Phân tích thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam, nhu cầu đa dạng hoá về hàng hoá giao dịch trên thị trường và các chiến lược phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư bằng công cụ quyền chọn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN VĂN NGƯNG
XÂY DỰNG MÔ HÌNH GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp.HCM
NGUYỄN VĂN NGƯNG
XÂY DỰNG MÔ HÌNH GIAO DỊCH
QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
TP Hồ Chí Minh – Năm 2009
Trang 383
MỤC LỤC
Trang
Chương 1 Tổng quan về quyền chọn chứng khoán : 1
1.1 Các vấn đề lý luận chung về quyền chọn và quyền chọn chứng khoán : 1
1.1.1 Khái niệm quyền chọn : 1
1.1.2 Lịch sử phát triển thị trường quyền chọn : 2
1.1.3 Quyền chọn chứng khoán : 4
1.1.3.1 Khái niệm quyền chọn chứng khoán : 4
1.1.3.2 Đặc điểm của quyền chọn chứng khoán : 5
1.1.4 Tính hai mặt của công cụ quyền chọn chứng khoán : 7
1.2 Một số cơ chế giao dịch quyền chọn chứng khoán: 9
1.2.1 Giá trị nhận được của quyền chọn mua lúc đáo hạn 9
1.2.1.1 Trường hợp mua quyền chọn mua 10
1.2.1.2 Trường hợp bán quyền chọn mua 10
1.2.2 Giá trị nhận được của quyền chọn bán lúc đáo hạn 11
1.2.1.1 Trường hợp mua quyền chọn bán 11
1.2.1.2 Trường hợp bán quyền chọn bán 12
1.2.3 Giá của quyền chọn 13
1.3 Vận dụng các chiến lược quyền chọn để kinh doanh và phòng ngừa rủi ro trên thị trường chứng khoán 13
1.3.1 Quyền chọn mua được phòng ngừa 14
1.3.2 Quyền chọn bán bảo vệ 15
1.3.3 Chiến lược Straddle mua quyền chọn 16
1.3.4 Chiến lược Strangle mua quyền chọn 17
1.3.5 Chiến lược Spread 17
1.3.6 Quyền chọn bán bảo vệ 18
Trang 484
Chương 2 Các mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán điển
hình trên thế giới và sự cần thiết của việc áp dụng quyền chọn
chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam : 20
2.1 Các mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán điển hình trên thế giới: 20
2.1.1 Mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán ở Mỹ: 20
2.1.2 Mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán Châu Âu: 26
2.1.3 Mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán ở Nhật Bản: 32
2.1.4 So sánh các mô hình giao dịch trên : 39
2.2 Khái quát tình hình thị trường chứng khoán ở Việt Nam 39
2.2.1 Các văn bản pháp quy chi phối: 40
2.2.2 Hàng hoá giao dịch và quy mô thị trường: 40
2.3 Sự cần thiết của việc áp dụng quyền chọn chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam : 44
2.3.1 Quyền chọn là công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả nhất trên thị trường chứng khoán : 44
2.3.2 Thu ngắn khoản cách với thị trường thế giới : 45
2.3.3 Nâng tầm hiểu biết của các nhà đầu tư chứng khoán : 46
2.4 Bài học của Việt Nam trong việc xây dựng mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam 46
2.4.1 Những điểm thuận lợi trong việc xây dựng mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam 46
2.4.1.1 Điều kiện phát triển còn nhiều tiềm năng : 46
2.4.1.2 Chủ trương đẩy mạnh phát riển thị trường tài chính của chính phủ : 48
2.4.1.3 Yêu cầu quản trị rủi ro tốt hơn của nhà đầu tư chứng khoán : 48
2.4.2 Những điểm khó khăn trong việc xây dựng mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam 48
2.4.2.1 Khung pháp lý chưa hoàn chỉnh : 48
2.4.2.2 Hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng kịp nhu cầu: 49
Trang 585
2.4.2.3 Trình độ và nhận thức về thị trường của nhà đầu
tư còn khá thấp: 49
2.4.2.3 Sự phức tạp trong việc tổ chức giao dịch 50
2.5 Cơ sở pháp lý cho sự ra đời quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam 50
Chương 3 Xây dựng mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam : 53
3.1 Các yếu tố đáp ứng để mô hình giao dịch quyền chọn ra đời tại Việt Nam : 53
3.1.1 Đảm bảo tính cạnh tranh cao trên thị trường : 53
3.1.2 Yêu cầu về tính thanh khoản trên thị trường : 53
3.1.3 Quyền chọn phải được chuẩn hoá : 53
3.2 Lộ trình xây dựng và áp dụng quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam 54
3.2.1 Giai đoạn chuẩn bị từ nay đến năm 2011 54
3.2.1 Giai đoạn sau năm 2011 54
3.3 Xây dựng mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam : 55
3.4 Các giải pháp chuẩn bị cho sự ra đời công cụ quyền chọn chứng khoán tại thị trường chứng khoán Việt Nam : 65
3.4.1 Hoàn thiện khung pháp lý: 65
3.4.2 Đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ thông tin : 66
3.4.3 Đào tạo đội ngũ chuyên gia tài chính đủ năng lực: 66
3.4.4 Tăng cường công tác phát triển thị trường: 67
3.4.5 Các giải pháp khác: 68
Kết luận đề tài 72
* Tài liệu tham khảo
Trang 61
LỜI MỞ ĐẦU 1/ Lý do chọn đề tài:
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường tài chính Việt Nam
là nơi thu hút vốn đầu tư nhiều nhất, có tốc độ phát triển với nhanh nhất cả về quy mô và chất lượng Đặc biệt là tăng trưởng mạnh mẽ vượt mức dự báo đến năm 2010, của thị trường chứng khoán Việt Nam Điều đó, chứng tỏ tiềm năng phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng còn rất lớn
Tuy nhiên, thực tế thời gian qua thị trường chứng khoán của Việt Nam phát triển hết sức bất thường cùng tăng hoặc cùng giảm hết biên độ Mặc dù tính chuyên nghiệp và từng trải của nhà đầu tư được thử thách cùng với biến động mạnh của thị trường Nhưng nhà đầu tư luôn bị cuốn theo vòng xoáy rủi
ro mà không phải nhà đầu tư nào cũng đủ khả năng chấp nhận Từ đây, nhu cầu quản trị rủi ro của các nhà đầu tư càng trở nên cấp thiết, và công cụ quyền chọn là tối ưu trong trường hợp này
Hầu hết các thị trường giao dịch chứng khoán trên thế giới đã có thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh hàng trăm năm với nhiều công cụ để nhà đầu tư lựa chọn “khẩu vị” rủi ro cho mình Việc hình thành thị trường chứng khoán phái sinh, ngoài việc đáp ứng nhu cầu nội tại thị trường chứng khoán trong nước, bên cạnh đó còn là sự phát triển tất yếu khách quan của qui luật phát triển
Từ những yếu tố trên, việc nghiên cứu và ứng dụng quyền chọn chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam là một bước đi cần thiết và phù hợp với xu hướng phát triển trong giai đoạn hội nhập quốc tế Do vậy, tác giả
chọn đề tài “Xây dựng mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán trên
thị trường chứng khoán Việt Nam” tạo tiền đề cho sự ra đời thị trường giao
dịch quyền chọn chứng khoán, giúp nhà đầu tư có thêm công cụ phòng ngừa
Trang 72
rủi ro, cũng như thực hiện đa dạng hoá hàng hoá giao dịch trên thị trường chứng khoán
2/ Mục tiêu nghiên cứu:
Hiểu sâu về lịch sử ra đời, đặc điểm, vai trò của công cụ quyền chọn, cũng như chiến lược phòng ngừa rủi ro bằng quyền chọn chứng khoán, cấu trúc cơ bản của thị trường quyền chọn
Phân tích thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam, nhu cầu đa dạng hoá về hàng hoá giao dịch trên thị trường và các chiến lược phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư bằng công cụ quyền chọn chứng khoán
Tìm hiểu các mô hình giao dịch quyền chọn điển hình trên thế giới, qua
đó đề xuất xây dựng mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán ở Viêt Nam
3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận liên quan về công cụ quyền chọn, về quyền chọn chứng khoán
Tiếp cận 03 mô hình giao dịch quyền chọn điển hình trên thế giới, so sánh ưu khuyến điểm các mô hình trên Trên cơ sở đó, kiến nghị một số điều kiện xây dựng mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam
Luận văn tập trung vào nghiên cứu mô hình giao dịch quyền chọn, do vậy không đi sâu vào các phương pháp kỹ thuật định giá quyền chọn
4/ Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tổng hợp lý thuyết tài chính hiện đại,
lý thuyết về quản trị rủi ro tài chính, kết hợp thống kê mô tả thực tiễn các mô hình giao dịch quyền chọn Đồng thời phân tích và tổng hợp, so sánh dữ liệu đảm bảo tính khái quát, khoa học, khách quan khi thể hiện các nội dung của luận văn
5/ Kết cấu của luận văn
Trang 83
Với phạm vi nghiên cứu như trên, nội dung chính của luận văn bao gồm
3 chương:
Chương 1: Lý luận tổng quát của đề tài
Chương 2: Các mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán điển hình trên thế giới, và sự cần thiết áp dụng quyền chọn chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Xây dựng mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán đặc trưng đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 94
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN 1.1 Các vấn đề lý luận chung về quyền chọn và quyền chọn chứng khoán 1.1.1 Khái niệm về quyền chọn
Quyền chọn ( Option) là một hợp đồng ký kết giữa hai bên – bên mua và bên bán (seller hoặc writer)- mà theo đó người mua mua từ người bán quyền mua hoặc bán một tài sản ở một mức giá cố định Như trong bất kỳ một hợp đồng nào, một bên sẽ cung cấp một loại hàng hoá cho bên kia Người mua trả một khoản phí gọi là phí quyền chọn, chính là giá của quyền chọn Quyền chọn cho phép người nắm giữ hợp đồng cơ hội (nhưng không bắt buộc thực hiện) Người bán hoặc người phát hành quyền chọn bắt buộc phải thực hiện hợp đồng quyền chọn nếu người mua quyền chọn yêu cầu
• Người mua quyền (holder) – Người bỏ ra chi phí để được nắm giữ quyền chọn và có quyền yêu cầu người bán có nghĩa vụ thực hiện quyền chọn theo ý mình
• Người bán quyền (writer) – Người nhận chi phí mua quyền của người mua quyền, do đó, có nghĩa vụ phải thực hiện quyền chọn theo yêu cầu của người mua quyền
• Tài sản cơ sở (underlying assets) – Tài sản mà dựa vào đó quyền chọn được giao dịch Giá cả trên thị trường của tài sản cơ sở là căn cứ để xác định giá trị của quyền chọn Tài sản cơ sở có thể là hàng hoá như cà phê, dầu hỏa, vàng, hay chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu hoặc ngoại tệ như EUR, CHF,CAD,
• Trị giá hợp đồng quyền chọn (volume) – Trị giá được chuẩn hóa theo từng loại thị trường giao dịch
• Thời hạn của quyền chọn (maturity) – Thời hạn hiệu lực của quyền chọn Quá thời hạn này quyền không còn giá trị
• Phí mua quyền (premium) – Chi phí mà người mua quyền phải trả cho người bán quyền để được nắm giữ hay sở hữu quyền chọn Chi phí này thường được tính bằng một số nội tệ trên mỗi ngoại tệ giao dịch
• Loại quyền chọn – Loại quyền mà người mua nắm giữ Loại quyền chọn nào cho phép người mua có quyền được mua một loại tài sản cơ sở ở mức giá xác
Trang 105
định trước trong thời hạn nhất định gọi là quyền chọn mua (call) Ngược lại, loại quyền chọn nào cho phép người mua có quyền được bán gọi là quyền chọn bán (put)
• Kiểu quyền chọn – Kiểu giao dịch do hai bên thỏa thuận cho phép người mua quyền được lựa chọn thời điểm thực hiện quyền Kiểu quyền chọn cho phép người mua quyền được thực hiện bất cứ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của quyền chọn gọi là quyền chọn kiểu Mỹ Kiểu quyền chọn chỉ cho phép người mua thực hiện khi quyền chọn đến hạn gọi là quyền chọn kiểu châu Âu Quyền chọn có thể áp dụng cho nhiều loại thị trường với nhiều loại hàng hóa khác nhau Do vậy có nhiều loại quyền chọn khác nhau theo những loại thị trường khác nhau, chẳng hạn quyền chọn trên thị trường chứng khoán với hai hình thức khác nhau: quyền chọn mua (call option) và quyền chọn bán (put option) Quyền chọn mua là kiểu hợp đồng quyền chọn cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua một số lượng chứng khoán ở một mức giá và trong thời hạn được xác định trước Quyền chọn bán là kiểu hợp đồng quyền chọn cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được bán một số lượng chứng khoán ở một mức giá
và trong thời hạn được xác định trước Nếu tỷ giá biến động thuận lợi người mua sẽ thực hiện hợp đồng (exercise the contract), ngược lại người mua sẽ không thực hiện cho đến khi hợp đồng hết hạn Ở đây cũng cần thiết phân biệt hai kiểu hợp đồng quyền chọn: Hợp đồng quyền chọn theo kiểu Mỹ và hợp đồng quyền chọn theo kiểu châu Âu Hợp đồng quyền chọn theo kiểu Mỹ (American Options) cho phép người mua nó có quyền thực hiện hợp đồng ở bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn Trong khi quyền chọn theo kiểu châu Âu (European Options) chỉ cho phép người mua thực hiện hợp đồng khi hợp đồng đến hạn (at maturity)
1.1.2 Lịch sử phát triển thị trường giao dịch quyền chọn
Trong những năm đầu của thập niên 1900, một nhóm các công ty gọi là Hiệp hội các nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn mua và các quyền chọn bán đã thành lập thị trường các quyền chọn nếu một người nào đó muốn mua quyền chọn,
Trang 116
một thành viên cũ hiệp hội này sẽ tìm một người bán sẳn sàng muốn ký kết hợp đồng quyền bán quyền chọn Vì vậy một công ty thành viên có thể vừa là nhà môi giới - người mang người mua và người bán đến với nhau - hoặc nhà kinh doanh - người thật sự thực hiện vị thế giao dịch
Mặt dù thị trường quyền chọn phi tập trung (OTC) này có thể tồn tại, nó có rất nhiều khiếm khuyết Thứ nhất thị trường này không cung cấp cho người nắm giữ quyền chọn cơ hội bán quyền chọn cho người khác trước khi quyền chọn đáo hạn Các quyền chọn được thiết kế để được nắm giữ cho đến khi đáo hạn, và rồi thì chúng sẽ được thực hiện hoặc để cho hết hiệu lực Vì vậy hợp đồng quyền chọn có rất ít thậm chí là không có tính thanh khoản Thứ hai, việc thực hiện hợp đồng của người bán hoặc công ty thành viên của Hiệp hội các Nhà môi giới kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn bán bị phá sản, người nắm giữa quyền chọn tuyệt đối không may mắn Thứ ba, chi phí giao dịch tương đối cao, một phần là do hai vấn đề trên
Năm 1973, đã có một sự thay đổi mang tính cách mạng trong thế giới quyền chọn sàn giao dịch Chicago Board of Trade (CBOT) sàn giao dịch lâu đời nhất và lớn nhất các hợp đồng giao sau hàng hoá, đã tổ chức một sàn giao dịch dành riêng cho giao dịch quyền chọn cổ phiếu Sàn giao dịch này được đặt tên là Chicago Broard option Exchange (CBOE) và mở cửa giao dịch quyền chọn mua vào ngày 26/04/1973 Các hợp đồng quyền chọn bán đầu tiên được đưa vào giao dịch trong tháng 06/1977
CBOE đã tạo ra một thị trường trung tâm cho các hợp đồng quyền chọn Bằng cách tiêu chuẩn hoá các kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn, nó đã làm tăng tính thanh khoản của thị trường Nói cách khác một nhà đầu tư đã mua hoặc bán một hợp đồng quyền chọn trước đó có thể quay lại thị trường trước khi hợp đồng đáo hạn và bán hoặc mua quyền chọn, và như vậy đã bù trừ vị thế ban đầu Tuy nhiên, quan trọng nhất, CBOE đã bổ sung một trung tâm thanh toán đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng Vì vậy không giống như thị trường phi tập trung, người mua quyền chọn không còn lo
Trang 12Mặc dù các giao dịch của các định chế trên sàn giao dịch quyền chọn vẫn tương đối mạnh sau vụ sụp đổ, một xu hướng đồng thời tồn tại đã buộc các sàn giao dịch phải đương đầu với một mối đe dọa cạnh tranh mới: sự hồi sinh của thị trường quyền chọn phi tập trung Vào đầu thập niên 1980, nhiều công ty bắt đầu sử dụng hoán đổi tiền tệ và lãi suất để quản trị rủi ro, chúng chịu rủi ro tín dụng khi một bên
có thể mất khả năng chi trả, để cho bên còn lại nắm giữ một khoản nợ buộc phải tiếp tục theo đuổi lên đến toà án phá sản Tuy nhiên các khoản nợ như vậy lại ít và thưa thớt; và thị trường này vận hành tốt một cách khác thường Ngay sau đó, các công ty bắt đầu tạo ra các dạng hợp đồng phi tập trung khác, như hợp đồng kỳ hạn,
và như mong đợi, quyền chọn cũng bắt đầu được sử dụng Tuy nhiên, vì định mức tối thiểu của mỗi giao dịch khá lớn và có rủi ro tín dụng, công chúng không thể tham gia vào thị trường phi tập trung mới hồi sinh này Sự phát triển của thị trường phi tập trung của các định chế này đã gây áp lực năng nề lên các sàn giao dịch quyền chọn Vào đầu thập niên 1990, các sàn giao dịch cố gắng trở nên sáng tạo hơn để giành lại thị phần giao dịch của các định chế và kích thích mối quan tâm của công chúng với quyền chọn Tuy nhiên, các xu hướng này không có nghĩa là quyền chọn đang mất dần tính đại chúng Thật ra, chúng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết đối với định chế tài chính và doanh nghiệp, nhưng mức tăng trưởng thì tập trung ở các thị trường phi tập trung
1.1.3 Các vấn đề lý luận chung về quyền chọn chứng khoán
1.1.3.1 Khái niệm về quyền chọn chứng khoán
Trang 138
Quyền chọn chứng khoán cho phép người nắm giữ hợp đồng cơ hội nhưng không bắt buộc thực hiện mua hoặc bán chứng khoán với giá đã thoả thuận trước người bán hoặc người phát hành quyền chọn chứng khoán bắt buộc phải thực hiện hợp đồng quyền chọn nếu như người mua quyền chọn yêu cầu
Quyền chọn mua, quyền chọn bán chứng khoán là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoản thời gian nhất định với mức giá được xác định trước.(Theo Luật Chứng Khoán hiện hành của Việt Nam)
Các thị trường giao dịch quyền chọn lớn trên thế giới như: Chicago Board Option Exchange (CBOE), Philadelphia Stock Exchange (PHLX), NewYork Stock Exchange (NYSE), American Stock Exchange (AMEX), Pacific Stock Exchange (PSE)
- Quyền chọn cổ phiếu (Stock Option): là quyền chọn đối với cổ phần thường Quyền chọn này đối với cổ phiếu riêng lẻ và tồn tại đối với hàng ngàn lô cổ phiếu riêng lẻ
- Quyền chọn chỉ số (Index Option) : là quyền chọn đối với một chỉ số chứng khoán Quyền chọn này sử dụng một số chỉ số chứng khoán như NASDAQ
100, S7P 500, Dow Jone,… Ngoài ra, còn sử dụng cả các chỉ số của nhiều ngành kinh doanh khác nhau và những khu vực thị trường khác nhau
- Hợp đồng quyền chọn mua chứng khoán có thể chuyển nhượng được với quyền mua chứng khoán ưu đãi (incentive stock option) Quyền mua chứng khoán
ưu đãi là quyền được chọn mua chứng khoán ở một công ty nhất định, do công ty
đó dành cho một số người nhất định nào đó ( thường là các nhà quản lý cấp cao) Khi quyền chọn mua chứng khoán ưu đãi được thực hiện thì một số lượng cổ phần mới được phát hành Quyền chọn chứng khoán ưu đãi cũng sẽ không được mua bán rộng rãi trên thị trường mở Ngược lại một khi hợp đồng quyền chọn mua được thực hiện, không có cổ phần mới nào được phát hành mà chỉ là sự chuyển nhượng từ chủ
sở hữu này sang chủ sở hữu khác
1.1.3.2 Đặc điểm về quyền chọn chứng khoán
Trang 149
* Giá thực hiện ( Exercise prise) : Là mức giá mà tại đó người sở hữu quyền
chọn sẽ mua hoặc bán chứng khoán cơ sở
Trên sàn giao dịch quyền chọn giá thực hiện được chuẩn hoá Sàn giao dịch qui định mức giá thực hiện có thể ký kết hợp đồng quyền chọn quyền chọn chứng khoán được qui định mức giá thực hiện có khoản cách chênh lệch 2,5$ nếu giá cổ phiếu thấp hơn 25$, khoảng 5$ nếu giá cổ phiếu từ 25$ đến 200$, và trong khoảng 10$ nếu giá cổ phiếu trên 200$ Đối với quyền chọn chỉ số, các khoản chênh lệch giá thực hiện có sự khác biệt nhiều do biên độ rộng của nhiều chỉ số khác nhau
* Ngày đáo hạn (Expiration date): Là ngày mà sau đó hợp đồng quyền chọn
không còn hiệu lực
Quyền chọn chứng khoán thường được qui định chu kỳ đáo hạn theo các chu
kỳ tháng : Chu kỳ tháng 1 ( gồm các tháng 1,4,7 và 10); Chu kỳ tháng 2 ( gồm các tháng 2,5,8,11); Chu kỳ tháng 3 ( gồm các tháng 3,6,9,12) Ngày đáo hạn chính xác
là vào lúc 22 giờ 59 phút ( theo giờ của trung tâm giao dịch) của ngày thứ bảy ngay sau ngày thứ sáu tuần lễ thứ ba của tháng đáo hạn Theo thông lệ nhà đầu tư nắm giữ quyền chọn ( nếu quyết định thực hiện quyền chọn) sẽ có thời gian đến hết 16 giờ 30 phút của ngày thứ sáu đó để thông báo cho nhà môi giới thực hiện quyền chọn Sau đó, nhà môi giới sẽ có thời gian đến 22 giờ 59 phút của ngày thứ bảy hôm sau để hoàn thành các thủ tục thông báo cho Trung tâm giao dịch chứng khoán thực hiện quyền chọn đó
* Ảnh hưởng của việc phân chia cổ tức và cổ phiếu: Quyền chọn chứng
khoán trên thị trường OTC được đảm bảo về cổ tức Khi một công ty công bố chi cổ tức bằng tiền mặt, thì giá thực hiện của quyền chọn về cổ phiếu sẽ giảm một khoảng bằng với số cổ tức vào thời điểm không nhận cổ tức Quyền chọn chứng khoán trao đổi qua trung tâm giao dịch chứng khoán nói chung không được điều chỉnh theo cổ tức trả bằng tiền mặt, nhưng điều chỉnh theo sự phân chia cổ tức Việc phân chia cổ phiếu xảy ra khi số cổ phiếu hiện tại được chia thành nhiều cổ phiếu nhỏ hơn Ngoài ra quyền chọn về cổ phiếu còn được điều chỉnh theo cổ tức chi trả bằng cổ phiếu
Trang 1510
* Hạn chế vị thế và hạn chế mức thực hiện: được thiết kế nhằm ngăn ngừa
tình trạng thị trường quyền chọn bị chi phối quá mức bởi hành vi của một hoặc một nhóm các nhà đầu tư cá biệt Hạn mức vị thế (position limit): là số lượng quyền chọn tối đa mà nhà đầu tư có thể nắm giữ về một phía của thị trường Sàn giao dịch chứng khoán ban hành hạn mức vị thế cho từng chứng khoán căn cứ vào khối lượng
cổ phiếu giao dịch và tổng số của cổ phiếu đó Hạn mức thực hiện (exercise limit):
là số quyền chọn tối đa mà nhà đầu tư có thể thực hiện trong vòng 5 ngày làm việc liên tục bất kỳ bởi những nhà đầu tư riêng lẻ hay một nhóm các nhà đầu tư cùng hành động với nhau Mục tiêu của hạn mức thực hiện và hạn mức vị thế là nhằm ngăn cản từng cá nhân hoặc một nhóm người có tác động đáng kể đến thị trường
* Điều kiện niêm yết: Các sàn giao dịch quyền chọn qui định các tài sản mà
giao dịch được phép Đối với quyền chọn cổ phiếu, sàn giao dịch quy định những điều kiện tối thiểu mà một cổ phiếu phải đạt được để có thể giao dịch quyền chọn
* Quy mô hợp đồng: Một hợp đồng quyền chọn giao dịch trên sàn là tiêu
chuẩn gồm 100 quyền chọn đơn lẻ, mỗi quyền chọn đơn lẻ được mua (bán) một cổ phiếu Như vậy một hợp đồng quyền chọn được mua (bán) tối thiểu là 100 cổ phiếu Tuy nhiên quyền chọn cũng tuân thủ nguyên tắc chia tách cổ phiếu và cổ tức
1.1.4 Tính hai mặt của công cụ quyền chọn chứng khoán
Các công cụ phái sinh nói chung hay quyền chọn nói riêng là những hình thức được đánh giá là rất hữu dụng trên thị trường chứng khoán Thực tế, trong thời gian vừa qua, khi thị trường trồi sụt thất thường, nếu các nghiệp vụ này đã được áp dụng thì có thể các nhà đầu tư có được những quyết định hợp lý hơn, bám sát theo những biến động của thị trường chứng khoán
Trên thị trường chứng khoán, công cụ phái sinh này giúp nhà đầu tư tránh được tình trạng thua lỗ quá nặng khi thị trường đi xuống sâu và ngược lại, nhà đầu
tư có thể đạt mức lợi nhuận rất cao khi thị trường đi lên
Hiện nay, không chỉ các thị trường toàn cầu nói chung và thị trường Việt Nam nói riêng, mọi người đều lo ngại về vấn đề quản lý rủi ro, và đây cũng là thời điểm tốt để một thị trường non trẻ, với nhiều biến động về giá trong thời gian qua
Trang 16Rõ ràng là, bên cạnh những mặt tích cực của các công cụ phái sinh, cũng cần chú ý rủi ro có thể có của những công cụ này Các công cụ tài chính đều có hai mặt, một mặt các nhà đầu tư có thể phòng vệ rủi ro, chẳng hạn mua một hợp đồng quyền chọn để bảo vệ hàng hóa đang mua, tuy nhiên, nhà đầu tư có thể gặp rủi ro lớn nếu không biết cách đặt lệnh, giới hạn được tổn thất nếu có
Có thể gây ra thua lỗ lớn do việc sử dụng các công cụ đòn bẫy hay vay mượn; rủi ro do đối tác không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và tiềm ẩn rủi ro rất lớn đối với những nhà đầu tư nhỏ, thiếu kinh nghiệm
Giá trị danh nghĩa quá lớn: rủi ro dẫn đến thua lỗ lớn mà nhà đầu tư không thể bù đắp được Khả năng dẫn đến phản ứng dây chuyển phá hủy hàng loạt khi có khủng hoảng kinh tế Giá trị danh nghĩa quá lớn dẫn tới việc làm méo mó thị trường
Trang 1712
vốn thực Nhà đầu tư bắt đầu nhìn vào thị trường các công cụ phái sinh để quyết định mua hoặc bán chứng khoán, như vậy cái mà ban đầu được xem là thị trường là
để chuyển rủi ro trở thành một chỉ số hướng dẫn thị trường
Đòn bẩy nợ trong nền kinh tế: việc gia tăng đòn bẩy nợ trong nền kinh tế làm nền kinh tế thực không đủ khả năng để tài trợ cho nghĩa vụ nợ và điều chỉnh những hoạt động kinh tế thực, điều này có thể gây ra suy thoái hay khủng hoảng kinh tế
Để hạn chế tác động tiêu cục, các cơ quan quản lý có thể đưa ra những quy định về số lượng quyền chọn tối đa, quyền mua tối đa của một cá nhân, nhằm hạn chế tình trạng một cá nhân có thể làm lũng đoạn cả thị trường Một vấn đề cũng rất cần suy xét là thị trường hàng hóa của Việt Nam đã ra đời từ rất lâu, nhưng công cụ phái sinh vẫn là khái niệm khá mới mẻ với nhiều thành viên của thị trường
Nhiều nhà khoa học cho rằng thị trường chứng khoán Việt Nam mới được 9 năm tuổi đời với sự bất ổn trong của tâm lý nhà đầu tư, quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam trong so sánh với thị trường chứng khoán thế giới vẫn là một sự “khập khiễng” rõ nét, nên chăng áp dụng các công cụ phái sinh mới mẻ này cho thị trường hàng hóa trước rồi mới đến thị trường chứng khoán
Việc có nên áp dụng các công cụ phái sinh là hợp đồng quyền chọn cho thị trường hàng hóa trước khi áp dụng cho thị trường chứng khoán Chẳng hạn, nên xem xét áp dụng trước cho giao dịch của các hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trước như cà phê, cao su và loại hàng hóa Việt Nam nhập khẩu khá lớn và đã
có nhiều biến động trong thời gian qua là vàng Điều chắc chắn là phải nghiên cứu rất kỹ
1.2 Một số cơ chế hoạt động giao dịch quyền chọn:
1.2.1 Giá trị nhận được của quyền chọn mua vào lúc đáo hạn
Gọi T là thời điểm đáo hạn, ST là giá trị thị trường của tài sản cơ sở vào lúc đáo hạn, X là giá thực hiện và VT là giá trị nhận được của quyền chọn và lúc đáo hạn
Trang 1813
1.2.1.1 Trường hợp mua quyền chọn mua:
Vào lúc đáo hạn, nếu thực hiện quyền, người mua sẽ mua tài sản cơ sở với giá X Nếu mua trên thị trường, người mua sẽ trả với giá ST
Trường hợp ST > X Nếu thực hiện quyền người mua sẽ mua tài sản cơ sở với giá X, trong khi nếu ra thị trường thì phải mua với giá ST >X Khoản lợi thu được là ST –X > 0 Như vậy, nếu ST > X, người mua quyền chọn mua sẽ thực hiện quyền và nhận được giá trị VT = ST -X
Trường hợp ST <= X Nếu thực hiện quyền, người mua sẽ mua tài sản cơ sở với giá X, trong khi hoàn toàn có thể ra thị trường để mua với giá ST < X Như vậy, nếu ST <= X, người mua quyền chọn mua sẽ không thực hiện quyền và nhận được giá trị VT = 0
Tóm lại, giá trị nhận được đối với người mua quyền chọn mua vào lúc đáo hạn là: VT = max[(ST – X);0]
Ví dụ: trong quyền chọn mua cổ phiếu IBM ở trên, giá thực hiện X = 50 USD Nếu vào ngày đáo hạn 1/5/01, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền sẽ được lợi Anh ta thực hiện quyền và mua 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD Nếu không có quyền, anh ta sẽ phải mua trên thị trường với giá 60 USD Khoản lợi mà anh ta thu được bằng ST – X = 10 USD trên 1 cổ phiếu IBM Ngược lại, giả sử vào ngày đáo hạn 1/5/01, giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD Nếu thực hiện quyền, người nắm giữ quyền sẽ mua 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD, trong khi nếu mua trên thị trường thì chỉ phải trả giá 40 USD Như vậy, người giữ quyền
sẽ không thực hiện quyền và giá trị anh ta nhận được bằng 0
Vào thời điểm đáo hạn hay trong bất cứ thời điểm nào khi quyền chọn còn hiệu lực, nếu giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S>X), ta gọi quyền chọn mua
là có lời (in-themoney); nếu giá tài sản cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện (S<X), ta gọi quyền chọn mua là không có lời (out-of-the-money); còn nếu giá tài sản cơ sở bằng giá thực hiện (S=X), ta gọi quyền chọn mua là hòa tiền (at-the-money)
1.2.1.2 Trường hợp bán quyền chọn mua:
Trang 1914
Như đã trình bày, vào lúc đáo hạn, nếu ST > X thì người mua quyền chọn mua sẽ thực hiện quyền, tức là mua tài sản cơ sở Trong trường hợp đó, người bán quyền chọn mua sẽ phải bán tài sản cơ sở cho người mua quyền ở mức giá X, trong khi lẽ ra có thể bán ra thị trường với giá ST Người bán quyền chọn mua bị lỗ ST –
X, hay nhận được giá trị VT = X – ST Nếu ST <= X, người mua quyền chọn mua
sẽ không thực hiện quyền và như vậy thì giá trị mà người bán quyền chọn mua nhận được là VT = 0
Tóm lại, giá trị nhận được đối với người bán quyền chọn mua vào lúc đáo hạn là: VT = min[(X - ST);0]
Ví dụ: trong quyền chọn mua cổ phiếu IBM, nếu vào ngày đáo hạn 1/5/01, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền sẽ thực hiện quyền và được lợi 10USD/cổ phiếu Ngược lại, người bán quyền sẽ bị thiệt 10 USD/cổ phiếu,
do phải bán cho người mua với giá X=50 USD trong khi có thể bán ra thị trường với giá 60 USD Còn nếu vào ngày đáo hạn 1/5/01, giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD, thì người mua sẽ không thực hiện quyền Người bán quyền nhận được giá trị bằng 0
1.2.2 Giá trị nhận được của quyền chọn bán vào lúc đáo hạn
1.2.2.1 Trường hợp mua quyền chọn bán:
Vào lúc đáo hạn, nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán tài sản cơ sở với giá X Còn nếu bán trên thị trường, thì mức giá là ST Trường hợp ST
>= X Nếu thực hiện quyền người mua quyền chọn bán sẽ bán tài sản cơ sở với giá
X, trong khi nếu ra thị trường thì sẽ bán được với giá ST >=X Như vậy, nếu ST >=
X, người mua quyền chọn bán sẽ không thực quyền và nhận giá trị VT = 0
Trường hợp ST < X Nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán tài sản cơ sở với giá X, trong khi ra thị trường thì phải bán với giá ST < X Như vậy, nếu ST < X, người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền và nhận được giá trị VT = X - ST
Tóm lại, giá trị nhận được đối với người mua quyền chọn bán vào lúc đáo hạn là: VT = max[(X - ST);0]
Trang 2015
Ví dụ: Quyền chọn bán cổ phiếu IBM có giá thực hiện X = 50 USD Nếu vào ngày đáo hạn 1/5/01, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền chọn bán sẽ không được lợi gì, vì nếu thực hiện quyền, anh ta sẽ bán 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD, trong khi có thể ra thị trường để bán với giá 60 USD Như vậy, quyền sẽ không được thực hiện và giá trị nhận được bằng 0 Ngược lại, giả sử vào ngày đáo hạn 1/5/01, giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD Nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD, trong khi nếu bán trên thị trường thì chỉ có thể bán với giá 40 USD Như vậy, người có quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền và khoản lợi anh ta nhận được là 10 USD Đối với quyền chọn bán, vào thời điểm đáo hạn hay trong bất cứ thời điểm nào khi quyền chọn còn giá trị, nếu giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S>X), ta gọi quyền chọn bán là không có lời (out-of-the-money); nếu giá tài sản cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện (S<X), ta gọi quyền chọn bán là có lời (in-the-money); còn nếu giá tài sản cơ
sở bằng giá thực hiện (S=X), ta gọi quyền chọn bán là hòa tiền (at-the-money)
1.1.2.2 Trường hợp bán quyền chọn bán:
Nếu ST >= X, ta biết rằng người mua quyền chọn bán sẽ không thực hiện quyền và người bán quyền chọn bán cũng nhận giá trị VT = 0 Nếu ST < X, người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền, và người bán quyền chọn bán sẽ buộc phải mua tài sản cơ sở với giá X trong khi lẽ ra có thể mua trên thị trường với giá ST Như vậy, nếu ST < X, người bán quyền chọn mua sẽ bị lỗ hay nhận được giá trị VT
Trang 2116
chọn bán phải mua tài sản cơ sở với giá 50 USD, trong khi có thể ra mua trên thị trường với giá 40 USD Như vậy, người bán quyền chọn bán sẽ bị lỗ 10 USD
1.1.3 Giá của quyền chọn
Trong các trường hợp trên, ta thấy giá trị mà người mua quyền (chọn mua hay chọn bán) nhận được (FT) không bao giờ có giá trị âm, tức là không bao giờ bị
lỗ Còn giá trị người bán quyền nhận được không bao giờ có giá trị dương, tức là không bao giờ có lời.Điều này có vẻ như người mua quyền được lợi còn người bán quyền thì bị thiệt Nhưng thực tế không phải như vậy Vì quyền chọn là tài sản có giá trị đối với người nắm giữ nó nên để có được quyền, người mua quyền phải trả một khoản tiền (gọi là phí hay giá của quyền chọn) cho người bán quyền Mức phí này được thanh toán ngay khi ký kết hợp đồng quyền chọn
Các yếu tố tác động đến giá quyền chọn:
Yếu tố Quyền chọn mua Quyền chọn bán
Giá của tài sản cơ sở (S) + -
Giá thực hiện (X) - +
Thời gian (T-t) + +
Độ biến thiên của giá tài sản cơ sở (σ) + +
Lãi suất phi rủi ro (rf) + -
Ghi chú ký hiệu:
+ tác động đồng biến
- tác động nghịch biến
1.3 Vận dụng các chiến lược quyền chọn để kinh doanh và phòng ngừa rủi
ro trên thị trường chứng khoán
Quyền chọn có đặc tính là kết hợp với cổ phiếu hoặc một quyền chọn khác
để tạo ra nhiều chiến lược đa dạng nhằm đáp ứng mức rủi ro ưu thích của nhà đầu
tư và phù hợp với dự báo của thị trường
Khi nhà đầu tư có dự định mua chứng khoán và kỳ vọng giá của chứng khoán đó sẽ tăng lên trong tương lai thì họ sẽ phòng ngừa rủi ro bằng cách mua một quyền chọn mua Đến thời điểm đáo hạn của hợp đồng quyền chọn, nếu giá chứng
Trang 22Trong trường hợp này, nếu giá chứng khoán diễn biến ngược lại so với dự đoán thì người sở hữu quyền chọn sẽ không thực hiện hợp đồng và chỉ chịu một khoản lỗ giới hạn bằng với khoản phí mua quyền chọn
Ngược lại khi nhà đầu tư đang sở hữu chứng khoán và họ dự đoán trong tương lai giá chứng khoán sẽ giảm thì sự lựa chọn cho nỗi lo về giá của họ đối với chứng khoán đang sở hữu là mua một quyền chọn bán Nếu có công cụ quyền chọn chứng khoán thì nhà đầu tư sẽ không bị hoảng loạn khi thị trường đảo chiều vì họ
đã mua “bảo hiểm” về giá
1.3.1 Quyền chọn mua và cổ phiếu: (Quyền chọn mua được phòng ngừa)
Một trong số các chiến lược phổ biến nhất của nhà kinh doanh quyền chọn chuyên nghiệp là mua cổ phiếu và bán quyền chọn mua đối với một loại cổ phiếu nhà đầu tư thực hiện chiến lược này gọi là bán một quyền chọn mua có phòng ngừa
Vì người kinh doanh quyền chọn đang sở hữu cổ phiếu nếu người mua quyền chọn thực hiện quyền thì nhà kinh doanh quyền chọn này chỉ chuyển giao cổ phiếu mà không phải mua trên thị trường với một mức giá có thể khá cao Đứng trên quan điểm khác, người sở hữu cổ phiếu mà không bán quyền chọn sẽ gặp phải một rủi ro đáng kể khi giá cổ phiếu phiếu giảm xuống Bằng cách bán một quyền chọn mua đối với cổ phiếu đó, nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro khi giá cổ phiếu giảm xuống đáng kể,
vì lúc này khoản lỗ đã được bù đắp một phần bởi phí quyền chọn mua
Ta có phương trình lợi nhuận của việc mua cổ phiếu là:
π =Ns(St-So) (1.1) với Ns>0
Và phương trình lợi nhuận của việc bán một quyền chọn mua như sau:
π =Nc[Max(0,St-X)-C] Với Nc<0 Phương trình kết hợp lợi nhuận của hai chiến lược là:
Trang 2318
π =Ns(St-So)+No[Max(0,St-X)-C]
Xét trường hợp của một cổ phiếu và quyền chọn, với Ns>0 (mua cổ phiếu),
Nc<0 (bán quyền chọn) và Ns=-Nc=1, phương trình lợi nhuận lúc này là
π =St-So-Max(0,St-X)+C Nếu St< X tức là giá cổ phiều khi đáo hạn nhỏ hơn hoặc bằng giá thực hiện quyền chọn, người mua quyền chọn sẽ không yêu cầu thực hiện quyền chọn, vì vậy lợi nhuận của người bán quyền là phí quyền chọn tương ứng C Tuy nhiên do giá cổ phiếu giảm nên nhà đầu tư bị lỗ một khoản là St-So Phương trình lợi nhuận kết hợp chiến lược là:
π –St-So+C Nếu St>X tức giá cổ phiếu khi đáo hạn lớn hơn giá thực hiện, người mua quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng, lúc này giá trị lỗ của người bán quyền tỷ lệ thuận với mức chênh lệch giữa giá thị trường và giá thực hiện và số quyền chọn trong hợp đồng
Lúc này, lợi nhuận của chiến lược mua cổ phiếu và bán quyền chọn mua là lợi nhuận của chiến lược thực hiện hai vị thế song song Phương trình lợi nhuận của nhà đầu tư lúc này là :
π =St-So-St+X+C=X-So+C
1.3.2 Quyền chọn bán và cổ phiếu: (Quyền chọn bán bảo vệ)
Một chiến lược khác của quyền chọn là kết hợp giữa mua cổ phiếu và bán một quyền chọn mua, người sở hữu cổ phiếu có thể được bảo vệ khi giá giảm Trong một thị trường giá lên, cổ phiếu gần như được mua lại bằng cách thực hiện quyền chọn Một cách để nhận được sự bảo vệ trước thị trường giá xuống và vẫn có thể chi phần lợi nhuận trong một thị trường giá lên là mua một quyền chọn bán bảo
vệ, tức là nhà đầu tư mua cổ phiếu và mua một quyền chọn bán Quyền chọn bán cung cấp một mức giá bán tối thiểu dành cho cổ phiếu
Ta có phương trình lợi nhuận của việc mua một quyền chọn bán như sau:
π =Np[Max(0,X-St)-P] (1.2) với Np>0
Trang 2419
Phương trình kết hợp lợi nhuận của hai chiến lược được thiết lập bằng cách cộng hai phương trình lợi nhuận của chiến lược mua cổ phiếu (1.1) và chiến lược mua quyền chọn bán (1.2)
π =Ns(St-S0)+ Np[Max(0,X-St)-P]
Xét trường hợp của một cổ phiếu và một quyền chọn, với Ns>0 (mua cổ phiếu) và Np>0 (mua quyền chọn bán) và Ns=Np=1, phương trình lợi nhuận này là:
π =St-S0+Max(0,X-St)-P Nếu St>X tức là giá cổ phiếu khi đáo hạn lớn hơn hoặc bằng giá thực hiện, quyền chọn sẽ không được thực hiện và kết quả là: π =St-S0-P, lợi nhuận từ việc cổ phiếu tăng giá sẽ được trừ đi một phần chi phí dự phòng rủi ro
Nế St<X, tức là giá phiếu khi đáo hạn nhỏ hơn giá thực hiện, người mua quyền chọn yêu cầu thực hiện quyền, tức là người bán quyền mua lại cổ phiếu, người mua quyền có phương trình lợi nhuận kết hợp của chiến lược này là:
π =St-So-St+X-St-P =X-So-P Quyền chọn trong trường hợp này như một hợp đồng bảo hiểm đối với cổ phiếu Trong thị trường giá xuống, tổn thất của cổ phiếu sẽ phần nào bù đắp bởi việc thực hiện quyền chọn, trong thị trường giá lên, bảo hiểm là không cần thiết và mức lợi nhuận do cổ phiếu tăng giá bị giảm đi do phí của quyền chọn trả trước để phòng ngừa rủi ro
Như vậy quyền chọn bán bảo vệ ấn định mức lỗ tối đa do giá cổ phiếu giảm nhưng lại chịu một khoản chi phí là lợi nhuận ít hơn khi giá tăng
1.3.3 Chiến lược Straddle mua quyền chọn
Với chiến lược này nhà đầu tư mua quyền chọn, mua cả quyền chọn bán và quyền chọn mua với cùng giá thực hiện và ngày đáo hạn Với chiến lược Straddle, nhà đầu tư phải cân đối giữa chi phí bỏ ra và thời gian cần thiết cho chiến lược có
sự lựa chọn tốt nhất Do thời gian đáo hạn càng dài cung cấp nhiều cơ hội hơn, cần kiểm soát chặt chẽ vị thế của chiến lược và có thể thoát khỏi vị thế trước khi đáo hạn Mua theo chiến lược straddle khi dự đoán giá chứng khoán biến động nhiều hơn phí Straddle
Trang 251.3.4 Chiến lược Strangle
Chiến lược này có lợi khi mức độ biến động của chứng khoán càng lớn, nó bao gồm mua (bán) một quyền chọn mua và một quềyn chọn bán với cùng số lượng hợp đồng, cùng ngày đáo hạn nhưng khác nhau giá thực hiện Chiến lược này được bảo vệ lớn hơn khi giá chứng khoán dao động ra xa khỏi giá thực hiện
Khi giá quyền chọn cao hơn giá trị thực, và nhà kinh doanh tin chứng khoán cơ sở sẽ dao động trong phạm vi hẹp, lúc này chiến lược Strangle bán quyền chọn sẽ được ưu tiên chọn
1.3.5 Chiến lược Spread
Trường hợp nhà đầu tư dự báo thị trường đi lên nhưng không đủ thuyết phục để mua quyền chọn mua, lúc này nhà đầu tư sẽ sử dụng chiến lược spread liên quan đến việc nắm giữ vị thế hai hoặc nhiều quyền chọn cùng kiểu với giá thực hiện khác nhau Nhà đầu tư mua một quyền chọn mua chứng khoán với giá thự hiện nhất định và bán quyền chọn mua trên cùng loại chứng khoán với giá thực hiện cao hơn, cả hai quyền chọn này có cùng ngày đáo hạn
Ví dụ, giá cổ phiếu A tăng mạnh trong sáu tháng vừa qua đến tháng 4 giá
$13.00 thị trường lúc này đang có chiều hướng đi xuống, nhưng nhà đầu tư vẫn dự báo trong thời gian tới giá vẫn tiếp tục tăng và giao động khoản $13.50 Khi so sánh với giá quyền chọn mua tại giá $13.00 là $0.76 cao hơn so với lợi nhuận thu được là $0.50 nhà đầu tư quyết định sử dụng chiến lược spread cho quyền chọn mua Nhà đầu tư mua một hợp đồng quyền chọn mua ngày đáo hạn tháng 8, giá thực hiện $13.00 với giá quyền chọn $0.76 Đồng thời bán một hợp đồng quyền chọn mua ngày đáo hạn tháng 01 giá thực hiện $13.50 với giá quyền chọn $0.61 Như vậy chi phí bỏ ra ban đầu cho chiến lược này là $0.15 nhỏ hơn so với chi phí khi mua quyền chọn mua
20
Trang 26* Đồ thị 1.1: Chiến lược Spread sử dựng quyền chọn mua
$13.50 và bằng chênh lệch giữa hai giá thực hiện của hai quyền chọn trừ đi chi phí bỏ
ra ban đầu là $0.15 Hoà vốn: Chiến lược kinh doanh Spread hoà vốn khi giá chứng khoán vào tháng 8 là $13.15
Khoản lỗ lớn nhất nhà đầu tư có thể phải ghánh chịu là chi phí bỏ ra ban đầu khi giá cổ phiếu A vào ngày đáo hạn bằng hoặc thấp thơn giá thực hiện của mua quềyn chọn mua
Chiến lược này cũng có thể được tạo ra bằng cách mua quyền chọn bán với giá thực hiện thấp và bán quyền chọn bán với giá thực hiện cao
1.3.6 Chiến lược bán khống chứng khoán
Để kết hợp phòng ngừa rủi ro nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu nhưng dự báo giá giảm trong tương lai Nhà đầu tư có thể bán chứng khoán từ chứng khoán của mình
sở hữu hoặc đầu cơ bằng chiến lược bán khống chứng khoán khi nhà đầu tư dự báo trong tương lai giá cổ phiếu sẽ giảm Họ thực hiện bán khống, tức là đi vay cổ phiếu của công ty chứng khoán để bán Sau khi giá giảm họ sẽ mua cổ phiếu đó trên thị trường và trả lại để hưởng chênh lệch giá
Lỗ
Trang 2722
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong chương I, tác giả đã trình bày những khái niệm, vai trò, và các nội dung liên quan về công cụ quyền chọn, quyền chọn chứng khoán Tính hai mặt tích cực lẫn tiêu cực của công cụ quyền chọn Đồng thời nêu cách thức vận dụng công
cụ quyền chọn chứng khoán để kinh doanh và phòng ngừa rủi ro trên thị trường chứng khoán Đặc điểm cơ bản công cụ quyền chọn là đầu tư theo dự báo biến động thị trường chứng khoán trong tương lai Các chiến lược cơ bản có thể kể đến như: quyền chọn mua được phòng ngừa, quyền chọn bán bảo vệ, chiến lược Straddle mua quyền chọn, chiến lược Strangle, chiến lược Spread, chiến lược bán khống chứng khoán Qua đó, xây dựng nền tảng cơ sở về lý thuyết để nghiên cứu các chương tiếp theo
Trang 2823
Chương II: CÁC MÔ HÌNH GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ÁP DỤNG QUYẾN CHỌN CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1 Các mô hình giao dịch quyền chọn điển hình trên thế giới:
2.1.1 Mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán ở Mỹ (Chicago)
Sàn giao dịch CBOE là sàn giao dịch lớn nhất thế giới cả về số lượng lẫn quy mô hiện nay Với việc tiêu chuẩn hoá các hợp đồng kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn đã làm tăng tính thanh khoản cho thị trường Năm 2006 CBOE chính thức chuyển từ tổ chức hoạt động phi lợi nhuận trực thuộc Chính phủ sang hình thức doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận Theo báo cáo thường niên của CBOE năm 2008, tổng doanh thu đạt được là 423.8 triệu USD (2007: 352.3 triệu USD) tăng 20% so với năm 2007
Ngày 26/04/1973 là ngày giao dịch đầu tiên trên sàn CBOE được đưa vào hoạt động với 911 hợp đồng quyền chọn mua được giao dịch dựa trên 16 loại chứng khoán cơ sở Năm 1975, hệ thống yết giá được thiết kế trên chương trình máy tính, công thức Black-Scholes được áp dụng vào phương thức định giá quyền chọn, đồng thời thành lập công ty thanh toán bù trừ quyền chọn đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng Vì vậy, người mua quyền chọn không phải lo lắng về rủi ro tín dụng của người bán Điều này khiến cho quyền chọn trở nên hấp dẫn hơn đối với công chúng
Tháng 06/1977 các hợp đồng quyền chọn bán đầu tiên được đưa vào giao dịch Năm 1983 CBOE đã tạo nên một cuộc cách mạng mới trong ngành kinh doanh quyền chọn bằng cách đưa các hợp đồng quyền chọn dựa trên chỉ số chứng khoán như: CBOE-100, chỉ số S&P 100 (OEX) và chỉ số S&P 500 (SPX) Năm
1985 CBOE thành lập viện đào tạo quyền chọn để đào tạo cho các nhà đầu tư trên thế giới về quyền chọn và chỉ số chứng khoán NASDAQ
Được kích hoạt bởi những nhu cầu của công chúng về quyền chọn, ngành kinh doanh này phát triển mạnh mẽ cho đến khi thị trường chứng khoán sụp đổ
Trang 2924
nặng nề vào năm 1987 Bị tổn hại nặng nề, nhiều nhà đầu tư cá nhân sử dụng hợp đồng quyền chọn trước đây đã tránh xa thị trường này, và khối lượng giao dịch chỉ mới phục hồi bằng mức năm 1987 trong thời gian gần đây
Năm 1993, CBOE cho ra đời quyền chọn FLEX, với quyền chọn này đã phá
đi những quy định đã được chuẩn hoá trước đây và cho phép nhà đầu tư có thể thiết lập hợp đồng quyền chọn FLEX rất linh hoạt bằng bất cứ mức giá thực hiện nào, củng có thể bất kỳ ngày đáo hạn nào
• Đặc điểm giao dịch:
Nhà tạo lập thị trường (Market markers): chịu trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của công chúng đối với quyền chọn Khi một công chúng nào đó muốn mua (hoặc bán) một quyền chọn và không có thành viên nào trong công chúng muốn bán (hoặc mua) quyền chọn đó, nhà tạo lập thị trường sẽ thực hiện nhiệm vụ giao dịch đó Một cá nhân mua một ghế (seat) ở CBOE có thể nộp đơn đăng ký để trở thành nhà tạo lập thị trường, phải qua một kỳ thi sát hạch và cuối cùng được Uỷ ban thành viên xác nhận Nhà tạo lập thị trường thực chất là một doanh nghiệp Để tồn tại họ phải tạo ra lợi nhuận bằng cách mua và với một mức giá thấp và bán ra với một mức giá cao hơn Theo điều lệ giao dịch của CBOE, vị trí của nhà tạo lập thị trường trên sàn cũng có thể được công ty thành viên thuê lại với giá niêm yết công khai Các nhà tạo lập thị trường có trách nhiệm thiết lập thị trường giao dịch hợp đồng giao dịch quyền chọn theo nguyên tắc giá cả hợp lý, trật tự, khuôn mẫu và mang tính cạnh tranh lành mạnh
Môi giới sàn giao dịch (Floor Broker): là cá nhân hay người được uỷ nhiệm của tổ chức đăng ký hoạt động tại sàn giao dịch nhằm thực hiện lệnh mua bán từ các thành viên trên sàn hoặc các nhà môi giới ngoài sàn Để làm nhà môi giới tại sàn, nhà môi giới phải hoàn tất các thủ tục đăng ký hoạt động tại sàn giao dịch nhằm thực hiện lệnh mua và bán từ các thành viên trên sàn hoặc các nhà môi giới ngoài sàn Để làm môi giới tại sàn, nhà môi giới phải hoàn tất thủ tục đăng ký trải qua cuộc thi sát hạch năng lực và được Ủy ban phụ trách thành viên CBOE phê
Trang 30Nhân viên sàn giao dịch (Floor Officials): là các thành viên hoạt động trực thuộc Uỷ ban giám sát, có trách nhiệm giám sát, hướng dẫn các hoạt động giao dịch đảm bảo đúng nguyên tắc và luật pháp, có quyền xác nhận tư cách thành viên, kiểm tra và thông báo đến Uỷ ban kiểm tra những giao dịch có dấu hiệu bất thường
Thư ký thành viên (Member Clerks): là những người thư ký của nhà tạo lập thị trường hay nhà môi giới trên sàn, họ có nhiệm vụ hỗ trợ và giúp đỡ trong việc nhận lệnh, kiểm tra, chuyển lệnh giao dịch trên sàn
Trang 3126
Mô hình CBOE được mô tả theo sơ đồ sau:
Hình 2.1 Mô hình tổ chức giao dịch của sàn CBOE (nguồn: Sách quản trị rủi ro tài chính) Hàng ngày, các phiên giao dịch sẽ được thực hiện thông qua các hệ thống sàn giao dịch điện tử tự động (Exchange’s Rapid Opening System) và sàn giao dịch lai ghép ( Exchange”s Hyprid Opening System) Thời hạn giao dịch phải được đảm bảo song song với thị trường chứng khoán cơ sở Trình tự giao dịch được sắp xếp thứ tự theo nguyên tắc ưu tiên theo thời gian đáo hạn gần nhất của hợp đồng quyền chọn Nguyên tắc khớp lệnh được ưu tiên cho giá tốt nhất, nếu các lệnh cùng giá thì
CHỌN
Người bán
Môi giới của người bán
Công ty thanh toán nhà môi giới của người bán
Trung tâm thanh toán
Môi giới trên sàn của người môi giới bên người mua
Người
mua
Môi giới trên sàn của người môi giới bên người bán
Trang 3227
ưu tiên cho lệnh giới hạn được đăng ký trong sổ của nhân viên giữ lệnh, sau đó là thời gian đặt lệnh Thời gian khớp lệnh trễ nhất là 3 giờ chiều đối với hợp đồng quyền chọn chứng khoán và 3h15’ đối với hợp đồng quyền chọn chỉ số chứng khoán Việc giao dịch và khớp lệnh luôn được sự giám sát và xác nhận của các nhân viên điều hành sàn giao dịch
Một cá nhân muốn giao dịch quyền chọn, trước tiên phải mở một tài khoản ở công ty môi giới Sau đó cá nhân này sẽ đặt lệnh cho người môi giới mua hoặc bán một quyền chọn cụ thể Người môi giới sẽ gửi lệnh đến người môi giới sàn giao dịch của công ty trên sàn giao dịch quyền chọn
Một nhà đầu tư có thể đồng thời đặt nhiều dạng lệnh khác nhau nhằm ứng phó với các tình huống khác nhau:
Lệnh thị trường là dạng lệnh chỉ thị các nhà môi giới trên sàn giao dịch nhận mức giá tốt nhất
Lệnh giới hạn là dạng lệnh quy định cụ thể mức giá cao nhất có thể trả để mua hoặc bán mức giá thấp nhất chấp nhận bán Các lệnh giới hạn có thể có giá trị cho đến khi bị huỷ hoặc có giá trị trong ngày
Lệnh có giá trị cho đến khi bị huỷ (good-till canceled) là dạng lệnh có hiệu lực cho đến khi bị huỷ bỏ
Lệnh có giá trị trong ngày (day order) là dạng lệnh có hiệu lực cho đến hết thời gian còn lại trong ngày
Lệnh dừng (Stop order) là dạng lệnh cho phép nhà đầu tư nắm giữ một quyền chọn riệng biệt ở mức giá thấp hơn mức giá hiện tại Nếu giá thị trường giảm xuống đến mức giá đã quy định, người môi giới chỉ được bán quyền chọn ở mức giá tốt nhất hiện có
Lệnh tất cả hoặc không (all or none order) là dạng lệnh cho phép người môi giới thực hiện một phần lệnh với giá này và phần còn lại với giá khác
Lệnh tất cả hoặc không, cùng giá (all or none) là dạng lệnh yêu cầu người môi giới thực hiện hoặc là thực hiện toàn bộ lệnh cùng với một mức giá hoặc là không thực hiện lệnh
Trang 3328
Các lệnh mua bán phải được xác định nhà tạo lập thị trường, nhà môi giới,
mã chứng khoán cơ sở, loại hợp đồng quyền chọn, thời gian đáo hạn, giá thực hiện, giá chuyển nhượng, khối lượng giao dịch, tên công ty thanh toán thành viên và được cung cấp đến các thành viên giao dịch có liên quan trên sàn
Mọi giao dịch thành công trên sàn đều được thông báo đến Công ty thanh toán bù trừ trên quyền quyền chọn (Option Clearing Corporation – OCC) Các thông tin bao gồm: xác nhận thành viên Công ty thanh toán có liên quan, loại hình hợp đồng, loại hình chứng khoán cơ sở, giá thực hiện, thời gian đáo hạn, số lượng hợp đồng, phí giao dịch, nhà môi giới, tài khoản giao dịch, thời gian mua bán và một số thông tin có liên quan khác
Việc thanh toán và thực hiện hợp đồng quyền chọn cũng phải thông qua Công ty thanh toán bù trừ trên các tài khoản giao dịch của khách hàng Công tác giao nhận chứng khoán cơ sở và thanh toán hợp đồng được điều chỉnh bởi các nguyên tắc giao dịch của Công ty thanh toán bù trừ Khi đến ngày đáo hạn hay người sở hữu hợp đồng yêu cầu thực hiện, Công ty đề nghị khách hàng bên mua nộp số tiền tương ứng giá trị hợp đồng đối với quyền chọ mua cổ phiếu, hoặc chứng khoán cơ sở đối với hợp đồng quyền chọn bán, sau đó yêu cầu khách hàng bán quyền chọn nộp cổ phiếu cơ sở hay tiền mặt tương ứng để tiến hành chuyển giao Nếu một bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện chuyển giao hoặc thanh toán thì sẽ bị Công ty xử lý theo Luật chứng khoán và các quy định của Cục dự trữ liên bang
• Cơ chế giám sát
Ngành kinh doanh quyền chọn giao dịch trên sàn được quản lý theo nhiều cấp độ Mặc dù các quy định của liên bang và từng bang giữ vai trò lớn nhất, ngành kinh doanh này cũng tự quản lý thông qua các quy tắc và chuẩn mực được thiết lập bởi các sàn giao dịch và OCC
SEC là cơ quan quản lý chính của thị trường quyền chọn ở Mỹ SEC là một
tổ chức quản lý liên bang được thiết lập vào năm 1934 để giám sát lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, quyền chọn và quỹ đầu tư Mục tiêu chung của SEC là đảm bảo công khai, đầy đủ các thông tin thích đáng về các
Trang 3429
khoản đầu tư được chào bán rộng rãi ra công chúng SEC có quyền thiết lập một số quy định, quy trình và điều tra các vụ vi phạm luật chứng khoán liên bang Nếu SEC tìm thấy các vi phạm, tổ chức này có thể tìm kiếm sự hỗ trợ bắt buộc, đề nghị
Bộ Tư pháp thụ lý vụ việc hoặc tự áp đặt một số hình phạt
Quyền quản lý của mỗi bang có thể mở rộng đến từng giao dịch chứng khoán hoặc quyền chọn diễn ra trong phạm vi của bang đó Các bang có qiao dịch quyền chọn quan trọng như Illinois và New York đã chủ động thực thi luật riêng của mình về quy tắc của các giao dịch được tiến hành trong bang
Với mục tiêu là bảo vệ các nhà giao dịch và đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật Sàn giao dịch CBOE cũng thiết lập các bộ phận để giám sát hoạt động trên sàn giao dịch bao gồm:
Bộ phận giám sát thị trường: có chức năng đảm bảo tính tuân thủ pháp luật
và các nguyên tắc của giao dịch
Bộ phận kiểm tra: có chức năng kiểm tra, thanh tra, theo dõi các hiện tượng
vi phạm tư cách hoạt động, các giao dịch bất thường của các thành viên theo quy định của Uỷ ban chứng khoán nhà nước và Cục dự trữ liên bang Các nhân viên giám sát có thể mở cuộc thanh tra những thành viên hoặc cá nhân vi phạm căn cứ vào những nguồn thông tin đáng tin cậy Kết luận của ban thanh tra sẽ được đệ trình đến Uỷ ban quản lý kinh doanh chứng khoán để cơ quan này ra quyết định xử lý theo các hình thức: Cảnh cáo, phạt, giới hạn chức năng hoạt động
Nét quan trọng trong cơ cấu thị trường tài chính Mỹ là việc tách rời hoạt động của ngành ngân hàng và ngành chứng khoán Rất ít nước trên thế giới theo mô hình của Mỹ Việc tách rời hoạt động của hai ngành chứng khoán và ngân hàng là
sự khác biệt nổi bật trong các quy định về hoạt động của ngành chứng khoán ở Mỹ
và các nước khác
2.1.2 Mô Hình Giao Dịch Quyền Chọn Châu Âu
Euronext N.V là sàn giao dịch xuyên quốc gia đầu tiên trên thế giới, nó cung cấp dịch vụ liên quan đến thị trường các sản phẩm giao sau, thị trường quyền chọn
và thị trường tiền tệ tại Bỉ, Pháp, Anh, Hà Lan và Bồ Đào Nha
Trang 3530
Kể từ khi thành lập, Euronext N.V đã cũng cố thị trường tài chính bằng cách thống nhất những thị trường trong các nước trong Châu Âu Với việc thực hiện việc kết hợp này Sàn giao dịch chứng khoán Châu Âu đã phát huy được thế mạnh của từng thành viên của nó Điều này đã chứng minh đây là cách tốt nhất để hợp nhất Sàn giao dịch chứng khoán Châu Âu là cách áp dụng tầm nhìn mang tính chất toàn cầu cho cấp độ địa phương
Euronext N V có thể đáp ứng cho khách hàng những dịch vụ đa dạng và rộng lớn Những khách hàng của sàn giao dịch này bao gồm những tổ chức tài chính, các công ty có chứng khoán niêm yết trên thị trường, các nhà đầu tư, các tổ chức khác có sử dụng công nghệ, dịch vụ và thông tin của sàn giao dịch
Các dịch vụ của Euronext N.V bao gồm từ môi giới chứng khoán và cung cấp những tiện ích cho việc mua và bán các chứng khoán phái sinh đến việc cung cấp các dữ liệu trên thị trường Sàn giao dịch này được lợi từ việc cung cấp dịch vụ thông qua các thành viên của nó ở Châu Âu Thêm vào đó, Sàn giao dịch này còn cung cấp các phần mềm và các giải pháp về công nghệ thông tin cho khách hàng
• Tổ chức và quản lý:
Cơ cấu tồ chức và quản lý của Euronext N.V về cơ bản bao gồm Ủy ban giám sát, Uỷ ban quản lý và Ủy ban điều hành:
• Uỷ ban giám sát
Ủy ban giám sát đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống tổ chức và quản
lý của sàn giao dịch Chức năng của Uỷ ban giám sát là việc kiểm tra và giám sát nhằm đảm bảo việc thực hiện những thủ tục theo đúng nguyên tắc quản lý rủi ro, giải trình cho những nhà đầu tư,… Uỷ ban giám sát đảm bảo việc tuân thủ những luật lệ được quy định bởi pháp luật Hà Lan và của những chính phủ thành viên
Theo luật Hà Lan, một công ty có hai cấp: Uỷ ban giám sát và Uỷ ban điều hành Uỷ ban giám sát là một hội đồng độc lập bao gồm những thành viên độc lập
Uỷ ban giám sát kiểm tra việc thực hiện và đường lối hành động của Uỷ ban điều hành, tư vấn cho Uỷ ban điều hành thực hiện nhiệm vụ của nó
Trang 3631
- Uỷ ban giám sát thông qua những quy tắc và điều lệ Sàn giao dịch Những quy tắc và điều lệ này ban hành những quy định có liên quan đến nhiệm vụ, cơ cấu
tổ chức, việc bổ nhiệm, các uỷ ban thành viên, tiền công và các cuộc họp
- Uỷ ban giám sát ban hành bản giới thiệu sơ lược của Sàn Giao dịch, bản giới thiệu sơ lược này được thay đổi hàng năm nếu cần thiết Theo bản giới thiệu sơ lược, ít nhất một thành viên của Uỷ ban giám sát phải thành thạo về tài chính và ít nhất một thành viên phải có kiến thức chuyên môn về nhân sự
- Uỷ ban quản lý là một tập thể chịu trách nhiệm về quản lý Sàn giao dịch và được giám sát bởi Ủy ban giám sát Uỷ ban quản lý đáp ứng những chiến lược đề ra của Sàn giao dịch, đồng thời đặt ra những tiêu chuẩn và thi hành những quyết định liên quan đến quản lý Chủ tịch Ủy ban quản lý báo cáo cho chủ tịch Uỷ ban giám sát theo định kỳ
- Uỷ ban điều hành là một tập thể chịu trách nhiệm điều hành sàn giao dịch
và chịu sự giám sát cũng như quản lý của Uỷ ban giám sát và Uỷ ban pháp lý Uỷ ban điều hành bao gồm Chủ tịch Uỷ ban điều hành, các thành viên của Uỷ ban điều hành, các phòng ban có liên quan đến tài chính, pháp luật, nhân sự và thông tin
* Sàn giao dịch giao sau và quyền chọn tài chính quốc tế London (“LIFFE”) Nguyên tắc giao dịch: Ngày giao dịch: LIFFE mở cửa giao dịch từ thứ 2 đến thứ 6, đóng cửa vào ngày thứ 7 và Chủ nhật, các ngày nghĩ lễ của Vương quốc liên hiệp Anh và bất kỳ ngày nào mà các giao dịch bị đình chỉ theo đạo luật năm 1971
về quan hệ tài chính và ngân hàng Tuy nhiên, Uỷ ban giám sát có thể quyết định việc mở hay đóng cửa Sàn giao dịch trong từng thời điểm và quyết định này phải được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Những hành vi bị cấm: Những người môi giới có liên quan đến bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào của LIFFE sẽ không được tham gia vào những giao dịch được cho là có hại cho thị trường hoặc dẫn đến sự bất công cho khách hàng hay những người tham gia trên thị trường
Tranh chấp: Nếu một hợp đồng được ký hay coi như đã được ký thì nó có thể là đối tượng của việc tranh chấp Nếu một bên bất đồng ý kiến thì bên đó sẽ phải
Trang 3732
thông báo sự bất đồng ý kiến của mình để nhân viên của sàn giao dịch Khi đó nhân viên của sàn giao dịch sẽ yêu cầu hai bên tham gia hợp đồng thực hiện những công việc cần thiết để hạn chế tổn thất đến mức thấp nhất
Tư cách pháp lý để tạo nên một hợp đồng; Tất cả các hợp đồng phải được thực hiện dự trên cơ sở một hợp đồng mẫu của sàn giao dịch Một hợp đồng sẽ không có hiệu lực trong trường hợp một bên tham giao hợp đồng không có giấy phép giao dịch hợp hợp lệ
• Quyền hạn chế hay đình chỉ một giao dịch:
- Uỷ bam giám sát bổ nhiệm một số thành viên có quyền hạn chế hay đình chỉ các giao dịch Phải có ít nhất hai thành viên được bổ nhiệm mới có quyền hạn chế hay đình chỉ một giao dịch nhất định Các thành viên hạn chế hay đình chỉ một giao dịch nếu cho rằng giao dịch đó có ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của Sàn giao dịch hoặc để duy trì tính công bằng và minh bạch của thị trường
- Uỷ ban giám sát đề ra những thủ tục nhằm hướng dẫn các thành viên thực hiện quyền hạn chế hay đình chỉ giao dịch Những thủ tục này cũng hướng dẫn việc khởi động lại các giao dịch bị hạn chế hay đình chỉ này nếu chúng khả thi và các bên tham gia giao dịch mong muốn tiếp tục thực hiện chúng
Những điều khoản quy định trong trường hợp khẩn cấp:
- Trong rường hợp khẩn cấp, Uỷ ban giám sát có thể thực hiện tất cả các biện pháp nhằm kiển tra và hiệu chỉnh các giao dịch Các biện pháp kiểm tra và hiệu chỉnh các giao dịch bao gồm việc đình chỉ hay hạn chế các giao dịch trong một khoản thời gian nhất định nào đó
- Uỷ ban giám sát bổ nhiệm một số thành viên vào Uỷ ban tư vấn thị trường (Market Advisory Committee) với mục đích giúp Uỷ ban giám sát thực hiện những biện pháp kiểm tra hiệu chỉnh các giao dịch trong trường hợp khẩn cấp
* Lệnh giao dịch: Các lệnh giao dịch có thể gửi đến Sàn giao dịch từ khi bắt đầu nở cửa đến lúc đóng của giao dịch Trên LIFFE CONNECT
- Bỏ giá sẽ được xem là một lệnh đặt mua
- Chào giá sẽ được xem là một lệnh bán
Trang 3833
- Chấp thuận được định nghĩa là việc khớp lệnh mua và bán tại hệ thống các lệnh trung gian
- Các lệnh giao dịch gồm các loại lệnh giao dịch sau đây:
- Đơn lệnh giới hạn: đơn lệnh giới hạn được nhập vào sổ khớp lệnh trung tâm sẽ được xử lý ở mức giá được nêu rõ hoặc ở một mức giá tốt hơn Phần còn lại của đơn lệnh giới hạn (nếu có) vẫn có thể lưu lại Tất cả đơn lệnh giao dịch sẽ tự động bị rút lại khi Sàn giao dịch đóng cửa Nói cách khác các đơn lệnh giới hạn có giá trị đến khi bị huỷ hoặc có giá trị trong ngày
- Đơn lệnh giao dịch: đơn lệnh giao dịch được nhập vào sổ khớp lệnh trung tâm và sẽ thực hiện ở các mức giá tốt nhất có tại thị trường Số lượng chứng khoán còn lại trong đơn lệnh giao dịch sẽ tự động bị huỷ bởi Sàn giao dịch
- Đơn lệnh giao dịch mở: Đơn lệnh giao dịch mở có thể gửi cho Sàn giao dịch trước khi mở cửa, đơn lệnh giao dịch này sẽ được thực hiện ở mức khớp lệnh tại thời điểm mở cửa Trong trường hợp chỉ một phần đơn lệnh giao dịch mở cửa được thực hiện tại thời điểm mở cửa, thì số lượng còn lại sẽ được chuểyn thành đơn lệnh giới hạn ở mức giá khớp lệnh mở cửa giao dịch đó
- Thực hiện giao dịch:
- Các tiêu chuẩn về lệnh giao dịch sau sẽ được xác định ưu tiên giao dịch:
Ưu tiên về giá, ưu tiên về thời gian đặt lệnh, ưu tiên về tỷ lệ giao dịch và đơn lệnh giao dịch mở cửa được ưu tiên hơn đơn lệnh giới hạn
- Khi xảy ra hiện tượng đấu thầu cao hơn giá chào (bacjwardation) hoặc giá đấu thầu bằng giá chào (choice prices) tại thời điểm mở cửa giao dịch Sàn giao dịch sẽ tự động tính toán giá mà tại đó khối lượng giao dịch được thực hiện nhiều nhất Các lệnh thực hiện theo cách này sẽ được giao dịch tại giá bằng hoặc tốt hơn giá nhập và các lệnh chưa được thực hiện sẽ lưu lại cho đến khi nó được giao dịch hoặc bị rút lại
- Chi tiết các giao dịch trên sàn giao dịch sẽ được chuyển đến nơi đăng ký giao dịch và đến tất cả những người tham gia đã đăng nhập vào thị trường Tất cả chi tiết của các giao dịch sẽ được công bố dạng vô danh
Trang 3934
- Riêng hợp đồng giao sau và hợp đồng quyền chọn trong suốt thời gian trước khi hoàn tất việc giao dịch, chi tiết về giá và khối lượng mở sẽ được công bố đến tất cả thành viên đã đăng nhập vào thị trường
- Mức giá mở cửa:
- Giá của các hợp đồng tương tự
- Biểu đồ giá trong tháng;
- Điều kiện thị trường hiện tại, trong đó có mức hoạt động và giao động
- Tốc độ thực hiện giao dịch;
- Thông tin liên quan đến thay đổi giá trong thị trường có liên quan, công
bố dữ liệu kinh tế hoặc các tin liên quan ngay trước hoặc trong thời điểm giao dịch;
- Lỗi kê khai; và
- Giao dịch gần thời hạn đóng cửa thị trường;
- Khi một giao dịch bị tuyên bố mất hiệu lực các bên có liên quan sẽ được thông báo bằng điện thoại hoặc tin nhắn từ sàn giao dịch
- Hiệu chỉnh sai sót:
- Nếu có một sai xót trong việc thi hành hợp đồng, Sàn giao dịch sẽ đề nghị biện pháp khắc phục đến các bên có liên quan nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên
- Để có giấy chứng nhận hiệu chỉnh sai sót, các bên phải cung cấp cho sàn giao dịch:
- Các bằng chứng về giao dịch;
- Các hợp đồng có liên quan;
- Các thủ tục khai báo hiệu chỉnh sai sót được ký bởi hai bên
Trang 4035
- Sàn giao dịch cũng có thể yêu cầu các bên cung cấp các thông tin khác trong trường hợp cần thiết;
2.1.3 Mô Hình Giao Dịch Chứng Khoán Ở Nhật Bản
Trước năm 1993, mô hình công ty chứng khoán tại Nhật Bản cũng tương tự như mô hình của Mỹ, tức là mô hình công ty chuyên doanh Ngân hàng không được phép tham gia vào hoạt động chứng khoán
Theo luật cải cách các định chế ban hành tháng 04/1993, các tổ chức ngân hàng được phép tham gia vào thị trường chứng khoán thông qua các công ty chứng khoán con nhằm tính cạnh tranh trên thị trường chứng khoán Đồng thời, các công
ty chứng khoán lại được thành lập công ty con làm dịch vụ ngân hàng
Sau khi luật trên được ban hành, công ty chứng khoán con thuộc năm tổ chức ngân hàng đã nhận được giấy phép kinh doanh chứng khoán và đã bắt đầu cung cấp các dịch vụ về chứng khoán vào năm 1993 Sau đó, năm 1994, có 8 ngân hàng, 1995 có thêm 4 ngân hàng và 1996 có thêm 2 tổ chức ngân hàng được cấp giấy phép thành lập công ty chứng khoán con
Kinh doanh chứng khoán tại Nhật được chia ra 4 loại hình và mỗi loại hình phải có một giấy phép kinh doanh riêng biệt Loại hình thứ nhất là loại hình tự doanh hoặc kinh doanh chứng khoán do các công ty chứng khoán tiến hành cho chính bản thân họ Loại hình thứ hai là môi giới chứng khoán hay kinh doanh chứng khoán trên cơ sở lệnh của khách hàng Loại hình thứ ba là bảo lãnh phát hành chứng khoán: bảo lãnh chứng khoán mới phát hành hoặc chào bán ra công chúng các chứng khoán đang lưu hành Loại hình thứ tư là chào bán chứng khoán hay tham gia và hệ thống bán lẻ các chứng khoán phát hành ra công chúng
Tuy nhiên, theo quy định hiện tại của luật cải cách các định chế trên, các công ty chứng khoán con thuộc các ngân hàng không được tham gia vào môi giới
cổ phiếu, bảo lãnh phát hành và giao dịch cổ phiếu, kinh doanh các loại chứng khoán có liên quan tới cổ phiếu (trái phiếu chuyển đổi, chứng khế,…), kinh doanh các hợp đồng tương lai, quyền chọn Biện pháp này đưa ra nhằm hạn chế việc tham gia của các công ty chứng khoán con thuộc các ngân hàng và thị trường chứng