1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu tham khảo về ngữ pháp tiếng việt

358 91 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 358
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang Thành tựu nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt từ trước tới nay Lưu Vân Lăng 05 Thử điểm qua việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trong nửa thế kỷ quaDiệp Quang Ban 16 Một số s

Trang 1

NHIỀU TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

VỀ NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT

Ο

Tuyển chọn : TRẦN HOÀNG

(Khoa Ngữ Văn)

TP HỒ CHÍ MINH - 2001

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Nhằm đáp ứng yêu cầu học tập và nghiên cứu học phần Ngữ pháp tiếng Việt của sinh viên Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi đã tiến hành tuyển chọn một số công trình nghiên cứu có liên quan đã được công bố trong vài thập niên gần đây để đưa vào tập tài liệu tham khảo này

Tập tài liệu được chúng tôi sắp xếp theo trình tự như sau:

Những vấn đề chung về ngữ pháp tiếng Việt,

Những vấn đề thuộc về từ loại tiếng Việt,

Những vấn đề thuộc về cụm từ và câu tiếng Việt,

Phụ lục, gồm một số vấn đề của ngữ pháp học nói chung

Đây là tập tài liệu có tính chất mở rộng kiến thức, bổ sung cho nội dung các bài giảng mà chúng tôi đã trực tiếp trình bày trên lớp Vì vậy, sinh viên không thể xem là tập tài liệu này có thể thay thế cho giáo trình cũng như các tài liệu tham khảo cần thiết khác

Tập tài liệu tham khảo này cũng rất có ích cho các học viên đang theo học bậc Sau đại học chuyên ngành Ngôn ngữ học

Do dung lượng có hạn của một tập sách, còn nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác chưa xuất hiện trong tập tài liệu tham khảo này; chúng tôi hy vọng sẽ được giới thiệu đầy đủ trong các tuyển tập tiếp theo

Tôn trọng quyền tác giả, trong tập tài liệu này, chúng tôi vẫn giữ đúng cách thức trình bày, phiên âm tiếng nước ngoài và chính tả của nguyên bản

Những sai sót về mặt kỹ thuật ắt hẳn khó lòng tránh khỏi Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để tập sách được hoàn thiện trong lần tái bản Xin chân thành cảm ơn

Người tuyển chọn

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Thành tựu nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt từ trước tới nay Lưu Vân Lăng 05 Thử điểm qua việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trong nửa thế kỷ quaDiệp Quang Ban 16

Một số suy nghĩ bước đầu về các phương pháp nghiên cứu ngữ pháp tiếngViệt

Nguyễn Kim Thản 21

Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân

Lưu Vân Lăng 27

Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt Đinh Văn Đức 37

Tìm hiểu ngữ trị của các từ loại thực từ tiếng Việt Đinh Văn Đức 43

Đặc trưng ngữ pháp của hiện tượng chuyển từ loại trong tiếng Việt Hà Quang Năng 49

Về một số đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của “những” và “các” Bùi Mạnh Hùng 59

Một vài đặc điểm của nhóm từ chỉ hướng được dùng ở dạng động từ trong tiếng Việt hiện đại

Nguyễn Lai 68 Vai trò của các từ được, bị trong câu bị động tiếng Việt Nguyễn Minh Thuyết 85

Về tiêu chí phân loại tiểu từ tiếng Việt Phan Mạnh Hùng 87

Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt

Nguyễn Văn Hiệp 89

Bước đầu tìm hiểu vấn đề từ hư trong tiếng Việt Hồng Dân 99

Về vấn đề phân định hư từ trong tiếng Việt Nguyễn Anh Quế 105

Bàn về khái niệm và phạm vị phụ vị từ trong tiếng Việt Trần Hoàng 176

Mấy nhận xét về các phương tiện tổ hợp cú pháp trong tiếng Việt Lê Xuân Thại 135

Các cấp thể và các chỉ tố tình thái – thể trong tiếng Việt V.X.Panfilof 155 Nghĩa của những từ như “ra-vào; lên–xuống” trong các tổ hợp kiểu đi vào,đẹp lên Vũ Thế Thạch 161

Phân loại các loại phụ từ trong đoản ngữ vị từ tiếng Việt hiện đại Trần Hoàng 168

Chung quanh việc xác định các quan hệ ngữ pháp liên hợp và chính phụ trong các chuỗi động

Đơn vị cú pháp nhỏ nhất trong tiếng Việt Hoàng Trọng Phiến 186

Đơn vị tạo câu và thành phần câu của câu đơn tiếng Việt Nguyễn Cao Đàm 191

Các kiểu loại cấu trúc chủ vị trong tiếng Việt Lê Xuân Thại 205

Phân biệt định ngữ và vị ngữ trong tiếng Việt Trần Hoán 211 Về câu chủ vị có từ nối là trong tiếng Việt Lê Xuân Thại 216

Bàn về cấu trúc câu “Danh + là + Danh” và các mối quan hệ của nó Lê Xuân Thại 222

Trở lại vấn đề “câu đặc biệt” trong tiếng Việt Hồng Dân 230

Xung quanh kiểu phát ngôn tỉnh lược trong tiếng Việt Phan Mậu Cảnh 233

Đảo ngữ và vấn đề phân tích thành phần câu Phan Thiều 253

Câu không chủ ngữ với tân ngữ đứng đầu Nguyễn Minh Thuyết 258

Vị ngữ phụ trong câu tiếng Việt : bình diện ngữ nghĩaBùi Minh Toán,Ngô Thị Bích Hương 263

Vấn đề quan hệ đẳng lập ở bậc câu và trật tự các thành tố của nó Đỗ Thị Kim Liên 270

Từ nối với vấn đề câu phức trong tiếng Việt Võ Văn Thắng 276

Trang 4

Cặp phụ từ và cặp đại từ hô ứng với các kiểu quan hệ giữa hai vế câu

Diệp Quang Ban, Lù Thị Hồng Nhâm 282

Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt (Trên cứ liệu ngôn ngữ đối thoại)

Nguyễn Hồng Cổn 289 Tìm hiểu một số trường hợp dùng dấu phẩy để tách biệt chủ ngữ, vị ngữPhan Thị Thạch 301

Phụ lục: Một số vấn đề của ngữ pháp học V.B.Kasevichû 314

Trang 5

THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT TỪ TRƯỚC TỚI NAY (*)

LƯU VÂN LĂNG

Trong lĩnh vực nghiên cứu tiếng Việt thì việc nghiên cứu ngữ pháp được bắt đầu sớm nhất với những

công trình của Lê-ông đờ Rôx-ni (23) Ô-ba-rê (1) Trương Vĩnh Ký (54), Trương Vĩnh Tống… Nhưng từ giữa

thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, ngữ pháp tiếng Việt còn chịu ảnh hưởng nặng nề của ngữ pháp tiếng Pháp Có thể nói đây là thời kỳ “bắt chước, mô phỏng” Vào khoảng đầu thế kỷ này, mới xuất hiện dần một số công

trình nghiên cứu có ít nhiều nét riêng, do đặc điểm của tiếng Việt (M Gram-mông và Lê Quang Trinh (14) Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (52)

Từ cách mạng tháng 8 trở đi, nước nhà được độc lập, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính thức của nhà nước, ngữ pháp tiếng Việt ngày càng được nhiều người trong và ngoài nước, nhất là ở Liên Xô, Mỹ, Pháp…

quan tâm nghiên cứu Bên cạnh những công trình theo ngữ pháp lô-gích, truyền thống như tác phẩm của Phạm Tất Đắc, Bùi Đức Tịnh (4), còn có khuynh hướng cú bản vị như Phan Khôi (41), Nguyễn Lân (34), khuynh hướng cấu trúc luận với những tác phẩm của Lê Văn Lý (25) M Ê-mơ-nô (10) J Hô-nây (19)…

Từ sau hòa bình được lập lại ở Đông Dương (1954) các bộ môn ngữ học các trường đại học, cao đẳng được thành lập, việc nghiên cứu giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt được đẩy mạnh Các giáo trình ngữ pháp tiếng Việt ở đại học (của Lưu Văn Lăng, Nguyễn Kim Thản) vào nửa cuối thập kỷ 50, cũng như các giáo trình ngữ pháp (của Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ) khoảng đầu những năm 60, đều muốn tiếp thu những thành

tựu lý luận của nhiều khuynh hướng, cố gắng vận dụng cả nội dung ý nghĩa lẫn hình thức cấu trúc vào việc

nghiên cứu ngữ pháp, dù ở nhiều mức độ khác nhau, đã đặt cơ sở bước đầu cho một giai đoạn mới Tuy nhiên cũng phải đến khoảng cuối những năm 60 trở đi mới hình thành dần những hệ thống ngữ pháp riêng,

với những quan điểm riêng, ít nhiều có tính sáng tạo, mặc dù giữa các nhà nghiên cứu có không ít những ý

kiến khác nhau

1 VỀ BÌNH DIỆN – Xuất phát từ học thuyết của F đờ Xốt-xuya đối lập ngữ ngôn (langue) có tính chất xã

hội, với lời nói (parole) mang tính chất cá nhân, với sự lưu ý “cái ngành thực sự là ngữ học với đối tượng

duy nhất là ngữ ngôn” (44, 39), cho “câu thuộc về lời nói, chứ không thuộc về ngữ ngôn”, vì “ tính tiêu

biểu của lời nói là sự tự do trong cách kết hợp , một số lớn trong cách biểu đạt thuộc về ngữ ngôn, đó là

những thành ngữ có sẵn” (44, 172, 173), nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cũng như nhiều nhà

ngữ học trên thế giới, đều chia các đơn vị ngữ pháp thành hai loại : một loại thuộc ngữ ngôn, một loại thuộc lời nói

Một số cho hình vị, từ thuộc ngữ ngôn, câu thuộc lời nói (NKT, 32b, 47, 64; HL, 18, 77, 80; HT, 17, 152, 153; cũng có chỗ Hoàng Tuệ lại nói từ cũng như mệnh đề là những đơn vị của lời nói, 17, 141) Nhiều người cho từ tổ hoặc cụm từ thuộc diện ngữ ngôn, nhưng có tác giả cho đây chỉ là cụm từ cố định (HL, 18, 80)

Trong khi đó Nguyễn Tài Cẩn cho tổ hợp cố định bao gồm từ ghép và tổ hợp tự do bao gồm đoản ngữ, mệnh đề là những đơn vị thuộc hệ thống đơn thuần tổ chức (cấu trúc), còn từ, cú vị, câu là những đơn vị thuộc hệ

thống nửa tổ chức tổ chức năng, và riêng hình vị đứng ở điểm giao nhau của hai hệ thống nhỏ này (NTC, 36,

368) Nhưng theo Lưu Vân Lăng thì tất cả các đơn vị ngữ pháp từ thấp đến cao: tiếng (ở ngôn ngữ Ấn – Âu

là hình vị) từ, ngữ, cú, câu đều nằm ở cả hai mặt của ngôn ngữ: cơ cấu bên ngoài, cụ thể, và cơ cấu bên trong, trừu tượng (LVL 27a, 60)

(*) In trong “Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt”, GS Lưu Văn Lăng chủ biên (1988), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

tr 05 – 32

Trang 6

2 ĐƠN VỊ GỐC – Ngữ học truyền thống cho từ kết hợp với nhau lại thành câu Lý luận “cụm từ là trung

tâm của ngữ pháp tiếng Việt” cũng chủ trương lấy từ làm đơn vị gốc để tập hợp lại thành cụm từ (NKT,

32b, 48; LXT, 26, 32) Nhưng lí luận hạt nhân tầng bậc cho tiếng cũng như hình vị ở ngôn ngữ Ấn – Âu,

là đơn vị gốc để tập hợp những đơn vị bé lại thành ngữ đoạn, được phân chia thành nhiều cấp khác nhau (LVL, 27a, 50 ; 27c, 79) Có quan niệm muốn chia tổ hợp tiếng (hình tiết) thành tổ hợp cố định (bao gồm

từ ghép) và tổ hợp tự do (bao gồm đoản ngữ) cũng là tổ hợp từ (NTC, 36, 369)

3 ĐƠN VỊ NHỎ NHẤT – Cũng như nhiều nhà ngữ học trên thế giới, hầu hết các nhà nghiên cứu tiếng Việt

đều muốn tìm một đơn vị cơ sở, nhỏ nhất, có ý nghĩa, đơn vị cấu tạo từ chung cho cả từ vựng lẫn ngữ

pháp Nó mang nhiều tên gọi khác nhau: hình vị (Xônxep,… 46; HT, 17, ngữ vị (NKT), nguyên vị (HL, 18) bằng một hoặc nhiều âm tiết: dịu/, dàng/, thằn lằn, a-pa-tít Nhưng trong nhiều trường hợp cụ thể ở đây vẫn có những ý kiến bất đồng Số ít cho dấu vết, quốc gia là một ngữ tố (TVC, 53), quốc kỳ là một hình vị (ĐXN, 9), còn mâu thuẫn gồm hai ngữ tố (TVC), hoặc hai từ tố (NKT, 32a) trong khi đa số giải quyết ngược lại Có quan niệm cho hình vị hoặc dạng vị trong tiếng Việt có loại bé hơn âm tiết: đ – (đâu, đó), ao (nào, bao)… (L Tôm-xơn, 48, 119; TNN, 50, 196) Một số tác giả đã cố gắng chứng minh loại hình vị

khuôn vần này: - ấp (bập bùng), – ăn (thẳng thắn) (Nguyễn Đức Dương 31, Phi Tuyết Hinh, Hoàng Văn

Hành) Có người muốn đưa thêm vào đây loại hình vị có liên kết: nh – (trong nhỏ nhắn) Nó khác loại hình vị gián đoạn như ch – v – (trong chon von) là hình vị không lớn hơn, không nhỏ hơn, mà là khác

âm tiết (Trần Ngọc Thêm)

Theo M Ê-mơ-nô thì trong tiếng Việt âm tiết và hình vị trùng nhau (12, 2) Nguyễn Tài Cẩn cho bất kỳ tiếng vô nghĩa nào cũng mang trong mình… khả năng trở thành hình vị có nghĩa (36, 23) Có tác giả gọi

hình vị trùng âm tiết là từ tố – morph (Nguyễn Cao Đàm) Một số thừa nhận có loại tiếng đứng tách riêng

không có nghĩa (LVL, 27a, 50; NP-UB, 56, 21) Và theo Lưu Vân Lăng thì ở những bình diện khác nhau, có thể lập những đơn vị cơ sở khác nhau Do đó nên phân biệt đơn vị nhỏ nhất trong ngữ pháp là tiếng, trùng với âm tiết trên bình diện ngữ âm, khác với hình là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa trong từ vựng, ngữ nghĩa học

“Hình” có thể bằng âm tiết (lánh), có thể lớn hơn (ễnh ương) hoặc bé hơn âm tiết, như – ấp trong “lấp

lánh” Loại hình tiết trùng với tiếng có nghĩa, và loại tiếng có nghĩa, tự do lại trùng với từ

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều chia đơn vị cơ sở này thành nhiều loại như: từ tố hoặc ngữ vị thật, giả (NKT), tính hiệu độc lập tính (HT), hình tiết độc lập, không độc lập (NTC), tiếng tự do có loại hạn chế và không hạn chế, tiếng bị ràng buộc trong đó có loại lâm thời độc lập, tiếng không nghĩa khi tách riêng trong đó có loại mất nghĩa (LVL), hoặc chia thành các loại hình vị: thực, ngữ pháp, hệ thống, tiềm tàng, tình cảm, mục đích (HL), hình vị có nghĩa từ vựng, biểu cảm, hình vị ngữ pháp, kết cấu (HQ) Nhưng ở một số tác giả, việc phân chia này không gắn chặt với việc xác định đơn vị trực tiếp trên nó là từ

Nhiều người cho quan niệm về tiếng nêu được đặc điểm về loại hình tiếng Việt, và giúp cho việc giảng dạy, học tập ngữ pháp được dễ dàng Vấn đề đặt ra là có nhất thiết đơn vị nhỏ nhất trong ngữ pháp phải có ý nghĩa hay không? Và nghĩa ở đây phải được hiểu như thế nào?

4 ĐƠN VỊ TỪ – Trừ ít ý kiến nghi ngờ hoặc phủ nhận đơn vị từ tiếng Việt, việc xác định ranh giới từ ở đây

xưa nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau M Ê-mơ-nô nhận định rằng trong tiếng Việt đơn vị âm học

trùng với đơn vị cơ bản của hình thái học, từ và hình vị trùng nhau (13, 3) Nguyễn Tài Cẩn cho tiếng (hình tiết) là đơn vị trung gian giữa hình vị và từ (36, 39) Từ đó, Nguyễn Thiện Giáp cho “tiếng” của Việt ngữ có đủ tư cách để được coi là “từ”, vì từ là đơn vị tâm lý – ngôn ngữ học (NTG, 38,39), và theo Cao Xuân Hạo, trong tiếng Việt, tiếng vừa là âm vị, vừa là hình vị, vừa là từ (7, 51)

Khác hẳn với quan niệm trên, nhiều người chủ yếu dựa vào ý nghĩa, khái niệm hoàn chỉnh (HT, 17), thêm vào đó là chức năng ngữ pháp (LV Ly, 25, NKT, 32), khả năng sử dụng độc lập về cú pháp (Xôn-xep,

45), khả năng giao hoán (TNN, 50), tính vững chắc về cấu tạo (HL, 18a)… đã đưa vào phạm trù từ rất nhiều

tổ hợp tự do kết hợp theo quan hệ thuận cú pháp như: người làm vườn, cháy nhà, bán phá giá, thợ may,

nhà soạn kịch, hiệu trồng răng, máy bay lên thẳng, vợ hai, đánh hỏng, dễ thương, chú rể, chén con, nhà

Trang 7

chơi ra-đi-ô Tuy nhiên, đi vào giải quyết cụ thể, xu hướng này đã để lại nhiều ý kiến bất đồng Những tổ

hợp tiếng như nhà ở, dễ làm, người này coi là từ (HT, 17), thì người khác cho là từ tổ (NKT, 32a), nhưng đối với trường hợp chủ nghĩa xã hội, cái đẹp, trắng tinh… thì quan niệm ngược lại Nguyên nhân chính là do tiêu chí đưa ra chưa rõ ràng Bởi thế, quốc kỳ, quốc ca, người cho là từ một hình vị (ĐXN, 9, 10), số khác lại cho là ngữ, cũng như trường hợp thợ đồng hồ, học như vẹt (TVC, NHL, 53, 120) Dựa đồng thời vào cả một tổng hợp nhiều diện kiểm nghiệm, nhiều tiêu chí, Nguyễn Tài Cẩn cũng xem là từ cả những tổ hợp như tranh

đấu, thành bại, áo quần, phòng bệnh (36) Và tác giả đã thừa nhận rằng phân biệt từ ghép với tổ hợp tự do

là “một trong những vấn đề mập mờ, gay go nhất của ngữ pháp” (36, 62) Đinh Văn Đức, một mặt tán thành quan niệm “âm tiết = tiếng = hình vị = từ”, nhưng mặt khác vẫn coi những tổ hợp như việc làm, đóng

góp, ao hồ, nhà cửa, là từ (11, 37, 54, 196)

Với quan niệm từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất, chưa làm thành tố cú pháp, Lưu Văn Lăng căn cứ vào bản

chất yếu tố cấu tạo và mối quan hệ giữa chúng, cho trong từ không có quan hệ cú pháp, nên mọi tổ hợp

gồm 2 tiếng tự do trở lên kết hợp theo quan hệ thuận cú pháp đều là ngữ, có thể là ngữ định danh, ngữ cố định ở nhiều mức độ chặt lỏng khác nhau như: nhà nước, đất nước, xe đạp, áo quần, (LVL, 27c) Đây là

những đơn vị trung gian nằm giữa từ kép và ngữ tự do

Xét về mặt kiến trúc, từ được chia thành nhiều loại Một số tác giả căn cứ vào số lượng âm tiết hoặc tiếng, cho những từ đa tiết như đười ươi, a-xít đều là từ ghép (TTK,…, 52, TVC… 53, LVLy, 25, NTC, 36)

Có quan niệm dựa vào bản chất yếu tố cấu tạo từ Một số dựa vào số lượng hình vị độc lập, xếp riêng từ láy, vừa phân biệt láy bộ phận có lý do với láy bộ phận không có lý do (I I Glebova, A N Barinova) hoặc từ phức, trong đó có loại từ ghép giả và phái sinh (L Tôm-xơn) Theo Trương Đông San, từ phức gồm một hình

vị độc lập và một hình vị không độc lập như bạn bè, lạnh lùng, (55, 2) thì tất nhiên phải xem học trò, trẻ em là cụm từ cố định, nhưng phải chăng tổ hợp gồm hai vị không độc lập như quốc gia, giáo sư lại được xem là

từ đơn?

Có quan niệm, một mặt xét hình thức, phân biệt từ đơn tiết với từ đa tiết, mặt khác, căn cứ vào nội

dung, số lượng tiếng có nghĩa (LVL, 27a) hoặc hình vị thực (NPP, 35) để xác định từ kép, xem từ láy cũng chỉ là một kiểu từ đơn Có sách chia thành: từ một tiếng, từ láy, từ ghép và từ nhiều tiếng (UB, 56, 49 – 64) Có tác giả còn chia thêm từ pha: sẵn sàng, từ chắp : vôi hóa (NKT, 32a) và từ nhánh: văn sĩ (ĐXN 9) Có người dựa vào số lượng nguyên vị, phân biệt từ đơn lấp láy (ba hoa) với từ ghép lắp láy như đẹp đẽ (HL, 18a, 261) Có quan niệm cho đây cũng là từ ghép song song (30) Có người dựa vào mức độ biến đổi của các nét nghĩa, phân biệt từ ghép chân chính như mát tay, cắt, giặt, [sic] chán chê, dưa hấu, nhà cửa, hỏi han, quà

cáp với từ ghép láy âm như người người, đẹp đẽ (Quế Lai)

Về từ loại, trừ một số ít học giả (Đi-ghê, Ju-li-ăng) nghi ngờ hoặc muốn phủ nhận (như Gram-mông, Lê Quang Trinh, Hồ Hữu Tường), hầu hết đều cố gắng phân chia thành nhiều loại Khuynh hướng truyền thống chủ yếu dựa vào ý nghĩa lô gích, thường rập khuôn hệ thống từ loại tiếng Pháp, cho mẹ trong quê mẹ cũng là tính từ, “mà” không những là liên từ, giới từ, mà còn có thể là phó từ và thuộc đại từ tức đại từ quan hệ, tập hợp vào từ loại trạng từ (tức tính từ) nhiều loại như tính trạng từ (lớn), chỉ thị trạng từ (ấy), số trạng từ

(bốn), vấn trạng từ (gì), phiếm chỉ trạng từ (nấy), v.v (BĐT, 4, 148, 177)

Xu hướng này thể hiện rõ ở các học giả Pháp, từ Ô-ba-rê, Va-liê, Sê-ông đến Bun-tô, Ca-đi-e cùng một số

tác giả Việt như Trương Vĩnh Ký, Trương Vĩnh Tống đến Phạm Tất Đắc… Khuynh hướng cú bản vị dựa vào chức năng cú pháp để xác định từ loại (PK, 41), thừa nhận hiện tượng chuyển loại một cách phổ biến, như thuật từ sống chẳng hạn, có thể chuyển thành danh từ, định từ, phó từ (PN, 42) Khuynh hướng kết cấu

luận dựa vào khả năng kết hợp với từ làm chứng (LVLy 25), vị trí phân bố của từ (M Ê-mơ-nô, 13 ;

Hô-nây, 19 ; Tôm-xơn, 48), cách giao hoán (TNN, 50)

Có khuynh hướng cố gắng vận dụng cả hình thức kết cấu lẫn nội dung ngữ nghĩa, nhưng ở nhiều mức độ khác nhau Hoàng Tuệ cũng dựa vào một ít từ làm chứng (17) Nguyễn Kim Thản kết hợp biện pháp phân tích cải biên với khả năng kết hợp (32a) Đái Xuân Ninh lấy câu bình thường tối thiểu làm cơ sở (9, 64) Lê

Trang 8

Cận, Phan Thiều căn cứ vào ý nghĩa phạm trù và chức năng cú pháp (24a, 123) Đinh Văn Đức muốn khai thác thêm mặt ngữ nghĩa khái quát hóa, ý nghĩa từ vựng ngữ pháp (7, 33)

Mác-ti-ni chú ý tới cú đoạn ngữ pháp Nguyễn Tài Cẩn, Bưxtrôp, I X Nonna Xtankêvich chủ yếu dựa vào đoản ngữ là cụm chính phụ để phân biệt trước hết những từ loại tham gia nhóm với những từ loại ngoài

nhóm (5, 99) Nhưng chính Nguyễn Tài Cẩn cũng đã nói “riêng một mình nó thì chưa đủ, phải có cả tiêu chuẩn “dựa vào mệnh đề” bổ sung thì kết quả phân loại mới đáng tin cậy” (NTC, 36, 307) Lưu Vân Lăng căn

cứ vào hoạt động của từ trong ngữ đoạn cấp bậc (ngữ, cú, câu) có hạt nhân, phân biệt trước tiên từ nòng cốt có khả năng làm hạt nhân với những từ loại phụ gia như từ kèm, từ thêm, theo nguyên tắc chia dần, dựa vào những đặc trưng tiêu biểu, càng chia nhỏ bao nhiêu thì số lượng từ loại càng nhiều bấy nhiêu, chứ không thể xác định dứt khoát chỉ bằng một con số cụ thể (LVL, 27a, 51)

Đã có một số chuyên khảo về danh từ (NTC), động từ (Bưxtrôp, NKT), động ngữ NPP, 35), tính từ (I

Glebova), từ láy (A N Barinova, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thị Hai )

Về phạm trù ngữ pháp của từ, có người thừa nhận danh từ tiếng Việt có phạm trù số (Nguyễn Tài Cẩn,

Nguyễn Kim Thản), phạm trù thiết định: chính xác, không chính xác, trung lập (NTC, Đinh Văn Đức) Thừa

nhận trong tiếng Việt có những yếu tố cấu hình như đã, sẽ, V.M Xôn-xep cho từ đơn tiết như đọc được dùng

ở hình thức thức zê-rô (có chỉ tố zê-rô) nên trùng với hình vị ở ngoài Đây là qui tắc bắt buộc Do đặc điểm

loại hình tiếng Việt lại có tính tùy tiện của các hình thức ngữ pháp (45, 61) Đinh Văn Đức đã đưa ra 8 loại có tính chất hư từ làm chỉ từ ngữ pháp của động từ để biểu thị ý nghĩa: 1 Thể thời (đã, còn) 2 Dạng (bị, phải)

3 Mệnh lệnh (đừng, hãy) 4 Yêu cầu (cần) 5 Sự hiện diện (hay vắng) hành động (có, không) 6 Phương thức hành động (vẫn, xong) 7 Phương hướng (ra, xuống) 8 Vừa xảy ra hoặc kết thúc (vừa, mới)

Nhiều người cho hư từ tiếng Việt là vấn đề khó xác định đáng nghi ngờ Một số tác giả xác định những từ

trên đây như những lớp từ phụ (kèm) cho những từ nòng cốt hạt nhân như danh từ, động từ (LVL, 27a, 51; ĐXN, 9, 81; HQ, 21, 84 v.v ) Ngày càng có nhiều người khẳng định trong tiếng Việt không có phạm trù

ngữ pháp của từ như ở các ngôn ngữ Ấn-Âu (X Báo cáo của Vũ Lộc ở hội nghị về NPTV, 1981)

5 CỤM TỪ HAY NGỮ – Ngữ pháp truyền thống ở Việt Nam quan niệm đơn vị cú pháp trực tiếp trên từ là

câu Nhưng nhiều tài liệu ngữ pháp ở giai đoạn sau đã đưa thêm một đơn vị mới trên từ mang nhiều tên gọi với nhiều quan niệm khác nhau về thành tố cấu tạo, về mối quan hệ giữa chúng, về bình diện, vị trí cấp bậc

trong hệ thống Có quan niệm cho nhóm từ, từ tổ hay cụm từ là một tổ hợp gồm ít nhất hai thực từ trở lên (NKT, 32a, 37; 32c, 12; HQ, 21, 180; Xôn-xep…, 46, 72) hoặc 1 thực từ với 1 từ hư hóa phần nào, bán từ hội tính như tìm thấy (HT, 17, 279) hai 1 từ thực với 1 từ hư (NKT, 32b, 48 và nhóm từ ở 32c, 12)

Lý luận “cụm từ như là trung tâm của ngữ pháp tiếng Việt” chủ trương đưa tất cả các quan hệ cú pháp

vào đơn vị cụm từ Một số tác giả nêu ra 3 loại cụm từ: chủ vị, chính phụ, liên hợp (NKT, 32b; LXT, 26, 34)

Có tài liệu ngữ pháp còn đưa thêm nhóm động tân (Trần Phô, Trương Dĩnh, 1964) Nhiều người cho đơn vị

này chỉ có quan hệ chính phụ như các loại từ tổ động thái, động tân, hạn định của Hoàng Tuệ (17), đoản ngữ của Nguyễn Tài Cẩn (36, 148; 5, 38), ngữ của NPTV (UB, 56, 96), nhóm tự ngữ của Lê Văn Lý (25b, 154), từ kết của Trương Văn Chình… (53c, 190)… Do đó, nhóm từ đẳng lập được giải quyết bằng nhiều cách: 1/ Coi như những thành phần đồng loại (TVC, 53) 2/ Đưa thành một đơn vị riêng gọi là đơn vị liên hợp (NTC, 36, 348; NPUB, 56; 161) 3/ Nghiên cứu ở mục riêng cùng những tổ hợp đẳng lập khác gọi là ghép

thêm từ, từ tổ hay câu theo quan hệ đẳng lập (49a, 28) Nhưng lại có quan niệm cho đơn vị trên từ có cả

quan hệ chính phụ lẫn liên hợp (Xôn-xep 46, 72; LVL, 27a, 52)

Hầu hết cho đơn vị này ít nhất phải có hai từ Số đông cho đây là 2 thực từ (NKT, 32a, 37; HQ, 21, 100; Xôn-xep 46, 72; LVLy, 25b, 154) Nhưng theo Lưu Vân Lăng thì cụm từ hay từ tổ là đơn vị từ vựng học, còn

đơn vị cú pháp trực tiếp trên từ phải là ngữ Nó không những có dạng phát triển, mà còn có dạng rút gọn chỉ

có 1 từ hạt nhân, dạng ngữ hạt nhân, trùng với từ nòng cốt ở cơ cấu bên ngoài khi từ phụ vắng hết (LVL,

27a, 53) Quan niệm này ngày càng được nhiều người đồng tình (NTC, 36, 313; ĐXN, 9, 231; UB, 56, 97)

Nhưng một số tác giả đã nhầm lẫn đồng nhất từ nòng cốt có thể làm hạt nhân với thực từ cho “đơn vị cú

Trang 9

pháp nhỏ nhất được biểu hiện bằng từ – thực từ – trong kết cấu cú pháp) là thành tố ngữ pháp nhỏ nhất…”,

cho câu Cô ấy rất xinh” có 1 từ thể hiện 4 đơn vị cú pháp nhỏ nhất (LC 24b, 14, 15) Thực ra ở đây chỉ có

hai ngữ với hai từ hạt nhân

Xác định hình thức đơn, phức của đơn vị trên từ, nhiều người thường chỉ căn cứ vào số lượng từ, không kể thuộc loại nào, cho nhà mới, nhà gạch đều là những nhóm từ đơn (LVLy, 25b, 154), nhưng có quan niệm dựa vào số lượng từ có khả năng phát triển, cho các nhà ấy là ngữ đơn, nhà mới là ngữ kép (LVL, 27a, 51) Phân biệt cụm cố định với cụm tự do, nhiều người thường dựa vào các tiêu chí: tính có sẵn, tính thành ngữ, giá trị như từ Có sách dựa vào ý diễn tả một hay nhiều sự vật để phân biệt từ kép (dấu-vết, nhà-cửa,

ăn-ở) chỉ có một ngữ tố, với ngữ, có hai hay nhiều ngữ tố: thợ mộc, tàu bay, phi cơ, mâu thuẫn, với từ kết

(tổ hợp tự do): thợ già (TVC, 53, 67, 121) Có tác giả dựa vào khả năng thay đổi thành phần, xen kẽ bằng một từ khác (NKT, 32a) Có quan niệm dựa vào mức độ biến nghĩa và khả năng kết hợp các từ trong tổ hợp (LVL… 27c)

Đã có công trình nghiên cứu về danh ngữ (NTC, 36), động ngữ (NPP, 35) Tuy nhiên, xung quanh vấn đề

từ trung tâm và loại từ trong danh ngữ, cũng như vị trí từ phụ trong động ngữ, còn nhiều ý kiến khác nhau

6 MỆNH ĐỀ hay CÚ – Các sách ngữ pháp cũ, khi phân tích câu, đều có nói đến mệnh đề (TTK, 52; BĐT, 4;

NL, 34) nhưng không xem đây là một cấp đơn vị Cho phân tích câu theo khái niệm “mệnh đề” không rõ

ràng, xác đáng, Nguyễn Kim Thản chủ trương sáp nhập mệnh đề vào từ tổ gọi là từ tổ tường thuật (32a, 39) sau đổi là cụm từ chủ vị (NKT, 32b 50; LXT, 26, 34; ĐXN, 9, 314) Ngược lại, có xu hướng muốn đưa mệnh đề lên cấp câu, cho đây là “câu nhỏ làm thành phần câu lớn” (40, 37) Một số gọi là câu con (HTP,

16, 188), câu phụ (Bưxtrôp, NTC…, 5, 210)

Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê thay mệnh đề bằng “cú là một tổ hợp dùng để diễn tả một việc”

(53, 633) hay “diễn tả một sự tình” (54, 479) Ngoài bán cú là tổ hợp chỉ có giá trị một từ kết (nhóm từ) về công dụng (tr, 634), các tác giả này còn nói đến trường hợp từ kết có hình thức câu (Tôi đã đọc quyển sách

hôm qua anh cho tôi mượn) và từ kết có hình thức cú (Thầy Giáp muốn Giáp học Hán tự, – tr 636, 638)

Tuy nhiên với quan niệm “cú pháp gồm có cấu tạo câu và cấu tạo từ kết” (tr 489) tức từ tổ, và không tán thành lối phân tích câu “chia ra từng cú” (tr.643), các tác giả này vẫn không xem cú là một cấp đơn vị cú pháp

Trái lại, Lưu Vân Lăng, với lý luận hạt nhân tầng bậc, xem cú là ngữ đoạn thuyết tính chưa kết thúc, một

đơn vị ở cấp chuyển tiếp, quá độ từ ngữ sang câu Ngoài loại cú đơn có một khâu đề thuyết, còn có cú kép

nhiều tầng trong đó có cú con, (cú thành phần) là cú phát triển trong lòng một cú khác Do đó, có định cú,

bổ cú, trạng cú, thuyết cú (LVL, 27a, 54)

Nguyễn Tài Cẩn cho mệnh đề, cũng như đoản ngữ nằm trong “một hệ thống nhỏ bao gồm những kiểu

đơn vị không phân thành cấp bậc lớn bé khác nhau” (NTC, 36, 366) Đồng thời tác giả cũng thừa nhận

“trường hợp dùng một hình thức câu ở trong câu” thì “có ý định gọi đó là cú” (tr 365), nhưng không nói rõ

cú thuộc bình diện nào Phan Ngọc chấp nhận dứt khoát cả mệnh đề lẫn cú, cho cú là một mệnh đề hay một nhóm những mệnh đề cùng loại và cùng chức năng (PN, 43, 342) Theo quan niệm này thì ở một thuyết ngữ kép liên hợp có thể có nhiều mệnh đề Nguyễn Phú Phong cho “proposition” cũng như ngữ (syntagme) là những khúc đoạn (segments) trung gian giữa các đơn vị từ và câu (NPP, 35, 64)

Mệnh đề còn được thay bằng nhiều thuật ngữ khác như: khâu thuyết tính (Yu Lekomxep), kết cấu chủ

vị (Lê Cận, Hoàng Trọng Phiến), cấu trúc thuyết tính (X Bưxtrop…), đơn vị tính vị ngữ (Hữu Quỳnh), thể câu, nòng cốt, vế Nhiều người chưa muốn xác lập cú thành một cấp đơn vị cú pháp Nhưng ai cũng thừa

nhận nó chỉ là một bộ phận của câu, nếu không căn cứ vào nó thì khó lòng mà phân biệt được câu đơn với câu kép Ngày càng có nhiều người thấy không thể sáp nhập nó vào cụm từ hoặc câu vì “không thể chấp nhận hiện tượng có từ trong từ, câu trong câu, bởi từ là ngữ đoạn nhỏ nhất, mà câu là ngữ đoạn lớn nhất”

(LVL, 27a, 17, 27c, 88)

Trang 10

7 CÂU – Các công trình ngữ pháp cũ chỉ chú trọng phần từ pháp Sang giai đoạn sau, đơn vị câu mới được

nghiên cứu kỹ cả mặt hình thức cũng như mặt nội dung ngữ nghĩa, tuy mức độ vận dụng cũng như quan

niệm về một số vấn đề còn có chỗ khác nhau Có cách nói câu diễn tả một hay nhiều sự tình (TVC, 53, 479) Có tác giả cho câu là ngữ đoạn kết thúc (LVL, 27a, 60) Theo lý luận cụm từ thì tính thông báo của câu không cần đến tính vị ngữ (NKT, 32b, LXT, 26)… Có tác giả còn nói tính vị ngữ không phải là thuộc tính riêng của vị ngữ (DQB, 8, 71) Ngược lại có quan niệm cho tính thuyết ngữ là cơ sở chủ yếu của tính thông báo của câu (LVL, 27, LVLy, 25b, ĐXN, 9) Hầu hết cho câu bình thường gồm hai bộ phần: đề và thuyết

Quan hệ giữa chúng theo số đông, là quan hệ hai chiều, phụ thuộc lẫn nhau Một số cho thuyết ngữ là yếu tố

chính, đề ngữ chỉ là một loại bổ tố trong câu (L.Thompson, 48, LVLy, 25a, ĐXN, 9) Lại có quan niệm cho

đây không hẳn là quan hệ chính phụ; mà là hệ tương hợp giữa hai bộ phận, trong đó thuyết ngữ là quan

trọng nhất, không thể thiếu (LVL, 27a, 54) Chính vì thế mà về vai trò ngữ điệu, mỗi xu hướng đánh giá một

khác, mặt dù tất cả đều cho nó có thể tham gia vào sự hình thành câu

Có sách còn nói đến câu đơn phần: Thật lạ lùng, câu danh xưng: Tàu bay! Câu rút gọn: Mưa (NKT, 32a,

227 – 231) Một số cho đây là câu đặc biệt (NP – UB, 56, 187) Có ý kiến cho đây là câu không phân biệt được thành phần Nhưng có quan niệm cho đây là loại câu chỉ có thuyết ngữ (LVL, 27a, ĐXN, 9) Có tác giả cho đây chỉ là những ngữ trực thuộc (TNT, 51)

Về thành phần câu, nhiều sách ngữ pháp cũ thường bắt chước cách phân tích ngữ pháp truyền thống tiếng Pháp, phân tích từ loại và phân tích mệnh đề (PTĐ, 40) trong đó có nhiều chỗ lẫn bản tính (nature) với

chức năng, chẳng hạn, phân tích mệnh đề thành chủ từ, động từ và túc từ (40, 81-82) Bùi Đức Tịnh là một

trong những tác giả đầu tiên biết phân biệt rõ vấn đề này, cho mệnh đề gồm có tuyên ngữ và chủ ngữ

(4,244)

Nhiều công trình ở giai đoạn sau nêu rõ chức năng cú pháp không chỉ do từ, mà còn có cả nhóm từ, từ tổ đảm nhiệm Nhưng theo lí luận hạt nhân tầng bậc thì đảm nhận chức năng cú pháp trong câu là ngữ, có khi ở dạng ngữ hạt nhân, chứ không phải là từ Nhiều tác giả thường quan niệm chủ ngữ, vị ngữ là thành

phần chủ yếu, còn định ngữ, trạng ngữ , bổ ngữ là những thành phần thứ yếu (HT,17, HTP 16) Một số tác

giả phân biệt thành phần phụ của từ trong từ tổ với thành phần phụ của câu Nguyễn Kim Thản cho định ngữ và bổ ngữ là thành phần phụ trong từ tổ thể từ và từ tổ vị từ, khác với trạng từ, khởi ngữ là những thành

phần của cả câu (NKT, 32a, 99, 123, 164) Hoàng Trọng Phiến còn phân biệt định ngữ danh từ, định ngữ vị ngữ với định ngữ cả câu (HTP, 16; 110) Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê phân biệt bổ từ của tiếng

gồm có bổ từ của trạng từ, trong đó có khách từ và bổ từ của thể từ, thuộc phạm vi cấu tạo từ kết (tức từ tổ),

với bổ từ của câu gồm trạng ngữ thuộc cấu tạo câu, phân biệt giải từ của tiếng với giải từ của câu (TVC, 53,

219, 551) Theo hướng đó, gần đây Diệp Quang Ban cũng phân biệt bổ ngữ, phụ ngữ, giải ngữ của câu (DQB,

8, 180, 210) Và thành phần phụ của câu còn được nêu ở một số công trình khác nói về các loại câu (Hồ Lê, 18b), về trạng ngữ (Võ Huỳnh Mai, 57)…

Vị trí các thành tố của câu được giải quyết triệt để theo hệ thống lí luận ngữ đoạn tầng lớp, (LVL, 27a):

đề ngữ, thuyết ngữ là những thành phần nòng cốt trong đó có thể phát triển dần các ngữ phụ như định ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ ở những tầng khác nhau Ngoài ra còn có những bộ phận phát triển ngoài nòng cốt như: hô ngữ, chuyển ngữ,…

Một số không muốn thừa nhận hiện tượng “trạng ngữ đảo ngược”, thường căn cứ vào vị trí, sáp nhập

trạng ngữ đứng sau vào phạm trù bổ ngữ Do đó trạng ngữ (VHM, 57) hay thành phần tình huống (NP – UB,

56, 193) đặt đầu câu cũng như bổ ngữ của câu chỉ hoàn cảnh (DQB, 8, 180) là thành phần phụ ngoài nòng

cốt của câu Cho nên phân biệt trạng ngữ với bổ ngữ, với khởi ngữ, với cả đề ngữ, chủ ngữ ở tiếng Việt là vấn

đề khá phức tạp Chẳng hạn, đối với câu “Xã bên, lúa tốt”, sách Ngữ pháp tiếng Việt UBKHXH (1983) cho xã

bên là thành phần tình huống ngoài nòng cốt (NP – UB, 56, 193) Nhưng theo Lưu Vân Lăng thì đây là đề

ngữ, lúa tốt là thuyết cú, vì câu này đứng cạnh câu “Xã nhà, lúa xấu”có sự đối lập rõ ràng Trường hợp “Hôm

nay mẹ về” có hai khả năng: 1) “Hôm nay” là đề ngữ, “mẹ về” là thuyết cú 2) “Hôm nay” là trạng ngữ đảo

ngược

Trang 11

Liên quan đến vấn đề này, đối với bộ phận đứng đầu câu do cụm vị từ đảm nhận, cũng có nhiều ý kiến

khác nhau: 1) coi là trạng ngữ, là thành phần tình huống ngoài nòng cốt (56, 47) 2) là vị ngữ phụ (V M Xônxep… 45, 85; HT, 17); vị ngữ thứ yếu (Bưxtrop, NTC 5, 178) 3) là vị ngữ của mệnh đề phụ (PTĐ, 40,

Nguyễn Đức Bảo), vị ngữ của mệnh đề đẳng lập (Trần Phô, Trương Dĩnh); là một vế của câu ghép (Đái Xuân Ninh, Hồng Dân, Diệp Quang Ban)

Một số thành phần câu đã được nghiên cứu như: chủ ngữ (Nguyễn Minh Thuyết), vị ngữ động từ (Đặng Văn Đạm), định ngữ (N V Xtankevich), trạng ngữ (Võ Huỳnh Mai) v.v… Vấn đề từ nối, tiểu từ cũng được quan tâm (V X Panfilop, I I Glebova, Đinh Thanh Huệ, Nguyễn Đức Dân, Phan Mạnh Hùng…)

Phân loại kiểu câu thì xác định ranh giới giữa câu đơn và câu phức là một vấn đề phức tạp Nhiều sách

ngữ pháp cũ thường căn cứ vào số lượng mệnh đề Có tác giả cho “câu có bao nhiêu động từ là có ngần ấy

mệnh đề” (PTĐ, 40, 86) hoặc “số mệnh đề tùy theo số tuyên ngữ” (BĐT, 4, 265) Nhưng theo Nguyễn Lân,

trường hợp nhiều vị ngữ “chỉ những khía cạnh tương tự” của tính chất thuộc về chủ ngữ thì vẫn có thể coi là

câu đơn giản (NL, 34, 5) Nhiều công trình ở giai đoạn sau cũng căn cứ vào số lượng kết cấu chủ – vị hoặc

cấu trúc thuyết tính, vào số lượng cú để xác định câu phức Nhưng do quan niệm về mệnh đề, về cú có chỗ

khác nhau, nên cùng một câu “Họ vừa đi, vừa cười, vừa hát” chẳng hạn, vẫn có nhiều kiến giải khác nhau như : câu phức gồm 3 cú (TVC, NHL, 53, 650), câu đơn có nhiều vị ngữ đồng loại, đẳng lập (49), câu một cú gồm ba mệnh đề cùng chức năng (PN, 43, 342), câu đơn có một thuyết ngữ kép liên hợp (LVL, 27a, 52)

Theo quan niệm truyền thống, nhiều tác giả cũng đã xếp vào loại câu phức, câu ghép cả những câu có

mệnh đề bổ túc, mệnh đề chỉ trường hợp, hoàn cảnh, mệnh đề chỉ định (TTK, 52, BĐT, 4), hay tính gia ngữ, mệnh đề chủ ngữ, mệnh đề tân ngữ (NL, 34) và còn cả mệnh đề vị ngữ, mệnh đề làm thành phần kết quả (Bưxtrôp…, 5, 211)

Một số tác giả khác cho những mệnh đề phụ chỉ là những bộ phận phát triển thêm, nên đã xếp loại câu

có mệnh đề bổ ngữ, định ngữ, vị ngữ thành một loại riêng gọi là câu phức hóa (V M Xônxep, Yu K Lekomxep, 46, 86, Alyosina, 2) Có người gọi là câu trung gian (HQ, 21, HTP, 16) Có sách lại xếp chúng vào câu đơn (Lekomxep Yu K 22, 121), coi tất cả đều là trường hợp “dùng câu nhỏ làm thành phần câu lớn” (49a, 28) Có tác giả lại đưa loại câu có “mệnh đề trạng ngữ” sang câu ghép (Lê Cận) Lại có quan niệm thừa nhận cả câu đơn phức hóa có trạng cú lẫn câu kép chính phụ (LVL, 27a)

Nhiều người thừa nhận loại câu ghép này có từ nối nếu, hễ, tuy, dù Nhưng một số phủ nhận câu ghép chính phụ, cho đấy là ghép theo quan hệ qua lại (NKT, 32a), phụ thuộc lẫn nhau (HQ, 21) hoặc song song (ĐXN, 9; LXT, 26) Có sách thừa nhận câu ghép chính phụ cả trong những trường hợp không có loại từ nối trên (HT, 17, 401, 49) Ngược lại, trường hợp không có từ nối phụ thuộc (nếu, tuy), mà có từ nối thì, có sách vẫn xem là câu ghép chính phụ (HT, 17, 401) thậm chí không có từ nối, một số tác giả vẫn cho là quan hệ chính phụ, là “câu trạng ngữ ghép dính vào câu lớn, không mở đầu bằng quan hệ từ” (tổ NNHĐH, 49b, 15 -

18)

Có quan niệm cho câu ghép có thể rút gọn, coi là câu ghép cả những kiểu như : 1/ Nếu mưa, anh nghỉ, 2/ Mệt, tôi nghỉ (TVC, NHL, DQB, ĐXN) Glebova I I Cho đây là câu trung gian Có chủ trương phân biệt

câu 1 thuộc loại trung gian có bán cú khác với câu 2 chỉ là câu đơn có phụ ngữ, có khi gần như một định ngữ

(LVL, 27c, 88) Lại còn đề nghị nên xem câu đơn có trạng ngữ là một kiểu câu ghép (HD, 20,26) Và trên thực tế, đối với câu đơn có trạng ngữ chỉ mục đích (sau để), có sách chỗ thì nói là câu đơn, chỗ lại để là câu

ghép (16)

Nhưng dần dần nhiều người tán thành câu ghép phải có ít nhất 2 kết hợp đề thuyết, 2 cú tách bạch

nhau, cú này không phải là bộ phận phát triển thêm trong lòng cú kia (LVL, 27a, 56) Do đó cần phân biệt

cú con là thành phần phát triển thêm trong câu đơn, chỉ là một bộ phận của một cú kép, khác với cú phụ có thể làm thành tố trực tiếp của câu, là một trong hai bộ phận cấu tạo nên câu ghép chính phụ (LVL, 27c, 87) Có sách nói đây là hai vế tạo thành một nòng cốt ghép (NPUB, 56, 207)

Trang 12

Về câu ghép đẳng lập có sách không nói tới (Tổ NNH, 49) Có ý kiến không thừa nhận câu ghép liên hợp không từ nối (HT, 17, 392), cho trường hợp này vẫn là câu đơn (LVLy, 25, 159) Ngược lại, có chủ trương căn cứ vào quan hệ song song, cho tổ hợp song song mới là câu ghép (NKT, 32b, 57, LXT, 26, 41) Do đó, ngoài 5

cấu trúc tối giản (một từ, chủ – vị, dẫn tiếp, đẳng thức, qua lại), còn có cấu trúc phức tạp như: một tín hiệu

– chủ – vị, dẫn tiếp – qua lại,… kết hợp song song (HL, 18b, 47) Xác định câu ghép căn cứ vào cách đối lập quan hệ song song với những quan hệ khác còn được thể hiện trong cách trình bày hệ thống “câu ghép” bằng cách “mở rộng câu nền tảng với một cụm từ chủ - vị theo quan hệ song song” (ĐXN, 9, 314)

Có quan niệm cho câu ghép liên hợp gồm hai loại: 1/ ghép chặt hay ghép đối, có liên từ thì, mà hoặc được gắn lại bởi cặp đối ứng như đâu … đấy, bao nhiêu … bấy nhiêu, v v… 2/ ghép lỏng hay ghép chuỗi có liên từ và, nhưng hoặc không có từ nối (LVL, 27a, 57) Có sách chia câu ghép thành hai loại: 1/ Câu ghép

song song có nhiều vế 2/ câu ghép qua lại phải có 2 vế có thể được nối kết lại bằng những từ như nếu, hễ, nên, thì (Đảng viên thì phải gương mẫu) Cạnh đó còn có loại câu ghép đặc biệt như: Vậy cũng được Thì thôi (NPUB, 56, 210 - 214) Thực ra thì 3 ví dụ trên đây chỉ là những câu đơn mà “đảng viên”… là đề ngữ, câu

cuối cùng (Thì thôi) là câu đơn đặc biệt

Tất nhiên từ câu đơn thuần túy, rồi phức hóa (có cú con) sang câu ghép chính phụ đến ghép liên hợp (chặt và lỏng) còn có nhiều kiểu trung gian ở nhiều mức độ khác nhau Những cách giải quyết khác nhau về kiểu câu ít nhiều phụ thuộc vào cả cách nhìn nhận hệ từ (từ nối) cũng như các mối quan hệ cú pháp Đây là chưa nói đến những trường hợp nhầm lẫn đề cú (Những người đeo kính và cầm bút / hôm ấy, vinh dự hòa vào hàng ngũ …) thành định cú (46, 86), hoặc ngược lại, định cú (Việc lính Mỹ diệt hàng ngàn đồng bào

ta / đã làm cho ) bị nhầm thành đề cú (5, 210)

Phân tích câu tiếng Việt, ngoài lối phân tích mệnh đề (TTK, 52, PTĐ, 40, BĐT, 4) theo phân tích lôgích truyền thống, còn có cách phân tích theo hướng cấu trúc luận (13, 48), với sơ đồ cú pháp hình cây (TNN,

50), với quan điểm ngữ vị học (Lekomxep, 22), phân tích câu theo cụm từ (NKT, 32b; LXT, 26) Khác với

quan niệm phân tích câu ngay ra thành phần (TVC, 53) hay cú vị (NTC, 36), phương pháp phân tích tầng lớp hạt nhân (LVL, 27) chủ trương phân tích dần từng bước, câu ra cú, cú ra ngữ, rồi bóc dần từng tầng, tách

dần các lớp phụ, cuối cùng tìm ra hạt nhân Lại còn phương pháp “tháo lắp” câu văn trên cơ sở 5 dạng “câu văn hạt nhân” gồm 3 thành phần chủ yếu là chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ mà trong đó bổ ngữ là thành phần

quan trọng nhất (HHT, 15, 26) Thực ra ở đây có chỗ nhầm lẫn phân tích ngữ pháp với phân đoạn thực tại

(mà V X Panfilôp đã quan tâm nghiên cứu nhiều)

8 Một số vấn đề được nghiên cứu theo khuynh hướng ngữ nghĩa như từ chỉ hướng (Nguyễn Lai), cấu trúc

“danh là danh” (Nguyễn Đức Dân, Lê Xuân Thại, Trần Ngọc Thêm), câu tồn tại (Diệp Quang Ban)… tuy còn có chỗ chưa phân biệt rõ cú pháp học ngữ nghĩa với ngữ nghĩa học cú pháp Trật tự từ trong câu đã được

quan tâm (LVL, 27b, 41), khảo sát với hướng tâm lý (LTT, 29, 25), nhưng về vấn đề thành phần đảo ngược vẫn còn nhiều kiến giải khác nhau Nghiên cứu câu trên bình diện ngữ pháp văn bản cũng đã được chú ý (TNT, 51) Ở trường học, môn dạy tiếng Việt tập làm văn chú ý phân tích văn bản, trau dồi câu văn Việc

nghiên cứu tiếng Việt còn gắn liền với việc đối chiếu tiếng Việt với tiếng nước ngoài, đối chiếu loại hình (V

M Xônxep), dạy ngoại ngữ (Trương Đông San, 55, Trịnh Xuân Thành, Nguyễn Ngọc Hùng, Vũ Lộc, Tuyết

Minh…)

9 ĐÁNH GIÁ CHUNG – Công cuộc nghiên cứu ngữ pháp ở Việt Nam tuy bắt đầu tương đối chậm so với

nhiều nước trên thế giới, nhưng so với các ngành khác trong nền ngữ học Việt Nam thì ngữ pháp học đã phát triển sớm hơn, mạnh hơn, do chỗ nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tham gia đông, nhất là trong giai đoạn gần đây Nhiều cán bộ nòng cốt cũng đã tập trung vào lĩnh vực này, tuy lực lượng có khi còn phân tán, đề tài chưa được tập trung giải quyết dứt điểm từng vấn đề Do đó nghiên cứu tản mạn, ý kiến bất đồng đã kéo dài làm ảnh hưởng không tốt đến việc trau dồi tiếng Việt (Ở đây một phần còn do chỗ việc giảng dạy, học tập ngữ pháp ở nhà trường chưa được quan tâm, chú ý đúng mức)

Trang 13

Không khí tranh luận học thuật, so với một số ngành, tuy có khá hơn, nhưng nhìn chung, chưa sôi nổi và không liên tục Khoảng 30 năm gần đây có hai cuộc thảo luận về ngữ pháp vào 1959 – 1960 và 1969 –

1970 Lần sau phong phú quy mô hơn lần trước, một số nhà ngữ pháp đã trình bày trước hội nghị những giải

pháp riêng; hệ thống riêng của mình (NKT, 32b, LVL, 27a; NTC, 37…) để đóng góp ý kiến chung Tạp chí

Ngôn ngữ chưa đăng được nhiều bài trao đổi ý kiến Do đó việc tiếp thu, kế thừa ảnh hưởng lẫn nhau, có nơi, có lúc còn chậm

Nhìn chung công cuộc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, thời gian chưa dài, nhưng đã đạt được thành tựu đáng kể, nhất là về mặt lý luận Nhiều kiến giải khác nhau chứng tỏ ý kiến của các nhà nghiên cứu rất phong phú Có thể ví, trên mảnh đất nhỏ đã mọc lên cả một rừng hoa muôn màu muôn vẻ Mà thực tế, những khuynh hướng chủ yếu, trên thế giới, nếu nghiên cứu kĩ, ít nhiều cũng có thể bắt gặp ở đây Các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cũng đã chịu ảnh hưởng của các nhà ngữ học lớn trên thế giới, các nhà Đông phương học Xô viết Nhưng không phải chỉ có thế, mà nơi đây trong ngữ pháp học Việt Nam, các nhà ngữ học nước ngoài cũng có thể tìm thấy nhiều điều mới lạ, trong đó có những lí luận sáng tạo độc đáo, có

thể đóng góp vào lý luận ngữ học đại cương, như lý luận về ngữ hạt nhân, quan niệm từ chưa làm thành tố cú pháp, vấn đề tầng lớp, vị trí các thành tố trong ngữ đoạn, quan niệm về thành phần phát triển, v.v… “Ở

một chừng mực nhất định, một số người đã có cống hiến về mặt phương pháp Việc vạch ra mô hình đầy đủ của đoản ngữ danh từ … (Nguyễn Tài Cẩn), phương pháp phân tích theo tầng bậc hạt nhân (Lưu Vân Lăng), phương pháp mô tả ngữ pháp theo hệ thống và theo vận dụng (Nguyễn Kim Thản) là những thí dụ” (Trích tham luận của Nguyễn Kim Thản tại Hội nghị ngữ pháp tiếng Việt 8 - 1981)

Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cũng như nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, các nhà ngữ học có nhiều quan điểm khác nhau, đã đưa ra nhiều hệ thống Nhưng chung quy cũng chỉ có mấy con đường chính, có thể tổng kết lại, căn cứ vào mấy điểm mấu chốt sau đây:

1 Có tách rời và đối lập kết cấu với chức năng, đối lập ngôn ngữ với lời nói, để phân chia dứt khoát các đơn vị ngữ pháp ra làm 2 loại thuộc những bình diện khác nhau như thế hay không ?

2 Chọn đơn vị nào, hình vị (trong ngôn ngữ đơn lập là tiếng ) hay từ làm đơn vị gốc để tập hợp lại

thành những đơn vị lớn và phân tích thành cấp bậc, lớn, bé, cao, thấp ra sao ?

3 Nhìn nhận và giải quyết các mối quan hệ cú pháp như thế nào ? Đánh đồng các mối quan hệ liên

hợp với những quan hệ khác hay phân biệt trước tiên quan hệ đề thuyết với những quan hệ khác

Nhìn nhận đúng và giải quyết tốt các mối quan hệ chằng chịt trong đó mới tìm ra được một hệ thống

các đơn vị hợp lý, một hệt thống tối ưu mà không cồng kềnh, phức tạp, với những cấp đơn vị cần và đủ, và

điều quan trọng bậc nhất là nhất quán, tránh được mâu thuẫn trong nội bộ hệ thống, cả về lý luận đến phân tích thực hành Có thế việc học tập, ứng dụng mới có tác dụng trau dồi tiếng nói, chuẩn hóa ngôn ngữ Ngữ pháp là quy tắc biểu hiện nội dung tư tưởng bằng lời nói cụ thể Một nội dung ngữ nghĩa phải được thể hiện

bằng một hình thức ngữ đoạn, nên hình thức ngữ pháp phải bao hàm nội dung ngữ nghĩa Kinh nghiệm

nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cho thấy không thể tách rời hai cái đó Không thể chú ý mặt này mà bỏ mặt kia Nhưng trong ngữ học, thì ngữ pháp học, cú pháp học phải có nhiệm vụ khác từ vựng học, ngữ nghĩa học Một kinh ngiệm đáng quí là vừa biết tiếp thu những tinh hoa nhiều khuynh hướng, nhiều trường phái trên thế giới, vừa phải chịu khó suy nghĩ một cách biện chứng trước những vấn đề cụ thể, do đặc điểm của tiếng Việt đề ra, mới có sáng tạo đóng góp vào kho tàng lí luận ngôn ngữ học thế giới Một số nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đã và đang cố gắng đi theo con đường này

Trang 14

NHỮNG TÀI LIỆU DẪN ĐẾN

1 Aubaret – Grammaire de la langue annamite Paris, 1864

2 Alyôsina E – Oxnovnưe modeli predlojenii c vklyushennoi shaxt yu vo Vietnamxkom yazưke NXB “Yazưki Kitaya I yugovoxtoshnoi Azii” M 1971

3 Barinova A N – Ushebnik Vietnamxkovo yazưka MGY, 1965

4 Bình Đức Tịnh (BĐT) – Văn phạm Việt Nam Sài Gòn, 1952

5 Bưxtrov I X., Nguyễn Tài Cẩn, N.V.Xtankevish – Grammatike Vietnamxkogo yazưka Leningrad, 1975

6 Cadière L – Syntaxe de la langue Vietnamienne Paris, 1958

7 Cao Xuân Hạo (CXH) Về cương vị ngôn ngữ học của “tiếng” Ngôn ngữ, 1985, số 2

8 Diệp Quang Ban (DQB) – Cấu tạo của câu đơn tiếng Việt H 1984

9 Đái Xuân Ninh (ĐXN) – Hoạt động của từ tiếng Việt H 1978

10 Diguet E – Eléments de grammaire annamite 1924

11 Đinh Văn Đức (ĐVĐ) – Ngữ pháp tiếng Việt, Từ loại H 1986

12 Glebova I I – Mấy suy nghĩ về ranh giới các đơn vị cấp độ hình vị và từ vị trong tiếng Việt Ngôn ngữ 1975, số 4

13 Emeneau M B – Studies in Vietnames grammar University of California, 1951

14 Grammont M., Lê quang Trinh – Etudes sur la langue annamite MSL, H 1912

15 Hà Huy Thái (HHT) – Chuẩn mực hóa và công thức hóa câu văn H 1987

16 Hoàng Trọng Phiến (HTP) – Ngữ pháp tiếng Việt (câu) H 1978

17 Hoàng Tuệ (HT), phần II (Ngữ pháp) trong “Giáo trình về Việt ngữ” tập 1, H 1962

18 Hồ Lê (HL) – a) Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại H 1976

b) Vấn đề phân loại câu trong tiếng Việt hiện đại Ngôn ngữ 1973, Số 3

19 Honey P – Word classes in Vietnamese BSOAS Vol XVIII, 1956

20 Hồng Dân (HD) – Nên xem “câu đơn có trạng ngữ” là một kiểu câu ghép Ngôn ngữ, 1972, số 4

21 Hữu Quỳnh (HQ) – Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại H 1980

22 Lekomxhev Yu K – Strutura Vietnamxkogo proxtogo predlojeniya Moxkva, 1964

23 Léon de Rosny – Notice sur la langue annamite Paris, 1855

24 a) Lê cận, Phan Triều (LC, PT) – Giáo trình về ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, 1983

b) Lê cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung – Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, tập II, Cú pháp tiếng Việt NXB Giáo dục, 1983

25 Lê Văn Lý (LVly) – a) Le parler Vietnamien Paris 1948

b) Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam Sài Gòn 1972

26 Lê Xuân Thại (LXT) – Cụm từ và phân tích câu theo cụm từ Ngôn ngữ, 1969, số 2

27 Lưu Văn Lăng (LVL) – a) Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân Ngôn ngữ, 1970, số 3

b) Lý luận ngữ pháp học (ĐHSPNN – 1971)

c) On multi-strata nuclear grammar Social Sciences, 1985, No 2

28 Lưu Vân Lăng, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu – Khái luận ngôn ngữ học H 1961

29 Lý Toàn Thắng (LTT) – Về một hướng nghiên cứu trật tự từ trong câu Ngôn ngữ, 1981, số 3 – 4

30 Nguyễn Đình Hòa (NĐH) – Classifiers in Vietnamese Word, 1957, V13, No 1

31 Nguyễn Đức Dương (NĐD) – Về các tổ hợp song tiết tiếng Việt Ngôn ngữ, 1974, số 2

32 Nguyễn Kim Thản (NKT) – a) Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt H 1964

Trang 15

b) Một số vấn đề về việc biên soạn một quyển ngữ pháp phổ thông Ngôn ngữ,

1969, số 1

c) Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt TP HCM, 1981.

33 Nguyễn Lai (NL) – Một vài đặc điểm của nhóm từ chỉ hướng được dùng ở dạng động từ trong tiếng Việt Ngôn ngữ,

1977, số 3

34 Nguyễn Lân (NL) – Ngữ pháp Việt Nam H 1956

35 Nguyễn Phú Phong (NPP) – Le syntagme verbal en Vietnamien Mouton, 1976

36 Nguyễn Tài Cẩn (NTC) – Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ) H 1975

37 Nguyễn Tài Cẩn, Nonna Xtankevish – Góp thêm một số ý kiến về vấn đề hệ thống đơn vị ngữ pháp Ngôn ngữ,

1973 số 2

38 Nguyễn Thiện Giáp (NTG) – Về mối quan hệ giữa “từ” và “tiếng” trong Việt ngữ Ngôn ngữ, 1984, số 3

39 Panfilov V X – Hình vị học tiếng Việt – Ngôn ngữ, 1986, số 2

40 Phạm Tất Đắc (PTĐ) – Phân tích từ loại và phân tích mệnh đề H, 1951

41 Phan Khôi (PK) _ Việt ngữ nghiên cứu – H 1955

42 Phan Ngọc (PN) – Vấn đề từ loại Việt Nam (ĐHTH HN in rônêo), 1957

43 Phan Ngọc, Phạm Đức Dương – Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á H 1983

44 Saussure F – Cours de linguistique générale Payot, P 1955

45 Xolnxhev V M – Những thuộc tính về mặt loại hình của các ngôn ngữ đơn lập Ngôn ngữ, 1986, số 3

46 Xolnxhev V M., Lekomxhev Yu K, Mkhitarian T T., Glebova I I – Vietnamxkiy yazưk M 1960

47 Xolnxhev V M., Vardul I F., Alpatov V M., Korotkov N N… - Về ý nghĩa của việc nghiên cứu các ngôn ngữ phương Đông với sự phát triển của ngôn ngữ học đại cương Ngôn ngữ, 1982, số 4

48 Thompson L C - A Vietnamese grammar Seatle, 1965

49 Tổ ngôn ngữ học ĐHTH HN, ĐHSP HN - Ngữ pháp lớp 7 phổ thông (Tài liệu giáo khoa Hà Nội) 1964 a) Tập I

b) Tập II

50 Trần Ngọc Ninh (TNN) – Cơ cấu Việt ngữ Sài Gòn, 1975

51 Trần Ngọc Thêm (TNT) – Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt H 1985

52 Trần Ngọc Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm – Việt Nam văn phạm H 1945

53 Trương Văn Chình (TVC), Nguyễn Hiến Lê - Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam Huế, 1963

54 Trương Vĩnh Ký (TVK) – Abrégé de la grammaire anamite Sài Gòn, 1867

55 Trương Đông San (TĐS) – Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt Ngôn ngữ, 1974, số 1

56 Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam (UB) – Ngữ pháp tiếng Việt H 1983

57 Võ Huỳnh Mai (VHM) – Trạng ngữ trong tiếng Việt hiện đại – 1974 (Tài liệu đánh máy)

Trang 16

THỬ ĐIỂM QUA VIỆC NGHIÊN CỨU NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT TRONG NỬA THẾ KỶ

QUA (*)

DIỆP QUANG BAN

Điểm lại một cách có thể tạm gọi là đầy đủ công việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trong nửa thế kỉ qua, dù chỉ đóng khung trong phạm vi nước Việt Nam, với các nhà ngữ pháp người Việt, cũng là công việc làm hàng năm, của một tập thể có kinh nghiệm, bởi cho đến nay chúng ta đã có được một “tài sản”to lớn không dễ gì kiểm điểm nổi Với cái đầu của một cá nhân, với khoảng thời gian ngắn ngủi, tôi chỉ có thể điểm qua một cách không chính thức (“thử”) và cũng không dám nghĩ rằng mình có thể làm tốt công việc có chính thức “thử điểm qua” này Do đó điều trước hết cần nói là cho phép tôi gởi lời xin lỗi trước về những sai sót có thể xảy ra trong bài viết này, hoặc đối với cá nhân vị nào đó hoặc đối với phong trào chung Với điều kiện hạn hẹp về sức lực, về kinh nghiệm và về thời gian, người viết đành phải giới hạn đối tượng khảo sát trong phạm vi những sách thuộc bậc đại học và sách nghiên cứu tầm cỡ ấy trở lên đã được in trong nước và

do người Việt viết, tuyệt nhiên không dám mở rộng ra đến các luận án tiến sĩ, luận án thạc sĩ, các bài nghiên cứu đã công bố đó đây - một cái biển mênh mông rất quý giá nhưng một cá nhân khó có thể bao quát nổi tất cả dù chỉ nói về mặt số lượng Hi vọng rằng quý vị và các bạn có thể thông cảm cho người viết bài này Vơí các nhà nghiên cứu nước ngoài và ở nước ngoài chúng tôi cũng mong quý vị thứ lỗi vì sự bất lực của chúng tôi trong công việc kiểm điểm này, chứ không hề phải vì những đóng góp của quý vị không được trân trọng trong nền ngữ pháp Việt Nam Cũng cần nói thêm là người viết phải xin tự thú nhận rằng không đủ điều kiện và cũng không đủ sức để có thể thâm nhập một cách đúng mức vào những thành tựu của công cuộc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trước đây ở phía nam và, do đó, phải xin lỗi quý vị về những thiếu sót có thể xảy ra

Điều cần khẳng định đầu tiên là có nền ngữ pháp Việt Nam nói riêng và nền ngôn ngữ học Việt Nam nói chung là nhờ có Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945! Đó không phải là một thành ngữ chính trị mà là một sự thật không thể bác bỏ Vị thế mới của nước Việt Nam từ thuở ấy đã nâng tiếng nói Việt Nam lên vị thế tương ứng, nhờ đó và, một điều kiện không thể thiếu được, là nhờ chính sách ngôn ngữ đúng đắn của Nhà nước Việt Nam mới, tiếng Việt Nam bắt đầu có cơ hội tự phát triển nhanh chóng và bắt đầu được nghiên cứu có tính chất tập trung, có “bài bản”, với tư cách một ngành khoa học, nhất là từ năm 1954 (Đó cũng là cái mốc thời gian vững chắc để Nguyễn Tài Cẩn phân kì “giai đoạn tiếng Việt hiện nay” là

“từ 1945”, với đặc trưng “có 1 ngôn ngữ : Tiếng Việt” và “1 văn tự: Chữ Quốc ngữ”, theo cách phân kì dựa

vào “tình thế ngôn ngữ” [Cẩn, N.T, Thử phân kì lịch sử 12 thế kỉ của tiếng Việt, “Ngôn ngữ”, số 6, 1998,

tr.8])

Công việc nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Việt ở Việt Nam đã có từ trước đó khá lâu với những tên tuổi và những thành tựu khả kính, nhưng về đại cục thì chưa có tính chất một ngành học đích thực, do mục đích và cách thức nghiên cứu nó

Lựa chọn con đường tiếp cận những sách ngữ pháp tiếng Việt đã có cho bài viết nhỏ này là một vấn đề thực sự.Giải pháp được chọn sau đây chỉ là một thử nghiệm của một cá nhân cho một bài viết nhỏ Từ 1945

trở lại đây có thể tạm chia công cuộc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt thành 3 hướng đi lớn, gồm:

− hướng đi thiên hơn về ngữ pháp truyền thống,

− hướng đi chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận và cấu trúc chức năng luận,

− hướng đi chịu ảnh hưởng của Ngữ pháp chức năng

(*) In trong tạp chí “Ngôn ngữ”, số 9 năm 2000, tr.41-47

Trang 17

Những công trình nghiên cứu mỗi hướng đi đều có vai trò thích đáng của mình trong giai đoạn lịch sử của nó và vẫn giữ ý nghĩa tích cực cho mãi về sau Đó là tình hình có thực trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt Vả lại, sự phân chia như vậy chẳng qua là để tiện làm việc, nó không kéo theo một đường ranh giới “bất khả xâm phạm” giữa các công trình nghiên cứu thuộc các hướng khác nhau, cũng như trong bản thân một công trình cụ thể nào đó Những hướng đi này có thể ứng một cách ước định và không thật rạch ròi với những mốc thời gian nào đó

a Hướùng đi thiên hơn về ngữ pháp truyền thống

Tiếng Việt là thứ ngôn ngữ không biến hình từ, có lẽ vì vậy trong hầu hết các công trình nghiên cứu tiếng Việt không thấy có công trình đáng kể nào mà lại khuynh hướng về hình thức một cách tuyệt đối Đó cũng là nét đặc trưng của ngôn ngữ học truyền thống, luôn luôn chú ý đến cả mặt hình thức lẫn mặt nội dung, thậm chí coi mặt nội dung trọng hơn mặt hình thức Những công trình nghiên cứu tiếng Việt tại Việt Nam ở thời kì đầu về cơ bản là theo hướng đi thiên về ngữ pháp truyền thống, và ảnh hưởng của ngữ pháp truyền thống vẫn còn mãi về sau

Lăn lộn trong cuộc kháng chiến cứu quốc thời kì đầu ở phía bắc Việt Nam, từ năm 1948 đến năm 1951, mà vẫn bận tâm với Ngữ pháp tiếng Việt trên quy mô lớn nhưng chưa làm được trọn vẹn (như tác giả tự

nhận xét), phải kể đến Phan Khôi (được in 1955), với cuốn Việt ngữ nghiên cứu Tiếp theo là Nguyễn Lân (1956) với Ngữ pháp Việt Nam Cùng thời gian đó ở phía nam, trong những điều kiện khác, nổi rõ lên là Thanh - Ba - Bùi - Đức - Tịnh với Văn - phạm Việt - Nam (1952) mà tiền thân của nó là Những nhận - xét về

văn - phạm Việt - Nam (1948), Nguyễn - Hiến - Lê với Để hiểu Văn - phạm (1952) v.v

Càng về sau và cho mãi đến gần đây, các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt càng chú ý hơn đến mặt cấu trúc của ngôn ngữ, nhưng đồng thời cũng chú ý nhiều đến mặt nghĩa

b Hướng đi chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận và cấu trúc chức năng luận

Người có khuynh hướng rõ hơn cả về phía cấu trúc hình thức của tiếng Việt và ứng dụng cấu trúc luận ở

giai đoạn phát triển và thịnh hành của nó vào việc nghiên cứu tiếng Việt là Lê Văn Lý (1948) với Le parler

Vietnamien Có thể bình luận chỗ này chỗ nọ trong công trình nghiên cứu đó, nhất là đứng tại thời gian

2000, nhưng dẫu sao đó cũng là một tiếng vang cần được ghi nhận, một tiếng dội “tích cực” đầu tiên thời bấy giờ đến việc nghiên cứu ngữ pháp Việt Nam từ những kết quả “rực rỡ” của thời hưng thịnh của một lí thuyết đại cương Ngoài công trình nghiên cứu sớm này tại nước ngoài, cấu trúc luận ngôn ngữ học chủ yếu vào đến Việt Nam sau mốc lịch sử 1954

Có thể nhận xét rằng từ đầu những năm 60 (thế kỉ 20) trở đi là thời kì công cuộc nghiên cứu ngữ pháp Việt Nam phát triển mạnh và nhanh Và càng tiến về phía trước cùng với thời gian thì càng rõ hơn dấu ấn mới của lí thuyết đại cương về ngôn ngữ : thời kì của cấu trúc luận và cấu trúc chức năng luận trong ngôn ngữ học Nước Việt Nam vẫn còn tiếp tục bị chia cắt thành hai miền với hai thể chế chính trị công khai khác nhau, nhân dân Việt Nam vẫn chưa ra khỏi cuộc chiến tranh giải phóng toàn bộ dân tộc và thống nhất toàn bộ đất nước Việc này không thể không được tính đến khi điểm qua nền ngữ pháp Việt Nam thời kì này Vì, đáng chú ý là ở cả hai miền bắc và nam Việt Nam trong thời kì này cùng có một sự phát triển về ngữ pháp tiếng Việt hầu như là đồng đều nhau Dấu hiệu rõ nhất trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp của giai đoạn này là:

− Tiếp tục đi sâu vào mặt cấu trúc của tiếng Việt, nhưng có chú ý đầy đủ hơn đến mặt chức năng của các

yếu tố ngôn ngữ, hoạt động của chúng, bên trong hệ thống ngôn ngữ Việt Có thể nói rằng cấu trúc luận thuần túy không có mặt hiển nhiên trong việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt tại Việt Nam (Về việc này, có thể nhắc thêm đến một thử nghiệm ứng dụng một hướng của cấu trúc luận vào việc nghiên cứu câu đơn

tiếng Việt của một nhà Việt ngữ học người Nga là Ju.K Lekomcev (1964) Cấu trúc câu đơn tiếng Việt - bằng

tiếng Nga)

Trang 18

− Cố gắng nhiều trong công cuộc tìm kiếm đặc trưng của tiếng Việt, một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn

lập và trước đó còn đang được chú ý Hướng cố gắng này thu hút chú ý của nhiều nhà ngữ pháp về phía miêu tả vị trí, chức năng và ý nghĩa của các “từ vụn”, một con đường ngày càng tỏ ra đúng hướng

Những hiện tượng ngôn ngữ có liên quan đến ngữ cảnh của tình huống (situational context) tuy có được xét đến trong thời kì này nhưng chưa trở thành trọng tâm nghiên cứu; Điều đó cũng không khó hiểu bởi vì việc nghiên cứu tiếng Việt có “bài bản” vẫn không thể thoát ra ngoài cái khung chung của lí thuyết đại cương từng thời, và do những điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, các lí thuyết chung về ngôn ngữ thường đến Việt Nam muộn màng hơn

− Các công trình nghiên cứu lớn đều đã chú ý đến việc xây dựng trên một cơ sở lí luận bắt nguồn từ một

lí thuyết ngữ học đại cương nào đó Điều này cần được ghi nhận như một dấu hiệu chuyển mình tích cực trong công cuộc nghiên cứu tiếng Việt, giúp tránh được sự mô phỏng ngữ pháp tiếng nước ngoài một cách không căn cứ: bước đầu dùng lí luận chung vào việc miêu tả riêng một ngôn ngữ cụ thể Chỗ bất lực trong miêu tả ngữ pháp một ngôn ngữ cụ thể có phần đáng kể là do lí luận chung chưa bao quát được tất cả các hiện tượng ngôn ngữ và các ngôn ngữ thuộc các loại hình khác nhau, nhưng phần không kém quan trọng là

do chủ thể nghiên cứu chịu trách nhiệm)

Ở phía bắc Việt Nam, theo hướng đi này, được in dưới hình thức sách trong những năm

60 và cho đến hiện nay, theo trình tự thời gian, có những công trình nghiên cứu ngữ pháp có ảnh hưởng lớn sau đây

− Hoàng Tuệ (1962) trong Giáo trình về Việt ngữ (cùng với những chủ đề ngôn ngữ học khác do Lê Cận

và Cù Đình Tú biên soạn)

− Nguyễn Kim Thản vơí: (i) Nghiên cứu về Ngữ pháp tiếng Việt (hai tập) (1963); (ii) Động từ trong tiếng

Việt (1977)

− Nguyễn Tài Cẩn có: (i) Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại (1975); (ii) Ngữ pháp tiếng Việt

Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ (1975)

− Ngữ pháp tiếng Việt (1983) của Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam (do tập thể biên soạn; biên soạn lần

đầu gồm có: Nguyễn Kim Thản, Trần Chút, Lê Xuân Thại, lần cuối có sự tham gia trực tiếp của các vị: Phạm

Huy Thông, với những người cùng làm việc là Hoàng Tuệ, Trần Chút - x Lời giới thiệu, tr.6)

Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu tầm cỡ bậc đại học có thể kể ra những tác giả của các công trình nghiên cứu được in dưới dạng sách, hoặc có tính chất chuyên luận (từng mảng vấn đề của ngữ pháp) hoặc có tính chất chung và các giáo trình đại học, theo thứ tự bảng chữ cái như sau: Diệp Quang Ban, Lê Cận, Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Cao Đàm, Đinh Văn Đức, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Lai, Lưu Vân Lăng, Hồ Lê, Vũ Đức Nghiệu, Đái Xuân Ninh, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Anh Quế, Hữu Quỳnh, Lê Xuân Thại, Phan Thiều, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Minh Thuyết, Bùi Minh Toán, v.v (chưa tính những giáo trình tiếng Việt thực hành và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài)

Ở phía nam Việt Nam trong hướng đi này có:

− Nổi bật lên công trình nghiên cứu liên danh Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê (1963) Khảo luận về

Ngữ pháp Việt - Nam (Về sau riêng nhà nghiên cứu Trương Văn Chình (Paris - 1970) đã có một bản in

khác bằng tiếng Pháp, nhan đề Structure de la langue vietnamienne được coi là lần xuất bản có xem lại và sữa chữa Khảo luận nói trên - “une édition revue et corrigée de l’Essai de grammaire vietnamiennex”, trong Dẫn luận, tr VII)

− Lê Văn Lý (in lần thứ nhứt: 1968), Sơ thảo Ngữ pháp Việt Nam

− Bùi - Đức - Tịnh (in lần thứ nhứt 1962, lần thứ hai có sửa chữa và thêm 1972), Văn - phạm Việt -

Nam Giản dị và Thực dụng

Trang 19

− Trần Ngọc Ninh (1973, 1974), Cơ - cấu Việt - ngữ (ba tập: trong phần giới thiệu sách, dự kiến có tập

thứ tư sẽ in) v.v

c Hướng đi chịu ảnh hưởng của Ngữ pháp chức năng

Ngữ pháp chức năng là hướng nghiên cứu ngôn ngữ mới, được nhiều nhà nghiên cứu lớn trên thế giới quan tâm, bởi tính toàn diện của nó Do lí thuyết ngữ pháp chức năng còn chưa trở thành quen biết với nhiều bạn đọc Việt Nam, thiết tưởng nên nói thêm vài lời về nó Cũng giống như những lí thuyết lớn khác (như cấu trúc luận chẳng hạn), vừa sơ bộ hình thành ngữ pháp chức năng đã bắt đầu tự khơi những dòng chảy khác nhau Theo chỗ hiểu biết hạn hẹp của tôi, đến nay sự phân biệt giữa Ngữ pháp chức năng (Functional Grammar) với Ngữ pháp chức năng hệ thống (Systemic Functional Grammar) (1) đã rõ ràng trên những cơ sở khá xác định Riêng trong ngữ pháp chức năng cũng hình thành hai thiên hướng rõ rệt: Hướng của Simon Dik (và Anna Siewierska sau đó) và hướng của M.A.K Halliday Trong công trình nghiên cứu ngữ pháp của Halliday chứa nhiều yếu tố của ngữ pháp chức năng hệ thống đến mức những người khác đã không ngần ngại gọi đó là ngữ pháp chức năng hệ thống Nhưng riêng Halliday thì đã hơn một lần khẳng định rằng ngữ pháp của mình chỉ là ngữ pháp chức năng thôi (trong bản công bố lần thứ nhất năm 1985, bản công bố lần thứ hai 1994 - và không có gì thay đổi về vấn đề này trong các bản in lại bản công bố lần

thứ hai vào các năm 1995, 96, 97, 98, 99) Lí do cho điều khẳng định đó được trình bày trong Lời nói đầu

cho lần xuất bản lần thứ hai và trong Dẫn luận của tất cả cácbản in Hơn nữa Halliday còn gọi công trình

nghiên cứu của mình chỉ là Một dẫn luận Ngữ pháp chức năng (An Introduction to Functional Grammar), với từ một đượm màu khiêm tốn và để ngỏ sự cạnh tranh

Ngữ pháp chức năng là một hướng đi có tính hơn trội so với ngữ pháp cấu trúc và ngữ pháp truyền thống, nó tiếp nhận những thành tựu của các giai đoạn trước thích hợp với nó và làm giàu có thêm, mạnh mẽ thêm bằng những sáng kiến của nó

Người có công đầu trong việc đưa ngữ pháp chức năng vào Việt Nam là Cao Xuân Hạo (1991) với Tiếng

Việt Sơ thảo ngữ pháp chức năng Quyển 1 Cùng then quan điểm này có Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn

Bằng, Bùi Tất Tươm, dưới quyền chủ biên của Cao Xuân Hạo (1992), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt Quyển

1 Câu trong tiếng Việt Cấu trúc - Nghĩa - Công dụng

Có lẽ điều cần nói thêm ở đây là quan điểm không chấp nhận trong tiếng Việt có cấu trúc chủ - vị, chỉ có cấu trúc đề - thuyết, và quan trọng hơn là coi cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu (thay vì cấu trúc chủ - vị), không phải là giải pháp duy nhất và có tính chất bắt buộc đối với ngữ pháp chức năng tiếng Việt Đó là một quan điểm trong những quan điểm có thể có khi xây dựng một ngữ pháp chức năng tiếng Việt Và mọi quan điểm nghiên cứu đều cần được tôn trọng, và các nhà nghiên cứu có quyền chọn lựa Có thể lưu ý thêm rằng tại Việt Nam việc sử dụng quan hệ đề - thuyết thay vì quan hệ chủ - vị đã được

thực hiện lần đầu tiên trong Ngữ pháp tiếng Việt (1983) của Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam và Trần Ngọc Thêm (1985) trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt Đó là thời kì sôi động của lí thuyết “phân đoạn

thực tại câu”, hay còn gọi là “phối cảnh chức năng của câu” Đó cũng là khi mà ngữ pháp chức năng đang bắt đầu hình thành trên bình diện thế giới và chưa được biết đến tại Việt Nam Và hiện nay những người bênh vực quan hệ chủ - vị trong tiếng Việt không hề phủ định tầm quan trọng của quan hệ đề - thuyết, nét riêng chủ yếu của cách nhìn này là không coi nó là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu và đặt nó vào bậc phân tích câu với tư cách một thông điệp, một lời trao đổi Ở đó nó thuộc về phần kinh nghiệm của người nói thể nghiệm ở “cách đưa câu vào ngữ cảnh sự việc “ (V.Mathesius(2), 1947); nó “gắn với tổ chức của câu với tư

(1) Về ngữ pháp chức năng hệ thống có thể xem thêm:

- M.A.K Halliday (1994), Systemic Theory (từ mục trong Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học, do R.E Asher chủ biên, T 8, tr 4505-4508)

- C Butler (1954), Systemic Grammar in Applied Language Studies (như trên, tr 4500-4504)

- Suzanne Eggins (1994), An Introduction to Systemic Functional Linguistics

(2) X: Mathesius V (1947), Về cái gọi là phân đoạn thực tại câu, bản dịch tiếng Nga trong “Nhóm ngôn ngữ học Praha”, Moskva, 1967, tr.239 Trong đó ông còn ghi nhận rằng: “Về phân đoạn thực tại câu người ta viết nhiều hơn

Trang 20

cách là thông báo” (Halliday(3), 1970) chứ không phải với tư cách cấu trúc cú pháp, vì nó cho thấy “các cấu trúc ngữ pháp và các cấu trúc nghĩa hoat động như thế nào trong bản thân một hành động giao tiếp” (F Danesh, dẫn theo Halliday, 1970); và hơn nữa, trong đó “cũng như trong thành tố bất kỳ khác của tổ chức ngôn ngữ”, (nó) cho thấy ý tiềm tại của người nói” (Halliday,1970), chức năng của nó là “chức năng tạo văn bản” (Halliday, 1970)(4)

Quan điểm Ngữ pháp chức năng tiếng Việt của Cao Xuân Hạo là một đóng góp đáng quý, cần được trân trọng và tiếp tục khai thác theo sự tùy chọn của người làm nghiên cứu Cùng với quan điểm đó, trong việc nghiên cứu tiếng Việt còn có thể có những cách tiếp cận khác nữa vẫn theo lí thuyết ngữ pháp chức năng đại cương, bởi vì vốn dĩ, như đã nói, bản thân ngữ pháp chức năng đã có những dòng chảy khác nhau, vả lại trong cùng một dòng chảy vẫn có thể có những tay bơi khác nhau

Nhìn lại một cách tổng quát nền ngữ pháp Việt Nam trong nửa thế kỉ qua và liên hệ với tình hình ngôn ngữ học thế giới và ngôn ngữ học Việt Nam hiện tại, có thể nhận ra rằng ngữ pháp truyền thống vẫn còn giá trị ít

ra là ở những bộ phận nhất định; Cấu trúc luận và cấu trúc chức năng luận vẫn đang phát huy những mặt tích cực của mình và ngữ pháp Việt Nam chưa phải đã hoàn tất mọi nghiên cứu theo quan điểm đó, nhất là trong mối quan hệ với việc dạy - học ngoại ngữ và đối chiếu với ngoại ngữ; ngữ pháp chức năng có mặt hơn trội xét về nghiên cứu ngôn ngữ học lí thuyết, nhung chưa phải là tài sản phổ cập, dễ dùng, đang đòi hỏi sự gia công rất lớn trong việc cập nhật hóa không chỉ với tiếng Việt và ở Việt Nam Trong tình hình thực tiễn như vậy, nền ngữ pháp Việt Nam cần sự nỗ lực đóng góp của nhiều người với những công cuộc nghiên cứu khác nhau, dù lớn dù nhỏ, trên mọi khuynh hướng lí thuyết từ truyền thống cho đến hiện đại, kể cả những lí thuyết mới chưa du nhập vào Việt Nam (như ngữ pháp chức năng hệ thống, ngữ pháp tri nhận, ngữ pháp

của từ, dạng ngữ pháp dùng vào máy tính v.v ), với một chí hướng chung: xây dựng những ngữ pháp Việt

Nam vững chắc về lí thuyết, hiệu quả về sử dụng

cả (mặc dù không dùng tên gọi này) vào những năm 50-80 thế kỉ 19 Ngay năm 1855 đã có nhà ngữ học Pháp là Henri Weil chú ý đến tầm quan trọng của phân đoạn thực tại câu đối với việc giải quyết vấn đề trật tự từ; đề tài này cũng được các nhà ngữ học tập hợp chung quanh tạp chí “Zeitschrift f ⎫r V⎞lkerpsychologie” nhiệt tình khai thác”

(3) X: Halliday, M.A.K (1970), Vị trí của “Phối cảnh chức năng của câu” trong hệ thống phân tích ngôn ngữ, Bản dịch tiếng Nga trong”Cái mới trong ngôn ngữ học nước ngoài”, Quyển VIII, Ngôn ngữ học văn bản, Moskva, 1978, tr 138-148 Các ghi chú tên tác giả này ở phần tiếp theo trong ngoặc đơn có ghi 1970 đều là lấy trong bài viết này

(4) Có thể xem thêm về quan hệ đề - thuyết trong: Diệp Quang Ban (1999), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, tr 114

- 127

Trang 21

MỘT SỐ SUY NGHĨ BƯỚC ĐẦU

VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT(*)

NGUYỄN KIM THẢN

1.1 Tham luận về phương pháp tiếng Việt của các tác phẩm xuất bản ở Việt Nam trong thời gian qua, đối với chúng tôi là một việc khó khăn Một là trình độ của chúng tôi có hạn Hai là các công trình ngữ pháp tiếng Việt trong ba bốn chục năm qua rất nhiều, mà các phương pháp nghiên cứu ngữ pháp trên thế giới cũng lắm Ba là khái niệm “phương pháp” chưa được hiểu thống nhất

1.2 Như ta đã biết, trong ngôn ngữ học mấy chục năm trở lại đây, người ta đã nói đến một loạt các phương pháp mới như kết cấu, chức năng, phân bố, tổ hợp, phân tích theo thành tố trực tiếp, cải biến theo ngữ pháp học tạo sinh, v.v Đấy là chưa kể các phương pháp cũ hiện còn dùng: so sánh, lịch sử - so sánh, miêu tả , những phương pháp mang tên của những nhà sáng tạo ra nó như phương pháp L Tex-nie, V Ghiôm, v.v Ngoài ra, còn có các phương pháp của các ngành khoa học khác áp dụng vào ngôn ngữ học như: các phương pháp mô hình hóa, công thức hóa, ma trận hóa, thống kế, toán học v.v

1.3 Riêng ở tác giả người Việt, ta cũng thấy thuật ngữ “phương pháp” khi thì được dùng theo nghĩa rộng, khi thì được dùng theo nghĩa hẹp, và đã có cố gắng xác định lại nội dung của khái niệm “phương pháp”

với các khái niệm có liên quan (1) Chẳng hạn trong Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Lê Văn Lý dùng khái niệm

này gần như là cách phân chia các bộ phận trong một tác phẩm miêu tả ngôn ngữ “hoặc” trình tự miêu tả (2) Nguyễn Tài Cẩn coi đối chiếu cũng là một phương pháp và viết “Chính nhờ phương pháp đối chiếu đó, chúng ta mới có khả năng thấy được ý nghĩa của tiếng và tách tiếng ra được” (3) Hoàng Trọng Phiến dùng thuật ngữ “phương pháp” trong một số trường hợp như sau:

“Nếu dùng phương pháp đồng hình ta có:

(d) Tôi tìm đường rừng cho ông Hiếu ( + )

(đ) Tôi tìm đường rừng để ông Hiếu ( − ) (4)

Ở một đoạn khác tác giả viết:

“(a) Để học sinh nắm vững bài, cô giáo đã giảng đi giảng lại hai ba lần

(b) Tôi tìm đường cho bộ đội vượt qua

Dung lượng ngữ nghĩa của loại câu một chiều này được ghép lại theo phương pháp gộp” (5)

Nguyễn Kim Thản trong Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt dùng thuật ngữ “phương pháp cải biến”, đến Động từ trong tiếng Việt đã sữa chữa lại là “biện pháp cải biến” trong khi Hoàng Trọng Phiến gọi là

“thao tác cải biến “ (6)

1.4 Ở nước ngoài cũng có tình trạng chưa thống nhất ý kiến về khái niệm “phương pháp” Một công trình lớn chuyên khảo về vấn đề phương pháp trong khoa học xã hội cũng phải thốt lên: “khái niệm phương pháp thường bị lên án là mập mờ” (7), và chính tác giả của công trình này đã dùng cả một trang sách đầu chỉ để dẫn một câu nói lên sự dằn vặt, và có lẽ cả cách suy nghĩ theo chủ nghĩa bất khả tri: “Phương pháp, phương pháp, mi muốn cái gì ở ta? Mi biết rõ rằng ta đã ăn trái quả vô thức” J Lafoo-gơ (8)

1.5 Về thành tựu của ngữ pháp học tiếng Việt nói chung, của các nhà ngữ pháp học Việt Nam nói riêng, báo cáo của đồng chí Lưu Vân Lăng tại hội nghị về ngữ pháp tiếng Việt (8-1981) đã trình bày tóm tắt mà rõ ràng Ở đây chúng tôi chỉ trình bày thêm một vài ý kiến về vấn đề phương pháp theo cách hiểu của chúng tôi về vấn đề này:

(*) In trong “ Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt”, GS Lưu Vân Lăng chủ biên (1988), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

tr 33-46

Trang 22

2.1 Phương pháp lô gích - ngữ nghĩa mà ta còn gọi là phương pháp truyền thống đã chiếm địa vị chủ

đạo một thời gian lâu dài trong ngữ pháp học Việt Nam Từ chuyên luận ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên của G Ôbarê (9) đến một loạt sách ngữ pháp dùng trong một trường tiểu học và trung học ở hai miền, cách đây không lâu, phương pháp này đã đem lại cho chúng ta một sự miêu tả ngữ pháp tiếng Việt phảng phất như người ta đã thấy ở ngữ pháp tiếng Pháp, mà đằng sau nó,thấp thoáng bóng hình của ngữ pháp thời Điônisut Thraxơ hoặc Varôn Song dù sao ta cũng thông cảm với những người đi đầu trong ngữ pháp học tiếng Việt, những người đã đắp lớp đất đầu tiên của cái nền mà ta xây dựng các công trình mới ngày nay, thông cảm với những điều kiện khoa học trong thời gian, không gian mà họ hoạt động

Đã có những ý nguyện chân thành, cảm động, muốn xây dựng ngữ pháp trên nền tảng khoa học, phù hợp với tiếng Việt

Chớ tưởng rằng hết thảy các tiếng nói trong hoàn cầu đều làm một luật như nhau cả đâu ( ) mẹo Pháp sánh cùng mẹo Tàu hoặc mẹo Nam, thì xa nhau như trời với đất ( ) Khi bàn về mẹo tiếng Nam, thì xin đừng ( ) sánh so cùng mẹo tiếng Pháp, kẻo ra in tuồng bỏ tiếng Nam vào khuôn tiếng Pháp mà đúc cho trọi vậy (10)

(Xin so sánh với quan điểm Trần Trọng Kim: “Tiếng nói là cách biểu diễn cái tư tưởng của người ta ra cho người khác biết Cách biểu diễn ấy tuy khác, nhưng bao giờ cũng theo cái lý cho thuận Đã theo lý thì dù đông dù tây, đâu đâu cùng một lý cả Vậy theo phương pháp của Tây mà phân ra các từ loại, tưởng không phải là sự sai lầm” (11))

Cũng đã có sự miêu tả những hiện tượng đặc thù của tiếng Việt (các loại từ, trợ từ ), những sự cải tiến cách miêu tả của ngữ pháp nhà trường thời Pháp Chẳng hạn Bùi Đức Tịnh là người đầu tiên đưa một thành tựu của ngôn ngữ học đại cương vào việc phân biệt thành phần câu (chủ ngữ - vị ngữ) với từ loại (danh từ - động từ), khắc phục sự gộp nhập hai hiện tượng này, có từ thời Hy Lạp cổ đại (12)

2.2 Phương pháp chức năng chủ nghĩa mà linh mục Lê Văn Lý áp dụng lần đầu tiên vào tiếng Việt đã

mở một giai đoạn mới trong việc nghiên cứu tiếng Việt Với quan niệm: ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp, chỉ những yếu tố có chức năng trong ngôn ngữ mới là những yếu tố ngôn ngữ, các yếu tố ngôn ngữ nằm trong một hệ thống với các yếu tố khác, “ngôn ngữ học chức năng làm việc với các sự kiện và các thực tế ngôn ngữ thay đổi tùy theo từng ngôn ngữ, và theo tiên nghiệm, không thể là đồng nhất cho mọi ngôn ngữ” (13), “không tiến hành nghiên cứu với những khung đã sắp sẵn để rồi điền các sự kiện ngôn ngữ vào”, mà

“trái lại, xuất phát từ những sự kiện ngôn ngữ để cố gắng tìm một cái khung thích hợp” (14), “dựa vào chức năng,sự ứng phó và kết cấu”, lấy giao hoán làm biện pháp thử nghiệm, “không bao giờ cầu cứu đến ý nghĩa

để hướng dẫn công việc, vì như thế sẽ là chạy theo ngữ cảm” (15), Lê Văn Lý đã có những thành công nhất

định trong việc phân định từ loại, xác định các từ có chức năng “phát hiện” các từ loại khác, v.v

Song ở phần chính của ngữ pháp tiếng Việt - tuy tác giả đặt cho công trình mình một cái tên phụ, khiêm tốn là “Phác thảo ngữ pháp tiếng Việt”, tác giả đã không thành công: 24 kiểu tổ hợp cùng từ loại, 70 kiểu tổ hợp khác từ loại, (hạn chế trong những câu hai ba từ) và 29 kiểu đặt câu với 5 từ và với những hoán vị khác nhau, những ngữ điệu khác nhau, tác giả mới chỉ vạch ra được những kiểu tổ hợp mà chính tác giả có chỗ đã nhận là để “gợi trí tò mò” (16)

Có lẽ để khắc phục thiếu sót đó, khi viết Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Lê Văn Lý đã phải rút gọn những

chỗ “gợi trí tò mò” đó (ở đây gọi là những “câu tự loại”) mà thêm vào sự miêu tả các loại câu: đơn giản, phức tạp, khẳng định, phủ định, nghi vấn, khuyến lệnh, miêu tả chủ từ, thuật từ, túc từ, hô cách (những kiểu gọi tên trong tiếng Việt), ngôn ngữ tình cảm, v.v (17)

Những điều bổ sung trên chứng tỏ rằng: không chú ý đến mối quan hệ khắng khít giữa ngữ nghĩa và hình thức, kết cấu ,không tiếp thu những gì có giá trị chung trong ngữ pháp học truyền thống thì không thể đưa lại kết quả là phản ánh chân thực hệ thống ngữ pháp của một ngôn ngữ

2.3 Phương pháp của tác giả Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam (18), căn cứ vào một đôi chỗ trình bày

trong tác phẩm này thì dường như là một phương pháp chú ý toàn diện cả hình thức lẫn nội dung Các tác

Trang 23

giả viết: “phương pháp hợp với lương tri hơn cả, là phải căn cứ vào cả hình thể lẫn nội dung của lời nói” (19) Nhưng khi xác định ranh giới của từ, từ loại, phân tích câu , trên thực tế tác giả chỉ căn cứ vào ý nghĩa Lời tựa của linh mục Cao Văn Luận đã nói thay cho thực chất của phương pháp này: “Về ngữ học, phương pháp coi là tiến bộ nhất là phương pháp nghiên cứu theo cách cấu tạo (sutruc turalisme) Nhưng những học giả theo phương pháp đó cũng chia thành hai phái chủ trương khác nhau: một bên căn cứ vào mặt chữ (structure formelle), một bên căn cứ vào sự cấu tạo của tư tưởng (structure de la pensée) mà nghiên cứu Tác

giả Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam theo chủ trương thứ nhì” (20).

Rõ rệt nhất là khi trả lời bài phê bình cuốn sách này (21) Trương Văn Chình đã nói là mình theo

“phương pháp nội quan” và cho rằng phương pháp ấy có tính chất khách quan (22) Thế là Lê Văn Lý thì “lấy sự kiện và thực tế của ngôn ngữ”, lấy “từ chứng” để làm căn cứ phân loại từ cho khách quan, Trương Văn Chình lại chỉ cần đến sự quan sát chủ quan để làm công việc ấy.Ta sẽ thấy rõ hơn khi tác giả bênh vực phương pháp nội quan của mình: “Đem duy vật biện chứng pháp để nghiên cứu ngôn ngữ thì thật là một cái lầm rất lớn Cái lầm ấy không thể tha thứ được, ở những người theo chủ nghĩa Marx” (!) (23)

Thật đáng tiếc: vì những hiện tượng tư biện chủ quan đầy dẫy trong tác phẩm đã hạn chế tính chất khoa học của nó

2.4 Phương pháp nghiên cứu ngữ pháp của những người làm công tác này ở miền Bắc tuy có khác nhau về cách tiếp cận thủ tục phân tích và một số vấn đề lý thuyết, nhưng có đặc điểm chung là:

1) Lấy phương pháp luận duy vật biện chứng làm cơ sở, do đó có những tiên đề lý thuyết đúng đắn: coi ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, đồng thời còn là công cụ tư duy, ngôn ngữ là một hệ thống, các yếu tố tạo nên nó có quan hệ khăng khít với nhau, hai mặt của ngôn ngữ - ý nghĩa và hình thức - gắn bó với nhau, v.v

2) Ở những mức độ đậm nhạt tuy có khác nhau nhưng không người nào theo hẳn một trường phái, một phương pháp nghiên cứu có sẵn ở nước ngoài Nếu Lê Văn Lý chia từ tiếng Việt làm ba loại A, B, C thì tuy tác

giả phần ngữ pháp trong Giáo trình về Việt ngữ, Tập 1, gọi A là B, gọi B là A nhưng có phân loại tỉ mỉ thêm:

I, N, Đ, t, loại từ và thán từ (24) Tuy tác giả Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt có tiếp thu ý kiến của V.V

Vinôgradôp về câu, nhưng việc miêu tả các kiểu câu đơn, câu phức, không phải là hệ thống của Vinôgradôp (25) tuy có sử dụng biện pháp cải biến nhưng “không biến cải biến ngữ pháp “thành những công thức” (26)

Tác giả Hoạt động của từ tiếng Việt tuy theo chủ nghĩa chức năng nhưng hệ thống các đơn vị trong tác

phẩm này không giống hệ thống của A.Mactinê (27)

3) Tuy chưa có người nào đề ra một phương pháp riêng, hoàn chỉnh, nhưng ở một chừng mực nhất định, một số người đã cống hiến về mặt phương pháp Việc vạch mô hình đầy đủ của đoản ngữ danh từ rồi từ đó nghiên cứu từng vị trí của đoản ngữ ấy (Nguyễn Tài Cẩn) (28), phương pháp phân tích theo tầng bậc, hạt nhân (Lưu Vân Lăng) (29), phương pháp miêu tả ngữ pháp theo hệ thống và theo vận dụng (Nguyễn Kim Thản), v.v là những ví dụ

Do đó, trong thời gian qua ngữ pháp học tiếng Việt ở miền Bắc, đã tiến được những bước quan trọng 3.1 Để củng cố những thành tựu chung và để phát triển ngữ pháp học Việt Nam, thiết tưởng xây dựng những nguyên tắc chính về phương pháp nghiên cứu là rất cần thiết Vì vậy nên bàn bạc thêm về vấn đề này trong thời gian tới Ở đây chúng tôi xin đưa ra một số gợi ý

3.2 Phương pháp không hoàn toàn là một hiện tượng độc lập Trái lại, nó phụ thuộc vào phương pháp luận nhất định, và do tính đặc thù của đối tượng nghiên cứu quyết định Hiểu phương pháp luận như là học thuyết về các nguyên tắc xây dựng nhận thức khoa học, về các phương thức, hình thức nhận thức khoa học, gắn liền với một hệ thống triết học nhất định, chúng ta từ lí trí đến tình cảm, thừa nhận rằng, phương pháp luận của ngôn ngữ học, của ngữ pháp học là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử 3.3 Phương pháp không phải là một hiện tượng đơn giản Nó là hiện tượng gồm có các tiền đề lí thuyết, các biện pháp nghiên cứu, với khả năng ứng dụng trong một phạm vi, lĩnh vực tương đối rộng, nhằm nhận thức hiện thực, phát hiện qui luật tồn tại, phát triển của hiện thực Như vậy theo chúng tôi nghĩ, phương

Trang 24

pháp gồm ba yếu tố: 1) hệ thống các khái niệm lí thuyết cơ bản có tác dụng chỉ đạo các biện pháp: 2) hệ thống các biện pháp nghiên cứu, tức là hệ thống các cách tiếp cận, khám phá hiện thực, chứng minh, thử nghiệm những sự kiện của hiện thực do người nghiên cứu phát hiện được: 3) miền ứng dụng: khác với các biện pháp nghiên cứu như ta vừa định nghĩa, phương pháp được ứng dụng trong một phạm vi tương đối rộng, cho phép người ta nhận thức được một bộ phận tương đối lớn của hiện thực

3.4 Như vậy giao hoán, mở rộng, rút gọn, đối chiếu, so sánh, đồng hình, thống kê, v.v mà chúng ta đã và đang dùng, thật ra chỉ là những biện pháp (cũng gọi là thủ pháp, thủ thuật, thao tác) nghiên cứu, những biện pháp này được vận dụng theo những thủ tục nhất định, tức là theo những trình tự nhất định

4.1 Trong những tiền đề lí thuyết, có nhiều điều cần bàn bạc thêm (30) Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên những vấn đề tồn tại trong đó Trước hết, đó là khái niệm “ngữ pháp” Chẳng hạn, nếu ta cho rằng “tiếng là đơn vị có đủ cả hai đặc trưng đơn giản về tổ chức và có giá trị về mặt ngữ pháp”, “ mỗi tiếng bao giờ cũng có thể tách rời ra khỏi những tiếng bên cạnh bằng những đường ranh giới ngữ pháp” (31) thì ngữ pháp là gì? bắt đầu từ đâu? Phải chăng đây là quy tắc về sự tổ hợp của các yếu tố vô nghĩa để tạo thành một yếu tố có

nghĩa (so sánh: ba ba, bâng quơ, a-pa-tít, pê-ni-xi-lin đều do từ hai đến bốn “tiếng” tạo thành)? Hay là quy

tắc về sự tổ hợp của các đơn vị có nghĩa để thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ?

4.2 Trong ngôn ngữ, còn tồn tại các cấp độ (đáng lẽ nên gọi là các phương diện) khác nhau: đơn vị âm

vị học, đơn vị phát âm, đơn vị ngữ pháp, hay không? Nếu không thì có nên phân biệt âm vị/âm tiết/hình vị/từ, như nhiều người vẫn chủ trương không? Nếu có thì dùng “tiếng” để gọi, để xác định đơn vị gốc của

tiếng Việt là việc có nên không? Cũng xin nói thêm: tiếng trong tiếng Việt có hơn 10 nghĩa: tiếng Việt, tiếng Huế, Tự do hai tiếng ngọt ngào, tiếng nói tắt, nói hộ một tiếng, từ này gồm có hai tiếng, tiếng kèn, lên tiếng, ngày làm 8 tiếng, có tiếng, mang tiếng

4.3 Nghĩa trong ngôn ngữ là gì? Có những loại nghĩa nào? Phải chăng đó là phần nội dung, gắn với một

hình thức âm thanh nhất định, của một hiện tượng ngôn ngữ (hình vị, từ, cụm từ, câu ) phản ánh hiện thực và có thể khiến cho người cùng một cộng đồng ngôn ngữ hiểu được trong quá trình giao tiếp? Phải chăng nghĩa chỉ có hai loại cơ bản: nghĩa từ vựng (phản ánh hiện thực ngoài ngôn ngữ) và nghĩa ngữ pháp (phản ánh hiện thực trong ngôn ngữ và quan hệ giữa hiện thực với ngôn ngữ)? Hay là còn có nghĩa kết cấu, thậm chí nghĩa zê-rô? Và nội dung của những nghĩa này là thế nào? (Cũng xin nói thêm: cách phân tích

“hình thức zê-rô” là dựa vào hệ dọc (biến hình) của từ trong ngôn ngữ biến hình, liệu có thể áp dụng để xác

định “nghĩa zê-rô” không?) Liên tố (intefix) có đúng là một loại hình vị hay chỉ là yếu tố thuần túy ngữ âm,

chỉ có tác dụng làm êm tai tránh trúc trắc, chứ không phải là yếu tố mang nghĩa, có tác dụng phản ánh một

cái gì đó Suy ra, nếu o, e, , trong tiếng Nga là những hình vị mang nghĩa (parovoz, sineglaznyi) thì t trong tiếng Pháp (y-a-t-il? va-t’en!), s trong tiếng Đức (Geburtstag) cũng phải là những hình vị mang nghĩa, và như vậy thì tình bằng, í ơi trong các bài hát Việt Nam cũng mang nghĩa

4.4 Chỗ dựa để xem xét trong hệ thống tiếng Việt, một yếu tố x có nghĩa hay không là gì? Có thể căn cứ

vào sự hiểu biết của số đông người không? Nếu thế thì có đúng là quốc không có nghĩa mà chỉ có quốc kỳ,

quốc ca mới có nghĩa hay không? Có nên gạt những yếu tố vay mượn, nhưng nhân dân còn biết nghĩa của

chúng, sang những cái đứng ngoài hệ thống không? Quan hệ liên tưởng và biện pháp đối chiếu (quốc kỳ,

quốc gia đảng kỳ, quân kỳ , luật gia, nho gia, rồi kỳ hạn, kỳ xí , gia súc, gia cầm ) có thể giúp cho ta

nhận ra nghĩa của quốc, kỳ, gia không?

4.5 Có tồn tại đơn vị gọi là từ không? Định nghĩa xác định ranh giới của nó như thế nào? Đúng là trong các ngôn ngữ biến hình châu Âu, khó xác định thế nào là một từ (thật ra, nếu người ta áp dụng nhất quán

phương pháp trừu tượng hóa của âm vị học, khi phân biệt âm vị - đơn vị trừu tượng hóa khỏi các sự thực hiện cụ thể về âm thanh, với âm tố - những âm cụ thể của âm vị, để phân biệt “từ vị” - đơn vị trừu tượng hóa khỏi các hình thức cụ thể trong lời nói, với “từ tố” - những hình thức cụ thể của từ trong lời nói, là có

thể được (thí dụ động từ/Eme/ “yêu” trong tiếng Pháp là một từ vị, có những hình thức cụ thể trong lời nói: /Eme; Em; Emo / (với các hình thức chính tả: aimer, aimé, aimez, aime, aimes, aiment, aimons, aimais, aimait, aimai, aimions, aimiez, aima, aimas, aimât, aimeraiezt aimera, aimeras, aimerons, aimeront, aimerez,

Trang 25

aimerions, aimeriez, aimasse, aimasses, aimassions, aimassiez, aimant (chưa kể hình thức giống cái:

aimée, hình thức biến ngôi phân tích tính: je , tu , il , hình thức số nhiều aimés, giống cái số nhiều

aimées và các hình thức biến ngôi phân tích tính : je , tu , il , ils ) Cái khó khăn trong việc xác định từ

của tiếng Việt có đến nỗi lớn như thế không?

4.6 Kể từ F.Xôtxuya, ngôn ngữ học hiện đại phân biệt rành mạch cách miêu tả đồng đại và cách miêu tả lịch đại, và nhấn mạnh tính hệ thống (với những mức độ chặt chẽ không đồng đều như nhau), đối lập tĩnh thái với động thái Không miêu tả kỹ hệ thống tĩnh, đồng đại thì không thể hiểu sâu đối tượng Nhưng nếu không miêu tả hoạt động của đối tượng thì chắc chắn là không hiểu đầy đủ đối tượng Giải phẫu để tìm hiểu

cơ chế sinh lí của quả tim là rất cần thiết Nhưng nếu không biết trái tim đập như thế nào thì kiến thức về trạng thái tĩnh kia chẳng có ích bao nhiêu cho đời

Từ thực tế của tiếng Việt, chúng ta có thể thấy: từ có kết cấu ổn định của nó, cụm từ tự do có quy tắc tổ

hợp chặt chẽ của nó, câu có quy tắc khá chặt chẽ của nó Nhung đó là xét trong hệ thống tĩnh, thầy giáo đến khác hẳn đến thầy giáo Nhưng hoạt động trong lời nói, tổ chức này không tuyệt đối cứng nhắc mà có thể

uyển chuyển:

- Em thì thầy giáo nào cũng đến

- Trường em, vừa đến hai thầy giáo mới

Những từ, câu rút gọn, đảo trật tự, v.v cũng chính là biểu hiện động thái của những từ, những câu tĩnh thái Trong bản thảo “Ngữ pháp tiếng Việt (sách phổ thông)” (32) cũng như trong “Nhìn qua ngữ pháp tiếng Việt” (33), chúng tôi đã dùng phương pháp miêu tả “hệ thống - động” (systematicodynamique) này

Nhiều người cũng đã nói đến “hoạt động”, đến “vận hành” của ngôn ngữ Chúng tôi tin rằng nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt theo hướng này sẽ cho phép ta miêu tả đúng hệ thống chặt chẽ, đồng thời miêu tả được sự uyển chuyển của nó Và đây cũng là một trong những vấn đề lí thú trong khi bàn về phương pháp nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt

Chú thích:

(1) Nguyễn Kim Thản, Một số vấn đề về việc biên soạn một quyển ngữ pháp phổ thông, Ngôn ngữ, 1969, số 1

(2) Sđd, Trung tâm học liệu, Sài Gòn, 1968, tr 10

(3) Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1975, tr.16

(4) Ngữ pháp tiếng Việt - Câu, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980, tr.48

(5) Như (4), tr.214

(6) Như (4), tr.72

(7) P Dalloz, Méthode des sciences sociales, Paris, 1976, tr.18

(8) như (7)

(9) C Aubaret, Grammaire de la langue annamite, Paris,1864

(10) Tống Viết Toại , Mẹo tiếng An Nam, Huế,1928, tr.3

(11) Trần Trọng Kim , Việt Nam văn phạm, bản in lần thứ sáu, Sài Gòn, không đề năm tr.11.

(12) Bùi Đức Tịnh, Văn phạm Việt Nam, P Văn Tươi, Sài Gòn, 1952, tr 244-249

(13) (14), (15) Le parler vietnamien, Paris, Hương Anh , 1948

(16) Sđd, tr.234

(17) Sđd, tr.161-206

Trang 26

(18), Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Sđd, Đại học Huế, 1963

(19) Sđd, tr.42

(20) Sđd, tr.8

(21) Hồng Giao, Đọc Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Tạp chí Văn học, 1965, số 7

(22) Văn học, Sài Gòn, số 51, 1 (12-1965), tr.42

(27) Đái Xuân Ninh, Sđd, Nxb Khoa học xã hội, 1978

(28) Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975

(29) Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân, Ngôn ngữ, 1970, số 3

(30) Xin xem bài dẫn ở (1)

(31) Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, tr.14

(32) Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 1969 (bản in rô-nê-ô)

(33) Nguyễn Kim Thản, Apercu sur la grammaire vietnamienne, Etudes vietnamiennes, số 40 (năm 1974)

Trang 27

NGHIÊN CỨU NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT TRÊN QUAN ĐIỂM NGỮ ĐOẠN TẦNG BẬC CÓ HẠT NHÂN(*)

LƯU VĂN LĂNG

Ngữ pháp truyền thống thường dựa vào ý nghĩa lô gích, xem thành phần mêïnh đề là đơn vị cơ bản, ít chú trọng nhóm từ Trái lại, khuynh hướng ngữ pháp hình thức lấy cụm từ làm trung tâm nghiên cứu của cú pháp (1) Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu ngữ pháp theo những xu hướng khác, chịu ảnh hưởng lý luận của Xôt-xuya, hay học thuyết ngữ đoạn của Sec-ba (2) Chủ nghĩa kết cấu miêu tả (Mỹ) chủ trương nghiên cứu các cấu trúc (tách khỏi chức năng) của ngôn ngữ (3), với nhiều phương pháp: phân bố (4), phân tích thành phố trực tiếp (5), mở rộng cấu trúc hạt nhân (6) Và gần đây có lý thuyết ngữ pháp tạo sinh (7) Lại còn khuynh hướng muốn nghiên cứu sơ đồ các mối quan hệ thuần túy, trùu tượng (8) Nhưng mãi tới nay, đối với cụm từ cũng như ngữ đoạn hay cấu trúc, các nhà ngôn ngữ học trên thế giới vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về thành phần cấu tạo, về quan hệ giữa các thành tố, về biên giới, về đặc trưng; do đó mà quan niệm các đơn vị cú pháp còn khác nhau nhiều

Theo chúng tôi, nghiên cứu ngữ pháp, nên đứng trên điểm ngữ đoạn tầng bậc (tầng lớp và cấp bâïc) có

hạt nhân Lời nói được ngắt ra từng đoạn Sau mỗi đoạn, khi nói, có thể ngắt, khi viết có dấu chấm (hoặc

chấm than) Mỗi đoạn đó là một câu Ví dụ : Thầy đến, tất cả học sinh chào thầy và bắt đầu học Câu này có nhiều đoạn : 1) Thầy đến 2) Phần còn lại Mỗi đoạn này là một cú Cú sau lại gồm 2 phần : a) tất cả các học

sinh, b) chào thầy và bắt đầu học

Mỗi phần là một ngữ Chia ra nữa, ngữ có thể gồm nhiều thành tố Ngữ (a) gồm : tất cả, các, học sinh Đơn vị này là từ Học sinh lại gồm hai yếu tố Mỗi yếu tố đều có nghĩa, trùng với một âm tiết tiếng Việt, khi phát ra, nghe thành một tiếng Tiếng, từ, ngữ, cú, câu là những đơn vị khác nhau trong cú pháp tiếng Việt

Tiếng – Do đặc điểm tiếng Việt (phân tiết tính), khác với ngôn ngữ biến hình, tiếng là yếu tố nhỏ nhất,

là đơn vị cơ bản thấp nhất trong cú pháp Căn cứ vào hình thức, vận dụng độc lập và nội dung ý nghĩa, có thể có nhiều loại yếu tố :

1) Tiếng có nghĩa, dùng độc lập (như : gọn, đẹp, học ;

2) Tiếng có nghĩa, không dùng độc lập (như : bất, quốc) ;

3) Tiếng không có nghĩa riêng và không dùng độc lập, (như : (gọn) gàng, (đẹp) đẽ (9)

Nhìn chung, ta thấy loại 2 đều là những yếu tố Hán – Việt chưa được Việt hóa ở mức cao, loại 3 thường là những tiếng đệm thuần Việt và một số yếu tố mượn từ âm tiết ngôn ngữ Ấn – Âu

Từ – Nhiều tiếng sắp xếp lại trong chuỗi lời nói theo quan hệ hình tuyến, yếu tố này nối tiếp yếu tố khác,

mà cấu tạo dần từng bước thành những đơn vị cú pháp cao hơn Những kết hợp này đều là ngữ đoạn (syntagme) Những từ, ngữ, cú, câu là những ngữ đoạn ở những cấp bậc khác nhau từ thấp đến cao Trong ngôn ngữ, từ là ngữ đoạn có tính chất định tên, một số có tính chất định chức hoăïc chỉ có tác dụng hỗ trợ

(*) In trong tạp chí “Ngôn ngữ”, số 3 năm 1970, tr.49 – 62

(1) F F Fortunatov, J Ries, M Peskovxki, N Peterxon

(2) Ch Bally, Sechehaye, J Rozwadowxki, S Karcevski, N Trubetzkoy, J R Firth, A Martinet, A Reformatxki, A Xolodovich,

(3) E Sapir, L Bloomfield

(4) Z Harris, Bloch, Trager

(5) Wells, Nida, Pike, Chatman, Hockett, Gleason

(6) Harris, R Pillman

(7) N Chomsky, Lees

(8) L Hjelmslev, K Togeby, J Witfield

(9) Bản trình bày, xem Lưu Văn Lăng, Về vấn đề dùng thuật ngữ khoa học nước ngoài, tr 67 – 68

Trang 28

Đây là ngữ đoạn tĩnh, có sẵn Trái lại, ngữ, cú, câu là những ngữ đoạn được tạo ra trong quá trình nói, là những kết hợp tự do Chúng là ngữ đoạn động

Từ có nhiều loại Xét về hình thức, số lượng âm tiết thì có từ đơn tiết và từ đa tiết Từ đơn có thể cùng với “iếc” tạo nên dạng song tiết để chỉ ý khái quát, vừa hàm ý xấu : áo iếc, mặc miếc Từ đa tiết cũng có cách cấu tạo này : cà chua cà chiếc, cà phê cà phiếc ; nhóm từ cũng vậy : đi thi đi thiếc Xét về nội dung, đặc điểm của từng yếu tố cấu tạo thì từ có thể chia thành từ đơn, từ kép Từ đơn là từ chỉ có nhiều nhất là một tiếng có nghĩa Nó có thể là đơn tiết, nhưng đây phải là yếu tố có nghĩa dùng độc lập : sách, đẹp, học Đây cũng là yếu tố hạt nhân không kèm yếu tố phụ) Nó có thể là từ đa tiết trong đó có yếu tố có nghĩa làm

hạt nhân, có tiếng đệm (là yếu tố không dùng độc lập, đứng riêng không có nghĩa) kèm theo, đứng trước

hoặc sau Từ thuộc loại này, các yếu tố cấu tạo có quan hệ ngữ âm với nhau, thường gọi là từ láy Căn cứ vào

số lượng âm tiết thì có các hình thức : láy đôi (phần lớn), láy ba, láy tư Căn cứ vào bộ phận giống nhau về

ngữ âm, có láy phụ âm (đẹp đẽ, lạ lùng), có láy vần (lờ mờ, thắc mắc), có khi hơi biến âm (bươm bướm) Láy

là đặc điểm của từ tiếng Việt Mộy số đơn đa tiết chỉ gồm nhiều tiếng vô nghĩa (khi tách riêng), nhưng khi

kết hợp lại thì có giá trị như một tiếng có nghĩa Số ít gồm nhiều yếu tố “thuần Việt” (như : ễnh ương, mặc

cả) Phần lớn là từ vay mượn từ ngôn ngữ Ấn – Âu (xà phòng, mít tinh, xô viết)

Từ kép là từ gồm 2 tiếng có nghĩa trở lên Theo quan hệ giữa các yếu tố, có 2 loại : chính phụ và liên

hợp Trong từ kép chính phụ có yếu tố nòng cốt, làm hạt nhân, có thêm yếu tố ở trước hoặc sau (như : cá

thu, cà chua, không quân, tổ quốc) Trong từ kép liên hợp, các yếu tố kết hợp theo quan hệ bình đẳng (như : hiền lành, đất nước, kính yêu) Ở một số ít từ kép liên hợp, trật tự các yếu tố có phần tương đối tự do Ngoài

ra, có một số kết hợp cố định có giá trị như từ, nhưng lại có hình thức cấu trúc của một đơn vị cao hơn

Căn cứ vào hoạt động ngữ pháp của từ trong ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân, ta có thể chia từ thành: từ

nòng cốt là loại có khả năng làm hạt nhân của ngữ để phát triển thêm từ phụ xung quanh và từ phụ trợ là

loại không có khả năng đó, thường đi kèm quanh hạt nhân làm thành tố phụ trong ngữ, hoặc chỉ có tác

dụng thêm thắt trợ lực trong ngữ đoạn, trong câu Tùy yêu cầu giảng dạy, tùy trình độ, ta lại chia dần từng

bước(10) thành nhiều loại nhỏ (đồng thời có thể căn cứ theo ý nghĩa là chủ yếu mà chia thành từ thực và từ hư)

Ngữ – Trong chuỗi lời nói, các từ kết hợp với nhau theo quan hệ hình tuyến, từ này sau từ khác, trong đó có từ nòng cốt là gốc, làm hạt nhân tập hợp thêm xung quanh nó một số từ phụ khác làm thành từng nhóm từng khối thống nhất về ngữ pháp, có khi cả về ngữ âm, ngữ nghĩa Mỗi nhóm đó là một ngữ Ngữ là một loại ngữ đoạn, là kết quả phát triển của

một hoặc nhiều từ nòng cốt (có khả năng làm hạt nhân) liên kết với nhau Từ nòng cốt sách có thể phát triển thành những ngữ : những sách, sách ấy, những sách ấy, tất cả những sách ấy Hạt nhân của ngữ có thể là danh từ, động từ, tính từ : cũng chẳng còn thích lắm nữa

Ngữ có hai hình thức: đơn và kép Ngữ đơn là ngữ chỉ có một từ nòng cốt làm hạt nhân, từ kèm ở vị trí xung quanh không có khả năng phát triển thành một ngữ khác Ví dụ (Tất cả những sách ấy); (chưa đọc

hết) Trong ngữ đơn chỉ có quan hệ chính phụ mà thôi Ngữ có 2 từ ngữ đơn trở lên gọi là ngữ kép(11) Có 2 loại ngữ kép : chính phụ và liên hợp Ngữ có từ nòng cốt vừa đóng vai trò phụ, vừa có khả năng phát triển,

tập hợp thêm từ phụ khác làm thành một khối phụ cho hạt nhân trung tâm, là ngữ kép chính phụ Ví dụ : (Chưa đọc hết (tất cả những sách ấy)) Phân tích nó, ta thấy có hai ngữ đơn : a) chưa đọc hết b) tất cả

(11) Theo R Atayan thì nhóm cú pháp cặp đôi là kết cấu cú pháp cơ sở, kết cấu đơn ; còn nhóm kết cấu phức là nhóm chùm gồm từ 2 kết cấu đơn trở lên, gần như khái niệm nút của Tesnière, chỉ có một trung tâm (xem R Atayan, Đối tượng và những khái niệm cơ bản của cú pháp kết cấu, (bản tiếng Nga), Ê-rê-van, 1968, tr 124, 216, 217, 232)

Trang 29

những sách ấy Những ngữ đơn này kết hợp lại với nhau theo quan niệm chính phụ: ngữ b phụ thêm cho ngữ a Hạt nhân của ngữ a (đọc) cũng là hạt nhân trung tâm của ngữ kép chính phụ

Ngữ đơn do danh từ làm hạt nhân cũng có thể phát triển thành ngữ kép chính phụ Ví dụ : (Tất cả

những sách (rất hay) ấy) (của các thầy giáo))

Nhiều người thường cho ấy là định ngữ có thể “phình trướng từ một hình thức đơn giản đến một hình

thức phức hợp”(12), thay thế được bằng một định ngữ (hoặc câu định ngữ) khác trên trục dọc(13), định ngữ ấy và định ngữ đứng sau nó “có thể chuyển dịch vị trí cho nhau(14) Nhưng thực ra, những từ xoay quanh hạt

nhân trung tâm (sách) đều ở những tầng lớp khác nhau Tất cả, những, ấy chỉ là những từ phụ ở những vị trí khác nhau (trước, sau, xa, gần) so với hạt nhân, nhưng cùng một tầng lớp Còn những kết hợp rất hay,

các thầy giáo là những ngữ phụ ở những tầng lớp khác so với những từ phụ đó Những ngữ phụ này cũng ở

những tầng lớp khác nhau Có thấy được vấn đề tầng lớp mới biết rõ vị trí của từng thành tố trong kết hợp Cần phải phân biệt vị trí thành tố phụ kèm trong ngữ với vị trí hạt nhân của một ngữ phụ (Do đó mà

phải phân biệt loại từ nòng cốt với loại từ phụ trợ) Khi đứng sau danh từ làm hạt nhân của định ngữ, định từ

này, nọ kia, ấy có thể ở một trong hai trường hợp:

1) Làm từ phụ cho hạt nhân định ngữ, ví dụ: Tất cả những sách hay của thầy giáo ấy ;

2) Vẫn làm từ phụ cho hạt nhân chính, mặc dù đứng cách xa, có định ngữ xen vào giữa, ví dụ : những

người xúm quanh mình đương hết lòng chữa cho mình ấy (Nguyễn Công Hoan) Khác với vị trí một từ

kèm làm thành tố phụ, vị trí hạt nhân của định ngữ có thể có một ngữ kép nhiều tầng lớp Ví dụ : (Chưa đọc

hết) ((tất cả những sách (rất hay) ấy) (của các thầy giáo (trường (em))))) Trong một ngữ kép chính phụ

nhiều tầng lớp như thế, có nhiều từ nòng cốt làm hạt nhân, nhưng sự thực sự chúng không ngang nhau, mà

hạt nhân này xoay quanh hạt nhân khác như một hệ thống hành tinh, nên trong đó chỉ có một hạt nhân trung tâm mà thôi

Nhiều ngữ đơn ghép lại theo quan hệ đẳng lập làm thành một ngữ kép liên hợp Ví dụ ((Tất cả những

sách ấy và (mấy tài liệu này)) Trong ngữ kép liên hợp do nhiều ngữ đơn ghép lại, có bao nhiêu ngữ đơn thì

có bấy nhiêu hạt nhân, nhưng những ngữ đơn này đều cùng một chức năng ngữ pháp (có thể xếp chúng lại thành một chồng), nhưng trong chuỗi lời nói, ngữ này buộc phải nằm sau ngữ khác trên dãy hình tuyến,

nên ta vẫn có thể xem tất cả là một ngữ kép liên hợp Ví dụ : các giáo viên và các học sinh Ngữ kép liên hợp có thể là một bộ phận phụ nằm trong một ngữ kém phụ Ví dụ : (Đã đọc xong ((tất cả những sách ấy)

và ((mấy tài liệu này))) Ngược lại nó cũng có thể gồm nhiều ngữ kép chính phụ Ví dụ : ((Đã tham khảo (tất cả những tài liệu ấy)) và (đang viết (bài này)))

Các dạng của ngữ – Khi hạt nhân có từ phụ xung quanh đó là ngữ ở dạng phát triển Khi có đầy đủ tất

cả từ phụ ở mọi vị trí trước, sau có thể có, thì ngữ phát triển tới dạng đầy đủ nhất, dạng lý tưởng Nhưng

trong lời nói, từ phụ xung quanh hạt nhân có thể bị triệt tiêu, vắng hết, hay nói cách khác là ở dạng trống

không (zê-rô) Trường hợp chỉ có từ hạt nhân là dạng rút gọn của ngữ Có thể hình dung một ngữ ở các

dạng khác nhau như sau : dạng rút gọn : (•) và dạng phát triển ( •.) Tất cả các thầy đã đến rồi là một kết

hợp gồm 2 ngữ phát triển ; nhưng thầy đến lại một kết hợp gồm 2 ngữ rút gọn, 2 ngữ hạt nhân kết hợp sau là kết cấu hạt nhân của kết hợp trước

Nhưng thầy đến cũng gồm 2 từ Vậy ngữ (hạt nhân) khác từ thế nào? Trong ngôn ngữ, từ mới chỉ là

những vật liệu rời rạc, những đơn vị riêng lẻ, biệt lập Từ, nếu có được sắp xếp là xếp theo từng loại, còn nằm

trong vốn từ của mỗi người Nói thầy, ta nghĩ đến trò, bạn ; nói đến, nghĩ tới đi, lại Đây là qưan hệ liên

tưởng Trái lại, ngữ là từ đã được vận dụng, được đặt trong mối quan hệ hình tuyến của chuỗi lời nói, đây là

(12) Hoàng Tuệ, Giáo trình về Việt ngữ, 1962, tr 155

(13) Tổ ngôn ngữ học Trường đại học tổng hợp, Trường đại học sư phạm Hà Nội, Ngữ pháp phổ thông, lớp 6, 1964 –

1965 (ở Hà Nội), tập I, tr 41 – 47

(14) Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, 1964, tập I, tr 130

Trang 30

quan hệ ngữ đoạn Ngữ là từ đã nằm trong sự sắp xếp bên cạnh những từ khác, theo những qui tắc cú pháp nhất định Ngữ khác từ ở chỗ nó đã được cú pháp chi phối, có một vị trí nhất định trong lời nói, một chức

năng cú pháp nhất định trong câu Như vậy, tuy có chỗ trùng nhau hình thức bên ngoài trong lời nói, nhưng

ở kết cấu bên trong của ngôn ngữ thì từ là ngữ đoạn tĩnh xét theo trục dọc mà ngữ là ngữ đoạn động nằm

trên trục ngang Trong lời nói chỉ có từ nòng cốt mới có thể trùng với ngữ – hạt nhân Từ phụ trợ không thể

có hiện tượng này (trừ trường hợp nó được dùng như từ nòng cốt)

Giới hạn của ngữ – Giới hạn bé nhất của ngữ có thể trùng với từ Nhưng giới hạn lớn nhất của nó đến

đâu ? Hạt nhân phát triển thêm từ phụ Nếu từ phụ là từ nòng cốt, nó lại phát triển thêm từ phụ khác, ngữ này nằm trong ngữ nọ, ngữ nọ liên kết với ngữ kia, cứ thế mà phát triển thành ngữ kép nhiều tầng lớp, lớp ngoài bọc lớp trong, tựa hồ như hạt nhân được bao bọc bởi nhiều lớp vỏ Về lý thuyết mà nói, sự phát triển này có thể vô tận, nhưng trong thực tế mà nói, có sự hạn chế nhất định Phát triển nhiều bao nhiêu cũng

mặc, ở kết cấu bên trong của ngôn ngữ, ngữ vẫn là một bộ phận của cú, chưa có tính thuyết ngữ (tính vị ngữ) Tóm lại, ngữ là một đơn vị cú pháp có một hoặc nhiều từ nòng cốt làm hạt nhân có khả năng phát triển thêm từ phụ xung quanh, được sắp xếp thành tầng lớp khác nhau, kết hợp lại thành một khối, làm thành một bộ phận của cú

Cú – Khi 2 ngữ kết hợp làm thành một thông báo, trong đó có bộ phận chỉ cái được đề ra và bộ phận chỉ

cái thuyết minh rõ thì kết hợp này gọi là cú Ví dụ : / (Các thầy) (vừa đến) / Hai bộ phận này trước đây ta

quen gọi chủ ngữ và vị ngữ Có quan niệm cho quan hệ chủ-vị là quan hệ chính phụ Một số xem vị ngữ là thành phần chỉ định (phụ) cho chủ ngữ (15) Ngược lại, số khác lại cho chủ ngữ chỉ là thành phần bổ túc cho

vị ngữ (16) Có người cho đây là quan hệ bán chính phụ (17) Lại có ý kiến cho rằng giữa chủ ngữ và vị ngữ có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau (18), không có thành phần chi phối và thành phần bị chi phối (vì trong nội bộ ngữ đoạn không tồn tại cấp bậc), mà chỉ có quan hệ giống như giữa các nhân tố không gian và thời gian của hiện tượng vật lý, quan hệ bổ sung lẫn nhau, trong đó chủ ngữ là yếu tố đồng hóa, vị ngữ là yếu tố dị hóa (19) Theo chúng tôi, ở đây không hẳn là quan hệ chính phụ Để đảm bảo mức chính xác khoa học, chúng tôi gọi

ngữ chỉ cái được đề ra là đề ngữ, ngữ chỉ cái thuyết minh rõ là thuyết ngữ Đây là hai bộ phận tạo thành một

cú, trong đó thuyết ngữ là bộ phận quan trọng nhất Chính do sự kết hợp giữa hai bộ phận này mà nảy sinh tính thuyết ngữ rõ ràng, làm cơ sở cho tính thông báo Khác với sự kết hợp giữa hai ngữ trong một ngữ kép

chỉ là sự phát triển về số lượng, sự kết hợp giữa đề ngữ và thuyết ngữ để thành cú là sự phát triển về chất

Tính thuyết ngữ là đặc điểm của cú mà ngữ chưa thể có Và trong ngôn ngữ, sự phát triển từ từ sang ngữ là

sự phát triển chủ yếu về lượng Còn sự phát triển từ ngữ sang cú lại là bước phát triển chủ yếu về chất Cũng có thể xem đây như là một bước phát triển nhảy vọt, lượng biến thành chất trong cả quá trình phát triển hết sức biện chứng của ngữ đoạn cấp bậc từ thấp đến cao Ngữ khác từ chủ yếu là về lượng, mà cú khác ngữ chủ

yếu là về chất Từ, ngữ đều là những ngữ đoạn phi thuyết ngữ tính, mà cú là ngữ đoạn thuyết ngữ tính,

mang ít nhiều tính thông báo Nhưng so với câu, nó còn là một ngữ đoạn chưa kết thúc Tuy cú là một phạm

trù ở cấp bậc chuyển tiếp, là quá độ từ ngữ sang câu, nhưng là cơ sở của câu, cú vẫn là một đơn vị cú pháp không thể thiếu được

Cú có hình thức đơn và kép Cú kép là cú có bộ phận phát triển thành cấu trúc cú (cú bào thai hoặc cú

con) : ai có súng / (dùng súng) / / Mỹ thua / đã rõ ràng

Căn cứ chức năng cú pháp, có nhiều loại cú con (xem phần câu đơn) Căn cứ theo khả năng vận dụng độc lập, có các loại cú độc lập, chính, phụ (xem phần câu kép)

(15) Ch Bally, S Karcevski, A.A Reformatxki, H Frei, A Groot, Belic

(16) L Tesnière, I A Meltruk, R Atayan, Thompson

(17) C E Bazell

(18) L Hjelmslev

(19) P F Mikus

Trang 31

Câu – Câu là một ngữ đoạn kết thúc, mang một nội dung thông báo hoàn chỉnh, do những yếu tố nòng

cốt làm hạt nhân phát triển thêm yếu tố phụ, được sắp xếp thành ngữ đoạn, có tầng lớp, ở những cấp bậc

khác nhau từ thấp đến cao Câu là đơn vị cú pháp ở bậc cao nhất Câu có hình thức đơn và kép Câu đơn là

câu chỉ có một cú (đơn hoặc kép) Câu đơn bình thường là câu gồm đầy đủ hai thành phần : đề ngữ và thuyết

ngữ Khi các bộ phận này đều ở dạng rút gọn thì câu ở dạng kết cấu hạt nhân Ví dụ : Thầy đọc Học sinh

nghe Ở dạng phát triển, đề ngữ và thuyết ngữ là những ngữ đơn phát triển : (Tất cả ba học sinh ấy) (vẫn

đang nghe)

Trước đây nhiều sách thường cho học sinh là chủ ngữ, nghe là vị ngữ còn tất cả, ba, ấy đều là những

định ngữ (20), vẫn, đang là những trạng ngữ (21) Nhưng theo quan điểm ngữ đoạn tầng bậc, thì tất cả ba học

sinh ấy là đề ngữ (hạt nhân là danh từ học sinh), vẫn đang nghe là thuyết ngữ (hạt nhân là động từ nghe)

Còn tất cả, ba, ấy chỉ là những hạn từ làm từ phụ xoay quanh danh từ hạt nhân của đề ngữ, vẫn, đang là phó từ làm từ phụ xoay quanh động từ hạt nhân của thuyết ngữ Chúng không phải là ngữ (theo khái niệm

ngữ của chúng tôi)

Đề ngữ cũng như thuyết ngữ có thể phát triển thành ngữ kép chính phụ nhiều tầng, trong đó ngoài phần chính ra, còn có nhiều ngữ phụ Ví dụ [(Chúng)/((tắm ((các cuộc khởi nghĩa) (của chúng ta)) (trong

những bể) máu))]

Chúng là đề ngữ Phần còn lại là thuyết ngữ Trong thuyết ngữ này, hạt nhân là động từ tắm, có phát triển thêm những ngữ phụ Các cuộc khởi nghĩa của chúng ta có chức năng bổ sung thêm cho hạt nhân, gọi là bổ ngữ (b) Trong bổ ngữ này có bộ phận phát triển thêm là của chúng ta có chức năng xác định thêm cho bộ phận chính (các cuộc khởi nghĩa), gọi là định ngữ (đ) Trong những bể máu là ngữ phụ phát triển thêm trong thuyết ngữ để chỉ rõ thêm trạng thái, gọi là trạng ngữ (tr)

Định ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ đều là những ngữ con phát triển thêm trong thuyết ngữ, đề ngữ Định ngữ

thường là bộ phận phát triển của danh từ, có thể trả lời câu hỏi nào ? Còn bổ ngữ, trạng ngữ thường là bộ

phận phát triển thêm của vị từ Nhưng so với trạng ngữ nói chung thì bổ ngữ là bộ phận gắn liền với hạt

nhân của nó tương đối chặt hơn Bổ ngữ có thể trả lời câu hỏi ai ? hoặc gì ? cái gì ? Còn trạng ngữ chỉ rõ

thêm hoàn cảnh trạng thái như địa điểm, thời gian, cách thức, mục đích, nguyên nhân có thể trả lời câu

hỏi ở đâu ? bao giờ ? thế nào ? để làm gì ? vì sao ? v.v là bộ phân tương đối di động hơn Muốn phân biệt

các ngữ phụ đó với nhau, ta có thể dựa vào vị trí, chức năng của chúng, dựa vào khả năng trả lời các câu hỏi đó

Đề ngữ cũng như thuyết ngữ có thể là một ngữ kép liên hợp Ví dụ :

- Đồng bào và tổ quốc / sẽ không bao giờ quên họ

- Chúng / ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân (thuyết ngữ kép liên hợp) Trước đây nhiều

người thường xếp câu sau vào loại câu phức hợp có nhiều mệnh đề Nhưng thực ra, ở đây không phải có

“nhiều vị ngữ” mà chỉ là một thuyết ngữ kép liên hợp (có thể gồm nhiều ngữ đơn hoặc nhiều ngữ kép

chính phụ) Câu như thế vẫn thuộc loại câu đơn, vì đây chỉ là một cú (mà cũng chỉ là cú đơn, chỉ có một

khâu đề thuyết mà thôi)

Câu đơn có cú con - Sự phát triển trong nội bộ một ngữ có nhiều mức độ khác nhau, không những về

lượng, mà còn ít nhiều cả về chất Một bộ phận của ngữ kép có thể phát triển thành cấu trúc cú Đây là cú phát triển trong ngữ, là cú con nằm trong một cú khác Định ngữ phát triển thành định cú = đ (c) Ví dụ : Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được Trước định cú tiếng Việt có thể có mà, do,

của Bổ ngữ phát triển thành bổ cú : b (c) Trước bổ cú có thể có rằng (là) Ví dụ : Đường lối cách mạng

của Hồ Chủ tịch chứng tỏ Người là bậc đại trí (Trường – Chinh) Trạng ngữ có khi phát triển thành trạng

cú : tr (c) Ví dụ : Nó vụt nhanh như tên bay Định cú, bổ cú,trạng cú chỉ là những bộ phận phát triển trong

đề ngữ hoặc thuyết ngữ Đề ngữ và thuyết ngữ cũng có thể phát triển thành đề cú : Đ (c) (ví dụ : Mỹ thua

(20) Hoàng Tuệ, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Lân gọi là tính gia ngữ

(21) Nguyễn Lân, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ

Trang 32

đã rõ ràng) và thuyết cú : T(c) (ví dụ : Hà Nội – người đông như kiến) Trước đây loại câu có cú con thường

được xem là câu phức hợp hoặc giữa đơn và phức (22) Thực ra,cú con chỉ là một bộ phận của cú kép Câu có cú con vẫn là câu đơn, vì cú kép cũng chỉ là một cú, một khâu đề thuyết bao trùm

Câu đơn có thể là cú kép nhiều tầng Ví dụ : Ai cũng biết Mỹ thua đã rõ ràng Ở đây ai : đề ngữ, bộ phận còn lại là thuyết ngữ Trong thuyết ngữ có bổ cú / Mỹ thua đã rõ ràng /, trong bổ cú có đề cú / Mỹ

thua / Trong câu này có thuyết ngữ của câu (hạt nhân : biết), thuyết ngữ của bổ cú (hạt nhân : rõ ràng),

thuyết ngữ của đề cú (hạt nhân: thua) Tính thông báo của câu nảy sinh do sự kết hợp của hai bộ phận đề thuyết của nó Bộ phận chính mang trọng tâm thông báo là thuyết ngữ của câu do đó biết là hạt nhân của

bộ phận mang tính thuyết ngữ đầy đủ, trọn vẹn nhất Trái lại, thuyết ngữ của cú con ít nhiều mang tính chất của những bộ phận phát triển thêm, thậm chí có khi còn nhuốm màu sắc của một định ngữ, như trường hợp thuyết ngữ của đề cú (23) chẳng hạn (thua) Cho nên có thể nói thuyết ngữ của cú con (cú bào thai) là bộ phận có tính chất bán thuyết ngữ Vì cú con có nhiều mức phát triển khác nhau, nên tính chất bán thuyết ngữ của chúng không đồng đều (Do đó câu có đề cú gần câu đơn thuần túy, nhưng câu có trạng cú lại có

phần gần với câu kép)

Ngoài ra có trường hợp phải căn cứ vào ngữ cảnh, ngữ điệu, chỗ ngắt hơi mà xác định câu đơn có cú

con hay không : Mấy em bé đang múa / hát rất hay (có đề cú) Mấy em bé / đang múa, hát rất hay (thuyết

ngữ kép)

Câu kép – Với quan niệm có bao nhiêu động từ (Phạm Tắt Đắc) “tuyên ngữ” (Bùi Đức Tịnh), vị ngữ

(Nguyễn Lân ) thì có bấy nhiêu mệnh đề, nhiều người không những đã xếp câu đơn có cú con, mà cả một số câu đơn thuần túy có thuyết ngữ kép liên hợp, vào loại câu phức hợp(24) Có người khẳng định kết cấu phức hợp chính phụ, mà có phần nghi ngờ loại phức hợp đẳng lập(25) Trái lại có người phủ nhận câu phức hợp chính phụ, chia loại phức hợp thành 2 : liên hợp và qua lại (26) Nhưng một số nghi ngờ hoặc phủ nhận việc phân chia câu đơn giản, phức hợp (27)

Theo quan niệm chúng tôi, câu kép là câu gồm nhiều cú (từ 2 trở lên, đứng tách bạch nhau, cú này không phải là bộ phận phát triển của cú kia) nói cách khác là câu có nhiều khâu quan hệ đề thuyết tách

bạch nhau Câu có nhiều cú kết hợp với nhau theo quan hệ liên hợp gọi là câu kép liên hợp (28) Ví dụ : [ /

Nước Việt Nam là một /, / dân tộc Việt Nam là một /.] [ / Sông có thể cạn/, / núi có thể mòn /, / song chân

lý không bao giờ thay đổi / ]

Câu liên hợp có loại ghép lỏng và loại ghép chặt Ghép lỏng là trường hợp giữa các cú không có từ nối hoặc có những từ như và, hoặc, nhưng Ví dụ : Chúng ta đã phải hy sinh rất nhiều, nhưng chúng ta đã

thắng lợi trong cuộc chiến tranh gian khổ và lâu dài (Phạm Văn Đồng) Ghép chặt là trường hợp giữa các

cú có từ nối thì, mà, cho nên hoặc câu có cặp đối ứng kiểu nào ấy, đâu đó, bao nhiêu bấy nhiêu Ví dụ : Anh đi giết giặc cứu nước, giữ làng thì em ở nhà đảm đang lo sản xuất, cày cấy Bọn giặc đi đến đâu,

chúng tàn sát đồng bào ta đến đó Trong câu kép liên hợp, các cú không phụ thuộc vào nhau về kết cấu

ngữ pháp Đây là những cú độc lập Loại cú này, nhất là ở câu ghép lỏng, có khả năng biến thành một ngữ

đoạn kết thúc, đứng tách riêng để thành một câu đơn

Vấn đề câu kép chính phụ Ví dụ : Dù ai nói ngả nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân (Tố Hữu) Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi (Hồ

(22) V M Xolntxev, Yu K Lekomtxev, T T Mkhitarian, I I Glebova, Tiếng Việt, Mat-xcơ-va, 1960, tr 86 (sau Lekomtxev cho là câu đơn, trong Kết cấu câu đơn tiếng Việt, tr 121) Trong giáo trình về ngữ pháp tiếng Việt của chúng tôi ở đại học khoảng 1958, 1960 cũng thế

(23) K Lekomtxev xếp câu có đề cú vào loại câu có định cú, gọi là câu có định ngữ phát triển (Tiếng Việt, tr 86) Nhưng nếu cho thuyết ngữ của đề cú chỉ là định ngữ thì nên xếp câu này vào loại câu đơn thuần túy

(24) Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Quang Oánh, Phạm Tất Đắc, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân, Nguyễn Đức Bảo, Trần Phô, Trương Dĩnh

(25) Hoàng Tuệ, sách đã dẫn, tr 392

(26) Nguyễn Kim Thản, sách đã dẫn, tập 2, tr 173, 241

(27) Ngữ pháp, lớp 7 phổ thông, tài liệu Hà Nội, 1964 ; Nguyễn Kim Thản, Lê Xuân Thại, Đái Xuân Ninh (Ngôn ngữ, số

1 và 2 1969)

(28) Nguyễn Kim Thản, Đái Xuân Ninh cho đây chỉ là cách mở rộng câu theo quan hệ với cả câu

Trang 33

Chủ tịch) Những câu này có 2 cú tách bạch nhau, cú này không phải là một bộ phận phát triển của cú kia,

là những câu kép Khác với cú độc lập trong câu kép liên hợp, cú có tuy (rằng), dù, hễ không có khả

năng biến thành câu đơn Nó không thể tồn tại một mình, mà chỉ đóng vai trò phụ thêm cho cú kia Do đó,

ta gọi là cú phụ, còn cú kia là cú chính, loại câu này là câu kép chính phụ (29) Chính hay phụ ở đây không

phải là xét về mặt ý nghĩa lôgic, mà là xét về mặt hình thức kết cấu ngữ pháp Cú chính là cú có cú phụ

kèm theo, nhưng nó có khả năng biến thành một câu độc lập Trái lại, cú phụ không thể tự nó làm thành

một câu được Cú phụ chỉ có thể đứng một mình trong trường hợp cú chính được tỉnh lược do ngữ cảnh mà

người nghe, người đọc có thể hiểu được Trong đối thoại, vì qui luật tiết kiệm trong ngôn ngữ, người ta có thể chỉ dùng cú phụ, lược cú chính để khỏi lặp lại Nếu không phải trường hợp đó, câu chỉ có cú phụ là câu sai ngữ pháp, người ta thường cho đó là câu què, câu cụt

Khi cú phụ đặt trước cú chính thì giữa hai cú có thể có thêm từ nối Cú phụ có tuy, dù thì từ nối thường là nhưng, song Cú phụ có hễ, nếu thì từ nối thường là thì Có người muốn xem thì, mà là dấu hiệu của câu kép chính phụ, mặc dù trong đó không có hễ, nếu (được xem như vắng) Do đó, câu anh nói

thì nó nghe cũng như nếu anh nói thì nó nghe được phân tích giống nhau Tất nhiên trường hợp nếu anh

nói, nó nghe cũng vậy Giải quyết như thế sẽ dẫn đến quan niệm : trong câu chính phụ, tín hiệu tuy, dù, hễ, nếu cũng như nhưng, thì đều có thể ẩn cả Từ đó, đối với những câu nhiều cú không có từ quan hệ, người

ta cũng có thể dựa vào ý nghĩa mà qui thành câu chính phụ một cách tùy tiện

Theo ý chúng tôi, nên dựa vào mặt hình thức kết cấu ngữ pháp mà phân tích Tuy, dù, hễ, nếu là những từ nối chỉ quan hệ phụ thuộc Đây là dấu hiệu hình thức Những tín hiệu như vừa, có, mới, đã, cũng,

vẫn, cứ, sẽ không giống với loại này như một số người quan niệm (30) Cú có tín hiệu phụ thuộc là cú phụï

Không có những từ quan hệ phụ thuộc đó thì không còn quan hệ chính phụ trong câu Còn nhưng, thì ở đây

là những tín hiệu nối, chỉ có tác dụng hỗ trợ, thường là về mặt tu từ nhiều hơn, nên về mặt ngữ pháp, sự có mặt của chúng không hoàn toàn bắt buộc (trừ một số trường hợp), nhiều khi không cần thiết, nhất là khi

đặt cú chính lên trước Có khi thì chỉ có tác dụng nhấn mạnh : Bạn bè ta thì vui mừng, kẻ địch thì hoang

mang Cũng phải thấy rằng những từ thì, mà hiện nay còn ít được dùng ở vị trí đầu câu trong văn viết như nhưng, và, mặc dầu trong khẩu ngữ thường nghe Nhưng hiện tượng này không phải không có Ví dụ : Miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội Mà đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội (Hồ Chủ tịch)

Tuy nhiên theo hiện tượng phổ biến hiện nay, căn cứ vào khả năng biến thành câu độc của cú chính, ta

có thể phân câu kép chính phụ thành hai loại : - Loại ghép lỏng là trường hợp giữa các cú không có từ quan hệ hoặc có tín hiệu như nhưng, song – Loại ghép chặt là trường hợp trước cú chính có thì, mà Nếu ta thêm dần vào câu những từ như cũng, vẫn, cứ, v.v thì câu được ghép chặt hơn về mặt ý nghĩa, chứ không phải

là về mặt ngữ pháp

Cần chú ý để phân biệt câu kép chính phụ với câu đơn có cú con Ví dụ : Ngay sau khi Đảng cộng sản

Đông Dương thành lập, một phong trào cách mạng quần chúng đã bùng lên khắp nước Việt Nam (Lê

Duẩn) Nhiều người nghiên cứu thường cho khi, khi nào, sau khi, trong lúc, vào lúc là những liên từ phụ

thuộc (hoặc giới ngữ), cho mệnh đề bắt đầu bằng từ ấy là mệnh đề phụ thuộc trong câu phức hợp(31) Thực

ra hồi, lúc, khi trong tiếng Việt còn là những từ nòng cốt (danh từ) có thể làm hạt nhân phát triển thành những ngữ như những lúc ấy, những khi nào, trong đó có thể phát triển thêm định cú Cú con này có thể nằm trong trạng ngữ như ở ví dụ trên, có thể nằm trong đề ngữ như : Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non,

(29) Nguyễn Tài Cẩn và Hoàng Tuệ cũng cho đây là quan hệ chính phụ, nhưng không phải phức hợp (Ngữ pháp, lớp 7 phổ thông Hà Nội, 1964) Ngược lại, Nguyễn Kim Thản cho là phức hợp, nhưng không phải chính phụ, mà là qua lại (trường hợp không có từ nối là phức hợp giả (sách đã dẫn) Nhưng gần đây, Nguyễn Kim Thản, Hồ Lê, Lê Xuân Thại, Đái Xuân Ninh lại cho đây không phải phức mà là cách ghép một số cụm từ chủ – vị theo quan hệ song song (xem bản thảo cơ sở Ngữ pháp tiếng Việt, chương 6; Ngôn ngữ, số 2, 1969) Hoàng Tuệ lại cho là câu phức (Ngôn ngữ, số 1, 1969)

(30) Ngữ pháp, lớp 7 phổ thông (tài liệu Hà Nội, 1964) ; Nguyễn Kim Thản, sách đã dẫn ; Trần Phô, Trương Dĩnh, tài

liệu hướng dẫn

(31) Trần Trọng Kim, Phạm Tất Đắc, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân, Nguyễn Đức Bảo, Trần Phô, Trương Dĩnh, Hoàng Tuệ

Trang 34

hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó (Hồ Chủ tịch) Đây là những câu đơn

có định cú

Như vậy, từ câu dơn đến câu kép là cả một quá trình phát triển phức tạp dần, ở nhiều mức độ khác nhau : câu đơn thuần túy, câu đơn có cú con, câu kép chính - phụ, câu kép liên hợp và tất nhiên trong đó có thể có những trường hợp quá độ còn mang tính chất trung gian (sẽ bàn kỹ sau)

Qua những câu cụ thể trên đây, ta có thể thấy được mô hình kết cấu khác nhau của các loại câu đơn, kép phân biệt được cấu trúc câu với cấu trúc cú Có dựa vào cú (32) mới xác định được các loại câu về mặt

cấu trúc, mới vạch được ranh giới giữa câu đơn và câu kép Như vậy, câu có thể gồm nhiều cú, gồm nhiều

ngữ, ngữ có thể nhiều từ, từ có thể nhiều tiếng Và rõ ràng tiếng, từ không phải là thành tố trực tiếp cấu tạo nên câu, mà tiếng là thành tố cấu tạo nên từ, từ là thành tố trực tiếp của ngữ, ngữ là thành tố trực tiếp của cú, cú có thể là thành tố của câu Trong cú pháp, tiếng (cũng như hình vị) còn là yếu tố rời rạc, những đơn vị lẻ tẻ Các yếu tố đó được tổ chức lại thành những kết hợp (theo hình tuyến của chuỗi lời nói)

Những kết hợp này thực chức đều là những ngữ đoạn

Căn cứ vào nội dung được biểu đạt của tín hiệu, căn cứ vào vị trí chức năng của thành tố trong kết hợp,

ta có thể thấy được tính chất các mối quan hệ kết hợp đó Có nhiều loại quan hệ cú pháp khác nhau, nhưng

trên đại thể có thể quy lại thành 3 loại chính : chính phụ, đẳng lập hay liên hợp và đề thuyết (33) Người ta thường dựa vào các kiểu quan hệ đó để phân biệt các kiểu kết hợp, hoặc cấu trúc Đó là nói chung đến tất cả các loại kết hợp Nhưng cần phải thấy rằng trong cú pháp các kết hợp, hay đúng hơn là các ngữ đoạn,

không phải đồng đều, chỉ một cấp bậc, mà có nhiều cấp bậc khác nhau Sở dĩ như vậy là vì quá trình kết

hợp các yếu tố được vận dụng trong chuỗi lời nói là một quá trình phát triển dần về lượng cũng như về chất, trong đó có những bước nhảy vọt lượng biến thành chất để tạo dần nên các kiểu kết hợp khác nhau ở

những cấp bậc khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Từ, ngữ, cú, câu chính là những cấp bậc đó của ngữ đoạn Từ là ngữ đoạn tĩnh, còn ngữ, cú, câu là ngữ đoạn động Từ ngữ là phi thuyết ngữ tính, cú, câu mới là ngữ đoạn thuyết ngữ tính Và cuối cùng câu là ngữ đoạn kết thúc Đây là những đơn vị

khác nhau trong cú pháp Chính do sự phát triển dần từ đơn giản đến phức tạp trong nội bộ ngữ đoạn ở từng

cấp bậc mà ngữ đoạn phát triển thành tầng lớp, do đó tất cả các đơn vị cú pháp đều có các hình thức đơn

và kép Từ có từ đơn, từ kép, ngữ có ngữ đơn, ngữ kép, ngữ kép, cú có cú đơn, cú kép, câu cũng có câu

đơn, câu kép Quá trình kết hợp trong chuỗi lời nói thành ngữ đoạn có tầng lớp và cấp bậc là một sự phát

triển hết sức biện chứng theo quan điểm mác xít, có tính chất nhất quán và hợp với lô gích trong ngôn ngữ Có thấy rõ vấn đề tầng lớp, cấp bậc của ngữ đoạn, chúng ta mới hiểu được thực chất các mối quan hệ cú pháp Tính chất của mối quan hệ kết hợp gắn liền với sự phát triển về lượng và chất của ngữ đoạn Có

kết hợp chỉ đưa lại sự phát triển về lượng, nhưng có kết hợp dẫn tới sự phát triển về chất, ở nhiều mức độ

khác nhau, có mức thấp nhất, có mức cao, có bước tiệm tiến, có bước nhảy vọt Không thấy rõ đều đó thì

sẽ dễ dàng xóa nhòa các tầng lớp và cấp bậc trong ngữ đoạn, xóa nhòa ranh giới giữa các đơn vị cú pháp

Tính chất các mối quan hệ cú pháp không đồng đều nên không phải ở tất cả các cấp bậc của ngữ đoạn đều có những mối quan hệ giống nhau Do đó ta thấy quan hệ đề - thuyết chỉ xuất hiện ở cấp bậc cú, câu là những ngữ đoạn đã mang tin tức thông báo, ít nhiều hay trọn vẹn

Đó là nói về các mô hình trừu tượng, điển hình ở kết cấu bên trong của ngôn ngữ Nhưng chúng có thể

có nhiều biến dạng ở kết cấu bên ngoài của ngôn ngữ, trong lời nói cụ thể Do đó câu có loại bình thường, có loại đặc biệt, có dạng đầy đủ, có dạng tỉnh lược Câu bình thường, đầy đủ là câu có đủ 2 phần đề ngữ

và thuyết ngữ Câu tỉnh lược là câu có một trong hai bộ phận đó được tỉnh lược, đôi khi chỉ có bộ phận phụ mà thôi (do ngữ cảnh trong lời đối thoại có thể tiết kiệm, ta có thể lập lại đủ thành phần) Ví dụ : Em

không! Nào! Em không cho bán chị Tý! (lược phần chính của thuyết ngữ) Nó đẻ mấy con ? – Bẩm, bốn con (bổ ngữ, phần phụ trong thuyết ngữ ; - Tắt đèn, Ngô Tất Tố) Ngoài ra, có những câu như : Gio.ù Mưa

Trang 35

Não nùng Một giờ, lại một giờ (Nguyễn Công Hoan) Có người cho đây là loại câu không phân biệt chủ vị

Có người cho một số câu (như : Mưa Sáng rồi) là rút gọn hoặc tỉnh lược, một số (như : Trưa lắm rồi) là câu

đơn phần (34) Thực ra, về hình thức bên ngoài những câu này đều chỉ có một ngữ, có thể là ngữ đơn (Một

giờ) có khi chỉ có hạt nhân (Mưa Gió), có thể là ngữ kép chính phụ (Một buổi sáng mùa thu), hoặc ngữ kép

liên hợp (Cờ và biểu ngữ) Xét cho kỹ thì đây là thuyết ngữ của câu, đề ngữ của nó ẩn trong ngữ cảnh Có thể gọi loại câu này là câu chỉ có thuyết ngữ hoặc câu ẩn đề ngữ Đây là loại câu đặc biệt có tính chất hạn

chế thường chỉ gặp trong đoạn văn tả cảnh Nếu không có ngữ cảnh cho phép ẩn đề ngữ thì những câu như

thế sẽ trở thành câu què, câu cụt, câu sai ngữ pháp Ngoài ra đôi khi ta còn thấy có những bộ phận độc lập

được tách ra khỏi câu (ví dụ : À ! Hừ ! Ôi ! Ái chà !) Nhưng nhất thiết chúng cũng phải đặt trong ngữ cảnh,

bên cạnh những câu khác

Cần phải phân biệt những hiện tượng đặc biệt có tính chất hạn chế ở hình thức bên ngoài, ở lời nói (parole) với cấu trúc bình thường có tính phổ biến ở kết cấu bên trong của ngôn ngữ Cái đặc biệt, hạn chế

chỉ có thể tồn tại và được phân tích trên cơ sở cái bình thường, phổ biến Có thấy được đặc trưng kết cấu bên trong của câu bình thường phổ biến, thì mới hiểu được thực chất của những loại đặc biệt Lê-nin nói

“Bất cứ cái riêng nào cũng là cái chung (bằng cách này hay cách khác) Bất cứ cái chung nào cũng là (một bộ phận nhỏ, một mặt hay bản chất) của cái riêng” (35)

Câu được tạo thành do những yếu tố nòng cốt làm hạt nhân phát triển thêm yếu tố phụ Nhưng yếu tố

phụ có thể ở hình thức tiêu cực Trường hợp ở dạng rút gọn, cấu trúc hạt nhân lại tỉnh lược, hoặc ẩn thành phần do ngữ cảnh, câu có thể chỉ có một yếu tố Do đó trong trường hợp đặc biệt, câu chỉ có một từ, có khi

chỉ là một tiếng, cần phải thấy đây chỉ là sự trùng nhau bề ngoài của các cấp bậc cú pháp ở hình thức bên

ngoài, trong lời nói mà thôi (Sở dĩ như vậy là vì câu đơn chỉ có một cú, trường hợp đặc biệt (có ngữ ẩn) lại chỉ có một ngữ, ngữ đơn hạt nhân chỉ có một từ, từ đơn có thể có một tiếng) Nhưng xét kết cấu bên trong thì trong cùng một tín hiệu đó vẫn có thể có sự khác nhau về kết cấu, về vị trí, chức năng trong ngôn ngữ Muốn hiểu rõ, cần phải hình dung được các tín hiệu ở vị trí ảo xung quanh nó, thấy được các vị trí của chúng trên trục ngang, trục dọc của ngôn ngữ

Từ hình thức cấu trúc hạt nhân của câu, ta có thể phát triển thành một câu dài phức tạp nhiều tầng bậc

Ngược lại, từ một câu kép phức tạp, ta phân tích dần từng bước : câu thành cú, cú thành ngữ, bóc dần từng, tầng, tách dần các lớp ngữ phụ, cuối cùng còn lại ngữ đơn, rồi bỏ hết từ phụ, ta sẽ thấy hạt nhân của nó

Đây là phương pháp phân tích câu trên quan điểm ngữ đoạn từng bậc có hạt nhân Trừ trường hợp ngữ đoạn liên hợp từ 3 thành tố trực tiếp trở lên, ta có thể dùng phương pháp phân đôi (vì ngoài quan hệ liên

hợp, chỉ có quan hệ chính phụ và quan hệ đề thuyết giữa 2 bộ phận) Nhưng phương pháp phân tích ngữ đoạn từng bậc có hạt nhân không giống lối phân tích thành tố trực tiếp với quan niệm hoàn toàn cặp đôi và khác hẳn lối phân tích theo cụm từ Do đó, chúng tôi không phân tích câu theo cụm từ như :

Ai cũng biết Mỹ thua đã rõ ràng

mà phân tích thành tầng bậc như sau : [(Ai) / (cũng biết / / (Mỹ) (thua) / (đã rõ ràng) /)] (Vẽ thành sơ đồ

“cây cú pháp” ta sẽ thấy rõ chỗ khác nhau giữa hai lối phân tích và thấy cách thứ nhất không phân biệt

được câu đơn với câu kép) Phân tích ngữ đoạn tầng bậc sẽ giúp ta phân biệt được kết cấu các loại câu

đơn, câu kép, thấy rõ câu đơn thuần túy hay có cú con Đứng trên quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt

nhân, ta có thể thấy được mối quan hệ và chỗ khác nhau giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa kết cấu trừu tượng

bên trong và biểu hiện cụ thể bên ngoài, giữa bản tính và chức năng, giữa các hiện tượng từ vựng, ngữ pháp, tu từ, giữa tiêu chuẩn và thói quen trong ngôn ngữ Quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân còn giúp cho người nói, người đọc, ngắt quãng đúng chỗ, nghỉ hơi đúng nhịp lời nói, giúp cho người nghe dễ

“giải mã”, dễ nắm được cấu trúc hạt nhân, dễ nắm được ý Như vậy câu không chỉ là đơn vị của lời nói,

như một số người quan niệm, mà trong cú pháp tất cả các ngữ đoạn, từ, ngữ, cú, câu, đều là những đơn vị

của ngôn ngữ, cả của kết cấu bên trong (trừu tượng) lẫn của kết cấu bên ngoài (biểu hiện cụ thể bằng lời nói)

(34) Nguyễn Kim Thản, sách đã dẫn, tr 227, 232

(35) Lê-nin, Bút ký triết học, Mat-xcơ-va, 1947, tr 329

Trang 36

Trong lời nói có vô số câu khác nhau; nhưng qui lại cũng chỉ có một số kiểu câu điển hình, một số câu

gốc nhất định Cần phải phân biệt các biến thể khác nhau của một câu điển hình, phân biệt các câu cụ thể khác nhau trong lời nói, ở hình thức bên ngoài, nhưng cùng chung một cấu trúc gốc ở kết cấu bên trong của ngôn ngữ Biến thể của câu gốc muôn hình, muôn vẻ, có khi do tính chất nhiều nghĩa của một tín hiệu (có

một ý nghĩa hay nghĩa tố cơ bản (36) làm hạt nhân phát triển dần thành nhiều ý nghĩa không cơ bản được sắp xếp cũng thành tầng lớp, thành hệ thống nghĩa tố tựa hồ như kết cấu của những hợp chất trong hóa

học) (37), có khi mang những ngữ điệu khác nhau để thể hiện những lối nói khác nhau: tường thuật, cầu

khiến, nghi vấn, có khi vì thêm bớt hoặc thay đổi trật tự của một số yếu tố, do phong cách, sắc thái tu từ

khác nhau Do đó khi phân tích câu, cần phải tính đến khả năng di chuyển của các ngữ đoạn, các yếu tố trong câu để thấy được sự chuyển đổi (38) của câu điển hình Chẳng hạn, trong tiếng Việt, nói chung đề ngữ

thường đặt trước thuyết ngữ, nhưng cũng có khi đề ngữ đặt sau Ví dụ: Đã sáng lại trời thu tháng Tám (Tố Hữu) Trên một dải Trường Sơn đã mọc lên một rừng cây mới (Trường Sơn hùng tráng) Trạng ngữ có thể tách rời khỏi bộ phận chính của thuyết ngữ mà đặt lên đầu câu : Đằng xa, trong mưa mờ, đã hiện ra bóng

những nhịp cầu sắt (Nguyễn Đình Thi) Ngay cả bổ ngữ, có khi nhấn mạnh, cũng được tách ra khỏi hạt

nhân của nó mà đặt lên trước Ví dụ : Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó

khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng (Hồ Chủ tịch)

Với quan niệm ngôn ngữ học như là một hệ thống tín hiệu được tổ chức sắp xếp thành tầng lớp, có cấp bậc, có hạt nhân, có chuyển hóa, ở mặt biểu đạt cũng như mặt được biểu đạt, ở hình thức kết cấu cũng như trong nội dung ý nghĩa, chúng tôi chỉ xin trình bày tóm tắt sơ lược ở đây hệ thống ngữ pháp tiếng Việt của

chúng tôi xây dựng trên quan điểm ngữ đoạn tầng lớp và cấp bậc có hạt nhân (39) để góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trong việc biên soạn ngữ pháp tiếng Việt hiện nay

Hình trang 71

(36) Lưu Văn Lăng, Về vấn đề dùng thuật ngữ tr 38, 40, 46, 47

(37) (38) Về vấn đề tín hiệu điển hình và vấn đề chuyển đổi, sẽ bàn kỹ ỏ bài khác

(39) Khi báo cáo ở Hội nghị bàn về việc giảng dạy tiếng Việt ở trường phổ thông do Viện Nghiên cứu chương trình và phương pháp giảng dạy thuộc Bộ giáo dục triệu tập (12-1968), chúng tôi gọi tắt là ngữ đoạn tầng lớp, sau đổi là

ngữ đoạn tầng bậc

Trang 37

VỀ MỘT CÁCH HIỂU Ý NGHĨA CÁC TỪ LOẠI TRONG TIẾNG VIỆT (*)

ĐINH VĂN ĐỨC

Cũng giống như trong những ngôn ngữ đơn lập khác, từ của tiếng Việt không biến dạng trong khi diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp Vì vậy, trước đây, trong một thời gian khá dài nhiều người nghiên cứu đã nghi ngờ, phủ nhận sự tồn tại các từ loại trong tiếng Việt(1) Cách nhìn nhận như vậy hiện nay không còn được ủng hộ nữa, bởi vì nó thiếu sức thuyết phục cả về mặt thực tiễn cũng như về mặt lý luận Gần đây, phần lớn các tác giả đã đi đến kết luận rằng trong các ngôn ngữ đơn lập nói chung và trong tiếng Việt nói riêng, đều có từ loại và từ loại được xác lập bởi những đặc trưng khách quan

Từ loại - đó là những lớp từ của một ngôn ngữ nhất định, được phân chia theo các ý nghĩa, theo các hình thức ngữ pháp (hình thái hoặc cú pháp) và thực hiện các chức năng cú pháp nhất định Như vậy từ loại là những lớp từ được định hình không phải theo một tiêu chuẩn mà một tập hợp tiêu chuẩn và do đó, mỗi lớp có một đặc trưng có tính chất tổng hợp

Hiện nay còn có những ý kiến khác nhau về các đặc trưng của từ loại, một số tác giả nhấn mạnh nhiều hơn vào đặc trưng này, một số người khác lại có thiên hướng đi sâu vào đặc trưng khác Trong tiếng Việt, vài mươi năm gần đây khuynh hướng chung của giới nghiên cứu là dựa vào đặc điểm cú pháp để phân chia từ loại Lê Văn Lý, Mác-ti-ni, Hô-nê, Nguyễn Tài Cẩn(2) và những người khác đều cho rằng đó là ba tiêu chuẩn chính và trên thực tế, bằng cách áp dụng lý luận của mình vào thực tế tiếng Việt, các tác giả đã thu được những kết quả khả quan Tuy vậy, nhìn chung, đặc trưng ngữ nghĩa của từ loại tiếng Việt chưa được chú ý một cách thích đáng hay bị gác sang một bên

Trong bài này, chúng tôi không bàn tới tất cả mọi cạnh khía của vấn đề từ loại mà chỉ khảo sát nó ở hai khía cạnh: thứ nhất, nên quan niệm như thế nào về đặc trưng ngữ nghĩa với tư cách một tiêu chuẩn phân định từ loại tiếng Việt; thứ hai, nên hiểu thế nào về bản chất ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt

Về vấn đề thứ nhất: Lý thuyết từ loại vốn bắt nguồn và hình thành trên thực tế các ngôn ngữ Ấn – Âu, vì thế đối với không ít tác giả, từ loại được xem xét trong cách nhìn thuần túy hình thái học về từ : việc mô tả các từ loại trong những ngôn ngữ này trước hết được bắt đầu từ đặc trưng hình thái của từ (các hiện tượng biến dạng từ và cấu tạo từ ) Thực tế ấy là đặc điểm khá rõ ràng của từ ở mặt ngoài, được nhận biết một cách trực tiếp và nhờ đó bằng trực quan người ta dễ tri giác được sự phân biệt từ của một lớp này với từ của một lớp khác Song tư liệu của ngay những ngôn ngữ này đã chỉ ra rằng tình hình không hoàn toàn giản đơn như vậy và trong nhiều trường hợp đặc trưng hình thái không có khả năng phân biệt từ loại Hãy lấy vài ví dụ : Trong tiếng Nga, từ Uchenưy trong tổ hợp izvextnưy uchenưy là danh từ (với nghĩa từ vựng ”nhà bác học”) Còn trong tổ hợp uchenưy xovet lại là tính từ (với nghĩa từ vựng “có tính chất học thuật”) dù rằng từ này trong cả hai trường hợp được biến cách hoàn toàn như sau

Các sự kiện ngôn ngữ cho thấy rằng đối với các từ loại, đặc trưng hình thái của từ không phải vạn năng, càng không phải là duy nhất Điều đó hoàn toàn tự nhiên bởi vì cơ cấu hình thái của từ không phải tồn tại cho bản thân nó mà trước hết là để phục vụ cho việc diễn đạt các quan hệ cú pháp Các dạng thức phạm trù

(*)In trong tạp chí “Ngôn ngữ”, số 2, năm 1978, tr 31- 39

(1) Chẳng hạn : M Grammont et Lê Quang Trinh, Etudes sur la langue annamite, BSL de Paris, 1911, tr 17, p.1

(2) Xem: Lê Văn Lý, Le parler Vietnamien, Paris, 1948

E Martini, L’opposition nom et verbe en Vietnamien et en Siamois, BSL de Paris, 1950, t 46, ph.I, N 132, tr

183

P Honey, Word classes in Vietnamese, BSOAS, 1956, V, IV III

Nguyễn Tài Cẩn, Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Hà Nội 1975.

Trang 38

cách của danh từ diễn đạt các quan hệ có tính chất đối tượng hoặc chủ thể của danh từ đối với động từ ø: các hình thức ngôi, thời, thể, dạng, thức của động từ diễn đạt quan hệ có tính vị ngữ của đọâng từ đối với chủ ngữ Tóm lại các đặc trưng hình thái của từ bao giờ cũng bị quy định bởi các đặc trưng cú pháp chứ không phải ngược lại

Trong các ngôn ngữ đơn lập nói chung cũng như tiếng Việt nói riêng, việc các đặc trưng hình thái ít phát triển càng chứng tỏ đặc trưng này chỉ là một phương tiện biểu hiện thuần túy, tiêu biểu cho một loại cơ cấu ngữ pháp nhất định của ngôn ngữ Từ loại của ngôn ngữ đơn lập chủ yếu được phân chia theo các đặc trưng cú pháp và ý nghĩa Riêng đặc trưng cú pháp của từ trong ngôn ngữ này lại được mỗi tác giả nhấn mạnh theo từng khía cạnh, chẳng hạn như đối với tiếng Việt, Lê Văn Lý nói về các khả năng kết hợp của từ, Mác-ti-ni chú ý tới sự phân tích các cú đoạn ngữ pháp, Bùi Đức Tịnh hướng về chức năng của từ ở trong câu(3) ,Nguyễn Tài Cẩn thì lấy đoản ngữ làm một tiêu chuẩn để phân định từ loại Nhưng cú pháp vẫn chưa mở ra được khả năng khám phá và giải thích một cách đầy đủ bản chất của từ loại, cú pháp dù sao vẫn chưa thuộc diện nội dung của ngôn ngữ Đúng hơn, cú pháp được quy định bởi một đặc trưng sâu hơn và có giá trị then chốt, đó là ngữ nghĩa của các từ loại Hãy lấy vài ví dụ :

Trước hết nói về cảm quan của người bản ngữ Người châu Âu, trong khi nói tiếng mẹ đẻ, đã xác định tính chất từ loại của một từ nào đó không phải bằng hệ liên tưởng của các yếu tố hình thái (hình thức cách, số của danh từ ; ngôi, thời, thể của động từ) mà trước hết, bằng hệ liên tưởng ngữ nghĩa (hệ liên tưởng của các ý nghĩa khái quát : tính sự vật đối với danh từ; hành động, trạng thái – với động từ; đặc trưng – với tính từ,v.v ); phải có hệ thứ nhất này thì hệ thứ hai mới bắt đầu đi vào hoạt động Người Việt đến với từ “nhà”

(là danh từ) không phải vì nó có thể kết hợp với các loại từ ngôi, tòa, với các hư từ những, các, với những từ chỉ khối lượng tất cả, tất thảy, có thể làm chủ ngữ hoặc làm vị ngữ (có hệ từ là giúp sức) ở trong câu, mà

trước hết “nhà” được nhận thức là một đối tượng có “tính sự vật” Tính sự vật đã định hình đặc trưng cú

pháp của từ “nhà” chứ không phải ngược lại Tình hình tương tự cũng có thể nhận thấy ở các từ khác : học (động từ), đẹp (tính từ), bốn (số từ), v.v Có những hình thức và chức năng cú pháp phân biệt với nhau

trước hết là do chúng thuộc về những ý nghĩa phạm trù khác nhau Về phương diện này, L.V.Se-rơ-ba đã nhận xét rất xác đáng :“Những từ như xtol (cái bàn), medved’ (con gấu) chúng ta cho chúng là danh từ vị tất đã phải vì chúng có đổi cách; chúng đổi cách, rất có thể chính vì chúng là danh từ”(4)

Các chức năng cú pháp của mỗi một từ loại cũng được quy định bởi ý nghĩa Trong các ngôn ngữ châu Âu, chức năng vị ngữ của động từ, các đặc điểm hợp dạng với chủ ngữ, khả năng chi phối bổ ngữ là kết quả trực tiếp của các ý nghĩa hành động và trạng thái mà động từ vốn có : các quan hệ chủ thể và đối tượng của danh từ đối với động từ là hậu quả của ý nghĩa sự vật có ở danh từ ; sự hợp dạng của tính từ với danh từ xuất phát từ ý nghĩa đặc trưng của tính từ Trong tiếng Việt, khả năng của danh từ làm vị ngữ, với sự có mặt của

hệ từ là, được quy định bởi ý nghĩa sự vật của từ loại này trong điều kiện vắng mặt phương tiện hình thái

Còn khả năng của tính từ vừa làm định ngữ cho danh từ (nhà mới, áo đẹp) vừa làm định ngữ cho động từ (hát hay, học giỏi) có cơ sở trong ý nghĩa đặc trưng của từ loại này Trong khi chỉ đặc trưng, tính từ có thể có quan hệ với danh từ (đặc trưng của sự vật) hoặc quan hệ với động từ (đặc trưng của hành động, trạng thái); trong quan hệ với động từ, về thực chất, tính từ tiếng Việt đã thực hiện các chức năng ngữ pháp của trạng từ trong các tiếng châu Âu (horosiy – horoso – và serieux – serieusement) Các tính từ chỉ phẩm chất (một phạm vi của khái niệm đặc trưng) trong tiếng Việt có một khả năng đặc biệt: khi làm vị ngữ ở trong câu chúng thường chỉ một cái gì đó được người bản ngữ nhận thức là rộng hơn khái niệm phẩm chất, nó không chỉ mang sắc thái miêu tả mà còn bao hàm cả sự đánh giá của người nói (nghĩa là có ít nhiều tiềm tàng đặc trưng hình thái) : bởi vậy trong chức năng này, tính từ như còn được dùng để chỉ trạng thái Câu Kiều “Cỏ

non xanh rợn chân trời” là một ví dụ : tính từ xanh, trong chức năng vị ngữ ở đây, không chỉ giới hạn trong

(3)Bùi Đức Tịnh, Văn phạm Việt Nam, Sài Gòn, 1952

(4) L V Se-rơ-ba, Về các từ loại trong tiếng Nga (in lần đầu 1928), Tuyển tập các bài viết về tiếng Nga (bằng tiếng Nga), Mát-xcơ-va, 1957

Trang 39

việc chỉ thuộc tính về màu sắc của cỏ xuân (nếu vậy chỉ cần xuất hiện trong vai trò một định ngữ là đủ), mà

còn biểu thị tình thái nữa Hai chức năng ngữ pháp của từ xanh được thống nhất lại trong một cấu trúc cú

pháp

Như vậy, trong việc xác định các đặc trưng của từ loại nói chung và từ loại của tiếng Việt nói riêng không thể hạ thấp vai trò của đặc trưng ngữ nghĩa : trái lại, về nguyên tắc, cần phải đặt nó lên hàng đầu Nhưng, cho đến nay vấn đề bản chất của ý nghĩa các từ loại vẫn chưa được giải thích một cách đầy đủ, thậm chí còn có những chỗ mơ hồ

Nhiều tác giả đã tìm đến tiêu chuẩn ý nghĩa một cách đơn giản, khi chỉ tính đến ý nghĩa cụ thể của từng

từ mà bỏ qua những đặc điểm ngữ pháp khác; ví như từ bàn được coi là danh từ vì nó chỉ đồ vật, ăn là một động từ vì nó chỉ hành động, còn đẹp là tính từ vì nó là tên gọi phẩm chất, còn khi gặp từ nhiều nghĩa thì

cho rằng đó là “nhất từ đa loại” Nếu vậy thì những lớp từ thu được đúng ra chỉ là những nhóm ngữ nghĩa thuần túy chứ không phải là những từ loại trong các nghĩa khoa học của thuật ngữ này, còn hiện tượng

“nhất từ đa loại” thì đã dẫn đến ý kiến phủ nhận sự có mặt các từ loại

Cách nhìn nhận như vậy cho đến nay vẫn còn là lẻ tẻ trong ngôn ngữ học, nhưng được phát biểu dưới một dạng lý thuyết : ý nghĩa của các từ loại có tính chất từ vựng; lẽ tất nhiên, trong khi đi theo khuynh hướng này, các tác giả còn có thể tính tới những đặc trưng khác nữa (hình thái, cú pháp)

Cho đến nay chúng ta vẫn thường gọi một cách ước lệ ý nghĩa của danh từ là chỉ sự vật; động từ là chỉ hành động, trạng thái ; tính từ là chỉ đặc trưng, v.v Song thực tế của các ngôn ngữ khác nhau, cũng như của tiếng Việt, đã chỉ ra rằng tình hình không phải lúc nào cũng như vậy

Hãy bắt đầu bằng danh từ Trong ngôn ngữ có không ít những khái niệm phi sự vật được biểu hiện bằng danh từ, nói cách khác, rất nhiều danh từ có liên quan không phải với việc gọi tên các sự vật mà lại thuộc về phạm trù của các hoạt động, các đặc trưng, thậm chí là cả các quan hệ Đó là các danh từ tiếng Nga kiểu:

hod, beg, chtenie, polet, prixutxtvie, dobrota, belizna, xvyaz’, lyubov’, v.v và các danh từ Việt kiểu : niềm vui, việc làm, trò chơi, lòng tham, v.v đặc biệt là những danh từ có chung một biểu vật (denotat) với các từ

thuộc từ loại khác và cùng ở trong một vỏ ngữ âm với chúng kiểu như : thanh niên, tổ chức, thắng lợi, cải

tiến, hành động v.v Ở đây không thể nói rằng có thể hình dung các khái niệm ấy dưới dạng các sự vật

được

Dựa vào các ý nghĩa từ vựng cũng không thể giải thích được vì sao trong tiếng Việt, tiếng Hán và một vài ngôn ngữ đơn lập khác lại có đặc trưng ngữ pháp gần với động từ , trong khi ở các ngôn ngữ châu Âu diễn ra một quá trình ngược lại Quan hệ giữa các tính từ và trạng từ (adverbe) trong một số ngôn ngữ châu Âu cũng không thể nói là dựa trên các ý nghĩa từ vựng của chúng bởi vì các cặp từ chẳng hạn: horosiy-horoso, buxtrưy-bưxtro, vexelưy-vexelo trong tiếng Nga; serieux-serieusement, nerveux-nerveusement, heureux-heureusement trong tiếng Pháp v.v luôn luôn có chung những biểu vật (denotat) nghĩa là cùng ý nghĩa từ vựng – nhưng lại thuộc về hai ý nghĩa ngữ pháp của hai từ loại khác nhau (tính từ và trạng từ ) Rõ ràng sự khác biệt ở đây không nằm trong khuôn khổ của kiểu biểu vật , mà nằm trong quan hệ của các khái niệm đối với nhau ở trong câu; cụ thể là trong những cặp từ vừa dẫn ra ở trên, khái niệm đặc trưng khi thì ở trong sự tương tác với khái niệm sự vật, khi thì ở trong sự tương tác với khái niệm hoạt động , quá trình Loại tương tác thứ nhất là nguồn gốc các đặc trưng cú pháp của trạng từ và được hiện thực hoá trong những hình thức cấu tạo từ khác nhau Trong tiếng Việt cả hai loại tương tác được thống nhất và hiện thực hoá trong

một loại từ duy nhất là tính từ , bởi vậy tính từ ở đây vừa có thể làm định ngữ cho danh từ (nhà mới, áo đẹp, sách hay), vừa có thể làm định ngữ cho động từ (đi nhanh, hát hay, học giỏi), nghĩa là bao hàm cả chức

năng của trạng từ trong ngôn ngữ châu Âu Không phải ngẫu nhiên mà một số tác giả trước đây nghiên cứu tiếng Việt đã gọi các tính từ đi liền với động từ ở trong câu là “tiếng trạng từ”

Thực tế trên đây đã chỉ cho rằng ý nghĩa của các loại từ là một cái gì khác, chứ không phải là ý nghĩa từ vựng Điều này hoàn toàn tự nhiên, bởi vì ý nghĩa từ vựng của từ luôn luôn thuộc địa hạt của ngữ nghĩa học; nó hướng tới thực tại và phản ánh thực tại, cho nên nó có những nội dung lôgích xác định và có tính cụ thể

Trang 40

hơn so với ý nghĩa ngữ pháp Ý nghĩa của các từ loại cũng có liên quan nhất định đến quá trình phản ánh thực tại, nhưng theo một cách khác và ở trên bậc khái quát hoá, do đó nó không mang tính chất từ vựng thuần túy

Một số đông các nhà ngôn ngữ học đã nhận thấy ý nghĩa các từ loại không có tính chất “vật chất” (từ vựng ) nên đã gọi chung là ý nghĩa ngữ pháp Đó thật sự là một phát hiện quan trọng trong lí thuyết từ loại, song đằng sau thuật ngữ này có những điều phức tạp hơn Theo truyền thống châu Âu, ý nghĩa ngữ pháp được hiểu một cách phổ biến là ý nghĩa khái quát của các hình thức ngữ pháp đối lập diễn đạt các phạm trù ngữ pháp; ví dụ, các ý nghĩa, giống, số, cách của danh từ, ngôi, thời, thể, thức của động từ, v.v Các ý nghĩa này được diễn đạt có thể bằng phương thức tổng hợp tính hay phương thức phân tích tính và đối lập với các ý nghĩa từ vựng Trong một cách hiểu khác có phần nào rộng hơn, ý nghĩa ngữ pháp còn bao hàm ý nghĩa của các mối quan hệ giữa từ với từ ở trong câu, nghĩa là có tính chất cú pháp Ý nghĩa các từ loại có quan hệ chặt chẽ với ý nghĩa ngữ pháp theo cả hai cách hiểu trên đây nhưng không thể đồng nhất với một trong số đó hoặc cả hai Ý nghĩa của các từ loại một mặt không phải là thuần túy từ vựng, nhưng mặt khác cũng không phải là ý nghĩa hình thức (hình thái hoặc cú pháp) Trong bản thân ý nghĩa các thực từ của ngôn ngữ nói chung, cũng như của tiếng Việt nói riêng bao giờ cũng chứa đựng sự thống nhất của hai yếu tố ngữ nghĩa và ngữ pháp

Chúng ta thử xét yếu tố thứ nhất Các ý nghĩa sự vật (của danh từ), hành động, trạng thái (của đôïng từ ), đặc trưng (của tính từ) và những ý nghĩa khác là kết quả của quá trình khái quát hóa các ý nghĩa cơ bản của hàng loạt từ cụ thể, là kết quả của các hệ liên tưởng ngữ nghĩa Nét đặc trưng của loại ý nghĩa này là tính khái quát, đồng nhất và tương liên của các khái niệm trên bậc trừu tượng hóa, bởi vậy ý nghĩa khái quát không phải là hình ảnh trực tiếp của sự phản ánh thực tại : nó tồn tại một cách gián tiếp, nói đúng hơn là nó có tính chất phạm trù Nhưng mạêt khác điều đó cũng không có nghĩa rằng các ý nghĩa khái quát này hoàn toàn độc lập với các ý nghĩa từ vựng mà từ đó đã hình thành ra chúng Không có việc định danh các khái niệm cụ thể về sự vật thì không thể có ý nghĩa “tính sự vật” (rộng hơn có thể gọi là ý nghĩa “tính thực thể”), các ý nghĩa khái quát khác của các lớp từ khác cũng tương tự như vậy – dù thế nào, mỗi tính từ cũng gắn liền với việc chỉ một đặc trưng nhất định, mỗi động từ gắn liền với một khái niệm nào đó về hoạt động, trạng thái, quá trình, mỗi số từ không tách khỏi khái niệm định lượng các sự vật Như vậy ý nghĩa khái quát của các từ loại tuy không phải là ý nghĩa từ vựng nhưng rõ ràng trong bản thân nó, vẫn có “nhân tố ” (mômen) phản ánh thực tại dù không trực tiếp như ở trong ý nghĩa từ vựng; chính cái “nhân tố ” này đã phân biệt về chất ý nghĩa khái quát với ý nghĩa ngữ pháp mà ta thường gặp

Song cần phải nhận xét rằng không phải không có lý do mà các nhà ngôn ngữ học đã gọi ý nghĩa khái quát của từ loại là ý nghĩa ngữ pháp Vậy thì trong ý nghĩa khái quát có chứa đựng một loại “nhân tố” thứ hai nữa không (tức là nhân tố ngữ pháp) ?

Chúng ta hãy trở về với ý nghĩa của danh từ, trước hết là danh từ trừu tượng Các danh trừu tượng không chỉ tên các sự vật cụ thể mà tên của những khái niệm, của những đặt trưng, những hoạt động, trạng thái, quá trình, những quan hệ, đã được trừu tượng hoá khỏi các đối tượng mà chúng được sinh ra hoặc có quan hệ sở thuộc Những khái niệm này được người bản ngữ nhận thức một cách độc lập Hãy so sánh một vài từ trong các ngôn ngữ khác nhau mang ý nghĩa trừu tượng khác nhau:

chuyến bay pobeđa (sự thắng lợi) tình yêu poxadka (việc trồng trọt) chúng ta thấy không thể hình dung ra được khái niệm sự vật nào ở đây cả, vậy mà chúng vẫn là những danh từ thật sự Không phải chỉ ý nghĩa từ vựng như đã nói mà ngay cả ý nghĩa khái quái “sự vật tính” trong

Ngày đăng: 31/12/2020, 13:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w