Và sự đảongược tài khoản vãng lai từ thiếu hụt sang thặng dư không yêu cầu sự thay đổimạnh trong chính sách như một sự thắt chặt đội ngột kèm theo một số khó khănvĩ mô dưới hình thức nhữ
Trang 1NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM ĐIỀU CHỈNH CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1 Phương hướng điều chỉnh cán cân thanh toán
Các mục tiêu cơ bản của các chính sách kinh tế của một quốc gia là duy trìđược cân đối bên trong và cân đối bên ngoài Từ trước đến nay các quốc gia duy trìcân bằng bên trong và coi đó là khởi nguồn để đưa ra các chính sách kinh tế
Cân đối bên trong được hiểu là một nền kinh tế đầy đủ việc làm đồng thờikhông có lạm phát hay thực tế hơn là một mức lạm phát hợp lý
Một quốc gia được coi là cân bằng bên ngoài khi nó đảm bảo được cân bằngcán cân thanh toán Trong thực tế, các nhà xây dựng chính sách thường xem xétcân bằng bên ngoài dưới hình thức cán cân bộ phận của cán cân thanh toán, nhưcán cân vãng lai Trong phạm vi này, một quốc gia đảm bảo cân bằng bên ngoàikhi cán cân vãng lai không thâm hụt lớn đến mức mà họ không có khả năng trả cáckhoản nợ nước ngoài của họ trong tương lai
Mặc dù các quốc gia thường duy trì cân bằng bên trong như một ưu tiên caonhất, nhưng đôi khi họ vẫn buộc phải thay đổi các ưu tiên khi đối mặt với nhữngmất cân bằng bên ngoài
Do khu vực bên trong nền kinh tế gắn bó chặt chẽ với khu vực bên ngoài, nêncác quốc gia không thể lựa chọn các chính sách kinh tế chỉ vì mục tiêu cân đối bêntrong hay chỉ vì mục tiêu cân đối bên ngoài Những tác động của chính sách kinh tếđược xem xét trong mối quan hệ giữa cân đối bên trong và cân đối bên ngoài củamột nền kinh tế Chính vì vậy, nhiệm vụ của các biện pháp điều chỉnh cán cânthanh toán còn phải đảm bảo mục tiêu cân đối bên trong
Trang 2Trong nên kinh tế Việt Nam hiện nay, mặc dù không rơi vào tình trạng khủnghoảng tài chính như một số nước trong khu vực, nhưng nền kinh tế Việt Nam đangrơi vào giai đoạn trì trệ, tốc độ tăng trưởng kinh tê giảm, đầu tư giảm, thất nghiệptăng cao, giá cả có xu hướng giảm
Bên cạnh đó, cán cân thanh toán của Việt Nam luôn thâm hụt do tài khoản vãnglai thâm hụt và tài khoản vốn và tài chính không đủ thặng dư để tài trợ cho thâmhụt của tài khoản vãng lai Việt Nam đã phải sử dụng những biện pháp tài trợ nhưhoãn nợ, thay đổi nợ quá hạn Điều đó chứng tỏ khả năng thanh toán của Việt Nam
là mức thấp và mức thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam đã đến giới hạn củakhả năng chịu đựng
Nhiệm vụ của chính sách kinh tế hiện nay là phải thiết lập được cân đối bêntrong Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm, Việt Namcần phải tăng tổng cầu bằng cách tăng chi tiêu và đầu tư, ngoài các nguồn vốntrong nước cần phải thu hút các luồng vốn bên ngoài
Khi luồng vốn ngoài vào nhiều sẽ có tác dụng cải thiện tài khoản vốn làm cânbằng cán cân thanh toán giúp Việt Nam không phải sử dụng đến biện pháp hoãn
nợ Tuy nhiên, khi tổng cầu tăng và luồng vốn nước ngoài vào nhiều sẽ thúc đẩynhập khẩu máy móc và làm tăng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam Vấn đềđặt ra ở đây là Việt Nam phải duy trì được thiếu hụt tài khoản vãng lai ở mức cóthể chịu đựng được để không dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài bên ngoài nhưmột số nước trong khu vực đã gánh chịu trong thời gian vừa qua
Như vậy, định hướng điều chỉnh cán cân thanh toán của Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay là:
* Thứ nhất là phải cải thiện được tài khoản vốn bằng cách thu hút các luồng vốnđầu tư nước ngoài để cân bằng cán cân tổng thể và phục vụ cho phát triển kinh tế
* Thứ hai là trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam không thể đảm bảo cân bằngcán cân vãng lai và phải chấp nhận sự thiếu hụt cán cân vãng lai Nhưng vấn đề là
Trang 3phải duy trì khả năng thanh toán của quốc gia đó Nếu một quốc gia có khả năngtạo ra những thặn dư cán cân vãng lai thích đáng trong tương lai đủ để trả cáckhoản nợhiện hành, thì nó đảm bảo tiêu chuẩn khả năng thanh toán Và sự đảongược tài khoản vãng lai từ thiếu hụt sang thặng dư không yêu cầu sự thay đổimạnh trong chính sách (như một sự thắt chặt đội ngột) kèm theo một số khó khăn
vĩ mô dưới hình thức những giảm mạnh trong các hoạt động kinh tế và tiêu dùng,thì sự thiếu hụt tài khoản vãng lai trong hiện tại được coi là có khả năng chịu đựng.Kinh nghiệm quốc tế được rút ra từ các cuộc khủng hoảng đầu những năm 1980
và trong những năm 1990 đã chỉ ra rằng: "khả năng mất cân đối tài khoản vãng laidẫn đến cuộc khủng hoảng bên ngoài phụ thuộc phần lớn vào đặc điểm kinh tế vĩ
mô của nền kinh tế nói chung là, mức tiết kiệm và đầu tư, mức độ mở cửa, mức độlinh hoạt của tỷ giá, và sự lành mạnh của hệ thống tài chính"
Tóm lại, mục tiêu cần đạt đến là duy trì cán cân thanh toán lành mạnh tạo điềukiện cho nền kinh tế hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới và khu vực.Điều này cần đòi hỏi phải thực hiện một loạt các giải pháp dài hạn liên quan đếntoàn bộ hệ thống quản lí và điều hành kinh tế vĩ mô
3.2 Những biện pháp nhằm điều chỉnh cán cân thanh toán Quốc tế của Việt Nam
Trong hoàn cảnh kinh tế hiện nay, để cải thiện được cán cân thanh toán và duytrì được khả năng chịu đựng của tài khoản vãng lai đồng thời vẫn đảm bảo tốc độtăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm, một mặt chính phủ nên sử dụng cácbiện pháp kiểm soát trực tiếp như hạn chế nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu, thuhút chuyển tiền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, thu hútcác luồng vốnFDI và ODA , mặt khác cần sử dụng các biện pháp vĩ mô như điều chỉnh tỷ giá,tăng tiết kiệm tư nhân, các chính sách tiền tệ và tài khoá
Trang 4Các biện pháp trên khi được phối hợp sử dụng không những đảm bảo cân đốibên ngoài mà còn đảm bảo cả cân đối bên trong của nền kinh tế trong giai đoạnhiện nay.
3.2.1 Những biện pháp khuyến khích xuất khẩu
Xuất khẩu giữ vai trò quan trọng trong việc cải thiện sự mất cân đối của cán cânthanh toán quốc tế Hơn nữa việc đẩy mạnh xuất khẩu còn làm tăng khả năng chịuđựng của cán cân vãng lai Trong giai đoạn hiện nay nhà nước đã đưa ra địnhhướng: “Đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm củakinh tế đối ngoại, tạo thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực Nâng cao khả năngcạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường Giảm tỷ trọng sản phẩm thô và sơchế, tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu và tinh trong hàng xuất khẩu Tăng nhanhxuất khẩu dịch vụ Nâng cao tỷ trọng phần giá trị gia tăng trong giá trị hàng xuấtkhẩu ”
Mặc dù nguyên nhân trực tiếp tạo nên thâm hụt cán cân thương mại như hiệnnay là do tốc độ nhập khẩu tăng nhanh Tuy vậy, giải pháp cơ bản và có ý nghĩalâu dài nhằm giảm mức thâm hụt cán cân thương mại là đẩy mạnh xuất khẩu Năm
1999, 2000 kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 25% trong khi năm 1998 chỉ tăng2% Đó là mức tăng trưởng cao, song vẫn thấp hơn mức tăng nhập khẩu Để đẩymạnh xuất khẩu cần thực hiện các biện pháp cơ bản sau :
A Thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu
Để áp dụng thành công chiến lược này ngoài việc phát huy có hiểu quả nhữnglợi thế so sánh của mình Việt Nam phải tranh thủ tận dụng tối đa các nguồn lực từbên ngoài như vốn, công nghệ hiện đại, trình độ quản lý sản xuất tiên tiến
Việt Nam cần phải xác định được một cơ cấu hàng xuất khẩu phát triển theohướng gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến và nguyên liệu chứa nhiều hàm lượng
kỹ thuật Điều này có nghĩa là hướng các nỗ lực vào phát triển các ngành chế biến
Trang 5và các lĩnh vực công nghệ hiện đại nhất như: công nghệ phần mềm, lập ngân hàng
dữ liệu, lắp giáp điện tử
Tuy nhiên kinh nghiệm của các nước hướng về xuất khẩu thành công cho thấy,bên cạnh lợi thế tĩnh (những ưu thế hiện có của nền kinh tế) cần phải tạo ra lợi thếđộng, nghĩa là những ưu thế có được trong tương lai Chính chỗ này cần có sự canthiệp của chính phủ Nói cách khác, một trong những vai trò quan trọng nhất củachính phủ trong việc thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu làchủ động tạo ra lợi thế động thông qua việc xác định các ngành công nghiệp mũinhọn, ưu tiên đầu tư cho cở sở hạ tầng và các điều kiện thúc đẩy tăng trưởng xuấtkhẩu trong tương lai Căn cứ vào xu hướng vận động của thị trường thế giới thì cácmặt hàng có hàm lượng vốn và trí tụê cao là những mặt hàng có khả năng cạnhtranh và mang lại lợi nhuật cao nhất Tuy vậy, Việt Nam chỉ nên hoà nhập vàonhững ngành này ở chức năng trung gian làm đại lý dịch vụ cho những nước khác.Nghĩa là Việt Nam trước mắt chỉ nên phát triển công nghiệp lắp giáp, sửa chữa,dịch vụ tiêu thụ là chính, không nên đầu tư quá nhiều vào công nghiệp chế tạo vì
nó đòi hỏi vốn lớn và dễ bị lạc hậu Ngoài ra chúng ta cần chú trọng vào các thịtrường dịch vụ như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, du lịch, quảng cáo, vì nhữngngành này hỗ trợ đắc lực cho các ngành sản xuất và bản thân nó cũng mang lại thunhập cao cho nền kinh tế quốc dân
B Huy động và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động xuất khẩu
Trước đây, chỉ có những doanh nghiệp nhà nước mới được quyền hoạt độngxuất khẩu trực tiếp Cho đến nay, nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho lĩnhvực tư nhân vì đây là lĩnh vực rất nhiều tiềm năng (cụ thể: tỷ trọng xuất khẩu củakhu vực tư nhân năm 1997 tăng 4% đến năm 1999 tăng 14%) Điều này thể hiện:đối với những mặt hàng tác động đến môi trường sinh thái, hệ sinh thái do Nhànước công bố danh mục, doanh nghiệp muốn xuất khẩu phải có giấy phép xuất
Trang 6khẩu Phần lớn các mặt hàng còn lại của doanh nghiệp đã đăng kí kinh doanh mặcnhiên được phép xuất khẩu và chỉ làm thủ tục hải quan Các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế có tư cách pháp nhân hợp lệ đều được tham gia xuất khẩutrực tiếp mà không phân biệt loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, nhà nước phải có
sự điều chỉnh đồng bộ, thực hiện thể chế hoá quan điểm phát triển kinh tế hàng hoánhiều thành phần của Đảng, tạo điều kiện hình thành các doanh nghiệp có khảnăng cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế Đây cũng là đòi hỏi của việc quản línghiệp vụ kinh doanh, những vấn đề còn lại của cơ chế kinh tế cũ
C Thực hiện các biện pháp nhằm xây dựng phát triển thị trường xuất khẩu cho hàng hoá Việt Nam
Một chiến lược hướng về xuất khẩu bao giờ cững phải đảm bảo bằng khả năngthâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Dưới góc độ quản lý vĩ mô việc mở rộng quan
hệ nước ngoài được thực hiện bằng các biện pháp sau:
- Đàm phán, ký kết các hợp đồng thương mại với các nước bạn hàng, đặc biệt làcác nước phát triển có dung luợng thị trường lớn nhằm tăng khối lượng và giá trịhàng xuất khẩu của Việt Nam (bao gồm đàm phán hạn ngạch xuất khẩu đối với cácmặt hàng có hạn ngạch, ký các hiệp định chính phủ về mua bán hàng hoá giữa cácnước ) Tiến hành khẩn trương việc đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thếgiới trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối đa của đất nước
- Thiết lập hệ thống thu nhập và xử lý thông tin thương mại, nâng cao khả năng
dự báo và định hướng thị trường đảm bảo cung cấp kịp thời và chính xác các thôngtin giúp các doanh nghiệp có căn cứ để buôn bán và đầu tư
- Thành lập trung tâm xúc tiến thương mại với nhiệm vụ nghiên cứu thị trường,cung cấp thông tin và tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại, đào tạo các nghiệp
vụ mua bán hàng hoá quốc tế
Trang 7- Sớm ban hành quy chế về việc doanh nghiệp Việt Nam, lập chi nhánh thươngmại ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cậntrực tiếp nhu cầu thị trường ngoại và thâm nhập sâu vào các thị trường đó.
D Giải pháp về đổi mới, hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu là một khâu quan trọng trong quan hệ kinh tế đối ngoại Do đó, việchoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý hoạt động xuất khẩu là cần thiết và cầnđược thực hiện theo các hướng sau :
- Miễn giảm thuế xuất khẩu
Tiếp tục điều chỉnh một các cơ bản chính sách thuế theo hướng miễn giảm đốivới các sản phẩm xuất khẩu và chỉ đánh thuế đối với những sản phẩm khôngkhuyến khích xuất khẩu hoặc đánh phụ thu khi có lợi nhuận cao
Ví dụ :
+ Khi giá cà phê xuất khẩu xuống dưới 1.000USD/1tấn thì nhà nước miễn thuế+ Khi giá cà phê xuất khẩu 3.000USD/1tấn trở lên, thuế phụ thu tăng từ 5% đến7%
- Đối với những mặt hàng có hạn ngạch, cam kết số lượng với nước ngoài bằngcác hiệp định như xuất khẩu gạo, hàng dệt may, nhà nước nên tổ chức đấu giá cáchạn ngạch nhằm tránh tình trạng những doanh nghiệp có tiềm năng xuất khẩu thìkhông có hoặc có ít hạn ngạch trong khi những doanh nghiệp không có khả năngthì lại nhận được nhiều hạn ngạch Nhà nước nên cho phép chuyển nhượng hạnngạch để đảm bảo kế hoạch xuất khẩu
Trang 8khẩu, nhà nước và các doanh nghiệp cần phải chú trọng đến nâng cao chất lượng
và hình thức sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, quan tâm đến đào tạo cán bộchuyên ngành cũng như ổn định môi trường pháp lý và cải cách thủ tục hành chính
3.2.2 Những biện pháp nhằm điều tiết nhập khẩu
Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang chịu sự tác động của quá trình toàn cầu hoá,khu vực hoá Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập vào xu thế phát triển chungnày nên việc hạn chế nhập khẩu chỉ là một giải pháp ngắn hạn, mang tính tình thế
và khó thực hiện, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam sắp tham gia vào khu vựcmậu dịch tự do AFTA vào năm 2003 Hơn nữa, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đang được tiến hành ở nước ta khiến nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bịtiên tiến hiện đại, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất tăng lên Trong điều kiệnhoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, nhập siêu là một tất yếu Vì vậy, tất cả các biệnpháp nhập khẩu là nhằm đạt được một cán cân thanh toán lành mạnh hơn, hạn chếnhập khẩu những hàng hoá không cần thiết hoặc có ảnh hưởng xấu đến thị trườngnội địa
A Điều chỉnh cơ cấu nhập khẩu
Cơ cấu nhập khẩu là tỷ lệ tương quan giữa các nhóm hàng trong toàn bộ kimngạch nhập khẩu Cơ cấu hàng nhập khẩu của nước ta gồm hai nhóm lớn: nhómhàng tư liệu sản xuất và nhóm hàng tư liệu tiêu dùng Việc đưa ra những quyếtđịnh nhập khẩu những mặt hàng cần thiết, phù hợp nhằm tiết kiệm ngoại tệ đồngthời có thể bảo hộ, tạo điều kiện cho nền sản xuất nội địa trong từng giai đoạn pháttriển cụ thể là điều vô cùng quan trọng Trong giai đoạn hiện nay, việc điều chỉnh
cơ cấu nhập khẩu cần được tiếp tục thực hiện triệt để theo hướng sau:
- Giảm đến mức tối đa nhập khẩu hàng tiêu dùng, đặcbiệt là hàng trong nước
có thể sản xuất đựơc như may mặc, đồ uống, hoa quả Biện pháp này không cótác dụng kiểm soát tốc độ nhập khẩu mà còn nhằm hỗ trợ các các doanh nghiệptrong nước Danh mực các mặt hàng này được điều chỉnh tuỳ thuộc vào khả năng
Trang 9sản xuất trong nước cũng như năng lực cạnh tranh của hàng nội địa Biện pháp nàycũng được thực hiện sao cho không ảnh hưởng đến các cam kết về mở cửa thịtrường trong các hiệp định thương mại Việt Nam đã ký kết với người nước ngoài.
- Tạm ngừng nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu cho các ngành đãphát triển khá phồn thịnh ở trong nước như các ngành bia, rượu, đồ uống, nước giảikhá những ngành thuộc dạng ưu tiên, sử dụng các nguồn lực trong nước
Việc điều chỉnh cơ cấu nhập khẩu trong điều kiện nước ta hiện nay có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong việc cải thiện cán cân thương mại nói riêng và cán cânthanh toán nói chung
B Kiểm soát việc nhập khẩu của các doanh nghiệp.
Trong những năm qua, việc nhập khẩu của các doanh nghiệp không được quản
lý chặt chẽ, gây hiện tượng nhập khẩu tràn lan, tác động xấu tới cán cân thươngmại Do vậy, nhà nước cần phải kiểm soát nhập khẩu của các doanh nghiệp theohướng sau:
- Hạn chế tối đa việc cho phép nhập khẩu hàng tiêu dùng theo phương thức vaytrả chậm; đồng thời kiểm tra giám sát chặt chẽ các đại lý bán hàng cho người nướcngoài Cần ràng buộc nhập khẩu với nghĩa vụ xuất khẩu
- Kiểm tra chặt chẽ việc nhập khẩu theo các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
và các dự án ODA Đối với các dự án FDI việc kiểm tra nhằm tránh tình trạngnhập khẩu gian lận (chẳng hạn không đúng mặt hàng, chủng loại ghi trong hợpđồng, hoặc nhập khẩu thiết bị máy móc kém phẩm chất ) Với các dự án ODAgiải pháp này nhằm cho các nguồn vốn vay có thể tái tạo nguồn ngoại tệ đảm bảokhả năng thanh toán trong tương lai Những dự án ODA thường tập trung vào lĩnhvực cơ sở hạ tầng nên không trực tiếp tạo ra nguồn hàng xuất khẩu và vì vậy khôngthể có những ràng buộc như đối với các dự án FDI Tuy nhiên cần có những giảipháp quản lý chặt chẽ để thu hồi được vốn cũng như hướng vào việc đầu tư chonhững hạng mục có tác động đến hiệu quả chung của nền kinh tế
Trang 10C Áp dụng các phương pháp đánh thuế và hạn ngạch nhập khẩu.
Đây là một biện được áp dụng rất phổ biến và rất có hiểu quả đối với Việt Nam.Ngày nay, trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, chuẩn bị gia nhậpAFTA biện pháp này không còn phát huy hiệu lực trong việc hạn chế nhập khẩu.Tuy nhiên, đối với những mặt hàng cần được bảo hộ, nhà nước cần quy định thêmmột loạt các khoản thu bổ sung có chức năng như một biện pháp phụ nhằm hạn chếnhập khẩu mà vẫn không trái với những cam kết giảm thuế suất theo hiệp địnhthương mại mà nước ta đã ký kết
3.2.3 Biện pháp thu hút chuyển tiền nước ngoài.
Qua bảng chuyển giao vãng lai của Việt Nam giai đoạn 1990-1999 ta thấy vaitrò quan trọng của lượng kiều hối, đặc biệt ở khu vực tư nhân, trong việc bù dắpthâm hụt cán cân thanh toán Việc thu hút kiếu hồi từ những người Việt Nam sống
ở nước ngoài là một yêu cầu cụ thể và cần được thực hiện bằng cách :
- Nhà nước cần có chính sách về tỷ giá giúp đỡ thân nhân của họ trong việc đầu
tư sản xuất kinh doanh để hướng việc chuyển kiều hồi về nước bằng con đườngchính thức cũng như loại bỏ những thủ tục phiền hà trong việc chuyển và tiếp nhậnkiếu hồi
- Hướng việc chuyển kiếu hồi vào đầu tư tăng trưởng bằng các chính sách ưuđãi đầu tư Khuyến khích tiết kiệm tiêu dùng, gửi tiền tiết kiệm mua cổ phiếu, kỳphiếu, thành lập doanh nghiệp góp vốn liên doanh với các đơn vị trong nước
- Nâng cao mức chịu thuế lên, đồng thời với việc cho miễn thuế đối với kiều hốichuyển chính thức qua các tổ chức được nhà nước qui định, vì kiều bào gửi về chothân nhân trong nước thường là những người nghèo còn những người giàu đượcnhập tiền qua con đường hợp tác đầu tư
- Cần có những chính sách phù hợp, đơn giản hoá thủ tục hành chính, tạo điềukiện thuận lợi nhất để có thể thu hết nguồn chất xám quý báu của Việt kiều ở nước
Trang 11ngoài có cơ hội đóng góp, xây dựng đất nước như thủ tục vi sa, tạo điều kiện đi lạithuận lợi, tạo sự hợp tác và đặc biệt là thể hiện sự tin cậy của họ
3.2.4 Những biện pháp thu hút vốn nước ngoài.
Việc thu hút các luồng vốn đầu tư nước ngoài vào sẽ có tác dụng làm tăng sảnlượng và việc làm, nhưng cũng sẽ làm tăng thiếu hụt cán cân vãng lai do tăng nhậpkhẩu và tăng các khoản trả lợi nhuận và lãi vay cho nước ngoài
Do đó vấn đề quan trọng ở đây là phải nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư Cụ thể là đầu tư phải hướng tới mục tiêu nâng cao được năng lực sản xuất, nângcao được khả năng cạnh tranh của hàng hoá và đặc biệt phải đẩy mạnh được xuấtkhẩu.Trong chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần thay đổi từ xu hướngthay thế hàng nhập khẩu sang định hướng ưu tiên sản xuất hàng xuất khẩu để khaithác hết các lợi thế so sánh của Việt Nam và đẩy mạnh được sản xuất
A Những biện pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (cũng như viện trợ nước ngoài) về cơ bản được coi
là một cách lấp đi những thiếu hụt giữa nguồn tiết kiệm, ngoại hối, thu nhập củachính phủ, kỹ năng quản lý sẵn có trong nước và mức độ mong muốn về nguồn lựccần thiết này để đạt được mục tiêu phát triển và tăng trưởng
Để phân tích vai trò cảu đầu tư nước ngoài (cả FDI và ODA) trong việc lấp lỗhổng giữa đầu tư và tiết kiệm, chúng ta có thể sử dụng mô hình của Harrod-Domarcho rằng quan hệ thuận giữa tốc độ tăng trưởng tiền tiết kiệm (s) và tăng trưởngsản lượng (g) qua phương trình g=s/k, trong đó k là tỷ lệ giữa vốn và sản lượngquốc dân Nếu tốc độ tăng trưởng sản lượng quốc dân mong muốn (g) được đặt ởmức 7% và tỷ lệ vốn/sản lượng là 3, thì tỷ lệ tiết kiệm cần có là 21% Nếu chỉ cóthể huy động tiền tiết kiệm trong nước được chẳng hạn là 16%, thì một khoảngthiếu hụt tiết kiệm bằng 5% Để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế như mục tiêu
đã đề ra thì quốc gia này cần phải thu hút nguồn lực tài chính nước ngoài Như vậy,một đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với phát triển quốc gia (về mặt
Trang 12tốc độ tăng trưởng GDP) là vai trò của nó trong việc bù đắp khoảng thiếu hụtnguồn lực giữa đầu tư đạt mục tiêu và tiền tiết kiệm huy động trong nước.
Đóng góp thứ hai của vốn đầu tư nước ngoài là sự đóng góp của nó vào việc bùđắp sự thiếu hụt giữa nhu cầu ngoại hối cần có và các khoảnthu từ xuất khẩu cộngvới khoản viện trợ nước ngoài thực có Đây là cái được gọi là thiếu hụt mậu dịchhay ngoại hối Dòng vào của đầu tư trực tiếp nước ngoài không những có thể xóa
bỏ một phần hay toàn bộ thiếu hụt theo thời gian nếu đâù tư trực tiếp nước ngoàitạo ra nguồn thu nhập ngoại tệ thực Nhưng đáng tiếc, trong trường hợp đầu tưtrựctiếp nước ngoài nhằm sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, tác động toàn bộ củaviệc cho phép thành lập các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đằng sau bứctường thuế quan và hạn ngạch bảo hộ thường làm tồi tệ hơn cả số dư tài khoảnvãng lai lẫn tài khoản vốn Những thiếu hụt đó thường gây ra bởi cả việc nhậpkhẩu thiết bị sản xuất và sản phẩm trung gian và việc chuyển ngoại tệ ra nướcngoài dưới hình thức chuyển lợi nhuận, phí quản lý, thanh toán tiền bản quyềnsáng chế và tiền gốc và lãi đối với các khoản vay tư nhân
Khoản thiếu hụt thứ ba được bù đắp bởi đầu tư nước ngoài là khoảng trống giữathu nhập từ thuế theo dự định và số thuế thu được trong nước Bằng việc đánh thuếđối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chính phủ có nhiều khả năng hơntrong việc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển
Thứ tư là khoảng trống trong quản lý, cách làm ăn, công nghệ và kỹ năng màcác công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong nước có thể bù đắp mộtphần hay toàn bộ Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài không những cung cấpnguồn lực tài chính và các nhà máy mới cho nước sở tại, mà còn cung cấp cácnguồn lực cần thiết bao gồm cả kinh nghiệm quản lý, khả năng kinh doanh và kỹnăng công nghệ, có thể chuyển giao cho các đối tác trong nước thông qua cácchương trình đào tạo
Trang 13Kể từ năm 1997, luồng vốn FDI vào Việt Nam đã giảm đáng kể do nhiềunguyên nhân : Đặc biệt là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu
Á, mức độ cạnh tranh căng thẳng giữa những nước trong khu vực trong việc tìm
kiếm đầu tư nước ngoài và những bất cập trong môi trường đầu tư ở Việt Nam
Bảng 1 : Cam kết FDI và giải ngân thực tế ở Việt Nam, 1991-2000
Triệu USD
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Tổng số cam kết
Giải ngân
1275 9
2207 50
2589 240
3746 516
6607 1318
8640 778
4649 1146
3897 875
1567 641
1600 600 Nguồn: vneconomy.com.vn
Sau đây là những giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài :
1.Cải thiện môi trường đầu tư
Việc cải thiện môi trường đầu tư đang đặt ra cho nhà nước nhiều vấn đề cầnnghiên cứu, để chúng ta tranh thủ nhiều vốn đầu tư hơn, nâng cao hơn nữa chấtlượng và hiệu quả đầu tư
Trước hết, để cải thiện môi trường đầu tư, cần phải ổn định các nhân tố kinh tế
vĩ mô nhằm tạo nền tảng thuận lợi cho đầu tư Đó là tăng trưởng kinh tế cao và bềnvững Điều này đạt được khi :
+ Khống chế lạm phát ở mức độ lành mạnh Lý luận và thực tiễn cho thấy duytrì lạm phát ở mức một con số sẽ có tác dụng lành mạnh hoá các hoạt động kinh tế
kể cả thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài Hiện nay, nước ta đang phải đốimặt với nguy cơ thiểu phát - một tình trạng làm trì trệ nền kinh tế Để đạt đượcmục tiêu trên, nhà nước cần quản lý tốt các khoản thu chi ngân sách tiền tệ nhằmmục tiêu ổn định vĩ mô và hướng tới tăng trưởng, phát huy vai trò điều hoà cungcầu, bình ổn giá cả của các quỹ dự trữ
+ Xây dựng một cơ cấu hạ tầng tốt Cơ sở hạ tầng là yếu tố vĩ mô vô cùng quantrọng tạo nên môi trường đầu tư Nó có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư nóiriêng và kinh tế nói chung Hiện trạng cơ sở hạ tầng của nước ta rất yếu Đã đến
Trang 14lúc cần phải xúc tiến nhanh các chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng với nhiềunguồn vốn và phương thức khác nhau, chú trọng những địa bàn có khả năng thuvốn nước ngoài.
Ngoài ra để cải thiện môi trường đầu tư, cần phải cải thiện những chính sáchkinh tế xã hội có liên quan đến đầu tư nước ngoài Những việc cần làm để thựchiện mục tiêu này gồm :
+ Xây dựng một bộ luật đầu tư có tính chất khuyến khích đầu tư nước ngoài
Bộ luật đầu tư nước ngoài được quốc hội thông qua tháng 11/1996 có nhiều quiđịnh cởi mở hơn, có sức hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài đồng thời
có những điều khoản quy định chặt chẽ hơn nhằm tránh những sơ hở trong quản lýnhà nước về lĩnh vực này Tuy nhiên, nhà nước cần khẩn trương soạn thảo và banhành một số công cụ và đạo luật như: qui định phân công quản lý nhà nước sau khi
có giấy phép đầu tư, luật chống độc quyền, luật liên quan đến hoạt động của thịtrường chứng khoán, luật về kinh doanh khoáng sản
+ Cải cách các thủ tục hành chính :
Nên áp dụng thực hiện chế độ “ một cửa” trong khâu thẩm định và xét duyệt dự
án, phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn giữa trung ương và địa phương trongviệc thẩm định phê duyệt và quản lý dự án, có những quy định rõ ràng về bảo vệmôi trường, chế độ thuê mướn sử dụng lao động và an toàn trong sản xuất kinhdoanh , chuẩn bị cho Việt Nam các điều kiện cần thiết từ khâu nghiên cứu tiền khảthi, bố trí cán bộ cho đến khâu đàm phán, ký kết hợp đồng để khỏi bị yếu thế trongquá trình thương lượng
+ Cải tiến công tác thẩm định dự án :
Cần xác định rõ hai cấp thẩm quyền: chủ đầu tư và cơ quan cấp giấy phép đầu
tư, đưa ra các quy hoạch cụ thể từng vùng, các chỉ dẫn cụ thể về định mức, tiêuchuẩn, chi phí từng loại, môi trường, đào tạo chuyên gia thẩm định am hiểu kinh
tế và công nghệ của từng loại dự án
Trang 15Cải thiện môi trường đầu tư còn đòi hỏi có quy hoạch đầu tư, cân đối hợp lý sựphân bố đầu tư giữa các ngành, các vùng và địa phương trong cơ cấu kinh tế, cảithiện năng lực của đối tác Việt Nam đối với dầu tư nước ngoài.
2 Khắc phục tiêu cực, phát huy tích cực trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Quản lý chặt chẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua pháp luật
Các công ty nước ngoài khi được phép vào Việt Nam, trở thành pháp nhân ViệtNam có nghĩa là chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, chịu sự kiểm tra, kiểmsoát của nhà nước Việt Nam Sự điều chỉnh của pháp luật thể hiện ở chỗ: họ đượclàm gì và không được làm gì? được làm bao nhiêu và ở đâu? xuất nhập khẩu rasao? Khi chúng ta đề ra pháp luật, chính sách đúng đắn, chúng ta sẽ hạn chế đượctác động tiêu cực của FDI
- Quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua pháp luật quốc tế
Trong hợp tác kinh tế với nước ngoài, pháp luật và chính sách của nước takhông những thể hiện đường lối của Đảng, không những xuất phát từ thực tế nước
ta mà còn phù hợp với quy định trong thông lệ quốc tế Đây là đòi hỏi tất yếu củakinh tế thế giới ngày nay
3 Hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Xác định rõ vai trò và chức năng quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài (nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản phápluật liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam), hướng dẫnbên nước ngoài và bên Việt Nam trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng; làmđầu mối giải quyết những vấn đề do tổ chức và cá nhân nước ngoài yêu cầu; theodõi, kiểm tra việc triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Hoàn thiện quy trình hoạt động xúc tiến đầu tư
- Hoàn thiện quy trình hoạt động của cơ quan xúc tiến đầu tư nước ngoài củaViệt Nam, sắp xếp quản lý chặt chẽ các công ty tư vấn trong nước và các công ty
Trang 16nước ngoài ở Việt Nam, phát triển mối quan hệ cá nhân giữa các chuyên viên, cán
bộ Việt Nam với người nước ngoài
- Hoàn thiện quy trình thẩm định và cấp giấy phép đầu tư
Nhà nước cần thiết kế lại quy trình thẩm định dự án theo cơ chế thị trường.Nhà nước chỉ nên quy định hành lang mà trong đó, các xí nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài có thể hoạt động Hành lang này gồm các sắc thuế, quy địnhchế độ kế toán thống kê, chuyển đổi ngoại tệ, quy định thuê mướn lao động
- Hoàn thiện quy trình quản lý các xí nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.Các xí nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt nam có quyền tự chủsản xuất kinh doanh Các cơ quan nhà nước chỉ được thực hiện chức năng quản lýcủa mình thông qua việc theo dõi hoạt động và giải quyết kịp thời các kiến nghịcủa xí nghiệp; xử lý các tranh chấp nảy sinh trong hoạt động của xí nghiệp Các
Bộ, UBND các tỉnh phối hợp với các cơ quan nhà nước về đầu tư trực tiếp nướcngoài trong việc thanh tra hoạt động của xí nghiệp nhằm đảm bảo việc chấp hànhnghiêm pháp luật Nghiêm cấm mọi hoạt động điều tra trái pháp luật, tuỳ tiện, gâyphiền hà cho hoạt động của xí nghiệp
- Đào tạo mới, đào tạo lại đội ngũ cán bộ tham gia vào hoạt động đầu tư trựctiếp nước ngoài ở Việt Nam
Hiện nay, đội ngũ cán bộ tham gia vào hoạt động đầu tư còn tồn tại một tỷ lệcao những người không nắm vững pháp luật, thiếu sự nhạy cảm trong kinh doanh,thiếu trình độ giao tiếp và non yếu về ngoại ngữ Nhà nước cần phải mở các khoángắn hạn và dài hạn để đào tạo lại cán bộ hiện đang hoạt động trong lĩnh vực đầu
tư trực tiếp nước ngoài đồng thời đội ngũ cán bộ trẻ trong các trường đại học
B Những biện pháp thu hút vốn ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại,viện trợ có hoàn lại, tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ,các tổ chức tài chính quốc tế dành cho những nước đang và chậm phát triển