văn hóa xã hội được khai thác chủ yếu về cách dùng 2 đại từ “ Tu” và “Vous” Sở dĩ 2 đại từ này được đưa vào ngay bài đầu tiên vì trong cách giao tiếp của người Việt nam , 2 đại từ này có tên gọi và cách dùng khá phong phú so với người Pháp Phân biệt cách dùng 2 đaị từ “Tu” “Vous” cũng hoàn toàn phù hợp với chuyên đề “ Văn hoá giao tiếp nơi công sở “ mà ngành Hải quan đang quan tâm đến

Ở bài mẫu này chúng tôi đã chọn cách khai thác “ Entrée par les éléments

linguistiques ou informatifs” để tập trung vào các hành động lời nói, tình huống

giao tiếp, yếu tố ngữ pháp , văn hóa xã hội đã nêu ngay từ trang khái quát đấu tiên

III.2 Aùp dụng giáo học pháp

III.2 1.Khai thác các tình huống giao tiếp

o Dialogue ( questionnaires )

La déclaration d’entrée/ de sortie au ou du Vietnam ( les activitès écrites et orales)

o Votre grammaire ( exercices écrits/ oraux)

o Mise au point ( exercices écrits/ oraux/ version)

III.2.2 Bảng từ vựng

III.2.3 Ghi chép lại các bài hội thoại

III.2.4 Tài liệu hỗ trợ chuyên ngành

( Tờ khai CHY 2000, bài trích trên báo

le Courrier du VN)

Trang 11

KẾT LUẬN

Chúng tôi đã giới thiệu phần chính của đề tài trong đó giới thiệu tình hình chung của Trường CĐHQ, thực tế giảng dạy môn tiếng pháp chuyên ngành hải quan., đề cương chi tiết cuốn giáo trình tiếng pháp chuyên ngành cơ sở và xây dựng một bài học mẫu làm cơ sở tham khảo cho các bài học sau

Trong suốt quá trình nghiên cứu chúng tôi đã trả lời được 3 câu hỏi chính về phương pháp giảng dạy đã nêu ra từ ban đầu đó là:

- Cấu trúc nào phù hợp với cuốn giáo trình?

- Dạy cái gì?

- Dạy như thế nào?

Như vậy cuốn sách gồm 12 bài được xây dựng trên cơ sở 4 tình huống giao tiếp chính của hải quan, trong đó có nhiều hành động lời nói thể hiện các tình huống giao tiếp hàng ngày của hải quan khi làm việc

Qua việc giảng dạy các khả năng ngôn ngữ chuyên ngành gồm từ vựng, ngữ pháp và kiến thức về văn hóa xã hội để trả lời cho câu hỏi dạy cái gì? Để soạn các vấn đề để giảng dạy từ vựng và ngữ pháp, chúng tôi bắt đầu từ các bài khóa, hội thoại ( dùng tiếng pháp đại cương nhưng mang chủ đề hải quan) để truyền thụ cho người học Cả từ đại cương và từ chuyên ngành đều được thể hiện theo ngữ cảnh, các tình huống giao tiếp bao hàm chủ yếu các từ chuyên ngành hải quan

Các yếu tố ngữ pháp trong sách được khai thác từ các hành động lời nói, những yếu tố này không xuất hiện theo trình tự mà theo nhu cầu giao tiếp, những chi tiết giới thiệu trong phần tiếng pháp đại cương được sử dụng theo

hình xoáy ốc trong các tình huống giao tiếp chuyên ngành

Đối với khía cạnh văn hoá xã hội, việc giảng dạy được dựa trên sự khác biệt hay giống nhau giữa hoạt động của hải quan Việt nam và hải quan thế giới, những kiến thức đưa ra liên quan đến đời sống, công việc thường ngày, các hình ảnh, hay thái độ làm việc, ứng xử của hải quan thế giới, với mục đích so sánh và giới thiệu để học viên hải quan hiểu sâu thêm về các đồng nghiệp, phục vụ công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế

Riêng việc biên soạn bài mẫu, chúng tôi đã dựa trên phương pháp giao tiếp, đảm bảo đồng thời 4 kỹ năng giao tiếp

Hệ thống các bài tập thực hành tuy không nhiều song đòi hỏi người học phải huy động kiến thức đang học và kiến thức đã có mới hoàn thành được

Công việc nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc soạn đề cương cho cuốn giáo trình và soạn 1 bài mẫu dành cho sinh viên hệ chính quy Chúng tôi sẽ cần nhiều thời gian hơn nữa để biên soạn cả cuốn sách, biên soạn sách dành cho giáo viên, xây dựng hệ thống bài tập, băng đĩa ghi lại các bài hội thoại và bài tập

Trang 12

nghe hiểu Công việc này chắc chắn là khó khăn song chúng tôi tin là sẽ thực hiện được, vì chúng tôi luôn có sự hướng dẫn, động viên của các giáo sư, sư trợ giúp của đồng nghiệp, sự quan tâm của lãnh đạo ngành hải quan và từ những nỗ lực của bản thân trong thời gian học tập tại trường hải quan Pháp

Công việc nghiên cứu của chúng tôi chắc còn nhiều hạn chế Song nó đã phản ánh được kiến thức sư phạm, phản ánh được tâm huyết của một giảng viên tiếng Pháp muốn cải tiến công việc của mình và đóng góp phần nhỏ bé cho sự nghiệp đào tạo cán bộ cho đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế./

Trang 13

INTRODUCTION

Eùtant enseignante du français sur objectif spécifiques à l’Eùcole Supérieure des Douanes, nous trouvons que la situation d’enseignement/ d’apprentissage des langues sur objectifs spécifiques et la construction des manuels adaptés au public d’apprenants de la douane sont à discuter et à résoudre systématiquement C’est dans le contexte commun de l’enseignement des langues de spécialité que le français de la douane à l’Eùcole Supérieure des Douanes est confronté aux problèmes suivants:

- les cours existants ne sont pas adaptés aux besoins réels du public

d’apprenants,

- le programme de formation des fonctionnaires n’est pas cohérent,

- les enseignants de langues sont décontenancés dans le choix des

documents d’enseignement…

Intéressée à ce qui se passe dans l’enseignement et l’apprentissage du français sur objectifs spécifiques à l’Ecole Supérieure des Douanes, nous avons des préoccupations quant à l’élaboration d’un manuel du français de spécialité adapté au public d’apprenants de la douane, plus précisément un livret pédagogique niveau de base du français de la douane pour les étudiants en formation initiale Le thème sujet de la recherche fait partie d’un projet de formation des langues étrangères pour les fonctionnaires de la Direction Générale des Douanes vietnamiennes Ce projet est réalisé par l’Eùcole Supérieure des Douanes en coopération avec la Sous-Direction de Relations Internationales Pour réaliser ce projet, nous avons fait des entretiens avec les Directions des Douanes locales, nous avons étudié la situation de l’enseignement/apprentissage du français sur objectifs spécifiques, nous avons

Trang 14

effectué l’analyse des besoins des apprenants, l’étude des activités différentes aux postes frontaliers, etc

Après avoir étudié des documents concernant l’enseignement/l’apprentissage du français sur objectifs spécifiques et la théorie d’élaboration du manuel pédagogique, analysé des besoins des publics, nous sommes fixés les objectifs qui sont les suivants pour notre travail de recherches:

1 Eùtudier et élaborer la structure du livret pédagogique niveau de base

du français de la douane pour les étudiants en formation initiale

2 Construire un dossier- type complet et en proposer des applications

• Quels sont les contenus à privilégier en français de la douane?

• Comment enseigner le français de la douane à partir de ce livret?

A cette fin, nous nous sommes appuyés sur les fondements théoriques apportés par la linguistique de la pramatique, la linguistique de l’énonciation, la grammaire de texte, sur la didactique des langues de spécialité

Ainsi, dans le cadre de ce mémoire, l’idée-force est de donner une présentation détaillée du livret pédagogique et de l’illustrer par un dossier- type Cette présentation présuppose la description du contexte de l’enseignement du français dans notre établissement, à savoir la situation générale de l’Eùcole Supérieure des Douanes, les conditions de l’enseignement du français, la position du français de la douane, etc Ensuite nous passerons à l’étude d’élaboration du livret pédagogique niveau de base pour les étudiants en

Trang 15

formation initiale en essayant de répondre aux questions didactiques posées au départ Enfin, il s’agira d’application pédagogique à partir d’un dossier

Trang 16

PREMIÈRE PARTIE

ENSEIGNEMENT DU FRANÇAIS SUR OBJECTIFS SPÉCIFIQUES À

L’ECOLE SUPÉRIEURE DES DOUANES

I.1 Présentation de l’Eùcole Supérieure des Douanes

L’Eùcole professionnelle des Douanes du Vietnam a été fondée le 14 juillet

1986 pour assumer la mission de former des cadres et des fonctionnaires de la Douane Elle a été rebaptisée l’Eùcole Supérieure des Douanes, le 25 septembre

1995, avec la mission de former des cadres, des fonctionnaires de la Douane et

de participer aux recherches scientifiques spécialisées des douanes A l’époque

de l’intégration internationale, elle est aussi chargée d'enseigner les connaissances concernant les activités des douanes aux employés des entreprises Située au 778, Rue Nguyễn Kiệm, arrondissement Phú Nhuận, HôChiMinh- ville, elle est considérée comme l’unique établissement de formation des douanes vietnamiennes Ces dernières années, elle a connu de grands changements dans les domaines d’enseignement, d’apprentissage, de recherche scientifique

spécialisée des douanes et de coopération internationale

I.1.1 Organigramme

L'école Supérieure des Douanes se compose de 4 départements

(le Département de formation générale, le Département de surveillance des douanes, le Département de contrôle et de droit des douanes et le Département

de langues étrangères) et d’un centre de recyclage des fonctionnaires des douanes avec 2 filières ( l’une à HCM-Ville, l’autre à Hanoð) En dehors des 4

Trang 17

départements, il y a deux bureaux (le Bureau de gestion de formation initiale et

de recherche scientifique et le Bureau du personnel, d’administration et de comptabilité

I.1.2 Enseignants

Le contingent d’enseignants n’est pas nombreux, soit environ 26 personnes, travaillant régulièrement au siège, on doit faire appel aux enseignants des autres établissements ou des postes des douanes Ceux-ci participent à l’enseignement selon la demande de chaque promotion Les enseignants au siège ont fait des études dans les domaines concernant les activités des douanes au Vietnam ou à l’étranger et sont équipés de connaissances spécialisées de douanes Ceux-ci peuvent travailler aux postes

frontaliers en cas de besoin

Les 2 enseignants de français qui travaillent au siège de l’Ecole, en dehors des connaissances de FLE, doivent avoir des connaissances professionnelles des douanes Ils ont fait leurs études au Vietnam et à l’étranger Pour préparer le programme et les documents en français professionnel de la douane pour les années suivantes, ceux-ci ont suivi un programme de formation professionnelle

de la douane en vietnamien pendant 4 à 6 mois Ils doivent étudier, choisir des documents des douanes élaborés par la Douane française et ont préparé des documents internes de leur école Dans la plupart des cours, ils se chargent de l’enseignement des langues étrangères de spécialité à l’école ou au siège des douanes locales Ils font quelquefois des stages aux postes des douanes locales en vue de comprendre profondément des activités de la douane vietnamienne Ils continuent à faire des études et des recherches pour avoir des compétences et pour remplir leur tâche à l’époque de modernisation de la Douane

Trang 18

I.1.3 Apprenants

Le public d’ apprenants en formation initiale est assez varié avec des niveaux de connaissance, des motivations, des besoins différents Les étudiants ont dû passer un concours d’entrée universitaire, ils doivent suivre à la fois les études fondamentales et professionnelles des douanes Le cursus de formation est

de 3 ans Le diplôme délivré à la sortie des études est la licence supérieure des

douanes

Il y a un autre public d’apprenants, il vient des postes frontaliers ou des services fonctionnels différents, ils sont fonctionnaires de douanes et possèdent déjà des expériences professionnelles Certains travaillent aux aéroports internationaux, d’autres travaillent aux ports maritimes ou fluviaux, le reste travaillent dans les services de surveillance, de contrôle des marchandises d’importation/d’exportation ou des marchandises d’investissement/ de

façonnement , dans les brigades de surveillances aux frontières

Les apprenants qui viennent des entreprises ayant des activités relatives à

la douane ont des motivations et des besoins d’apprentissage autres encore

Le cursus d’enseignement pour ces types d’apprenants dépend de leurs

besoins réels, de leur niveau ou même de leur temps d’études ( de 2 à 4 mois ou

d’un mois pour les sessions de formation approfondie)

Les étudiants en formation initiale apprenant le français de la douane peuvent être des publics captifs ou non captifs Leur but d’apprentissage est l’acquisition d’une compétence de communication liée au métier des douanes qu’ils sont susceptibles d’exercer à l’issue de leurs études, d’une compétence de communication qui leur permettra de suivre des enseignements de spécialité en français Ces publics apprennent du français et non pas le français Ils apprennent

Trang 19

du français de la douane pour en faire un usage déterminé dans des contextes déterminés Ceux-ci deviendront des douaniers dans l’avenir, leur travail est bien varié Ils pourront travailler aux aéroports internationaux, aux ports matitimes ou fluviaux, aux postes internationaux, aux frontières terrestres, aux services de suivi, de gestion des marchandises d’importation/ d’exportation, des marchandises d’investissement, de façonnement des pays étrangers Ils travailleront aussi dans les services de surveillance, dans les bureaux au siège de

la Direction Générale des Douane Ces étudiants veulent bénéficier d’un apprentissage du français dans “le but précis de communiquer avec des francophones venant au Vietnam, de comprendre des documents en français concernant leur travail ou de communiquer avec leurs collègues dans le cadre des coopérations internationales en cours ou à venir”(1) Ils veulent apprendre le français de spécialité, d’une part pour répondre aux exigences de communication dans leur travail ( aux aéroports internationaux, aux frontières terrestres), pour comprendre le contenu des documents professionnels en français( dans les services de suivi et de gestion des marchandises d’importation/ d’exportation, d’investissement / de façonnement), d’autre part pour assister aux conférences, aux séminaires internationaux et y prendre la parole, pour faire des études, des stages professionnels à l’étranger…

1 Nous avons une enquête sur des étudiants en formation initiale de l’Éùcole Supérieure des

Douanes en troisième année Nous avons reçu deux listes de réponses: l’une en vietnamien du chef de classe (Nguyễn Viết Tuấn), l’autre en français d’une étudiante(Đào Thị Nha Trang) (annexes)

Trang 20

Avant de faire du français de spécialité, ils ont fait du français général

( environ de 180 à 200 heures) Ils ont une certaine maýtrise du français

général En même temps, ils apprennent d’autres matières concernant les activités des douanes en langue maternelle Ils comprennent les formalités des douanes, les activités sur le terrain, les zones de travail, les réglementations des douanes, etc

Ces étudiants doivent comprendre des articles de la loi sur la douane pour servir leurs études et leurs recherches Ils ont utilisé des cours en français élaborés par les enseignants de l'Eùcole Supérieure des Douanes Mais en réalité, ils n'ont pas encore d'expériences dans la pratique de la douane À l'Eùcole Supérieure des Douanes, ils ont choisi le français comme une langue étrangère obligatoire, dans leur cursus, à raison de 6 à 9 heures par semaine

Il y a aussi des apprenants venant des postes de douanes, ils sont en train

de réaliser des activités des douanes sur le terrain ou travaillent au siège de la Diection Générale des Douanes ou des Douanes locales La motivation de leur apprentissage du français de la douane est de servir leur travail quotidien Par exemple: les douaniers qui travaillent aux aéroports internationaux souhaitent bien pratiquer la compréhension orale; ceux qui travaillent souvent sur les dossiers en français s’intéressent beaucoup à la compréhenssion écrite…Le programme de formation pour ce type d’apprenants dépend de leurs besoins ou

de leur temps d’éudes

Il y a un autre public d’apprenants, ce sont les employés des entreprises ayant des opérations relatives à la douane, ils apprennent le français de spécialité afin de bien remplir des formalités concernant les marchandises d’exportation/ d’importation Donc le programme et le temps d’apprentissage de ce public sont assez différents de ceux des autres publics

Trang 21

I.2 Les langues étrangères et la place de l’enseignement des langues

Eùtrangères

L’ enseignement des langues étrangères n’a été réalisé qu’à partir de

1993 par le Centre des Langues Eùtrangères des Douanes, fondé le 19 mai 1992

et dont le prédécesseur est le Centre de Pédagogie des Langues Eùtrangères, 4e

établissement fondé le 15 mai 1991 Le Centre des Langues Eùtrangères des Douanes a été chargé d’enseigner l’anglais, le français, le chinois au grand pubic dont les apprenants des douanes A partir de l’année scolaire 1996-1997, les langues étrangères deviennent des matières obligatoires pour les étudiants en formation initiale L’enseignement des langues vivantes prend une place importante dans la formation au sein de l’Éùcole Supérieure des Douanes Les trois langues ont été aussi enseignées aux fonctionnaires de douanes Les classes d’anglais sont toujours plus nombreuses que les classes de français ou de chinois, soit 70% des apprenants Dans le cursus de formation initiale, le programme d’enseignement/ d’apprentissage d’une langue étrangère prend 520

heures ( de 180 -200 heures pour l' enseignement de la langue générale, de 320-

340 heures pour la langue de spécialité)

Et “pour une bonne application de la politique publique en matière de

développement économique, culturel, social, scientifique et technologique; la promotion de la coopération et des échanges internationaux; la protection de la souveraineté et de la sécurité nationale; la sauvegarde des intérêts nationaux, des droits et intérêts légitimes des personnes physiques et morales”(2)

Le Gouvernement vietnamien a chargé la Douane de la tâche “de contrôler et de

surveiller les marchandises et des moyens de transport; de lutter contre la

2.La Loi sur la Douane,( 2002), Eùdition de la politique nationale: 119

Trang 22

contrebande et les trafics transfrontaliers; d’appliquer la législation fiscale aux

marchandises exportées et importées; de proposer des mesures de gestion

douanière des activités d’exportation, d’importation, de sortie, d’entrée, de

transit et les politiques tarifaires applicables aux marchandises exportées et importées.” (3)

De plus, la tâche de la Douane devient de plus en plus complexe lorsque notre pays a réalisé la politique d’ouverture à l’extérieur, à l’économie de

marché Les demandes du renouveau économique ont développé un nouveau marché des langues étrangères Dans leur travail quotidien, les agents de douanes, les déclarants et les passagers doivent utiliser la terminologie concernant les questions de spécialité de la douane Ils doivent comprendre des documents, faire des communications en langues étrangères L’enseignement/apprentissage des langues vivantes de la douane devient impératif

I.2.1 Eùtat des lieux de l’enseignement du français à l’Eùcole

Supérieure des Douanes

L’Ecole Professionnelle des Douanes, depuis 1993, voulait développer l’enseignement et l’apprentissage des langues étrangères dans son propre établissement Le français de la douane y était enseigné, dans les classes de français général Cet enseignement était assuré seulement à partir de l’année

3 La Loi sur la Douane, (2002), Eùdition de la politique nationale: 126

Trang 23

scolaire 1996-1997 Le français ou l’anglais, le chinois devient une des trois matières obligatoires au concours d’entrée universitaire, qui sélectionne des étudiants de la première promotion en formation initiale Le français de la

douane est enseigné suivant le cursus à plein temps, dans les cours complémen-

taires au Centre des Langues Eùtrangères des Douanes, dans les cours au siège de

la Direction Générale des Douanes Le français est aujourd’hui une des matières obligatoires dans le programme de formation de l’École

I.2.2 Conditions, manuels et auxiliaires

La direction Générale des Douanes a la politique d’encourager les fonctionnaires à apprendre les langues étrangères dont le français de la douane et crée des conditions favorables à la formation de l’Eùcole Supérieure des Douanes Les établissements et les équipements de formation des langues étrangères sont

améliorés L’effectif des apprenants aux cours de langues est convenable( de 25

à 40 apprenants); l’emploi du temps de chaque cours convient au programme et

à la durée d’études Les douanes locales sont prêtes à payer les frais d’études pendant les jours de vacances ou les week-end La connaissance des langues étrangères devient un facteur obligatoire dans le recrutement des fonctionnaires

de douanes La Direction Générale des Douanes s’intéresse beaucoup aux coopérations de formation avec les pays francophones surtout la France, fait appel à la participation des experts à l’intérieur ou à l’extérieur en vue d’améliorer le niveau des cadres et des fonctionnaires de douanes en langues étrangères

À l’école Supérieure des Douanes, les apprenants peuvent apprendre les langues étrangères dans deux laboratoires de langues avec des équipements

Trang 24

modernes( le premier avec 32 places, le deuxième avec 60 places) On est en train

de construire des salles à usage défini pour les langues étrangères…

Dans les classes de français général, les apprenants connaissent des

manuels élaborés à l’étranger comme le Nouveau Sans Frontière, le Nouvel

Espace… Ces manuels conviennent au public de douanes Pour répondre aux

attentes des publics des classes de français de la douane, les enseignants et les apprenants ne peuvent pas attendre des seuls manuels étrangers authentiques Ils doivent chercher, choisir, traduire, reproduire des manuels existants et fabriquer des manuels en fonction des besoins de leur public Ces manuels peuvent être réajustés, améliorés après des cours de formation Ils ont été souvent réajustés

à jour Jusqu’à maintenant l’élaboration d’un manuel en français professionnel adapté aux différents publics de la douane devient une demande impérative surtout à l’Eùcole Supérieure des Douanes

I.2.3 Éùvaluation des résultats

Il y a maintenant 6 promotions en formation initiale qui sont sorties de

l’École ( 833 licenciés)(4) Ces étudiants obtiennent la licence supérieure des

douanes La plupart des titulaires de ce diplôme travaillent aux différents services

de douanes ( 476 douaniers)(5) Quelques fonctionnaires qui maýtrisent le français peuvent passer des concours pour faire des études en France

( formation des inspecteurs des douanes, des controleurs des douanes) ou prendre

la parole dans des séminaires professionnels(6) Ils sont en train de bien utiliser

des connaissances des langues étrangères dans leur travail ( 70%) et ont fait les résultats satisfaisants ( 30%) (7) Certains fonctionnaires qui ont suivi des

4 Sources du bureau de Gestion de formation et de Recherche scientifique de l’ESD

5, 6 Sources de la Sous-Direction de Ressources Humaines et de Formation de la DGDD

Trang 25

études à court terme peuvent pratiquer le français dans la communication courante aux frontières Ils ont contribué à affirmer la position des douanes vietnamiennes dans l’intégration des douanes mondiales Ces dernières années, les enseignants et les apprenants à l’Eùcole Supérieure des Douanes ont fait des efforts dans l’enseignement/ l’apprentissage du français de spécialité, ils

modifient la méthode, élaborent des manuels, échangent des informations professionnelles avec leurs collègues internationaux… Mais ils n’ont pas encore bien atteint les objectifs définis qui sont:

- Tous les douaniers travaillant aux postes frontaliers doivent pratiquer couramment la communication avec les étrangers

- Les agents travaillant souvent sur les documents en langues étrangères doivent bien en comprendre le contenu et le traduire en langue

maternelle

- Les cadres participant aux conférences, séminaires professionnels

internationaux doivent être compétents dans la prise de parole, le

débat…

Pourquoi les enseignants et les apprenants de l’Éùcole Supérieure des Douanes ne peuvent pas réaliser leurs objectifs? L’explication vient peut-être des difficultés suivantes:

- Ils n’ont pas de manuel professionnel authentique en douanes étrangères

- Les cours existants ne répondent pas aux demandes différentes du travail aux postes frontaliers

7 Projet de recherche scientifique N o CS 02.N.2003, Nguyen Trong Trinh :9

notre traduction) (annexes)

Trang 26

- Dans la bibliothèque de l’Eùcole il y a très peu de documents professionnels de recherche en langues étrangères

- Les cours de formation du français restent très modestes et ne sont pas organisés régulièrement

- Le besoin d’apprentissage du français ou des langues étrangères ne devient pas impératif chez les fonctionnaires de douanes…

Pour réaliser ces objectifs, la Direction Générale des Douanes doit, à notre avis, réaliser des innovations depuis les services centraux aux unités locales Quant à elle, l’Eùcole Supérieure des Douanes doit reproduire, réajuster des manuels des langues vivantes existants pour qu’ils conviennent aux changements des activités des douanes contemporaines, élaborer des manuels des langues vivantes professionnelles adaptés aux besoins des différents publics d’apprenants, modifier des méthodes d’enseignement/ d’apprentissage…

Pour notre part, étant enseignante de français, nous allons élaborer un dossier- type dans un livret pédagogique niveau de base du français de la douane pour les étudiants en formation initiale

Trang 27

DEUXIÈME PARTIE

ELABORATION D’ UN LIVRET PÉDAGOGIQUE NIVEAU DE BASE DU FRANÇAIS DE LA DOUANE POUR LES ÉTUDIANTS EN FORMATION

INITIALE

II.1 Position du français de la douane

Eùtant langue professionnelle, le français de la douane est fondé sur les besoins langagiers réels des individus Il envisage une relation de locuteur à locuteur dans la situation de communication de douanes Le français de la douane renvoie à l’enseignement d’un français spécialisé Il peut s’adresser à des étudiants débutants ou des faux débutants Comme l’enseignement du français fonctionnel, l’enseignement du français de la douane devrait répondre aux besoins urgents des publics diversifiés, aux besoins spécifiques liés à leurs activités professionnelles, à leur spécialisation, à leurs conditions de travail, à leurs niveaux L’enseignement du français de la douane peut être désigné comme l’enseignement du français en fonction d’un objectif spécifique

“ D’une manière générale, il n’y a plus d’autre enseignement de français langue

étrangère que des enseignements à objectif spécifique ”( L.PORCHER et

DROUÈRE, 2003:8, cité par J GOES et D.ZAMFIR dans Le français dans le

monde/ 1.2004) Nous voyons le français sur objectifs spécifiques (FOS) comme

une pratique langagière différente au sein du FLE, sans l’en isoler

Il y a des différents schémas de progression sont à proposer Le premier,

schéma en biseau, consiste à enseigner au départ de façon intensive le français dit

général et très peu de français spécialisé La proportion s’inverse au fur et à

Trang 28

mesure de l’avancement du cursus Le second, schéma en parallèle, fait faire

dans des proportions égales et parallèles tout au long du cursus et le français

général et français spécialisé Le troisième, shéma progressif, se fait en deux

temps: le premier entièrement consacré au français général, le deuxième, au français spécialisé Nous avons choisi le troisième modèle pour enseigner le français de la douane

Dans nos recherches, nous avons choisi la démarche( le français de la douane est à enseigner après le français général.) Le public d’apprenants font

de 180-200 heures de français général, de 300- 320 heures d’apprentissage du français spécialisé Le lexique général est utilisé en même temps avec celui de

la douane, le sens des mots ou des expressions connus est utilisé dans les contextes professionnels de douane La grammaire de texte est utilisée selon le changement des actes de langage L’apprentissage du français de spécialité de douane a pour but non pas de “ beau parler” ni de parler couramment le français, mais d’être à même de réagir à une situation de communication au travail dans les secteurs différents de la douane

II.2 Questions didactiques

L’enseignement/ apprentissage du français de la douane suscite de nombreuses questions méthodologiques Quelle progression suivre? Quels actes

de lagage enseigner? Quel document utiliser? Quelle démarche méthodologique adopter?

Trang 29

II.2.1 Progession du livret

II.2.1.1 Actes de langage

Nous avons travaillé sur les actes de langage réalisés dans les contextes de travail différent des douanes pour élaborer notre livret Ces actes de langage sont:

o demander le passeport;

o demander la déclaration des bagages;

o donner les renseignements au passager;

o indiquer des détails à remplir dans une déclaration d’importation/ d’exportation des marchandises;

o demander les pièces justificatives de la déclaration d’exportation;

o demander l’autorisation d’importation;

o demander la liste de l’équipage ou la liste des passagers;

o communiquer avec les collègues aux conférences professionnelles des douanes modiales;

o exprimer les avis personnels aux séminaires des douanes mondiales

o Prendre la parole aux débats professionnels

II.2.1.2 Situations -cadres

Nous sommes d’accord avec l’opinion ci-dessous “ Il est essentiel de

prendre en compte la communication voire les énoncés produits dans chaque situation différente d’utilisation de la langue.”( LACOSTE, 1990)

Donc tous les actes de langage sont établis sur la base de quatre cadres concernant les activités des douanes Celles-ci sont les lieux où les activités des douanes vietnamiennes ne sont pas analogues, les douaniers ne travaillent pas sur des mêmes actes de langage

Trang 30

situations-• situation-cadre 1: “Contrôle de la déclaration d’entrée ou de sortie au/du Vietnam” Cette situation-cadre parle des activités des douaniers

aux aéroports internationaux, des situations de communication entre un douanier et un passager, des réglémentations de la douane vietnamienne concernant les sortants/ les entrants du ou au Vietnam (

de communication entre un douanier et des voyageurs, entre un douanier et des membres d'équipage, des réglementations du Gouvernement sur la gestion des marchandises d'importation/ d'exportation traversant les frontières maritimes (les lieux où l’on reçoit

un grand nombre des marchandises d’importation/d'exportation chaque

jour) ( dossiers 4 à 6)

• situation- cadre 3: " Suivi et gestion des marchandises d'investissement

et de façonnement, des marchandises non commerciales par la voie postale", cette situation- cadre parle des activités des douanes aux

bureaux à l'intérieur du pays où l'on réalise la gestion, la surveillance des marchandises d'investissement, de façonnement des pays étrangers, des réglementations du Gouvernement concernant la politique

Trang 31

d'encouragement à investir des pays étrangers Nous nous intéressons encore aux activités aux postes internationales où la douane doit se

confronter souvent à la contrebande par la voie postale (dossiers 7 à

9)

• situation- cadre 4: " Formation continuée des douanes vietnamiennes",

cette situation- cadre parle des activités des douanes vietnamiennes dans l'intégration des douanes mondiales et régionales, des situations d'utilisation des langues étrangères dans les différentes opérations des douanes vietnamiennes: prendre la parole dans les conférences, séminaires internationaux à l’étranger ou à l’intérieur du Vietnam Cette situation parle aussi de la place des douanes vietnamiennes dans

le développement des douanes mondiales ( dossiers 10 à 12)

II.2.2 Contenu du livret

II.2.2.1.Contenu lexical

En élaborant ce livret, nous avons commencé par travailler sur des textes, des dialogues de vulgarisation( français général avec thèmes professionnels) Nous avons obéi à un premier critère de sélection: l’adaptation

de degré de spécialisation des documents authentiques non seulement au niveau d’apprentissage de la langue mais aussi au niveau des connaissances dans la spécialité En même temps le vocabulaire général et le vocabulaire professionnel sont mis en contexte

Chaque dossier comporte entre 35 et 45 mots nouveaux, dont 75% font partie de la progression en spirale ce qui représente un capital minimal de 550 mots Le lexique professionnel prend sa place et se définit en fonction des situations de communication ( contexte et registre de langue en adéquation) Les

Trang 32

situations étant “professionnelles” par définition, les mots choisis comme s’imposant naturellement sont véritablement les mots justes appropriés au contexte Le vocabulaire spécialisé concernant les activités des douanes est présent dans les quatre situation-cadres mais sa fréquence est différente

Pour le lexique spécialisé, nous utilisons les mots nouveaux ou les expressions convenables à la situation de communication Tous les mots professionnels des douanes peuvent être introduits dans les activités des dossiers mais leur fréquence d’utilisation n’est pas identique Dans chaque situation de communication, les douaniers s’intéressent aux objets de contrôle ou de surveillance différents

Les agents travaillant aux aéroports internationaux peuvent utiliser des mots “ marchandises d’exportation/ d’importation; contre la fraude, origine des marchandises…” mais pas souvent Ils répètent plusieurs fois des mots :

“passeport, bagages à main, bagages de soute, déclaration de sortie/ d’entrée…” dans un acte de langage

Le lexique qui se rapporte à l’opération des douanes aux services de suivi

et de gestion des marchandises d’importation/ d’exportation est plus utilisé au

dossier 4 ( situation-cadre 2- le contrôle des marchandises d’importation/

d’exportation aux ports maritimes) mais moins utilisé au dossier 11( situation- cadre 4- la formation continuée)

Le lexique qui se rapporte aux activités aux aéroports internationaux comme : déclarer des bagages, contrôler la déclaration de sortie ou d’entrée, le passeport, surveiller les passagers sortant, entrant ou en transit… aura une

fréquence d’utilisation intensive aux dossiers 1-3 ( stuation- cadre 1- contrôle de

la déclaration de sortie ou d’entrée)

Trang 33

Les mots professionnels sont présents dans les 12 dossiers du livret et même du livret d’exercices Si l’apprenant ne peut pas comprendre correctement

le sens de quelques mots à tel dossier, il peut les reprendre au dossier suivant Par exemple:

- passager, sortant, entrant, sortie, entrée, aéroport, déclaration des bagages, passeport, bagages à main, bagages de soute, transit, gare d’escale,

frontière, port maritime ou fluviaux…( situation- cadre 1)

- déclarant, entreprises, certificat d’origine, contrôle, surveillance, contrôleur, vérification, autorisation, valeur en douane, rapport de visite, contrat commercial, liste de colisage, seuil de bagages personnels,

déclaration de revenu, itinéraire, provenance, destination, pays de départ,

membre de l’équipage, commandant…( situation-cadre 2)

- gestion des marchandises d’importation/ d’exportation, d’investissement/

de façonnement, taxation, matière première, produit- type, autorisation d’investissement, contrat commercial, norme, couleur, quantité, espèce, produit de compensateur, condition de livraison des marchandises, procès-

verbal, poste internationale, contrebande…( situation-cadre3)

- conférence internationale, régionale, séminaire, contrefaçon, contrôle après dédouanement, contre la fraude, origine des marchandises, système harmonieur, rapport de recherche, coopération douanière, blanchiment des

capitaux, territoire douanier, politique commune…( situation-cadre4)

Autre originalité, quelques documents authentiques des douanes ont été ajoutés au livret afin de permettre aux apprenants d’avoir en main des formulaires, des bulletins des douanes mondiales, des cartes bancaires, cartes postales, des traites, des télégrammes, des passeports ou des cartes d’identités

Trang 34

des passagers étrangers, des procès-verbaux de constat, de remise, de retenu… et

de pouvoir les comprendre, les consulter et les examiner en cas de besoin

Chaque dossier est prévu pour 15 heures de travail Donc, le professeur peut le faire étudier efficacement selon le niveau de ses apprenants, il pourra exiger la mémorisation de tout ou partie du vocabulaire ( de 35 à 45 mots par dossier) On trouvera, à la fin du livre de l’apprenant, le lexique complet des mots

introduits, dossier par dossier ( Index du vocabulaire)

Comme nous l’avons déjà signalé, le lexique apparait globalement à la fin

du livret avec sa traduction en vietnamien Les mots grammaticaux ( articles, prépositions, pronoms, etc.) n’y sont pas inclus, les nombres cardinaux et ordinaux non plus

II.2.2.2 Faits grammaticaux

Comme nous le savons “la didactique des langues se doit de suivre avec

attention les évolutions de la recherche en acquisiton des langues La conception des matériels, la préparation des cours et la conduite des pratiques de classe ne peuvent se faire concrètement qu'en référence aux procédures d'enseignement/ apprentissage de la grammaire”( Christian PUREN, 1.2002, dans Les manuels scolaires: 15) Pour notre part, nous avons étudié les modèles disponibles de

grammaire de la langue: la grammaire traditionnelle, la grammaire structurale, la grammaire de l'énonciation, la grammaire textuelle, la grammaire notionnelle- fonctionnelle( voir le dossier-type) Dans ce travail, nous avons choisi des faits grammaticaux utilisés dans les actes de langage pour élaborer le livret pédagogique de base du français de la douane Ces faits grammaticaux qui sont présentés et utilisés pendant des heures du français général, paraissent dans les activités du dossier-type Mais les étudiants ne peuvent les bien comprendre que

Trang 35

dans le contexte d’utilisation concret des douanes Nous nous intéressons à tous les phénomènes qui apparaissent dans le cadre d'un texte, et qui sont liés aux exigences de cohésion ( les phrases doivent être reliées les unes aux autres d'une certaine manière), de progression( les phrases doivent apparaýtre dans un certain ordre) et de cohérence ( elles doivent avoir un certain rapport avec la réalité du monde extra- linguistique auquel elles se réfèrent.) Ces éléments grammaticaux

ne sont pas cités linéairement, ils vont être donnés selon le changement de l’acte

de langage Il n’y a pas d’éléments grammaticaux nouveaux mais ceux connus dans le français général vont être utilisés selon la progression en spirale La nouveauté dans cette démarche vient plus du fait que nous pensons que la grammaire peut être visualisée et ainsi" parler" plus directement à l' apprenant

Dans ce livret, la progression grammaticale n'a pas préexisté ni servi de prétexte à la progression des dossiers eux-mêmes Les connaissances de grammaire sont groupées, pour les éléments principaux- conjugaison, pronoms, prépositions, adjectifs, noms, compléments du verbe, accord des adjectifs qualificatifs, expression de quantité, de cause, nominalisation, comparatif et superlatif, négation, expression du temps, gérondif… dans un mémento grammatical en fin de volume, complété par un index, présenté en page “ Aperçu”, mais le minimum d'application et d'exemples permettant des réemplois simples et sans surprise à partir d'une écoute de " modèles" sur la cassette ou la lecture du professeur Ce " minimum" constitue le savoir et le savoir-faire nécessaires mais suffisants, pour réaliser les activités des étapes d’exploitation

du dossier, la mise au point et celles proposées dans le livret d'exercices: la grammaire remplit ici, son rôle d'outil fonctionnel et opérationnel, au service d'une communication réelle et univoque

Trang 36

En fonction des besoins prévisibles des apprenants, de brefs encarts distribués dans les dossiers renvoient au mémento grammatical établissant ainsi une relation d'aide à l'apprentissage La plupart des structures grammaticales introduites dans ce livret sont présentés et utilisés dans le programme de français général et cette fois ces structures sont représentées, réemployées dans les dialogues, dans les activités avec une progression en spirale Ces structures grammaticales, quant à elles, forment comme un tronc commun qui doit être étudié et assimilé par tous les apprenants quel que soit leur niveau, cela permet à

la majorité des apprenants vietnamiens d'acquérir des notions qu'ils n'ont généralement jamais étudiées

Pour préparer les exercices, nous avons analysé soigneusement des séries d'exercices grammaticaux et nous avons choisi des types comme question à choix multiples, exercice de complétion et grille Ceux-ci portent sur le texte lui-même, et visent à une reprise du contenu grammatical et lexical; les exercices reprennent en particulier le point de grammaire et le vocabulaire annoncés en titres et introduits par le texte Tous ces exercices sont utilisés non seulement pour reprendre les contenus grammaticaux, lexicaux de l'unité didactique, mais aussi pour réviser les contenus des unités didactiques antérieures ( progression en spirale) Ils sont de type" application", puisqu'ils demandent, pour être faits, que les apprenants se remémorent consciemment la "règle" correspondante

Bref, les apprenants soit ont le paradigme sous les yeux, soit l'ont appris par coeur précédemment Ces exercices sont eux-même complexes et représentatifs de l'ensemble de la méthodologie de référence ( l'approche communicative) Ils sont tous aussi" artificiels" que ceux de l'ensemble précédent

Trang 37

De son côté, l'index grammatical, consultable à tout moment, permet à l'apprenant de confronter son apprentissage et de le sécuriser dans son itinéraire

II.2.2.3 Aspect socio-culturel

L’aspect socioculturel repose sur le jeu étrangeté/similitude, l’ensemble

du livret visant l’appropriation naturelle des aspects spécifiques des douanes européennes ou françaises ( codes, réglementations, formulaires, activités, comportements, attitudes, réflexes, esprit…) par les apprenants Il ne s’agit pas

en l’occurrence d’illustrations de type “ suivi” mais bien d’éléments indispensables à la compréhension et au fonctionnement des situations du monde professionnel de l’Europe Le champ professionnel des douanes vietnamiens génère une culture qui lui est propre C’est la culture de travail des douanes mondiales Dans ce livret, nous n’avons pas simplement présenté la civilisation française ou la société européenne mais nous présentons la vie, le travail, les images et les comportements des douanes étrangères pour que les douanes vietnamiennes puissent bien comprendre leurs collègues dans la voie d’intégration des douanes mondiales La connaissance de la culture des partenaires, des différences dans les formalités de douanes étrangères, de la méthode de présentation du courrier… est souvent un gage de réussite

Dans ce livret, les connaissances socio-culturelles se limitent à des connaissances concernant les activités professionnelles des douanes Ce sont des éléments très importants pendant le temps d’apprentissage du français de

spécialité des étudiants Ces derniers ne comprennent pas seulement les activités des douanes mais encore les activités des autres secteurs au pays d’origine ou aux pays étrangers

Trang 38

La découverte des aspects socio-culturels devient vraiment nécessaire quand il y a du renouveau dans la politique de formation des fonctionnaires du

Gouvernement vietnamien: “un fonctionnaire de la période d’intégration

économique mondiale doit avoir des connaissances professionnelles solides, de bonnes vertus, il doit avoir une bonne compréhension de son travail dans le

monde entier, de l’environnement de coopération et une compréhension de son partenaire…” (8) ( notre traduction)

Nous espérons que les apprenants connaissent très bien les différences dans les activités, les méthodes de travail, les réglémentations, les politiques de coopération internationale des douanes étrangères, qu’ils comprennent bien les caractéristiques des autres pays et leurs habitants en faisant la communication aux frontières Ces connaissances socio-culturelles les aideront beaucoup à remplir leur tâche au présent et dans l’avenir

II.2.3 Méthodologie

II.2.3.1 Méthode d’apprentissage

Selon la conception traditionnelle, on enseigne des langues étrangères suivant un ordre: le vocabulaire, la situation et le dialogue Mais dans ce livret, nous choisissons la méthode communicative Nous décrivons les actes de langage spécifique de la douane Pour chaque secteur de travail, le douanier a besoin d’ actes de langage différents et la proportion entre les compétences est aussi différente Chaque dossier propose des stratégies et des tâches où chaque appenant peut trouver son itinéraire personnel Pour ce livret, l’auto-évaluationest mise en oeuvre à travers des activités de repérage et

8 Nguyễn Ngọc Túc( Vice-Directeur Général de la DGDD), Projet de formation et de formation

continuée des cadres, des fonctionnaires de douanes de 2005-2006, 6 mai 2005.(annexes)

Trang 39

d’entraýnement C’est la mise au point qui est la récapitulation active des acquisitions Les mises au points des dossiers ont un effet de miroir et fonctionnement en synergie

On peut trouver une autre méthode : possibilités d’entrées différentes par l’aperçu du dossier, par les étapes d’exploitation du dossier, par la découverte des récapitulations à réaliser; possibilités de réussite pour tous, les premières mises au point sont des reprises très proches des structures du contenu, c’est l’activité que tous doivent/ peuvent réussir; nombreuses possibilités de faire travailler les apprenants en groupes sur des tâches différentes, selon des modalités différentes Les apprenants peuvent prendre encore une méthode progressive de l’écrit, ils peuvent écrire une lettre, un compte-rendu ou un procès-verbal… adapté à leurs propres activités L’écrit est abordé selon deux actes:

- Un apprentissage progressif de la production d’écrit avec deux finalités, d’une part, faire produire des écrits que les apprenants peuvent avoir à exécuter réellement et dont la liste est réduite( lettres, quelques formulaires à remplir, messages…), d’autre part, surtout, mettre en oeuvre l’interaction forte entre lecture et écriture, entre production et compréhension: on lit bien ce qu’on sait écrire, on comprend mieux comment est fait un texte si l’on s’est essayé à en produire un du même type Il s’agit donc de faire écrire pour apprendre à lire, parce qu’on a la tâche de rédiger un petit renseignement pour le passager, on va regarder d’un oeil particulier les petits renseignements présentés dans les étapes d’exploitation du dossier, et mieux les lire Dans ce cas, on s’attachera plus à l’effet sur la compréhension produit par le travail de l’écriture qu’à

la qualité des textes produits

Trang 40

- L’écriture est également pratiquée dans son aspect “ grammatical” L’activité finale de mise au point invite à une attention soutenue envers l’orthographe: on doit chercher dans les premières pages de chaque dossier Les “modèles” permettront d’écrire les mots ou de mettre en oeuvre les règles de grammaire ( accords, conjugaison, déterminants…) Ceci est repris de manière plus systématique dans certaines activités du livret d’exercices

II.2.3.2 Exploitation d’un dossier

Chaque dossier nécessite 15 heures de travail ( dont deux heures pour les activités correspondantes du livret d'exercices) Nous allons décrire le déroulement type d'un dossier ( voir dossier 1/ troisième partie) en soulignant toutefois que ce déroulement peut être modifié par le professeur s'il le juge utile

ou plus efficace, eu égard aux besoins et aux itinéraires personnalisés négociés entre les apprenants et le professeur On peut très bien imaginer de commencer

le dossier par cinq "entrées":

- Entrée par la tâche à accomplir C'est par une découverte collective de la

page " mise au point” que les apprenants découvriront ce qui leur sera

demandé en fin de dossier Ils pourront repérer ce qu'ils comprennent,

émettre des hypothèses ( le plus souvent dans la langue vietnamienne) sur

les documents présentés et sur les consignes Cette manière de centrer l'attention dès le début sur les objectifs du dossier convient bien aux adultes et constitue toute une aide pédagogique importante dans tout type d'apprentissage

- Entrée par la découverte des documents et des transcriptions des

documents oraux ou écrits présentés dans les pages des" étapes

Ngày đăng: 31/12/2020, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w