1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng bị bắt nạt của học sinh có biểu hiện đồng tính ở một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh

129 123 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Thanh Xuân THỰC TRẠNG BỊ BẮT NẠT CỦA HỌC SINH CÓ BIỂU HIỆN ĐỒNG TÍNH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Xuân

THỰC TRẠNG BỊ BẮT NẠT CỦA HỌC SINH

CÓ BIỂU HIỆN ĐỒNG TÍNH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Xuân

THỰC TRẠNG BỊ BẮT NẠT CỦA HỌC SINH

CÓ BIỂU HIỆN ĐỒNG TÍNH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Tâm lý học

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS Huỳnh Văn Sơn

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khác nào

Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thanh Xuân

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- GS.TS Huỳnh Văn Sơn, người Thầy tận tình hướng dẫn tôi về học thuật và động viên mỗi khi tôi gặp khó khăn trong công việc và cuộc sống Sự chân thành và sâu sắc của Thầy đã giúp tôi mở rộng vốn kiến thức chuyên môn và hiểu hơn về ý nghĩa

đề tài tôi đang thực hiện để tôi trưởng thành và yêu nghề hơn

- Thạc Sĩ Mai Mỹ Hạnh, người Cô luôn quan tâm, giúp đỡ và tiếp thêm sức mạnh để tôi có thêm động lực trong cuộc sống Sự động viên của Cô đã tiếp thêm cho tôi sức mạnh để vượt qua mọi thử thách và vững bước hơn trên chặng đường sắp tới

- NCS Giang Thiên Vũ, một người Anh – một người bạn luôn sẵn sàng chia sẻ và hỗ trợ kiến thức chuyên môn cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

- Các em HS trường THCS T.T.V, trường THCS T.T.T, trường THCS N.D, trường THCS V.A, trường THCS H.B.T, trường THCS T.T.H cùng Ban giám hiệu nhà trường, quý Thầy Cô chủ nhiệm và các em HS đã tạo điều kiện tốt nhất để hỗ trợ tôi hoàn thành nghiên cứu của mình

- Phòng Sau Đại học, Khoa tâm lý học, quý Thầy Cô giảng dạy lớp cao học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền thụ kiến thức cho tôi suốt quá trình học tập Xin cảm ơn Quý Thầy Cô trong Hội đồng khoa học đã đánh giá, đóng góp và tư vấn để tôi hoàn thiện đề tài

- Xin bày tỏ lòng biết ơn đến cha mẹ, người thân, bạn bè luôn bên cạnh ủng hộ, động viên tôi trong cuộc sống cũng như trong thời gian hoàn thành luận văn Thạc sĩ Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 5 năm 2020

Học viên Cao học Nguyễn Thị Thanh Xuân

Trang 5

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG BỊ BẮT NẠT CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ CÓ BIỂU HIỆN ĐỒNG TÍNH 8

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề thực trạng bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT 8

1.1.1 Những nghiên cứu về thực trạng bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT ở nước ngoài 8

1.1.2 Những nghiên cứu về thực trạng bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT ở Việt Nam 14

1.2 Lý luận về thực trạng bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT 19

1.2.1 Lý luận về bắt nạt và bị bắt nạt 19

1.2.2 Lý luận về bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BỊ BẮT NẠT CỦA HỌC SINH CÓ BIỂU HIỆN ĐỒNG TÍNH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH 42

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM 42

2.1.1 Mục đích nghiên cứu 42

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 42

2.1.3 Mẫu nghiên cứu 49

2.2.1 Tự nhận thức của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM về xu hướng tính dục của bản thân 51

2.2.2 Thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM 58

2.2.3 Xây dựng chân dung tâm lý về HS CBHĐT bị bắt nạt 101

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111

1 Kết luận 111

2 Kiến nghị 113

Tài liệu tham khảo 115

Trang 6

26 Quan tâm nhưng không can thiệp QTNKCT

29 Hoàn toàn không quan trọng HTKQT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 2.1 Khái quát về khách thể khảo sát HS CBHĐT, GV 52

3 2.3 Cách quy điểm mức độ thực trạng bị bắt nạt của khách thể nghiên

cứu

53

4 2.5 Tự nhận thức xu hướng tính dục của khách thể nghiên cứu 54

5 2.7 Những hình thức bị bắt nạt của khách thể nghiên cứu 60

6 2.8

Hình thức bị bắt nạt thể chất của khách thể nghiên cứu 63

7 2.9 Hình thức bị bắt nạt tinh thần của khách thể nghiên cứu 66

8 2.10 Hình thức bị bắt nạt vật chất của khách thể nghiên cứu 70

9 2.11 Hình thức bị bắt nạt tình dục của khách thể nghiên cứu 72

10 2.12 Hình thức bị bắt nạt trực tuyến của khách thể nghiên cứu 74

11 2.13 Cách ứng phó ngay tại thời điểm bị bắt nạt của khách thể nghiên cứu 76

12 2.14 Hành vi ứng phó sau khi bị bắt nạt của khách thể nghiên cứu 78

13 2.15 Nguyên nhân bị bắt nạt của khách thể nghiên cứu 80

14 2.16 Địa điểm bị bắt nạt của khách thể nghiên cứu 84

16 2.18 Hậu quả về mặt nhận thức sau khi bị bắt nạt của khách thể nghiên

cứu

88

17 2.19

Hậu quả về mặt cảm xúc sau khi bị bắt nạt của khách thể nghiên cứu 90

19 2.21 Các biện pháp giúp đỡ khách thể nghiên cứu 94

20 2.22 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng bị bắt nạt của khách thể nghiên

cứu

96

Trang 8

MỞ ĐẦU

Lịch sử xã hội loài người đã trải qua rất nhiều đổi thay từ xã hội chiếm hữu nô lệ,

nơi con người trở thành món đồ vật để buôn bán đến chế độ phong kiến “địa chủ bóc lột nông dân”, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” Từ những cuộc diệt chủng kinh

hoàng ở Đức thời Phát xít, cuộc diệt chủng Campuchia của người Khơ-me đỏ và đỉnh điểm là sự khốc liệt của cuộc chiến tranh Thế giới II đã cướp đi sinh mạng hàng triệu người vô tội, nhiều thành phố Châu Âu, châu Á trở thành đống hoang tàn, đổ nát Với mong muốn, xây dựng nền hòa bình lâu dài cho nhân loại tôn trọng phẩm giá, bảo vệ và

mở rộng quyền làm người của mỗi cá nhân, đại biểu của 50 quốc gia trên Thế giới đã họp trong niềm lạc quan, hy vọng thành lập hội Liên Hiệp Quốc tế Ngày 10 tháng 12 năm 1948, Liên hiệp Quốc thông qua bản Tuyên ngôn về Nhân Quyền, trong đó phổ

quát nhất mang tính trụ cột đó là “Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền” (Điều 1, Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân Quyền) Cho đến hôm

nay, nhân quyền ngày càng được đẩy mạnh và coi trọng ở khắp nơi trên thế giới

(Gudmundur Alfredsson & Asbjorn Eide, 2011)

LGBT đã tồn tại rất lâu trong lịch sử, văn hóa và tôn giáo của mọi thời đại trên toàn thế giới Đặc biệt được nhắc đến nhiều trong các tác phẩm văn học nghệ thuật thời

La Mã cổ đại, thời Phục Hưng hay những câu chuyện thần thoại Hy Lạp Suốt một thời gian dài ở thế kỉ trước, LGBT được coi là tội lỗi, bệnh tật và ma quỷ ở phương Tây Người đồng tính phải chịu những hình phạt khắt khe của pháp luật hay Giáo hội Họ có thể bị tra tất hoặc xử tử hình trong sự ghê sợ và khinh bỉ của hầu hết mọi người (Đặng

Kim Hoàn, Nguyễn Thị Thanh Phượng, Đinh Thị Huyền Trang, 2012)

Cuộc xung đột giữa người dị tính và người đồng tính diễn ra âm thầm và dai dẳng cho đến cuối thế kỉ XX, phong trào đấu tranh đòi tự do, bình đẳng nổ ra, người đồng tính bắt đầu đứng lên đòi quyền bình đẳng cho chính mình Đánh dấu bước ngoặt đầu tiên là phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người đồng tính do Harvey Milk lãnh đạo ở California Tiếp đó, ngày 17/5/1990, tổ chức Y thế Thế giới WHO đã giải

mã thiên hướng tình dục và công bố loại bỏ “đồng tính luyến ái” ra khỏi danh sách bệnh

tâm thần (WHO, 1990) Để kỷ niệm cho sự kiện đáng nhớ trên, Liên Hiệp quốc đã chọn

ngày 17 tháng 5 hàng năm là “Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người

Trang 9

đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) - IDAHO” Liên Hiệp Quốc coi “Quyền LGBT” là vấn đề nhân quyền (quyền con người” và cần được thực hiện tại các quốc gia,

vùng lãnh thổ Tuy nhiên, người đồng tính nói riêng vẫn phải đối mặt với nạn kì thị ở khắp mọi nơi Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon trong bài phát biểu tại Toà án tối cao khi chính thức thông qua đạo luật kết hôn đồng giới trên nước Mỹ đã nhắc đến khó khăn của cộng đồng LGBT nói chung và người đồng tính nói riêng trên toàn Thế

giới đang phải trải qua: “Hàng triệu người LGBT từ khắp mọi ngóc ngách trên thế giới đang bị ép phải sống trong vỏ bọc của mình, trong nỗi sợ bị bạo hành, phân biệt đối xử, thậm chí bị bắt nhốt, chỉ vì bản dạng giới thật của mình, hoặc người mà họ yêu thương Những gì mà cộng đồng LGBT đang phải gánh chịu chính là một sự xúc phạm trắng trợn đối với những giá trị mà Liên Hiệp Quốc đã từ lâu gầy dựng, cũng như với lý tưởng

về nhân quyền trên khắp thế giới.” (Ban Ki Moon, 2011)

Ở Việt Nam, năm 2002, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã liệt kê đồng tính vào các tệ nạn xã hội cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy (lapphap.vn, 2013) Trong nhiều năm qua, các tổ chức xã hội dân sự ủng hộ quyền của người đồng tính được thành lập nhằm ủng hộ quyền con người của người đồng tính ở Việt Nam có thể kể đến như: Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE), Trung tâm sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP), Trung tâm ứng Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới, Gia đình, Phụ nữ và Vị thành niên Với những nỗ lực trong giới truyền thông từ tháng 5/2012 đến 6/2013 đã có hơn 40 chương trình với chủ đề đồng tính và chuyển giới ở Việt Nam trên các kênh truyền hình VTV3, VTV4, VTV6 và các tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh niên, Tiền Phong, Người Lao động, góp phần tăng cường nhận thức và cách nhìn khác về người đồng tính với mọi người (thuvien.lgbt, 2012) Đồng tính không còn là vấn đề trái pháp luật ở Việt Nam, tuy nhiên một số cá nhân với định kiến bảo thủ vẫn “chĩa” những lời nói kì thị, dè bĩu đối với người đồng tính ở Việt Nam

Thực tế cho thấy, HS CBHĐT phải đối mặt với những nỗi lo lắng bị kì thị ở trường học Nghiên cứu Thanh Thiếu niên LGBT của tổ chức Save Children và Viện nghiên cứu Y - Xã hội học IMS tại TP HCM năm 2015 về tình trạng phân biệt đối xử

vì LGBT trong trường học cho thấy: 53,8% bị bắt nạt, quấy rầy bởi bạn bè, 23% bị bắt nạt, quấy rầy bởi GV, cán bộ nhà trường, 20,4% bị ép buộc thay đổi đồng phục; 29.3%

Trang 10

bị ép buộc thay đổi kiểu tóc, cử chỉ, điệu bộ Kết quả nghiên cứu về bạo lực học đường đối với HS LGBT được nêu tại Hội thảo về HS LGBT cũng chỉ ra thực trạng hiện nay

HS CBHĐT đã và vẫn đang trải qua những ngày đến trường trong sợ hãi, ám ảnh trước

sự kì thị của bạn bè, thầy cô (iSee, 2016)

Ở độ tuổi THCS, HS có nhiều biến động lớn trong đời sống tâm sinh lý - đây là

giai đoạn chuyển tiếp giữa trẻ em và người lớn Những thay đổi về mặt sinh lý kéo theo

những biến động trong tâm lý có thể dẫn đến sự mất cân bằng trong cảm xúc khiến các

em dễ xúc động, bực tức hoặc có thể dẫn đến những cuộc khủng hoảng ở tuổi dậy thì Hoạt động giao lưu bè bạn đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển tâm lý của trẻ trong giai đoạn này Cũng chính vì thế, những xung đột về mặt giao tiếp

có thể xảy ra, và sự bắt nạt xuất hiện như một trong những hành vi cụ thể HS bị bạn bè bắt nạt có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, tinh thần, kết quả học tập giảm sút đáng

kể Các em dễ bị rơi vào trầm cảm, bất an, lo lắng, hoảng loạn, sợ hãi, cô độc, stress, mất ngủ, rời bỏ gia đình và bạn bè, tổn thương cơ thể, tự làm đau bản thân hoặc tìm đến cái chết để giải thoát Mỗi ngày đến trường không còn là một niềm vui mà chất chứa những giọt nước mắt âm thầm hay những phản ứng tự vệ, căng thẳng Trên thế giới cũng

đã ghi nhận những trường hợp HS CBHĐT tìm đến cái chết để kết thúc chuỗi ngày bị bạn bè bắt nạt Bắt nạt học đường nói chung trong đó HS CBHĐT bị bắt nạt đang trở thành vấn đề đáng lo lắng của toàn xã hội Tiếp cận vấn đề này từ góc độ tâm lý học sẽ góp phần làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về thực trạng bị bắt nạt và đưa ra những biện pháp kịp thời nhằm hỗ trợ HS CBHĐT tại trường học Xuất phát từ những lý do trên, đề

tài: “Thực trạng bị bắt nạt của học sinh CBHĐT ở một số trường trung học cơ sở tại

Thành phố Hồ Chí Minh” được xác lập

1 Mục đích nghiên cứu

Xác định thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM

2 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

2.1 Khách thể nghiên cứu

HS CBHĐT và giáo viên ở một số trường THCS tại TP HCM

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM

Trang 11

3 Giả thuyết nghiên cứu

HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM bị bắt nạt ở mức trung bình Có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan dẫn đến thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM Quan điểm hay nhận thức về LGBT của HS THCS

là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến bắt nạt, hành vi bắt nạt, người bị bắt nạt, biểu hiện bị bắt nạt, đồng tính, các biểu hiện bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT

4.2 Xác định thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM

4.3 Tìm hiểu một số nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

5.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Chỉ nghiên cứu thực trạng bị bắt nạt trực tiếp tại trường học của HS CBHĐT ở một

số trường THCS tại TP HCM

Chỉ tập trung vào các hình thức bị bắt nạt sau: bị bắt nạt thể chất, bị bắt nạt tinh thần,

bị bắt nạt vật chất, bị bắt nạt tình dục, bị bắt nạt trực tuyến

5.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ tiến hành tại một số trường THCS tại TP HCM: Quận 10, Quận Bình Tân, Quận Tân Phú

Nghiên cứu chỉ tiến hành trên địa bàn ở môi trường học đường trực tiếp và lọc các biểu hiện trực tuyến

5.3 Giới hạn về khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu được lựa chọn là những HS THCS CBHĐT ở trường THCS

tự nguyện nghiên cứu thông qua thông tin ban đầu từ các chuyên viên tư vấn học đường hay các GV chủ nhiệm Việc chọn lựa khách thể sẽ dựa trên nguyên tắc thuận tiện, sự

Trang 12

đồng thuận, sự thoải mái của khách thể nghiên cứu và không vi phạm các nguyên tắc tham vấn hay các nguyên tắc giáo dục

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận nghiên cứu

6.1.1 Tiếp cận biện chứng

HS CBHĐT bị bắt nạt được phân tích dưới góc độ duy vật biện chứng, từ sự hình thành - phát triển cho đến biểu hiện của nó đều được xem xét trong mối liên hệ với thế giới khách quan bên ngoài, đặc biệt là hoạt động và giao tiếp của chủ thể Sự tương tác giữa các em được nhìn nhận trong hoạt động của chủ thể đặc biệt là hoạt động chủ đạo trong cái nhìn biện chứng với nhận thức, thái độ của các em

6.1.2 Tiếp cận hệ thống - cấu trúc

HS CBHĐT bị bắt nạt được nghiên cứu trong mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động học tập, giáo dục, không biệt lập Vận dụng quan điểm hệ thống - cấu trúc để xây dựng

cơ sở lý luận như khái niệm hành vi, phân loại hành vi, hành vi bị bắt nạt, biểu hiện hành

vi bị bắt nạt và hậu quả bị bắt nạt của HS CBHĐT Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận thực trạng) HS có hiểu hiện đồng tính bị bắt nạt được tiến hành trên cấu

trúc đã được xác lập

6.1.3 Tiếp cận thực tiễn

HS CBHĐT bị bắt nạt đã và đang là mối quan tâm của các nhà chức trách và các những người nghiên cứu tâm lý học Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành và phát triển tâm lý của các em trong giai đoạn dậy thì cũng như ủng hộ sự bình đẳng và quyền con người trong cộng đồng LGBT Vì vậy, việc tìm hiểu biểu hiện và mức độ thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM, phân tích các yếu tố tác động hay ảnh hưởng đến hành vi này của các em, đề xuất biện pháp hỗ trợ các

HS CDHĐT bị bắt nạt trên đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đề ra

6.2 Các phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được tiến hành thông qua việc phối hợp đồng bộ một số phương pháp nghiên cứu sau: nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận; nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm: phương pháp xây dựng chân dung tâm lý, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp thống kê toán học, phương pháp phỏng vấn

Trang 13

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Dựa trên sự tổng hợp các tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan, kết hợp với lý luận nghiên cứu-khung lý thuyết nghiên cứu Đề tài nghiên cứu xây dựng một hệ thống khái niệm công cụ cũng như những khái niệm có liên quan để định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu cũng như toàn bộ quá trình điều tra thực tiễn về hành

vi bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM Các vấn đề của lý luận được xem xét trên toàn cục và tiến hành xây dựng một cách hệ thống từ khái quát đến cụ thể, từ khái niệm nền tảng đến khái niệm công cụ nghiên cứu đảm bảo khung lý thuyết nghiên cứu rõ ràng, logic

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.2.1 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp này được sử dụng để phỏng vấn những HS CBHĐT và thu thập thông tin một cách trực tiếp Sau đó, phỏng vấn các em về thực trạng bị bắt nạt ở giới hạn về nội dung nghiên cứu Ngoài ra, còn tiến hành phỏng vấn một số HS, GV nhằm làm rõ thực trạng bị bắt nạt của HS đồng tính ở một số trường THCS tại TP HCM

Có hai mẫu phỏng vấn

- Mẫu 1: Mẫu dành cho GV

Phỏng vấn thầy cô: đánh giá về thực trạng bị bắt nạt của các khách thể, vì sao HS CBHĐT bị bắt nạt

- Mẫu 2: Mẫu dành cho HS

Mẫu 2a Phỏng vấn HS CBHĐT nhằm xác nhận vấn đề và tính tự nguyện trong nghiên

cứu (không phân biệt đã “come out” hay chưa, đã từng bị bắt nạt bao lâu mà tập trung

vào xác nhận CBHĐT, xác nhận từng bị bắt nạt nhất định, tự nguyện tham gia nghiên cứu)

Mẫu 2b Phỏng vấn thực trạng bị bắt nạt ở các HS CBHĐT: bị bắt nạt ở mức nào, ra sao Vì sao bị bắt nạt (có phải do có những biểu hiện đồng tính )

Mẫu 2c Phỏng vấn HS khác: đánh giá về thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT, một số quan niệm về HS CBHĐT, vì sao HS CBHĐT bị bắt nạt

6.2.2.2 Phương pháp xây dựng chân dung tâm lý

Trang 14

Phương pháp này được sử dụng dựa trên sự lựa chọn một số HS CBHĐT bị bạn

bè bắt nạt phục vụ mục đích phân tích và lý giải nguyên nhân và quá trình bị bắt nạt bạn

bè để mô tả vấn đề nghiên cứu một cách cụ thể và khách quan hơn Cụ thể hơn phương pháp này tập trung xây dựng chân dung tâm lý để lý giải vì sao HS CBHĐT bị bắt nạt bởi bạn bè

6.2.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Bảng hỏi được xây dựng thành một hệ thống các câu hỏi nhằm đánh giá thực trạng bị bắt nạt của HS CBHĐT ở một số trường THCS tại TP HCM Các câu hỏi được cấu trúc thành bảng điều tra, thông qua việc trả lời khách thể sẽ cho biết thực trạng bị bắt nạt của HS đồng tính

Bảng hỏi dưới dạng bảng đánh giá được xây dựng cho từng nhóm khách thể:

- Mẫu 1: Dành cho khách thể bị bắt nạt đã xác định từ kết quả phỏng vấn và lọc

- Mẫu 2: Dành cho cán bộ nhà trường, GV THCS thuộc nhóm mẫu 1 có liên quan

6.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Phần mềm SPSS phiên bản 15.0 sẽ được dùng để xử lý các dữ kiện thu được, phục

vụ cho việc phân tích số liệu cũng như đảm bảo tối đa yêu cầu định lượng và tính khách

quan trong quá trình nghiên cứu

7 Đóng góp mới của đề tài

- Đề tài chỉ ra bức tranh thực trạng bị bắt nạt của HS đồng tính ở một số trường THCS tại TP HCM Song song đó, đề tài xác định một số cơ sở để đề xuất biện pháp hỗ trợ HS CBHĐT bị bắt nạt ở tuổi THCS

- Đề tài cũng góp phần xây dựng cứ liệu để đề xuất các tác động giáo dục đảm bảo việc chấp nhận người khác, không kỳ thị, phân biệt đối xử như một yêu cầu giáo dục, nội dung giáo dục cho HS THCS

- Đề tài cũng góp phần xác lập các luận cứ định hình cho công tác giáo dục HS THCS,

cụ thể là công tác tham vấn học đường Tham vấn học đường có liên quan đến nội dung

về nhóm HS THCS nói chung và nhóm HS CBHĐT nói riêng

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG BỊ BẮT NẠT CỦA HỌC SINH

TRUNG HỌC CƠ SỞ CÓ BIỂU HIỆN ĐỒNG TÍNH 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề thực trạng bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT

1.1.1 Những nghiên cứu về thực trạng bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT ở nước ngoài

1.1.1.1 Những nghiên cứu về thực trạng bị bắt nạt của HS THCS ở nước ngoài

Trên thế giới hiện tượng bắt nạt và bị bắt nạt không còn là đề tài quá mới mẻ Ngay

từ những năm thập niên 70, tác giả Olweus - một nhà khoa học người Na Uy đã tiến hành những nghiên cứu có hệ thống về bắt nạt học đường Đến cuối những năm 1980 và

1990, bắt nạt học đường nhanh chóng thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu ở các nước khác như Nhật Bản, Anh, Hà Lan, Canada, Hoa Kỳ và Tây Ban Nha (Olweus D, Limber SP, 2010) Đầu tiên, tác giả Olweus đã có những các nghiên cứu về định nghĩa bắt nạt học đường đồng thời tiến hành những nghiên cứu tìm hiểu về đặc điểm của kẻ bắt nạt và nạn nhân Tác giả cũng đưa ra những biện pháp can thiệp chống lại các vấn

đề bắt nạt/ nạn nhân nhân trong suốt 20 năm ở Na Uy và một sáng kiến can thiệp và phòng ngừa (Olweus D, Limber SP, 2010)

Các nghiên cứu về hậu quả của bắt nạt học đường do các tác giả Claghan & Joseph, 1995; Rigby, 1998; Slee, 1996, Konchederfer & Ladd, 1966; Olweus, 2001 tiến hành nghiên cứu đã chỉ ra rằng bắt nạt học đường không chỉ gây hậu quả xấu cho nạn nhân trong thời điểm bị bắt nạt mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển cảm xúc sau này của nạn nhân Bắt nạt học đường để lại những hậu quả lâu dài cho người bị bắt nạt và người đi bắt nạt (Dẫn theo Nguyễn Thị Nga, 2011)

Hai tác giả Unnever, J & Cornell, D đã tiến hành nghiên cứu “The culture of bullying in middle school Journal of School Violence” (2003) Nghiên cứu được thực

hiện trên 6 trường THCS và hơn 2.400 HS Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng văn hóa bắt nạt là một hiện tượng phổ biến ở HS cấp hai và nên được xem xét quan trọng trong các

nỗ lực ngăn chặn bắt nạt (Unnever, J & Cornell, D.,200) Năm 2004, Hai tác giả này

cũng đã tiến hành nghiên cứu “Middle school victims of bullying: Who reports being

Trang 16

bullied? Aggressive Behavior” Nghiên cứu thực hiện với hình thức ẩn danh trên 2.437

HS ở 6 trường trung học đã xác định 898 HS bị bắt nạt, trong đó có 25% không nói với

ai rằng họ bị bắt nạt và 40% không nói với người lớn về nạn nhân của họ Nạn nhân bị bắt nạt ở nữ nhiều hơn nam và ở cấp lớp thấp hơn (Unnever, J & Cornell, D., 2004)

Hai tác giả Baly, M., & Cornell, D (2011) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm “Ảnh hưởng của một video giáo dục đối với việc đo lường bắt nạt bằng cách tự báo cáo”

Nghiên cứu thực hiện trên 1.283 HS trung học đã kiểm tra hiệu ứng của một video giáo dục được thiết kế để phân biệt bắt nạt với xung đột ngang hàng thông thường Những kết quả này chỉ ra rằng tự báo cáo của HS có thể mang lại những ước tính thổi phồng về bắt nạt nếu HS không được giáo dục đầy đủ về sự khác biệt giữa bắt nạt và các hình thức xung đột cùng độ tuổi khác (Baly, M., & Cornell, D., 2011)

Các tác giả Mehta, S., Cornell, D., Fan, X., & Gregory, A (2013) đã tiến hành nghiên

cứu“Xu hướng bắt nạt và bạo lực học đường diễn ra ở các em HS lớp 9” (Bullying climate and school engagement in ninth grade students) đã chứng minh rằng bầu không

khí bắt nạt có thể tác động đáng kể đến môi trường học đường Đồng thời cũng chỉ ra

rằng nên xem xét tác động của toàn trường đối với tình trạng bắt nạt HS (Mehta, S.,

Cornell, D., Fan, X., & Gregory, A., 2013)

Nghiên cứu “A longitudinal comparison of peer- and self-reports of bullying victimization across middle school” được tiến hành bởi các tác giả Baly, M., Cornell,

D., & Lovegrove, P (2014) Nghiên cứu cho thấy có bao nhiêu HS là nạn nhân của bắt nạt tại một thời điểm, nhưng không cho biết liệu các HS đó có tiếp tục bị bắt nạt hay không hoặc có tác động tích lũy của bắt nạt theo thời gian Nghiên cứu này đã kiểm tra

sự ổn định theo chiều dọc và tác động tích lũy của nạn nhân trong mẫu 382 HS được đánh giá vào mùa thu và mùa xuân của các lớp 6, 7 và 8 Tự đánh giá cho thấy sự thay đổi đáng kể ở người bị bắt nạt, với gần 51% sinh viên báo cáo nạn nhân bị bắt nạt trong

ít nhất một trong sáu đánh giá Tác động tích lũy của nạn nhân trong ba năm đã được chứng minh đối với các biện pháp vắng mặt ở lớp 8, vi phạm kỷ luật, đình chỉ, điểm trung bình (GPA), điểm kiểm tra tiêu chuẩn, báo cáo về hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên và nhận thức về bầu không khí học đường Nghiên cứu này cung cấp thông tin mới

Trang 17

về tác động tích lũy của bắt nạt cùng tuổi trong trường THCS (Baly, M., Cornell, D., & Lovegrove, P., 2014)

Tác giả Patricia McDougall đã tiến hành nghiên cứu“Kết quả lâu dài của người lớn

về nạn nhân cùng độ tuổi ở trẻ em và thanh thiếu niên: Con đường điều chỉnh và sai lầm” (2015) về kinh nghiệm bị bắt nạt là đau đớn và khó khăn Tác động tiêu cực đến

chức năng học tập, sức khỏe thể chất và tinh thần, các mối quan hệ xã hội và nhận thức

về bản thân Nhưng không phải mọi nạn nhân đều phát triển thành sai lệch Trong bài viết này, các tác giả cung cấp một cái nhìn tổng quan về các kết quả tiêu cực của nạn nhân trải qua thời thơ ấu và thanh thiếu niên và đôi khi đến tuổi trưởng thành Sau đó,

họ phân tích các phát hiện từ các nghiên cứu tiền cứu để xác định các yếu tố dẫn đến kết quả khác nhau ở những người khác nhau, bao gồm cả sinh học, thời gian, hệ thống hỗ trợ và nhận thức bản thân (Patricia McDougall, 2015)

Trong khảo sát toàn quốc tại Hoa Kỳ năm 2016 do Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia thực hiện cho thấy cứ năm HS thì có một HS bị bắt nạt tỉ lệ cụ thể là 20,8% Thêm vào đó, khảo sát cũng cho thấy 33% HS báo cáo bị bắt nạt ở trường phổ thông cho biết rằng họ đã bị bắt nạt ít nhất một hoặc hai lần một tháng trong năm học Trong số những HS báo cáo bị bắt nạt, 13% bị chọc cười, gọi tên hoặc bị xúc phạm; 12% là chủ

đề của tin đồn; 5% bị đẩy, xô, vấp hoặc nhổ vào; và 5% bị loại khỏi các hoạt động có mục đích Tỷ lệ HS nữ báo cáo bị bắt nạt ở trường nhỉnh hơn một chút so với HS nam báo cáo bị bắt nạt ở trường (23% so với 19%) Ngược lại, tỷ lệ nam cao hơn so với HS

nữ báo cáo bị bắt nạt về thể chất (6% so với 4%) và bị đe dọa gây hại (5% so với 3%)

HS bị bắt nạt báo cáo rằng bắt nạt xảy ra ở những nơi sau đây: hành lang hoặc cầu thang

ở trường (42%), bên trong lớp học (34%), trong nhà ăn (22%), bên ngoài sân trường (19%), trong trường xe buýt (10%), và trong phòng tắm hoặc phòng thay đồ (9%) Khảo sát cũng chỉ ra những lý do bị bắt nạt được báo cáo thường xuyên nhất bao gồm ngoại hình, chủng tộc/sắc tộc, giới tính, khuyết tật, tôn giáo, khuynh hướng tình dục (National Center for Educational Statistics, 2016)

Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ bắt nạt trong suốt các nghiên cứu khảo sát dao động từ 9% đến 98% Tỷ lệ bắt nạt từ nghiên cứu đối với HS từ 12 tuổi 18 là 35% đối với bắt nạt truyền thống và 15% trên mạng internet Chỉ có 36% trẻ em bị bắt nạt

Trang 18

báo cáo bắt nạt, và 64% không báo cáo Trong số các HS trung học năm 2015, 16% báo cáo đe doạ trực tuyến và 20% bị bắt nạt về quyền sở hữu trường học Đối với HS cấp hai, 24% bị đe doạ trực tuyến và 45% ở trong trường Từ năm 2007 đến 2016, tỷ lệ đe doạ trực tuyến tăng gấp đôi từ 18 đến 34% (Center for Disease Control, 2016)

Nghiên cứu “The Experiences of Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender Youth in our nation’s schools” do các tác giả Kosciw JG Greytak EA, Palmer NA, Boesen MK

(2014) cho thấy HS có nhu cầu đặc biệt có khả năng bị bắt nạt cao hai đến ba lần so với

HS bình thường Hơn nữa, theo báo cáo họ cảm thấy không an toàn ở trường so với các bạn cùng lứa bình thường Khoảng 74% và 36,2% HS bị bắt nạt bằng lời nói và thể xác

vì xu hướng tính dục của họ, 55,2% và 22,7% HS bị bắt nạt bằng lời nói và thể xác vì biểu hiện giới tính của họ (Kosciw JG Greytak EA, Palmer NA, Boesen MK, 2014) Các tác giả Philip Rodkin, Dorothy Espelage, Laura D Hanish đã tiến hành nghiên

cứu “Khung quan hệ để hiểu bắt nạt: Tiền đề và kết quả phát triển” năm 2015 Trong nghiên cứu này, các tác giả đã làm sáng tỏ luận điểm:“Làm thế nào để bạn phân biệt bắt nạt từ bạo lực nói chung?” Trong đánh giá này, các tác giả mô tả bắt nạt từ góc độ mối

quan hệ Để phân biệt bắt nạt với các hình thức bạo lực khác trong mối quan hệ giữa kẻ bắt nạt và nạn nhân phải có sự mất cân bằng quyền lực và nó diễn ra trong một khoảng thời gian Bắt nạt được duy trì trong một mối quan hệ, mặc dù mối quan hệ cưỡng chế, không bình đẳng, không đối xứng được đặc trưng bởi sự xâm lược Đối với giới tính của nạn nhân, bắt nạt cũng có khả năng xảy ra giữa nam và nữ cũng như xảy ra ở các nhóm đồng giới (Philip Rodkin, Dorothy Espelage, Laura D Hanish, 2015)

Hai tác giả Hymel và Swearer công bố 5 bài viết ở các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau về bắt nạt gồm các tác động lâu dài của bắt nạt vào tuổi trưởng thành, lý do bắt nạt trẻ em những người khác, những tác động của luật chống bắt nạt và cách chuyển dịch nghiên cứu sang thực hành chống bắt nạt năm 2015 (Hymel và Swearer, 2015)

Tóm lại, ở nước ngoài bắt nạt là một hiện tượng khá phổ biến ở lứa tuổi HS phổ thông, đặc biệt xuyên xảy ra ở HS THCS Đây cũng là hiện tượng được các nhà tâm lý học và các nhà giáo dục xem xét từ khá lâu và mở rộng nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau từ định nghĩa, cách phân loại, hậu quả về phía nạn nhân, người đi bắt nạt và bầu

không khí tâm lý của nhà trường, “khung quan hệ” giữa nạn nhân và người đi bắt nạt

Trang 19

cho đến những nghiên cứu nỗ lực ngăn chặn bắt nạt trong trường học Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn nhiều khoảng trống lý thú cần tiếp tục khai phá

1.1.1.2 Những nghiên cứu về thực trạng bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT ở nước ngoài Các tác giả D'Augelli AR, Pilkington NW, Hershberger SL“Incidence and mental health impact of sexual orientation victimization of lesbian, gay, and bisexual youths in high school” (2002) đã tiến hành nghiên cứu các nạn nhân bị bắt nạt dựa trên xu hướng

tính dục của 350 thanh niên đồng tính nữ, đồng tính nam hoặc lưỡng tính (LGBT) từ 21 tuổi trở xuống Kinh nghiệm về nạn nhân trực tiếp cũng như kiến thức về nạn nhân của thanh niên LGBT được xem xét Hơn một nửa báo cáo cho biết rằng họ bị lạm dụng bằng lời nói ở trường trung học vì xu hướng tình dục, 11% cho biết họ đã bị tấn công thể xác Thanh niên nam trở thành mục tiêu thường xuyên hơn nữ giới, các triệu chứng sức khỏe tâm thần hiện tại của thanh niên, đặc biệt là các phản ứng căng thẳng chấn thương, có liên quan đến việc bị lạm dụng bằng lời nói nhiều hơn so với nam thanh niên cùng nhóm ở trường trung học (D'Augelli AR, Pilkington NW, Hershberger SL, 2002) Một cuộc thăm dò được thực hiện vào năm 2005 bởi Harris Interactive and GLSEN cho biết 60% HS (từ 13-18 tuổi) đã bị quấy rối bằng lời nói hoặc thể chất hoặc bị hành hung trong năm học vì chủng tộc/ dân tộc hoặc người khuyết tật, khuynh hướng hướng tính dục, biểu hiện giới tính hoặc tôn giáo Hơn một nửa số vụ này xuất phát từ xu hướng tính dục Trong số những HS tự nhận mình là LGBT có đến 90% đã bị bắt nạt trong năm Trong đó, 66% bị bắt nạt lời nói, 16% bị quấy rối cơ thể và 8% bị tấn công HS LGBT cho biết họ cảm thấy không an toàn tại trường học nhiều hơn gấp ba lần so với

HS dị tính (Harris Interactive and GLSEN, 2005)

Cuộc khảo sát The National School Climate Survey năm 2005 được thực hiện bởi Gay, Lesbian and Straight Education Netwon (GLSEN) cho biết ¾ HS trung học được khảo sát có cảm giác bị xúc phạm khi nghe từ đồng bóng và 90% HS nghe thuật ngữ

“gay” để ám chỉ ai đó ngu ngốc hoặc một điều gì đó vô giá trị Nghiên cứu cũng cho

thấy bắt nạt xung quanh vấn đề định hướng tình dục, không tuân thủ hành vi giới và ăn mặc theo mặc định giới là hình thức bắt nạt phổ biến chỉ sau vấn đề ngoại hình (The National School Climate Survey, 2005)

Trang 20

Trong khảo sát toàn quốc tại Hoa Kỳ năm 2016 do Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia thực hiện (2013) cho thấy 74,1% HS LGBT bị bắt nạt bằng lời nói (ví dụ, được gọi là tên, bị đe dọa) trong 1 năm qua vì xu hướng tính dục của họ và 55,2% vì biểu hiện giới tính của họ Có đến 36,2% HS LGBT bị bắt nạt về thể chất (ví dụ, bị đẩy, xô đẩy), 22,7% bị bắt nạt vì biểu hiện giới tính và 49% HS LGBT có kinh nghiệm từng bị đe doạ trực tuyến trong năm qua

Những nghiên cứu chỉ rằng hành vi bắt nạt thông qua lời nói đều liên quan đến nhận thức tình dục của nạn nhân (Vd: gọi nạn nhân là đồng tính nam, đồng tính nữ hoặc kẻ biến thái, lập dị) Điều này đặc biệt gây tổn thương nghiêm trọng đối với HS trung học

Nghiên cứu “You’re so gay!”: Do different forms of bul-lying matter for adolescent males?” (2008) được thực hiện bởi các tác giả Swearer, S., Turner, R K., Givens, J E.,

& Pollack, W S đã cho thấy rõ điều này Những người tham gia được chia thành hai nhóm dựa trên việc họ có bị bắt nạt hay không khi gọi là đồng tính Trong số 251 người tham gia, 121 (48%) báo cáo đã bị bắt nạt và 127 (50%) nói rằng họ đã không bị bắt nạt trong năm qua (2% không báo cáo) Trong số 121 người tham gia bị bắt nạt, 32 người (26%) báo cáo rằng họ đã bị bắt nạt vì những người khác gọi họ là gay (Nhóm 1) và 89 người tham gia (74%) báo cáo rằng họ đã bị bắt nạt vì những lý do khác, không bao gồm được gọi là đồng tính (Nhóm 2) Phù hợp với dự đoán, những em bị bắt nạt vì được gọi

là đồng tính đã trải qua tâm lý đau khổ lớn hơn, bắt nạt bằng lời nói và thể xác nhiều hơn, và nhận thức tiêu cực hơn về trải nghiệm ở trường của chúng so với những cậu bé

bị bắt nạt vì những lý do khác (Swearer, S., Turner, R K., Givens, J E., & Pollack, W

S, 2008)

Kết quả từ Khảo sát Hành vi rủi ro thanh niên 2017 cho thấy, trên toàn quốc, nhiều

HS trung học Hoa Kỳ tự nhận mình là đồng tính nữ, đồng tính nam hoặc lưỡng tính (LGB) đã bị bắt nạt về tài sản của trường (33%) và bị đe doạ trực tuyến (27,1%) năm vừa qua, so với các bạn đồng tính khác giới (lần lượt là 17,1% và 13,3%) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhiều sinh viên LGB (10%) hơn sinh viên dị tính (6,1%) cho biết họ không đến trường vì lo ngại về an toàn Trong số những HS được xác định là không chắc chắn về xu hướng tình dục của họ, họ cũng báo cáo bị bắt nạt về tài sản của trường

Trang 21

(24,3%), bị đe doạ trực tuyến (22%) và không đến trường vì lo ngại về an toàn (10,7%) (U.S Department of Health and Human Services, 2018)

Trong cuộc khảo sát quốc gia về thanh thiếu niên (tuổi từ 12 đến 17) được ủy quyền bởi National Mental Health Association (NMHA), cho biết 78% thanh thiếu niên báo cáo những đứa trẻ đồng tính hoặc được cho là đồng tính bị trêu chọc hoặc bắt nạt trong trường học của họ và cộng đồng, 93% nghe thanh niên khác sử dụng từ xúc phạm về xu hướng tình dục ít nhất một lần trong một thời gian và 51% nghe thấy những từ ấy mỗi ngày với từ đồng tính (National Mental Health Association, 2018)

Tóm lại, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài bị bắt nạt của

HS THCS CBHĐT Đó là những khảo sát mang tính chất toàn quốc do các tổ chức về thanh niên và giáo dục quốc gia đến những nghiên cứu sâu phục vụ cho mục đích tham vấn và trị liệu Có thể nói, vấn đề bị bắt nạt học đường nói chung và vấn đề bị bắt nạt trên cơ sở giới đã và đang trở thành vấn đề được quan tâm và tập trung nghiên cứu Những biện pháp bảo vệ HS CBHĐT bị bắt nạt ngày càng được tuyên truyền rộng rãi

và dần trở thành chủ đề quan trọng và có sức hút

1.1.2 Những nghiên cứu về thực trạng bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT ở Việt Nam

1.1.2.1 Những nghiên cứu về thực trạng bị bắt nạt của HS THCS ở Việt Nam

Tác giả Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole trong nghiên cứu về:“Bị bắt nạt bởi bạn cùng lứa và mối liện hệ với nhận thức bản thân, trầm cảm ở HS phổ thông” năm

2009 đã tiến hành nghiên cứu việc bị bắt nạt ở HS phổ thông và mối quan hệ giữa việc

bị bị bắt nạt bởi bạn cùng lứa và nhận thức bản thân và trầm cảm ở HS phổ thông Nghiên cứu được tiến hành trên 400 HS từ các trường tiểu học ở vùng nông thôn và một trường trung học ở vùng trung tâm bang Tennessee, Hoa Kỳ trong đó có 100 trẻ lớp ba, 96 trẻ lớp bốn, 100 trẻ lớp năm và 104 trẻ lớp sáu Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cứ khoảng

3 HS thì có 1 em bị ít nhất một hình thức bắt nạt nào đó HS nữ bị bắt nạt về mặt quan

hệ nhiều hơn HS nam và bị bắt nạt về mặt cơ thể ít hơn HS nam Tuy vậy, điểm hạn chế của đề tài là các khách thể nghiên cứu ở Mỹ và định hướng nghiên cứu tương tự ở Việt Nam nhằm so sánh giữa HS hai nền văn hóa trong nghiên cứu xuyên văn hóa về quan

hệ giữa bắt nạt, nhận thức và trầm cảm là vấn đề mới chỉ bắt đầu được quan tâm (Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole, 2009)

Trang 22

Tác giả Phạm Thị Ánh, Nguyễn Thị Si đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quan hệ giữa hiện tượng bị bắt nạt và nhận thức bản thân ở HS phổ thông” năm 2010 trên 161

HS từ ba trường tiểu học và một trường THCS ở: Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Nội Tỉ lệ trẻ bị bắt nạt là đáng báo động: trong số 100 trẻ thì có 38 trẻ (hơn 1/3) thường xuyên hoặc luôn luôn bị ít nhất một hình thức bắt nạt Phổ biến nhất là bắt nạt về các mối quan

hệ như bêu xấu, làm bạn bè xa lánh (Phạm Thị Ánh, Nguyễn Thị Si, 2010)

Tác giả Nguyễn Thị Nga (2011) đã tiến hành nghiên cứu:“Tìm hiểu hiện tượng bị bắt nạt ở HS phổ thông trên địa bàn huyện Thanh Hà, Hải Dương” đề tài được nghiên

cứu trên HS khối lớp 4, 5 của trường tiểu học Tiền Tiến Thanh Hà - Hải Dương, HS của trường THCS Tiền Tiến - Thanh Hà - Hải Dương và HS của trường trung học phổ thông (THPT) bán công Thanh Bình - Thanh Hà - Hải Dương Từ đó, tác giả đưa ra những đề xuất nhằm giảm thiểu hiện tượng bị bắt nạt ở HS phổ thông (Nguyễn Thị Nga, 2011) Tác giả Nguyễn Thị Thu Sương trong luận văn Thạc sĩ tâm lý học lâm sàng trẻ em

và vị thành niên năm 2015 đã tiến hành nghiên cứu:“Mối tương quan giữa lo âu - trầm cảm và mức độ bị bắt nạt của HS THCS” trên 300 khách thể là HS THCS: TP HCM,

Bến Tre, Kiên Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ bị bắt nạt có tương quan thuận với lo âu - trầm cảm HS có mức độ bị bắt nạt thường xuyên về thể chất, tinh thần, kinh tế và tình dục sẽ có mức lo âu và trầm cảm cao Những HS nữ gặp các vấn đề về lo

âu và trầm cảm nhiều hơn HS nam HS giỏi có mức độ lo âu cao nhất trong khi HS yếu

có lại có mức trầm cảm cao nhất sau đó mới đến HS giỏi HS bị bắt nạt tinh thần có các vấn đề về lo âu và trầm cảm nhiều hơn ở các mức độ khác nhau (Nguyễn Thị Thu Sương, 2015)

Tác giả Dương Thị Thanh và các cộng sự trong bài báo nghiên cứu về “Một số yếu

tố liên quan đến bị bắt nạt của HS trường THCS Tiều Châu, thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc”

(2018) đã mô tả thực trạng bị bắt nạt và phân tích một số yếu tố liên quan quan tới vai trò chỉ bị bắt nạt của HS trường THCS Tiều Châu, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Kết quả cho biết tỷ lệ HS bị bắt nạt là 59.4% trong đó tỷ lệ chỉ bị bắt nạt là 30.8% Bên cạnh

đó, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị dành cho nhà trường và gia đình để giảm thiểu tình trạng trên (Dương Thị Thanh và các cộng sự, 2018)

Trang 23

Có thể thấy, ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về hiện tượng bắt nạt học đường Tuy nhiên mảng đề tài này vẫn còn khá mới mẻ và chưa được mở rộng về hướng nghiên cứu, đa phần chỉ được đề cập ở mô tả thực trạng mà chưa có những nghiên cứu mới chuyên sâu trong khi đó, đây là hiện tượng khá nhạy cảm và đa dạng

1.1.2.2 Những nghiên cứu về thực trạng bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, các đề tài nghiên cứu về LGBT nói chung và đồng tính nói riêng rất ít chủ yếu tập trung ở đối tượng sinh viên mà chưa có sự mở rộng nhiều ở các

đối tượng khác Cụ thể kể đến như nghiên cứu về “Thái độ của Sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đối với Tình dục đồng giới” của các tác giả Đặng Kim

Hoàn, Nguyễn Thị Thanh Phượng, Đinh Thị Huyền Trang tiến hành nghiên cứu năm

2012 (Đặng Kim Hoàn, Nguyễn Thị Thanh Phượng, Đinh Thị Huyền Trang, 2012); bài

báo khoa học“Đồng tính luyến ái trong giới trẻ hiện nay” (2014) của Nguyễn Thị Bích

Hằng (Nguyễn Thị Bích Hằng, 2014)

Có thể đề cập đến bài viết: “Nhận thức, thái độ và ứng xử của học sinh trung học với bạn bè có biểu hiện đồng tính” do tác giả Huỳnh Văn Sơn và cộng sự thực hiện

Nghiên cứu trên 300 mẫu chọn từ ba trường trung học, gồm 48% là HS THCS và 52%

HS trung học phổ thông, 43% nam và 57% nữ Kết quả cho thấy có khoảng 2.5% HS trung học thừa nhận hình như mình có xu hướng đồng tính, trong đó có đến 70% trong

số cho rằng cha mẹ sẽ kiên quyết không chấp nhận sự thật đó Một số bạn thấy mình bị

kỳ thị, áp lực bởi thầy cô Những số liệu thống kê cũng minh chứng, bạn trẻ không nói nỗi lòng với cha mẹ khi phát hiện mình là người đồng tính lên đến 95% Điều này cho thấy mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái vừa gần - vừa xa lạ (Huỳnh Văn Sơn, 2007) Theo báo cáo nghiên cứu của UNESCO, Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2015 về LGBT trong trường học, các em thuộc LGBT cảm thấy không an toàn và hay bị bắt nạt

ở những nơi xa văn phòng nhà trường, xa thầy cô giáo, khu vực nhà vệ sinh hay bên ngoài nhà trường Chủ thể bắt nạt các em có thể là cô giáo, cán bộ công nhân viên nhà trường, bạn hay kể cả những người bán hàng rong bên ngoài cổng trường Có thể nói khuôn mẫu giới rập khuôn, hiểu biết chưa đầy đủ là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới sự bắt nạt (UNESCO, 2015)

Trang 24

Trong kết quả Nghiên cứu Thanh Thiếu niên LGBT của tổ chức Save Children và Viện nghiên cứu Y - Xã hội học IMS tại TP HCM năm 2015 về tình trạng phân biệt đối

xử vì LGBT trong trường học cho thấy: 53,8% bị bắt nạt, quấy rầy bởi bạn bè, 23% bị bắt nạt, quấy rầy bởi GV, cán bộ nhà trường, 20,4% bị ép buộc thay đổi đồng phục; 29.3% bị ép buộc thay đổi kiểu tóc, cử chỉ, điệu bộ (Save Children, Viện nghiên cứu Y

- Xã hội học IMS, 2015)

Cũng trong năm 2015, Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE), được tài trợ bởi Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam và Cơ quan

Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã thực hiện khảo sát “Có phải vì tôi là LGBT” với

sự tham gia của 2363 khách thể trả lời bảng hỏi trực tuyến đang sinh sống ở 63 tỉnh thành Việt Nam, 10 cuộc phỏng vấn sâu và 2 cuộc phỏng vấn nhóm tại TP HCM và Hà Nội Kết quả khảo sát về bắt nạt ở trường học cho thấy cứ 3 người thì có 2 người (67.5%) người từng nghe, nhìn thấy những nhận xét, hành động tiêu cực từ bạn bè và cứ 3 người thì có 1 người (38.2%) người từng nghe, nhìn thấy những nhận xét, hành động tiêu cực

từ GV, cán bộ nhà trường về LGBT Các hành vi phân biệt đối xử mà người tham gia khảo sát trải qua vì mình là người LGBT nhiều nhất là bị bắt nạt, quấy rầy bới bạn bè (53.8%), bị ép buộc thay đổi kiểu tóc, cử chỉ, điệu bộ (39.3%) và bị đối xử không công bằng vì có quan điểm ủng hộ LGBT (30.8%) Đặc biệt, hơn một nửa người chuyển giới từng bị ép buộc thay đổi đồng phục (57.7%) và bị buộc thay đổi kiểu tóc, cử chỉ, điệu

bộ (61.5%) (iSEE, 2015)

Trong báo cáo cấp khu vực“Từ sỉ nhục đến hòa nhập” về tình trạng bạo lực và bắt

nạt trong trường học nhắm vào các HS giới LGBT ở 20 nước tại Châu Á - Thái Bình Dương do UNESCO thực hiện năm 2015 Tại Việt Nam, HS là người LGBT bị bắt nạt dưới nhiều hình thức như dùng ngôn từ bắt nạt, gọi tên và các kiểu chọc ghẹo, bắt nạt bằng việc đánh đập, đe dọa, bắt nạt tinh thần như cô lập, lan truyền bàn tán về giới tính Trong đó, có đến 70% bị bắt nạt bằng ngôn từ, 18% có bị xâm hại tình dục So với các nước cùng trên bảng khảo sát là Úc, Trung Quốc, Hong Kong, Nhật, Hàn, Thái Lan thì

tỷ lệ bắt nạt bằng ngôn từ tại Việt Nam cao nhất (UNESCO, 2015)

Tổ chức UNESCO, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam năm 2016 tiến hành nghiên cứu về bạo lực học đường trên cơ sở giới tại Việt Nam trên 3.698 khách thể khảo sát,

Trang 25

280 người tham gia các cuộc thảo luận nhóm và 85 cuộc phỏng vấn sâu với HS, GV/ cán bộ quản lý nhà trường và ba mẹ HS Kết quả nghiên cứu về trải nghiệm bạo lực học

đường trên cơ sở giới cho thấy HS LGBT (nhất là những em nam có biểu hiện“nữ tính”,

bị hấp dẫn bởi người cùng giới hay các thanh niên chuyển giới/ khác biệt về giới) có nguy cơ đặc biệt cao trở thành nạn nhân và có xu hướng phải chịu đựng mọi loại bạo lực

- 71% HS LGBT trước khảo sát đã từng bị bạo lực thể chất; 72.2% bị bạo lực lời nói

HS nam bị bạo lực nhiều hơn HS nữ ở tất cả các dạng (trừ việc là đối tượng của những chuyện bàn tán, ngồi lê đôi mách) Các vụ bạo lực thuộc tất cả các dạng của BLHĐTCSG xảy ra phổ biến hơn trong HS THCS so với HS THPT (UNESCO, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, 2016)

Nghiên cứu mới nhất năm 2020, do tổ chức theo dõi nhân quyền Human rights watch

thực hiện hiện mang tên “GV nói tôi bị bệnh – Những rào cản đối với quyền giáo dục của thanh thiếu niên LGBT ở Việt Nam” Thanh thiếu niên thuộc các nhóm thiểu số về

tính dục và giới ở Việt Nam phải đối mặt với nạn kỳ thị và hắt hủi ở nhà cũng như ở trường đặc biệt là bị bắt nạt về lời nói diễn ra phổ biến Dù ít xảy ra hơn, một số thanh thiếu niên LGBT cũng cho biết đã bị bạo hành thân thể Mặc dù chính phủ Việt Nam đã

có những cam kết đáng kể nhằm công nhận các quyền của những người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới (LGBT) nhưng các tiến bộ hữu hình vẫn ít hơn nhiều so với lời hứa, khoảng cách giữa chính sách và thực tế nói trên làm nhức nhối những người trẻ tuổi Một trong những bước đi đầu tiên là phải sửa đổi lại quan niệm cố hữu phổ biến rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh và cần được chữa trị (Human rights watch, 2020)

Như vậy, ở Việt Nam hiện nay những nghiên cứu về đồng tính còn rất hạn chế tập trung chủ yếu ở đối tượng sinh viên và giới trẻ Vấn đề bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT vẫn đang diễn ra và chưa có dấu hiệu thuyên giảm Đa số các nghiên cứu về thực trạng

bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện bởi các tổ chức

ủng hộ quyền của người đồng tính như tổ chức UNESCO, viện nghiên cứu Xã hội, Kinh

tế và Môi trường (iSEE), tổ chức Save Children và Viện nghiên cứu Y - Xã hội học IMS

và mới nhất là nghiên cứu của Human rights watch Đây được xem là vấn đề khá cấp

Trang 26

bách hiện nay cần được tiến hành, đặc biệt là những nghiên cứu thuộc lĩnh vực tâm lý học nhằm đóng góp các biện pháp nhằm giảm thiểu thực trạng trên

1.2 Lý luận về thực trạng bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT

1.2.1 Lý luận về bắt nạt và bị bắt nạt

1.2.1.1 Khái niệm bắt nạt và người bắt nạt

Học đường là môi trường giáo dục trong nhà trường hay các cơ sở giáo dục khác Các thành viên trong môi trường học đường gồm: cán bộ quản lý, GV, cán bộ, nhân viên khác và HS Các hoạt động được diễn ra trong môi trường học đường là hoạt động quản

lý giáo dục của các cán bộ quản lý, hoạt động giáo dục của GV và hoạt động học của

HS Trong phạm vi của đề tài, bắt nạt được nhìn nhận dưới góc độ hành vi lệch chuẩn trong môi trường học đường Bị bắt nạt là hành vi mang tính chất thụ động được thực hiện bởi một hoặc một nhóm HS mà ở đó diễn ra sự mất cần bằng về thể chất và quyền lực trong mối quan hệ Hành vi này gây ảnh hưởng rất lớn đến thể chất và tinh thần của nạn nhân cũng như sự lành mạnh của môi trường học đường Chuẩn mực học đường chịu ảnh hưởng các chuẩn mực xã hội Trường học cần hướng HS tuân thủ các chuẩn mực học đường và hình thành văn hóa học đường tích cực, lành mạnh tạo môi trường học tập và làm việc tốt cho các cán bộ quản lý, GV và HS Như vậy, bắt nạt là hành vi lệch chuẩn trong môi trường học đường làm ảnh hưởng xấu đến văn hóa học học đường Người bắt nạt đe dọa hoặc sử dụng sức mạnh thể chất và quyền lực tấn công người khác gây ra tổn thương về thể chất, tinh thần hay vật chất cho người bị bắt nạt, ảnh hưởng xấu đến môi trường học đường nói chung

Theo Từ điển tiếng việt, “Bắt nạt là cậy quyền thế, sức mạnh, dọa dẫm làm cho người khác phải sợ” (Hoàng Phê, 1988) Theo từ điển tiếng Anh: “Bắt nạt (Bully) là đe dọa, ức hiếp kẻ yếu hơn buộc phải làm gì đó cho mình”

Trên Thế giới có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về hiện tượng bắt nạt Mỗi tác giả lại có cách định nghĩa khác nhau về vấn đề này, có thể kể đến như:

Tác giả Dan Olweus, đưa ra định nghĩa như sau: “Bắt nạt là khi ai đó liên tục và có chủ đích nói hoặc làm điều gì đó tồi tệ hay làm tổn thương một người khác, mà người này đã phải cố gắng bảo vệ bản thân mình trong một thời gian dài khó khăn” Yếu tố

quan trọng của bắt nạt trực tiếp hay gián tiếp là sự đe dọa về thể chất hoặc tâm lý xảy ra

Trang 27

liên tục theo thời gian để tạo ra một mô hình quấy rối và lạm dụng nạn nhân (Dan Olweus, 1993)

Các tác giả Ahmad & Smith, 1994; Smith & Sharp, 1994 cho rằng bắt nạt bao gồm các hành vi trực tiếp như trêu chọc, chế giễu, đe dọa, đánh và ăn cắp được khởi xướng bởi một hoặc nhiều HS chống lại nạn nhân Ngoài các cuộc tấn công trực tiếp, bắt nạt cũng có thể gián tiếp hơn bằng cách khiến một HS bị cô lập về mặt xã hội thông qua việc loại trừ có chủ ý Trong khi nam thường bắt nạt trực tiếp, nữ có xu hướng sử dụng các chiến lược gián tiếp tinh tế hơn, chẳng hạn như truyền bá tin đồn và thực thi sự cô lập xã hội (Ahmad & Smith, 1994); (Smith & Sharp, 1994)

Tác giả Banks (1997) cho rằng bắt nạt bao gồm những hành vi trực tiếp như trêu chọc, chửi máng, đe dọa, đánh và chiếm đồ của nạn nhân bị bắt nạt (Banks, 1997) Rigby (1998) cho rằng bắt nạt là bất cứ hành vi nào có ý định làm tổn thương người khác về cơ thể hay cảm xúc Nó bao gồm cả những hành động nhìn thấy được như đấm,

đá, gọi tên và cả phát tán tin đồn, chế nhạo các khuyết tật cơ thể, giễu cợt về sắc tộc, ngăn không cho chơi với nhóm bạn, làm nhục, hoặc kể cho người khác chuyện mà nạn nhân muốn giấu (Rigby, 1998)

Theo Lumsdem (2002), bắt nạt xuất hiện khi HS ngoan cố và lặp lại việc thể hiện sức mạnh với người khác nhằm mục đích thù địch, có ý làm hại (Lumsden, 2002) Theo Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ (200 Independence Avenue, S.W

Washington, D.C 20201), “Bắt nạt là hành vi hung hăng, gây hấn, muốn thể hiện quyền lực lặp đi lặp lại nhiều lần ở HS Có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, gây tổn thương

về thể xác và tinh thần người bị bắt nạt”

Theo Time for Tolerance (2008), “Bắt nạt có thể hiểu bao gồm nhiều kiểu hành vi khác nhau Bắt nạt thân thể gồm bất kì kiểu bạo lực nào về thân thể, bất kể nó nhỏ như thế nào Kiểu nắt nạt này chiếm 39.5% của bắt nạt học đường, bao gồm việc đánh đập nạn nhân hoặc một hành động đơn giản như ngoéo chân, làm ai đó vấp ngã Kiểu bắt nạt khác là bắt nạt bằng lời nói gồm những hành vi xúc phạm, trêu chọc, chế nhạo và những đe dọa bạo lực Tiếp đến là hăm dọa, nạn nhân bị hăm dọa khiến họ phải làm những việc như làm bài tập về nhà, đưa tiền,… cho người hăm dọa Cuối cùng là bắt nạt trên mạng, đây là kiểu bắt nạt nguy hiểm nhất vì nó có thể thực hiện một cách vô

Trang 28

danh, gồm những lời đe dọa bạo lực, bạo hành bằng ngôn từ và phát tán thông tin sai với mục đích làm bẽ mặt ai đó hoặc làm tổn thương danh dự, nhân phẩm của họ hay làm tổn hại uy tín của họ” (Time for Tolerance, 2008)

Chính phủ Ontario (2013) cho rằng:“Bắt nạt là hành vi gây hấn mà điển hình là có tính lặp đi lặp lại theo thời gian Hành vi đó nhằm mục đích làm hại, gây sợ hãi hoặc khủng hoảng hay tạo một môi trường tiêu cực ở trường cho một người khác Sự bắt nạt xảy ra trong một tình huống khi có sự mất quân bình thật sự hay nhận biết về vấn đề quyền lực” (Ontario, 2013)

Sau khi những lo ngại về các định nghĩa không nhất quán được nêu ra tại Hội nghị thượng đỉnh về phòng chống bắt nạt đầu tiên diễn ra vào năm 2010, Trung tâm kiểm soát

và phòng ngừa dịch bệnh và Bộ Giáo dục Hoa Kỳ đưa ra sáng kiến phát triển định nghĩa thống nhất về bắt nạt Với đầu vào từ một nhóm các nhà nghiên cứu và thực hành, định

nghĩa sau đây đã được thiết lập:“Bắt nạt là bất kỳ hành vi gây hấn không mong muốn nào của một thanh niên hoặc nhóm thanh thiếu niên khác liên quan đến sự mất cân bằng quyền lực được quan sát hoặc nhận thức và được lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc rất có khả năng lặp lại Bắt nạt có thể gây tổn hại hoặc đau khổ cho thanh thiếu niên mục tiêu gồm tổn hại về thể chất, tâm lý, xã hội hoặc giáo dục” (Gladden và cộng sự, 2014) Đây

là quan niệm khá phổ biến và phù hợp hiện nay trên Thế giới

Trên thực tế, có một khái niệm rất dễ nhầm lẫn với khái niệm bắt nạt đó là bạo lực

Cả hai khái niệm này đều có điểm chung là đều chỉ những hành vi dùng lời nói hay hành động được lặp đi, lặp lại nhiều lần trong thời gian nhất định gây tổn thương đến tâm lý,

cơ thể của nạn nhân Tuy nhiên, có sự khác biệt về mức độ, tính chất trong hành vi của hai khái niệm trên Bắt nạt chủ yếu tập trung ở lứa tuổi học đường, khái niệm còn lại có

phạm vi rộng hơn Tổ chức Y tế Thế giới (2002) định nghĩa “Bạo lực là việc đe dọa sử dụng hoặc sử dụng sức mạnh thể chất, quyền lực đối với một người khác/ một nhóm người/ một cộng đồng, gây ra/ làm tang khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển, gây ra sự mất mát” Theo khái niệm này: (1) Bạo

lực là hành động có mục đích làm hại một hoặc nhiều đối tượng cụ thể mà nó hướng tới; (2) Bạo lực là hành động của người có sức mạnh thể chất hoặc/ và quyền lực; (3) Đối tượng hướng tới của bạo lực có thể là một cá nhân, một nhóm người hoặc một cộng đồng

Trang 29

dân cư; (4) Mức độ làm hại của hành vi bạo lực rất khác nhau: chỉ đe doạ gây cho đối phương lo lắng, sợ hãi, căng thẳng để đạt mục đích của mình; có thể ở mức độ cao hơn: gây ra tổn thương hoặc làm tăng khả năng tổn thương, tử vong, gây mất mát về vật chất, người thân, các yếu tố tinh thần khác để quy phục đối phương, đạt được mục đích của mình (Nguyễn Văn Tường, 2019)

Tác giả Huỳnh Văn Sơn và cộng sự (2014) đưa ra khái niệm bạo lực học đường như

sau:“bạo lực học đường là một thuật ngữ dùng để chỉ các hành động làm tổn hại đến thể chất, tinh thần và vật chất của người khác dưới những hình thức khác nhau diễn ra trong môi trường học đường” (Tác giả Huỳnh Văn Sơn và cộng sự, 2014)

Trong Nghị định số: 80/2017/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ“Quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường” thuật

ngữ bạo lực học được đã được giải thích rõ tại Mục 5, Điều 2: bạo lực học đường là hành

vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh

dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và hành vi có ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của người học xảy ra trong các cơ sở giáo dục hoặc lớp độc lập

Một số học giả trong nước đã chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa hành vi bạo lực học đường và hành vi bắt nạt học đường: Nguyễn Thị Hoa (2014), Nguyễn Đức Sơn và

cộng sự thuộc Dự án“Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng”, Nguyễn Thị Như

Trang (2017) Hành vi bắt nạt học đường là một trong những biểu hiện của hành vi bạo lực học đường Theo đó, các biểu hiện và cách ứng phó của HS THCS với hành vi bạo lực học đường, trong đó bao gồm cả hành vi bắt nạt học đường

Như vậy, có thể thấy có ba tiêu chí để xem xét một hành vi có phải là bắt nạt hay không: biểu hiện của sự hung hăng, cố ý làm hại người khác, giữa hai bên có sự chênh lệch về sức mạnh hay người bị bắt nạt không có khả năng bảo vệ bản thân và hành vi này được lặp đi lại nhiều lần trong khoảng thời gian nhất định Đầu tiên và quan trọng nhất đó là những hành vi bắt nạt mà nạn nhân hay người bị chọn là mục tiêu bắt nạt không hề mong muốn Đây là tiêu chí giúp phân biệt bắt nạt với trò đùa thông thường Yếu tố thứ hai là sự mất cân bằng trong quyền lực Người bắt nạt sử dụng những lợi thế của bản thân hay kiểm soát được tình huống đang diễn ra để nâng cao vị thế và quyền lực của mình khiến cho nạn nhân có rất ít khả năng kháng cự hoặc dường như không có

Trang 30

Sự khác biệt về sức mạnh này có thể gồm nhiều yếu tố như: tuổi tác, sức khỏe, khả năng giao tiếp, năng lực học tập hay nạn nhân là thiểu số trong nhóm như sự khác biệt chủng tộc, màu da, xu hướng tính dục, nguồn gốc quốc gia hay khuyết tật Yếu tố thứ ba

đó là nạn nhân phải trải qua các tình huống bị bắt nạt trong một thời gian dài và các hành

vi này được lặp đi lặp lại một cách không mong muốn Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất, tinh thần của nạn nhân

Đề tài này cho rằng: “Bắt nạt là hành vi hay lời nói hung hăng, gây hấn được lặp

đi lặp lại của của một cá nhân hoặc một nhóm người cậy thế, cậy quyền muốn thể hiện sức mạnh, quyền lực gây tổn hại đến thể chất và tinh thần của người khác” Từ

đó: “Người bắt nạt là một cá nhân hay nhóm người cố tình sử dụng hành vi hay lời

nói lặp đi lặp lại gây tổn thương đến thể chất và tâm lý của người khác mà ở đó người bắt nạt chiếm ưu thế hơn về quyền lực hay sức mạnh”

1.2.1.2 Khái niệm người bị bắt nạt

Tác giả Olweus (1991) đã đưa ra định nghĩa về bị bắt nạt như sau:“Một đứa trẻ bị bắt nạt hoặc là nạn nhân của hiện tượng bắt nạt khi thường xuyên bị hứng chịu những hành động tiêu cực của một đứa trẻ hay một nhóm đứa trẻ khác Đó là hành động tiêu cực mà người nào đó cố tình hoặc chủ ý gây ra, gây tổn thương hoặc làm cho người khác lo lắng bằng cách sử dụng sức mạnh thể chất, từ ngữ hoặc bằng cách nào đó như nét mặt, cử chỉ điệu bộ tiêu cực và cố ý loại ra khỏi nhóm (Olweus, 1991)

Tác giả Stephen E Brock trong nghiên cứu“The Nature and Consequences of Peer Victimization” đã đưa ra định nghĩa bị bắt nạt bởi bạn bè cùng trang lứa là hậu quả của

những hành động gây hấn cố ý của một hoặc một nhóm bạn cùng trang lứa được tạo ra

từ sự chênh lệch về số lượng hoặc sức mạnh đối với những người bị bắt nạt Mục tiêu của những người bắt nạt là gây tổn hại đến thân thể và/ hoặc các mối quan hệ xã hội Những đứa trẻ bị bắt nạt có thể hoặc không thể ứng phó với những hành vi gây hấn này Cũng như hậu quả của những hành vi gây hấn, những trẻ bị bắt nạt có thể bị làm tổn thương, bị lạm dụng hoặc giảm lòng tự trọng Những hành vi này diễn ra trong một thời gian nhất định (Stephen E Brock, 1993)

Nghiên cứu của Olweus, 1991, 1997 chỉ ra trẻ bị bắt nạt thường nhỏ hơn và yếu hơn

về thể chất so với trẻ bắt nạt (Olweus, 1991, 1997) Tác giả Voss và Mulligan (2000)

Trang 31

cũng minh chứng rằng những trẻ thấp bé thường bị bắt nạt gấp hai lần so với trẻ cao lớn (Voss, Mulligan, 2000) Stephenson và Smith (1990) cũng cho thấy trẻ bị bắt nạt có xu hướng thiếu sức mạnh thể chất (Stephenson, Smith, 1990) Thêm vào đó nghiên cứu của Austin và Joseph, 1996; Boulton và Smith, 1994; Callaghan và Joseph, 1995; Mynard

và Joseph, 1997 cho biết những trẻ bị bắt nạt thường tin rằng chúng ít có khả năng hơn những bạn cùng trang lứa

Theo Nguyễn Thị Nga:“HS phổ thông bị bắt bạt là những em có độ tuổi từ 6 đến 18 tuổi đang ngồi trên ghế nhà trường bị tổn thương về cơ thể và tâm lý do hành vi hoặc lời nói cố tình được lặp đi lặp lại của HS khác gây ra” (Nguyễn Thị Nga, 2011)

Theo tác giả Nguyễn Thị Duyên (2012), “Bị bắt nạt là việc một cá nhân hay một nhóm người nào đó bị tổn thương về mặt thể chất hoặc tâm lý do hành vi hoặc lời nói

cố ý được lặp đi lặp lại của người khác gây ra” Tác giả cũng đưa ra những đặc điểm

của nạn nhân bị bắt nạt: Những HS hay bị bắt nạt thường yếu đuối về thể chất, rụt rè, nhút nhát, lầm lì ít nói, cau có, không có kỹ năng kết bạn nên ít bạn bè, thường tách biệt, luôn cảm thấy thiếu sự hỗ trợ chung quanh nên dễ sợ hãi, và thiếu tự tin vào khả năng

và sức mạnh của chính mình, hoặc là những trẻ bị khuyết tật Tuy nhiên những trẻ này cũng thường có nhiều nguy cơ sẽ đi bắt nạt những trẻ yếu thế hơn mình (Nguyễn Thị Duyên, 2012)

Tác giả Nguyễn Thị Thu Sương định nghĩa:“Người bị bắt nạt bởi bạn bè cùng trang lứa là người bị một hay một nhóm người có những hành vi làm tổn thương về mặt cơ thể hay cảm xúc gây ra những hậu quả đến tâm lý, cảm xúc và chức năng trong cuộc sống”

(Nguyễn Thị Thu Sương, 2015)

Như vậy, trẻ bị bắt nạt sẽ xuất hiện khi có trẻ thực hiện hành vi bắt nạt người khác Những đứa trẻ bị bắt nạt thường không có khả năng bảo vệ được bản thân, rụt rè, thiếu

tự tin, không có kỹ năng kết bạn và giao tiếp hoặc gặp khó khăn trong vấn đề học tập, gia đình, Đôi khi, sự khác biệt giữa trẻ so với nhóm hay với đa số cũng là nguyên nhân khiến các em thường xuyên phải bị bắt nạt bởi những trẻ khác Trẻ bị bắt nạt phải chịu những hậu quả nặng nề không chỉ về thể chất mà còn ảnh hưởng đến tinh thần trong suốt

quãng đời còn lại Từ những nhận định trên chúng tôi cho rằng: “Người bị bắt nạt là cá

nhân hay một nhóm người bị cá nhân hay nhóm người khác có sức mạnh hơn về

Trang 32

quyền lực hay thể chất cố ý gây tổn thương về cơ thể và tâm lý bằng những hành vi hay lời được nói lặp đi lặp lại”

1.2.1.3 Một số hình thức bị bắt nạt thường gặp

Mỗi nhà nghiên cứu lại có cách phân loại khác nhau về các hình thức bắt nạt Để

có thể đề cập đến một số quan niệm sau:

Hai tác giả Solberg M.E and Olweus D (2003) cho rằng có bốn hình thức bắt nạt

về thể chất, bắt nạt về lời nói, bắt nạt về quan hệ hay xã hội và bắt nạt qua mạng (Solberg M.E and Olweus D, 2003)

Theo Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ (200 Independence Avenue, S.W Washington, D.C 20201): Bị bắt nạt bao gồm các hành động như đe dọa, lan truyền tin đồn, tấn công người khác về thể chất hoặc bằng lời nói để loại trừ một người nào đó khỏi nhóm Có ba loại bắt nạt chính:

Bị bắt nạt bằng lời nói hoặc chữ viết: Trêu chọc, đe dọa, gây hại; Bêu xấu tên; Nhận xét giới tính không phù hợp; Sử dụng những từ ngữ châm chọc

Bị Bắt nạt xã hội: Liên quan đến các mối quan hệ của nạn nhân, gây tổn thương về danh dự, nhân phẩm, uy tín của nạn nhân: Cố tình tách người khác ra khỏi nhóm; Nói xấu người khác với bạn bè để cô lập; Lan truyền tin đồn không tốt về ai đó; Ngăn cản, kiếm chuyện với người khác

Bị Bắt nạt thể chất: Làm tổn thương cơ thể hoặc tài sản của người khác: Đánh/ đá/ cấu véo; Khạc nhổ; Chạy/ đẩy; Chiếm hoặc phá vỡ đồ vật của người khác; Làm những

về mặt tâm lý hoặc thể chất Bắt nạt qua mạng có thể diễn ra bất cứ đâu và bất cứ lúc nào chỉ cần có phương tiện công nghệ thông tin và không giới hạn người tham gia, thậm chí nội dung gây tổn thương có thể được gửi đi đến nhiều nạn nhân cùng một lúc Các hình thức bắt nạt qua mạng gồm gửi tin nhắn điện thoại, email, mạng xã hội, qua website,

Trang 33

tin nhắn điện tử hoặc hình ảnh/ video gửi qua điện thoại, đưa thông tin ác ý, bôi nhọ, đưa các nội dung, hình ảnh, đoạn phim gây ảnh hưởng xấu, làm nhục người khác mà không có sự đồng ý (Kowalski R.M and Limber S.P, 2007)

Như vậy, trên thế giới có khá nhiều cách phân loại khác nhau về hành vi bắt nạt học đường, chủ yếu tập trung trên 2 cơ sở chính là phân loại theo cách thức và phân loại theo mục đích Dựa trên cách thức thì bắt nạt có thể được chia thành bắt nạt bằng sức mạnh thể chất, bắt nạt bằng ngôn ngữ, bắt nạt bằng phương tiện thông tin Dựa trên căn cứ mục đích, bắt nạt có thể chia thành bắt nạt thể chất, bắt nạt tinh thần, bắt nạt vật chất, bắt nạt tình dục Tuy nhiên, các cách phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, đối tượng đi bắt nạt không chỉ dùng một cách thức mà kết hợp nhiều cách thức khác nhau và nhằm vào nhiều khía cạnh khác nhau để thực hiện bắt nạt Trong phạm vi nghiên cứu, khách thể chính của đề tài là HS CBHĐT

có sự khác biệt về xu hướng tính dục chính vì vậy chúng tôi tập trung nghiên cứu năm hình thức bị bắt nạt đó là: bị bắt nạt thể chất, bị bắt nạt tinh thần, bị bắt nạt vật chất, bị bắt nạt tình dục, bị bắt nạt trực tuyến

a Bị bắt nạt thể chất

Bị bắt nạt thể chất xảy ra khi nạn nhân bị một người hay một nhóm dùng hành động

vũ lực công khai áp đặt ưu thế sức mạnh lên người đó: đấm, đá, đánh, bắt nạn nhân làm những việc họ không muốn như không cho đi vệ sinh, quỳ gối, đổ nước hay những hành động tấn công về cơ thể khác Hình thức bắt nạt này dễ nhận biết được bởi vì ta có thể quan sát được nó từ thực tế hay những dấu hiệu khi trẻ bị bắt nạt về thể chất như: trẻ có vết thương, bầm tím, quần áo sách vở bị rách, đầu tóc không gọn gàng, luôn trong trạng thái mệt mỏi, chán nản, dễ giật mình, lo sợ, buồn bã, dễ nổi nóng, giận dữ, trầm cảm, không muốn đến trường, có suy nghĩ muốn tự tử Bị bắt nạt bằng hình thức này không chỉ để lại hậu quả về phía nạn nhân mà còn ảnh hưởng đến tinh thần của những người chứng kiến cũng như tạo ra tâm lý hoang mang trong học đường

b Bị bắt nạt tinh thần

Bị bắt nạt về tinh thần xảy ra khi nạn nhân bị một cá nhân hay một nhóm người sử dụng lời nói để sai khiến, hạ thấp giá trị, danh dự, nhân phẩm bằng cách lăng mạ, xỉ nhục, bội nhọ, nói xấu, đặt biệt danh, bình luận khiếm nhã hay thậm chí tung tin đồn,

Trang 34

lôi kéo người khác loại bỏ nạn nhân ra khỏi nhóm, cô lập nạn nhân khỏi các hoạt động của lớp Lúc này, người đi bắt nạt có sức mạnh về quyền lực và tầm ảnh hưởng lớn đến tập thể hơn so với nạn nhân Hình thức bắt nạt này được nữ giới sử dụng nhiều và tinh

vi hơn nam giới nhằm thể hiện sức mạnh của bản thân và thống trị kẻ bị bắt nạt Bị bắt nạt về lời nói và mối quan hệ ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nhân cách cá nhân Nạn nhân dễ tự ti, mặc cảm, lo âu và gặp khó khăn cho việc tự đánh giá bản thân

c Bị bắt nạt vật chất

Bị bắt nạt vật chất xảy ra khi nạn nhân bị một người hay một nhóm người gây tổn hại về tài sản như: chiếm đoạt, hủy hoại tài sản, lấy hoặc giấu tài sản, phá cặp sách, bút,

thước kẻ, ép đưa tiền hay xin“đểu” Bắt nạt vật chất dễ nhận thấy trong những hành

động của một hay một nhóm HS có sức mạnh, lớn hơn quyền lực hay thể chất tiến hành

với cá thể yếu thế để đạt được mục đích vật chất

d Bị bắt nạt tình dục

Bị bắt nạt tình dục xảy ra khi nạn nhân bị một người hay một nhóm có hành vi lạm dụng tình dục hoặc xâm hại tình dục Các hành vi đó gồm lời nói, hành động trực tiếp hoặc gián tiếp lạm dụng nạn nhân: ép nạn nhân quan hệ tình dục, hẹn hò; bắt nạn nhân cởi quần áo để nhìn hoặc đụng chạm vào bộ phận riêng tư của nạn nhân, ép nạn nhân xem clip, hình ảnh nhạy cảm và những lời nói sàm sỡ, liên quan đến tình dục Bắt nạt tình dục hiện nay xảy ra khá phổ biến và có khuynh hướng tăng đối với HS THCS

e Bị bắt nạt trực tuyến

Bắt nạt trực tuyến được chúng tôi liệt kê như một hình thức gián tiếp thực ra trong bắt nạt trực tuyến có thể bao hàm một số hình thức đã phân tích như trên Bị bắt nạt trực tuyến xảy ra khi nạn nhân bị một người hay một nhóm có hành vi hành vi phán xét, phỉ báng, đe dọa, gây rắc rối cho nạn nhân thông qua các tiện ích và ứng dụng trên Internet khiến người bị bắt nạt bị tổn thương về mặt tâm lý hoặc thể chất Kẻ bắt nạt thực hiện hành vi của mình trong không gian mạng bằng nhiều cách như E-mail, hình ảnh, âm thanh, dữ liệu, tin tức tin nhắn, phòng chat, văn bản qua điện thoại di động và camera điện thoại nhằm phỉ báng, đe dọa, quấy rối, gây tổn thương cho nạn nhân

1.2.2 Lý luận về bị bắt nạt của HS THCS CBHĐT

1.2.2.1 Đặc điểm tâm lý của HS THCS

Trang 35

a Thuật ngữ HS THCS

THCS là một cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

HS THCS là HS ở độ tuổi thiếu niên từ 11 tuổi đến 15 tuổi Ở Việt Nam, lứa tuổi này trùng với thời điểm trẻ học ở bậc THCS từ lớp 6 đến lớp 9 Đây là thời kì phát triển đầy biến động, có sự nhảy vọt cả về thể chất lẫn tinh thần Về thể chất, các em bắt đầu thì (Nam: xuất tinh lần đầu, nữ có nguyệt san) Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trẻ có thể dậy thì sớm hơn hay muộn hơn (Theo Lý Minh Tiên, Nguyễn Thị Tứ, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương, 2012)

b Sự phát triển thể chất

Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẽ nhưng không đồng đều Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng (tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận) tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể, trong đó có sự nhảy vọt về chiều cao và

sự phát dục

- Chiều cao của các em tăng lên một cách đột ngột, hằng năm có thể tăng từ 5- 6 cm; Trọng lượng cơ thể hằng năm từ 2,4 - 6 kg; tăng vòng ngực… là những yếu tố đặc biệt trong sự phát triển thể chất của trẻ

- Ở giai đoạn dưới 14 tuổi vẫn còn có các đốt sụn hoàn toàn giữa các đốt xương sống, nên cột sống dễ bị cong vẹo khi đứng ngồi không đúng tư thế

- Sự tăng khối lượng các bắp thịt và lực của cơ bắp diễn ra mạnh nhất vào cuối thời kì dậy thì khiến các em khỏe ra rõ rệt Tuy nhiên, sự phát triển cơ của các em trai khác biệt nhất định báo hiệu sự hình thành ở các em những nét khác biệt về cơ thể: con trai cao lên, vai rộng ra, con gái tròn trặn dần, xương chậu rộng ra…

- Sự phát triển cơ thể diễn ra không cân đối khiến các em lúng túng, lóng ngóng

- Xương chân và tay chóng dài nhưng cơ thể phát triển chậm hơn và lồng ngực phát triển chậm, nên đầu tuổi thiếu niên có thân hình dài, hơi gầy và dễ không cân đối

- Sự phát triển của hệ tim – mạch cũng không cân đối: thể tích tim tăng nhanh, hoạt động mạnh hơn nhưng đường kính phát triển chậm hơn Điều này gây nên rối loạn tạm thời

hệ tuần hoàn máu (Đỗ Văn Luông, 2001)

Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển cơ thể của thiếu niên Tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động mạnh mẽ và những biểu hiện của sự

Trang 36

dậy thì xuất hiện Biểu hiện chủ yếu của sự chín muồi sinh dục ở các em trai là xuất tinh

và ở các em gái là hiện tượng kinh nguyệt Điều này làm nảy sinh trong các em cảm giác

về tính người lớn Sự phát dục làm cho thiếu niên xuất hiện những rung cảm giới tính mới lạ, khiến các em quan tâm nhiều hơn đến người khác giới (Lý Minh Tiên, Nguyễn Thị Tứ, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương, 2012)

c Hoạt động giao tiếp của HS THCS

Theo A N Lêônchev, động lực phát triển tâm lý của trẻ nói chung là sự thay đổi vị

trí của chúng trong hệ thống các quan hệ xã hội Ở một giai đoạn phát triển nhất định“vị trí trước đó của trẻ trong môi trường của các quan hệ xã hội bắt đầu được chú ý không còn tương thích với khả năng và chúng tìm mọi cách để thay đổi” Từ đây, xuất hiện mâu thuẫn công khai giữa cách sống của trẻ với các khả năng vốn đã quyết định cách sống của chúng Tương ứng với đó, hoạt động của trẻ cũng được cải tổ Chính vì thế, việc chuyển sang giai đoạn phát triển tâm lý mới được hoàn thiện” (Lêônchev, 1972)

Có thể thấy khi bước vào độ tuổi THCS, HS có rất nhiều thay đổi trong môi trường học tập, vốn sống, kinh nghiệm với bạn bè và sự phát triển mạnh mẽ về thể chất làm nảy sinh

ở HS THCS đặc điểm tâm lý mới, cảm giác “Cảm giác mình là người lớn” Các em

muốn được người lớn công nhận và có xu hướng bắt chước người lớn tạo nên nét tính

cách “vừa trẻ con, vừa người lớn” Do đó, các nhà tâm lý học thường gọi tên lứa tuổi này là lứa tuổi “khủng hoảng”, “tuổi mộng mơ”, “tuổi khó bảo”

Hoạt động giao tiếp bạn bè là hoạt động mang tính chủ đạo ở lứa tuổi này Vị trí bình đẳng trong quan hệ bạn bè đặc biệt hấp dẫn các em Ở thiếu niên hình thành những giá trị dễ hiểu và gần gũi với bạn bè hơn là đối với người lớn Quan hệ bạn bè ở tuổi thiếu niên phong phú, phức tạp và có nội dung hơn so với HS nhỏ Tình bạn cũng phân biệt ở những mức độ khác nhau Đó có thể là bạn cùng học, bạn thân hay bạn rất thân

Sự giao tiếp với bạn bè vượt ra ngoài phạm vi học tập, nhà trường Nó còn mở rộng trong những hứng thú mới, việc làm mới, quan hệ mới tạo thành một lĩnh vực độc lập

và rất quan trọng trong đời sống của tuổi thiếu niên (Lê Thị Xuân Mai, 2012)

d Đặc điểm nhân cách của HS THCS

Theo Vưgotsky “tự ý thức là ý thức xã hội được chuyển vào bên trong” Từ luận điểm này, T.V Dragunova nhận xét: thiếu niên trong mối quan hệ với người lớn đã “tích

Trang 37

cực lĩnh hội từ thế giới người lớn những giá trị, những chuẩn mức, phương thức hành động, tạo thành nội dung mới của tự ý thức, biến chúng thành yêu cầu của bản thân mình, thành tiêu chuẩn đánh giá và tự đánh giá” (Vũ Thị Nho, 2008)

Tự ý thức ở HS THCS hình thành và bọc lộ rõ nét với đầy đủ cấu trúc và ý nghĩa của nó Cấu trúc tự ý thức về bản thân bao gồm: sự tự nhận thức, tự đánh giá, tự giáo dục bản thân Từ sự tự nhận thức về bản thân đánh giá bản thân và người khác, các em xuất hiện nhu cầu đánh giá bản thân, đánh giá người khác, so sánh mình với người khác

để tìm ra ưu, nhược điểm của bản thân Các em có ý thức hơn với suy nghĩ của mình, biết đánh giá, phê phán bản thân Các em bắt đầu có khả năng nhận xét, đánh giá về hệ thống giá trị, về các chuẩn mực đạo đức, so sánh nó với những trải nghiệm thực tế, từ

đó hình thành quan điểm riêng Tuy nhiên sự tự nhận thức của các em còn nhiều hạn chế Các em dễ rơi vào tự kiêu, tự ti và nhạy cảm với nhận xét của người khác (Theo Lý Minh Tiên, Nguyễn Thị Tứ, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương, 2012)

Độ tuổi THCS là giai đoạn đoạn chuyển tiếp nối giữa tuổi trẻ em và người lớn Dậy thì đánh dấu sự phát triển về mặt tình dục, là một giai đoạn chuyển đổi lớn cả về thể chất lẫn tinh thần Vị thành niên như một giai đoạn khủng hoảng, phức tạp nhưng cũng vô cùng quan trọng chuẩn bị cho những bước trưởng thành sau này

1.2.3.2 Thuật ngữ đồng tính luyến ái

Theo từ điển tiếng việt của Hoàng Phê, đồng tính luyến ái là có quan hệ yêu đương, ham muốn tình dục với người cùng giới tính (Hoàng Phê, 1988)

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đồng tính luyến ái (ĐTLA) là“quan hệ luyến

ái, tình dục giữa những người cùng giới, đều có bộ phận sinh dục phát triển bình thường” (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2005)

Trong tiếng Anh, homosexuality là từ chỉ chung về đồng tính luyến ái; gay chỉ người đồng tính nam; lesbian chỉ người đồng tính nữ, đọc ngắn là les

Năm 1952, khi Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ công bố Cẩm nang chẩn đoán và thống

kê đầu tiên về Rối loạn tâm thần, đồng tính luyến ái được bao gồm như một rối loạn tâm thần Tuy nhiên, ngay lập tức phân loại này bắt đầu phải chịu sự giám sát quan trọng trong nghiên cứu được tài trợ bởi Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Những nghiên cứu tiếp theo thất bại trong việc tạo ra bất kỳ cơ sở thực nghiệm hoặc khoa học nào liên quan

Trang 38

đến đồng tính luyến ái như một rối loạn hoặc bất thường Từ các nghiên cứu được tích lũy, các chuyên gia trong y học, sức khỏe tâm thần và hành vi và khoa học xã hội đã đi đến kết luận rằng việc phân loại đồng tính luyến ái như một rối loạn tâm thần là không chính xác (Staff report, 1998)

Năm 1973, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ không còn xem đồng tính luyến ái là một bệnh tâm thần Năm 1990, WHO (Tổ chức Sức khỏe thế giới) đã loại đồng tính luyến ái

ra khỏi danh sách các căn bệnh của loài người Theo những tổ chức này, đồng tính không phải là một căn bệnh mà là một xu hướng tính dục mang tính tự nhiên (cùng với song tính luyến ái và dị tính luyến ái) (WHO, 1990)

Hầu hết các nhà tâm lý học trong thế kỷ 19 và 20 đều phân loại đồng tính luyến ái

là một dạng bệnh tâm thần, đồng thời phát triển một loạt các lý thuyết về nguồn gốc của

nó Nhà tâm lý học thế kỷ 19, Richard von Krafft-Ebing cho rằng đồng tính bắt nguồn

từ di truyền Còn Sigmund Freud đương thời đã mô tả đồng tính là kết quả của những xung đột của sự phát triển tâm lý, bao gồm cả sự đồng nhất với cha mẹ của người khác giới Những nhà nghiên cứu khác đã xem xét ảnh hưởng xã hội và các sự kiện sinh lý trong sự phát triển của thai nhi là nguồn gốc có thể dẫn đến đồng tính Có khả năng nhiều trường hợp đồng tính luyến ái là kết hợp của các yếu tố bẩm sinh hoặc thể chất và ảnh hưởng môi trường hoặc xã hội (Nguyễn Thị Bích Hằng, 2014)

Vậy làm cách nào để một người biết họ có phải là người đồng tính hay không? Theo

sự hiểu biết khoa học và chuyên nghiệp hiện nay, những điểm hấp dẫn cốt lõi tạo nên nền tảng cho xu hướng tình dục của người trưởng thành thường xuất hiện giữa thời thơ

ấu và tuổi vị thành niên Những mô hình của tình cảm, lãng mạn và hấp dẫn tình dục có thể phát sinh mà không có bất kỳ kinh nghiệm tình dục trước Mọi người có thể sống độc thân và vẫn biết xu hướng tình dục của họ - Có thể là đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính hoặc dị tính Những người đồng tính nữ, đồng tính nam và lưỡng tính có những trải nghiệm rất khác nhau về xu hướng tính dục của họ Một số người biết rằng họ là đồng tính nữ, đồng tính nam trong một thời gian dài trước khi họ thực sự theo đuổi mối

quan hệ với người khác Một số người tham gia vào hoạt động tình dục (với bạn tình đồng giới và/hoặc bạn tình khác) trước khi họ xác định rõ ràng cho xu hướng tình dục

Trang 39

của họ Định kiến và phân biệt đối xử khiến nhiều người gặp khó khăn trong việc đồng

ý với nhận dạng xu hướng tình dục của họ (APA, 2008)

Tóm lại, Tổ chức Y tế Thế giới WHO và hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ APA đã xác định đồng tính, song tính hay dị tính đều là xu hướng tính dục bình thường của con người Xu hướng tính dục là một trong bốn yếu tố tạo nên tính dục và được định nghĩa

là sự hấp dẫn có tính bền vững về tình cảm và/hoặc tình dục hướng tới những người

khác Nó khác với ba cấu thành khác của tính dục bao gồm giới tính sinh học (do các yếu tố sinh học quy định), bản dạng giới (cảm nhận tâm lý mình là nam hay nữ), và thể hiện giới (sự thể hiện và vai trò về nam tính hay nữ tính trong đời sống)

Từ đó phân ra các loại xu hướng tính dục:

• Thấy hấp dẫn bởi người khác giới: Dị tính

• Thấy hấp dẫn bởi người cùng giới: Đồng tính

• Thấy hấp dẫn bởi cả hai giới: Song tính (Isee, 2013)

- Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ (APA) định nghĩa: “Đồng tính luyến ái, hay đồng tính chỉ

việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đương hay quan

hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau, trong hoàn cảnh nào đó hoặc trong một thời gian nào đó Đồng tính luyến ái cũng chỉ sự tự nhận của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đồng giới và sự tham gia vào một cộng đồng cùng giới tính”

(APA, 1976)

- Viện nghiên cứu iSee cho rằng: “Người đồng tính là người có sự hấp dẫn về tình cảm

và tình dục với người cùng giới Người đồng tính nam thường được gọi là “gay” và người đồng tính nữ thường được gọi là “les”/ “lesbian” Đồng tính, bên cạnh dị tính

và song tính là một xu hướng tính dục bình thường, tự nhiên và không thể tách rời của con người” (iSee, 2014) Đề tài này lựa chọn thuật ngữ người đồng tính theo quan

niệm của Viện nghiên cứu iSee – Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế, Môi trường làm thuật ngữ cho nghiên cứu

1.2.3.3 Học sinh trung học cơ sở có biểu hiện đồng tính

Đây là thuật ngữ khá nhạy cảm và mang tính chất tương đối bởi nó liên quan đến cá nhân và quyền của cá nhân Ở tuổi THCS, sự phát triển về mặt sinh lý là một trong những

lý do khiến các em có những chuyển biến trong tự nhận thức về bản thân và người khác

Trang 40

Hiện tượng dậy thì được coi là cột mốc quan trọng ở tuổi thiếu niên Dậy thì đánh dấu

sự phát triển về mặt tình dục, đối với một cá nhân đó là một giai đoạn chuyển đổi lớn cả

về thể chất lẫn tinh thần Tuyến sinh dục bắt đầu phát triển mạnh mẽ trong đó biểu hiện

sự chín mùi sinh dục ở nam là sự xuất tinh, ở các em gái là hiện tượng kinh nguyệt Theo Phân tâm học, sau giai đoạn tiềm ẩn, trẻ bước vào thời kì dậy thì tương ứng với giai đoạn sinh dục Đặc trưng của giai đoạn này là sự thức tỉnh các xung năng tính dục, trẻ vị thành niên trở nên hưng phấn với các xung năng tính dục; đây là điều hết sức bình thường, sự hưng phấn này chính là cội nguồn của cảm giác thỏa mãn và đôi khi của cảm giác không thỏa mãn (Danna castro, 2016) Sigmund Freud khẳng định đây chính là giai đoạn mà con người sẽ thực sự để bản năng của mình hướng về một đối tượng tình dục mà mình lựa chọn Bản năng tình dục sẽ đóng vai trò quan trọng để định hướng hành vi cũng như thể hiện tâm lý thông qua những quan hệ bình thường của cuộc sống (Huỳnh Văn Sơn, 2014) Sự phát dục khiến các em xuất hiện các cảm xúc giới tính mới mẻ, quan tâm đến bạn khác giới Tự ý thức phát triển khiến các em nhanh chóng nhận thức được những đặc điểm giới tính của mình Các em bắt đầu quan tâm lẫn nhau, ưa thích lẫn nhau Ở cuối tuổi thiếu niên (lớp 8, lớp 9) xuất hiện những rung cảm giới tính đầu đời theo kiểu

“yêu đương-bạn bè” nhưng tình cảm hồn nhiên, trong sáng, kín đáo, có ý thức rõ rệt về

giới tính của bản thân (Theo Lý Minh Tiên, Nguyễn Thị Tứ, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương, 2012)

Cũng trong thời gian, các em trải nghiệm những vai trò mới, vị thế của các em trong gia đình, xã hội cũng thay đổi, cách mà người khác nhìn nhận về các em cũng khác đi Thêm vào đó, giao tiếp với bạn bè trở thành hoạt động chủ đạo ở độ tuổi này Sự dậy thì làm xuất hiện ở các em tuổi HS THCS những rung động và cảm xúc giới tính mới mẻ

Tự ý thức khiến các em nhanh chóng nhận thức được các đặc điểm giới tính của mình Ngay ở độ tuổi dậy thì, các em đã đặt những câu hỏi về những cảm xúc giới tính của bản thân cũng như đối tượng các em rung động Có thể nói, đối với HS CBHĐT đây là giai đoạn có nhiều nỗi băn khoăn về những cảm xúc của mình Đồng tính là một trong bốn

xu hướng tính dục của con người Các đặc điểm bên ngoài không thể nói lên chính xác

ai là đồng tính, song tính hay dị tính Một người đồng tính nữ hay một người đồng tính nam có thể thể hiện mình theo cách họ mong muốn Việc xem xét những biểu hiện bên

Ngày đăng: 31/12/2020, 13:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w