1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử quan hệ quốc tế ở châu âu trong chiến tranh lạnh (1949 1991)

124 158 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế Ở Châu Âu Trong Chiến Tranh Lạnh (1949-1991)
Tác giả Lê Phụng Hoàng
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. HCM
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố TP. HCM
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước biến chuyển này, ngày 10.3 Moskva lại tung ra sáng kiến mới là Dự thảo các cơ sở của hòa ước với Đức và công hàm đính kèm, theo đó, việc soạn thảo hòa ước phải được tiến hành với s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM

KHOA LỊCH SỬ

LÊ PHỤNG HOÀNG

LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở CHÂU ÂU

TRONG CHIẾN TRANH LẠNH

(1949-1991)

LƯU HÀNH NỘI BỘ - 2005

Trang 2

a Tranh giành ảnh hưởng ở Đông Âu

Trong quá khứ, các cường quốc Tây Âu luôn tìm cách ngăn chặn sự bành trướng của nước Nga ở

Đông Âu Từ sau Cách mạng tháng mười Nga, việc ngăn chặn này còn mang thêm ý nghĩa chống “sự

bành trướng của chủ nghĩa cộng sản” Vì vậy, từ khi Hồng quân vượt biên giới Liên Xô tiến vào các

nước Đông Âu, giới lãnh đạo Anh, Mĩ đã tính đến việc đề phòng Liên Xô thiết lập chế độ cộng sản ở các nước này

Tại cuộc hội đàm Moskva (tháng 10.1944), thủ tướng Anh Churchill và chủ tịch Liên Xô Stalin đã thỏa thuận phân chia khu vực ảnh hưởng ở Rumania, Bulgaria, Hungary, Nam Tư và Hy Lạp

Tại hội nghị thượng đỉnh Yalta (tháng 2.1945), những người lãnh đạo ba đại cường Liên Xô, Mĩ

và Anh đã cùng kí tên trong bản “Tuyên ngôn về châu Âu giải phóng” xác định quyền tự do lựa chọn

chế độ chính trị của các nước được giải phóng khỏi ách phát xít; đồng thời Liên Xô cam kết thành lập Chính phủ Liên hiệp Ba Lan trên cơ sở mở rộng chính phủ do đảng Cộng sản lãnh đạo (được Liên Xô hỗ trợ) cho các chính khách thuộc Chính phủ Ba Lan lưu vong (được Anh, Mĩ công nhận) tham gia Liên Xô cũng thừa nhận Chính phủ Tiệp Khắc lưu vong (được Anh, Mĩ hỗ trợ) với điều kiện mở rộng nó cho đảng Cộng sản Tiệp Khắc tham gia để trở thành một chính phủ liên hiệp Tuy nhiên, trên thực tế, các đảng cộng sản đều giành được chính quyền ở các nước Đông Âu do Liên Xô giải phóng Về phần mình, Hoa Kì đã đột ngột chấm dứt chương trình viện trợ theo Đạo luật Lend-Lease vào đúng ngày chiến thắng phát xít Đức (9.5.1945); đồng thời Mĩ và Anh đã gây sức ép và đấu tranh với Liên Xô, can thiệp giúp các đảng phái không cộng sản ở các nước Đông Âu giữ địa

vị của mình trong chính quyền Nhưng bất chấp tất cả, mọi đảng phái của nền dân chủ tư sản cùng các chính khách lưu vong trở về đều lần lượt bị loại bỏ, chế độ dân chủ nhân dân do đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo được thiết lập ở Nam Tư (11.1945), Albania (1.1946), Bulgaria (9.1946), Ba Lan (1.1947), Rumania (11.1947), Tiệp Khắc (2.1948) và Hungary (8.1949) Như vậy Mĩ và Anh đã thất bại hoàn toàn trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Âu

b Tranh chấp ảnh hưởng ở nước Đức

Do vị trí đặc biệt của nước Đức hùng mạnh ở trung tâm châu Âu, cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng giữa Liên Xô với Mĩ và Anh ở đây đã diễn ra rất quyết liệt

Sau khi sáp nhập 1/4 lãnh thổ Đức trước chiến tranh vào Ba Lan và Liên Xô, bốn cường quốc đã chiếm đóng nước Đức theo các quyết nghị ở Yalta và Potsdam Sử dụng quyền chiếm đóng của mình, các cường quốc Đồng minh đã thực hiện các chính sách khác nhau ở mỗi khu vực chiếm đóng

Trang 3

Tại Đông Đức, Liên Xô đã triệt để tiêu diệt mọi tàn tích của chủ nghĩa phát xít, xóa bỏ luôn chủ nghĩa tư bản và tạo điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình của Liên Xô Trong khi đó tại Tây Đức, Mĩ, Anh và Pháp cũng xóa bỏ chủ nghĩa phát xít nhưng lại phục hồi nền kinh tế tư bản, khôi phục chế độ dân chủ theo khuôn mẫu phương Tây Hai miền phát triển theo hai xu hướng trái ngược nhau, trong khi cả Liên Xô lẫn Mĩ, Anh và Pháp đều không muốn Đức thống nhất theo mô

hình của phía bên kia Chính vì vậy, vấn đề thống nhất và kí hòa ước với nước Đức đã trở thành một

cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt và không khoan nhượng giữa hai bên, mà không đi đến kết quả nào Phía Mĩ, Anh đã quyết định đơn phương hành động bất chấp mọi thỏa hiệp trước đây: xúc tiến việc hợp nhất 3 khu chiếm đóng ở Tây Đức để thành lập nước Cộng hòa Liên bang Đức Liên Xô phản ứng rất mạnh và cuộc khủng hoảng Berlin (từ tháng 6.1948 đến tháng 5.1949) đã trở thành cuộc đối đầu quyết liệt nhất giữa Liên Xô với Mĩ và Anh trong thời gian hậu chiến ở châu Âu Sự

thành lập nước Cộng hòa Liên bang Đức ở Tây Đức (5.1949) và nước Cộng hòa Dân chủ Đức ở Đông Đức (10.1949) là kết quả của cuộc đấu tranh bất phân thắng bại giữa Mĩ, Anh với Liên Xô

trong cuộc tranh chấp ảnh hưởng ở Đức Nước Đức trở thành trọng điểm đối đầu giữa hai phe trong cuộc Chiến tranh lạnh

Gắn liền với cuộc tranh chấp ở Đức là cuộc đấu tranh giữa hai bên về nước Áo Như nước Đức, Áo cũng bị phân chia thành 4 khu vực chiếm đóng của Mĩ, Anh, Pháp và Liên Xô Cả bốn nước này cũng không tìm ra tiếng nói chung để đi đến giải pháp trao trả chủ quyền cho nước Áo

c Tranh giành ảnh hưởng ở Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran

Cùng với sự thiết lập chế độ dân chủ nhân dân ở các nước Đông Âu, ảnh hưởng của Liên Xô còn lan rộng tới Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran Vì thế, Mĩ và Anh lại tìm cách đối phó với Liên Xô ở các nước này

Tại Iran, sự tranh chấp ảnh hưởng đã diễn ra ngay sau khi Chiến tranh thế giới kết thúc giữa Anh (được Mĩ ủng hộ) với Liên Xô là hai nước được quyền đóng quân ở đây trong chiến tranh Lúc đầu, Chính phủ Hoàng gia Iran ngả theo Liên Xô và thừa nhận tỉnh tự trị Azerbaijan đặt dưới quyền kiểm soát của đảng Tudeh (tức đảng Cộng sản Iran) và đảng Dân chủ của người Kurd (cả hai đảng này đều nhận được sự ủng hộ của Liên Xô) Phía Anh và Mĩ liền dựa vào các bộ lạc vũ trang Hồi giáo để gây áp lực và lôi kéo Chính phủ Iran theo mình Chính phủ Iran đã thẳng tay đàn áp đảng Tudeh và đảng Dân chủ của người Kurd, giành lại chủ quyền đối với tỉnh Azerbaijan (12.1946) Do vậy, quan hệ giữa Iran và Liên Xô trở nên căng thẳng, trong lúc quan hệ giữa Iran với Anh và Mĩ lại được cải thiện

Thổ Nhĩ Kỳ không tham gia chiến tranh thế giới nhưng khi chiến tranh kết thúc, Liên Xô yêu cầu Thổ phải trả lại Liên Xô hai vùng đất trước đây thuộc Đế quốc Nga, đồng thời yêu cầu Thổ để cho Liên Xô cùng cộng tác trong việc quản lí và phòng thủ các eo biển Dardanelles và Bosphore Mĩ và Anh liền đứng về phía Thổ để chống lại áp lực của Liên Xô

Hy Lạp được coi là thuộc phạm vi ảnh hưởng của Anh tới 90% theo sự thỏa thuận giữa Stalin và Churchill; song phong trào du kích của đảng cộng sản ở đây phát triển rất mạnh và đã tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền khi chiến tranh thế giới kết thúc Quân đội Anh đã thẳng tay đàn áp phong trào cộng sản để bảo vệ Chính phủ Hoàng gia Hy Lạp Nội chiến đã diễn ra trong suốt 3 năm (1946 − 1949) giữa Chính phủ Hy Lạp (được Anh và Mĩ hỗ trợ) với đảng cộng sản (được Liên Xô giúp đỡ thông qua các nước dân chủ nhân dân Nam Tư, Albania và Bulgaria) Vấn đề Iran và vấn đề Hy Lạp đã trở thành cuộc đấu tranh giữa Liên Xô với Mĩ và Anh trong suốt thời gian đó Hoa Kì đã đối phó với Liên Xô trong các vấn đề Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ bằng chủ thuyết Truman

d Sự ra đời của hai phe đối lập

Tình trạng căng thẳng trong quan hệ Xô - Mĩ sau chiến tranh đã đưa tới việc Mĩ công bố chủ thuyết Truman (3.1947) nhằm ngăn chặn Liên Xô và phong trào cộng sản quốc tế Kế hoạch

Trang 4

Marshall (6.1947) đã tập hợp các nước Tây Âu dưới sự lãnh đạo của Mĩ

Trước tình hình đó, Liên Xô đã thành lập Cục Thông tin Cộng sản (Kominform) vào tháng 7.1947, bao gồm đại diện đảng cộng sản Liên Xô, 6 đảng cộng sản của các nước dân chủ nhân dân (DCND) Đông Âu, đảng Cộng sản Pháp và đảng Cộng sản Italia, để xác định đường lối, trao đổi kinh nghiệm và phối hợp hành động chống chủ nghĩa tư bản Chính phủ Liên Xô còn cho công bố chủ thuyết Zhdanov(1) về sự phân chia thế giới thành hai phe: phe thứ nhất gồm các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), dân tộc chủ nghĩa và yêu chuộng hòa bình với Liên Xô làm trụ cột, và phe thứ hai gồm các nước đế quốc, thực dân và hiếu chiến do Mĩ cầm đầu Khối liên minh về mọi mặt giữa các nước XHCN cũng được xiết chặt bằng một hệ thống các hiệp ước song phương về “Hữu nghị, Hợp tác, Liên minh và Tương trợ” kí kết giữa Liên Xô với các nước DCND Đông Âu và giữa các nước này với nhau

Do tác động của kế hoạch Marshall, Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC) ra đời vào tháng

4.1948, tạo nên sự liên kết chặt chẽ về kinh tế giữa các nước tư bản Tây Âu

Để giúp đỡ nhau phát triển kinh tế mà không cần đến kế hoạch Marshall, Liên Xô đã thành lập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON) vào tháng 1.1949 Đây là tổ chức liên kết kinh tế chủ yếu của các nước XHCN Đông Âu do Liên Xô lãnh đạo Tổ chức này về sau sẽ mở rộng đến các nước XHCN ngoài châu Âu

Trước sự đoàn kết chặt chẽ của hệ thống XHCN và sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản quốc tế, các cường quốc tư bản Tây Âu và Mĩ đã xúc tiến việc thành lập các khối liên minh về chính trị và quân sự của phương Tây: Khối Liên hiệp Tây Âu tức Hiệp ước Brussels ra đời tháng

3.1948 và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây dương (NATO) được thành lập tháng 4.1949 Tổ chức Hiệp

ước Bắc Đại Tây Dương là liên minh quân sự và chính trị quan trọng nhất và hùng mạnh nhất của hệ thống tư bản chủ nghĩa (TBCN) do Mĩ lãnh đạo, mà mục đích chủ yếu là chống hệ thống XHCN do Liên Xô đứng đầu

Như vậy, đến năm 1949, tại châu Âu đã hình thành hai phe thuộc hai hệ thống đối lập: phe XHCN do Liên Xô đứng đầu, được liên kết bằng Cục Thông tin Cộng sản (Kominform), Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON), và các hiệp ước song phương ; phe TBCN do Mĩ đứng đầu, được liên kết bằng Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC), Hiệp ước Brussels và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Trên phạm vi thế giới, hệ thống XHCN còn có sự tham gia của các nước DCND châu Á; hệ thống TBCN có thêm Tổ chức các Quốc gia châu Mĩ (OAS) và các nước tư bản trong khối Thịnh vượng chung (Commonwealth)

Với sự hình thành của hai phe thuộc hai hệ thống thế giới vào năm 1949, quan hệ quốc tế bước sang một thời kỳ mới Trong thời hậu chiến (1945 - 1949), nội dung chủ yếu của quan hệ quốc tế là việc tổ chức lại thế giới sau chiến tranh giữa các nước Đồng minh, từ đó nảy sinh tình trạng Chiến tranh lạnh giữa Mĩ, Anh với Liên Xô Từ 1950 cho đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc (1991), nội dung chủ yếu của quan hệ quốc tế trên toàn thế giới nói chung, ở châu Âu nói riêng, sẽ là sự đối đầu giữa hai hệ thống thế giới do Mĩ và Liên Xô đứng đầu

I QUAN HỆ ĐÔNG-TÂY TRONG CHIẾN TRANH LẠNH (TỪ 1950 ĐẾN 1991)

Sau khi NATO được thành lập, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời và chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, quan hệ giữa Liên Xô với Mĩ và quan hệ giữa hai khối nước Đông Âu XHCN và Tây Âu TBCN chuyển hẳn sang thời kì Chiến tranh lạnh với những nét đặc trưng như: đối đầu trong lĩnh vực ngoại giao, đọ sức bằng chạy đua vũ trang trong lĩnh vực quân sự, tuyên truyền đả kích nhau trong lĩnh vực tư tưởng và văn hoá

(1) Độc giả nào quan tâm, có thể tìm đọc toàn văn chủ thuyết Zhdanov trong Béledi Lézsló − Krausz Tamás I.V

Stalin Tiểu cử chính trị Tủ sách Đại học sư Phạm TP Hồ Chí Minh , 2004, tr.293 − 294

Trang 5

Trong suốt khoảng thời gian hơn 40 năm đó, giới lãnh đạo Liên Xô và Hoa Kì luôn nuôi nỗi ngờ vực lớn lao đối với mỗi động thái của đối phương, vì họ nghĩ rằng mục đích cuối cùng của hai bên đều giống nhau: chiến thắng của bên này đồng nghĩa với sự tiêu vong của bên kia Để đạt được chiến thắng trong Chiến tranh lạnh, giới lãnh đạo của hai siêu cường đã đặt đất nước trong tư thế luôn sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh, lần này không phải bằng vũ khí quy ước như trong hai cuộc chiến tranh thế giới vừa qua, mà bằng vũ khí hạt nhân Quan niệm rằng cuộc chiến sắp đến sẽ là một cuộc chiến tổng lực, họ cố tìm đủ phương sách để tranh đoạt ưu thế trước đối phương trong mọi lĩnh vực, mà ngoại giao là một

Tuy cuối cùng vẫn không diễn ra, viễn cảnh của cuộc chiến tranh hạt nhân vẫn trở thành nỗi ám ảnh dai dẳng đè nặng lên đường lối đối ngoại lẫn đối nội của hai phe Biểu hiện cụ thể là cuộc chạy đua vũ trang kéo dài trong suốt thời Chiến tranh lạnh Có những lúc, ý thức về những hiểm họa khôn lường của một cuộc chiến tranh hạt nhân, giới lãnh đạo hai siêu cường đã tìm cách hòa giải để tránh một cuộc đối đầu trực tiếp, nhưng không lúc nào quên bỏ lỡ cơ hội mà họ cho là thuận lợi để lấn át đối phương Hậu quả là ở nơi này, nơi khác trên thế giới lúc nào cũng xảy ra những cuộc xung đột vũ trang, hoặc những cuộc khủng hoảng chính trị-quân sự, trong đó có bàn tay can thiệp của Mĩ hoặc sự tác động của Liên Xô

1 Văn kiện NSC-68

a Hoàn cảnh

Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt trên lục địa châu Âu (5.1945), Chính phủ Hoa Kì đã cho giải ngũ và đưa về nước phần lớn lực lượng viễn chinh của mình(1a) Hậu quả là sau khi quan hệ đồng minh thời chiến giữa các nước phương Tây chủ chốt (Hoa Kì, Anh, Pháp) và Liên Xô không những chấm dứt, mà còn trở nên căng thẳng đến mức như đang trong trạng huống chiến tranh, Chính phủ Washington chỉ có thể dựa vào sức mạnh kinh tế - tài chính và độc quyền vũ khí hạt nhân để thực hiện chiến lược “ngăn chặn” chống lại điều mà họ gọi là “hoạt động bành trướng của chủ nghĩa cộng sản Xô viết ở châu Âu”, vì Liên Xô đang kiểm soát một lực lượng quân sự quy ước khổng lồ, vượt

xa lực lượng quân sự của cả Hoa Kì, Anh và Pháp cộng lại

Nếu sức mạnh kinh tế-tài chính của Hoa Kì là điều không thể nghi ngờ, thì ưu thế về độc quyền vũ khí hạt nhân của nước này xem ra là một dấu hỏi lớn: số lượng, kiõ thuật sản xuất, phương tiện mang chúng đến mục tiêu , vì trong một cuộc diễn tập năm 1948, không một quả bom nào được thả trúng mục tiêu Dấu hỏi này không lâu sau trở thành dấu chấm than, khi tháng 9-1949, Hoa Kì phát hiện ra rằng Liên Xô đã thử nghiệm thành công bom A

Không đồng ý với lập luận của G Kennan, tác giả của thuyết “ngăn chặn” nổi tiếng, theo đó Liên Xô không hề có ý định xâm lăng Tây Âu, rằng nỗ lực ngăn chặn “sự bành trướng của Liên Xô” đã thành công, giờ đã đến lúc nghĩ đến các cuộc đàm phán nhắm đến một hiệp ước đảm bảo nền trung lập của châu Âu và rút phần lớn lực lượng nước ngoài khỏi Đông và Tây Âu, Tổng thống H

Truman ngày 31-1-1950 đã ra lệnh cho các Bộ Ngoại giao và Quốc phòng “duyệt xét và đánh giá lại

toàn bộ chính sách đối ngoại và quốc phòng của Hoa Kì dưới ánh sáng của các sự biến: Trung Quốc

bị mất, Liên Xô làm chủ năng lượng hạt nhân và viễn cảnh chế tạo bom H” [Dẫn lại theo 2, tr.13]

b Nội dung chính

Sau hơn ba tháng làm việc, Ủy ban liên bộ Ngoại giao-Quốc phòng đã soạn thảo một báo cáo, mà sau đó được Hội đồng An ninh quốc gia dưới quyền chủ tọa của Tổng thống Truman thông qua

(1a) Lúc Đức đầu hàng, quân số quân đội Mĩ vào khoảng 8,290 triệu; đến cuối tháng 5-1945 chỉ còn khoảng trên 4 triệu, cuối tháng 6-1946 còn gần 1,9 triệu Sau đó, quân số tiếp tục giảm xuống không ngừng: 1,349 triệu (cuối 1946), 0,989 triệu (giữa 1947) Tháng 12-1948, vào thời điểm diễn ra sự kiện tháng Hai ở Tiệp Khắc, quân số Mĩ là 898.000 Còn chi phí quốc phòng giảm từ 45 tỉ (1945) xuống còn 11 tỉ (1948) [40, tr.359 – 360, 31, tr.375] Trong khi đó, Liên Xô có một đạo quân đông gần 4 triệu, lực lượng trù bị đông gấp 3 lần và tiếp tục tuyển thêm 0,8000 triệu hàng năm

Trang 6

ngày 25.4.1950 và được mang kí hiệu NSC-68 (mãi đến ngày 27.2.1975, văn kiện này mới được công bố công khai)

Được đánh giá là “một trong những văn kiện chính của Chiến tranh lạnh”, “một sự xác định toàn

diện đầu tiên về chiến lược quốc gia”, NSC-68 coi Liên Xô là mối đe dọa vĩnh viễn cho sự tồn tại của

Mĩ; Liên Xô phải bị kiềm chế hoặc bị tiêu diệt, nếu không Mĩ sẽ “không thể tiếp tục tồn tại như là

một xã hội tự do” Phát xuất từ quan điểm này, văn kiện nhấn mạnh rằng “Mĩ phải tiến hành một cuộc chiến tranh thực sự với người Xô viết hay với những người làm thay họ ở bất cứ nơi nào trên thế giới” [X.1, tr.9 – 20] Để làm được như vậy, Mĩ phải tăng cường khả năng tiến hành một cuộc chiến

tranh bằng các loại vũ khí quy ước để qua đó thu hẹp sự lệ thuộc vào vũ khí hạt nhân và giảm thiểu

viễn cảnh của một cuộc chiến hạt nhân [7, tr.336] NSC-68 cổ vũ “việc tăng cường ngay lập tức và

trên quy mô lớn lực lượng quân sự và lực lượng nói chung của chúng ta và của các Đồng minh nhằm mục đích đạt được thế cân bằng lực lượng và với hi vọng rằng chúng ta có thể khiến chế độ Xô viết thay đổi về bản chất bằng những phương sách khác hơn là bằng một cuộc chiến tranh toàn diện”

[Dẫn lại theo 1, tr.113] Văn kiện cho rằng trong lúc phương Tây đang mong chờ chế độ Xô viết bớt cứng rắn hơn, Mĩ phải tái vũ trang để chặn đứng bất kì sự bành trướng nào của Liên Xô Văn kiện cảnh báo rằng đến năm 1954, Liên Xô sẽ có đủ lực lượng hạt nhân để tàn phá Mĩ Do vậy, Mĩ phải

đề ra một “kế hoạch táo bạo và quy mô” xây dựng lại phương Tây cho đến khi nó vượt xa khối Xô viết; chỉ có làm như vậy, Mĩ mới có thể đứng ở “trung tâm chính trị và vật chất, với các quốc gia tự

do khác xoay quanh” Người Mĩ không nên tiếp tục cố tìm cách “phân biệt giữa an ninh quốc gia và

an ninh toàn cầu” [Dẫn lại theo 1, tr.114]

Bằng những số liệu cụ thể, NSC-68 dự trù trích 20% tổng sản phẩm quốc dân (GNP) cho chi phí vũ trang, đưa ngân sách quân sự từ 13,5 tỉ lên 48,2 tỉ USD, tăng quân số thêm một triệu người trong vòng một năm, số chiến đấu cơ tăng 52%

2 Tây Đức gia nhập NATO và tái vũ trang

Tuy xảy ra ở một vùng đất vừa xa xôi, vừa xa lạ với nhiều người Mĩ, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào tháng 6.1950 đã khiến họ thay đổi hẳn quan điểm của mình về phương sách ngoại giao của Liên Xô

Trước đó, người Mĩ nghĩ rằng Liên Xô sẵn sàng sử dụng mọi phương tiện để mở rộng ảnh hưởng của họ, trừ chiến tranh Giờ thì Washington không thể không thực hiện ngay văn kiện NSC-68 tại châu Âu, nơi giới lãnh đạo của cả Mĩ lẫn Liên Xô đều coi là có ý nghĩa hàng đầu đến sự sống còn của quốc gia mình

Thực ra, trước cuộc chiến Triều Tiên hơn một năm, người Mĩ đã hoàn thành nỗ lực tái phối trí các lực lượng quân sự ở châu Âu theo hướng phối hợp và kết hợp chúng thành một khối – tức NATO – nhằm thực hiện thành công chiến lược “ngăn chặn” điều được giới cầm quyền ở Washington gọi là

“sự bành trướng của cộng sản” Sau đó ngày 31.01.1950, Tổng thống Truman đã loan báo quyết định

sản xuất bom H, mạnh gấp 200 lần quả bom A đã thả xuống Hiroshima Nhưng ưu thế − và còn hơn thế nữa, độc quyền − về vũ khí hạt nhân mà Mĩ nắm giữ từ năm 1945 đến năm 1949, nếu rất cần cho một cuộc chiến tranh hạt nhân, lại không thể bù đắp cho cán cân so sánh rất bất lợi cho Mĩ về lực lượng quy ước, mà một cuộc chiến giới hạn như đang diễn ra ở Triều Tiên vẫn đòi hỏi Tệ hơn nữa, sự yếu kém về lực lượng quy ước của phương Tây hiện ra rất rõ ngay tại châu Âu Lúc đó, NATO, theo ước tính của giới chức quân sự phương Tây, có không quá 14 sư đoàn, so với 175 sư đoàn của Liên Xô

Tháng 5.1950, Quốc hội Hoa Kì thông qua Đạo luật sản xuất quốc phòng (Defense Production

Act) khẳng định ý định của Hoa Kì là “chống lại những hoạt động xâm lược phát triển và duy trì

mọi lực lượng quân sự và kinh tế cần thiết để đáp ứng mục đích này”[Dẫn lại theo 16, tr.40] Quốc

hội Mĩ đã tăng ngân sách quân sự thêm 12 tỉ dollars thông qua một khoản tín dụng trị giá 5 tỉ để viện trợ quân sự cho các nước bạn, đưa quân số từ 1,5 triệu lên 3 triệu trong vòng một năm Ngoài ra, Hoa

Trang 7

Kì cũng yêu cầu các nước phương Tây tăng cường lực lượng quân sự của mình Nhưng thay đổi đáng kể hơn cả trong quan điểm quốc phòng của Hoa Kì là Washington có ý định giúp Tây Đức tái vũ trang để nước này có thể góp 12 sư đoàn vào lực lượng NATO sẵn có ở châu Âu

Tuy nhiên, ý định trên đã vấp phải sự chống đối mạnh mẽ không chỉ của Pháp, mà cả từ phía Anh tại Hội nghị cấp bộ trưởng ngoại giao ba nước Hoa Kì, Anh và Pháp diễn ra tại New York từ ngày 12 đến ngày19.9.1950 Kết quả là Thông cáo chung của Hội nghị ủng hộ kế hoạch xây dựng

“trong thời hạn ngắn nhất một lực lượng quân sự chung có khả năng đảm bảo việc bảo vệ tự do ở

châu Âu” [Dẫn lại theo 16, tr.41], nhưng đồng thời khẳng định rằng “việc tái lập một quân đội riêng

lại theo 28, tr.705] Bản thông cáo cũng cho biết ba nước có ý định đặt vấn đề chấm dứt tình trạng chiến tranh với Đức, đồng thời khẳng định vẫn giữ quy chế chiếm đóng đối với Tây Đức Đây chính là lời hứa mà Washington và London đã đưa ra, khi vận động Paris tán thành việc thành lập CHLB Đức[Dẫn lại theo 18, tr.387] Phiên họp của Hội đồng NATO diễn ra gần như cùng lúc đó (trong các ngày từ 15 đến 26-9) đã giao cho các cơ quan thẩm quyền trách nhiệm trong thời hạn ngắn nhất đưa

ra những khuyến cáo về việc bằng cách nào Tây Đức “có thể góp phần đắc lực nhất vào sự nghiệp

phòng thủ” [18, tr.388]

Do kế hoạch tái vũ trang nước Đức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nước Pháp và cũng

do không đủ sức ngăn cản diễn biến này, giới cầm quyền ở Paris đã phản ứng rất mau lẹ bằng một

kế sách khá tinh tế Ngày 24.10.1950, thủ tướng Pháp R Pléven đưa ra dự án “Cộng đồng phòng thủ

châu Âu” (CED), hay còn gọi là “kế hoạch Pléven” Đây là kế hoạch xây dựng quân đội châu Âu

bằng các phương tiện tài lực, vật lực và nhân lực của các nước tham gia Quân đội này sẽ “được gắn

kết vào các định chế chính trị của châu Âu thống nhất”, nghĩa là sẽ thuộc thẩm quyền của một bộ

trưởng quốc phòng châu Âu do chính phủ các nước tham gia đồng thuận bổ nhiệm, được sự trợ giúp của một hội đồng các bộ trưởng và chịu trách nhiệm trước nghị hội châu Âu Như vậy, kế hoạch Pléven không tạo khó khăn cho việc tái vũ trang nước Đức, mà chỉ nhằm ngăn không cho nước Đức có quân đội và bộ tham mưu riêng

Về phần mình, các nước XHCN cũng phản ứng mau chóng không kém Ngày 19.10.1950, Chính

phủ Liên Xô ra công hàm ngoại giao nêu rõ rằng sẽ “không dung thứ những biện pháp nào của các

tr.55] Liền ngay sau đó, trong các ngày từ 20 đến 21.10.1950 ở Praha đã diễn ra Hội nghị cấp bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu Các nước tham dự đề nghị Tứ cường tuyên bố không cho phép tái vũ trang Tây Đức và không kết nạp nước này vào bất kì tổ chức quân sự nào Hội nghị ra thông cáo nhấn mạnh sự cần thiết của việc kí ngay hòa ước với Đức và thành lập Hội đồng Lập hiến toàn Đức (bao gồm số đại diện ngang nhau của hai nước Đức) với nhiệm vụ thành lập Chính phủ lâm thời cho cả nước Đức

Sau đó, giữa hai bên đã diễn ra các cuộc trao đổi công hàm làm rõ lập trường của mình đối với vấn đề Đức Mĩ, Anh và Pháp nhắc lại lập trường mà họ đã từng đưa ra tại phiên họp lần thứ VI Hội

nghị bộ trưởng Ngoại giao Tứ cường tháng 6-1949: “Bước cần thiết để thống nhất nước Đức là tiến

hành bầu cử tự do dưới sự giám sát của quốc tế”[Dẫn lại theo 18, tr.389]

Tại Hội nghị sơ bộ thứ trưởng Ngoại giao Tứ cường họp ở Paris từ ngày 5-3-1951 nhằm chuẩn bị cho Hội nghị bộ trưởng Ngoại giao Tứ cường sẽ diễn ra sau đó, đại diện Anh, Pháp và Hoa Kì cương quyết không chịu thảo luận những đề nghị mà Liên Xô coi là chính yếu: xúc tiến nhanh việc kí hòa ước với Đức và sau đó rút quân chiếm đóng khỏi đây Ngoài ra, họ không muốn cuộc đàm phán đụng chạm đến kế hoạch xây dựng lực lượng quân sự hợp nhất của các nước Tây Âu Ngày 21-6, Hội nghị kết thúc mà không mang lại kết quả gì

Thất bại trên đã khiến các cường quốc phương Tây đẩy nhanh hơn tiến độ thực hiện kế hoạch tái

Trang 8

vũ trang các thành viên NATO và Tây Đức Tháng 9.1951, kế hoạch Pléven được bộ trưởng ngoại giao các nước Mĩ, Anh và Pháp chính thức thông qua tại một hội nghị được tổ chức ở Washington và được tán đồng ở Hội nghị Hội đồng NATO diễn ra tại Lisbon tháng 2.1952 Trước biến chuyển này, ngày 10.3 Moskva lại tung ra sáng kiến mới là Dự thảo các cơ sở của hòa ước với Đức và công hàm đính kèm, theo đó, việc soạn thảo hòa ước phải được tiến hành với sự tham gia của Chính phủ toàn Đức, toàn bộ quân đội nước ngoài phải rút hết khỏi Đức chậm nhất là một năm sau khi hòa ước có hiệu lực, tất cả căn cứ quân sự của nước ngoài tất nhiên cũng sẽ bị phá huỷ, những chính đảng và tổ chức dân chủ được tự do hoạt động, những tổ chức phi dân chủ và chống hòa bình phải bị cấm hoạt động, mọi người dân phải được hưởng quyền công dân và chính trị ngang nhau, kể cả những cựu sĩ quan và đảng viên phát xít (trừ những kẻ đang thụ án), nước Đức tương lai phải trung lập (nghĩa là không được tham gia bất kì tổ chức quân sự quốc tế nào), chỉ được phép có một đạo quân đủ để phòng thủ, đường biên giới đã được xác lập ở Hội nghị Potsdam phải được tôn trọng [Dẫn lại theo 18, tr.397 – 398; 9, tr.56 – 57]

Trong văn bản trả lời đề ngày 25.3, các chính phủ Hoa Kì, Anh và Pháp nhấn mạnh rằng việc kí hòa ước đòi hỏi trước hết phải thành lập một chính phủ có đủ thẩm quyền kí kết và do vậy việc làm đầu tiên, mà các nước liên quan cần phải thỏa thuận là tiến hành tổng tuyểân cử tự do trên cả hai miền dưới sự giám sát của LHQ Tuy nhiên, các nước phương Tây đồng thời vẫn tiếp tục xúc tiến kế hoạch thành lập CED, vì xem kế hoạch này thuộc một vấn đề rộng lớn hơn – an ninh châu Âu Ngày 27.5.1952, sau nhiều tháng thương thảo ráo riết giữa Paris và Bonn, Hiệp uớc thành lập CED được bộ trưởng ngoại giao các nước Pháp, Tây Đức, Italia và các nước Benelux(2) kí tại Paris Trước đó một ngày, nhằm chuẩn bị về mặt pháp lí cho việc kí Hiệp uớc thành lập CED, tại Bonn các đại diện Mĩ,

Anh, Pháp và CHLB Đức đã kí “Thỏa ước về quan hệ giữa CHLB Đức và ba cường quốc” Thỏa ước

trao cho chính phủ Bonn toàn quyền trong các chính sách đối nội và đối ngoại(3), nhưng ba cường

quốc sẽ giữ lại cho mình một số quyền Đó là nội dung của Điều 2: “Do tình hình quốc tế cho đến

nay vẫn tiếp tục gây trở ngại cho việc tái thống nhất nước Đức và kí hòa ước, ba cường quốc sẽ giữ lại các quyền đã có và các trách nhiệm đã được giao trước đây trong những vấn đề liên quan đến

tr.523], nghĩa là Hoa Kì, Anh và Pháp sẽ vẫn duy trì quyền đóng quân trên lãnh thổ CHLB Đức Các văn kiện nói trên được Quốc hội Hoa Kì phê chuẩn ngày 1.7.1952, Anh phê chuẩn ngày 1.8.1952 Quốc hội CHLB Đức phê chuẩn ngày 15.3.1953 Tuy nhiên, Hiệp ước CED lại gặp rắc rối ngay tại Pháp Các đại biểu cộng sản trong Quốc hội kịch liệt chống đối vì cho rằng dự án này là một phần của kế hoạch chạy đua vũ trang rộng lớn chống Liên Xô, còn các đại biểu gôlít (4) mạnh mẽ phê phán tính chất siêu quốc gia của dự án Ngày 30.8, các đại biểu cộng sản và gôlít đã cùng liên kết thành đa số để bác bỏ Hiệp ước CED Hội nghị bộ trưởng ngoại giao tứ cường diễn ra ở Berlin từ ngày 25.1 đến ngày 18.2.1954 đã không mang lại kết quả tích cực đáng kể nào

Diễn biến trên đã đặt nước Pháp vào thế cô lập trong quan hệ với các đồng minh NATO và hơn thế nữa, trong bối cảnh của quan hệ Đông-Tây lúc bấy giờ(4a) hoàn toàn không có tác dụng ngăn cản nước Đức tái vũ trang

Tại Hội nghị London diễn ra từ ngày 28.9 đến ngày 30.10.1954, Hoa kì, Pháp và Anh đồng thỏa thuận sẽ chấm dứt, ngay khi có thể, chế độ chiếm đóng đối với CHLB Đức, Hiệp ước Brussels kí năm 1948 sẽ được mở rộng thành Liên hiệp Tây Âu để bao gồm cả CHLB Đức và Italia Bù lại,

(2) Tên gọi tắt các nước Bỉ , Hà Lan và Luxembourg

(3) Điều 1 của Thỏa ước ghi rõ: “Cộng hòa Liên bang (Đức] có toàn quyền trong các công việc đối nội và đối ngoại, trừ một số ngoại lệ được nêu ra trong văn kiện này” [Dẫn lại theo 20, tr.523]

(4) Một trào lưu chính trị do de Gaulle chủ xướng Theo đó, Pháp phải giành một vị thế độc lập hơn trong quan hệ với

Mĩ trong lĩnh vực đối ngoại

(4a) Hội nghị bộ trưởng Ngoại giao Tứ cường diễn ra ở Berlin từ ngày 25.1 đến ngày 18.2.1954 đã không mang lại kết quả tích cực đáng kể nào

Trang 9

CHLB Đức hứa sẽ không chế tạo vũ khí nguyên tử, hóa học, sinh học, tên lửa tầm xa, tàu chiến hơn

3000 tấn, oanh tạc cơ chiến lược

Tiếp đó, tại Hội nghị Paris diễn ra từ ngày 20 đến ngày 23.10.1954, đại diện 9 nước – Hoa Kì, Anh, Pháp, Canada, CHLB Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg – đã kí Hiệp ước chính thức chấm dứt chế độ chiếm đóng đối với CHLB Đức, kết nạp nước này và Italia vào Liên hiệp Tây Âu sẽ được chính thức thành lập sau 5 ngày nữa Các nước tham gia Hội nghị còn kí Nghị định thư kết nạp CHLB Đức và Italia vào NATO với tư cách là các thành viên đầy đủ và có chủ quyền Ngay sau đó, CHLB Đức đã xây dựng một quân đội riêng của mình (Bundeswehr) gồm 12 sư đoàn bộ binh, còn không quân 7,5 vạn, hải quân 2,5 vạn

3 Vấn đề hoà ước với Áo và Đức

a Hội nghị bộ trưởng Ngoại giao Tứ cường tại Berlin (từ ngày 25-1- đến ngày 18-2-1954)

Sau khi các hội nghị bộ trưởng Ngoại giao Tứ cường bị thất bại và bị ngưng lại từ năm 1949, trong quan hệ giữa các nước đó ở châu Âu đã xuất hiện thêm nhiều vấn đề mới, bên cạnh một vấn đề lớn còn tồn đọng từ cuối chiến tranh - kí hòa ước với các nước bại trận, đặc biệt là với Đức và Áo Sự thay đổi giới lãnh đạo hai nước đứng đầu hai phe − Liên Xô và Mĩ − trong những tháng đầu năm

1953(4b), việc kí hiệp định đình chiến ở Triều Tiên đã tạo điều kiện cho Tứ cường nối lại Hội nghị bộ trưởng Ngoại giao ở Berlin từ ngày 25.1 đến ngày 18.2.1954

Chương trình nghị sự tại Hội nghị gồm:

- Vấn đề Đức và vấn đề đảm bảo an ninh châu Âu;

- Vấn đề kí hòa ước với Áo

Về vấn đề Đức, Liên Xô đề nghị thành lập một chính phủ lâm thời do Quốc hội hai nước Đức bầu ra, rút hết quân đội chiếm đóng nước ngoài và sau đó sẽ tiến hành bầu cử tự do do chính phủ lâm thời chuẩn bị và đảm trách Hai nước Đức cùng tham gia chuẩn bị dự thảo hòa ước

Phái đoàn Xô viết còn gắn chặt vấn đề Đức với vấn đề đảm bảo an ninh châu Âu Theo đó, chính quyền tương lai của cả (hay của bất kì phần nào) nước Đức đều không được tham gia bất kì liên minh quân sự tập thể nào tương tự như CED Liên Xô nhấn mạnh rằng chỉ có cách giải quyết vấn đề như vậy mới đáp ứng được quyền lợi của nhân dân châu Âu và quyền lợi thiết thân của chính nhân dân Đức Ngoài ra, V Molotov − trưởng đoàn Liên Xô − cũng đề nghị kí một hiệp ước về an ninh tập thể

ở châu Âu, trong đó không có Canada; còn Hoa Kì và Trung Quốc, vì có những trách nhiệm đặc biệt trong tư cách là thành viên thường trực của HĐBA LHQ, sẽ được mời cử quan sát viên bên cạnh các

cơ quan được lập ra theo hiệp ước an ninh Cần lưu ý thêm rằng những đề nghị trên của chính phủ Liên Xô đã mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của hai nước Đức

Về phần mình, các chính phủ phương Tây muốn tiến trình thống nhất nước Đức được diễn ra theo

“kế hoạch Eden”(5) gồm năm giai đoạn với trọng tâm là việc tổ chức tổng tuyển cử tự do dựa theo cơ sở đạo luật bầu cử do 4 cường quốc soạn thảo và dưới sự kiểm soát của họ Quốc hội được bầu ra sẽ thành lập chính phủ và chính phủ này sẽ có nhiệm vụ kí hòa ước với tất cả những nước nào từng tham chiến chống Đức Quốc xã Nước Đức thống nhất hoàn toàn tự do quyết định phương hướng chính sách đối ngoại của mình: gia nhập một khối nào đó, hoặc trung lập Các nước phương Tây bác bỏ đề án an ninh tập thể châu Âu của đoàn Liên Xô, vì cho rằng Moskva có ý đồ buộc tiến trình thống nhất nước Đức phải lệ thuộc vào một hệ thống, mà trong đó ưu thế sẽ thuộc về Liên Xô Việc giải quyết vấn đề Áo cũng vấp phải những khó khăn tương tự như trong vấn đề Đức Ngoài

ra, Molotov còn đòi trì hoãn việc rút quân đội nước ngoài khỏi Áo cho đến khi hòa ước với Đức được

Trang 10

Lập trường đối kháng giữa hai bên đã được phản ảnh trong Thông cáo chung kết thúc Hội nghị:

“Giữa bốn bộ trưởng Ngoại giao đã diễn ra những cuộc trao đổi ý kiếân toàn diện về vấn đề Đức, vấn

đề an ninh châu Âu và cả vấn đề Áo, nhưng họ đã không thể đạt được sự thỏa thuận về những vấn đề

nghị đã đồng ý triệu tập một hội nghị khác, bao gồm đại diện Tứ cường, CHND Trung Hoa, hai nước Triều Tiên và các quốc gia khác có tham gia vào cuộc chiến tranh Triều Tiên nhằm mưu tìm một

giải pháp hòa bình cho vấn đề Triều Tiên Hội nghị này cũng sẽ được yêu cầu cứu xét “vấn đề tái

lập hòa bình ở Đông Dương”

b Hòa ước với Áo (15.5.1955)

Là nước có số phận gắn liền với Đức sau biến cố Anschluss(6), Áo sau chiến tranh cũng bị phân thành bốn khu vực thuộc quyền chiếm đóng của bốn cường quốc thắng trận cho đến khi một hòa ước được kí giữa Đức và các nước thắng trận Trong điều kiện của Chiến tranh lạnh, việc giải quyết vấn đề Áo cũng gặp nhiều trắc trở như Đức Các nước phương Tây và Liên Xô đều quan niệm rằng vị thế của họ tại các cuộc đàm phán về vấn đề Đức sẽ bị suy yếu, nếu vấn đề Áo được giải quyết một cách bất lợi cho họ Hậu quả là mãi đến mười năm sau chiến tranh, một hòa ước với Áo vẫn còn bỏ ngỏ Lần sau cùng vấn đề Áo lại được mang ra bàn bạc là Hội nghị Berlin giữa các bộ trưởng Ngoại giao Tứ cường tháng 2.1954

Đang chuẩn bị sẵn kế hoạch tái vũ trang Tây Đức và kết nạp nước này vào NATO, các nước phương Tây đã mạnh dạn đề nghị rút toàn bộ quân chiếm đóng khỏi Áo, điều mà họ luôn khước từ trong trường hợp của Đức, kể cả sau khi đã kí hòa ước với nước này Nhưng một Tây Đức − thành viên NATO, theo đánh giá của Liên Xô, sẽ có khả năng lập lại một Anschluss khác Do vậy, Liên Xô đã đề nghị hoãn việc rút quân khỏi Áo (điều mà Chính quyền Xô viết vẫn luôn muốn thực hiện đối với Đức) cho đến khi vấn đề Đức được giải quyết một cách hòa bình(7)

Sau khi các hiệp ước London và Paris tạo cơ sở pháp lí cho việc kết nạp Tây Đức vào NATO và tái vũ trang nước này được kí kết (10.1954), giới lãnh đạo Liên Xô nghĩ rằng một nước Áo với những quy chế không rõ ràng sẽ tạo cơ hội cho sự can thiệp của nước Đức giờ đã được phương Tây phục hồi đầy đủ địa vị và được tái vũ trang(8) Tốt nhất là nên sớm tìm một giải pháp tối ưu cho vấn đề Áo

trong những điều kiện đã đổi thay như vừa kể Ngày 11.3.1955, Molotov đã đưa ra tuyên bố: “Tại

Hội nghị Berlin, phái đoàn Xô viết đã nhấn mạnh đến yêu cầu trì hoãn việc rút quân đội nước ngoài khỏi Áo cho đến khi một hòa ước được kí với Đức Giờ đây, Liên Xô đề nghị nên thực hiện việc rút quân của bốn cường quốc khỏi Áo, mà không cần đợi đến lúc kí hòa ước, nếu người ta đạt được thỏa ước về các biện pháp đủ sức ngăn chặn một vụ Anschluss mới (Do vậy giờ đây) Liên Xô không gắn liền việc giải quyết vấn đề Áo với việc giải quyết vấn đề Đức; Liên Xô chỉ muốn vạch ra mối liên quan giữa hai vấn đề này Không được đưa Áo vào bất kì liên minh hay hiệp ước quân sự nào chống lại các quốc gia được đề cập đến trong các đề nghị của Liên Xô; không được dùng lãnh thổ Áo làm căn cứ quân sự nước ngoài” [Dẫn lại theo 9, tr.255]

Từ ngày 12 đến ngày 15.4.1955 ở Moskva đã diễn ra các cuộc đàm phán tay đôi giữa các đoàn Chính phủ hai nước Liên Xô và Áo, mà kết quả là sự ra đời của Giác thư Xô-Áo Phía Áo cam kết

“luôn luôn tuân thủ một nền trung lập giống như của Thụy Sĩ" Về phần mình, Liên Xô cam kết đồng

ý để “toàn bộ quân đội chiếm đóng của bốn cường quốc rút khỏi Áo sau khi Hiệp ước Nhà nước có

(6) Năm 1938, Đức sáp nhập Áo

(7) Anatoli Dobrynin, phụ tá của Molotov, nhận xét lập trường của Liên Xô về vấn đề Áo: “Thời kì đó trong Bộ Chính trị có các cuộc tranh luận rất nóng bỏng về hiệp định hòa bình ở Áo và việc rút quân các nước Đồng minh ra khỏi Áo Molotov là người cực lực phản đối các bước đi đó, vì ông cho rằng việc rút quân đội Liên Xô ra khỏi Áo sẽ làm cho vị thế của Liên Xô ở trung tâm châu Âu bị suy yếu nghiêm trọng và làm cho Liên Xô bị mất một phần lớn thành quả đã giành được trong Chiến tranh thế giới thứ hai” [11,tr.34]

(8) Trong bản báo cáo về tình hình quốc tế đọc ngày 8.2.1954 tại Hội nghị Xô viết Tối cao, Molotov nhấn mạnh rằng:

“Sự hồi sinh của chủ nghĩa quân phiệt Tây Đức là mối đe dọa đến nền độc lập của Áo”

Trang 11

hiệu lực, chậm nhất là vào ngày 31.12.1955”

Trong hoàn cảnh châu Âu của thập niên 50, đây hẳn là giải pháp tốt nhất cho vấn đề Áo Ngày

15.5.1955, lễ kí kết “Hiệp ước Nhà nước(9) về việc khôi phục nước Áo độc lập và dân chủ” đã diễn ra

ở Vienna với sự tham dự của đại diện bốn cường quốc thắng trận và Áo Hiệp ước có các nội dung chính sau:

- Áo là nước độc lập và có chủ quyền trong khuôn khổ biên giới có trước ngày 1.1.1938;

- Đức không được sáp nhập Áo và Áo không được gia nhập bất kì liên minh chính trị hoặc kinh tế nào với Đức;

- Áo phải duy trì các quyền tự do dân chủ trong nước, tôn trọng quyền dân tộc của các dân tộc ít người Slav và Horvate;

- Lực lượng vũ trang của Áo đủ để phòng thủ đất nước, không được trang bị vũ khí nguyên tử, không được dùng các loại vũ khí được mua hoặc sản xuất ở Đức;

- Về kinh tế, các nước chiến thắng không đòi Áo bồi thường và hoàn trả các tài sản Đức trên lãnh thổ Áo cho Chính phủ nước này;

- Sau khi hiệp ước có hiệu lực, quân đội chiếm đóng rút khỏi Áo trước ngày 31.12.1955

Ngày 26.10.1955, Quốc hội Áo thông qua đạo luật có giá trị như hiến pháp về chế độ trung lập lâu dài Ngày 6.12 cùng năm, Liên Xô, Hoa Kì, Anh và Pháp cùng chính thức thừa nhận quy chế trung lập của Cộng hòa Áo và cam kết tôn trọng nền trung lập của nước này Quy chế trung lập không ngăn cản Áo trở thành thành viên của LHQ, tham gia các tổ chức phi quân sự ở châu Âu Ngay trong năm 1955, Áo gia nhập Hội đồng châu Âu

c Hội nghị thượng đỉnh Tứ cường ở Geneva (từ ngày 18 đến ngày 23.7.1955)

Trong lúc đang diễn ra những cuộc vận động ráo riết ở các nước phương Tây quanh vấn đề tái vũ trang Tây Đức và kết nạp nước này vào NATO, hai nước giữ vai trò chủ đạo trong quan hệ quốc tế – Liên Xô và Hoa Kì – đã lần lượt thay đổi người lãnh đạo Ngày 20.1.1953, Eisenhower chính thức nhậm chức Tổng thống Hoa Kì với lời hứa hẹn sẽ sớm chấm dứt cuộc chiến tranh Triều Tiên; tháng 3 cùng năm ở Liên Xô một “ban lãnh đạo tập thể” thay thế Stalin vừa qua đời Chẳng lâu sau đó, tập thể này đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng, mà Hiệp định đình chiến Triều Tiên là một trong những kết quả của chúng Rõ ràng là những người lãnh đạo mới của cả hai nước đều muốn theo đuổi một đường lối ngoại giao khác với người tiền nhiệm của họ Trong bầu không khí thay đổi đó, những đề nghị của Churchill (trở lại cầm quyền từ tháng 10.1951 đến tháng 4.1955) về một cuộc gặp gỡ giữa những người đứng đầu Tứ cường − Liên Xô, Hoa Kì, Anh và Pháp − đã được chú ý lắng nghe Bên cạnh đó, việc giải quyết vấn đề Áo, tuy không chiếm vị trí trung tâm trong những bất đồng phân cách hai khối nước ở châu Âu, đã góp phần không nhỏ vào việc làm dịu tình hình ở châu lục này Những nhà lãnh đạo các nước lớn ở phương Tây và Liên Xô đều coi đây là cơ hội thuận lợi để tiến hành một hội nghị thượng đỉnh để giải quyết những vấn đề lớn tích lũy trong khoảng thời gian 10 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Từ ngày 18 đến ngày 23.7.1955 ở Geneva đã diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Tứ cường với sự tham gia của N Khrushchev và N Bulganin (Liên Xô), D Eisenhower và F Dulles (Mĩ), A Eden và H Macmillan (Anh), E Faure và A Pignet (Pháp) Đây là Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên sau Hội nghị Potsdam năm 1945 Chương trình nghị sự bao gồm các vấn đề sau: vấn đề Đức, an ninh châu Âu, giải trừ vũ khí và phát triển liên lạc giữa Đông và Tây

Vấn đề trung tâm mà phái đoàn Liên Xô muốn Hội nghị xem xét là an ninh tập thể ở châu Âu(10)

(9) Tên gọi này nhằm nhấn mạnh ý nước Áo bị lôi vào Chiến tranh thế giới thứ hai bất chấp ý nguyện của nước này (10) Đây là sự thay đổi lớn lao trong lập trường của Liên Xô Nguyên nhân là cách nhìn của giới lãnh đạo mới ở

Moskva về vấn đề Đức đã không còn như trước Một tháng trước Hội nghị, N Bulganin đã tuyên bố rằng : “ trong

Trang 12

Theo họ, vấn đề sẽ được thực hiện qua hai giai đoạn: trong giai đoạn đầu, các nước tham gia NATO và Hiệp ước Varsava (kể cả hai nước Đức) sẽ cam kết tránh dùng vũ lực và giải quyết mọi tranh chấp bằng con đường hòa bình Ở giai đoạn hai, khi các cam kết trong khuôn khổ hệ thống an ninh tập thể bắt đầu có hiệu lực, các khối quân sự sẽ bị giải tán Chỉ thị đề ngày 26.10.1955 của Chính phủ Liên Xô gửi phái đoàn Xô viết ở Hội nghị Tứ cường cấp bộ trưởng Ngoại giao, vốn sẽ được triệu

tập ở Geneva sau Hội nghị thượng đỉnh này đã xác định rõ lập trường của Moskva: “Vấn đề chính là

đảm bảo an ninh ở châu Âu, còn vấn đề Đức là vấn đề riêng, phụ thuộc vào việc giải quyết vấn đề cơ

Xô, không che giấu ý định đòi quân đội nước ngoài rút hết khỏi châu Âu

Khác với Moskva, các phái đoàn Hoa Kì, Anh và Pháp lại nhấn mạnh đến vấn đề Đức Trong bài

phát biểu đầu tiên tại Hội nghị, Eisenhower tuyên bố rằng vấn đề Đức “phải là chủ đề chính trong

thống nhất, sẽ không thể có hòa bình lâu dài ở châu Âu Và nước Đức thống nhất, theo Eisenhower,

“có khả năng chọn lựa, thực hiện quyền tự vệ tập thể không thể di nhượng của nó”[Dẫn lại theo 22, tr.128] Tóm lại, một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Đức theo cách nhìn của phương Tây phải là nước Đức tái thống nhất có quyền gia nhập NATO

Vậy là lập trường của hai bên khác biệt đến mức đối chọi lẫn nhau Đòi Mĩ rút hết quân khỏi châu Âu có nghĩa là phải thuyết phục các nước Tây Âu tin rằng nguyên nhân thành lập NATO -

“hiểm họa Xô viết” - không còn nữa Còn để nước Đức tái thống nhất ở lại trong NATO cùng với Anh, Pháp và có thể cả Mĩ, trong lúc Liên Xô không phải là thành viên của khối này, thì đòi hỏi này chẳng khác gì buộc Liên Xô từ bỏ quyền lợi của mình trong vấn đề Đức

Ngày 21.7, Eisenhower tung ra một sáng kiến mới được gọi là “bầu trời mở” Sau khi nhắc lại rằng Đông và Tây trong các kế hoạch mà họ đệ trình lâu nay lên Uỷ ban giải trừ vũ khí của LHQ đều công nhận cần kiểm tra việc thực thi các biện pháp đã được thông qua, nhưng đều không thống nhất về phương thức tiến hành kiểm tra, Eisenhower đề nghị Liên Xô và Hoa Kì sẽ cử ra một số phi

cơ nhất định dò xét các căn cứ quân sự của nhau Cho rằng Hoa Kì có ý đồ thám thính lãnh thổ của mình, phái đoàn Liên Xô đã bác bỏ sáng kiến của Eisenhower, vì cho rằng nó chẳng liên quan gì đến vấn đề giải trừ vũ khí

Về vấn đề phát triển thông tin liên lạc Đông - Tây, quan điểm của hai bên cũng rất trái ngược nhau Phái đoàn Liên Xô nhấn mạnh sự cần thiết phát triển các mối liên hệ và trao đổi giữa các nước trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học và thông tin, không xâm phạm quyền lợi, nguyên tắc và truyền thống của các nước đó, nghĩa là mọi sự trao đổi đều phải được tiến hành thông qua các kênh Nhà nước Các phái đoàn Mĩ, Anh và Pháp đề cập đến sự tự do thông tin và di chuyển, truyền thanh, xây dựng các trung tâm thông tin, du nhập sách báo vào lãnh thổ của nhau , nghĩa là các tổ chức tư nhân và cá nhân đều có quyền dự phần vào những quan hệ liên lạc thông tin giữa các nước

Không đồng ý với nhau về cách giải quyết các vấn đề mấu chốt, Hội nghị thượng đỉnh coi như thất bại Tuy nhiên, không nhà lãnh đạo nào muốn về nước với tay không Vốn đặt nhiều hi vọng vào đây, dư luận phương Tây tất sẽ không chấp nhận kết quả này sau những năm sống trong trạng thái căng thẳng phát sinh từ Chiến tranh lạnh; còn giới lãnh đạo Liên Xô, đang trên bước đường thực hiện những cải cách quan trọng, không muốn thế lực bảo thủ trong nước lấy thất bại của Hội nghị làm cơ hội hồi sinh

tình thế hiện nay, Chính phủ Liên Xô đành phải tính đến sự việc Tây Đức đã gia nhập Liên minh Bắc Đại Tây Dương và Liên hiệp Tây Âu và việc Hiệp ước Paris đã được phê chuẩn Trước chuyển biến này, Chính phủ Xô viết không còn nghĩ đến việc chối bỏ Hiệp ước Paris hay đòi Tây Đức rút khỏi các Liên minh vừa kể Đó là đòi hỏi hoàn toàn không thực tế [Dẫn lại theo 9, tr.278 – 279] Từ đây, Liên Xô chuyển sang chủ trương đòi hỏi phương Tây thừa nhận

sự tồn tại của hai nước Đức

Trang 13

Sau các cuộc thảo luận gay gắt, Tứ cường đã đồng ý về văn kiện đúc kết các chỉ thị chung để lại cho các bộ trưởng ngoại giao để họ tiếp tục đàm phán vào mùa thu Văn kiện chứa đựng những lời lẽ tốt đẹp về sự cần thiết phải giới hạn vũ trang và phát triển các liên lạc Đông-Tây Về vấn đề gai góc

nhất - vấn đề Đức, Hoa Kì đã cố vận động để đưa vào văn kiện đoạn văn sau: “Ý thức về trách

nhiệm chung của họ đối với việc giải quyết vấn đề Đức và tái thống nhất nước Đức, các nhà lãnh đạo chính phủ đồng ý rằng việc giải quyết vấn đề Đức và tái thống nhất nước Đức bằng con đường bầu cử tự do sẽ được tiến hành phù hợp với quyền lợi dân tộc của nhân dân Đức và với yêu cầu của an ninh châu Âu Các bộ trưởng ngoại giao sẽ tiến hành các cuộc dàn xếp nào mà họ cho là thích đáng cho sự tham gia của, hay tham khảo ý kiến với, các bên liên quan” [Dẫn lại theo 9, tr.284; 14, tr.821]

Thỏa thuận trên thể hiện rõ cố gắng dung hòa quan điểm đối chọi giữa các bên đàm phán: vấn đề Đức phải được giải quyết vừa bằng bầu cử tự do, vừa không gây phương hại đến an ninh tập thể châu Âu Chính ở đây người ta nhìn thấy kết quả thứ hai của Hội nghị, đó là “Tinh thần Geneva”: các cường quốc Đông và Tây cố gắng thể hiện rõ thiện chí làm giảm tình trạng căng thẳng và đối đầu trong quan hệ giữa hai khối Kéo dài đến ngày 23.7, các phiên họp cho thấy các bên đã sẵn sàng hơn trước trong nỗ lực tìm kiếm một tiếng nói chung Qua đó, có thể kết luận rằng Hội nghị đã mở đầu giai đoạn “tan băng” trong quan hệ Đông-Tây nói chung, trong quan hệ Xô-Mĩ nói riêng trong thời Chiến tranh lạnh

Hội nghị Ngoại trưởng bốn nước diễn ra ở Geneva từ ngày 27.10 đến ngày 16.11.1955 cũng không mang lại những tiến bộ nào rõ rệt trong các vấn đề đã bàn cãi

Cũng như ở Hội nghị thượng đỉnh, phái đoàn Liên Xô đưa vấn đề an ninh tập thể châu Âu lên hàng đầu, nhưng các nước phương Tây đã bác bỏ toàn bộ kế hoạch của Liên Xô, kể cả những thay đổi được phía Liên Xô bổ sung sau đó Về vấn đề Đức, bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Molotov đã thẳng thừng bác bỏ phương sách thống nhất nước Đức theo quan điểm của các nước phương Tây Ông

tuyên bố: “Sự thống nhất giả tạo nước Đức bằng cái gọi là tổng tuyển cử tự do sẽ dẫn đến chỗ gạt bỏ

những quyền lợi mà nhân dân lao động CHDC Đức đã giành được Điều đó tất nhiên là không thể được Chỉ có ghi nhận sự tồn tại của hai nước Đức cùng với một sự thật là sự thống nhất nước Đức chỉ có thể được thực hiện bằng một thỏa thuận giữa hai quốc gia đó thì mới có thể tìm được một giải pháp có thể chấp nhận cho vấn đề Đức” Về vấn đề mở rộng tiếp xúc Đông-Tây, Molotov cáo giác

rằng: “Sự tự do trao đổi ý kiến thực ra chỉ là tự do tuyên truyền chiến tranh” [Dẫn lại theo 12, tr.490]

d Vấn đề Đức trong quan hệ Đông-Tây cho đến giữa thập niên 50

Như đã đề cập ở trên, vấn đề Đức chiếm vị trí trung tâm trong quan hệ của Tứ cường ở châu Âu trong thời hậu chiến, vì có quan hệ thiết thân đến quyền lợi riêng của cả bốn nước Việc giải quyết nó theo chiều hướng nào sẽ tác động trực tiếp đến vị thế của cả bốn nước này tại lục địa châu Âu cũng như trên trường quốc tế

Thực ra, không cần phải đợi đến lúc này vấn đề Đức mới thu hút sự chú ý của bốn nước Ngay sau khi nước Đức được thống nhất (1871), vấn đề Đức đã chi phối toàn bộ chính sách đối ngoại của Pháp ở châu Âu, và từ thập niên 1880 trở đi đã trở thành mối bận tâm chính của Nga và Anh Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, vị trí của Đức trong chính sách đối ngoại của Pháp vẫn không đổi, nhất là nước Nga Sa Hoàng, đồng minh khi xưa giờ đã trở thành kẻ thù Chính vì sự chia rẽ và nghi kị của các cường quốc châu Âu và chính sách biệt lập của Mĩ, nước Đức đã có dịp phục hồi bộ máy chiến tranh và gây ra cuộc chiến tranh thế giới mới

Không lâu sau chiến tranh, giữa các cường quốc thắng trận đã diễn lại tấn tuồng cũ: sự chia rẽ và ngờ vực lẫn nhau Hậu quả là nguyên tắc 4-D(11) được xem là nền tảng của chính sách đối với nước Đức bại trận đã bị các cường quốc thắng trận thực hiện theo cách sao cho phù hợp với quyền lợi

(11) Đó là: denazification (phi phát xít hóa), demilitarization (phi quân phiệt hóa), demonopolisation (phi độc quyền hóa) và democratization (dân chủ hóa) Các nguyên tắc này đã được xác lập ở Hội nghị Potsdam (1945)

Trang 14

riêng của mình, và tệ hại hơn, bất chấp quyền lợi của nước cùng chiếm đóng Cuộc khủng hoảng Berlin (kéo dài từ 18.6.1948 đến 12.5.1949) là biểu hiện cụ thể cho thấy mâu thuẫn giữa hai bên quanh vấn đề Đức đã phát triển đến giai đoạn không thể dung hòa được

Là đất nước chịu đựng nhiều tàn phá nhất do cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức gây ra, Liên Xô, cũng giống như nước Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, muốn rằng nước Đức bại trận thời hậu chiến sẽ không bao giờ còn có cơ hội trở thành mối đe dọa đến an ninh của Liên Xô nữa Để đạt được mục tiêu này, nước Đức, theo quan điểm của Stalin, nếu không thể trở thành nước XHCN giống như những nước Đông Âu khác, thì chí ít phải theo đường lối trung lập, có một lực lượng quốc phòng vừa đủ để tự vệ, không được tham gia bất kì liên minh quân sự nào, không bị quân đội nước ngoài chiếm đóng

Về phía các cường quốc thắng trận phương Tây, quan điểm của Anh và Hoa Kì đối với tương lai của nước Đức bại trận có phần khác so với Liên Xô Lúc đầu, họ không muốn thấy lặp lại điều mà họ coi là sai lầm trong chính sách đối với Đức sau Chiến tranh thế giới thứ nhất: làm cho nước Đức kiệt quệ để rồi sau đó phải bỏ tiền của ra nuôi sống nó Rồi chẳng lâu sau, họ nhìn thấy trong tiến trình xác lập chế độ dân chủ nhân dân ở các nước Đông Âu điều mà họ tin là tham vọng bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Âu, hay nói khác đi là sự lặp lại chính sách “xuất khẩu cách mạng” của chính quyền Xô viết trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Mười Càng đáng lo hơn là giờ đây Liên Xô nắm ưu thế rõ rệt về lực lượng quân sự quy ước trên lục địa, bỏ xa các cường quốc phương Tây Riêng Pháp lúc đầu có thể tìm thấy trong chính sách của Liên Xô sự phản ánh ít nhiều quan điểm của họ đối với Đức Nhưng, do rất nhiều nguyên nhân − cả đối ngoại lẫn đối nội, giới cầm quyền chế độ Cộng hòa thứ Tư(12) mau chóng ngả theo lập trường của Hoa Kì và Anh

Sang năm 1949, các nước chiếm đóng phân thành hai phe rõ rệt: Liên Xô một bên, Hoa Kì, Anh và Pháp một bên Quan hệ giữa hai bên giờ đã trở nên xấu đến mức cả hai xem sự tồn tại của đối phương là “hiểm họa” cho chính sự tồn tại của mình

Nếu đã không đủ sức đảo ngược tình thế ở Đông Âu do sự hiện diện của một lực lượng Hồng quân đông đảo ở đó, phương Tây quyết không để lặp lại những kinh nghiệm Đông Âu trên phần lãnh thổ còn lại của châu Âu Vậy là chính sách “ngăn chặn”, kế hoạch Marshall và cuối cùng “NATO” nối tiếp nhau ra đời

Do có vị trí chiến lược và tiềm năng rất lớn về kinh tế lẫn quốc phòng, Tây Đức, dưới con mắt của các nhà hoạch định chính sách đối ngoại phương Tây, giữ vai trò có tính chất quyết định trong chính sách “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản Lôgích phát triển của cái nhìn này là kết nạp Tây Đức vào NATO với tư cách là một thành viên đầy đủ và có chủ quyền Sau một thời gian ngần ngừ, cuối cùng Pháp đành ưng thuận

Đánh giá diễn biến trên như là sự xâm phạm những nghị quyết của Hội nghị Potsdam, Liên Xô cho rằng phương Tây đang nuôi ý đồ tái vũ trang nước Đức và làm sống lại chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa phục thù của các giới phản động Đức Một nước Đức như vậy tất chỉ có thể là mối đe dọa trực tiếp cho an ninh đất nước Xô viết Vậy là nhiều chiến dịch vận động ngoại giao kế tiếp nhau ra đời với cùng một mục đích: khuyến dụ các nước phương Tây thuận tình lập lại nước Đức thống nhất theo chế độ hiệp bang, trên cơ sở các cuộc thương lượng giữa hai nhà nước Đức hiện tồn tại một cách riêng lẻ, có chủ quyền, không bị quân đội nước ngoài chiếm đóng sau khi đã kí hòa ước với các nước cừu địch trong thời chiến tranh, không tham gia bất kì một liên minh quân sự nào, tóm lại phải theo đường lối trung lập, không được xây dựng quân đội vượt quá yêu cầu tự vệ Sau khi Đức gia nhập NATO trong tư cách một thành viên có chủ quyền đầy đủ, Liên Xô đã hé lộ khả năng chấp nhận hai nước Đức từ đây sẽ tồn tại như hai thực thể chính trị riêng biệt, độc lập với nhau và có đầy đủ chủ quyền

(12) Chế độ này tồn tại ở Pháp từ ngày 18.10.1946 đến ngày 4.10.1958

Trang 15

Giới cầm quyền các nước phương Tây về cơ bản không bác bỏ hẳn những đề nghị của Moskva, nhưng họ không chịu bàn bất cứ chuyện gì khác trước khi giải quyết xong vấn đề tổng tuyển cử tự do trong cả nước Đức dưới sự giám sát của LHQ Quốc hội mới được bầu ra sẽ thành lập chính phủ Khi Liên Xô đồng ý về nguyên tắc “tổng tuyển cử tự do”, các nước phương Tây lại đưa ra yêu sách đòi lập đoàn thanh tra xem cả hai nước Đức có hội đủ điều kiện chính trị cho một cuộc tuyển cử trung thực không Yêu sách của họ rõ ràng hàm ý không thừa nhận CHDC Đức là một đất nước có đầy đủ chủ quyền Vả chăng, họ cũng đã tính toán rằng nếu nước Đức được thống nhất bằng con đường tổng tuyển cử tự do, các chính khách Tây Đức thân phương Tây chắc chắn sẽ giành được thắng lợi, vì dân số Tây Đức đông gần gấp ba lần dân số Đông Đức (trên 54 triệu so với trên 17 triệu, theo số liệu cuối thập niên 1950)

Hiểu được dụng ý của phương Tây, Liên Xô đã bác bỏ kế hoạch của họ(13)

Phương Tây có thể không tính đến sự tồn tại của CHDC Đức, nhưng Liên Xô lại không thể hành xử như thế với CHLB Đức, vì vị thế của nước này trên chính trường châu Âu, vốn đã rất quan trọng, nay càng trở nên có ý nghĩa hơn sau khi đã trở thành thành viên chính thức của NATO Do vậy, tại Hội nghị thượng đỉnh Geneva, Liên Xô đã quyết định chuyển hẳn sang lập trường thừa nhận sự tồn tại của hai nước Đức độc lập với nhau, đẩy vấn đề Đức xuống hàng thứ hai và đưa vấn đề an ninh tập thể châu Âu lên vị trí hàng đầu Trong bối cảnh của sự thay đổi này, sẽ là không có lợi cho quyền lợi của Liên Xô, nếu Moskva tiếp tục cự tuyệt các quan hệ chính thức với Bonn

e Liên Xô và CHLB Đức thiết lập quan hệ ngoại giao

Ngay tại Hội nghị bộ trưởng Ngoại giao Tứ cường Berlin (từ 1.1954 đến 2.1954), Molotov đã đề

cập đến khả năng lập các mối “liên lạc giữa Liên Xô và Cộng hòa Tây Đức”[Dẫn lại theo 9,tr.262] Ngày 15.01.1955, TASS ra tuyên bố rằng Liên Xô sẵn sàng bình thường hóa quan hệ với CHLB Đức Ngày 7.6, trước ngày khai mạc Hội nghị thượng đỉnh Geneva không lâu, von Brentano, vừa thay Adenauer làm bộ trưởng ngoại giao được hai ngày, đã nhận được một công hàm của Liên Xô bày tỏ

ý muốn “bình thường hóa quan hệ và lập quan hệ trực tiếp giữa Liên Xô và CHLB Đức” Chính phủ Xô viết cũng mời thủ tướng Adenauer sang thăm Liên Xô trong “tương lai gần nhất” Tháng 9,

Adenauer đã nhận lời Nhưng ngay trước khi sang Liên Xô, ông đã đi thăm Hoa Kì từ ngày 13 đến ngày 17.6 nhằm chứng tỏ rằng Tây Đức vẫn trung thành với NATO

Từ ngày 9 đến ngày 13.9 đã diễn ra cuộc viếng thăm chính thức Liên Xô của thủ tướng CHLB Đức K Adenauer Trong các cuộc đàm phán đã nổi lên hai vấn đề chính sau:

– Vấn đề những người Đức bị bắt trong thời chiến tranh, nhưng cho đến lúc này vẫn còn bị Liên

Xô giam giữ Gọi họ là “tù binh chiến tranh”, phái đoàn Tây Đức yêu cầu Chính phủ Liên Xô thả họ

ra Về phần mình, chính phủ Liên Xô đã xem những người này là “tội phạm chiến tranh” để tiếp tục giam giữ họ Theo Tây Đức, con số người Đức này lên đến hàng trăm ngàn, còn Liên Xô công bố con số chính thức chỉ có 9.626 người

– Về quan hệ giữa Liên Xô và CHLB Đức, Adenauer muốn rằng Liên Xô công nhận CHLB Đức có quyền đại diện cho toàn thể dân tộc và nước Đức Chính phủ Xô viết kiên quyết giữ vững lập trường rằng hai nước Đức cần tiến hành đàm phán trong tư cách là hai quốc gia riêng biệt

Các cuộc đàm phán diễn ra rất gay go và nhiều lúc rất căng thẳng Mãi đến ngày cuối cùng − ngày 13.9, hai nước mới đạt được thỏa thuận lập quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ Riêng về vấn đề những người Đức còn bị giam giữ, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô N Khrushchev và chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô N Bulganin đưa ra “lời hứa danh dự” với Thủ tướng Tây Đức rằng không quá một tuần sau khi hai nước thỏa thuận lập quan hệ ngoại giao, Liên Xô sẽ thả họ ra(14)

(13) Lập trường của phương Tây đối với vấn đề Đức trong nửa đầu thập niên 50 được xác lập qua các công hàm ngoại giao đề ngày 25.3, 10.5 và 10.7.1952, còn của Liên Xô là 9.4, 24.5, 23.8 và 23.9.1952 (14) Ngày 14.9, tức một ngày sau khi phái đoàn Tây Đức rời khỏi Liên Xô, phái đoàn của Chính phủ Đông Đức đến

Trang 16

Ngay tại cuộc họp báo diễn ra chỉ một ngày sau khi hai nước lập quan hệ ngoại giao, thủ tướng

Adenauer ra tuyên bố rằng diễn biến này không có nghĩa là “thừa nhận thành phần lãnh thổ của hai

bên”, rằng Chính phủ Liên bang đại diện “toàn thể nhân dân Đức” trong quan hệ quốc tế Về phần

mình, Chính phủ Xô viết, qua TASS, tuyên bố: “Chính phủ Xô viết xem CHLB Đức là một phần của

nước Đức Phần kia là CHDC Đức” Còn về vấn đề đường biên giới, Hội nghị Potsdam đã giải quyết

xong, nghĩa là CHLB Đức “thực hiện quyền pháp lí của mình đối với phần lãnh thổ thuộc chủ quyền

của mình” [Dẫn lại theo 15, tr 183]

4 Vấn đề Tây Berlin

a Nguyên nhân

Sau khi CHLB Đức đã trở thành thành viên chính thức của NATO, mọi nỗ lực của Liên Xô nhằm thống nhất hai miền Tây Đức và Đông Đức thành một nước Đức theo quy chế trung lập, đứng ngoài ảnh hưởng của phương Tây coi như đã không thành công Trong những năm tháng sau đó, được sự giúp đỡ của phương Tây, Chính quyền Bonn đã đẩy nhanh tốc độ tái vũ trang Tổng quân số của Bundeswehr từ 12 vạn (1957) tăng lên 23 vạn (1959), ngân sách quốc phòng cũng tăng với nhịp độ mau lẹ không kém: từ 95,4 triệu mark (1955) lên 3.404,4 triệu (1956), 7.974,2 triệu (1958)(28)[18, tr.479 – 480] Ngày 25-3-1958, Bundestag đã thông qua nghị quyết cho phép Bundeswehr được trang

bị vũ khí hạt nhân và tên lửa Tất nhiên, đây chưa phải là đường lối chính thức của Chính phủ Bonn, nhưng rõ ràng nghị quyết đã phản ánh một xu hướng rất đáng lo ngại ở nước này Sức mạnh quân sự của Tây Đức tăng lên song song với tốc độ phát triển được gọi là “thần kì” của nền kinh tế Từ năm

1955, Tây Đức bắt đầu bước vào thời kì phồn vinh: chỉ số sản xuất công nghiệp tăng từ 100 (1950) lên 293 (1963) Ngay trong năm 1955, tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của Tây Đức đã tương đương với của toàn nước Đức năm 1936, dù xét về diện tích và dân số, Tây Đức chỉ bằng 53% và 75% của nước Đức trước chiến tranh Ngay từ năm 1958, Tây Đức đã trở thành nước xuất khẩu hàng công nghiệp đứng hàng thứ hai trên thế giới, chỉ sau mỗi Mĩ

Từ năm 1952, cán cân ngoại thương bắt đầu dư nhiều và dự trữ ngoại tệ mạnh tăng nhanh đến con số 6,4 tỉ USD Để hãm bớt đà tăng trưởng kinh tế quá mức, năm 1961 đồng mark đã được nâng giá 5%

Vững tin vào sức mạnh của mình, ngay từ tháng 12-1955, Chính phủ Bonn đã đưa ra “chủ thuyết

Hallstein”, theo đó CHLB Đức tự coi mình là đại diện duy nhất hợp pháp của toàn dân Đức trong các

quan hệ quốc tế và sẽ không lập, hay sẽ cắt đứt quan hệ ngoại giao với bất kì nước nào vừa công nhận Chính phủ Bonn, lại vừa muốn nhìn nhận vị thế hợp pháp của Chính phủ Berlin

Sức mạnh tăng lên về mọi mặt của Tây Đức đã tạo thành một sức ép nặng nề đè lên Đông Đức,

mà giờ đây được xem là “tiền đồn của phe XHCN ở châu Âu” Sau biến cố tháng 6.1953(15), nhiều biện pháp sửa sai đã được thực hiện Nhờ vậy, ngày 20.5.1958, Chính quyền Berlin đã có thể hủy bỏ chế độ phân phối theo nhân khẩu Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Đông Đức vào cuối thập niên 50 không kém Tây Đức bao nhiêu Nhưng nhìn chung, mức sống trung bình ở Đông Đức vừa thấp hơn, vừa chậm được cải thiện so với ở CHLB Đức Nguyên nhân thì có nhiều, như mức khởi điểm của Đông Đức là quá thấp so với Tây Đức và trong quá khứ Đông Đức cũng là vùng kém phát triển hơn về kinh tế Đông Đức lại chịu nhiều thiệt hại hơn do các hoạt động chiến tranh ác liệt trong những

năm 1944 − 1945 đều diễn ra ở đây Đường lối phát triển kinh tế của Đông Đức được hoạch định dựa

theo mô hình Xô viết: chú trọng phát triển công nghiệp nặng, trong lúc chỉ dành một số vốn không lớn cho việc xây dựng nền công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Hậu quả là thường xuyên xuất hiện Moskva Ngày 20.9, khi họ rời Moskva, Chủ tịch đoàn Xô viết Tối cao Liên Xô ra thông báo chính thức cho biết Liên Xô đã đáp ứng lời kêu gọi của Chính phủ CHDC Đức và lời yêu cầu của Chính phủ CHLB Đức về việc thả

“các tội phạm chiến tranh người Đức” Thông báo cũng cho biết Chính phủ Berlin đã đưa ra lời kêu gọi này hồi

tháng 6.1955 [9, tr.267]

(15) Biến cố này sẽ được trình bày ở phần sau

Trang 17

những làn sóng người rời bỏ CHDC Đức để sang sinh sống ở CHLB Đức, nhất là vào những thời điểm chính phủ Berlin thúc đẩy các biện pháp công nghiệp hóa XHCN và mở rộng quy mô tập thể hóa nông nghiệp, hay các chiến dịch bài xích Giáo hội, cải tạo tư tưởng

Chính quyền Berlin hẳn không tỏ ra phiền muộn lắm khi những nhà công nghiệp lớn, những đại và trung địa chủ, phú nông, vốn bất mãn với những cải cách kinh tế và xã hội đang diễn ra ở CHDC Đức đã từ Đông bỏ sang Tây Song rắc rối là ngày càng có nhiều công nhân chuyên nghiệp và những nhà chuyên môn có bằng cấp bỏ CHDC Đức sang CHLB Đức Đôi khi có gần 1/3 số người tốt nghiệp các trường đại học kĩ thuật bỏ sang sống và làm việc ở CHLB Đức, nơi họ được lĩnh lương cao hơn nhiều “Nạn chảy máu chất xám” này là một thiệt hại đáng kể cho CHDC Đức Theo số liệu chính

thức của chính phủ Berlin, trong vòng mười năm − từ 1949 đến 1959, có đến 3 triệu người từ CHDC

Đức bỏ sang sinh sống ở CHLB Đức Điều này đã khiến dân số CHDC Đức từ 18,292 triệu (1949) sụt xuống còn 17,298 triệu (1959) Và con đường mà họ chọn để đi sang Tây Đức chính là từ Đông sang Tây Berlin Sự lựa chọn này có lí do của nó

Như đã đề cập ở trên, từ tháng 9.1955, Liên Xô đã lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với CHLB Đức, và mong muốn duy trì “nguyên trạng” ở cả hai nước Đức(16) Nhưng các nước phương Tây từ chối không thừa nhận Chính phủ CHDC Đức Chính phủ Tây Đức còn nâng lập trường này lên thành chủ thuyết Hallstein Lập trường vừa kể của phương Tây cũng khiến họ không coi đường ranh phân chia hai nước Đức có giá trị như đường biên giới quốc gia, mà chỉ xem đây là những đường phân ranh khu vực, được các nước Đồng minh lập nên năm 1945 khi phân chia nước Đức thành những vùng chiếm đóng Điều này có nghĩa là đối với Chính phủ Bonn, biên giới giữa hai nước Đức không phải là rào cản pháp lí cho việc tự do di chuyển của người Đức từ nửa phần này sang nửa phần kia của nước Đức Xét theo góc độ này, biên giới giữa khu Đông và khu Tây thành phố Berlin cũng hoàn toàn có tính chất tượng trưng Và trong thực tế, đúng là như vậy Thành phố có chung hệ thống giao thông và một sở công chính thống nhất Nhiều công dân của Đông Berlin làm việc ở Tây Berlin, và ngược lại Để di chuyển từ phần lãnh thổ Berlin này sang phần lãnh thổ Berlin kia không đòi hỏi bất

kì thứ giấy tờ nào

Việc biên giới giáp với Tây Đức bị bỏ ngỏ không chỉ gây cho Đông Đức bấy nhiêu khó khăn Cũng như ở các nước XHCN khác, giá bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng chính ở CHDC Đức thấp,

do được ngân sách nhà nước trợ giá Nhiều người dân của CHLB Đức, đặc biệt là Tây Berlin, xem việc mua những mặt hàng này ở CHDC Đức là có lợi cho mình Hậu quả là nền kinh tế CHDC Đức phải chịu thêm những thiệt hại to lớn Theo tính toán của các nhà kinh tế CHDC Đức, việc đường biên giới bị bỏ ngỏ đã gây ra những thiệt hại chung lên tới 15 tỉ mark một năm

Hai chính phủ Liên Xô và CHDC Đức còn cáo giác phương Tây và Bonn biến Tây Berlin thành trung tâm của các hoạt động gián điệp và tuyên truyền chống phá các nước XHCN, mà trước hết là CHDC Đức

Berlin lại là một thành phố có quy chế rất đặc biệt Cũng giống như nước Đức thời hậu chiến, nó cũng bị phân thành bốn khu vực chiếm đóng Khi CHDC Đức được thành lập, Đông Berlin thuộc quyền kiểm soát của Liên Xô trở thành thủ đô của quốc gia mới CHLB Đức, không thể hành động theo cách tương tự, vì lẽ Tây Berlin hoàn toàn nằm giữa lãnh thổ CHDC Đức Tuy nhiên, chính phủ Bonn lại có ý đồ muốn biến Tây Berlin thành một bộ phận của CHLB Đức với quy chế của một

“bang” Phần lớn dân Tây Berlin ủng hộ yêu sách này, vốn được phản ánh trong hiến pháp của CHLB Đức và Tây Berlin Ở Tây Berlin, cũng có một số cơ quan của CHLB Đức, và những đảng phái hoạt động theo những quy chế pháp lí có giá trị giống như ở CHLB Đức Xét về quan hệ quốc tế

(16) Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ Pravda, Khrushchev đã tuyên bố rằng: “ thừa nhận nguyên trạng trong vấn đề Đức có nghĩa là phát xuất từ sự tồn tại của hai nước Đức: CHDC Đức – Nhà nước theo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa – và CHLB Đức – Nhà nước theo chế độ tư bản chủ nghĩa Chính trên cơ sở nguyên trạng này, người ta có thể xác lập những điều kiện cho việc giải quyết vấn đề Đức” [Dẫn lại theo 9, tr.506]

Trang 18

và văn hóa, Tây Berlin có thể được coi như là một bộ phận của CHLB Đức Nhưng quy chế pháp lí chung của thành phố không được xác lập rõ ràng và Tây Berlin không bầu đại biểu của mình vào Quốc hội Liên bang của CHLB Đức Đáng chú ý là tuy ủng hộ việc thành lập CHLB Đức, các cường quốc phương Tây đồng thời vẫn đặt ra một quy chế đặc biệt cho Tây Berlin, nghĩa là phần đất này vẫn thuộc quyền kiểm soát của họ, chủ yếu về mặt đối ngoại Do vậy, cả Mĩ, Anh và Pháp đều không ủng hộ một cách vô điều kiện những đòi hỏi của Chính phủ Bonn đối với Tây Berlin

b Lập trường của chính phủ Liên Xô và của các nước phương Tây

Ngày 10.11.1958, Chính phủ Liên Xô, lấy cớ các nước phương Tây đã vi phạm quyết nghị Potsdam khi cho phép Tây Đức tái vũ trang và do đó không còn quyền ở lại Tây Berlin nữa, bắt đầu đòi xem xét lại quy chế chiếm đóng Berlin Liên Xô đề nghị biến Tây Berlin thành “thành phố tự

do”, nghĩa là toàn bộ quân đội nước ngoài sẽ rút khỏi đây N Khrushchev nói rõ rằng “Liên Xô sẽ

trao trả những chức năng mà các cơ quan của Liên Xô đang thực hiện ở Berlin về cho chủ quyền của CHDC Đức”, trong đó có quyền kiểm soát việc ra vào Berlin Ông nhấn mạnh: Chính phủ Liên Xô

sẽ bảo vệ CHDC Đức, nếu nước này bị các lực lượng gây chiến chống lại việc thực hiện chủ quyền lãnh thổ của mình

Tiếp đó, ngày 27.11.1958, Chính phủ Liên Xô đã gửi công hàm cho những nước phương Tây về việc giải quyết vấn đề Tây Berlin Các công hàm đề nghị thừa nhận Tây Berlin là một đơn vị chính trị riêng biệt, có quy chế của thành phố phi quân sự (trung lập), tự do trên cơ sở thỏa thuận của quốc tế, có quyền tự quản về hành chính Bốn cường quốc và cả hai nước Đức cam kết tôn trọng quy chế này và không can thiệp vào công việc nội bộ của Tây Berlin Công hàm đề ngày 27.11.1958 nêu rõ rằng trong vòng 6 tháng, nếu các nước không giải quyết xong vấn đề Tây Berlin, Liên Xô sẽ kí hòa ước riêng với CHDC Đức và sau đó sẽ từ bỏ mọi quyền hạn của một cường quốc chiếm đóng N Khrushchev viện dẫn một tiền lệ trước đó − hòa ước riêng lẻ đã được kí giữa Mĩ và Anh với Nhật, dù không được sự tán đồng của Liên Xô, Trung Quốc, Ấn Độ và Miến Điện, vốn đều là những nước tham gia chiến tranh chống Nhật

Các cường quốc phương Tây và Tây Đức đã đón nhận công hàm đề ngày 27.11.1958 của Chính phủ Moskva như một lời “đe dọa”, một “tối hậu thư” Cho đến lúc này, quyền kiểm soát đường ra vào Tây Berlin vẫn do giới chức Xô viết đảm nhận Nếu Liên Xô kí hòa ước riêng lẻ với CHDC Đức và trao quyền này cho Chính phủ Berlin, thì các nước phương Tây buộc phải thương lượng trực tiếp với Chính phủ CHDC Đức để được ra vào Tây Berlin Đối với họ, đây là chuyện hạ mình và không thể chấp nhận được, vì nó hàm ý công nhận địa vị hợp pháp của Chính phủ CHDC Đức, một điều mà họ vẫn luôn kịch liệt phản đối Đã xuất hiện nhiều tiếng nói trong dư luận phương Tây rằng chỉ còn cách dùng “sức mạnh đột phá” vào Tây Berlin, một khi Liên Xô rút khỏi CHDC Đức Trong bất kì trường hợp nào, việc thay đổi “hiện trạng” này có nguy cơ gây ra những rắc rối quốc tế không lường được vì Liên Xô đã cam kết sẽ bảo vệ CHDC Đức

Nên có những phản ứng như thế nào? Trên thực tế đã có hai thái độ Anh cho rằng có thể có nhiều nhân nhượng để N Khrushchev giảm nhẹ mức độ gay gắt của công hàm đề ngày 27.11 Trái lại, de Gaulle vừa trở lại cầm quyền nửa năm trước đó và K Adenauer cho rằng cần phải đứng vững và kiên quyết bác bỏ mọi thỏa hiệp về Tây Berlin Một công hàm của Pháp viết rằng không nên

“thương lượng dưới sự đe dọa của một tối hậu thư” Là nước giữ vai trò quyết định, Mĩ do dự giữa lập

trường ôn hòa của Anh và thái độ kiên quyết của Pháp và Đức Vấn đề là liệu Mĩ có chấp nhận tiến hành một cuộc chiến tranh hạt nhân để bảo vệ một lãnh thổ nhỏ như Tây Berlin với 2,5 triệu dân, vốn cũng đang mong muốn duy trì quy chế của họ Trong cuộc bầu cử Hội đồng thành phố ngày 5.12, đảng duy nhất tán thành ý kiến của N Khrushchev là đảng Xã hội Thống nhất (SED) chỉ được 1,9% số phiếu, so với 2,7% năm 1954

Trong công hàm gởi Chính phủ Moskva đề ngày 31.12.1958, Hoa Kì, Anh và Pháp cùng yêu cầu

“mở rộng khuôn khổ của cuộc đàm phán” và bày tỏ quan điểm chung rằng “luôn luôn sẵn sàng thảo

luận vấn đề Berlin trong khuôn khổ của những cuộc thương thảo tìm một giải pháp cho vấn đề Đức và

Trang 19

cho cả vấn đề an ninh châu Âu” [Dẫn lại theo 16, tr.353; 28, tr.745]

Trong bức công hàm trả lời đề ngày 10.1.1959, Chính phủ Liên Xô đã nhắc lại lập trường về vấn đề Đức: đường biên giới giữa Đông và Tây Đức là hợp pháp, hai nước Đức từ bỏ mọi yêu sách về lãnh thổ nằm về phía đông đường Oder-Neisse, quân đội nước ngoài rút hết khỏi lãnh thổ Đức trong thời hạn ngắn nhất sau ngày kí hoà ước, Đức không tham gia bất kì liên minh quân sự nào chống một trong những nước từng nằm trong liên minh chống Hitler trước đây, quân đội Đức chỉ được

xây dựng đủ để phòng thủ, Tây Berlin vẫn sẽ là “một thành phố tự do phi quân sự hóa” cho đến khi

nước Đức tái thống nhất

Ngày 16.2.1959, Hoa Kì, Anh và Pháp cùng đưa ra tuyên bố chung rằng họ sẵn sàng tham dự một

hội nghị cấp bộ trưởng ngoại giao để “giải quyết vấn đề Đức trong mọi khía cạnh và hệ quả phát sinh

S Lloyd (Anh) và Couve de Murville (Pháp) đã gặp nhau ở Geneva cùng với đại diện hai nước Đức

Các nước Hoa Kì, Anh và Pháp đưa ra “Kế hoạch hòa bình cho cả châu Âu”, mà nội dung chính là

thành lập một Uỷ ban toàn Đức gồm 35 người (25 của Tây Đức và 10 của Đông Đức) phụ trách việc phát triển các quan hệ giữa hai nước Đức, soạn thảo luật bầu cử và tổ chức bầu cử Quốc hội cho toàn nước Đức trong vòng 30 tháng, số phận của Berlin sẽ gắn liền với việc giải quyết vấn đề Đức theo hướng thống nhất nước này bằng con đường tuyển cử tự do Riêng giải pháp cho “an ninh châu Âu” không tách rời sự hiện diện của quân đội Hoa Kì ở châu lục này Được gọi là “giải pháp cả gói” (“package deal”), kế hoạch vừa kể bao gồm những biện pháp gắn bó chặt chẽ với nhau và đòi hỏi phải được xem xét như một tổng thể không thể phân cắt, như bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kì đã không

ít lần nhấn mạnh Ra đời từ cuộc bầu cử này, chính phủ thống nhất sẽ thương lượng việc kí hòa ước Còn việc rút quân đội nước ngoài khỏi Đức chỉ được mang ra xem xét sau tiến trình vừa kể

Liên Xô đề nghị thành lập ủy ban toàn Đức bao gồm đại diện của cả hai nhà nước Đức và kí thỏa thuận về quy chế tạm thời cho Tây Berlin Để đạt được mục tiêu này, Liên Xô đề nghị giảm quân số của các nước phương Tây ở Tây Berlin, hai nước Đức tiến hành đàm phán về các vấn đề liên quan đến việc duy trì liên lạc với Tây Berlin

Sự khác biệt trong lập trường của hai bên xoay quanh các điểm mấu chốt sau: phương Tây kiên quyết không chịu đàm phán về quyền tự do ra vào Tây Berlin của họ, bước đầu tiên để giải quyết vấn đề Đức là thống nhất nước Đức thông qua một cuộc tuyển cử tự do dưới sự giám sát của Tứ cường Liên Xô dứt khoát đòi giải quyết ngay vấn đề Tây Berlin theo hướng biến nó thành một thành phố tự do và phi quân sự hóa, còn vấn đề Đức chỉ có thể được giải quyết trên cơ sở các cuộc thương thảo giữa hai nước Đức với nhau Trong lúc chờ đợi được thống nhất, hai nước Đức vẫn có thể tiến hành đàm phán việc kí hòa ước

Tóm lại, lập trường của hai bên về nước Đức (và giờ đây gồm cả Berlin) cơ bản không thay đổi Ngày 5.8, Hội nghị kết thúc mà không mang lại kết quả gì, tuy trong thời gian Hội nghị đang diễn ra, tổng bí thư đảng Cộng sản kiêm chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô N.Khrushchev đã nhận lời mời sang thăm Mĩ vào tháng 9

d Chuyến viếng thăm Hoa Kì của N Khrushchev (tháng 9.1959)

Tuy không đặt ra mục tiêu kí bất kì văn kiện ngoại giao nào, chuyến viếng thăm kéo dài từ ngày

15 đến ngày 27.9.1959 là một chuyến viếng thăm chính thức và hơn thế nữa là một biến cố lịch sử trong quan hệ giữa hai nước, vì đó là chuyến viếng thăm Mĩ đầu tiên của người đứng đầu đất nước Xô viết và đảng Cộng sản Liên Xô Tại đây, N Khrushchev đã có dịp trình bày quan điểm của ông về vấn đề hòa bình và chiến tranh, mà vốn đang là nền tảng cho đường lối của Liên Xô trong quan

Trang 20

hệ Đông − Tây Ông nói: “Chúng tôi cho rằng chế độ của chúng tôi tốt hơn, và ngài nghĩ rằng chế độ

của các ngài tốt hơn; nhưng tất nhiên, chúng ta không nên biến cuộc tranh luận đó thành một cuộc chiến tranh công khai Nếu chúng ta đánh lẫn nhau, không những hai nước chúng ta sẽ phải chịu những thiệt hại khổng lồ, mà các nước khác cũng phải bị lôi kéo vào việc tiêu diệt thế giới” [Dẫn lại

theo 31, tr.528 – 529]

Chiếm vị trí quan trọng trong các cuộc tiếp xúc giữa N Khrushchev và D Eisenhower là các vấn đề ở Trung Âu và Tây Berlin Được công bố vào cuối chuyến công du, bản Thông cáo chung nhấn mạnh rằng dù những cuộc tiếp xúc không nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh, chúng vẫn có ích

trong việc làm sáng tỏ lập trường của hai nhà lãnh đạo và do vậy đã góp phần “mang lại một nền hòa

bình đúng đắn và lâu dài” Hai bên đồng ý rằng “giải trừ vũ khí là vấn đề quan trọng nhất mà thế giới hiện đang phải đối mặt” Cả hai lên án việc dùng vũ lực để giải quyết “những vấn đề quốc tế quan trọng” Về vấn đề Berlin, bản Thông cáo chung chỉ ghi nhận một nguyên tắc chung là các cuộc

đàm phán phải mang lại một giải pháp thỏa đáng Còn kết quả cụ thể của vấn đề này được công bố tại cuộc họp báo chung được tổ chức ngày 28.9: Tổng thống Hoa Kì hứa với N Khrushchev sẽ tiếp xúc với Charles de Gaulle và Macmillan để thuyết phục các ông này dự hội nghị thượng đỉnh; Eisenhower còn thừa nhận tính chất “bất bình thường” của tình hình ở Berlin, và thêm rằng cần tìm ra

“một giải pháp đảm bảo lợi ích chính đáng của Liên Xô, người Đông Đức, người Tây Đức và trên hết

là của phương Tây” Đổi lấy hai nhân nhượng vừa kể, Khrushchev từ bỏ mọi giới hạn về thời gian

trong việc đi tìm một giải pháp cho vấn đề Berlin [Dẫn lại theo 1, tr.170; 31, tr.364; 37, tr.474]

e Sự tan vỡ của Hội nghị thượng đỉnh Tứ cường ở Paris (tháng 5.1960)

Thái độ mềm dẻo của Eisenhower trong vấn đề Berlin được thể hiện qua lời tuyên bố của ông tại cuộc họp diễn ra trong các ngày từ 19 đến 21.12.1959 giữa những người đứng đầu nhà nước và chính phủ các nước Hoa Kì, Anh, Pháp và CHLB Đức nhằm chuẩn bị cho cuộc họp thượng đỉnh sắp đến

Thủ tướng CHLB Đức K Adenauer thuật lại:“Trong lời phát biểu đầu tiên, Eisenhower đã trình bày

dông dài quan điểm của mình, mà hóa ra trái ngược hẳn với yêu cầu không được, dù trong bất kì trường hợp nào, thay đổi nền tảng pháp lí của quy chế hiện nay của Berlin Đặc biệt ông nói rằng quyền lợi của các cường quốc phương Tây ở Berlin không quan trọng đến mức công luận bên ngoài nước Đức xem việc xâm phạm chúng là nguyên cớ đủ quan trọng để can thiệp vũ trang Nói chung, ông đặt ra câu hỏi sau: sẽ ra sao với Berlin, nếu người Nga bây giờ thì nhượng bộ, nhưng chẳng lâu sau sẽ có những hành động khác chống lại nó? Phương Tây có nên, cũng theo đúng lời ông, phản đối việc Liên Xô rất có thể sẽ kí một hòa ước với CHDC Đức, vì chúng ta đã chẳng kí hòa ước với CHLB Đức là gì” [Dẫn lại theo 18, tr.510 – 511]

Trước sự phản bác mạnh mẽ của những người đối thoại, Eisenhower đã đồng ý từ bỏ quan điểm của mình Vậy là lập trường của phương Tây về vấn đề Berlin vẫn không thay đổi

Ngày 14.5.1960, N Khrushchev đến Paris dự cuộc họp thượng đỉnh Ngày hôm sau, ông nói riêng với tổng thống Pháp de Gaulle rằng muốn cho Hội nghị diễn ra thì Chính phủ Hoa Kì trước hết phải xin lỗi về hoạt động gián điệp từ trên không của họ

Nguyên là trước đó, vào ngày 1.5 một máy bay do thám U-2 của Mĩ đã vượt qua biên giới Liên Xô từ hướng nam và đã bị tên lửa bắn rơi ở vùng Sverdlov

Thực ra những chuyến bay thám thính siêu cao của Mĩ nhằm mục đích chụp hình lãnh thổ của Liên Xô đã diễn ra ngay từ năm 1956[1, tr.166] Tuy biết, nhưng giới lãnh đạo Xô viết không công khai lên tiếng phản đối, vì họ quan niệm rằng sự bất lực của Liên Xô trong việc ngăn cản các hoạt động do thám từ trên không của Mĩ là một điều đáng hổ thẹn Mãi đến ngày 1.5.1960, khi một phi cơ

Mĩ bị bắn hạ và viên phi công bị bắt sống, Chính phủ Mĩ mới thừa nhận sự thật sau khi Chính phủ Liên Xô trưng ra những bằng chứng không thể chối cãi, mặc dù vậy Washington vẫn không chịu đưa

ra một lời xin lỗi chính thức, theo như đòi hỏi của phía Liên Xô

Ngày 16.5.1960, khi lãnh đạo bốn nước họp tại điện Elysée, N Khrushchev lại yêu cầu Hoa Kì

Trang 21

xin lỗi, trừng phạt những kẻ phạm tội và hứa không để những chuyến bay như vậy tiếp diễn N Khrushchev còn đề nghị hoãn Hội nghị từ 6 đến 8 tháng Eisenhower chỉ hứa ngừng các chuyến bay đó trong phần nhiệm kì còn lại của mình (đến tháng 1.1961), nhưng không chịu đi xa hơn Bất chấp sự hòa giải của de Gaulle, Hội nghị đã tan vỡ trước khi nó bắt đầu thực sự Ngoài ra, chính phủ Liên Xô còn hủy bỏ cuộc viếng thăm đã được ấn định của Eisenhower

Quan hệ giữa Liên Xô và Hoa Kì sau đó tất nhiên trở lại căng thẳng, nhưng không xảy ra sự biến nào lớn để có thể ảnh hưởng xấu đến tiến trình hòa dịu đang diễn ra

5 Cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai (tháng 8.1961)

a Hoàn cảnh

Sau thất bại của Hội nghị thượng đỉnh Paris, N Khrushchev thỉnh thoảng lại nhắc đến khả năng một hòa ước riêng rẽ sẽ được kí giữa Liên Xô và CHDC Đức Tháng 9-1960, tại khóa họp của Đại hội đồng LHQ, ông đã mạnh mẽ chỉ trích và lên án Hoa Kì rằng nước này đã thay đổi luật pháp quốc tế bằng hành động ăn cướp và lừa đảo

Tuy nhiên, là một người chủ trương đi tìm chiến thắng cho chủ nghĩa xã hội bằng con đường “thi đua hòa bình”, N.Khrushchev thực sự không muốn quan hệ giữa Liên Xô và các nước phương Tây quay trở lại thời kì căng thẳng của thập niên 50 Hành động phản đối có phần kì quặc của N Khrushchev tại Đại hội đồng LHQ ngày 12.10(17) đã không ngăn cản ông phát biểu: “Theo những tính

toán của chúng tôi, chúng tôi sẽ vượt Hoa Kì trong cuộc đấu tranh chủ yếu về sản lượng tính theo đầu người vào năm 1970, tức là trong vòng mười năm tới Theo tính toán của các nhà kinh tế học chúng tôi, năm 1980, chúng tôi sẽ sản xuất ra số của cải tính theo đầu người nhiều hơn Hoa Kì Năm 1965, chúng tôi sẽ sản xuất hàng tiêu dùng tính theo đầu người ngang hàng hoặc thậm chí hơn các nước

Khrushchev tin vào thắng lợi sẽ đạt được trong cuộc “thi đua hòa bình”, và hi vọng cải thiện quan hệ với Hoa Kì Ông cũng không quên là J.Kennedy đã từng tuyên bố rằng nếu là Eisenhower, ông ta sẽ không ngần ngại đưa ra lời xin lỗi Liên Xô về vụ chuyến bay do thám U.2 Vì vậy, N Khrushchev đã không để mất thời gian để gửi điện chúc mừng ngay khi vừa được tin ông này đắc cử tổng thống

Bức điện viết rằng nhà lãnh đạo Xô viết hi vọng trong nhiệm kì của tân tổng thống Hoa Kì, “quan hệ

Về phần mình, J Kennedy cũng muốn tỏ thái độ thiện chí với Liên Xô, tuy bằng những lời lẽ vừa

cứng rắn, vừa lịch thiệp qua bài diễn văn nhậm chức đọc ngày 20.1.1961 Ông muốn rằng cả hai “sẽ

có những bước khởi đầu mới nhắc nhở cả đôi bên rằng nhã nhặn không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối, rằng lòng chân thành phải luôn được thể hiện ra bên ngoài Đừng bao giờ đàm phán vì sợ hãi; nhưng cũng đừng bao giờ sợ đàm phán” [Dẫn lại theo 16, tr.461] Giữa tháng 2.1961, tân tổng thống

Mĩ chấp nhận về nguyên tắc đề nghị của N Khrushchev về một cuộc gặp gỡ tay đôi

Giữa lúc đó, vào tháng 4 ở Tây bán cầu đã xảy ra sự kiện vịnh Con Heo (hay còn được gọi là bãi biển Heron)(18) Giống như thất bại của lực lượng cánh hữu Nosavan ở Lào và tình cảnh khó khăn của chế độ Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam, đây cũng là đòn giáng nặng nề vào uy tín của Mĩ trên chính trường quốc tế Rõ ràng là những khó khăn mà Mĩ đã gặp phải trong những năm cuối của nhiệm kì D Eisenhower ở các khu vực có ý nghĩa chiến lược nằm ngoài châu Âu vẫn chưa chấm dứt Đáng chú ý hơn là Liên Xô đã tăng được kho tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) có khả năng đưa vũ khí hạt nhân đến bất cứ nơi nào trên Trái Đất Trước đây, sau khi xây dựng hệ thống căn cứ quân

(17) Để tỏ thái độ phản đối trước bài phát biểu của đại diện Mĩ rằng cần giải phóng các dân tộc, kể cả những dân tộc đang sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, N Khrushchev đã tháo giầy và nện xuống bàn.

(18) Ngày 19.4.1961, lực lượng vũ trang của người Cuba lưu vong được chính phủ Mĩ yểm trợ đã đổ bộ lên bãi biển này, nhưng đã bị quân cách mạng Cuba tiêu diệt hoàn toàn trong 72 giờ

Trang 22

sự vây quanh Liên Xô, các nhà chiến lược Mĩ đã có thể lập kế hoạch giáng đòn vào những trung tâm chính của Liên Xô và Đồng minh của nước này mà không sợ bị đòn trả đũa vào lãnh thổ mình Nhưng từ khi Liên Xô phóng thành công Sputnik I, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người, tình trạng không bị thương tổn này đã chấm dứt Tháng 1.1958, tức không lâu sau sự biến vừa kể, thượng nghị sĩ Lyndon Johnson đã tuyên bố rằng tình trạng không thương tổn về mặt địa lí của Mĩ đã vĩnh viễn bị mất [15, tr.281] Các nhà lãnh đạo Mĩ còn phải tính đến không chỉ khả năng chế độ cộng sản sẽ được thiết lập ở Á, Phi, Mĩ Latinh, mà cả khả năng các cứ điểm và căn cứ quân sự Liên Xô sẽ được xây dựng ở những nơi đó

b Cuộc đối thoại ở Vienna

Chính trong bối cảnh trên đã diễn ra cuộc gặp gỡ giữa hai nhà lãnh đạo của hai siêu cường ở Vienna trong các ngày 3 và 4.6.1961 Không mang tính chất của một cuộc đàm phán chính thức, cuộc gặp gỡ đã kết thúc mà không có một thông cáo chung nào Theo lời của N Khrushchev và J Kennedy sau này, các cuộc tiếp xúc giữa họ diễn ra trong bầu không khí thiện ý, trong đó cả hai đã thẳng thắn, nhưng lịch thiệp, trình bày quan điểm của mình Gây căng thẳng nhất là vấn đề Đức và gắn liền với nó, vấn đề Berlin N Khrushchev nói rằng tình hình đã trở nên không thể dung nhận được và dù Hoa Kì có đồng ý hay không, Liên Xô quyết định sẽ kí hòa ước với CHDC Đức trước cuối năm Còn Tây Berlin phải trở thành “thành phố tự do”, quân đội các nước thắng trận có thể vẫn tiếp tục trú đóng tại đây, nhưng công việc liên lạc giữa thành phố và phương Tây phải tuân thủ các quy định của Chính phủ CHDC Đức J Kennedy giải thích rằng nước Mĩ có những quyền lợi thiết thân ở Berlin, an ninh của phương Tây gắn liền với an ninh của CHLB Đức và Tây Berlin, với sự

hiện diện của phương Tây ở Berlin với quyền tự do ra vào thành phố này “Đó là quyền của chúng

tôi, - J Kennedy tuyên bố, - chứ không phải là sự đồng tình thinh lặng, và chúng tôi rất quyết tâm giữ gìn quyền này trong mọi tình huống hiểm nghèo” [Dẫn lại theo 30, tr.199] Bất chấp những can

gián của tổng thống Hoa Kì, người đứng đầu đảng và chính phủ Liên Xô khẳng định: “Tôi muốn hòa

bình, nhưng nếu ngài muốn chiến tranh, đó là chuyện của ngài Quyết định kí hòa ước vào tháng 12 tới của chúng tôi là không thể trì hoãn được”[Dẫn lại theo 16, tr.465]

Không đầy hai tuần sau cuộc gặp gỡ trên, đã bùng ra một cuộc khủng hoảng mang tên “Khủng

hoảng Berlin”

Thái độ kiên quyết của hai vị nguyên thủ quốc gia ở Vienna cho thấy vấn đề Đức và vấn đề Berlin không thể có được một giải pháp mau chóng Nhưng N Khrushchev lại đi đến kết luận rằng Liên Xô có thể gây sức ép lên các nước phương Tây để giúp CHDC Đức thiết lập một chế độ kiểm soát biên giới nghiêm ngặt Vấn đề này trở thành chủ đề trong một số bài phát biểu của N Khrushchev Trong buổi gặp gỡ các học viên tốt nghiệp học viện quân sự tại điện Kremlin, ông

tuyên bố: “Chúng ta sẽ kí hòa ước, và sẽ chỉ thị cho các lực lượng vũ trang của chúng ta giáng trả

đích đáng bất kì kẻ xâm lược nào, nếu chúng xúc phạm đến Liên Xô hay bè bạn của chúng ta”[Dẫn

lại theo 30, tr.201]

Ngày 3.8.1961, Chính phủ Liên Xô gửi cho các cường quốc phương Tây một yêu sách gần như là

tối hậu thư: “Trong vòng năm nay, bằng cách này hay cách khác phải giải quyết vấn đề kí hòa ước với

Đức, và trên cơ sở đó giải quyết tình trạng ở Tây Berlin” [Dẫn lại theo 30, tr.202]

Ngày 7.8, N Khrushchev phát biểu trên truyền hình Sau khi nhắc lại những lời đe dọa của phương Tây về việc dùng “sức mạnh đột phá” vào Berlin, ông tuyên bố rằng do mối đe dọa của tình hình đã nảy sinh đối với Liên Xô, chắc là đành phải tăng cường quân số ở biên giới phía tây của Liên Xô và động viên một phần lực lượng dự bị để đảm bảo quân số đầy đủ cho các sư đoàn Xô viết Thái độ cứng rắn nói trên của N Khrushchev có thể được giải thích bởi nguyên nhân: Tây Berlin tiếp tục là cửa ngõ dễ dàng nhất cho những người Đông Đức nào muốn sang phương Tây : chỉ trong 8 tháng đầu năm 1961, số người bỏ trốn đã cao hơn cả năm 1960 Rõ ràng là Đông Đức sẽ chóng kiệt quệ, nếu tình trạng này không sớm chấm dứt

Trang 23

Các nhà lãnh đạo phương Tây cũng tỏ thái độ cứng rắn không kém Lực lượng vũ trang NATO được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu Còn Tổng thống J Kennedy thấy đây là cơ hội để lấy lại uy tín đã bị sứt mẻ phần lớn sau thất bại ở vịnh Heron

Ngày 25.7, J Kennedy tuyên bố trên đài phát thanh và truyền hình: “Nếu chiến tranh bùng nổ, nó

sẽ bắt đầu ở Moskva, chứ không phải ở Berlin Chỉ Chính phủ Xô viết mới có thể biến biên giới ở Berlin thành cớ gây chiến” [Dẫn lại theo 16, tr.466] Ông nhấn mạnh rằng Mĩ sẽ “bằng những biện pháp kiên quyết nhất” đạt được ba mục tiêu sau: sự hiện diện của các cường quốc phương Tây ở Tây

Berlin, quyền tự do ra vào Tây Berlin, an ninh tự do cho người dân Tây Berlin[Dẫn lại theo 45, tr.17] Ông yêu cầu Quốc hội thông qua một loạt biện pháp khẩn cấp, như bổ sung ngân sách quốc phòng, thêm 3,25 tỉ dollar, tăng quân số hiện hành, tăng số quân nhập ngũ lên 2, rồi 3 lần, động viên lực lượng dự bị

c Bức tường Berlin

Trong tình hình đối đầu căng thẳng như trên, ở Moskva đã diễn ra hội nghị đại diện các nước

khối Hiệp ước Varsava Hội nghị kêu gọi CHDC Đức thiết lập ở biên giới nước mình “chế độ ngăn

ngừa hoạt động phá hoại chống các nước phe XHCN” Ngày 12.8, Hội đồng Bộ trưởng CHDC Đức

quyết định thực hiện chế độ kiểm tra nghiêm ngặt ở biên giới Biên giới giữa CHDC Đức và CHLB Đức bị đóng lại, mọi tuyến đường giao thông băng qua biên giới bị đặt dưới sự kiểm tra nghiêm ngặt Để đi qua biên giới cần có giấy phép đặc biệt Chung quanh toàn bộ Tây Berlin người ta đã mau chóng dựng lên dãy tường cao có rào dây thép gai với một số ít cửa qua lại Giao thông trong thành phố bị thay đổi, các công dân được phép đi từ Tây Berlin sang Đông và ngược lại chỉ khi nào có giấy tờ chứng nhận và giấy phép qua lại

Những biện pháp kể trên đã gây ra những phản đối ở phương Tây J Kennedy tiến hành những cuộc họp khẩn cấp Lính dù đổ bộ Mĩ được đưa sang châu Âu Lực lượng dự bị của CHLB Đức được động viên Phó Tổng thống Mĩ L Johnson bay đi Tây Berlin Đã xảy ra một số vụ phá bỏ bức tường đã được dựng lên, nhưng lại được sửa chữa ngay Đứng bên kia bức tường là lính Mĩ, phía bên này là

xe tăng Xô viết Hai bên yên lặng nhìn nhau và hết (!) Tình hình này tỏ cho thấy phương Tây không thể làm gì khác hơn ngoài việc chấp nhận sự đã rồi và đành phải lưu tâm đến chế độ kiểm tra biên giới nghiêm ngặt trên ranh giới CHDC Đức, vì suy cho cùng, những biện pháp này nằm trong khuôn khổ quyền hạn của CHDC Đức và không vi phạm mối liên lạc giữa Tây Berlin và phương Tây Đó là chưa kể phương Tây thực ra không có khả năng bảo vệ quan điểm của mình về Tây Berlin bằng một cách nào khác hơn là một cuộc chiến hạt nhân Chính phủ CHDC Đức cũng đã tuyên bố rõ: việc giao thông giữa Tây Berlin và Tây Đức không bị ảnh hưởng, nghĩa là quyền ra vào Tây Berlin của các nước Mĩ, Anh và Pháp không bị đụng chạm Vả chăng, N Khrushchev cũng

“quên” đi lời đe dọa của mình: sẽ kí hòa ước với CHDC Đức trước cuối năm

Từ đó, bức tường Berlin trở thành biểu tượng ngăn cách không chỉ giữa hai nước Đức, mà còn giữa Đông và Tây Nó đặt dấu chấm hết cho mọi nỗ lực tái thống nhất nước Đức bằng con đường thương lượng giữa bốn cường quốc Liên Xô từ nay sẽ cam nhận Tây Berlin chừng nào nó còn bị cô lập và không làm kiệt quệ Đông Đức Hoa Kì đành chấp nhận bức tường chừng nào Tây Berlin còn nằm trong quỹ đạo của phương Tây

6 Chính sách “Hướng về phía Đông” (Ostpolitik) và việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Đức

a Sự chuyển hướng trong chính sách đối ngoại của CHLB Đức

Sau khi gia nhập NATO (10.1955) cho đến năm 1969, CHLB Đức dưới quyền cai trị của các Chính phủ K Adenauer (1949−1963), L Erhard (1963−1966) và K Kiesinger (1966− 1969) đã theo đuổi một chính sách về cơ bản không thay đổi đối với CHDC Đức nói riêng, các nước XHCN Đông Âu nói chung

Chính sách đóù gồm hai nội dung chính Đó là “chủ thuyết Hallstein” được công bố tháng 12.1955,

Trang 24

theo đó CHLB Đức sẽ cắt đứt quan hệ ngoại giao với bất kì quốc gia nào muốn thừa nhận cả Chính phủ CHDC Đức Trong chuyện này, trường hợp ngoại lệ duy nhất là Liên Xô, nước đồng thời có quan hệ ngoại giao đầy đủ với cả hai nước Đức Chính phủ Bonn còn khước từ thừa nhận đường biên giới giữa Ba Lan và CHDC Đức dọc theo các sông Oder và Neisse, vì theo Bonn đường ranh này chỉ được quy định tạm thời ở Hội nghị Potsdam Trong thực tế, ít có người dân Đức nào nghĩ rằng những vùng lãnh thổ đã bị mất ở phía đông một ngày nào đó sẽ trở về với Đức; Chính phủ CHLB Đức cũng đã nói rõ rằng họ sẽ không dùng vũ lực để thu hồi chúng Nhưng họ muốn rằng số phận cuối cùng của chúng phải được định đoạt bởi một hòa ước kí giữa nước Đức tái thống nhất và các cường quốc thắng trận

Qua các sự kiện diễn ra trong thập niên 60, chính sách đối ngoại với các nội dung kể trên dần dà bộc lộ tính cứng nhắc và lỗi thời của nó Trước hết là vụ bức tường Berlin năm 1961 chứng tỏ tính ảo tưởng trong lập trường lâu nay của thủ tướng Adenauer, khi ông cho rằng sức mạnh của phương Tây là chìa khóa dẫn đến thống nhất Chẳng những không thể buộc Liên Xô từ bỏ ảnh hưởng ở Đông Đức, phương Tây thậm chí còn không ngăn nổi hành động đơn phương của Moskva ở khu vực này Vươn từ địa vị “kém phát triển” lên “đang phát triển” và được kết hợp thành “phong trào không liên kết”, các nước châu Á và châu Phi trở thành một sức mạnh không thể không tính đến trên trường quốc tế Trước mối quan hệ quá chặt chẽ giữa Mĩ - nước đang bị phong trào không liên kết căm ghét

− và Tây Đức, các nước “thế giới thứ ba” − một tên gọi khác của các nước không liên kết − đã bày tỏ, dưới tác động của Liên Xô, mối thiện cảm ngày càng rõ đối với Đông Đức

Những thay đổi trên đã khiến một số chính khách Tây Đức bắt đầu chuyển sang một chính sách đối ngoại bớt cứng nhắc hơn Trong tư cách là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ “đại liên hiệp” Kiesinger(19), Willy Brandt − cựu thị trưởng Tây Berlin và đang là chủ tịch đảng SPD (đảng Xã hội Dân chủ) − đã tìm cách bình thường hóa quan hệ với một số nước Đông Âu − Rumania và Nam Tư, những nước có đường lối đối ngoại độc lập hơn với Moskva, so với những nước Đông Âu khác Có thể nói đây là bước khởi đầu dè dặt của chính sách Ostpolitik (Hướng về phía Đông)

Tuy nhiên, phải đợi đến khi trở thành thủ tướng của Chính phủ liên hiệp giữa hai đảng SPD và FDP (đảng Dân chủ Tự do − vốn cũng ủng hộ chính sách xích lại gần với Đông Âu) ngày 21.10.1969, Willy Brandt mới có điều kiện đẩy mạnh việc thực hiện chính sách Ostpolitik

Ngày 30.10.1969, tức không lâu sau khi Chính phủ Brandt được thành lập, CHLB Đức và Liên Xô tiến hành đàm phán quanh hiệp ước dùng làm nền tảng cải thiện toàn bộ quan hệ giữa hai nước trên

cơ sở thừa nhận những thực tế chính trị và lãnh thổ đã hình thành ở châu Âu

b Các hiệp ước giữa CHLB Đức với Liên Xô và Ba Lan

Sau gần một năm đàm phán khẩn trương và không kém phần gay go, ngày 12.8.1970 tại Moskva, những người đại diện của hai nước: về phía Chính phủ Liên Xô có chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng A N Kosygin và bộ trưởng Ngoại giao A Gromyko, còn về phía CHLB Đức có thủ tướng W.Brandt và bộ trưởng Ngoại giao Walter Scheel − đã kí một Hiệp ước Nội dung chính của Hiệp ước là cam kết của

các bên về vấn đề lãnh thổ Điều 3 nói rằng Liên Xô và CHLB Đức “xem là không gì phá vỡ nổi cả

trong hiện nay lẫn trong tương lai biên giới của tất cả các quốc gia châu Âu, vốn đã được xác lập đúng y như vào ngày Hiệp ước này được kí, trong đó có đường Oder - Neisse, vốn là biên giới phía tây của CHND Ba Lan, và biên giới giữa CHLB Đức và CHDC Đức” Hiệp ước xác định rõ rằng Liên Xô

và CHLB Đức “không có bất kì yêu sách lãnh thổ nào đối với bất kì ai và trong tương lai cũng sẽ

không đưa ra những yêu sách như vậy.”

(19) Để đủ sức đối phó với những khó khăn nội bộ (kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng cao), Kiesinger đã thành lập một chính phủ trên cơ sở liên hợp nhiều đảng phái rất khác nhau

Trang 25

Việc kí kết Hiệp ước Moskva đã mở đường cho việc kí kết tại Varsava Hiệp ước giữa CHLB Đức và Ba Lan ngày 7.12.1970 có cùng một nội dung tương tự liên quan trực tiếp đến đường biên giới Oder - Neisse

c Bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Đức

Nhưng việc dàn xếp một hiệp ước giữa hai nước Đức tỏ ra khó khăn hơn rất nhiều so với quá trình chuẩn bị hiệp ước giữa CHLB Đức với Liên Xô và Ba Lan Khó khăn chủ yếu nằm ở vấn đề Tây Berlin và đặc biệt là việc tự do ra vào Tây Berlin, mà các nước phương Tây không muốn để CHDC Đức toàn quyền quản lí Từ ngày 26.3.1970, các đại diện Tứ cường đã bắt đầu các cuộc đàm phán nhằm tìm ra giải pháp cho vấn đề Tây Berlin Cuộc thương thuyết kéo dài đến một năm rưỡi mới cho ra kết quả: ngày 3.9.1971, các đại diện Tứ cường kí tắt vào Hiệp định Bốn bên về Berlin Văn kiện nói rõ rằng Tây Berlin không thuộc về CHLB Đức, do vậy Quốc hội và Chính phủ CHLB Đức sẽ không được họp ở Tây Berlin như trước nữa Quan hệ giữa Tây Berlin và CHLB Đức chỉ được

duy trì và phát triển với điều kiện phải lưu tâm rằng phần phía Tây của Berlin “không phải là một

phần lãnh thổ của CHLB Đức và từ nay sẽ không được cai quản bởi nước này” Hiệp định cũng khẳng

định rằng “việc đi lại quá cảnh của người và hàng hóa dân sự giữa các khu vực phía Tây của Berlin

và CHLB Đức ngang qua lãnh thổ của CHDC Đức sẽ không bị cản trở”

Việc kí kết các hiệp ước kể trên, nhất là Hiệp định Bốn bên về Tây Berlin đã tháo gỡ những cản trở chủ yếu trong tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Đức

Ngày 17.12.1971, ở Bonn các đại diện hai nước Đức đã kí Thỏa hiệp về đi lại quá cảnh của công dân và hàng hóa giữa CHLB Đức và Tây Berlin

Ngày 30.12.1971, ở Berlin các đại diện hai nước Đức kí Thỏa ước liên quan đến việc thăm viếng CHDC Đức của cư dân thường trú Tây Berlin và về việc giải quyết vấn đề vùng lõm

Cuối cùng ngày 26.5.1972, hai nước Đức đã kí Hiệp ước vận chuyển liên quan đến vấn đề qua lại và quá cảnh giữa hai nước bằng đường sắt, đường bộ và đường thủy

Vậy là những rào chắn cuối cùng đã được dẹp bỏ Ngày 21.12.1972 tại Berlin, đại diện hai nước Đức kí vào Hiệp ước đặt nền tảng cho các mối quan hệ giữa hai nước Hai chính phủ nhấn mạnh tính bất khả xâm phạm của đường biên giới giữa hai nước trong hiện tại lẫn trong tương lai, không một chính phủ nào có quyền đại diện phía bên kia trong quan hệ quốc tế hay hoạt động thay mặt phía kia

Hai chính phủ công nhận rằng “chủ quyền của mỗi nhà nước được giới hạn trong phần lãnh thổ của

mình” Điều này hàm ý Chính phủ Bonn từ nay không có quyền tự nhận mình là đại diện hợp pháp

duy nhất của toàn thể nước Đức, và tất nhiên cũng từ bỏ công thức “một dân tộc Đức duy nhất” Ngay sau đó, các nước phương Tây lần lượt lập quan hệ với CHDC Đức Ngày 18.9.1973, hai nước Đức được kết nạp vào LHQ

7 Giải trừ vũ khí (từ các cuộc đàm phán về việc cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân tháng

10.1958 đến cuộc gặp gỡ Vladivostok tháng 11.1974)

a Tình trạng "cân bằng bởi khiếp sợ" trong quan hệ Đông-Tây

Một trong những hậu quả phát sinh từ cuộc đối đầu Xô − Mĩ nói riêng và đối đầu Đông − Tây nói

chung là cuộc chạy đua vũ trang rất tốn kém và đầy nguy hiểm giữa hai siêu cường Hoa Kì và Liên Xô Trong thời gian đầu (từ năm 1945 đến khoảng năm 1955), ưu thế nghiêng hẳn về phía Hoa Kì: là nước nắm giữ độc quyền về vũ khí nguyên tử đến năm 1949, tháng 11.1952 Hoa Kì đã cho nổ thử nghiệm thành công bom H (nhiệt hạch) Không những thế, Hoa Kì còn làm chủ một số lượng không nhỏ các phương tiện mang vũ khí hạt nhân đến mục tiêu (bệ phóng, tàu ngầm, phi cơ oanh kích tầm xa) Chính phủ Eisenhower đã đề ra chiến lược “trả đũa ồ ạt”: trong trường hợp xảy ra xung đột, Hoa

Kì sẽ tìm cách tiêu diệt mối đe dọa ngay tại nguồn của nó (mà ở đây hiển nhiên là Liên Xô sẽ bị nghiền nát bởi những trận oanh kích dồn dập được thực hiện bằng hàng trăm quả bom hạt nhân)

Ngày 12.1.1954, bộ trưởng Ngoại giao Mĩ John F Dulles tuyên bố: “Kế hoạch phòng thủ cục bộ cần

Trang 26

được tăng cường bằng sức mạnh trả đũa ồ ạt Phương sách để thế giới tự do chặn đứng xâm lược là ý chí và khả năng giáng trả mạnh mẽ vào mọi nơi bằng những phương tiện riêng của mình” [Dẫn lại

theo 28, tr.728]

Về phần mình, Chính phủ Xô viết cũng dồn sức vào cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân với Mĩ, dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Tháng 9.1949, Liên Xô đã chế tạo thành công bom A (sau Mĩ

40 tháng), và làm chủ bom H vào tháng 8.1953, nghĩa là chỉ sau Mĩ không đầy một năm Kể từ đây,

ưu thế vũ khí hạt nhân của Mĩ bị thu hẹp dần Tháng 10.1957, Liên Xô đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo Sputnik I đầu tiên của loài người Sự biến này cho thấy xét về mặt địa lí, lãnh thổ của Mĩ không còn bất khả xâm phạm nữa, vì loại tên lửa đủ sức mang vệ tinh nhân tạo lên quỹ đạo Trái Đất tất nhiên cũng có khả năng mang đầu đạn hạt nhân từ châu Âu sang Bắc Mĩ Một chương mới trong cuộc chạy đua vũ trang giữa hai nước bắt đầu Hoa Kì tăng cường cải tiến tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) và triển khai kế hoạch đặt tên lửa tầm trung (IRBM) ở vài nước Tây Âu (Anh, Italia) và Thổ Về phần mình, Liên Xô bắt đầu xây dựng các bệ phóng tên lửa, chuẩn bị sản xuất ICBM thế hệ hai

Đến đầu thập niên 1960, quan hệ giữa Liên Xô và Mĩ trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân đã đạt đến

tình trạng được gọi là “sự cân bằng bởi khiếp sợ” (balance of terror): không nước nào dám phát động

cuộc chiến tranh hạt nhân trước, vì biết rằng bản thân cũng sẽ chịu những tàn phá ghê gớm không kém gì đối phương Đó là lí do vì sao cuộc khủng hoảng Cuba năm 1962 đã được kết thúc bằng một giải pháp nhân nhượng cho cả hai bên

Từ cuộc khủng hoảng vừa kể, các nhà lãnh đạo Hoa Kì và Liên Xô đã nhận thức rõ hơn về những giới hạn không được vượt qua, nếu không muốn đặt nước mình và thế giới trước hiểm họa của một cuộc chiến tranh hạt nhân tàn khốc, và những nguy cơ tiềm tàng của một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân vừa không có giới hạn, vừa không được kiểm soát

Sự thay đổi trong bầu không khí chung của quan hệ Đông − Tây sau cuộc khủng hoảng đã thúc

đẩy Liên Xô, Hoa Kì và Anh(20) mau chóng đi đến một hiệp ước liên quan đến việc cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân

Thực ra, các cuộc đàm phán về cả vũ khí hạt nhân lẫn quy ước đã diễn ra từ 10 năm trước đó, từ ngày 11.01.1952 bằng việc thành lập một ủy ban của LHQ Sau khi ủy ban này không mang lại tiến bộ nào, năm nước − Mĩ, Liên Xô, Anh, Pháp(21) và Canada − đã thành lập Tiểu ban giải trừ vũ khí trực thuộc LHQ Tại các cuộc đàm phán, Liên Xô kiên quyết đòi ngưng vô thời hạn toàn bộ các cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân, kể cả dưới mặt đất, và Hiệp ước này cần được tất cả các cường quốc hạt nhân kí Nhưng Pháp bác bỏ, vì coi đây không phải là một hoạt động giải trừ quân bị thực sự, mà chỉ là một cố gắng của những nước đã có vũ khí hạt nhân ngăn không cho các nước khác có loại vũ khí này Còn Mĩ, viện cớ các phương tiện khoa học hiện có không cho phép phân biệt các chấn động phát sinh từ các vụ nổ trong lòng đất với các cuộc động đất tự nhiên, để đưa ra đề nghị đòi được kiểm tra tại chỗ các hiện tượng bị hồ nghi là vụ nổ hạt nhân trong lòng đất Cho rằng đây là âm mưu dọ thám lãnh thổ nước mình, phái đoàn Liên Xô đã kiên quyết không xem xét đề nghị của Hoa

(20) Tháng 10.1952, nước Anh đã trở thành cường quốc hạt nhân thứ ba sau khi thử nghiệm thành công bom A; đầu tháng 5.1957, nước này cũng đã có bom H

(21) Pháp làm chủ kĩ thuật sản xuất bom A tháng 2.1960

Trang 27

thảo luận với Liên Xô về một hiệp ước ngưng thử nghiệm vũ khí hạt nhân Diễn ra tại Geneva từ ngày 31.10.1958, cuộc đàm phán giữa ba nước về các vấn đề như con số các cuộc kiểm tra tại chỗ, thời hạn tạm ngưng thử nghiệm, nhu cầu hợp tác cải tiến phương pháp phát hiện, đã xoay quanh trọng tâm là kiểm tra, vì sẽ không nước nào sẵn sàng từ bỏ kế hoạch thử nghiệm, vốn là phương sách chính để cải tiến vũ khí hạt nhân, nếu không chắc chắn rằng đối phương cũng sẽ làm như vậy Hoa

Kì và Anh đồng ý kí một thỏa ước từ bỏ việc thử nghiệm trong khí quyển vốn dễ dàng bị phát hiện, và những cuộc thử nghiệm trên quy mô lớn trong lòng đất, mà người ta có thể phân biệt tương đối dễ với những cơn động đất tự nhiên được ghi nhận trên địa chấn kế Nhưng hai nước này không muốn đưa vào thỏa ước những cuộc thử nghiệm nhỏ trong lòng đất, nếu Liên Xô không đồng tình với điều khoản quy định công tác kiểm tra thích đáng tại chỗ Về phần mình, Liên Xô kiên trì quan điểm chỉ

kí một thỏa ước cấm toàn bộ việc thử nghiệm và khước từ mọi hoạt động thanh sát tại chỗ

Sự khác biệt lớn lao kể trên trong lập trường của các bên tham gia đàm phán cùng với nhiều sự biến bất ngờ đã diễn ra trong thời gian đàm phán như vụ một máy bay trinh sát U-2 của Mĩ bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô, thất bại của Hội nghị thượng đỉnh ở Paris, cuộc khủng hoảng Berlin, đã là những trở ngại lớn không dễ vượt qua

b Các hiệp ước Moskva về ngừng thử nghiệm và không phổ biến vũ khí hạt nhân

Sau khủng hoảng tên lửa Cuba (1962), cuộc đàm phán đã diễn ra với nhịp độ nhanh hơn Lập trường của các bên dần dần nhích lại gần nhau, nhất là sau khi nhà lãnh đạo Xô viết N Khrushchev đưa ra một nhượng bộ đáng kể vào đầu tháng 7.1963 là: Liên Xô sẵn sàng kí một thỏa ước cấm chỉ mọi cuộc thử nghiệm hạt nhân ở bất kì nơi nào chúng có thể dễ bị phát hiện − trong khí quyển, ngoài không gian, dưới mặt nước, còn trong lòng đất thì để ngỏ

Các cuộc đàm phán quanh đề nghị này đã diễn ra ở Moskva từ ngày 15 và kết thúc ngày 25.7.1963 Hiệp ước được kí ngay trong ngày hôm đó đã nhận được sự tán đồng của 10 nước Ngày 11.9 đã có 77 chữ kí Ngày 10.10, Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực sau khi được Liên Xô, Mĩ và Anh phê chuẩn Trong tháng 10, Hiệp ước đã nhận được chữ kí đồng tình của 102 nước Pháp và CHND Trung Hoa(22) đã không tham gia vì cả hai đều quyết xây dựng cho mình một lực lượng hạt nhân riêng Đáng phấn khởi là cũng trong tháng 10-1963, Liên Xô, Hoa Kì và Anh đã thỏa thuận, với sự nhất trí của Đại hội đồng LHQ, ngăn cấm đặt vũ khí hạt nhân trên những vệ tinh xoay quanh Trái Đất

Hiệp ước Moskva là bước khởi đầu tốt đẹp cho những cuộc đàm phán giải trừ quân bị tiếp theo sau Tuy nhiên, chúng đã diễn ra với tốc độ chậm chạp không kém lúc trước Mãi đến tháng 8.1967, Liên Xô và Hoa Kì mới đạt được sự đồng ý chung về bản dự thảo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân Sau khi được kì họp XXII của Đại hội đồng LHQ thông qua tháng 6.1968, bản Hiệp ước đã bắt đầu tiếp nhận chữ kí tán đồng của các nước từ ngày 1.7.1968

Theo Hiệp ước, các cường quốc có vũ khí hạt nhân không được chuyển giao cho bất kì nước nào thứ vũ khí này (cả gián tiếp lẫn trực tiếp) Còn những nước không có vũ khí hạt nhân cam kết sẽ không tiếp nhận vũ khí hạt nhân, các phương tiện gây nổ hạt nhân hay quyền kiểm soát chúng (cả gián tiếp lẫn trực tiếp), không sản xuất cũng như không tìm cách thủ đắc chúng Hiệp ước sẽ trao cho những nước không có vũ khí hạt nhân hệ thống kiểm soát hoạt động trong khuôn khổ của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (MAGATE) nhằm mục đích không cho phép thay đổi việc sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân sang ý đồ sản xuất vũ khí hạt nhân

Cần lưu ý thêm rằng trong tiến trình đàm phán, các cường quốc Hoa Kì, Liên Xô và Anh cam kết sẽ đảm bảo an ninh cho những nước tham gia kí Hiệp ước nhằm tránh cho họ khỏi một cuộc tiến công hạt nhân Cam kết này được thông qua bằng một nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ ngày 19.6.1968

(22) Tháng 10.1964, CHND Trung Hoa đã chế tạo được bom A

Trang 28

Tương tự như Hiệp ước Moskva, Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân đã không nhận được chữ kí của Pháp, CHND Trung Hoa và của các nước Pakistan, Israel, CH Nam Phi, Ấn Độ(23) và một số nước Ả rập Biện giải cho sự khước từ của mình, các nước này cho rằng Hiệp ước không góp phần vào sự nghiệp giải trừ quân bị, mà chỉ nhằm mục tiêu cản trở sự gia tăng số lượng các nước có vũ khí hạt nhân Hè năm 1968, tức một năm sau khi Trung Quốc thử quả bom H đầu tiên, nước Pháp cũng tiến hành cuộc thử nghiệm này

c Vấn đề giới hạn vũ khí chiến lược (SALT)

Tuy đánh dấu những cột mốc lớn trong tiến trình giải trừ quân bị, hai văn kiện kể trên chưa tác động đáng kể đến trung tâm của vấn đề kho vũ khí hạt nhân khổng lồ của hai siêu cường Diễn ra trong hơn 20 năm (tính đến cuối thập niên 60), cuộc chạy đua vũ khí đã trở thành một gánh nặng ngày càng trở nên khó kham nổi đối với ngân sách và nền kinh tế của cả hai nước, nhất là khi cả hai đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn cả trong lĩnh vực đối nội lẫn đối ngoại

Lên cầm quyền từ cuối năm 1963, với lời hứa hẹn sẽ chi ra hàng trăm tỉ dollar cho kế hoạch xây dựng một “Xã hội vĩ đại” (Great Society), mà trong đó mọi người dân, cả da trắng lẫn da màu, thuộc tầng lớp thượng lưu hay tầng lớp bình dân đều tìm thấy chỗ đứng của mình, Tổng thống Johnson lại đồng thời đẩy nước Mĩ sa vào “bãi lầy Đông Dương” ngốn đi hàng trăm tỉ dollar tiền thuế của người dân Hậu quả là chẳng những “Xã hội vĩ đại” không xây dựng được, mà uy lực của Hoa Kì trên trường quốc tế cũng bị suy giảm rất nhiều

Khai thác những khó khăn mà người Mĩ đang phải đối mặt ở Đông Dương, giới lãnh đạo Xô viết thời Brejnev (1964−1982) đã theo đuổi đường lối đối ngoại theo hướng từng bước hình thành một chiến lược toàn cầu, mà một trong những nội dung chính là cố gắng đuổi kịp và vượt Mĩ trong cuộc chạy đua vũ trang – cả quy ước lẫn hạt nhân Đến đầu thập niên 70, họ đã đạt được mục tiêu này(24), nhưng cái giá phải trả thật không rẻ chút nào Trong thập niên 60, kinh tế Liên Xô đã tăng trưởng với nhịp độ chậm lại, đời sống của người dân, dù có được cải thiện đáng kể so với trước, vẫn còn bị các nước phương Tây bỏ lại đàng sau ở một khoảng cách khá xa Trong lúc đó, từng được sống trong bầu không khí cải cách của những năm thời Khrushchev, một bộ phận người dân, nhất là trong giới trí thức và lớp trẻ, khao khát được hưởng một cuộc sống đầy đủ hơn về vật chất, phong phú hơn về tinh thần, thoải mái hơn trong các quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do đi lại, như ở những nước phương Tây

Những chi phí quá tốn kém của cuộc chạy đua vũ trang đã trở thành những chướng ngại to lớn cản trở nỗ lực giải quyết những khó khăn về đối nội và đối ngoại mà hai nước phải đương đầu Bên cạnh đó, lôgích của “thế cân bằng bởi nỗi khiếp sợ” đã đẩy hai bên vào một cuộc chạy đua không có đích đến Đến đầu thập niên 70, kho vũ khí hạt nhân của hai nước đã đạt đến những con số đáng kinh hoàng sau: Hoa Kì có 1.054 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM)(25), 656 tên lửa đạo đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM)(26), 540 oanh tạc cơ tầm xa; Liên Xô cũng có một lực lượng không kém bao nhiêu, với các con số tương ứng – 1.200, 200 và 200[1, tr.242]

Trong bối cảnh của sự thay đổi lớn lao trên, người Mĩ nhận thức rằng giờ đây thực rất khó lập lại

ưu thế, mà họ từng nắm trong những năm 50 và đầu thập niên 60 Do vậy, tốt nhất là nên thừa nhận thế cân bằng đã đạt được vào lúc đó Quan điểm này được thể hiện qua chiến lược “chắc chắn huỷ diệt lẫn nhau” mà bộ trưởng Quốc phòng Mĩ R McNamara đã sớm đề ra không lâu trước khi tổng thống J Kennedy bị ám sát chết (11.1963) Về phần mình, Liên Xô từ nửa sau thập niên 60 đồng ý

(23) Tháng 5.1974, Ấn Độ đã thử nghiệm thành công bom A.

(24) Chỉ riêng trong năm 1966, Liên Xô đã đặt 224 ICBM và đến năm 1968 đã vươn đến gần con số 1054 ICBM và đang triển khai một số SLBM

(25) ICBM: Internacontinental Ballistic Missile

(26) SLBM: Submarine Launched Ballistic Missile

Trang 29

xem xét khả năng đàm phán giới hạn vũ khí chiến lược theo nguyên tắc cân bằng

Trong bối cảnh trên, Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân đã tạo đà để hai nước tiến xa hơn Liền sau khi Đại hội đồng LHQ thông qua nghị quyết mời các nước thành viên kí Hiệp ước, ngày 12.6.1968 tổng thống Johnson đã đề nghị mở cuộc đàm phán để chấm dứt việc xây dựng hệ thống tên lửa chống tên lửa Ngày 27.6, ngoại trưởng Liên Xô Gromyko đề nghị hai nước đàm phán về “Hạn chế các hệ thống tên lửa tiến công và phòng thủ” Như vậy, hai bên cuối cùng đã đạt được sự đồng ý về nội dung của tiến trình thương thuyết: kiểm soát một trong những phương tiện mang vũ khí hạt nhân đến mục tiêu

Cũng trong năm 1968, ở Mĩ đã diễn ra cuộc vận động tranh cử tổng thống, mà người thắng cuộc là R Nixon – ứng viên đảng Cộng hòa Trong bài phát biểu có tính chất cương lĩnh đọc tại Đại hội đảng Cộng hòa năm 1968, ông đã đề ra một đường lối mới cho quan hệ Xô-Mĩ, khi tuyên bố rằng

“sau thời đại đối kháng giờ đã đến thời đại đàm phán”[Dẫn lại theo 44, tr.255]

Tuy vậy, vì các vấn đề Việt Nam và Tiệp Khắc, mãi đến ngày 17.11.1969 mới diễn ra các phiên họp sơ bộ giữa hai nước ở Helsinki và phải đợi đến tháng 4.1970, các “cuộc đàm phán về hạn chế vũ khí chiến lược” (Strategic Arms Limitation Talks, được viết tắt là SALT) mới thực sự được bắt đầu

d Hiệp ước SALT-I

Sau hai năm đàm phán, kết quả của SALT đã được chuẩn bị sẵn sàng để kí kết trong chuyến viếng thăm chính thức Liên Xô của tổng thống Hoa Kì R Nixon diễn ra trong tháng 5.1972 Ông và tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô L Brejnev đã kí cả thảy 10 văn kiện chung Trong số đó có ý

nghĩa đặc biệt quan trọng là văn kiện “Các nền tảng cho mối quan hệ song phương giữa Liên Bang

CHXHCN Xô viết và Hợp chủûng quốc Hoa Kì” Văn kiện khẳng định rằng Liên Xô và Hoa Kì “đều

phát xuất từ một niềm tin chung rằng, trong thời đại hạt nhân, nền tảng cho việc duy trì quan hệ giữa hai nước không thể nào khác hơn là chung sống hòa bình”, rằng “những tiền đề cho việc duy trì và tăng cường quan hệ hòa bình giữa Liên Xô và Hoa Kì là thừa nhận mối quan tâm về an ninh của hai bên, mà cơ sở là nguyên tắc bình đẳng và khước từ dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực” Hai nước

cam kết “làm tất cả sức mình để tránh những cuộc đối đầu quân sự và ngăn chặn nguy cơ xuất hiện

chiến tranh hạt nhân”, “tỏ rõ sự kiềm chế trong quan hệ song phương, sẵn sàng tiến hành đàm phán và giải quyết các bất đồng bằng các phương tiện hòa bình” [Dẫn lại theo 19, tr.204 – 205]

Nói một cách vắn tắt, văn kiện trên đã lần đầu tiên công nhận nguyên tắc cân bằng về lực lượng giữa hai siêu cường

Tuy nhiên, trọng tâm trong các cuộc đàm phán giữa R Nixon và L Brejnev chính là Hiệp ước giới hạn hệ thống tên lửa chống tên lửa (ABM) và Thỏa ước tạm thời (có giá trị trong 5 năm) về một số biện pháp trong lĩnh vực giới hạn vũ khí tiến công chiến lược, được gọi chung là các hiệp ước SALT-I Theo đó, mỗi bên được phép có tối đa hai vùng triển khai ABM với 200 tên lửa chống tên lửa Liên Xô được phép có từ 1.408 đến 1.607 ICBM, 62 tàu ngầm nguyên tử, 740 SLBM; các con số tương ứng về phía Mĩ lần lượt là: từ 1.000 đến 1.054 ICBM, 44 tàu ngầm nguyên tử và 656 SLBM Hai nước cam kết ngưng tăng cường kho tên lửa chiến lược đặt ở những căn cứ trên bộ và ngoài biển Như vậy, xét ra số tên lửa Mĩ được phép trang bị là ít hơn so với Liên Xô, nhưng tổng thống Nixon và cố vấn an ninh của ông là H Kissinger hi vọng bù vào sự sút kém vừa kể bằng số lượng máy bay chiến lược B.52, vốn không được tính vào loại vũ khí cần được giới hạn Đó là chưa kể các loại tên lửa tầm ngắn được Mĩ, Anh và Pháp triển khai ở châu Âu Từ đầu thập niên 60, để cân bằng

ưu thế về ICBM mà Liên Xô bắt đầu giành được sau khi phóng thành công các vệ tinh nhân tạo Sputnik, Mĩ đã cho triển khai hàng loạt tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM) Thors và Jupiters trên lãnh thổ Anh, Italia và Thổ Ngoài ra, nếu Liên Xô có nhiều phương tiện phóng tên lửa hơn, Mĩ lại có khả năng phóng cùng một lúc nhiều đầu đạn hơn, vì 700 trong số các tên lửa của Mĩ thuộc loại được

Trang 30

trang bị nhiều đầu đạn hơn nhắm vào những mục tiêu độc lập (MIRV)(27) SALT-I cũng cấm gây trở ngại cho các vệ tinh do thám, phương tiện mà Nixon và Kissinger tin rằng có thể dùng để kiểm tra việc thực hiện cam kết ở phía Liên Xô

Hai bên còn kí Hiệp định về phòng ngừa những biến cố ngoài biển khơi và trên không trung

nhằm tránh những xung đột quân sự bất ngờ Hai nước thỏa thuận lập Ủy ban Xô − Mĩ về các vấn đề

thương mại

e Quan hệ Xô-Mĩ sau SALT-I

Ngày 18.10.1972, tại Washington, theo tinh thần thỏa thuận tại cuộc gặp gỡ thượng đỉnh Moskva, Liên Xô và Mĩ đã kí một loạt hiệp định mậu dịch và kinh tế (về buôn bán, giải quyết nợ trong chiến tranh (Lend-Lease), về vận tải đường biển và cho vay nợ mới) Các văn kiện này đã tạo điều kiện cho nỗ lực đẩy mạnh công cuộc buôn bán giữa hai nước Ngay trong năm 1972, Mĩ đã xuất sang Liên Xô một số trang thiết bị công nghiệp trị giá 1,7 tỉ USD Mĩ còn cung cấp cho Liên Xô một khoản tín dụng lên đến 570 triệu USD để Liên Xô mua lúa mì của Mĩ Hai bên khởi sự nghiên cứu đồ án về khai thác hơi đốt ở Liên Xô và về việc xuất hơi đốt sang Mĩ Công ti Mĩ “Dầu mỏ phương Tây” (Occidental Petroleum) đã kí hiệp định với Liên Xô về hợp tác khai thác và chế biến dầu mỏ, sản xuất phân bón và các hóa chất

Thành công của cuộc gặp gỡ thượng đỉnh Moskva đã đẩy mạnh tiến trình hòa dịu trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu Từ ngày 21.12.1972, đã diễn ra cuộc họp trù bị nhằm soạn thảo chương trình nghị sự về an ninh tập thể ở châu Âu Cuộc họp đã tập trung vào bốn vấn đề: quan hệ chính trị, quan

hệ kinh tế − buôn bán, khoa học kĩ thuật; quan hệ văn hóa và những vấn đề sau hội nghị

Ngày 31.1.1973, cuộc thương lượng về tiến trình giảm quân ở Trung Âu bắt đầu diễn ra ở Vienna

Một biến cố khác tạo thuận lợi cho việc đẩy mạnh tiến trình hòa dịu trong quan hệ Xô − Mĩ là

việc kí Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương ngày 27.1.1973

Trong bối cảnh trên, từ ngày 18 đến ngày 26.6.1973, tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên Xô L Brejnev đã thực hiện một chuyến công du sang Mĩ Chiếm vị trí trung tâm trong các văn kiện ngoại giao được kí kết nhân dịp này là Hiệp định ngăn ngừa chiến tranh hạt nhân Theo đó, nhằm mục đích loại trừ mọi khả năng có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa hai nước, hay giữa một bên

kí kết với những quốc gia khác, Liên Xô và Mĩ cam kết tránh việc đe dọa dùng vũ lực hay sử dụng vũ lực trong những tình huống có thể đe dọa nền hòa bình hay an ninh thế giới Hiệp định còn nêu rõ rằng trong tình huống xuất hiện nguy cơ xung đột hạt nhân, Liên Xô và Mĩ phải lập tức trao đổi ý kiến và quyết tâm cùng nhau xóa bỏ nguy cơ Văn kiện cũng đề cập đến việc bảo vệ hòa bình và ngăn ngừa chiến tranh hạt nhân và ngăn ngừa mọi khả năng dẫn tới chiến tranh hạt nhân, như xung đột quốc tế, âm mưu sử dụng sức mạnh và việc sử dụng sức mạnh

Ngày 21.6, hai bên còn kí Văn kiện “Những nguyên tắc cơ bản của cuộc đàm phán về việc tiếp

tục hạn chế những vũ khí tiến công chiến lược” quy định rằng năm 1974, hai nước sẽ kí hiệp định mới

vô thời hạn về SALT Được sử dụng như là chỉ thị cho các thành viên hai nước tham gia cuộc đàm phán về giải trừ quân bị ở Geneva, văn kiện nói rõ rằng việc hạn chế liên quan đến không chỉ khía cạnh số lượng, mà cả mặt chất lượng nữa Văn kiện đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc đảm bảo an ninh đồng đều cho mỗi bên

Để góp phần ổn định quan hệ Xô − Mĩ, một số biện pháp cụ thể đã được thông qua nhằm tạo cơ

sở vững chắc cho quan hệ kinh tế giữa hai nước Kim ngạch buôn bán được xác định sẽ tăng từ 2 đến

(27) Đó là chữ viết tắt của Multiple Independently Targeted Re-entry Vehicles, tạm dịch là tên lửa mang nhiều đầu đạn hạt nhân được điều khiển nhằm vào những mục tiêu khác nhau ở khoảng cách vài trăm km Như vậy, một tên lửa loại này xét ra có thể tương đương với nhiều tên lửa ICBM

Trang 31

3 tỉ USD trong vòng ba năm tới

Việc cung cấp hơi đốt Sibir cho Hoa Kì và một số đồ án khác cũng đã được đề cập Hai bên đã kí thêm nghị định thư về mở rộng đường hàng không giữa Mĩ và Liên Xô, về khoa học-kĩ thuật, về hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, vận tải, nghiên cứu đại dương

Chuyến viếng thăm Mĩ của L Brejnev đã tạo thêm cơ sở cho tiến trình xây dựng một nền hòa bình vững chắc và lâu dài trên lục địa châu Âu Vào tháng 6, sau 5 tháng đàm phán sơ bộ tại Vienna, các nước NATO và các nước Hiệp ước Varsava đã thỏa thuận với nhau là từ ngày 30.10, hai bên sẽ bắt đầu các cuộc đàm phán tại Vienna về việc cắt giảm lực lượng vũ trang và vũ khí quy ước tại Trung Âu Từ ngày 2 đến ngày 7.6.1973, giai đoạn đầu của Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu đã diễn ra ở Helsinki (Phần Lan)

Trong các năm 1973 – 1974, mặc dù đã xảy ra một số biến cố có ảnh hưởng không tốt đến quan hệ giữa Mĩ và Liên Xô, như việc Liên Xô giới hạn số người gốc Do Thái di cư sang Israel, cuộc đảo chính tháng 9.1973 ở Chile, chiến tranh Trung Đông lần thứ 4 (tháng 10.1973), nội chiến ở Angola, học thuyết “Ba thế giới” của Bắc Kinh (tháng 4.1974), quan hệ giữa hai nước vẫn tiếp tục diễn ra theo chiều hướng hòa dịu

f Đàm phán về SALT-II

Từ ngày 27.6 đến ngày 3.7.1974, R Nixon đã thực hiện chuyến công du thứ hai sang Liên Xô Hai bên đã đạt được những thỏa thuận liên quan đến:

- Nghị định thư bổ sung cho Hiệp ước về hạn chế hệ thống ABM, theo đó hai bên giảm từ hai xuống còn một vùng triển khai ABM với số tên lửa tương ứng cho một vùng, là 100

- SALT-II sẽ được kí trước khi Thỏa ước tạm thời hết hạn vào ngày 5.10.1977

- Hiệp định về việc hạn chế các cuộc thử hạt nhân trong lòng đất và Nghị định thư quy định các cuộc thử đó không được quá 150 kilôtôn

- Một số vấn đề còn sót lại liên quan đến các loại máy bay chiến lược và tên lửa tầm trung Cruise của Mĩ và loại máy bay Backfire của Liên Xô

Không lâu sau chuyến viếng thăm Liên Xô, R Nixon bị buộc phải từ chức tổng thống (ngày 9.8.1974) Người thay ông là G Ford Lúc này trong nội tình Mĩ xuất hiện nhiều vấn đề gây tác động không lợi đến hoạt động của bộ máy đối ngoại nước này Ngay sau khi lên cầm quyền, tân tổng thống Hoa Kì đã dàn xếp một cuộc gặp gỡ với L Brejnev sẽ diễn ra ở Vladivostok trong các ngày 23 và 24.11.1974

Hai bên khẳng định quyết tâm kí hiệp ước lâu dài về vấn đề hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (tức SALT-II) dựa trên nguyên tắc bình đẳng và an ninh đồng đều và thỏa thuận hoàn tất việc soạn thảo nó trong thời hạn ngắn nhất G Ford và H Kissinger (lúc này đã là bộ trưởng Ngoại giao) tìm cách hướng trọng tâm của SALT-II vào cuộc chạy đua MIRV vừa nguy hiểm, vừa tốn kém, mà SALT-I chưa đề cập Hoa Kì đề nghị một sự cân bằng nghiêm ngặt đối với cả các phương tiện đưa vũ khí hạt nhân đến mục tiêu lẫn tổng khối chất nổ, mà mỗi bên được phép có Đề nghị này có nghĩa là Hoa Kì sẽ được phép có nhiều MIRV hơn để bù vào ưu thế về số lượng các loại tên lửa mà Liên Xô đang có cũng như trọng lượng của các đầu đạn mà các tên lửa đó mang theo

Sau một ngày đàm phán, Liên Xô đã đồng ý với một nhượng bộ là sẽ không tính gộp chung các phương tiện hạt nhân ở vị trí tiền tiêu của Mĩ, Anh và cả Pháp Đáp lại, Mĩ rút lại yêu cầu Liên Xô hạn chế tên lửa vượt đại châu hạng nặng, kể cả số lượng đầu đạn tự tách đặt trên các tên lửa đó Vì trên các tên lửa hạng nặng của Liên Xô có thể bố trí được nhiều đầu đạn tự tách hơn các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa của Mĩ có vào lúc đó, cho nên nhượng bộ của Liên Xô đã được bù đắp Bù lại, G Ford và L Brejnev đã kí một Thỏa ước tạm thời quy định mỗi bên chỉ được phép có tối đa 2.400 phương tiện mang vũ khí hạt nhân đến mục tiêu, trong đó 1.230 có thể là MIRV Để bù vào ưu thế của Liên Xô về khả năng mang vác của tên lửa, Mĩ được phép có 525 phi cơ chiến lược, so với 160 của Liên Xô Như vậy là đã khắc phục được thiếu sót cơ bản của Hiệp ước SALT-I liên quan đến sự

Trang 32

chênh lệch về số lượng của các phương tiện mang vũ khí hạt nhân Cuộc đàm phán còn diễn ra xoay quanh nhiều vấn đề thời sự và quan hệ thương mại giữa hai nước

Nỗ lực duy trì và tăng cường xu thế hòa dịu trong quan hệ song phương của giới lãnh đạo Liên Xô và Hoa Kì đã tác động tích cực đến tiến trình cải thiện chung trong quan hệ quốc tế ở châu Âu, trước hết đến Hội nghị về An ninh và Hợp tác châu Âu

8 Hội nghị về An ninh và Hợp tác châu Âu ở Helsinki (từ 30.7 đến 1.8.1975)

a Hoàn cảnh

Một trong những hậu quả đáng buồn của Chiến tranh lạnh đối với châu Âu là kể từ cuối thập niên 40, châu lục này bị phân cách thành hai lực lượng đối kháng về mọi mặt - Tây Âu và Đông Âu Biểu tượng của tình trạng chia cắt này là sự tồn tại của hai chủ thuyết ngoại giao Truman và Zhdanov xung khắc nhau của nước Đức riêng biệt − Đông Đức và Tây Đức, và của hai tổ chức quân sự đối đầu nhau − NATO và Varsava Hiểu rằng đây là một hậu quả rất nặng nề về mặt lịch sử, không một chính khách châu Âu nào − dù là Đông hay Tây − chịu thừa nhận tính hợp pháp của tình trạng chia cắt này cả

Tuy nhiên, những diễn biến thực tế đã buộc họ phải thay đổi dần cách tiếp cận vấn đề theo hướng bằng lòng với hiện trạng sẵn có Trong chuyện này đi đầu là Liên Xô Ngay tại cuộc họp cấp cao diễn ra trong tháng 2.1954 ở Berlin, bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Molotov đã đề nghị họp “Hội nghị An ninh về châu Âu”, nhưng đề nghị của Liên Xô lại hàm ý chấp nhận nguyên trạng ở châu Âu và loại trừ vai trò của Hoa Kì, chỗ dựa chính của các nước Tây Âu trong lĩnh vực an ninh

Bẵng đi một thời gian dài, đến tháng 7.1966 tại cuộc họp của khối ở Bucharest, các nước Varsava đã đưa ra đề nghị triệu tập một hội nghị về an ninh và hợp tác châu Âu, cũng với những hàm ý tương tự

Chưa sẵn sàng đón nhận những điều kiện trên, các nước Tây Âu đã cự tuyệt những sáng kiến của Liên Xô và của các nước thành viên Varsava khác

Mãi đến cuối thập niên 60, khi quan hệ giữa Liên Xô và Hoa Kì bắt đầu diễn biến theo chiều hướng được cải thiện dần, còn bản thân giới cầm quyền Tây Đức đã thay “chủ thuyết Hallstein” bằng chính sách “Ostpolitik”, các nước Tây Âu mới bắt đầu có một phản ứng tích cực hơn đối với đề nghị triệu tập hội nghị toàn châu Âu do các nước khối Varsava đưa ra tại cuộc họp của khối diễn ra trong các ngày 30 và 31.10.1969 ở Praha

Thông qua các cuộc họp của Hội đồng NATO, các nước Tây Âu đã lần lượt nêu lên các điều kiện tiên quyết cho việc triệu tập một hội nghị như trên: có sự tham gia của Hoa Kì và Canada, giải quyết vấn đề Tây Berlin, đàm phán về giảm vũ khí quy ước Họ còn đòi đưa vào chương trình nghị sự các vấn đề liên quan đến tự do cá nhân, tự do đi lại và tự do tư tưởng của con người

Tất nhiên, việc triệu tập một hội nghị toàn châu Âu về an ninh và hợp tác được hai phe tiếp nhận không phải là không có hậu ý Các nước phương Tây hi vọng rằng qua nỗ lực tăng cường các quan hệ thương mại và văn hóa với Đông Âu và Liên Xô, họ sẽ tác động đến trào lưu tự do hóa ở phần lãnh thổ này của châu Âu Còn Liên Xô xem sự đồng ý về nguyên tắc của các nước phương Tây liên quan đến việc triệu tập hội nghị như một thắng lợi lớn về ngoại giao, vì Moskva hi vọng sẽ nhận được sự thừa nhận của các nước này về các đường biên giới đã được thiết lập trong thực tế hồi năm 1945 (kể cả đường Oder - Neisse giữa Đức và Ba Lan), qua đó củng cố nguyên trạng trong khối Đông Âu và đảm bảo biên giới phía tây của mình trong trường hợp có chiến tranh với Trung Quốc Hội nghị Helsinki còn là cơ hội để Liên Xô tăng cường quan hệ thương mại với phương Tây

b Hội nghị Helsinki (7.1973 – 7.1975)

Sau khi các điều kiện của phương Tây lần lượt được thỏa mãn, Hội nghị đã được triệu tập tại Helsinki từ tháng 7-1973, không lâu sau khi một hội nghị về tài giảm vũ khí quy ước ở châu Âu bắt đầu diễn ra ở Vienna từ tháng 1, với sự tham gia của đại diện 35 quốc gia, gồm Hoa Kì, Canada và

Trang 33

tất cả các nước châu Âu (trừ Albania khước từ không tham dự) Hội nghị đã diễn ra qua ba giai đoạn Giai đoạn một kéo dài từ ngày 3 đến ngày 7.7.1973 ở cấp bộ trưởng Ngoại giao nhằm mục tiêu trao đổi ý kiến về toàn bộ chương trình nghị sự của Hội nghị Giai đoạn hai kéo dài lâu nhất, từ ngày 18.9.1973 đến ngày 21.7.1975 ở Geneva có mục tiêu là chuẩn bị bản dự thảo các văn kiện sẽ được công bố ở giai đoạn cấp cao Ba ủy ban được thành lập : Ủy ban I (an ninh), Ủy ban II (các vấn đề kinh tế) và Ủy ban III (xem xét lĩnh vực nhân quyền và những lĩnh vực khác) Mọi nghị quyết đều được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận (consensus) Giai đoạn thứ ba mang tính chung cuộc diễn

ra trong các ngày từ 30.7 đến 1.8.1975 ở Helsinki với sự tham gia của những người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ của 35 quốc gia Văn kiện chính được thông qua ở Hội nghị là “Định ước chung cuộc” nêu ra các nguyên tắc mà những quốc gia tham dự sẽ tuân thủ trong quan hệ với nhau Nội dung của Định ước gồm bốn phần: quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ văn hóa và giao lưu tư tưởng, các bước sau Hội nghị

Về chính trị: có 10 nguyên tắc:

- Bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng các quyền gắn liền với chủ quyền, như được tự lựa chọn và

phát triển hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa cũng như quyền lập pháp và quyết định các quy chế hành chính

- Không dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực, trừ trường hợp chống lại hành động xâm lược hay

chế độ bạo quyền quốc tế

- Tính bất khả xâm phạm của đường biên giới Các nước tham gia Hội nghị xem là bất khả xâm

phạm tất cả đường biên giới của nhau, cũng như của tất cả các quốc gia châu Âu Do vậy, cả trong hiện tại và trong tương lai, tránh đưa ra mọi yêu sách đối với các đường biên giới này Không được đòi hỏi hay có những hành động nhằm chiếm đoạt một phần hay toàn bộ lãnh thổ của bất kì nước nào tham gia Hội nghị Có thể thay đổi biên giới, nhưng phải theo công pháp quốc tế và được tiến hành bằng con đường hòa bình và dựa trên sự thỏa thuận

- Toàn vẹn lãnh thổ Các nước tránh bất kì hành động nào nhằm chia cắt một phần hay toàn bộ sự

nguyên vẹn về lãnh thổ, sự thống nhất về chính trị của các nước độc lập, có chủ quyền, cũng như mọi hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp dùng áp lực hoặc kích động nhằm làm suy yếu hoặc phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất về chính trị của các nước tham gia Hội nghị

- Giải quyết các tranh chấp bằng con đường hòa bình Các nước tự chọn lấy phương pháp, sao

cho không đe dọa đến hòa bình thế giới, an ninh và công lí

- Không can thiệp vào công việc nội bộ Các nước tham gia Hội nghị tránh bất kì sự can thiệp

nào, trực tiếp hay gián tiếp, riêng lẻ hay tập thể, vào công việc đối nội hay đối ngoại thuộc thẩm quyền đối nội của một quốc gia khác tham dự Hội nghị

- Tôn trọng nhân quyền hay những quyền tự do cơ bản khác, gồm cả quyền tự do tư tưởng, lương

tâm, tôn giáo và tín ngưỡng Các nước tham gia Hội nghị thừa nhận ý nghĩa phổ biến của quyền con

người và các quyền tự do cơ bản; trong lĩnh vực này, các quốc gia sẽ hành xử theo cách phù hợp với quy chế LHQ và Bản tuyên bố chung về quyền con người

- Bình đẳng về quyền của các dân tộc tự quyết định vận mệnh của mình, mà không chịu sự can

thiệp từ bên ngoài Các dân tộc sẽ phát triển về mặt chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa theo quan điểm riêng của mình

- Hợp tác giữa các nước

- Tự giác thực hiện các cam kết theo công pháp quốc tế

Về kinh tế: mở rộng sự hợp tác giữa các nước tham gia Hội nghị về kinh tế, khoa học, kĩ thuật và cả về môi trường sống Các nước cam kết giảm hoặc dần dần loại bỏ những trở ngại trên con đường phát triển mậu dịch

Về văn hóa và giao lưu tư tưởng: Định ước cuối cùng xác định phương hướng và những hình thức

Trang 34

cộng tác cụ thể trong lĩnh vực liên lạc giữa các dân tộc, lĩnh vực thông tin, văn hóa và giáo dục Văn bản cũng nhấn mạnh đến yêu cầu tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cơ bản khác

Về những bước sau Hội nghị: vì những thỏa thuận ở Helsinki không mang tính cưỡng bức (Định ước cuối cùng không phải là hiệp ước), các nước tham gia Hội nghị thỏa thuận rằng năm 1977 sẽ tổ chức Hội nghị đại biểu cấp bộ trưởng Ngoại giao nhằm kiểm điểm việc thực thi những quyết định của Hội nghị Cuộc gặp gỡ lần đầu sẽ diễn ra ở Belgrade(28)

Vậy là sau gần 30 năm bị chia cắt, hai phần châu Âu đã lần đầu tiên đạt được một thỏa thuận chung về những vấn đề nóng bỏng nhất từng chia rẽ các nước của châu lục này Vấn đề đặt ra ở đây là liệu tiến trình xích lại gần nhau này có diễn ra liên tục và lâu dài không?

10 Quan hệ Xô-Mĩ dưới thời tổng thống Mĩ J.Carter (1977 - 1981)

Tất cả các nước phương Tây đang sa vào một cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính nghiêm trọng nhất từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Kỉ nguyên “ba mươi năm vinh quang” kết thúc và nhường chỗ cho giai đoạn phát triển đầy khó khăn với bao nhiêu vấn đề phát sinh: giá nguyên, nhiên liệu tăng vọt, nạn thất nghiệp lan tràn, suy thoái kinh tế diễn ra song song với lạm phát để tạo thành cuộc khủng hoảng kép Các nước phương Tây buộc phải tiến hành một cuộc cải tổ mang tính cách mạng: cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế nước mình với những khoản đầu tư và chi phí khổng lồ Trong lúc chờ đợi thành quả của cuộc cải cách này, người dân phương Tây đã phải vật lộn khá vất vả với cuộc sống hàng ngày

Trong lúc đó, tình hình ở hệ thống xã hội chủ nghĩa dường như diễn ra khác hẳn: thắng lợi của cách mạng Việt Nam và các nước Đông Dương mở màn cho thời kì phát triển mạnh mẽ nhất của hệ thống này kể từ thập niên 50 Nhiều nước thuộc thế giới thứ ba sau khi hoàn thành xong cuộc cách mạng dân tộc (hoặc dân chủ, hoặc cả hai cùng lúc) đã tuyên bố đi theo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa - Ethiopia, Angola, Mozambique, Nam Yemen, Nicaragua, Afghanistan Không còn kiêng dè sự can thiệp của người Mĩ, giới lãnh đạo các nước này rất sẵn sàng tiếp nhận sự giúp đỡ cả về vật chất lẫn nhân lực từ Liên Xô và các nước đồng minh xã hội chủ nghĩa

Chính trong bối cảnh trên, nước Mĩ đã thay đổi người lãnh đạo đảng Cộng hòa, sau 8 năm cầm quyền với một đường lối đối ngoại thực tiễn (realpolitik), mà hiện thân là Henry Kissinger, cố vấn an ninh và bộ trưởng Ngoại giao, đã nhường chỗ cho đảng Dân chủ với tân tổng thống Jimmy Carter là một người có đường lối đối ngoại mang nặng tính lí tưởng

b Quan điểm đối ngoại của Carter

Chỉ trích các vị tiền nhiệm R Nixon và G Ford rằng đã can thiệp quá mức và không để ý đến tính đạo đức trong đường lối chống Cộng của mình, Carter cho rằng Việt Nam đã dạy người Mĩ rằng

“chúng ta không thể và sẽ không tìm cách can thiệp quân sự vào công việc nội bộ của những quốc gia

khác, trừ phi chính đất nước chúng ta bị đe dọa” Có nghĩa là Mĩ không nên can dự vào Chile, nếu

đơn giản chỉ vì Chính phủ Chile chuyển theo xu hướng tả khuynh Chỉ nên can thiệp khi nào quyền lợi thiết thân của Hoa Kì bị trực tiếp đe dọa bởi sự hiện diện đích thực của Liên Xô [7, tr.468] Với

(28) Về sau, còn có những hội nghị khác như Madrid (1980 − 1983), Vienna (1987)

Trang 35

sự hỗ trợ của bộ trưởng ngoại giao Cyrus Vance và cố vấn an ninh Zbigniew Brzezinski, tân tổng thống Carter đã đưa chủ nghĩa đạo đức truyền thống vào nền ngoại giao Hoa Kì Ông chủ trương từ

bỏ mọi chính sách bá quyền, gọi nhân quyền là “linh hồn trong chính sách đối ngoại của chúng ta”

và biến nó thành hòn đá tảng trong quan hệ giữa Mĩ và các nước khác, giảm căng thẳng với Liên Xô và Trung Quốc, đấu tranh chống nghèo đói ở thế giới kém phát triển, chủ trương hợp tác quốc tế [12, tr.652]

Như vậy, khác với những người tiền nhiệm, J Carter không coi chủ nghĩa cộng sản là kẻ thù chính; ông thường nhắc lại rằng người Mĩ đã tỏ ra quá sợ cộng sản, trong lúc lại ít chú tâm đến hiểm họa lớn hơn là chạy đua vũ trang và ủng hộ quá nhiều các chế độ đàn áp hữu khuynh trên khắp thế giới Trong bài diễn văn nhậm chức của mình, J Carter nói rằng mục tiêu tối hậu của ông là xóa bỏ vũ khí hạt nhân Ông muốn bắt tay ngay vào tiến trình tài giảm vũ khí và giảm thiểu công việc buôn bán vũ khí của Mĩ ở nước ngoài [1, tr.293]

Mục tiêu tối hậu trên chỉ có thể tìm thấy trong việc kí kết một hiệp ước SALT mới với Liên Xô, nước có lực lượng hạt nhân ngang hàng với Mĩ Giống như J Carter, bộ trưởng ngoại giao Cyrus Vance là một người mạnh mẽ ủng hộ tiến trình hòa dịu và chủ trương một chính sách mang tính ôn hòa hơn với Liên Xô J Carter và Vance tin rằng đã đến lúc xác lập lại một mối quan hệ mới giữa hai nước nhằm giải phóng Mĩ khỏi “mối lo sợ quá mức” đối với chủ nghĩa cộng sản

Nhưng “thời kì lí tưởng” trong chính sách đối ngoại của Chính phủ J Carter không kéo dài lâu Chính sách “bảo vệ nhân quyền” đã làm suy yếu mối quan hệ giữa Hoa Kì và các nước Đồng minh thân cận lâu nay của Mĩ (Nam Triều Tiên, Cộng hòa Nam Phi ), bị Chính phủ Liên Xô và các nước Đông Âu tiếp nhận như là âm mưu can thiệp của chủ nghĩa đế quốc vào nội tình các nước này Trong nước, chính sách này bị các chính khách hữu khuynh chỉ trích dữ dội

Ngoài ra, cách tiếp cận mới của Washington đối với Liên Xô còn sớm bị thử thách ngay trong lĩnh vực nhạy cảm nhất trong tương quan lực lượng giữa hai nước − vũ khí hạt nhân và phương tiện mang chúng đến mục tiêu

c Cuộc chạy đua vũ khí mới giữa Hoa Kì và Liên Xô

Các Hiệp ước SALT-I chỉ quy định số lượng tối đa các loại tên lửa vượt đại châu, mà mỗi bên kí kết được phép có, trong lúc chẳng đề cập gì đến các loại tên lửa tầm trung và tầm ngắn(29) Ngoài ra,

H Kissinger, người chỉ đạo chiến lược thương thuyết của phía Mĩ đã phớt lờ ý kiến của các chuyên gia vũ khí khi ông không chịu đưa loại tên lửa MIRV vào danh mục cần hạn chế, vì vào đầu những năm 70, Mĩ đang có 700 MIRV, trong lúc về phía Liên Xô con số này không đáng kể Như vậy, theo SALT-I, Liên Xô được phép có nhiều tên lửa ICBM hơn, nhưng trong cùng một khoảng thời gian tổng số đầu đạn hạt nhân mà nước này có thể đưa đến các mục tiêu lại kém hơn so với khả năng của Hoa Kì

Điều mà Nixon và Kissinger cho là ưu thế của Hoa Kì hóa ra kéo dài không lâu Khả năng của Liên Xô trong việc triển khai loại tên lửa MIRV vượt xa tính toán của các nhà lãnh đạo Mĩ Không đầy 5 năm sau SALT-I, Liên Xô đã thay 308 tên lửa khổng lồ SS-9 của họ bằng loại tên lửa SS-18 tương đương về tầm xa, nhưng lại mang số đầu đạn gấp 10 lần, còn những tên lửa nhỏ hơn được thay bằng SS-19 mang 6 đầu đạn Do khả năng mang đầu đạn của những tên lửa này lớn hơn các tên lửa Minuteman và Polaris cùng loại của Hoa Kì, Liên Xô xét ra có khả năng phóng một số lượng đầu đạn vừa nhiều hơn, vừa có sức huỷ diệt lớn hơn của Hoa Kì Cùng lúc đó, Liên Xô cũng hoàn tất một loại máy bay ném bom cực kì hiện đại được người Mĩ đặt tên là “Backfire” Ngoài ra, từ năm 1976,

(29) Với tầm bắn vượt quá 5.500km, tên lửa vượt đại châu (hay xuyên lục địa) có thể được phóng từ lãnh thổ siêu cường này vào lãnh thổ siêu cường còn lại, do đó cần được gọi là tên lửa chiến lược Tên lửa tầm trung (INF) có tầm hoạt động trong khoảng 5500km đến 500km, phần lớn số này được đặt ở châu Âu INF được phân thành hai loại: tên lửa tầm trung có tầm hoạt động dài (LRINF) có tầm bắn từ 1000 đến 5500km và tên lửa có tầm hoạt động ngắn (SRINF) có tầm bắn từ 500 đến 1000km

Trang 36

Liên Xô bắt đầu kín đáo thực hiện kế hoạch triển khai 345 tên lửa SS-20 tầm trung, vốn không được đề cập đến trong SALT-I, trên phần lãnh thổ các nước Đông Âu thuộc khối Varsava [43, tr.174] Cũng trong thời gian đó, người Mĩ không khoanh tay ngồi yên Họ đã hoàn tất tên lửa có cánh

“Cruise” có độ chính xác cao và đang chuẩn bị kế hoạch chế tạo tên lửa tầm trung Pershing 2(30) và máy bay ném bom chiến lược siêu hiện đại B-1

Thỏa ước Vladivostok (1974) là một nỗ lực không thành công của Chính phủ Hoa Kì nhằm lập lại thế quân bình tuy chông chênh, nhưng đã tỏ ra bất lợi cho họ, vì rõ ràng là trong nửa sau thập niên

70, Liên Xô đã giành được ưu thế, tuy không lớn lắm, trong cán cân so sánh lực lượng hạt nhân với Hoa Kì

Sáng kiến đầu tiên của J.Carter trong lĩnh vực kiểm soát vũ khí đầy gai góc là một thất bại gây nhiều bối rối Thay vì chọn một giải pháp tài giảm từng bước một, theo như đề nghị của bộ trưởng ngoại giao Cyrus Vance, J Carter đã làm giới lãnh đạo Xô viết sửng sốt bằng một đề nghị cắt giảm ngay lập tức khoảng 25% số tên lửa chiến lược của Hoa Kì và Liên Xô, và đình chỉ kế hoạch chế tạo các tên lửa tầm xa thế hệ mới Theo đó, hai nước sẽ chỉ được có dưới 2.000 tên lửa chiến lược, thay

vì 2.400 (như quy định của Thỏa ước tạm thời Vladivostok) Sáng kiến đòi hỏi phần lớn khoản cắt giảm của phía Liên Xô sẽ nằm trong số các loại tên lửa MIRV đặt trên đất liền Bù lại, phía Mĩ sẽ từ bỏ ý định triển khai loại tên lửa ICBM thế hệ mới (được gọi là MX)(31) vừa chính xác, vừa mang nhiều đầu đạn hơn - 10, vừa đủ sức phá tan cả kho chứa vũ khí hạt nhân Cyrus Vance cũng đề nghị thảo luận về oanh tạc cơ Backfire của Liên Xô và tên lửa có cánh Cruise của Hoa Kì, vốn là những vấn đề từng gây khó khăn cho SALT-II Liên Xô có thể chế tạo Backfire với điều kiện sẽ hạn chế tầm hoạt động của chúng sao cho chúng không thể được dùng làm oanh tạc cơ chiến lược chống Hoa

Kì Nhưng giới hạn này không cản trở việc sử dụng Backfire nhằm vào châu Âu Được đưa ra giữa lúc Liên Xô đang triển khai tên lửa tầm trung SS-20 có thể được bắn tới Tây Âu, đề nghị của Hoa Kì rõ ràng cho phép Mĩ triển khai tên lửa có cánh với tầm hoạt động đủ bắn tới lãnh thổ Liên Xô từ Tây Đức

Bị đánh giá là một mưu toan phủ nhận Thỏa ước tạm thời Vladivostok, sáng kiến của J Carter bị

L Brejnev bác bỏ ngay lập tức Nó còn bị bộ trưởng ngoại giao A Gromyko gọi là “một thủ thuật rẻ

tiền và ám muội” Những nhà lãnh đạo Liên Xô lập luận rằng ưu thế của họ về tên lửa hạng nặng là

để cân bằng với hệ thống căn cứ tiền tiêu, mà Hoa Kì đã thiết lập ở châu Âu và không bị SALT hạn chế Họ nói rằng thật là bất công khi lãnh thổ Liên Xô có thể bị xâm phạm từ hệ thống căn cứ này và bởi những tên lửa có cánh Cruise, trong lúc Backfire và SS-20 không thể vói tới lãnh thổ Hoa Kì Họ lập luận rằng bất kì loại vũ khí nào có thể tấn công thẳng vào lãnh thổ của một trong các siêu cường đều phải được xếp vào loại chiến lược, và do đó phải bị Hiệp ước hạn chế, còn những loại vũ khí mà tầm hoạt động chỉ vươn tới châu Âu, như Backfire (căn cứ vào đề nghị của Mĩ) và SS-20, đều là chiến thuật và do đó được miễn trừ Các nhà lãnh đạo Xô viết nhấn mạnh rằng SALT-II đã được chuẩn bị xong và cần được kí ngay, trước khi khởi sự những cuộc đàm phán mới

Những diễn biến trên đặt Chính quyền Carter trước một lựa chọn hết sức khó khăn: nên hay không nên lao vào một cuộc chạy đua vũ trang mới với Liên Xô? Sau hơn một năm ngập ngừng, cuối cùng tại phiên họp của Hội đồng NATO diễn ra tháng 5.1978 ở Washington, các nước thành viên đã quyết định tăng dần ngân sách quân sự của mình cho đến cuối thế kỉ XX Tháng 10 cùng năm, Nhà Trắng thông báo quyết định khởi sự chế tạo những thành phần cơ bản của bom neutron (N), không

(30) SS-20 của Liên Xô và Pershing 2 của Mĩ đều là các loại tên lửa tầm trung, vừa mang nhiều đầu đạn, vừa có độ chính xác cao (không chệch mục tiêu quá 250m) Do vậy, việc nắm giữ các loại tên lửa tầm trung này sẽ giúp nâng cao đáng kể lực lượng hạt nhân của hai siêu cường

(31) MX là tên lửa thuộc loại MIRV mang 10 đầu đạn hạt nhân vừa có độ chính xác cao (khoảng cách chệch mục tiêu từ 100 đến 200m), vừa khó bị vệ tinh đối phương phát hiện vì được đặt trên các xe tải chuyên dụng nên dễ dàng dịch chuyển

Trang 37

lâu sau đã trì hoãn nó hồi tháng 4 Nhưng bên cạnh đó, J Carter quyết định vẫn duy trì cuộc đàm phán về SALT-II với Liên Xô, dù công việc này đã tỏ ra ngày càng khó khăn ngay từ năm 1977 Thực vậy, Moskva và Washington gia hạn Hiệp ước SALT-I vốn đã hết hạn từ ngày 3.10.1977 và đạt được một hiệp định từ bỏ thí nghiệm hạt nhân trong lòng đất, đơn giản chỉ vì nó không còn cần thiết nữa đối với hai siêu cường

Cuối cùng, cuộc đàm phán về SALT-II vẫn đạt được mục tiêu đề ra, sau khi đã vượt qua rất nhiều khó khăn, như cuộc tranh cãi giữa Liên Xô và các nước phương Tây quanh vấn đề nhân quyền, chính sách gắn liền quan hệ mậu dịch Mĩ-Xô với quyền tự do di cư của người Xô viết gốc Do Thái Ngày 18.06.1979, tại cuộc gặp gỡ thượng đỉnh ở Vienna, L Brejnev và J Carter đã kí vào Hiệp ước SALT-II

d Hiệp ước SALT-II

Cũng giống như trường hợp của SALT-I, Hiệp ước này không nhằm vào mục tiêu giải trừ vũ khí, mà chỉ xác định giới hạn tối đa con số và chủng loại vũ khí hạt nhân và phương tiện mang chúng mà hai nước được phép chế tạo Thậm chí nó không đề cập đến các loại tên lửa Pershing 2, phi cơ ném bom Backfire hoặc ngay cả MIRV Tóm lại, SALT-II tỏ ra lạc hậu so với trình độ kĩ thuật đương thời Theo Hiệp ước, hai bên sẽ giảm con số tối đa các phương tiện phóng đủ kiểu từ 2.400 xuống còn 2.250 Liên Xô đồng ý giảm số đầu đạn gắn vào các tên lửa hạng nặng của họ, trong lúc Mĩ đặt ra giới hạn cho tầm hoạt động và số tên lửa có cánh mà nước này định triển khai Vào thời đó, lực lượng hai bên gần như tương đương: Hoa Kì có 1.054 ICBM (trong số này 550 là MIRV), trong lúc Liên Xô có 1.398 ICBM (trong đó 57 là MIRV) Hoa Kì có 656 SLBM, trong số này 496 là MIRV; các con số tương ứng về phía Liên Xô là 950 và 128 Ngoài ra, Hoa Kì có 574 máy bay ném bom hạng nặng có thể chở đầu đạn hạt nhân, trong lúc Liên Xô chỉ có 156 Do cả hai được tự do chế tạo bao nhiêu đầu đạn hạt nhân tùy thích, và được biến tất cả các phương tiện phóng của mình thành MIRV, SALT-II trong thực tế không hề đặt ra một giới hạn nào cho cuộc chạy đua vũ trang Bên cạnh đó, Hiệp ước không đề cập gì đến các tên lửa hạt nhân tầm trung ở châu Âu Chính sự bỏ sót này chẳng lâu sau đó đã dẫn đến sự xung đột giữa NATO và Liên Xô quanh vấn đề được gọi là “tên lửa châu Âu”

Ra đời giữa lúc quan hệ Đông-Tây đang xấu đi với nhịp độ mau chóng và trong bối cảnh có vẻ như Liên Xô đang mở cuộc tiến công Mĩ ở nhiều nơi, nhất là châu Phi (Angola, Mozambique, Namibia, Ethiopia ), châu Mĩ (Nicaragua), SALT-II bị Quốc hội Hoa Kì, đặc biệt là Thượng viện, chỉ trích gay gắt, vì theo lời các nhà lập pháp Mĩ, nó đã cho phép Moskva tiếp tục duy trì điều mà họ gọi là ưu thế chiến lược của Liên Xô và thậm chí được tăng lên Họ cho rằng số tên lửa MIRV của Liên Xô hiện đủ sức phá tan 90% số căn cứ ICBM Minuteman của Mĩ đặt trên mặt đất bằng một đòn tiến công giành thế thượng phong Hai công cụ chiến lược còn lại của Mĩ − oanh tạc cơ mang vũ khí hạt nhân và SLBM, nếu còn sót lại sau đòn tiến công vừa kể, chỉ đủ sức huỷ diệt các thành phố, chứ không đủ sức công phá các kho chứa MIRV của Liên Xô Họ tin rằng SALT-II đã ngăn cản Hoa

Kì khắc phục thế yếu vừa kể và đánh lừa người Mĩ rằng nước họ không cần tăng chi phí quân sự Họ đòi đẩy mạnh chương trình chế tạo MX và cả tên lửa SLBM Trident II đủ sức công phá cả các kho chứa vũ khí hạt nhân Sau một thời gian ngắn thảo luận, Quốc hội Hoa Kì quyết định trì hoãn việc phê chuẩn SALT-II Có ảnh hưởng không nhỏ đến phản ứng của Quốc hội Hoa Kì là cuộc khủng hoảng tên lửa tầm trung ở châu Âu

e Cuộc khủng hoảng tên lửa tên lửa tầm trung ở châu Âu (Euromissiles)

Từ năm 1948, Mĩ đã triển khai lực lượng hạt nhân trên lãnh thổ Tây Âu Lúc đầu, đó là các máy bay ném bom tầm trung B-29 mang theo bom nguyên tử được đặt trên lãnh thổ Anh Sau đó, trong những năm 1954 – 1958, Mĩ đã triển khai các tên lửa hạt nhân loại “Jupiter”, “Thor” và “Matador” trên lãnh thổ các nước Tây Đức, Anh, Italia và Thổ Nhĩ Kỳ Chúng có khả năng bắn tới lãnh thổ các nước Hiệp ước Varsava và Liên Xô Công việc triển khai tên lửa đã được tiến hành trong lúc Mĩ còn

Trang 38

đang chiếm ưu thế rõ rệt về các loại tên lửa xuyên lục địa Nhưng sau cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba (1962), Hoa Kì đã rút về nước các tên lửa Jupiter và Thor có khả năng bắn tới lãnh thổ Liên Xô Lúc này, các nước đồng minh của Mĩ đã lần lượt chế tạo được vũ khí hạt nhân: Anh (từ năm 1952), Pháp (từ năm 1961)

Để đối phó, Liên Xô đã chế tạo các loại tên lửa tầm trung SS- 4 và SS- 5

Trong các cuộc đàm phán Xô – Mĩ về vấn đề hạn chế vũ khí chiến lược (SALT-I và SALT-II), Liên Xô đã thường xuyên nêu ra vấn đề là phải tính gộp cả các phương tiện hạt nhân tiền tiêu của

Mĩ và các nước đồng minh NATO của Mĩ, nhưng phía Mĩ luôn cự tuyệt

Như vậy, dù SALT-I và nhất là SALT-II có tạo ra thế cân bằng về vũ khí chiến lược giữa Mĩ và Liên Xô, khối NATO vẫn duy trì được phần nào ưu thế về lực lượng hạt nhân đối đầu với ưu thế về lực lượng thông thường của khối Varsava

Nhưng ưu thế nêu trên thực ra không phải là chỗ dựa vững chắc cho Tây Âu Vấn đề là vào năm

1962, Hoa Kì đã công bố một chủ thuyết quân sự mới mang tên bộ trưởng quốc phòng thời đó là Mac Namara, thay cho chủ thuyết “giáng trả ồ ạt” ra đời trong thập niên 50 Mac Namara đề nghị chiến lược trả đũa từng bước cuộc tiến công của Liên Xô: đầu tiên bằng các phương tiện thông thường, sau đó sẽ bằng các phương tiện hạt nhân, nếu phương tiện này cho phép giới hạn cuộc chiến trong phạm

vi châu Âu, và như vậy an ninh của Hoa Kì sẽ không phải lúc nào cũng gắn chặt với an ninh các nước Tây Âu Tất nhiên giới lãnh đạo các nước này không lấy làm hài lòng, đặc biệt là Tây Đức, nước đứng ở tuyến đầu Nhưng năm 1967, họ vẫn chấp nhận “chủ thuyết Mac Namara” vì đã được Hoa Kì đảm bảo bằng “học thuyết phòng thủ tiền tiêu”, theo đó một cuộc tiến công có thể từ phía Liên Xô sẽ phải bị chặn đứng trong vòng 50km đầu tiên của mặt trận

Được kí kết nhằm hạn chế vũ khí chiến lược của hai siêu cường, các Hiệp ước I và

SALT-II, và cùng với chúng thỏa thuận miệng không sử dụng trước vũ khí hạt nhân, hàm ý biến lãnh thổ Liên Xô và Hoa Kì thành thánh địa, và như vậy để ngỏ khả năng của một cuộc chiến bằng vũ khí thông thường ở châu Âu

Trong hoàn cảnh khối Varsava đang nắm ưu thế rõ rệt về vũ khí thông thường, Tây Âu sẽ tiếp tục còn vững tâm chừng nào ưu thế về vũ khí hạt nhân ở châu Âu còn thuộc về NATO

Năm 1976, các nhà lãnh đạo Liên Xô đã quyết định kín đáo triển khai từ năm 1977 trên lãnh thổ các nước Đông Âu thuộc khối Varsava các tên lửa tầm trung SS-20 (đã được bắt đầu nghiên cứu từ năm 1972 và được mang ra thử nghiệm lần đầu năm 1975) nhằm thay các loại tên lửa kiểu cũ SS-4 và SS-5 Là loại tên lửa thuộc thế hệ mới vừa mang nhiều đầu đạn hạt nhân tự tách – 3, vừa có độ chính xác cao (không chệch mục tiêu quá 250m), SS-20 có thể bắn tới bất kì mục tiêu chiến lược nào

ở Tây Âu

Con số 345 tên lửa SS-20 được dự kiến triển khai đã trở thành, trong con mắt các nhà cầm quyền Tây Âu, mối đe dọa trực tiếp đến an ninh nước họ, vì vào thời điểm nửa sau thập niên 70, tổng số tên lửa mà Pháp và Anh đang có chỉ vào khoảng 162(32) Đặc biệt lo lắng trước diễn biến này là giới cầm quyền Tây Đức, vừa là nước ở tuyến đầu, vừa không có kho vũ khí hạt nhân riêng Do vậy, người đầu tiên gióng lên hồi chuông báo động là thủ tướng CHLB Đức Helmut Schmidt trong bài diễn văn đọc ngày 28.10.1977 Tháng 1.1979, các nhà lãnh đạo Hoa Kì, CHLB Đức, Anh và Pháp đã gặp nhau

ở Guadeloupe để xem xét đề xuất của Mĩ về việc triển khai tên lửa có cánh Cruise có tầm hoạt động 2.500km, và tên lửa Pershing-2 có tầm hoạt động ngắn hơn – 1.750km, nhưng bay nhanh hơn và có độ chính xác rất cao – chỉ chệnh mục tiêu khoảng 30m Mùa hè năm 1979, thủ tướng Đức H Schmidt đã chủ tâm dừng chân tại một sân bay ở Moskva trên đường bay từ Bonn đến Tokyo để gặp chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô A Kosygin với hi vọng thuyết phục các nhà lãnh đạo Xô viết không nên bố trí tên lửa SS-20 (tính theo số đầu đạn) vượt quá tổng số tên lửa SS-4 và SS-5.Tốt nhất là nên

(32) Nhịp độ sản xuất tên lửa SS-20 trong năm 1979 đạt con số 90

Trang 39

giảm hơn phân nửa số lượng SS-20 vì tính năng kỹ thuật và khả năng mang vác cao hơn hẳn của loại tên lửa này (33) Nếu được như vậy, các nước Tây Âu (và cả Mĩ) sẽ không còn lo ngại và vấn đề bố trí tên lửa của Mĩ ở Tây Âu sẽ không được đặt ra nữa Tuy nhiên, Moskva đã bác bỏ đề xuất của chính phủ Bonn

Mĩ và các đồng minh NATO đã phản ứng bằng cách loan báo khả năng bố trí các tên lửa tầm trung Pershing 2 và Cruise ở Tây Âu Nay đến lượt Liên Xô lo lắng, vì các tên lửa của Mĩ, dù chỉ là tầm trung, nhưng khi đã được đặt ở Tây Âu, thì trở thành tên lửa chiến lược, vì chỉ mất từ 8 đến 10 phút chúng có thể lao tới các thành phố bên trong lãnh thổ Liên Xô Như vậy, thời lượng để các tên lửa Mĩ bay đến lãnh thổ Liên Xô đã giảm xuống từ 3 đến 4 lần, trong khi đó Liên Xô không thể trả đũa bằng một hành động tương tự

Ngày 6.10.1979, tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô L Brejnev đưa ra đề nghị sẽ cắt giảm số tên lửa SS-20, nếu NATO từ bỏ kế hoạch bố trí tên lửa của họ Ngoài ra, trong năm tới Liên Xô sẽ rút bớt 2 vạn quân và 1.000 xe tăng khỏi CHDC Đức

Ba ngày sau, J Carter bác bỏ đề nghị nêu trên và thậm chí cũng không muốn sớm khởi sự đàm phán về vấn đề tên lửa ở châu Âu Thay vào đó, Carter thúc ép các đồng minh NATO thông qua quyết định bố trí tên lửa của Mĩ tại châu Âu, sau đó mới bắt đầu thảo luận với Liên Xô về vấn đề này Ý đồ của Washington không phải là khó đoán: khai thác nỗi lo lắng của các nhà lãnh đạo Tây Âu trước viễn cảnh thế cân bằng về vũ khí hạt nhân bị phá vỡ ở châu Âu nhằm duy trì ảnh hưởng của Mĩ trong các hoạt động của NATO

Ngày 12.12.1979, NATO đã thông qua quyết định chính thức triển khai 464 tên lửa Cruise và 108 tên lửa Pershing-2 ở Tây Âu Quyết định của NATO mang tính nước đôi : vừa bố trí tên lửa, vừa sẵn sàng đàm phán với Liên Xô; nếu đàm phán thành công, thì việc bố trí có thể được chấm dứt hoặc được tiến hành chậm lại

Cáo giác Mĩ cố tình tránh việc tuân thủ Hiệp ước SALT-II, ngày 3.1.1980, chính phủ Liên Xô đã thông báo cho chính phủ Hoa Kì rằng quyết định của NATO cho thấy phương Tây muốn đàm phán trên thế mạnh; do vậy, Liên Xô chỉ sẵn sàng thương lượng, nếu NATO hủy bỏ quyết định của mình, hay ít ra cũng chưa thực hiện ngay

Quyết định trên của NATO còn gây ra một làn sóng chống đối dữ dội lan tràn khắp các nước Tây Âu Nhiều người dân đã công khai bày tỏ nỗi lo lắng của mình trước viễn cảnh đất nước họ có thể sẽ trở thành bãi chiến trường trong một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa hai siêu cường Diễn ra dưới

khẩu hiệu: “Thà đỏ hơn chết”, phong trào phản đối còn được tiếp thêm sức mạnh bằng một đề nghị

của Moskva về việc Liên Xô sẽ chỉ triển khai 162 tên lửa SS-20, bằng đúng số tên lửa hiện có trong các kho của Anh và Pháp, nếu các nước Tây Âu hủy bỏ kế hoạch triển khai Pershing 2 và Cruise Đề nghị đã bị bác bỏ, vì Tây Âu cho rằng Liên Xô chỉ di chuyển SS-20 khỏi tầm bắn tới Tây Âu, chứ không huỷ bỏ chúng Do SS-20 là những tên lửa di động, chúng có thể được đưa trở lại chỗ cũ vào bất kì lúc nào

f Mĩ thay đổi chính sách đối với Liên Xô – Chủ thuyết Carter

Quan hệ Đông-Tây trở nên căng thẳng hơn bởi một loạt biến cố nghiêm trọng diễn ra sau đó: tình hình căng thẳng ở vùng châu Á – Thái Bình Dương phát sinh từ sự có mặt của Quân đội Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia, chiến tranh biên giới Việt-Trung tháng 2.1979, Liên Xô đưa quân vào Afghanistan ngày 24.12.1979, xung đột giữa Mĩ và Iran quanh vấn đề con tin, và một số hoạt động của Chính phủ Liên Xô đã, theo cáo giác của người Mĩ, vi phạm các nguyên tắc nhân quyền trong Định ước Helsinki Tất cả các diễn biến vừa kể đã làm Chính phủ J Carter thay đổi hẳn chính sách đối với Liên Xô Ngày 23.1.1980, bình luận về sự can thiệp của Liên Xô ở Afghanistan, J Carter nói

(33) Vào lúc Hiệp ước SALT-II được kí, Liên Xô đã triển khai được 90 tên lửa SS-20 [12, tr.658]

Trang 40

rằng “những hậu quả của việc Liên Xô xâm lăng Afghanistan đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng

nhất đối với hoà bình thế giới, kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai” Cho rằng “hành động xâm lược không vấp phải sự chống đối sẽ trở thành căn bệnh lây lan”, Carter đã đưa ra câu tuyên bố mà không

lâu sau được mệnh danh là “chủ thuyết Carter” về “khuôn khổ của nền an ninh khu vực” Ông tuyên

bố: “Mọi ý đồ của các thế lực bên ngoài định thiết lập sự kiểm soát ở Vịnh Persic đều bị coi là xâm

phạm tới lợi ích quan trọng của Hoa Kì và sự xâm phạm đó sẽ bị đẩy lui bằng mọi cách, kể cả bằng sức mạnh quân sự” [Dẫn lại theo 1, tr.299; 11, tr.848 – 849] Chính quyền Washington đã ra lệnh cắt

đứt việc buôn bán ngũ cốc với Liên Xô, đình chỉ việc chuyển giao kĩ thuật cao và tẩy chay Thế vận hội Olympic 1980 dự định sẽ tổ chức ở Liên Xô Ngoài ra, J Carter còn yêu cầu Quốc hội tiếp tục trì hoãn việc phê chuẩn SALT-II, triển khai kế hoạch chế tạo tên lửa MX, thay SLBM Trident I bằng SLBM Trident II thế hệ mới, giúp đỡ các phe Hồi giáo li khai ở Afghanistan

Không dừng lại ở những biện pháp chính trị, chính quyền Carter còn thay đổi cả quan niệm về chiến lược hạt nhân Chỉ thị mật số 59 đề ngày 15.7.1980 được xây dựng trên quan niệm cho rằng chiến tranh hạt nhân, mà trong đó các cường quốc đối địch sẽ sử dụng toàn bộ các loại vũ khí hạt nhân, có thể không nhất thiết sẽ kết thúc thật nhanh, mà sẽ kéo dài, và trong quá trình đó, các đòn hạt nhân sẽ được giáng xuống các mục tiêu quân sự của Liên Xô Trong lúc chờ đợi kịch bản này diễn ra, các tên lửa vẫn tiếp tục được nhằm vào các thành phố của Liên Xô Rõ ràng là J Carter bắt đầu thi hành một chính sách nhìn chung cứng rắn hơn đối với Liên Xô, so với bất kì người tiền nhiệm nào, kể từ Eisenhower Tiến trình hòa dịu khởi đầu từ đầu thập niên 60 bị đặt trước nguy cơ bị đảo ngược để quay về thời căng thẳng của thập niên 50

Cũng cần phải hiểu rằng phản ứng kể trên của Chính phủ Carter không những phát xuất từ nỗi thất vọng của họ trước chính sách đối ngoại của Liên Xô, mà còn chịu tác động mạnh của các lực lượng bảo thủ hữu khuynh trong nước, vốn rất lo lắng trước uy thế ngày càng sút giảm của Mĩ trên trường quốc tế Tập trung quanh Ronald Reagan, ứng viên của đảng Cộng hòa cho chức tổng thống, họ gay gắt chỉ trích rằng J Carter đã tỏ ra “mềm yếu” trong quan hệ với Liên Xô và coi thường

nhiệm vụ củng cố sức mạnh quân sự của Mĩ trước “sự đe dọa ngày càng tăng về quân sự của Liên

Xô”

10 Quan hệ Xô-Mĩ trong nhiệm kì đầu của tổng thống Mĩ R Reagan (1981 - 1984)

a Hoa Kì chuyển sang chính sách đối đầu

Trong bối cảnh trên, thất bại nặng nề trong chiến dịch giải cứu con tin ở Iran diễn ra ngay trong năm bầu cử 1980 đã kết thúc sự nghiệp chính trị của J Carter Người giành được chiến thắng là Ronald Reagan, cựu thống đốc bang California rất nổi tiếng với đường lối bảo thủ cứng rắn và chống

cộng quyết liệt Trong quá trình vận động tranh cử, ông này đã tuyên bố với cử tri: “J Carter đã nói

rằng chúng ta sẽ trả lại kênh đào Panama, vì không ai thích chúng ta nếu chúng ta không làm như vậy J Carter nói rằng chúng ta sẽ kí Hiệp ước SALT-II, vì sẽ chẳng ai thích chúng ta nếu chúng ta không kí Được thôi, tôi xin được phép nói rằng đã đến lúc chúng ta nên thôi băn khoăn về việc người khác có thích chúng ta hay không Chúng ta muốn mọi người trở lại kính trọng chúng ta!” [Dẫn

lại theo 7, tr.471]

Để đạt mục tiêu trên, Reagan đã theo đuổi một đường lối đối ngoại chống cộng và bài Xô rất cứng rắn Việc phục hồi vị thế đang suy yếu của Mĩ trên trường quốc tế, đẩy lùi sự tiến công của Liên Xô trên mặt trận đối ngoại, đó là những nhiệm vụ được đưa lên thành ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của chính quyền ông

Viện cớ người Xô Viết đang cố mưu tìm một ưu thế đáng kể về quân sự so với những gì họ đã

giành được theo Hiệp ước SALT-II (mà ông gọi là “một sai lầm nghiêm trọng”), tháng 3.1981,

Reagan đã vận động để Quốc hội thuận đưa mức gia tăng chi phí quân sự trong 3 năm đầu cầm quyền của ông lên 40% (chưa tính tỉ lệ lạm phát) [1, tr.333], tức tăng thêm 5% so với mức tăng đã được Quốc hội chuẩn y trước đó, theo yêu cầu của Chính quyền Carter, cho các tài khóa 1981 và

Ngày đăng: 31/12/2020, 13:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG NIÊN BIỂU CÁC SỰ KIỆN QUAN TRỌNG  (*) - Lịch sử quan hệ quốc tế ở châu âu trong chiến tranh lạnh (1949   1991)
BẢNG NIÊN BIỂU CÁC SỰ KIỆN QUAN TRỌNG (*) (Trang 111)
Hình 25: Bản đồ châu Âu cuối năm 1991 - Lịch sử quan hệ quốc tế ở châu âu trong chiến tranh lạnh (1949   1991)
Hình 25 Bản đồ châu Âu cuối năm 1991 (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w