các giao dịch về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập, các tại sản khác và các khoản nợ tàichính, các khoản chuyển giao một chiều.Như vậy, cán cân thanh toán là tài khoản đối ngoại trong hệ thống
Trang 1VẤN ĐỀ THIẾT LẬP VÀ ĐIỀU CHỈNH CÁN CÂN
THANH TOÁN QUỐC TẾ
Chương này trình bày những khái niệm và nội dung cơ bản của cán cân thanhtoán Quốc tế Sau đó, đề cập đến nguyên tắc bút toán và phân tích cán cân thanhtoán Cuối chương sẽ đưa các cơ chế điều chỉnh và những kinh nghiệm điều chỉnhcán cân thanh toán ở một số nước phát triển
1.1 Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế:
Xét dưới một góc độ nhất định, các định nghĩa về cán cân thanh toán trongnhững sách kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế về cơ bản là giống nhau Tuy vậy, quanđiểm của quỹ tiền tệ (IMF) được trình bày trong "Sổ tay cán cân thanh toán"(1993) được coi là chính thức mà các thành viên khi lập cán cân thanh toán phảituân theo Theo đó, cán cân thanh toán Quốc tế được định nghĩa như sau:
"Cán cân thanh toán là một bản thống kê được thành lập một cách có hệ thốngcác giao dịch kinh tế của một nướcvới phần còn lại của thế giới trong một khoảngthời gian nhất định Các giao dịch, chủ yếu là giữa người cư trú và người không cưtrú, gồm các luồng trao đổi về hàng hoá, dịch vụ và thu nhập; các giao dịch về tàisản và các khoản nợ tài chính của một nước với phần còn lại của thế giới Bản thânmột giao dịch được nhìn nhận như một luồng kinh tế phản ánh sự phát sinh, sựbiến đổi, sự trao đổi, sự chuyển giao, hay sự thanh toán các giá trị kinh tế và dẫnđến sự thay đổi về quyền sở hữu hàng hoá và /hay các tài sản tài chính, cung cấpcác dịch vụ, hay cung cấp lao động và vốn"
Tóm lại: Cán cân thanh toán của một nước là bản ghi chép toàn bộ giao dịchkinh tế giữa người cư trú của nước lập báo cáo với người cư trú của phần còn lạicủa thế giới trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) bao gồm
Trang 2các giao dịch về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập, các tại sản khác và các khoản nợ tàichính, các khoản chuyển giao một chiều.
Như vậy, cán cân thanh toán là tài khoản đối ngoại trong hệ thống các tài khoảnquốc gia Tình trạng của nó sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, đếntình hình ngoại hối, đến toàn bộ nền kinh tế của một nước đặc biệt là lĩnh vực kinh
tế đối ngoại
1.2 Phân tích nội dung của cán cân thanh toán quốc tế:
1.2.1 Nội dung của cán cân thanh toán Quốc tế:
Theo cuốn Sổ tay của cán cân thanh toán Quốc tế xuất bản lần thứ 4 của Quỹtiền tệ Quốc tế (IMF), cán cân thanh toán Quốc tế gồm những khoản mục sau: Tàikhoản vãng lai, tài khoản vốn và tài chính, tài khoản dự trữ Ngoài ra, do khó khăntrong việc thu thập số liệu của tất cả các giao dịch của một số nước với thế giới bênngoài nên trong cán cân thanh toán còn có tài khoản sai sót
A Tài khoản vãng lai:
Tài khoản vãng lai hay còn gọi là cán cân vãng lai là một bộ phận chính hình
thành lên bảng cán cân thanh toán của một nước Nó phản ánh đầy đủ mọi giaodịch có giá trị kinh tế xảy ra giữa những người cư trú và không cư trú Cụ thể:Trong tài khoản vãng lai bao gồm các hạng mục: Hàng hoá, dịch vụ, thu nhập,chuyển giao vãng lai một chiều
1 Hạng mục hàng hoá: Hạch toán tất cả các khoản thu từ xuất khẩu hàng hoá
và các khoản chi để nhập khẩu hàng hoá Bảng cân đối thu chi của phần này được
gọi là cán cân thương mại Thông thường đây là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tài khoản vãng lai Tất cả các số liệu xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá đượcghi chép trong cán cân thanh toán được tính theo giá FOB hoặc FAS
2 Hạng mục dịch vụ: Hạch toán các khoản thu từ xuất khẩu và chi để nhập
Trang 3khẩu các loại hình dịch vụ Bảng cân đối thu và chi của phần này được gọi là cáncân dịch vụ Theo tiêu chuẩn của IMF, hạng mục này có thể phân chia thành:
a Dịch vụ vận chuyển: cước phí, hành khách, các khoản khác
b Dịch vụ du lịch: bao gồm các chi phí khách sạn và nhà trọ, các chi phí du
lịch khác (nhà hàng, các chuyến thăm quan )
3 Hạng mục thu nhập: Hạch toán tất cả các khoản thu nhập từ hai yếu tố sản
xuất: Lao động và vốn Thu nhập từ lao động gọi là thu nhập của người lao động.Thu nhập từ vốn gọi là thu nhập đầu tư
a Thu nhập của người lao động bao gồm lương, thưởng và các khoản thu
nhập khác bằng tiền hoặc bằng hàng do người không cư trú trả cho người cư trú vàngược lại
Trang 4b Thu nhập đầu tư bao gồm:
+Thu nhập đầu tư trực tiếp (các khoản thu nhập đầu tư và tái đầu tư)
+Thu nhập đầu tư vào giấy tờ có giá (thu nhập do nắm giữ cổ phiếu, tráiphiếu,các giấy tờ có giá và các công cụ tài chính khác)
+Thu nhập đầu tư khác: các khoản thu về tài sản của người cư trú
4 Hạng mục chuyển giao vãng lai một chiều: Ghi chép các khoản chuyển
giao dưới dạng không hoàn lại như quà tặng, viện trợ và các khoản chuyển giaokhác bằng tiền mặt hoặc hiện vật giữa người cư trú và người không cư trú cho mụcđích tiêu dùng này bao gồm:
a Chuyển giao khu vực chính phủ
- Các khoản viện trợ không hoàn lại (các khoản chuyển giao bằng tiền hoặcbằng hàng ví dụ như quà tặng về thực phẩm, quần áo, thuốc men và hàng tiêu dùngkhác với mục đích cứu trợ)
- Các khoản chuyển giao khác
b Chuyển giao khu vực phi chính phủ
Chuyển tiền của người lao động bao gồm những khoản chuyển tiền của côngnhân lao động ở nước ngoài hơn một năm chuyển về nước Tiền lương của laođộng ở nước ngoài dưới một năm cần hạch toán trong mục thu nhập của người laođộng
Các khoản viện trợ của tổ chức phi chính phủ (như tổ chức chữ thập đỏ quốctế ) bằng tiền hoặc bằng hàng hoặc trợ giúp dưới hình thức kỹ thuật
B Tài khoản vốn và tài chính:
Tài khoản vốn và tài chính là tổng hợp tất cả các giao dịch ghi chú những thayđổi về tổng tài sản, những khoản có và nhữmg khoản nợ tài chính nước ngoài củamột nước Các giao dịch chủ yếu trong hạng mục vốn và tài chính bao gồm:
Trang 51 Chuyển giao vốn một chiều bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại cho
mục đích đầu tư, các khoản nợ được xoá giữa người cư trú và người không cư trú,các loại tài sản của người cư trú di cư mang ra nước ngoài và của người không cưtrú di cư vào nước lập báo cáo
2 Các giao dịch về tài sản phi tài chính bao gồm các tài sản vô hình như bản
quyền, nhãn hiệu thương mại, bằng sáng chế, giấy phép kinh doanh, hợp đồng thuêmua, hoặc các hợp đồng chuyển nhượng khác
3 Đầu tư trực tiếp là việc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một nước sở tại
vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư thu lợi nhuậntheo quy định của luật đầu tư nước ngoài của nước sở tại
4 Đầu tư gián tiếp là việc người không cư trú đầu tư vào giấy tờ có giá như cổ
phiếu, trái phiếu dài hạn, trái phiếu ngắn hạn, các công cụ thị trường tiền tệ và cáccông cụ phái sinh do người cư trú phát hành
5 Đầu tư khác bao gồm các khoản vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn, các khoản
tiền mặt và tiền gửi không được liệt kê trong các khoản mục 1,2,3,4 và tài khoản
dự trữ chính thức
C Tài khoản dự trữ:
Ghi lại những thay đổi về tài sản dự trữ của cơ quan quản lý tiền tệ để tài trợ vàđiều hoà sự mất cân đối của cán cân thanh toán Nó có thể là những dạng sau:
1 Vàng tiền tệ: Vàng tinh chế thuộc sở hữu của các cơ quan quản lý tiền tệ.
Các giao dịch bằng vàng tiền tệ chỉ xảy ra giữa các ngân hàng Trung ương cácnước hoặc với các tổ chức tiền tệ Quốc tế
2 Quyền rút vốn đặc biệt (SDR): Đơn vị tiền tệ của quỹ IMF.
3 Ngoại hối: Các phương tiện có giá trị được dùng để tiến hành thanh toán
giữa
Trang 6các quốc gia (ví dụ: Ngoại tệ tiền mặt, tiền gửi và các phương tiện thanh toán Quốc
tế ghi bằng ngoại tệ )
D Sai sót thống kê: Phản ánh phần chênh lệch do sai sót thống kê của tất cả
các hạng mục trong cán cân thanh toán
1.2.2 Phân tích nội dung cán cân thanh toán :
Phân tích cán cân thanh toán là một trong những cơ sở quan trọng để các nhàhoạch định chính sách đưa ra những chính sách thích hợp cho từng thời kỳ Cáncân thanh toán Quốc tế cần phải được phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau, trongmối quan hệ với các tài khoản kinh tế vĩ mô khác và trong các mối quan hệ giữacác hạng mục của cán cân thanh toán
A Dư thừa và thiếu hụt cán cân thanh toán
Theo hệ thống kế toán bút toán kép, tổng các khoản ghi nợ bằng tổng các khoảnghi có cán cân thanh toán luôn cân bằng Về nguyên tắc, các giao dịch được ghitrong cán cân thanh toán được chia làm hai loại chính: giao dịch tự định và giaodịch điều chỉnh Giao dịch tự định là những giao dịch được thực hiện vì lợi ích củabản thân chúng Điểm đặc trưng của giao dịch tự định là chúng được thực hiện độclập không phụ thuộc vào trạng thái của cán cân thanh toán của nước lập báo cáo.Tất cả các giao dịch khác được gọi là giao dịch điều chỉnh Các giao dịch điềuchỉnh không được thực hiện vì lợi ích của chính nó Đúng hơn, khi các giao dịch tựđịnh để lại một lỗ hổng cần phải được bù đắp thì giao dịch điều chỉnh phải đượcthực hiện để bù đắp lỗ hổng đó (vì thế mà giao dịch tự điều chỉnh còn được gọi làgiao dịch bù đắp)
Hãy tưởng tượng một đường nằm ngang được vẽ xuyên qua một bảng cán cânthanh toán Phía trên đường tưởng tượng đó, đặt tất cả các giao dịch tự định; phía
Trang 7dưới, đặt các giao dịch điều chỉnh Khi số dư các giao dịch tự định bằng không (cónghĩa là các khoản thu tự định bằng các khoản chi tự định), cán cân thanh toán là
cân bằng Khi tổng các khoản thu tự định (những khoản có) lớn hơn tổng cáckhoản chi tự định (những khoản nợ), thì có một thặng dư; và khi tổng số cáckhoản thu tự định nhỏ hơn tổng số các khoảnchi tự định, thì có một thâm hụt.Trong mỗi trường hợp, sự đo lượng mất cân bằng kế toán (thặng dư hay thiếuhụt) được xác định bằng chênh lệch giữa tổng số những khoản thu tự định vàtổng số những khoản chi tự định
Do cán cân thanh toán là đồng nhất thức, chúng ta luôn có:
Tổng các giao dịch tự định+tổng các giao dịch điều chỉnh=0
Hay: Tổng các giao dịch tự định = -Tổng các giao dịch điều chỉnh
Do đó, đo lường sự mất cân bằng các cân thanh toán cũng có thể xác định như
là số âm của chênh lệch giữa các khoản thu và chi của giao dịch điều chỉnh
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa giao dịch tự định và giao dịch điều chỉnh trongthực tế là không rõ ràng do đó không có cách đo lường kế toán duy nhất về sự mấtcân bằng cán cân thanh toán Nói chung, để phản ánh trạng thái của cán cân thanhtoán quốc tế của một nước người ta thường dùng cán cân tổng thể (tổng hợp cáncân vãng lai và cán cân vốn và tài chính) Tuy nhiên, cán cân tổng thể đôi khikhông được đánh giá chính xác bằng cán cân vãng lai bởi vì nó không phản ánhđúng năng lực sản xuất hay khả năng cạnh tranh kinh tế của một nước Chẳng hạn,khi một nước thặng dư cán cân thanh toán, điều này nghe có vẻ lành mạnh nhưngnếu đi sâu vào phân tích từng chỉ tiêu lại thấy cán cân vãng lai bị thiếu hụt lớn vàđược tài trợ hoàn toàn bằng vay nợ, đầu tư nước ngoài Do đó, sự phân tích thoảđáng về cơ cấu tài trợ liên quan đến sự ổn định các cân vãng lai trong tương lai làrất cần thiết
Trang 8B Phân tích tài khoản vãng lai:
Như ta đã biết, trong cán cân thanh toán, cán cân vãng lai giữ vai trò quan đặcbiệt quan trọng Vì vậy, khi phân tích cán cân thanh toán cần phải chú trọng phântích cán cân vãng lai và số dư tài khoản vãng lai
Các nhà kinh tế học cho rằng những định nghĩa khác nhau thể hiện những mặtkhác nhau của cán cân vãng lai Trên thực tế, có bốn định nghĩa về cán cân vãng lai
và sự lựa chọn định nghĩa nào phụ thuộc vào mục đích phân tích
Thứ nhất: cán cân vãng lai đo lường các giao dịch kinh tế của một nước với
phần còn lại của thế giới về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao một chiều(định nghĩa trong Rivera-Batiz, 1989, trang 119) Hay nói cách khác, cán cân vãnglai là tổng của chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (X-M)cộng với thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài (NF) và chuyển khoản ròng từ nướcngoài (NTR) Theo định nghĩa này, tài khoản vãng lai (CA) sẽ bằng:
CA= X-M+NF+NTR
Theo định nghĩa này, Khi thâm hụt ngân sách vượt quá 5% đến 6% GDP có thể
có vấn đề và cần chú ý yếu tố nào đã gây ra thâm hụt Liệu có phải do người dân
đã nhập quá nhiều hàng hoá và dịch vụ? Phần thâm hụt do tiêu dùng bùng nổ cóthể được tài trợ bởi phần rút ra từ các tài khoản dự trữ hoặc tăng các khoản nợ.Trong cả hai trường hợp đều có thể gây ra nhiều vấn đề song tăng các khoản nợ,đặc biệt là các khoản vay ngắn hạn có thể cho thấy dấu hiệu của một nền kinh tếsuy yếu và các chính sách gia cần có những hành động khẩn trương Người đảmnhiệm công tác phân tích cán cân thanh toán cần được cung cấp đầy đủ các thông
Trang 9tin chi tiết để cố vấn cho các nhà hoạch định chính sách giúp họ đưa ra các quyếtđịnh đúng đắn và kịp thời.
Thứ hai: cán cân vãng lai được định nghĩa như chênh lệch giữa thu nhập và chi
tiêu của nền kinh tế
Vì vậy: CA= Y- A
A= C + I + G
Y: thu nhập A: chi tiêu C: tiêu dùng tư nhân
I : Đầu tư tư nhân G: Chi tiêu và đầu tư của chính phủ
Định nghĩa này được Alexander đưa ra vào năm 1950 Từ định nghĩa trên tathấy, cán cân vãng lai của một nước chỉ có thể được cải thiện bằng sự tăng tươngđối của thu nhập quốc dân so với chi tiêu hay sự giảm tương đối chi tiêu so với thunhập quốc dân
Thứ ba: cán cân vãng lai là chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của toàn bộ nền
kinh tế
CA= S - I
S : Tiết kiệm trong nước I : Đầu tư trong nước CAlà cán cân vãng laiNếu chia tổng tiết kiệm (S) và đầu tư (I) của toàn bộ nền kinh tế thành các phần
về khu vực chính phủ và tư nhân Ta có:
Công thức trên cho thấy cán cân vãng lai bằng chênh lệch của khu vực tư nhâncộng khu vực chính phủ Vì vậy, khi đề ra các biện pháp, chính sách nhằm cảithiện cán cân vãng lai phải nghiên cứu tác động của chúng tới hành vi tiết kiệm vàđầu tư Nếu thâm hụt tài khoản vãng lai xuất hiện do các hoạt động đầu tư mạnh thìphần thâm hụt này cần được tài trợ bởi đầu tư trực tiếp tại nước báo cáo hoặc phầntăng trong các khoản vay bên ngoài hay bởi đầu tư chứng khoán Tỷ lệ thâm hụt tàikhoản vãng lai tương đối lớn (6% hoặc 7%) có thể là bền vững nếu nó liên quanđến các hoạt động đầu tư trực tiếp mạnh ở nước báo cáo
Trang 10Thứ tư: khi công dân một nước cho vay hay mượn một lượng tiền của nước
ngoài, họ đã tạo ra một quan hệ tài sản với phần còn lại của thế giới Vì vậy, khiphân tích tiết kiệm và đầu tư, phải tính đến nguồn tài chính nước ngoài Từ đó, cóthể định nghĩa tài khoản vãng lai như những thay đổi trong tài sản nước ngoài ròngcủa quốc gia lập báo cáo với phần còn lại của thế giới
CA= B*t - Bt-1*
B*t : Tài sản nước ngoài ròng giai đoạn hiện tại
Bt-1*: Tài sản nước ngoài ròng giai đoạn trước
Định nghĩa này được Sarch và Larrain mở rộng từ định nghĩa trên Theo đó, cácthay đổi tài sản nước ngoài ròng có thể bù đắp được tình trạng thâm hụt của tàikhoản vãng lai Thặng dư tài khoản vãng lai có nghĩa là nước này đang tích luỹ tàisản quốc tế ròng Ngược lại, thâm hụt tài khoản vãng lai nghĩa là nước này đanggiảm dần tài sản quốc tế ròng hoặc tăng thêm nghĩa vụ nợ nước ngoài Như vậy: cóthể định nghĩa tài khoản vãng lai là sự thay đổi vị thế đầu tư quốc tế ròng của mộtnước
Như vậy, để tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự thâm hụt tài khoản vãng lai cũngnhư đưa ra những biện pháp điều chỉnh có hiệu quả để cải thiện tình trạng, cần phải
có sự phân tích cụ thể từng khoản mục trong cán cân vãng lai, đặc biệt là cán cânthương mại
Thâm hụt cán cân vãng lai không phải bao giờ cũng xấu, điều đó còn phụ thuộcvào khả năng thanh toán của một nước Khả năng thanh toán được đánh giá thôngqua các chỉ số vĩ mô như: tỷ lệ xuất khẩu/GDP, tỷ giá hối đoái thực tế, tiết kiệmvới đầu tư nội địa Nếu một quốc gia có tỷ lệ xuất khẩu/GDP lớn, tỷ giá hối đoái ổnđịnh và sát với thực tế, mức tiết kiệm và đầu tư cao thì thâm hụt cán cân thươngmại nếu có cũng ít khả năng gây ra khủng hoảng kinh tế Một tiêu chí quan trọngkhác để đánh giá tình trạng cán cân thanh toán quốc tế của một nước là khả năngchịu đựng của cán cân thanh toán vì nó chú ý đến những yếu tố nói trên Đối với
Trang 11một nước có nợ nước ngoài ròng dương và thâm hụt cán cân vãng lai, một "điểmuốn" giữa thâm hụt và thặng dư là cần thiết để đảm bảo khả năng thanh toán và khảnăng chịu đựng Một tiêu chuẩn cần được xét đến khi đánh giá khả năng chịu đựng
là liệu "điểm uốn" có thể đạt được một cách suôn sẻ và không gây những bất ổncho nền kinh tế khi cán cân thương maị đảo chiều đột ngột từ thâm hụt sang thặng
dư, không tạo ra sự thay đổi lớn trong chính sách (ví dụ: chính sách thắt chặt độtngột) và không gây ra tình trạng rệu rã của nền kinh tế
Sơ đồ 1: Mối quan hệ kinh tế vĩ mô cơ bản
Cộng
Chênh lệch khu vực chính phủ
ròng của các tổ chức phi ngân
h ng ài s
Chênh lệch giữa tiết kiệm
T i kho ài kho ản vãng lai của cán cân thanh toán (CA)
Chênh lệch
Cộng Thu nhập ròng Cộng
Chi tiêu (A)
Trang 12Ngoài ra, tài khoản vãng lai bao gồm tài khoản thương mại hàng hoá và dịch
vụ, tài khoản thu nhập và tài khoản chuyển giao vãng lai Do đó cần phải phân tích
cụ thể từng tài khoản này để tìm ra nguyên nhân của thâm hụt tài khoản vãng lai vàđưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp Trong đó cần đặc biệt phân tíchcán cân thương mại vì đây thường là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thiếu hụt cáncân vãng lai và cũng là đối tượng chính khi cán cân thanh toán mất cân bằng cơbản
B Phân tích tài khoản vốn và tài chính
Tài khoản vốn và tài chính bao gồm các luồng vốn dài hạn và ngắn hạn, chạyvào hoặc chạy ra khỏi một nước Hay nói cách khác, nó là tổng đầu tư của nướcngoài và số vay nợ ròng Như vậy, tình trạng của cán cân thanh toán có liên quantrực tiếp đến tình trạng tài sản ngoại tệ ròng của một nền kinh tế Vì vậy, một gợi ýnhằm giảm bớt thâm hụt cán cân thanh toán là sự điều chỉnh chính sách của chínhphủ nhằm thu hút đầu tư tư nhân hoặc tìm kiếm các khoản vay nước ngoài
Đối với bất cứ nước nào, con đường phát triển cũng đầy rẫy trở ngại Một trongnhững trở ngại là tiết kiệm không đáp ứng nhu cầu đầu tư Vì vậy, sự phụ thuộcvào nguồn tư bản nước ngoài để bổ sung cho nguồn vốn trong nước giai đoạn đầuphát triển là điều hiển nhiên Tuy nhiên, vì lượng tư bản vay hôm nay sẽ phải trảtrong tương lai nên việc sử dụng chúng một cách có hiệu quả là một điều vô cùngquan trọng
Có nhiều nguồn tài trợ cho sự thâm hụt cán cân vãng lai nhưng xét về mặt hiệuquả sử dụng vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài được đánh giá cao hơn cả vì nókhông ảnh hưởng nhiều tới cán cân thanh toán, tới tổng nợ nước ngoài cũng nhưtăng trưởng kinh tế và không tạo ra dư nợ Ngoài ra, nó còn là nhịp cầu để chuyển
Trang 13giao công nghệ, kỹ thuật quản lý hiện đại giúp đất nước đẩy mạnh xuất khẩu hànghoá và dịch vụ Tuy nhiên, cần chú ý rằng các nguồn vốn đầu tư này sẽ làm tăngnguồn chuyển giao ra nước ngoài, một khi lợi nhuận và cổ tức được các nhà đầu tưnước ngoài chuyển về nước.
Nhìn chung, các luồng đầu tư nước ngoài khác nhau, dù có tạo ra dư nợ haykhông đều tiềm ẩn những mất mát nhất định đối với nước tiếp nhận Beceer vàHargin gợi ý rằng: "Khi thu hút đầu tư nước ngoài, trước hết các công ty trongnước cần xác định những khó khăn mà họ phải chấp nhận đối với từng hình thứcđầu tư và sau đó cân nhắc xem liệu tại những thời điểm nhất định nó có đem lại lợiích để duy trì hay không?"
Nhiều nước đang phát triển sử dụng nguồn vốn nước ngoài trong tài khoản tàichính để hỗ trợ cho thâm hụt cán cân vãng lai và tốc độ phát triển kinh tế cũng nhưtrong tài sản dự trữ Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích thiết thực, những thay đổicủa nguồn vốn này cũng gây lo lắng cho những nhà hoạch định chính sách vĩ mô
Vì vậy, khi xác định rủi ro và khó khăn của mỗi dạng đầu tư nước ngoài, chúng tacần quan tâm ba vấn đề sau:
- Vấn đề thời hạn vay nợ: những khoản nợ ngắn hạn thường rủi ro hơn vì chủ nợthường yêu cầu trả nợ gốc hơn là nhận lãi trong giai đoạn ngắn
- Liệu nguồn tư bản nước ngoài có tạo ra gánh nặng nợ nần hay không? Ví dụ: Nếu
đi vay thì tình hình kinh doanh tốt hay xấu, việc trả nợ vẫn phải tiến hành Trongkhi đó, cổ đông chỉ nhận được cổ tức khi công ty bán cổ phiếu cho họ làm ăn phátđạt
- Nguồn vốn trên từ nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hay là những khoảnvay mang tính chất thương mại
Theo ngân hàng thế giới, một nước đước coi là nợ nần nghiêm trọng nếu như tỷ
lệ giữa giá trị hiện tại ròng của tổng các khoản trả nợ (PV) và GDP vượt quá 80%hoặc tỷ lệ giữa giá trị hiện tại ròng của tổng các khoản trả nợ và tổng xuất khẩu lớn
Trang 14hơn 220% Ngược lại một quốc gia được coi là có khả năng chịu đựng nợ nếu nhưchính phủ có thể thực hiện được toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ quá hạn trong một thờigian dài, nếu như các khoản nợ đến hạn chiếm tối đa từ 20-25% xuất khẩu hànghoá và dịch vụ.
Bên cạnh việc xem xét các khoản nợ theo chủng loại và thời hạn của các công
cụ nhận nợ, thì cũng nên phân tích xu hướng thay đổi theo khu vực các tổ chức Cụthể là khu vực chính phủ và tư nhân bởi vì những khu vực này chịu ảnh hưởng củanhững yếu tố khác nhau Các luồng thay đổi của khu vực chính phủ chủ yếu đượcquy định bởi nhu cầu của ngân sách nhà nước Ngược lại, các luồng thay đổi trongkhu vực tư nhân lại tuỳ thuộc vào mức sinh lời của tài sản trong và ngoài nước.Nhiều nước đang phát triển sử dụng các luồng vốn vào trong tài khoản tài chính
để hỗ trợ bù đắp cho mức thâm hụt cán cân vãng lai do nhập khẩu và tốc độ pháttriển kinh tế tăng lên, hoặc tăng tài sản dự trữ Mặc dù có nhiều lợi ích như vậy,nhưng những thay đổi đột ngột của số vốn rất lớn này cũng gây ra nhiều lo lắngcho các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô Luồng vốn có 4 vấn đề cần quantâm chủ yếu sau đây:
Các luồng vốn chảy vào có thể chỉ mang tính tạm thời, và do vậy có thể đượcrút ra rất nhanh
Các luồng chảy vào này có thể kích thích tăng cung tiền và làm tăng mức lạmphát trong nước nếu như ngân hàng trung ương can thiệp vào thụ trường ngoạihối để mua ngoại tệ cung ứng dư thừa Những hậu quả gây lạm phát như vậy cóthể tránh được nếu như hoạt động can thiệp này mang tính chất có khả năngtriệt tiêu hiệu ứng tăng cung tiền
Nếu ngân hàng trung ương không can thiệp thì luồng vốn chảy vào có thể làmcho giá của đồng bản tệ tăng lên
Các luồng chảy vào có thể đảm bảo cho hiện tượng tiêu dùng tăng tạm thời vàđiều này cuối cùng sẽ dẫn đến việc cắt giảm chi tiêu để trả số nợ tích luỹ