1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) phân tích mối quan hệ giữa quy mô, thành phần hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

113 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẠM XUÂN MINHPHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ, THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính ngân

Trang 1

PHẠM XUÂN MINH

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ, THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN QUỐC TUẤN

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin,

số liệu, được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích dẫn đều ghi rõnguồn gốc và kết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ côngtrình nghiên cứu nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

PHẠM XUÂN MINH

Trang 3

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

6 Bố cục của luận văn 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HỘI ĐỒN G QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 5

1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần 5

1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại cổ phần 5

1.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại cổ phần 6

1.1.3 Quản trị ngân hàng thương mại cổ phần 7

1.2 Khái quát về Hội đồng quản trị 8

1.2.1 Khái niệm Hội đồng quản trị 8

1.2.2 Quy mô Hội đồng quản trị 9

1.2.3 Thành phần Hội đồng quản trị 10

1.2.3.1 Thành viên HĐQT điều hành (inside directors) 10

1.2.3.2 Thành viên HĐQT không điều hành 10

1.2.3.3 Thành viên HĐQT độc lập (outside/independent directors) 10

1.2.4 Cơ cấu thành phần Hội đồng quản trị 10

1.2.5 Trách nhiệm của Hội đồng quản trị 11

Trang 4

1.3 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP 12

1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP 13

1.3.1.1 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 14

1.3.1.2 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 15

1.3.1.3 Mối quan hệ giữa ROE và ROA 16

1.3.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP16 1.3.2.1 Các nhân tố chủ quan 17

1.3.2.2 Các nhân tố khách quan 20

1.4 Mối quan hệ giữa HĐQT và hiệu quả hoạt động 21

1.4.1 Mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và hiệu quả hoạt động 23

1.4.2 Mối quan hệ giữa thành phần HĐQT và hiệu quả hoạt động 24

1.4.2.1 Vai trò của thành viên độc lập và hiệu quả hoạt động 24

1.4.2.2 Vai trò của thành viên điều hành và hiệu quả hoạt động 25

1.5 Các công trình nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa quy mô, thành phần hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động 26

1.5.1 Quy mô hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động 26

1.5.2 Thành phần hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động 29

1.5.2.1 Thành viên độc lập và hiệu quả hoạt động 29

1.5.2.2 Thành viên điều hành và hiệu quả hoạt động 30

1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho các NHTMCP Việt Nam 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM 34

2.1 Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 34

2.1.1 Vai trò của Hội đồng quản trị tại các NHTMCP Việt Nam 34

2.1.1.1 Tác động tích cực 36

2.1.1.2 Tác động tiêu cực 38

2.1.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 41 2.1.2.1 Về quy mô vốn điều lệ 41

Trang 5

2.1.2.2 Khả năng sinh lời 43

2.1.2.3 Về tăng trưởng tín dụng 45

2.1.2.4 Về hệ số an toàn vốn (CAR) 46

2.1.2.5 Đa dạng hoá sản phẩm kinh doanh 48

2.2 Những thuận lợi 48

2.2.1 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng 48

2.2.2 Môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện 50

2.3 Những thách thức đặt ra đối với hệ thống NHTM Việt Nam 51

2.3.1 Tình trạng sở hữu chéo 52

2.3.2 Tỷ lệ nợ xấu 55

2.3.3 Rủi ro thanh khoản 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP LUẬN, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60

3.1 Phương pháp luận 60

3.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu 61

3.2.1 Mô tả các biến trong mô hình 61

3.2.1.1 Biến phụ thuộc 61

3.2.1.2 Biến độc lập 62

3.2.1.3 Biến kiểm soát 62

3.2.2 Thiết lập mô hình nghiên cứu 62

3.2.2.1 Mô hình ước lượng OLS cho dữ liệu gộp 62

3.2.2.2 Mô hình hồi qui với các tác động cố định 63

3.2.3 Dữ liệu nghiên cứu 65

3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 65

3.3 Kết quả nghiên cứu 66

3.3.1 Mô hình hồi qui tuyến tính thông thường cho dữ liệu gộp (pooled OLS) 66

3.3.1.1 Thống kê mô tả các biến độc lập, biến phụ thuộc và các biến kiểm soát .66

Trang 6

3.3.1.2 Hệ số tương quan Pearson 67

3.3.1.3 Kết quả hồi qui cho mô hình dữ liệu gộp 68

3.3.2 Mô hình hồi qui với các tác động cố định (fixed effects-FE) 70

3.3.2.1 Thống kê mô tả 71

3.3.2.2 Kết quả hồi qui với các tác động cố định 72

3.3.3 Lý giải kết quả nghiên cứu 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 78

4.1 Một số kiến nghị đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 79

4.1.1 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác quản trị điều hành 79

4.1.2 Một số kiến nghị nâng cao năng lực tài chính 81

4.1.3 Một số kiến nghị nâng cao năng lực quản trị nội bộ 82

4.2 Kiến nghị 83

4.2.1 Đối với Chính phủ 83

4.2.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 85

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 86

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH KẾT QUẢ XẾP HẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA 27 NHTMCP LẤY MẪU

PHỤ LỤC 2: VỐN ĐIỀU LỆ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI GIAI ĐOẠN 2006-2012

PHỤ LỤC 3: SỐ LIỆU THU THẬP CỦA 27 NHTMCP GIAI ĐOẠN 2004-2012

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Các ký hiệu,

ABB An Binh Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng An Bình

ACB Asia Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Á Châu

Agribank Vietnam Bank for Agriculture and Rural

Baovietbank Bao Viet Joint Stock Commercial Bank Ngân hàng Bảo Việt

BDS Board size Quy mô Hội đồng quản trị BIDV Joint Stock Commercial Bank for

Investment and Development of Vietnam NHTM Đầu tư và Phát triểnCAR Capital Adequacy Ratio Hệ số an toàn vốn

CEO Chief Executive Officer Tổng giám đốc/Giám đốc

DaiAbank Great Asia Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Đại Á

EAB DongA Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Đông Á

EIB Viet Nam Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu FCB First Joint Stock Commercial Bank Ngân hàng Đệ Nhất

GPB Global Petro Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu HBB Habubank Ngân hàng Nhà Hà Nội

HDB Housing development Commercial Joint

Stock Bank Ngân hàng Phát triển TP.HCMHĐQT Hội đồng quản trị

KLB Kien Long Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Kiên Long

LPB LienViet Commercial Joint Stock Bank –

Lienviet Post Bank Ngân hàng Bưu điện Liên Việt

MB Military Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Quân đội

MDB Mekong Development Joint Stock

Commercial Bank Ngân hàng Phát Triển Mê KôngMHB Housing Bank of Mekong Delta NHTM Phát triển nhà Đồng bằng

sông Cửu Long

Trang 8

Các ký hiệu,

MSB The Maritime Commercial Joint Stock

Bank Ngân hàng Hàng HảiNAB Nam A Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Nam Á

NVB Nam Viet Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Nam Việt

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTM Ngân hàng Thương mại

NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần NHTMNN Ngân hàng Thương mại Nhà nước OCB Orient Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Phương Đông

OJB Ocean Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Đại Dương

OLS Ordinary least squares Phương pháp bình phương tối

thiểu PCB VietNam Tin Nghia Commercial Joint

Stock Bank Ngân hàng Việt Nam Tín NghĩaPGB Petrolimex Group Commercial Joint Stock

Bank Ngân hàng Xăng dầu PetrolimexPNB Southern Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Phương Nam

ROA Return On Asset Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROE Return On Equity Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở

hữu SCB Sai Gon Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Sài Gòn

Seabank Southeast Asia Commercial Joint Stock

Bank Ngân hàng Đông Nam ÁSGB Saigon Bank for Industry & Trade Ngân hàng Sài Gòn Công thương SHB Saigon-Hanoi Commercial Joint Stock

Bank Ngân hàng Sài gòn – Hà nộiSIZE Quy mô ngân hàng

STB Sacombank Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín TCB Viet Nam Technologicar and Commercial

Joint Stock Bank Ngân hàng Kỹ thươngTCTD Tổ chức tín dụng

Trang 9

Các ký hiệu,

TPB TienPhong Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Tiên Phong

TSCĐ Tài sản cố định

TVDH Thành viên điều hành

TVDL Thành viên độc lập

VCB Joint Stock Commercial Bank for Foreign

Trade of Vietnam (Vietcombank) NHTM Ngoại thươngVIB Vietnam International Commercial Joint

Stock Bank Ngân hàng Quốc TếViet Capital

bank Viet Capital Commercial Joint Stock Bank

Ngân hàng Bản Việt (Gia Định cũ) VietAbank Viet A Commercial Joint Stock Bank Ngân hàng Việt Á

Vietbank Viet Nam Thuong Tin Commercial Joint

Stock Bank Ngân hàng Việt Nam Thương tínVietinbank Vietnam Bank for Industry and Trade NHTM Công thương

VNCB Vietnam Construction Joint Stock Bank Ngân hàng Xây dựng VN

(Đại Tín cũ) VPB Vietnam Commercial Joint Stock Bank for

Private Enterprise

Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng

WB Western Rural Commercial Joint Stock

Bank Ngân hàng Phương Tây

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: So sánh ngân hàng Việt Nam với các nước trong khu vực năm 2010 Bảng 2.2: ROA, ROE của hệ thống NHTMCP giai đoạn 2007-2012

Bảng 2.3: Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng giai đoạn 2007-2012

Bảng 2.4: Tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống TCTD Việt Nam 2011-2012

Bảng 2.5: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng giai đoạn 2007-2012

Bảng 3.1: Thống kê mô tả cho các biến dữ liệu (OLS)

Bảng 3.2: Thống kê hệ số tương quan Pearson

Bảng 3.3: Kết quả hồi quy cho mô hình dữ liệu gộp với biến phụ thuộc là ROE Bảng 3.4: Kết quả hồi quy cho mô hình dữ liệu gộp với biến phụ thuộc là ROE có

phân tích độ mạnh vce(robust)

Bảng 3.5: Thống kê mô tả cho các biến dữ liệu (fixed effects)

Bảng 3.6: Kết quả hồi qui mô với các tác động cố định với biến phụ thuộc

Bảng 3.7: Kết quả kiểm định sự tương thích giữa mô hình OLS và mô hình FE

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và đặc biệt là kể từ khiViệt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, vấn đề quản trị doanh nghiệp đã đượcđặt ra như một yêu cầu cấp thiết và quan trọng trong sự ph át triển chung của nềnkinh tế Bởi hiện nay trên thế giới, đề tài quản trị doanh nghiệp đang trở thành vấn

đề thời sự toàn cầu sau những vụ bê bối của các nhà quản lý và điều hành doanhnghiệp đã liên tục xảy ra Điển hình như vụ gian lận của Kenneth Lay - CEO củacông ty Enron, và Bernie Ebbers – CEO của WorldCom ở Mỹ; công ty Vivendi ởPháp; công ty Parmalat ở Ý; … và sai phạm của Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giámđốc công ty cổ phần Mía đường La Ngà, lãnh đạo công ty Cổ phần Xuất nhập khẩuthuỷ sản Hà Nội, lãnh đạo ngân hàng TMCP Á Châu ở Việt Nam

Các ngân hàng thương mại với đặc thù là các tổ chức kinh doanh “tiền”, có

độ rủi ro cao và mức độ ảnh hưởng lớn thì vấn đề quản trị lại càng có ý nghĩa hơn,đặc biệt đối với một nước đang phát triển như Việt Nam Vì vậy, khi các NHTMlàm tốt công tác quản trị điều hành không những làm tăng khả năng cạnh tranh, hiệuquả hoạt động kinh doanh của các NHTM mà còn giúp hạn chế những rủi ro nhấtđịnh mang tính dây chuyền ngăn ngừa khủng hoảng kinh tế có thể tái diễn Quản trịđiều hành là hiệu quả khi có được một Hội đồng quản trị năng đ ộng, hiểu biết, cácthành viên phải độc lập trong chức năng, nhiệm vụ của mình

Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Phân tích mối quan hệ giữa quy mô,thành phần của Hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngânhàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” để nghiên cứu sự có mặt của các thành viênHội đồng quản trị có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động kinh doanh củacác Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu và phân tích mối quan hệ giữa quy mô, thành phần Hộiđồng quản trị và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại Cổphần Việt Nam (thành phần Hội đồng quản trị được biểu thị qua hai biến: tỷ lệ %thành viên độc lập và tỷ lệ % thành viên điều hành trong Hội đồng quản trị)

Kết quả thực nghiệm có thể được dùng như những khuyến nghị cho cácchính sách liên quan đến công tác quản trị điều hành và quản trị tài chính tại cácNHTMCP

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn cần tìm câu trả lời chocâu hỏi nghiên cứu sau:

- Quy mô HĐQT có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM? Sự giatăng thành viên HĐQT có làm giảm hiệu quả hoạt động của NHTM?

- Tỷ lệ % thành viên độc lập có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động củaNHTM? Sự gia tăng thành viên độc lập trong HĐQT có làm tăng hiệu quả hoạtđộng của NHTM?

- Tỷ lệ % thành viên điều hành có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động củaNHTM? Sự gia tăng thành viên thành viên điều hành trong HĐQT có làm giảmhiệu quả hoạt động của NHTM?

3 Phương pháp nghiên cứu:

Để giải quyết các nội dung nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở phân tíchquan điểm, mô hình và kết quả các bài nghiên cứu trong và ngoài nước Sử dụng cảphương pháp phân tích định tính và định lượng trong việc phân tích, cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích định tính bằng bảng số liệu, bằng đồ thị để phảnánh tình hình hoạt động của các NHTM

- Phương pháp định lượng của đề tài là hồi qui các biến trong mô hình theohai cách tiếp cận khác nhau:

Trang 13

(1) Toàn bộ dữ liệu được xem như là dữ liệu gộp và việc ước lượng đượcthực hiện bằng cách áp dụng phương pháp bình phương t ối thiểu thông thường cho

dữ liệu gộp Để hạn chế khả năng đa cộng tuyến của các biến trong mô hình ướclượng, đề tài áp dụng kiểm định hệ số tương quan Pearson

(2) Toàn bộ dữ liệu được sử dụng theo kiểu dữ liệu bảng không cân bằng vàviệc ước lượng được thực hiện dựa trên hồi qui các biến với các tác động cố định

Dữ liệu bảng không cân bằng là kiểu dữ liệu có nhiều đơn vị bảng với quãng thờigian quan sát khác nhau Theo đó, dựa vào kiểm định F (hay kiểm định Wald), đềtài sẽ phân tích mối quan hệ giữa các biến

Sau đó, để kiểm định sự nhất quán của kết quả thông qua hai cách tiếp cận,

đề tài sử dụng kiểm định Hausman (1978) Việc nghiên cứu và xử lý số liệu đượcthực hiện bằng phần mềm Stata phiên bản 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa quy mô, thành phần của Hội đồngquản trị (đại diện là tỷ lệ % thành viên độc lập và tỷ lệ % thành viên điều hành) vàhiệu quả hoạt động kinh doanh (đại diện là ROE) của các Ngân hàng Thương mại

Cổ phần Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về việc thu thập số liệu đối với toàn hệthống NHTMCP nên để đảm bảo kích thước và tính đại diện của mẫu đối với đốitượng khảo sát, tác giả thu thập số liệu từ dữ liệu thứ cấp cơ bản dựa trên các báocáo thường niên và báo cáo tài chính hợp nhất đã đư ợc kiểm toán của 27 ngân hàngthương mại cổ phần Việt Nam cho giai đoạn từ năm 2004-2012

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Làm rõ mối quan hệ mối quan hệ giữa quy mô, thành phần của Hội đồngquản trị và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại Cổ phầnViệt Nam

- Đóng góp vào tài liệu tham khảo về vấn đề quản trị ngân hàng

Trang 14

6 Bố cục của luận văn

Kết cấu của luận văn được trình bày như sa u:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và hiệuquả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam

- Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàngThương mại Cổ phần Việt Nam

- Chương 3: Phương pháp luận, mô hình nghiên cứu và kết quả nghiên cứu

- Chương 4: Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngânhàng Thương mại Cổ phần Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần

1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng thương mại đã hình thành t ồn tại và phát triển hàng trăm nămgắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàngthương mại đã có tác đ ộng rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nềnkinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn caonhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng đư ợc hoàn thiện và trởthành những định chế tài chính không thể thiếu được

Có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại:

- Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cungcấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính

- Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã đ ịnh nghĩa: “Ngân hàngthương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhậntiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sửdụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tàichính”

- Theo điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng 2010, ngày 16/06/2010, Quốc

Hội nước Việt Nam khóa XII, có hiệu lực vào ngày 01/01/2011 “NHTM là loại

hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh

doanh khác theo quy định của luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận” Trong đó

hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số

Trang 16

các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toánqua tài khoản.

Theo đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần là một ngân hàng thương mạiphát hành cổ phiếu và yêu cầu các cổ đông nắm giữ cổ phần phải chịu trách nhiệm

về khoản nợ của công ty Các cổ đông chính là các nhà đầu tư, họ có thể các công ty

tư nhân ở nước ngoài, chính phủ, hoặc cá nhân Quyền sở hữu thường có đượcthông qua việc mua cổ phiếu ngân hàng hoặc vốn chủ sở hữu Mỗi nhà đầu tư sởhữu một tỷ lệ phần trăm nhất định của vốn chủ sở hữu tổng thể của ngân hàng, đó làmột số lượng đủ lớn để có được quyền biểu quyết đáng kể và ảnh hưởng đến cácchính sách chiến lược của tổ chức tài chính

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam là Ngân hàng Thương mại trongnước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty Cổ phần, có số vốn thuộc sởhữu chung của cổ đông đóng góp dưới hình thức mua cổ phần, có tư cách phápnhân theo pháp luật Việt Nam Cổ đông của ngân hàng bao gồm cá nhân và phápnhân, tuy nhiên các cổ đông chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo quyđịnh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Vốn cổ phần là vốn dài hạn, cổ đông chỉđược quyền chuyển nhượng mà không có quyền đòi rút vốn Trong trường hợp kinhdoanh gặp khó khăn và không thể tồn tại được thì cổ đông chỉ chịu trách nhiệmtrong giới hạn số vốn mà họ đã đóng góp đ ối với công nợ của ngân hàng

1.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại cổ phần

Cơ cấu tổ chức của các NHTMCP được thực hiện như sau: Cơ quan quyềnlực cao nhất là Đại hội đồng cổ đông, Đại hội đồng cổ đông lại bầu ra cơ quan đạidiện thường trực cho mình là Hội đồng quản trị, và Hội đồng quản trị với tư cách làđại diện chủ sở hữu sẽ chỉ định Ban Giám đốc (Ban Tổng Giám đốc) để điều hànhhoạt động hàng ngày của ngân hàng Để đảm bảo giám sát hoạt động của Ban Giámđốc và Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông lại bầu ra Ban Kiểm soát

Trang 17

1.1.3 Quản trị ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMCP là một doanh nghiệp đặc thù được tổ chức dưới hình thức công

ty cổ phần Vì vậy, về cơ bản việc quản trị ngân hàng cũng tương tự như quản trịcông ty Có nhiều khái niệm khác nhau về quản trị công ty, cụ thể như sau:

- Theo Jenkinson & Mayer (1992), quản trị công ty đề cập đến các quytrình và cấu trúc mà theo đó các công việc của các tổ chức trong công ty đượcchỉ đạo và quản lý nhằm nâng cao giá trị cổ phiếu nắm giữ dài hạn bằng cáchtăng cường hoạt động và trách nhiệm đối với công ty, trong đó có tính đến lợiích của các bên liên quan khác Do đó, quản trị công ty là xây dựng uy tín, đảmbảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình cũng như duy trì m ột kênh hiệu quảcủa việc tiết lộ thông tin sẽ thúc đẩy hoạt động doanh nghiệp tốt

- Theo quyết định 12/2007/QĐ-BTC thì “Quản trị công ty” là hệ thống cácquy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soátmột cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đếncông ty Các nguyên tắc quản trị công ty bao gồm:

+ Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả;

+ Đảm bảo quyền lợi của cổ đông ;

+ Đối xử công bằng giữa các cổ đông;

+ Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty;+ Minh bạch trong hoạt động của công ty;

+ Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty cóhiệu quả

Các khái niệm trên nhìn chung đều cho rằng: quản trị công ty nói chunghay quản trị ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng là một hệ thống, thông qua đócác hoạt động kinh doanh của ngân hàng được hoạch định, tổ chức, điều hành, phối

Trang 18

hợp và kiểm soát bởi các nhà quản lý và điều hành (HĐQT, Ban giám đốc) nhằmđáp ứng quyền lợi của cổ đông và các bên có liên quan.

Tuy nhiên như đã đ ề cập, do các ngân hàng thương mại cổ phần với đặc thù

là tổ chức kinh doanh “tiền” trong hoạt động kinh doanh gặp nhiều rủi ro hơn cácdoanh nghiệp phi tài chính Do đó, vai trò của quản trị ngân hàng càng trở nên quantrọng hơn vì với việc quản trị tốt hơn, đồng nghĩa với việc Hội đồng quản trị thựchiện tốt vai trò giám sát của mình sẽ làm cho các thông tin về tài chính của ngânhàng được minh bạch hơn Từ đó, ngân hàng có thể đánh giá đúng chất lượng hoạtđộng và trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, mang lại giá trị cao hơn, đảm bảo lợi íchcho các cổ đông và tránh nguy cơ phá sản, đỗ vỡ hệ thống

1.2 Khái quát về Hội đồng quản trị

1.2.1 Khái niệm Hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị là một nhóm các cá nhân được bầu làm đại diện của các

cổ đông để thiết lập các chính sách liên quan đến quản lý công ty và đưa ra quyếtđịnh về các vấn đề lớn của công ty Các vấn đề như vậy bao gồm việc thuê / sa thảigiám đốc điều hành, chính sách cổ tức, chính sách lựa chọn và điều hành bồithường Mỗi công ty đại chúng phải có một hội đồng quản trị

Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 “Hội đồng quản trị là cơ quan

quản trị có toàn quyền nhân danh tổ chức tín dụng để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông, chủ sở hữu”.

Hội đồng quản trị do đại hội cổ đông bầu ra thường là những cổ đông cóvốn góp lớn trong ngân hàng, gồm những người có uy tín, đạo đức nghề nghiệp vàhiểu biết về hoạt động ngân hàng Hội đồng quản trị có chức năng quản trị ngânhàng thương mại theo quy định của pháp luật, là đại diện cho quyền lợi của các cổđông và bổ nhiệm các chức danh quản lý cao nhất trong ngân hàng, đồng thời cónhiệm vụ đảm bảo các hoạt động của các nhà quản lý luôn tuân theo đúng mục tiêutối đa hóa giá trị lợi ích của các chủ sở hữu

Trang 19

Một trong số thành viên Hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm chức danhquản lý cao nhất là Tổng giám đốc hoặc các Phó tổng giám đốc Chủ tịch HĐQTkhông được đồng thời là Tổng giám đốc (Giám đốc) hoặc các Phó tổng giám đốc(Phó giám đốc), trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Chủ tịch của NHTMCPnày không được phép tham gia hoặc tham gia điều hành NHTMCP khác Chủ tịch

và các thành viên khác trong Hội đồng quản trị không được ủy quyền cho nhữngngười không phải là thành viên Hội đồng quản trị thực hiện nhiệm vụ, quyền hạncủa mình

Như vậy, Hội đồng quản trị không phải là người trực tiếp điều hành và quản

lý hoạt động hàng ngày của ngân hàng mà uỷ quyền cho những người có năng lựcquản lý để thay mặt mình thực thi nhiệm vụ, đó chính là Ban giám đốc được chỉđịnh có nghĩa vụ về mặt đạo đức là làm sao mang đến lợi nhuận cao nhất cho các cổđông

1.2.2 Quy mô Hội đồng quản trị

Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: “Hội đồng quản trị của tổ chức

tín dụng là công ty cổ phần phải có không ít hơn 05 thành viên và không quá 11

thành viên, trong đó có ít nhất 01 thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải có ít

nhất một phần hai tổng số thành viên là thành viên độc lập và thành viên không phải là người điều hành tổ chức tín dụng.”

Bên cạnh đó, các ngân hàng khi niêm yết phải tuân thủ theo Thông tư 121

như sau:“Công ty đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết phải có ít nhất là năm

(05) thành viên Hội đồng quản trị và tối đa mười một (11) thành viên Hội đồng quản trị.”

Như vậy, quy định về quy mô Hội đồng quản trị là như nhau, tùy thuộc vàotính chất và quy mô hoạt động, giai đoạn phát triển, sự đa dạng của hoạt động kinhdoanh cũng như nhu cầu kinh phí mà mỗi ngân hàng trên mỗi thời kỳ xác định quy

mô cho phù hợp để duy trì sự phát triển

Trang 20

1.2.3 Thành phần Hội đồng quản trị

Hiện nay, theo quy định pháp luật của Việt Nam các thành viên Hội đồngquản trị được phân biệt tùy theo mức độ liên quan của các thành viên đối với hoạtđộng của tổ chức, và xếp các thành viên vào ba nhóm: thành viên điều hành, thànhviên không điều hành và thành viên độc lập Cụ thể như sau:

1.2.3.1 Thành viên HĐQT điều hành (inside directors)

Thành viên điều hành hay còn gọi là thành viên bên trong ngân hàng làthành viên HĐQT (Cá nhân và người có liên quan của cá nhân đó hoặc nhữngngười đại diện vốn góp của một cổ đông là tổ chức và người có liên quan của nhữngngười này được tham gia Hội đồng quản trị) đồng thời kiêm nhiệm chức danh kháctrong Ban điều hành của một ngân hàng như: Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổnggiám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác được Hộiđồng quản trị bổ nhiệm

1.2.3.2 Thành viên HĐQT không điều hành

Theo thông tư 121, thành viên Hội đồng quản trị không điều hành là thànhviên Hội đồng quản trị không kiêm nhiệm các chức danh quản lý trong bộ máy điềuhành như: Giám đốc (Tổng giám đốc), Phó giám đốc (Phó Tổng giám đốc), Kế toántrưởng và những cán bộ quản lý khác được Hội đồng quản trị bổ nhiệm

1.2.3.3 Thành viên HĐQT độc lập (outside/independent directors)

Thành viên Hội đồng quản trị độc lập có khi được gọi đầy đủ là thành viênHội đồng quản trị độc lập không điều hành hay thành viên bên ngoài là thành viênHội đồng quản trị không có quan hệ vật chất với ngân hàng, hay các chi nhánh ngânhàng, cán bộ ngân hàng liên kết - dù là trực tiếp hay gián tiếp (với tư cách đối tác,

cổ đông, hoặc nhân viên của các tổ chức có quan hệ kinh doanh với ngân hàng)

1.2.4 Cơ cấu thành phần Hội đồng quản trị

Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 thì Hội đồng quản trị của tổchức tín dụng là công ty cổ phần phải có ít nhất 01 thành viên độc lập và phải có ít

Trang 21

nhất một 1/2 tổng số thành viên là thành viên độc lập và thành viên không phải làngười điều hành.

Tuy nhiên, theo thông tư 121 thì quy định cơ cấu thành viên Hội đồng quảntrị của công ty đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết cần đảm bảo sự cân đốigiữa các thành viên nắm giữ các chức danh điều hành với các thành viên độc lập,trong đó tối thiểu 1/3 tổng số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập

Như vậy, NHTMCP là một tổ chức tín dụng ngoài việc tuân thủ theo Luật

tổ chức tín dụng 2010 còn phải tuân thủ theo các quy định của thông tư 121 Theo

đó, quy định về tỷ lệ thành viên độc lập, thành viên không điều hành trong Hộiđồng quản trị đang có xu hướng tăng dần

1.2.5 Trách nhiệm của Hội đồng quản trị

Theo OECD, khuôn khổ quản trị ngân hàng cần đảm bảo định hướng chiếnlược của ngân hàng, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của Hội đồng Quản trị vàtrách nhiệm của Hội đồng Quản trị đối với ngân hàng và cổ đông như sau:

- Thành viên Hội đồng quản trị phải làm việc với thông tin đầy đủ, tin cậy,siêng năng và cẩn trọng, và vì lợi ích cao nhất của ngân hàng và cổ đông

- Hội đồng quản trị phải đối xử bình đẳng với mọi cổ đông

- Hội đồng quản trị phải áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức cao

- Hội đồng quản trị phải thực hiện các chức năng chủ yếu bao gồm:

+ Xem xét và định hướng chiến lược ngân hàng, các kế hoạch hoạtđộng cơ bản, chính sách rủi ro, ngân sách và kế hoạch kinh doanh hàng năm; đặt racác mục tiêu hoạt động, theo dõi việc thực hiện mục tiêu và hoạt động của ngânhàng; giám sát các hoạt động đầu tư vốn, thâu tóm và thoái vốn chủ yếu

+ Giám sát hiệu quả thực tiễn quản trị ngân hàng và thực hiện cácthay đổi khi cần thiết

Trang 22

+ Lựa chọn, trả lương, giám sát và thay thế các cán bộ quản lý chủchốt khi cần thiết và giám sát kế hoạch chọn người kế nhiệm.

+ Gắn mức thù lao của cán bộ quản lý cấp cao và Hội đồng Quản trịvới lợi ích lâu dài của ngân hàng và cổ đông

+ Đảm bảo sự nghiêm túc và minh bạch của quy trình đề cử và bầuchọn Hội đồng Quản trị

+ Giám sát và xử lý các xung đột lợi ích tiềm ẩn của Ban Giám đốc và

cổ đông

+ Đảm bảo tính trung thực của hệ thống báo cáo kế toán và tài chínhcủa ngân hàng, tuân thủ theo pháp luật và các tiêu chuẩn liên quan đến hệ thốngquản lý rủi ro, kiểm soát tài chính và hoạt động

+ Giám sát quy trình công bố thông tin và truyền đạt thông tin

- Hội đồng Quản trị phải có khả năng đưa ra phán quyết độc lập, kháchquan về các vấn đề của ngân hàng

- Để thực hiện trách nhiệm của mình, thành viên Hội đồng Quản trị phảiđược tiếp cận với thông tin chính xác, phù hợp và kịp thời

1.3 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP

NHTMCP cũng là một loại hình doanh nghiệp, trên góc độ này có thểnghiên cứu hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP như một doanh nghiệp hoạtđộng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ Hiện nay, có nhiều quan điểm về hiệu quảnhư sau:

- Theo định nghĩa trong “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượngAnh – Việt” trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh thì “Efficiency - Hiệu quả”

trong kinh tế được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan

hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ” và “Khái niệm hiệu quả được dùng để xem

xét các tài nguyên được các thị trường phân phối như thế nào ” Như vậy, có thể

Trang 23

hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các ngân hàng đạt được trong việc phân bổcác đầu vào có thể sử dụng và đầu r a mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã địnhtrước.

- Hiệu quả theo ý nghĩa chung nhất là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được doquá trình hoạt động kinh doanh mang lại Hiệu quả kinh doanh bao gồm hai mặt làhiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanhnghiệp hoặc của xã hội để mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệuquả xã hội (phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được trong quá trình hoạtđộng kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định (Lê Văn Tư,2005)

Tóm lại, hai quan điểm trên nhìn chung đều cho rằng: Hiệu quả hoạt động

kinh doanh của các NHTMCP là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất.

Hiệu quả kinh doanh = Kết quả thu được – Chi phí bỏ ra

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP quyết định trực tiếp tới vấn

đề tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng Nếu NHTMCP hoạt động kinh doanh cóhiệu quả cao thì uy tín của ngân hàng đó sẽ được tăng lên, khách hàng sẽ an tâm vàtin tưởng vào ngân hàng và từ đó công tác huy động vốn sẽ thuận lợi và phát triển.Trên cơ sở nguồn vốn huy động tăng, ngân hàng mới có khả năng mở rộng quy môhoạt động kinh doanh và tạo ra được lợi nhuận ngày càng cao, tích lũy được nhiều

và có điều kiện nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút khách hàng Do đó, hiệuquả hoạt động kinh doanh là mục tiêu hàng đầu mà các NHTMCP đang hướng tới,

là điều kiện quyết định vấn đề sống còn của ngân hàng trong điều kiện cạnh tranhgay gắt như hiện nay

1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng đòi hỏi phải xác định đượccác chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTMCP nhằm xác định được

Trang 24

nguyên nhân chính làm suy giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh và dễ dàng tìm rađược các biện pháp giải quyết Chính điều này tạo cơ sở cho các NHTMCP đẩymạnh, phát triển những lợi thế, đồng thời hạn chế, phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra.

Có ba tiêu chí thường được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động củamột doanh nghiệp là: hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh doanh và hiệu quả tổng hợp

+ Hiệu quả tài chính thường được đo lường thông qua các cách tiếp cậnsau: tiếp cận thị trường (thường sử dụng tỷ suất lợi nhuận/vốn đầu tư vào cổ phiếucủa ngân hàng), tiếp cận dựa vào thông tin do ngân hàng cung cấp mà chủ yếu từbáo cáo tài chính (thường sử dụng ROE và ROA) và tiếp cận kết hợp từ thị trường

và ngân hàng (thường sử dụng chỉ tiêu Tobin ’s Q hoặc tỷ số thị giá/ giá sổ sách)

+ Hiệu quả kinh doanh được đo lường bởi thị phần, tần suất giới thiệu sảnphẩm công nghệ mới, chất lượng phục vụ khách hàng, năng suất làm việc, mức độhài lòng của khách hàng,…

+ Hiệu quả tổng hợp thường bao gồm: uy tín, năng lực cạnh tranh, mức độhoàn thành mục tiêu đề ra,…

Tuy nhiên, sự tồn tại và phát triển của NHTMCP cũng như hi ệu quả hoạtđộng kinh doanh của NHTMCP chủ yếu dựa vào khả năng sinh lời của ngân hàng

Vì vậy, trong luận văn tác giả chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu hiệu quả tài chính về tỷsuất sinh lời như: tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuậntrên tài sản (ROA) để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCPnhư sau:

1.3.1.1 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Đây là chỉ tiêu được xem là xuất phát điểm cho vi ệc đánh giá tình hình tàichính của một NHTM Nếu ROE của một NHTMCP tương đối thấp so với nhữngngân hàng khác thì sẽ làm giảm khả năng thu hút vốn mới đểđáp ứng cho sự mởrộngvà duy trì vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường Từ đó, hạn chế sựtăng trưởng của ngân hàng

Trang 25

Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn chủ sở hữu, hay lợinhuận thu được trên một đơn vịvốn chủ hữu, do đó cho biết khả năng lành mạnhtrong hoạt động của một ngân hàng và có ý nghĩa quan trọng đối với cổ đông ROEcàng lớn cho thấy kết quả hoạt động trên vốn cổ phần của ngân hàng tốt.

ROE được tính bằng lợi nhuận ròng chia cho vốn tự có cơ bản bình quân(vốn cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, các quỹ dự trữ và lợi nhuận không chia)

ố ℎủ ở ℎữ ( ố ự ó ì ℎ â )

1.3.1.2 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấykhả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng

Hệ số này phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có củangân hàng, là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng bởi vì mọi tài sản có đều lànhững khoản đầu tư sinh lãi ngoại từ tiền mặt và tài sản cố định Nói cách khác nó

đo lường khả năng của ban quản trị sử dụng các nguồn lực nói chung và nguồn lựctài chính của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận

Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàngtrong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có Nó thường được sử dụng khi so sánh ROAcủa một ngân hàng này so với một ngân hàng khác Một mức ROA thấp có thể làkết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không linh hoạt hoặc có thể chi phíhoạt động của ngân hàng quá cao Ngược lại, mức ROA cao khẳng định hiệu quảkinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữacác khoản mục trên tài sản có trước khi những biến động của nền kinh tế Do vậyROA còn phản ánh khả năng thích ứng của nhà quản trị ngân hàng trước nhữngthay đổi chung của nền kinh tế

Trang 26

Để tăng ROA, các ngân hàng phải tìm cách gia tăng các khoản mục tài sản

có sinh lời Trong các khoản mục của tổng tài sản thì cho vay là khoản đem lại lợinhuận chủ yếu cho ngân hàng Để tối đa hóa lợi nhuận, ngân hàng gia tăng cáckhoản đầu tư tín dụng, tuy nhiên đây là khoản mục chứa đựng rủi ro nhất Như vậy,mức ROA quá lớn cũng có thể ngân hàng đang phải đối đầu với những rủi ro lớn dothực hiện các hoạt động đầu tư quá mạo hiểm hoặc giảm dự trữ xuống quá mức cầnthiết

1.3.1.3 Mối quan hệ giữa ROE và ROA

Trong phân tích hiệu quả hoạt động, các nhà quản trị ngân hàng luôn quantâm đến hai chỉ tiêu ROE và ROA và hai chỉ tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau thông qua công thức sau đây:

sở hữu của ngân hàng thông qua tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu, có nghĩa làngân hàng có ROA thấp nhưng vẫn có thể đạt ROE cao thông qua việc sử dụngnhiều nợ (đòn bẩy tài chính) và sử dụng tối thiểu vốn chủ sở hữu Điều này cho thấyvốn chủ sở hữu của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với tổng nguồn vốn.Nhưvậy, lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu phụ thuộc vào vốn huy động Vì vậy, có thểảnh hưởng đến mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.Trênthực tế, mối quan hệ giữa ROE và ROA thể hiện rõ sự “đánh đổi” cơ bản giữa rủi ro

và thu nhập mà các nhà quản trị ngân hàng đang phải đối mặt

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP

Trang 27

Hiệu quả là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngânhàng, vì vậy nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng là tăng cườngnăng lực tài chính, năng lực điều hành nhằm tích lũy và tạo điều kiện để mở rộnghoạt động kinh doanh góp phần củng cố và nâng cao vị thế cạnh tranh của ngânhàng Vì vậy, bên cạnh việc xác định được các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt độngkinh doanh thể hiện năng lực tài chính của ngân hàng, các ngân hàng cần phải chú ýđến khả năng cạnh tranh của mình thông qua việc xác định được các nhân tố ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh của các NHTMCP nhằm phát huy những lợi thế,hạn chế những hoạt động mang tính rủi ro, bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợinhuận cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Theo tác giả Nguyễn Việt Hùng (2008), thì các nhân tố ảnh hưởng đến hiệuquả hoạt động của NHTM thường được chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố chủ quan

và nhóm nhân tố khách quan, tuỳ vào mỗi thời kỳ và tuỳ theo điều kiện cụ thể củatừng ngân hàng mà hai nhóm nhân tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệuquả hoạt động của chính các ngân hàng thương mại

1.3.2.1 Các nhân tố chủ quan

Nhóm các nhân tố chủ quan là các nhân tố bên trong nội bộ của chính cácngân hàng như: năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành, ứng dụng tiến bộcông nghệ, trình độ và chất lượng của lao động,…

 Năng lực tài chính của NHTMCP:

Năng lực tài chính của một ngân hàng thường được biểu hiện trước hết làkhả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu Mặc dù vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọngnhỏ trong tổng tài sản của ngân hàng nhưng nó là nguồn lực cơ bản để minh chứngsức mạnh tài chính của ngân hàng đó Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tớiquy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khảnăng đầu tư tài chính và trình độ trang bị công nghệ Vốn chủ sở hữu của ngân hàngcòn có chức năng quan trọng là chống đỡ rủi ro cho những người gửi tiền Thứ hai,khả năng sinh lời cũng là một nhân tố phản ánh về năng lực tài chính của một ngân

Trang 28

hàng vì nó thể hiện tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh Thứ ba là khả năngphòng ngừa và chống đỡ rủi ro cho một ngân hàng cũng phản ánh năng lực tàichính Khi nợ xấu tăng lên thì đồng thời dự phòng rủi ro cũng phải tăng để bù đắptổn thất có thể xảy ra, khi dự phòng rủ ro không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạngtài chính xấu và năng lực tài chính bị thu hẹp.

Với năng lực tài chính vững mạnh sẽ giúp ngân hàng ổn định hoạt động củamình, có khả năng mở rộng các dịch vụ và quy mô hoạt động, tạo niềm tin trongkhách hàng, giúp hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả hơn Tuy nhiên,khi quy mô hoạt động tăng lên cũng đồng thời đòi hỏi khả năng quản lý của ngânhàng phải tốt hơn, nếu không rủi ro sẽ cao hơn và có ảnh hưởng xấu đến chất lượnghoạt động của NHTMCP

 Năng lực quản trị ngân hàng:

Sự yếu kém trong việc quản trị, điều hành và kiểm soát là nhân tố quantrọng góp phần làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng kém hiệu quả Nhữngnhà quản trị có năng lực, có kinh nghiệm, có khả năng chuyên môn sẽ giúp ích chongân hàng trong công tác quản lý và điều hành Họ có khả năng phân tích và phánđoán chính xác những thay đổi trong môi trường kinh doanh tương lai, từ đó hoạchđịnh chính xác các chiến lược, xác định các chính sách, kế hoạch kinh doanh phùhợp làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngược lại, những nhàquản trị không sắc sảo, nhạy bén, không nắm bắt, điều chỉnh hoạt động ngân hàngtheo kịp các tín hiệu thông tin thị trường, không sử dụng nhân viên đúng sởtrường,… dẫn đến lãng phí các nguồn lực ngân hàng, làm giảm hiệu quả chi phí củangân hàng

Khi quy mô hoạt động tăng lên thì trình độ quản lý cũng phải phát triểntheo mới đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn Hiện nay, khi nền kinh tế cànggia nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, việc mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực tàichính nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng là điều tất yếu, và đó chính làthách thức lớn đối với vai trò quản trị tại các ngân hàng

Trang 29

 Khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ:

Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và ứng dụng sâu rộngcủa nó vào cuộc sống xã hội như ngày nay, thì ngành ngân hàng khó có thể duy trìkhả năng cạnh tranh của mình nếu vẫn cung ứng các dịch vụ truyền thống Năng lựccông nghệ của ngân hàng thể hiện khả năng trang bị công nghệ mới gồm thiết bị vàcon người, tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tích độc đáo về công nghệcủa mỗi ngân hàng Chính sự đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng sẽ góp phầngiúp các NHTM phân tán, giảm nhiều rủi ro, giảm thiểu chi phí và nâng cao đượclợi nhuận Bởi vì,nếu theo nghiệp vụ truyền thống và cổ điển, với tình trạng “độccanh” tín dụng thì lợi nhuận thu được của các ngân hàng chủ yếu từ hoạt động tíndụng; nhưng tín dụng lại chứa đựng nhiều rủi ro và bất trắc Chỉ với tỷ lệ nợ khó đòivượt quá mức cho phép từ 4-5% tổng dư nợ cũng đã làm cho các NHTM không cònlợi nhuận và mất dần vốn tự có Vì thế, thực hiện kinh doanh nhiều nghiệp vụ, dịch

vụ ngân hàng khác bên cạnh nghiệp vụ tín dụng sẽ giúp các ngân hàng phân tán bớtrủi ro và giảm rủi ro; sử dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũcán bộ của mỗi ngân hàng làm giảm chi phí, do đó làm tăng lợi nhuận của ngânhàng Ngoài ra, việc đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng góp phần thúcđẩy các nghiệp vụ cùng phát triển, làm tăng khả năng cạnh tranh của NHTM trongnên kinh tế thị trường và kết quả là nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM

 Trình độ, chất lượng của người lao động:

Nhân tố con người là yếu tố quyết định quan trọng đến sự thành bại trongbất kỳ hoạt động nào của các ngân hàng Xã hội càng phát triển thì càng đòi hỏi cácngân hàng càng phải cung cấp nhiều dịch vụ mới và có chất lượng Chính điều nàyđòi hỏi chất lượng của nguồn nhân lực cũng phải được nâng cao để đáp ứng kịp thờiđối với những thay đổi của thị trường, xã hội Việc sử dụng nhân lực có đạo đứcnghề nghiệp, giỏi về chuyên môn sẽ giúp cho ngân hàng tạo lập được những kháchhàng trung thành, ngăn ngừa được những rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt độngkinh doanh, đầu tư và đây cũng là nhân tố giúp các ngân hàng giảm thiểu được các

Trang 30

chi phí hoạt động Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nguồn nhân lực luôn phảichú trọng việc gắn phát triển nhân lực với công nghệ mới.

1.3.2.2 Các nhân tố khách quan

Ngoài những nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng xuấtphát từ chính bản thân ngân hàng thì còn những nhân tố khác nằm bên ngoài khảnăng kiểm soát của ngân hàng như sau:

 Môi trường về kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài nước:

Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữakhu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến động củamôi trường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạtđộng của các ngân hàng Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại, vì đây cũng làđiều kiện làm cho quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảmbảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều cónhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh do đó nhu cầu vay vốn tăng làmcho các ngân hàng thương mại dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình đồngthời khả năng nợ xấu có thể giảm vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp cũngđược nâng cao

Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thì lại

là những nhân tố bất lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại như nhu cầuvay vốn giảm; nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả hoạt độngcủa các ngân hàng thương mại

Ngoài ra, với quá trình hội nhập kinh tế quốc ngày càng sâu rộng, thì sựbiến động của tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của các nước trên thế giới mànhất là các bạn hàng của Việt Nam cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến hiệuquả hoạt động của các ngân hàng thương mại

Trang 31

 Môi trường pháp lý:

Môi trường pháp lý bao gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống luật, cácvăn bản dưới luật, việc chấp hành luật và trình độ dân trí Thực tiễn cho thấy sựphát triển của các nền kinh tế thị trường trên thế giới đã minh chứng cho tầm quantrọng của hệ thống luật trong việc điều hành nền kinh tế thị trường Nếu hệ thốngluật pháp được xây dựng không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì

sẽ là một rào cản lớn cho quá trình phát triển kinh tế Khác với các nước có nềnkinh tế thịtrường phát triển, khi mà họ có một hệ thống luật khá đầy đủ thì ở ViệtNam do mới chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa sang vận hành theo nềnkinh tếthị trường nên hệ thống luật còn thiếu và chưa đầy đủvà đây cũng thực sự làmột trở ngại đối với hoạt động của các NHTM Bởi các hoạt động của NHTMCPđều có liên quan đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế Và khi hệ thống pháp luật minhbạch, rõ ràng, đư ợc bổ sung kịp thời và đồng bộ sẽ giúp ngân hàng chủ động, linhhoạt trong hoạt động kinh doanh và an tâm rằng mình đã thực hiện đúng luật

1.4 Mối quan hệ giữa HĐQT và hiệu quả hoạt động

Xét ở góc độ lý thuyết đại diện, Hội đồng quản trị được xem như là thiết bịgiám sát cho lợi ích cổ đông, kiểm soát chủ nghĩa cơ h ội của các giám đốc điềuhành, từ đó làm gia tăng giá trị của các ngân hàng Điều này có thể được giải thíchnhư sau:

Theo lý thuyết đại diện, với các giả định cho trước về con người (có tính tưlợi, hành xử hợp lý và ghét rủi ro), về tổ chức (có sự xung đột mục tiêu giữa cácthành viên) và thông tin (thông tin là hàng hóa có thể mua bán), thì sự ủy thácquyền lực từ các cổ đông có thể mang lại cho các giám đốc điều hành cơ hội tướcđoạt tài sản của cổ đông bằng cách lựa chọn đầu tư vào những dự án mang lại lợiích cho họ nhiều hơn là cho cổ đông Điều này có nghĩa là n ếu cả hai bên trong mốiquan hệ này đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình, thì có cơ sở tin rằng các giámđốc điều hành sẽ không luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho các cổ đông và công

ty Với vị trí của mình, các giám đốc điều hành được cho là luôn có xu hướng tư lợi

Trang 32

và không đủ siêng năng mẫn cán và có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mìnhhay cho người thứ ba chứ không phải cho các cổ đông.

Như vậy, chính sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý đã gây ravấn đề đại diện, mà nguyên nhân là do tình trạng thông tin không đầy đủ và khôngcân xứng: (1) thứ nhất là vấn đề đại diện xuất hiện khi mong muốn hay mục tiêucủa người chủ và người đại diện có tính xung đột nhau và khó khăn hay phí tổn chongười chủ kiểm tra những gì mà người đại diện thực sự đang làm; (2) thứ hai là vấn

đề chia sẻ rủi ro xuất hiện khi người chủ và người đại diện có thái độ khác nhau đốivới rủi ro sẽ thích các kiểu hành xử khác nhau

Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi hài hòa giữa chủ sở hữu và người đại diện,các lý thuyết gia về người đại diện ban đầu (Demsetz và Lehn, 1985; Jensen vàMeckling, 1976; Fama và Jensen, 1983) đề nghị là các nhà quản lý/giám đốc điềuhành cần được giám sát bởi Hội đồng quản trị với công việc chính là đảm bảo cácnhà quản lý luôn hoàn thành trách nhiệm của họ với lợi ích cao nhất của cổ đông

Khi hội đồng quản trị giám sát một cách chặt chẽ có thể làm giảm thiểu rủi

ro đạo đức gây ra từ việc bất đối xứng thông tin và các giám đốc điều hành sẽ hànhđộng phù hợp với lợi ích của cổ đông Chẳng hạn, theo quan điểm của lý thuyết đạidiện, các hành vi như là thực hiện phi vụ greenmail (là hành vi thâu tóm một lượnglớn cổ phiếu của công ty đối thủ và ngã giá với một giá rất cao, buộc đối thủ phảimua lại nếu không sẽ bị thâu tóm) và golden parachute (thỏa thuận đền bù mộtkhoảng tiền hậu hĩnh cho các giám đốc khi bị sa thải hoặc về hưu) mang lại lợi íchcho các giám đốc điều hành hơn là cho các cổ đông, sẽ khó có thể xảy ra nếu hộiđồng quản trị làm tốt vai trò giám sát

Về mặt hoạt động, việc cung cấp nhiều thông tin của hội đồng quản trị cóthể được đo lường bằng các đặc tính như: tần suất họp hội đồng quản trị, số lượngcác tiểu ban hội đồng, số lượng thành viên hội đồng quản trị, số lượng thành viênhội đồng quản trị với kinh nghiệm về quản lý và chuyên môn, và số lượng thànhviên hội đồng quản trị đại diện cho nhóm sở hữu đặc biệt Tuy nhiên, trong luận văn

Trang 33

này tác giả chỉ xem xét quy mô của hội đồng quản trị, tỷ lệ % thành viên điều hành,

tỷ lệ % thành viên độc lập trong hội đồng như là các đặc tính đại diện cho hội đồngquản trị để đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng (Eisenhardt, 1989)

1.4.1 Mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và hiệu quả hoạt động:

Nhiệm vụ quan trọng của Hội đồng quản trị là đảm bảo rằng tổ chức có thểtận dụng triệt để những cơ hội và làm gia tăng giá trị thị trường của công ty Một hộiđồng quản trị có hiệu quả nếu quyền ra quyết định và ảnh hưởng đến các nhà quản lý

là rất mạnh mẽ Chaganti, Mahajan & Sharma (1985) lập luận rằng quy mô HĐQT

là một đặc tính quan trọng của HĐQT có ảnh hưởng đến chức năng HĐQT và cuốicùng là hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Tuy nhiên, có hai quan điểm trái chiều vềmối tương quan giữa quy mô Hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động như sau:

- Thứ nhất, quan điểm ủng hộ quy mô nhỏ làm gia tăng hiệu quả hoạt độngcông ty Lipton và Lorsch (1992), Jensen (1993) và Hermalin và Weisbach (2003)khẳng định rằng Hội đồng quản trị lớn có thể ít hiệu quả hơn so với Hội đồng quảntrị nhỏ Họ lập luận rằng:

+ Một Hội đồng quản trị lớn có thể đưa đến việc thảo luận ít ý nghĩa hơn vìviệc bộc lộ quan điểm thường gặp khó khăn, mất khá nhiều thời gian và thườngxuyên đưa đến sự thiếu đồng thuận trong hội đồng Và khuyến khích giới hạn sốlượng thành viên trong hội đồng xuống còn bảy hoặc tám người vì vượt quá con số

đó có thể gây khó khăn cho các CEO để kiểm soát (Lipton và Lorsch, 1992)

+ Ngay cả khi năng lực giám sát tăng thì lợi ích đạt được đã che lấp nhữngtổn thất có thể xảy ra, chẳng hạn như việc chậm ra quyết định, các cuộc thảo luận vềhiệu quả quản trị không đủ trung thực

+ Việc ưa thích quy mô hội đồng quản trị nhỏ hơn bắt nguồn từ sự thay đổicông nghệ và tổ chức mà cuối cùng đưa đến cắt giảm chi phí và quy mô hoạt độnglàm gia tăng lợi nhuận Trong khi với Hội đồng quản trị lớn thì quyền ra quyết địnhcủa hội đồng quản trị trở nên yếu hơn bởi sự tham gia của nhiều người Hơn nữa,vấn đề phối hợp công việc quan trọng hơn là có nhiều nhà quản lý (Jensen, 1993)

Trang 34

+ Khi hội đồng quản trị bao gồm quá nhiều thành viên thường dẫn đến vaitrò mang tính tượng trưng hơn là làm đúng chức năng dự tính như là một phần của

sự quản lý Khi đó, vấn đề người đại diện có thể gia tăng vì một vài thành viên cóthể hiện diện như là người thụ hưởng miễn phí (free-riders) và hội đồng quản trị trởnên ít hiệu quả (Hermalin và Weisback, 2003)

- Thứ hai, quan điểm ủng hộ quy mô lớn làm gia tăng hiệu quả hoạt động.Quan điểm này cho rằng : Hội đồng quản trị quá nhỏ thiếu đi các ưu điểm mà mộtHội đồng quản trị lớn thường có là tranh thủ được các ý kiến và lời khuyên chuyêngia Việc chiếm đoạt tài sản do CEO và các giám đốc bên trong tương đối dễ dànghơn với các hội đồng nhỏ vì Hội đồng quản trị nhỏ cũng đi kèm với số lượng nhỏhơn các giám đốc bên ngoài Một vài thành viên trong Hội đồng quản trị nhỏ bậnrộn với việc ra quyết định và dành ít thời gian hơn cho hoạt động giám sát Ngoài

ra, các Hội đồng quản trị lớn hơn thường được gắn kết với sự gia tăng tính đa dạngcủa hội đồng liên quan đến kinh nghiệm, kỹ năng, giới tính và quốc tịch (Dalton vàDalton, 2005)

Hiện nay, theo quy định của pháp luật Việt Nam, số lượng thành viên Hộiđồng quản trị tối thiểu là 5 người và tối đa là 11 người Tuy nhiên, quy mô HĐQT ởcác nước phát triển thì lớn hơn nhiều Như vậy, dựa trên quan điểm lý thuyết vàthực tế tại Việt Nam, tác giả đưa ra giả thiết nghiên cứu 1 như sau:

Giả thiết nghiên cứu 1: Có một mối quan hệ âm giữa quy mô hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP.

1.4.2 Mối quan hệ giữa thành phần HĐQT và hiệu quả hoạt động 1.4.2.1 Vai trò của thành viên độc lập và hiệu quả hoạt động

Theo Fama và Jensen (1983), các thành viên HĐQT độc lập thường đượcxem như đóng vai trò giám sát chính trong HĐQT so với thành viên điều hành (còngọi là thành viên bên trong), bởi vì họ độc lập và rất quan tâm đến việc duy trì uytín của mình đối với thị trường lao động bên ngoài

Trang 35

Một mặt, các thành viên bên trong là quen thuộc hơn với các hoạt động củacông ty và họ có thể đóng vai trò như m ột thiết bị giám sát để quản lý hàng đầu nếu

họ cảm nhận được cơ hội để thay thế vào các vị trí của giám đốc điều hành không

đủ năng lực

Thành viên độc lập có thể đóng vai trò như "tr ọng tài chuyên nghiệp" đểđảm bảo rằng sự cạnh tranh giữa các thành viên bên trong sẽ kích thích họ hànhđộng phù hợp nhằm tối đa hóa giá trị cổ đông (Fama, 1980)

John và Senbet (1998) cho rằng Hội đồng quản trị độc lập hơn khi tỷ lệthành viên HĐQT bên ngoài gia tăng Mặc dù, hiệu quả của một hội đồng quản trịphụ thuộc vào sự kết hợp tối ưu của các thành viên bên trong và bên ngoài

Như vậy, với lợi ích từ thành viên HĐQT độc lập sẽ mang lại, tác giả đưa ragiả thiết nghiên cứu 2 như sau:

Giả thiết nghiên cứu 2: Có một mối quan hệ dương giữa tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP.

1.4.2.2 Vai trò của thành viên điều hành và hiệu quả hoạt động

Tương tự với các thành viên bên ngoài, các thành viên bên trong cũng dựkiến đóng vai trò như là đại diện quản lý đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp và cổđông và cùng lúc đó giữ gìn mối quan hệ theo hợp đồng giữa doanh nghiệp và hộiđồng (Williamson, 1985) Với vai trò giám sát, các thành viên bên trong được kỳvọng cung cấp thông tin đầu tiên về hoạt động của doanh nghiệp đến các thành viênhội đồng (Boumosleh & Reeb, 2005) Vì các thành viên bên trong là các thành phầntham gia tích cực trong quá trình ra quyết định tổng thể của doanh nghiệp, họ tiếpcận được tất cả các thông tin thích hợp liên quan đến việc ra quyết định hoạt độngdoanh nghiệp Điều này ngược với các thành viên bên ngoài không nắm giữ bất kỳquyền lực thực thi nào và cũng thường có mặt ở các hội đồng ở các doanh nghiệpkhác

Trang 36

Vì thế, như được đề xuất bởi Anderson and Reeb (2003) khi các thành viênbên ngoài đưa ra các câu hỏi về hoạt động của doanh nghiệp suốt buổi họp hộiđồng, các thành viên bên trong được dự kiến cung cấp cho họ các lời giải thích thỏamãn Ngoài việc chuyển tải thông tin thích hợp đến các thành viên bên ngoài, cácthành viên bên trong hay bên ngoài đều đóng vai trò trong việc giám sát CEO.Trong khi vai trò giám sát này có thể gián tiếp như bản thân các thành viên bêntrong dưới sự đánh giá của CEO, các thành viên bên trong có thể cung cấp thông tinliên quan đến thành viên bên ngoài nếu có sự bảo thủ của CEO Nói cách khác, nếuthành viên bên trong đóng vai trò giám sát hiệu quả và làm giảm thông tin bất cânxứng có thể làm gia tăng cấu trúc quản trị doanh nghiệp, dần dần đưa đến hiệu quảcông ty tốt hơn.

Tuy nhiên, trong bối cảnh thực tế doanh nghiệp các thành viên bên trongthường được định hướng với CEO Vì CEO là Tổng giám đốc điều hành được xếphạng cao nhất trong tổ chức có đầy quyền lực trong việc chỉ định các giám đốc điềuhành trung thành với họ Do mối quan hệ ngầm của họ với CEO, các thành viên bêntrong có thể không đóng vai trò hiệu quả trong việc giám sát CEO Vì thế các hộiđồng quản trị với nhiều giám đốc điều hành hơn không dẫn đến việc gia tăng hiệuquả doanh nghiệp, tác giả đưa ra giả thiết nghiên cứu 3 như sau:

Giả thiết nghiên cứu 3: Có một mối quan hệ âm giữa tỷ lệ thành viên hội

đồng quản trị điều hành và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP.

1.5 Các công trình nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa quy

mô, thành phần hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động:

1.5.1 Quy mô hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động:

Những khẳng định lý thuyết đã đư ợc kiểm định về mặt thực nghiệm và mộtmối quan hệ âm giữa quy mô hội đồng quản trị và hiệu quả được trình bày bởi cácnghiên cứu sau:

- Yermarck (1996) tiến hành nghiên cứu của mình trên 452 công ty côngnghiệp Hoa Kỳ giữa năm 1984 và năm 1991, nhất quán phát hiện ra một mối quan

Trang 37

hệ nghịch biến giữa quy mô HĐQT và giá trị doanh nghiệp khi thực hiện hồi quibằng cách sử dụng nhiều mô hình như: tác động cố định, tác động ngẫu nhiên vàước lượng OLS Thậm chí khi giá trị doanh nghiệp đặc trưng bằng Tobin’s Q đượcthay bằng các biến đại diện khác như tỷ suất sinh lợi trên tài sản ROA, tỷ suất sinhlợi trên doanh thu ROS và doanh thu/tài sản, mối quan hệ âm vẫn tiếp tục Tác giảcũng khẳng định rằng phần giá trị bị mất xảy ra nhiều hơn khi kích thước của công

ty ngày càng tăng từ nhỏ đến trung bình (ví dụ 6 -12) khi so sánh với các công ty cóhội đồng quản trị kích thước ngày càng tăng từ trung bình đến lớn (12 -24)

- Theo sau phân tích của Yermarck cho các công ty lớn, Eisenberg,Sundgren và Wells (1998) kiểm định mối quan hệ giữa hội đồng quản trị và lợinhuận ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Phần Lan Họ trình bày bằng chứng về mốiquan hệ âm giữa quy mô hội đồng quản trị và lợi nhuận, vì thế ủng hộ lý thuyết đặt

ra bởi Lipton và Lorsch (1992) và Jensen (1993)

- Tương tự, Barnhart và Rosenstein (1998) phát hiện là các doanh nghiệpvới hội đồng quản trị nhỏ hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp với hội đồng quản trịlớn Trong một nghiên cứu về Nigeria, Sanda, Mukaila & Garba (2003) phát hiện rarằng, hiệu suất công ty có quan hệ đồng biến với HĐQT nhỏ, nhưng nghịch biến vớiHĐQT lớn Kyereboah-Coleman & Biekpe (2005) đã xác định rằng quy mô HĐQTnhỏ nâng cao hiệu suất của các tổ chức tài chính vi mô tại Ghana

- Lặp lại các phát hiện trên, Vafeas (2000) báo cáo là các doanh nghiệp vớihội đồng nhỏ nhất (tối thiểu năm thành viên) được thông tin tốt hơn về lợi nhuậncủa doanh nghiệp và vì thế có thể được xem như có khả năng giám sát tốt hơn Mak

và Yuanto (2003) cho rằng giá trị của các doanh nghiệp niêm yết của Singapore vàMalaysia là cao nhất khi hội đồng chỉ năm thành viên Bennedsen, Kongsted vàNielsen (2004), khi phân tích về 500 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đan Mạch đã nóirằng quy mô doanh nghiệp không ảnh hưởng đến hiệu quả doanh nghiệp cho hộiđồng có dưới sáu thành viên nhưng phát hiện một mối quan hệ âm giữa chúng khiquy mô hội đồng tăng lên từ bảy thành viên trở lên

Trang 38

- Trong việc nghiên cứu sự thay đổi trong quy mô hội đồng quản trị theothời gian, Wu (2000) phát hiện là tính trung bình, quy mô hội đồng của các doanhnghiệp giảm trong giai đoạn 1991 – 1995 Wu cho rằng nguyên nhân của sự sụtgiảm có thể một phần là do áp lực từ các nhà đầu tư lớn Điều này hàm ý là thịtrường nói chung tin tưởng hơn nếu việc giám sát được thực hiện bởi các hội đồngnhỏ hơn.

Trong khi Yermack (1996) và những người khác phát hiện mối quan hệ âm

có ý nghĩa giữa quy mô hội đồng quản trị và hiệu quả thì một số nghiên cứu lạikhông tìm thấy mối quan hệ này, cụ thể như:

- Bhagat và Black (2002) không tìm thấy bằng chứng xác đáng về mối quan

hệ này Vì thế kết quả của họ không hoàn toàn ủng hộ các phát hiện của Yermack

Họ lý giải là quy mô hội đồng thường được chọn có tính nội sinh liên quan đến cácbiến kiểm soát khác có thể tương quan với hiệu quả và cách tiếp cận có thể gây ra

sự khác biệt trong kết quả

- Trong nỗ lực so sánh các tác động của cấu trúc doanh nghiệp lên hiệu quảgiữa các doanh nghiệp Nhật Bản và Úc, Bonn, Yokishawa và Phan (2004) phát hiệnquy mô hội đồng và hiệu quả (đo lường bằng tỷ số thị giá/thư giá và ROA) tươngquan âm cho các doanh nghiệp Nhật Bản nhưng không có mối quan hệ cho cácdoanh nghiệp Úc

Ngược với các phát hiện trên, một tác động dương lên hiệu quả được ghinhận với quy mô hội đồng lớn hơn bởi một số nghiên cứu sau:

- Khi nghiên cứu 147 doanh nghiệp Singapore từ dữ liệu năm 1995, Mak &

Li (2001) ủng hộ khẳng định cơ cấuhội đồng quản trị quyết định các vấn đề nội sinhkhi các kết quả OLS của họ chỉ ra quy mô hội đồng, cấu trúc lãnh đạo và quy môdoanh nghiệp có tác động dương lên hiệu quả nhưng các hồi qui 2SLS của họ khôngủng hộ các kết quả này

Trang 39

- Diwedi & Jain (2002), tiến hành nghiên cứu trên 340 công ty lớn đượcniêm yết của Ấn Độ trong giai đoạn 1997 – 2001và tìm thấy một mối quan hệ tíchcực yếu giữa quy mô HĐQT và hiệu suất hoạt động của công ty.

- Adam & Mehran (2005) phát hiện một mối quan hệ dương giữa quy môhội đồng và hiệu quả (đo lường bằng Tobin’s Q) trong ngành ngân hàng Hoa Kỳ.Dựa trên kết quả, họ đề nghị là mối quan hệ hiệu quả như vậy có thể là chuyên biệtcho từng ngành công nghiệp và chỉ ra là các hội động lớn hơn làm việc tốt hơn chocác loại doanh nghiệp nhất định phụ thuộc vào cấu trúc tổ chức Họ lập luận rằnghoạt động M&A và các tính năng, hình thức của các tổ chức ngành ngân hàng có thểlàm cho một HĐQT lớn hơn nhiều so với sự mong đợi

- Hơn nữa, một siêu phân tích dựa trên 131 nghiên cứu bởi Dalton vàDalton (2005) chỉ ra các hội đồng càng lớn tương quan với hiệu quả doanh nghiệpcàng cao, ngược lại với các kết quả siêu phân tích ban đầu bởi Dalton, Daily vàJohnson (1999)

Tóm lại, nghiên cứu thực nghiệm về quy mô hội đồng đề nghị là quy môcàng lớn trong hầu hết các trường hợp có quan hệ âm với hiệu quả doanh ngh iệp Đểduy trì HĐQT với số lượng thành viên lớn có thể là bất lợi và tốn kém cho các doanhnghiệp Việc lên kế hoạch, phối hợp công việc, ra quyết định và tổ chức các cuộchọp thường xuyên có thể là khó khăn với các các hội đồng có số lượng thành viênlớn Tính hiệu quả của HĐQT không phụ thuộc vào số lượng thành viên có mặttrong đó, nhưng một lượng tối thiểu các thành viên với kinh nghiệm và kiến thức đầy

đủ là điều kiện sống còn của doanh nghiệp để đảm bảo các nhiệm vụ được thực thihiệu quả

1.5.2 Thành phần hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động

1.5.2.1 Thành viên độc lập và hiệu quả hoạt động

Một số nghiên cứu thực nghiệm về lợi ích của thành viên bên ngoài/độc lậptrong việc hỗ trợ giám sát và chức năng tư vấn cho các cổ đông công ty (Brickley &James 1987; Weisbach 1988; Byrd & Hickman 1992; Brickley và cộng sự 1994)

Trang 40

Baysinger & Butler (1985) và Rosenstein và Wyatt (1990) cho thấy lợi ích thịtrường mang lại cho các công ty trong việc bổ nhiệm thành viên bên ngoài.Kyereboah-Coleman và Biekpe (2005) tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệcủa các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài và hoạt động của tổ chức Tài chính

vi mô ở Ghana Md Abdur Rouf (2011) cũng cho thấy mối quan hệ tích cực giữaROE và thành viên HĐQT độc lập

Tuy nhiên, Forsberg (1989) không tìm thấy có mối quan hệ giữa tỷ lệ củagiám đốc bên ngoài và hiệu suất đo lường khác nhau Hermalin & Weisbach (1991)

và Bhagat & Black (2002) không tìm thấy mối quan hệ đáng kể giữa các thành phầnhội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động công ty Yemack (1996) cũng cho thấy tỷ lệgiám đốc bên ngoài không ảnh hưởng đáng kể hiệu suất công ty Điều này cũngđược xác nhận bởi Kyereboah-Coleman và Biekpe (2005) khi nghiên cứu các công

ty xuất khẩu phi truyền thống ở Ghana

Bonn (2004) khi nghiên cứu các doanh nghiệp Nhật Bản và Úc cho thấyrằng tỷ số thành viên bên ngoài trong hội đồng có tác động âm lên mẫu của Úc, kếtquả trái ngược với các doanh nghiệp Nhật Bản

1.5.2.2 Thành viên điều hành và hiệu quả hoạt động

Trong khi hội đồng quản trị có cả thành phần các thành viên bên ngoài/độclập, sự thảo luận về hội đồng luôn luôn hướng đến lợi ích và bất lợi của các thànhviên bên ngoài Vì vậy, bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa thành viênđiều hành là hiếm Roselina Shakir (2009) cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ môhình hồi quy OLS và 2SLS cho thấy tỷ lệ phần trăm của giám đốc điều hành có ảnhhưởng tích cực với Tobin’ Q

Nhìn chung, các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới chỉ ra sự tồn tại mốiquan hệ giữa hiệu quả doanh nghiệp và sự thay đổi trong quy mô, cấu trúc hội đồngquản trị và quản lý điều hành Điều ấn tượng là nghiên cứu thực nghiệm về mốiquan hệ giữa các đặc tính khác nhau hội đồng quản trị và hoạt động doanhnghiệp là khá thuyết phục Hầu hết các công trình nghiên cứu đã tập trung vào

Ngày đăng: 31/12/2020, 10:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w