DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BCBS : Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng Basel committee on banking supervision BIDV : Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam CTTC : Cho thuê t
Trang 1VƯƠNG HOÀNG ĐỨC
NỢ XẤU TẠI CÁC CÔNG TY CHO THUÊ
TÀI CHÍNH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2VƯƠNG HOÀNG ĐỨC
NỢ XẤU TẠI CÁC CÔNG TY CHO THUÊ
TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM TỐ NGA
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Vương Hoàng Đức, tác giả của luận văn tốt nghiệp “ Nợ xấu tại các công ty cho thuê tài chính Việt Nam”
Tôi xin cam đoan nội dung của luận văn là kết quả nghiên cứu của cá nhân dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Tố Nga Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên cứu khác
Người cam đoan
Vương Hoàng Đức
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu, sơ đồ
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 5
1.1 Tổng quan về cho thuê tài chính 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Đặc điểm 6
1.1.3 Các chủ thể tham gia trong giao dịch cho thuê tài chính 7
1.1.3.1 Bên cho thuê 7
1.1.3.2 Bên thuê 8
1.1.3.3 Nhà cung cấp 8
1.1.3.4 Các chủ thể khác 8
1.1.4 Tài sản cho thuê tài chính 8
1.1.5 Các hình thức cho thuê tài chính 9
Trang 51.1.5.1 Cho thuê tài chính hai bên 9
1.1.5.2 Cho thuê tài chính ba bên 9
1.1.5.3 Mua và cho thuê lại 9
1.1.5.4 Cho thuê hợp tác 9
1.1.5.5 Cho thuê giáp lưng 10
1.1.6 Vai trò của cho thuê tài chính 10
1.1.6.1 Đối với bên thuê 10
1.1.6.2 Đối với công ty cho thuê tài chính 11
1.1.6.3 Đối với nền kinh tế 11
1.1.7 Các rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính 11
1.2 Tổng quan về nợ xấu 13
1.2.1 Khái niệm nợ xấu 13
1.2.2 Tác động của nợ xấu cho thuê tài chính 15
1.2.2.1 Đối với công ty cho thuê tài chính 15
1.2.2.2 Đối với bên thuê 16
1.2.2.3 Đối với nền kinh tế và các chủ thể khác 16
1.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại công ty cho thuê tài chính 16
1.2.3.1 Nhóm yếu tố từ phía khách hàng thuê 16
1.2.3.2 Nhóm yếu tố từ phía công ty cho thuê tài chính 18
1.2.3.3 Nhóm yếu tố khác 19
1.3 Các công trình nghiên cứu trước đây 20
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá nợ xấu tại Công ty cho thuê tài chính 22
Kết luận chương 1 24
Trang 6CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI CÁC CÔNG TY CHO THUÊ
TÀI CHÍNH VIỆT NAM 25
2.1 Thực trạng cho thuê tài chính tại Việt Nam 25
2.1.1 Sản phẩm của công ty cho thuê tài chính 25
2.1.2 Tình hình chung về cho thuê tài chính 25
2.1.3 Cơ cấu dư nợ cho thuê tài chính tại Việt Nam 29
2.1.3.1 Theo thành phần kinh tế 29
2.1.3.2 Theo loại tài sản thuê 30
2.2 Thực trạng nợ xấu cho thuê tài chính tại Việt Nam 32
2.2.1 Tình hình chung về nợ xấu cho thuê tài chính 32
2.2.2 Cơ cấu nợ xấu tại các công ty cho thuê tài chính Việt Nam 34
2.2.2.1 Theo công ty cho thuê tài chính 34
2.2.2.2 Theo loại tài sản thuê 35
2.2.2.3 Theo nhóm nợ 37
2.3 Đánh giá thực trạng cho thuê tài chính 38
2.3.1 Một số thành tựu 38
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 40
2.3.3.1 Hạn chế 40
2.3.3.2 Nguyên nhân 41
Kết luận chương 2 43
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HỒI QUY BINARY LOGISTIC TRONG PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH VIỆT NAM 44
3.1 Lược khảo một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu 44
Trang 73.1.1 Các yếu tố vĩ mô 44
3.1.2 Các yếu tố vi mô 44
3.2 Ứng dụng mô hình hồi quy Binary Logistic trong phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các công ty cho thuê tài chính Việt Nam 45
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 45
3.2.2 Thiết kế nghiên cứu 47
3.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu 47
3.2.2.2 Quy trình nghiên cứu 48
3.2.3 Xây dựng bảng câu hỏi 49
3.2.4 Mẫu nghiên cứu 49
3.3 Kết quả mô hình nghiên cứu 49
3.3.1 Phân tích thông tin cơ bản về khách hàng qua mẫu khảo sát 49
3.3.2 Phân tích hồi quy Binary Logistic 54
3.3.2.1 Kiểm định mô hình 54
3.3.2.2 Kết quả mô hình 56
Kết luận chương 3 60
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI CÁC CÔNGTY CHO THUÊ TÀI CHÍNH VIỆT NAM 61
4.1 Định hướng của Chính phủ về quản lý nợ xấu tại các công ty cho thuê tài chính Việt Nam 61
4.2 Một số giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu tại các công ty cho thuê tài chính Việt Nam 62
4.2.1 Nhóm yếu tố từ phía công ty cho thuê tài chính 62
4.2.2 Nhóm yếu tố từ phía khách hàng thuê 64
4.2.3 Nhóm yếu tố khác 66
Trang 84.2.4 Một số giải pháp khác 66
4.3 Một số kiến nghị nhằm hạn chế nợ xấu tại các công ty cho thuê tài chính Việt Nam 69
4.3.1 Đối với Chính Phủ 69
4.3.2 Đối với Ngân hàng nhà nước 70
4.3.3 Đối với Hiệp hội cho thuê tài chính Việt Nam 72
4.3.4 Đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền 72
Kết luận chương 4 73
KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCBS : Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel committee on banking
supervision) BIDV : Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam CTTC : Cho thuê tài chính
CIC : Trung tâm thông tin tín dụng
CTCK : Công ty chứng khoán
DATC : Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng doanh nghiệp
DN : Doanh nghiệp
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
IMF : Quỹ tiền tệ thế giới
M&A : (Mergers and Acquisitions) Mua bán và sáp nhập
MTV : Một thành viên
NH : Ngân hàng
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng nhà nước
ROE : Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
ROA : Tỷ suất sinh lời trên tài sản
SPSS : (Statistical Pakage for Social Sciences) Phần mềm xử lý thống kê
dùng trong các ngành khoa học xã hội TCTD : Tổ chức tín dụng
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
VAMC : Công ty quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng
VCCI : Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
WTO : (Word Trade Organization) Tổ chức thương mại thế giới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 : So sánh về khái niệm nợ xấu của các tổ chức, quốc gia 15
Bảng 2.1 : Danh sách các công ty CTTC Việt Nam tính đến 31/12/2012 26
Bảng 2.2 : Tỷ trọng dư nợ CTTC so với tổng dư nợ tín dụng 27
Bảng 2.3 : Huy động vốn tại các công ty CTTC Việt Nam 27
Bảng 2.4 : Dư nợ CTTC 28
Bảng 2.5 : Cơ cấu dư nợ CTTC theo thành phần kinh tế của khách hàng 29
Bảng 2.6 : Cơ cấu dư nợ CTTC theo loại tài sản thuê 30
Bảng 2.7 : Nợ xấu tại Công ty CTTC Việt Nam 32
Bảng 2.8 : Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu tại công ty CTTC Việt Nam 34
Bảng 2.9 : Cơ cấu nợ xấu CTTC theo loại tài sản thuê 36
Bảng 2.10 : Cơ cấu nợ xấu CTTC theo nhóm nợ 37
Bảng 3.1 : Những yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu 48
Bảng 3.2 : Thông tin khảo sát về các biến độc lập 50
Bảng 3.3 : Omnibus Tests of Model Coefficient 54
Bảng 3.4 : Model Summary 55
Bảng 3.5 : Mức độ chính xác của dự đoán (Classification Tablea) 55
Bảng 3.6 : Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu (Variables in the Equation) 56
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Tỷ trọng huy động vốn tại các Công ty CTTC Việt Nam 27
Biểu đồ 2.2 : Tỷ trọng dư nợ CTTC theo thành phần kinh tế của khách hàng 29
Biểu đồ 2.3 : Tỷ trọng dư nợ CTTC theo loại tài sản thuê 31
Biểu đồ 2.4 : Tỷ trọng nợ xấu CTTC theo loại tài sản thuê 35
Sơ đồ 3.1 : Sơ đồ quy trình nghiên cứu 48
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thị trường CTTC ở Việt Nam còn khá mới mẻ so với thế giới nhưng được các doanh nghiệp đón nhận rất cao, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ Ở Việt Nam, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm gần 97% tổng số doanh nghiệp(VCCI, 2011) CTTC là kênh tín dụng trung và dài hạn, rất phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ vì CTTC không cần tài sản thế chấp Do vậy, đây là thị trường đầy tiềm năng cho các công ty CTTC phát triển
Do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, suy thoái kinh
tế năm 2009, lạm phát 2010 kéo dài cho đến nay làm cho nền kinh tế trong nước vẫn còn nhiều khó khăn Để kiềm chế lạm phát, chính phủ đã thực hiện các chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm đầu tư công…làm cho nguồn vốn của doanh nghiệp bị khan hiếm, nền sản xuất trong nước bị trì trệ, hàng tồn kho nhiều Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị suy giảm đáng kể, thua lỗ, khả năng trả nợ của các doanh nghiệp suy giảm làm cho nguy cơ nợ xấu tại các công ty CTTC tăng cao
Tính đến cuối năm 2012, tỷ lệ nợ xấu tại các Công ty CTTC chiếm gần 50% tổng dư nợ (Uỷ ban giám sát quốc gia, 2012) Đó là vấn đề được nhiều người quan tâm vì nó ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việc đánh giá thực trạng nợ xấu và tìm ra nguyên nhân, cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các Công ty CTTC để từ đó có giải pháp hạn chế nợ xấu là đề tài rất hấp dẫn, thu hút nhiều người dưới nhiều góc độ khác nhau
Chính vì thế, tác giả chọn đề tài “Nợ xấu tại các công ty CTTC Việt Nam”
để làm luận văn tốt nghiệp
Trang 132 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Luận văn sẽ làm rõ 4 mục tiêu :
Tìm hiểu cơ sở lý luận về nợ xấu CTTC
Đánh giá thực trạng nợ xấu tại các công ty CTTC Việt Nam trong thời gian qua
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các công ty CTTC Việt Nam
Trên cơ sở phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu từ đó
đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu tại các công ty CTTC Việt Nam trong thời thời gian tới
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nợ xấu tại các công ty CTTC Việt Nam
Trang 14ngày 25/11/2011 chỉ còn 8 công ty do công ty CTTC BIDV và Công ty CTTC 2 BIDV sáp nhập thành Công ty CTTC TNHH MTV BIDV)
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp và khảo sát Nghiên cứu này gồm 2 bước chính là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp định tính, dựa vào cơ sở
lý thuyết và tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực CTTC về các thang đo dùng để đo lường nợ xấu Từ đó hiệu chỉnh các thang đo để đưa ra bảng câu hỏi chính thức dùng cho nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp hoặc qua email Nghiên cứu này nhằm xác định mức độ quan trọng của các yếu tố và được kiểm định bằng mô hình hồi quy Binary Logistic Kết quả nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
4.2 Phương pháp thu thập thông tin:
Thông tin thứ cấp: các báo cáo của Hiệp hội CTTC Việt Nam, tạp chí, trên mạng internet…
Thông tin sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp hoặc qua email các doanh nghiệp có thuê tài chính tại các công ty CTTC TPHCM
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả của việc nghiên cứu đề tài đã đóng góp về mặt khoa học, thực tiễn như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nợ xấu
- Đánh giá thực trạng hoạt động CTTC Việt Nam, tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến nợ xấu tại các công ty CTTC trong thời gian qua
- Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các công ty CTTC Việt Nam, kết quả phân tích đã chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến nợ
Trang 15xấu trong thời gian qua Từ đó giúp cho các công ty CTTC cần xem xét kỹ lưỡng trong việc ra quyết định CTTC đối với một dự án nhằm hạn chế rủi ro xảy ra nợ xấu
6 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, sơ đồ và phụ lục thì nội dung của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về nợ xấu tại Công ty CTTC
Chương 2: Thực trạng nợ xấu tại các công ty CTTC Việt Nam
Chương 3: Ứng dụng mô hình hồi quy Binary Logistic trong phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các công ty CTTC Việt Nam
Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế nợ xấu tại các công ty CTTC Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm
Khi đề cập đến hoạt động CTTC, mỗi tổ chức, quốc gia đều đưa ra những định nghĩa theo cách tiếp cận của mình:
Theo định nghĩa của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 17): CTTC
là loại cho thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê
Theo tiêu chuẩn kế toán Mỹ: CTTC là một giao dịch thuê tài sản thoả mãn
một trong các yếu tố sau:
Thời hạn thuê lớn hơn 75% thời gian hữu dụng của tài sản
Hợp đồng thuê chứa điều khoản thỏa thuận cho phép bên thuê được quyền mua tài sản với giá thấp hơn so với giá trị thực của tài sản
Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao cho bên thuê vào cuối kỳ hạn thuê
Giá trị của hợp đồng thuê lớn hơn 90% tổng giá trị của tài sản thuê
Pháp luật Việt Nam quy định tại Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày
16/06/2010: Hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn
trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau đây:
Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên;
Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại;
Trang 17Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó;
Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
Thông qua các định nghĩa được nêu trên, có thể thấy sự khác biệt nhất định trong quy định về CTTC giữa các quốc gia và tổ chức Theo IAS 17, định nghĩa CTTC chưa quy định rõ những nội dung sau: chủ thể lựa chọn mua tài sản, tính không hủy ngang của hợp đồng, thời hạn thuê so với thời gian hữu dụng của tài sản, giá mua lại tài sản so với giá trị thực của tài sản Còn theo tiêu chuẩn kế toán Mỹ, định nghĩa CTTC đã bổ sung thêm một số nội dung so với ISA 17 nhưng chưa quy định về tính không hủy ngang hợp đồng CTTC
- Theo quy định pháp luật Việt Nam, giao dịch CTTC quy định đầy đủ nội dung hơn so với IAS 17, nhưng tài sản cho thuê chỉ là động sản
Căn cứ vào các khái niệm nêu trên, để nhận biết một giao dịch thuê tài sản thuộc thuê tài chính hay cho thuê thông thường thì giao dịch CTTC đó phải thỏa mãn một trong những điều kiện sau:
Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền
sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên;
Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;
Thời hạn cho thuê một loại tài sản lớn hơn 75% thời gian hữu dụng tài sản Đối với Việt Nam, thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê;
Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng CTTC, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
1.1.2 Đặc điểm
Từ những khái niệm trên, CTTC có những đặc điểm như sau:
CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn;
Trang 18Bên cho thuê là các Công ty CTTC thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
Bên thuê là các cá nhân, tổ chức thuộc nhiều thành phần kinh tế
Đối tượng cho thuê là các tài sản phục vụ cho nhu cầu của bên thuê mà không bị pháp luật nghiêm cấm Riêng Việt Nam, đối tượng cho thuê là các động sản
Là hợp đồng không hủy ngang khi các bên chưa thực hiện hay thực hiện chưa hết nghĩa vụ của mình theo quy định tại Hợp đồng CTTC
Bên cho thuê cam kết mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê
Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê
đã được hai bên thoả thuận
Kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê có thể xin thuê tiếp tục hoặc thanh lý hợp đồng cho thuê, chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên thuê theo giá chọn mua đã thỏa thuận
1.1.3 Các chủ thể tham gia trong giao dịch cho thuê tài chính
Chủ thể tham gia trong giao dịch CTTC có thể bao gồm bên cho thuê, bên thuê, nhà cung cấp và một số chủ thể khác Trong đó bên cho thuê và bên thuê là những chủ thể chính
1.3.1.1 Bên cho thuê
Bên cho thuê là các Công ty CTTC dùng vốn của mình mua các tài sản, thiết
bị để xác lập quyền sở hữu của mình đối với các tài sản, thiết bị đó rồi đem cho thuê
để người thuê sử dụng trong một thời gian nhất định
Hiện nay các công ty CTTC có thể được phân thành ba loại dựa trên mô hình kinh doanh bao gồm: công ty độc lập (independents), công ty phụ thuộc (captives)
và công ty môi giới (brokers)
Các công ty CTTC độc lập hoạt động độc lập với các nhà cung cấp và chiếm
phần lớn thị trường thuê tài chính Công ty CTTC chỉ thực hiện việc mua máy móc thiết bị từ nhà cung cấp do bên thuê chọn và cho bên thuê thuê
Trang 19Công ty cho thuê phụ thuộc là các công ty do các nhà cung cấp lập ra để tài
trợ cho sản phẩm của chính họ Về bản chất, “ CTTC phụ thuộc” có thể coi là một phương thức xúc tiến bán hàng thông qua việc cung cấp cho khách hàng một phương thức tài trợ
Công ty CTTC môi giới thường đóng vai trò trung gian trong quá trình thuê
mua thông qua việc tìm kiếm và kết nối bên thuê, nhà cung cấp với các công ty CTTC thực thụ
1.3.1.2 Bên thuê
Bên thuê là các tổ chức, cá nhân gồm các loại hình doanh nghiệp, các công
ty, xí nghiệp tổ chức kinh tế và cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu sử dụng tài sản, thiết bị Bên thuê là người có nhu cầu tài trợ dưới hình thức thuê tài chính
1.3.1.3 Nhà cung cấp
Nhà cung cấp là các công ty, các hãng sản xuất hoặc kinh doanh những tài sản và thiết bị mà bên thuê cần để sử dụng Nhà cung cấp thực hiện việc chuyển giao, lắp đặt tài sản, thiết bị theo hợp đồng mua bán, hướng dẫn kỹ thuật cho công nhân vận hành, bảo trì, bảo dưỡng tài sản, thiết bị
1.3.1.4 Các chủ thể khác
Bên cho vay: các ngân hàng hay tổ chức tài chính, tín dụng khác cho bên cho
thuê vay vốn hay bảo lãnh để mua thiết bị từ nhà cung cấp
Công ty bảo hiểm: có vai trò cung cấp bảo hiểm tài sản nhằm hạn chế rủi ro
tài sản trong quá trình cho thuê
1.1.4 Tài sản cho thuê tài chính
Tài sản CTTC là những tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu của bên thuê mà không bị pháp luật nghiêm cấm
Xét về mặt pháp lý, bên cho thuê là chủ sở hữu của tài sản cho thuê tại mọi thời điểm khi bên thuê chưa mua tài sản hay bên cho thuê chưa giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê Do đó, bên thuê chỉ được quyền sử dụng tài sản mà không có các quyền như bán, thế chấp hoặc cầm cố hoặc chuyển nhượng cho người khác
Trang 20Trong trường hợp bên thuê muốn thay đổi hình dáng, địa điểm lắp đặt hoặc vận hành tài sản phải được sự đồng ý của bên cho thuê
Xét về mặt kinh tế, mặc dù bên cho thuê là chủ sở hữu về mặt pháp lý nhưng
họ không trực tiếp sử dụng tài sản, quyền lợi này giao cho bên thuê Đây chính là sở hữu về mặt kinh tế Bên thuê đứng ra khai thác tính hữu ích của tài sản và cam kết gánh chịu mọi rủi ro liên quan đến tài sản thuê Do đó, bên thuê phải chịu chi phí mua bảo hiểm, bảo trì tài sản trong suốt thời gian thuê
1.1.5 Các hình thức cho thuê tài chính
1.1.5.1 Cho thuê tài chính hai bên: Bên cho thuê sử dụng tài sản sẵn có để
thực hiện nghiệp vụ CTTC Đây là phương thức bán hàng của nhà sản xuất thông qua hình thức tài trợ Chủ thể tham gia giao dịch cho thuê dưới hình thức này gồm bên cho thuê và bên thuê
1.1.5.2 Cho thuê tài chính ba bên: Đây là hình thức cho thuê cổ điển
(CTTC thuần – net lease) và được áp dụng phổ biến Với hình thức này, chủ thể tham gia vào giao dịch CTTC là bên thuê, bên cho thuê và bên cung cấp tài sản Bên cho thuê sẽ thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và đã được hai bên thoả thuận theo hợp đồng
1.1.5.3 Mua và cho thuê lại: Đây là một dạng đặc biệt của CTTC hai bên vì
tham gia giao dịch CTTC dưới hình thức này chỉ có 2 bên: Bên bán đồng thời là bên thuê tài chính và Công ty CTTC
Hình thức này thường được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp phát sinh nhu cầu về vốn lưu động thì có thể bán lại tài sản của mình cho công ty CTTC
và thuê tài chính lại tài sản đó Như vậy doanh nghiệp vừa có vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà vẫn được sử dụng tài sản
1.1.5.4 Cho thuê hợp tác: nhằm giải quyết được nhu cầu thuê tài chính
vượt quá giới hạn CTTC hoặc quá khả năng nguồn vốn của Công ty CTTC hoặc các Công ty CTTC muốn phân tán rủi ro Giao dịch CTTC này có sự tham gia của bên thứ tư- bên cho vay gồm một hay nhiều ngân hàng hay nhà tài chính cho bên cho thuê vay vốn mua thiết bị cho thuê Mối quan hệ giao dịch giữa bên cho thuê, bên
Trang 21thuê và bên cung cấp giống như hình thức CTTC cơ bản Riêng bên cho thuê phải
ký thêm hợp đồng tín dụng với bên cho vay và thanh toán tiền vay Hình thức này thường sử dụng cho thuê đối với các tài sản có giá trị lớn như máy bay, tàu thủy…
1.1.5.5 Cho thuê giáp lưng: Là hình thức CTTC mà thông qua sự đồng ý
của bên cho thuê, bên thuê thứ nhất cho bên thuê thứ hai thuê lại tài sản mà trước đó
họ đã thuê Người thuê thứ nhất mặc dù không chịu những rủi ro liên quan trực tiếp đến tài sản thuê bởi đã chuyển giao cho người thứ hai nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm như là một người thuê thật sự theo những điều khoản đã quy định trong hợp đồng Ở đây, vai trò của người thuê thứ nhất vừa là người thuê tài sản vừa là người cho thuê
Mỗi hình thức CTTC đều có những đặc điểm, ưu và nhược riêng Tùy thuộc vào nhu cầu, điều liện mà các chủ thể xác định hình thức cho thuê phù hợp
1.1.6 Vai trò của cho thuê tài chính
Hoạt động CTTC không những mang lại lợi ích cho các chủ thể có liên quan mà còn mang lại lợi ích rất lớn cho nền kinh tế quốc gia
1.1.6.1 Đối với bên thuê
Bên thuê dễ dàng tiếp cận nguồn vốn CTTC do bản chất của CTTC là không đòi hỏi tài sản thế chấp Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập
Mặc dù CTTC không trực tiếp chuyển vốn cho doanh nghiệp nhưng thông qua hình thức CTTC có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt lượng tiền cần thiết để khởi
sự hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh khi đầu tư máy móc thiết bị
Bên thuê hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn tài sản thuê, nhà cung cấp Trong trường hợp doanh nghiệp đã đầu tư tài sản cố định nhưng phát sinh nhu cầu vốn lưu động thì doanh nghiệp có thể bán và thuê lại tài sản đó Như vậy, doanh nghiệp vừa có vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà vừa có tài sản
sử dụng
CTTC giúp cho doanh nghiệp hạn chế sự lạc hậu, bắt kịp tốc độ phát triển của khoa học công nghệ, từ đó nâng cao năng lực sản xuất, tăng tính cạnh tranh
Trang 22Điều này rất phù hợp cho các doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh phụ thuộc nhiều vào các công nghệ hiện đại
1.1.6.2 Đối với Công ty CTTC
CTTC góp phần mang lại thu nhập cho công ty CTTC, cũng như các hoạt động kinh doanh khác
CTTC giúp đa dạng hóa sản phẩm tín dụng trên thị trường tài chính và phân tán rủi ro trong kinh doanh của công ty CTTC
1.1.6.3 Đối với nền kinh tế
CTTC cung ứng nguồn vốn trung dài hạn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế Trong nền kinh tế, nhu cầu vốn trung dài hạn rất lớn nhưng khả năng đáp ứng của ngân hàng đối với nguồn vốn này bị giới hạn, do nguồn vốn huy động của ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn là nguồn vốn ngắn hạn
CTTC tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận chuyển giao công nghệ hiện đại từ nước ngoài cho sản xuất trong nước
1.1.7 Các rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính
Trong hoạt động CTTC, rủi ro được hiểu là khả năng bên cho thuê không thu hồi đầy đủ nợ của bên thuê Rủi ro cho thuê do bởi nhiều nguyên nhân khác nhau:
từ phía bên thuê, nhà cung ứng, tình hình kinh tế vĩ mô…
Rủi ro từ bên thuê:
Năng lực quản lý điều hành của bên thuê: rủi ro này thường gặp ở các doanh nghiệp mới thành lập, người quản lý thiếu kinh nghiệm trong việc điều hành quản lý doanh nghiệp
Ý thức trả nợ của bên thuê: rủi ro này thường gặp ở các doanh nghiệp nhỏ,
hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể
Rủi ro từ hoạt động kinh doanh và tài chính của bên thuê: điều này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, thâm niên hoạt động, sự đa dạng của sản phẩm đầu ra, tính ổn định của nguồn đầu vào, trình độ và năng lực của nhân viên…
Rủi ro từ nhà cung cấp:
Rủi ro đạo đức từ phía nhà cung cấp: nhà cung cấp có thể phối hợp với bên
Trang 23thuê để nâng giá bán tài sản, gây thiệt hại cho bên cho thuê
Năng lực và quy mô của nhà cung cấp: một số nhà cung cấp nhỏ không đủ năng lực tư vấn, bảo trì tài sản thuê Điều này làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác kinh doanh của bên thuê, cũng như gây thiệt hại về tài sản của bên cho thuê
Rủi ro từ ngành nghề và nền kinh tế vĩ mô: đây là rủi ro có mức ảnh hưởng lớn đến khách hàng thuê, ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số đầu ra, tình hình thu nợ của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng Do đó, trong danh mục đầu tư cho thuê, bên cho thuê cần đánh giá tỷ trọng rủi ro trong ngành nghề khi đầu tư cho thuê nhằm tránh lựa chọn ngành nghề có rủi ro cao Hiện nay, nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn, ảnh hưởng đến tất cả các ngành nghề, đặc biệt là ngành xây dựng và vận tải thủy
Rủi ro từ bên cho thuê:
Rủi ro về đạo đức của cán bộ cho thuê: đây là nguyên nhân làm cho nợ xấu của CTTC tăng cao Đó là sự cố ý làm sai quy định cho thuê, lợi dụng quyền hạn để
tự ý điều chỉnh giá cả tài sản, tăng tỷ lệ tài trợ, đánh giá sai về năng lực của khách hàng thuê, gây thiệt hại lớn cho bên cho thuê
Rủi ro về trình độ năng lực của cán bộ cho thuê trong việc thẩm định khách hàng và tài sản cho thuê bị sai lệch, gây rủi ro cao
Rủi ro về tài sản: ở đây chú ý đến tính thanh khoản của tài sản khi thanh lý
và quản lý kiểm soát tài sản trong quá trình cho thuê Tính thanh khoản của tài sản bao gồm tính phổ biến trong việc sử dụng tài sản, tính khả mại, tính chất công nghệ Hiện nay, tài sản cho thuê tài chính có tính thanh khoản cao là xe ô tô các loại
Ngoài ra còn có các rủi ro khác trong quá trình CTTC: thiên tai, lũ lụt, chiến tranh…
Trang 241.2 TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU
1.2.1 Khái niệm nợ xấu
Trong hoạt động tín dụng, nợ xấu luôn tồn tại và là vấn đề được mọi người quan tâm dưới nhiều gốc độ khác nhau Theo một số tác giả, tổ chức khái niệm nợ xấu như sau:
Trong Hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs) (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản) Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay thay thế”
Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS - Basel Committee on Banking Supervision, 2002) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả (adefault) khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi ví dụ như giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ); (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày BCBS đặc biệt nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai” (expected loss) khi đánh giá một khoản vay Như vậy, dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được
nợ
Trang 25Riêng tại Việt Nam, theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung cho rằng nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn
Tại Thông tư số 02/2013-TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích và phương pháp trích lập dự phòng rủi ro thay thế cho quyết định 493 và quyết định 18, có hiệu lực thi hành từ 01/06/2014 cho rằng nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn nhưng nguyên tắc phân loại nợ chặt chẽ hơn như có sự tham gia của trung tâm thông tin tín dụng (CIC) vào việc phân loại khách hàng theo nhóm nợ của các ngân hàng
Thông tư 02 là sự vận dụng phương pháp đánh giá đồng nhất, việc phân loại
nợ của khách hàng sẽ được áp dụng cho toàn bộ hệ thống ngân hàng Các tổ chức tín dụng sẽ phải phân loại nợ dựa vào các tiêu chí phân loại nợ được đưa ra bởi trung tâm thông tin tín dụng (CIC), NHNN CIC sẽ phân loại nợ cho khách hàng dựa trên chuẩn phân loại nợ cao nhất do các tổ chức tín dụng báo cáo Bên cạnh đó phân loại nợ theo thông tư 02 phải đồng thời theo phương pháp định tính và định lượng Các tổ chức tín dụng phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để xếp hạng khách hàng làm cơ sở cho việc xét duyệt cấp tín dụng
Như vậy khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các NHTM Việt Nam và thông
lệ quốc tế, có thể thấy về mặt định lượng thời gian trả nợ quá hạn từ 91 ngày trong định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thông lệ quốc tế là khá tương đồng Tuy nhiên,
để đánh giá chính xác hơn nợ xấu thì yếu tố định tính xem xét khả năng trả nợ của người vay, đặc biệt không chỉ có dấu hiệu rõ ràng về việc không trả được nợ, mà còn phải xét tới các tổn thất có thể xảy ra trong tương lai là rất quan trọng
Trang 26
Bảng 1.1: So sánh về khái niệm nợ xấu của các tổ chức, quốc gia
Nợ quá hạn từ ngày 91 (Điều 6 Quyết định
Dấu hiệu khoản nợ không thu hồi được và
có khả năng mất vốn ( Điều 7 Quyết định
493) ( Nguồn: Đinh Thị Thanh Vân, 2012 )
1.2.2 Tác động của nợ xấu cho thuê tài chính
Khi nợ xấu xảy ra sẽ ảnh hưởng không những đến các chủ thể liên quan mà còn có khả năng ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến nền kinh tế của quốc gia Cụ thể:
1.2.2.1 Đối với công ty cho thuê tài chính
Khi nợ xấu tăng cao tại Công ty CTTC, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận vì phải trích lập dự phòng rủi ro cao hơn Ngoài ra, công ty CTTC không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho thuê, nhưng lại phải trả vốn, lãi cho khoản tiền đã huy động nên dẫn đến tình trạng mất cân đối thu chi, lợi nhuận
Bên cạnh đó, khi tỷ lệ nợ xấu cao, công ty CTTC gặp khó khăn về thiếu thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, khó thu hút thêm khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ, áp lực huy động vốn là rất nặng nề Đặc biệt là công ty CTTC có niêm yết trên thị trường chứng khoán có tỷ lệ nợ xấu cao sẽ ảnh hưởng đến giá trị tài sản trên thị trường, ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư
Trang 271.2.2.2 Đối với bên thuê
Khi bên thuê có nợ xấu tại công ty CTTC, ngoài việc bên thuê phải chịu gánh nặng trả nợ do bị lãi quá hạn mà bên thuê còn bị tổn thất rất lớn đó là uy tín của đơn
vị bị giảm trong quan hệ tín dụng và công ty CTTC sẽ không cấp tín dụng cho bên thuê nữa Điều này gây khó khăn rất lớn đối với bên thuê khi có nhu cầu đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh
Khi bên thuê có lịch sử nợ xấu tại công ty CTTC, việc bên thuê tiếp cận nguồn vốn từ các TCTD khác là rất khó, bởi lẽ điều kiện đầu tiên mà các TCTD xem xét, quyết định cấp tín dụng cho khách hàng là lịch sử tín dụng của khách hàng
1.2.2.3 Đối với nền kinh tế và các chủ thể khác
TCTD là doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế Công ty CTTC là một loại hình của TCTD Khi nợ xấu tại công ty CTTC phát sinh làm ảnh hưởng dây chuyền đến mọi ngành nghề, mọi hoạt động, mọi chủ thể trong nền kinh tế Theo đó, nợ xấu không những ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của công ty CTTC mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Khả năng khai thác và đáp ứng vốn, khả năng cung ứng các dịch vụ CTTC cho nền kinh tế sẽ bị hạn chế khi nợ xấu phát sinh Mặt khác, nợ xấu phát sinh do khách hàng sản xuất kinh doanh kém hiệu quả
sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế do vốn ứ đọng, sản xuất kinh doanh bị đình trệ
1.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại công ty cho thuê tài chính
Trên cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu và thực tế có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại công ty CTTC
1.2.3.1 Nhóm yếu tố từ phía khách hàng thuê:
Trang 28chính mạnh thì có khả năng chống chịu rủi ro rất tốt Khi doanh nghiệp có năng lực tài chính mạnh, họ đủ sức cầm cự, bù đắp tổn thất và tìm hướng kinh doanh để có thể tiếp tục trụ vững và phát triển Còn nếu năng lực tài chính yếu, khách hàng rất dễ bị tổn thương khi gặp rủi ro và làm ảnh hưởng đến khả năng trả
nợ của khách hàng
Vốn tự có tham gia vào dự án
Vốn tự có tham gia vào dự án thuê tài chính theo yêu cầu của công ty CTTC bao gồm số tiền tham gia trả trước và ký quỹ, ký cược
Lợi nhuận
Các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, có lãi, làm cho tình hình tài chính ngày càng ổn định, quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng nên khả năng trả nợ tốt Còn những doanh nghiệp có tình hình sản xuất kinh doanh không hiệu quả, nguồn thu không đủ bù đắp cho chi phí, thường dẫn đến hậu quả không có khả năng trả nợ, dẫn đến nợ xấu
Kinh nghiệm của người quản lý doanh nghiệp
Những khách hàng có nhiều năm kinh nghiệm trong việc điều hành, quản lý doanh nghiệp sẽ có những phương án xử lý kịp thời trước những tác động từ bên ngoài, làm hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra gây thiệt hại cho đơn vị; tăng tính ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn tài chính lành mạnh, hạn chế khả năng mất thanh khoản và không trả được nợ trở thành nợ xấu
Trình độ học vấn của người quản lý
Những khách hàng thuê có trình độ học vấn càng cao, khả năng tư duy quản
lý càng tốt, hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao Việc điều hành quản lý ngày càng tốt hơn, ứng dụng các khoa học, công nghệ kỹ thuật tiên tiến vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, nâng cao năng suất lao động làm cho hoạt động kinh doanh của đơn vị ngày càng phát triển, giá trị tài sản của doanh nghiệp, hạn chế được rủi ro mất thanh khoản và không trả được nợ
Trang 291.2.3.2 Nhóm yếu tố từ phía công ty cho thuê tài chính
Trong nhóm yếu tố từ phía công ty CTTC, tác giả xem xét các yếu tố như sau:
Số tiền cho thuê
Số tiền cho thuê là số tiền mà công ty CTTC tài trợ cho dự án thuê tài chính Việc định giá khoản cho thuê không theo mức độ rủi ro của khách hàng, sẽ làm giảm thu nhập của công ty CTTC và không khuyến khích khách hàng cân nhắc
kỹ trước khi ra quyết định đầu tư, làm thiếu hụt nguồn bù đắp rủi ro của công ty CTTC và đồng thời làm tăng mức độ rủi ro từ cả hai phía công ty CTTC và khách hàng
Lãi suất cho thuê:
Chính sách lãi suất không phù hợp đã để công ty CTTC ở hai thái cực: (1) cho thuê dễ dãi với lãi suất thấp, không đủ nguồn bù đắp rủi ro mà phải từ 7 đến 10 năm sau mới bộc lộ, (2) đến khi hết nguồn thì yêu cầu lãi suất cho thuê cao cộng với nhiều điều kiện khắt khe dẫn đến mất dự án có độ an toàn và chấp nhận khách hàng
có độ rủi ro cao
Khi lãi suất cho thuê càng cao, áp lực trả nợ của khách hàng càng lớn, khả năng xảy ra nợ xấu càng cao
Năng lực, đạo đức của cán bộ tín dụng
Nếu cán bộ tín dụng không có năng lực dự báo, phân tích tình hình tài chính của khách hàng thì sẽ dẫn đến đưa ra quyết định cho thuê mang cảm tính, chỉ dựa trên thông tin phiếm diện từ phương án kinh doanh mà bỏ qua năng lực tài chính của khách hàng
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp thẩm định dự án thuê và đầu mối tiếp xúc với khách hàng Nếu cán bộ tín dụng có đạo đức nghề nghiệp không tốt sẽ ảnh hưởng đến chất lượng khoản thuê và khả năng thu hồi nợ của công ty CTTC
Quy trình giám sát, quản lý sau cho thuê
Sự nới lỏng trong quá trình quản lý, giám sát sau cho thuê làm cho khách hàng sử dụng tài sản sai mục đích, dẫn đến rủi ro về khả năng trả nợ thuê
Trang 301.2.3.3 Nhóm yếu tố khác
- Để thuận tiện trong việc khảo sát, thu thập dữ liệu nên tác giả xem xét các yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, chính sách vĩ mô là yếu tố về sự ổn định của thị trường
Tốc độ tăng trưởng GDP
Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng, các ngành nói chung đều kinh doanh thuận lợi hơn, tỷ lệ thu hồi nợ tăng, đồng thời dư nợ đối với nền kinh tế tăng, làm giảm tỷ lệ các khoản nợ xấu Nhưng trong thời kỳ suy thoái, các ngành kinh doanh sản phẩm tiêu dùng bền vững, hàng cao cấp, các ngành dịch vụ như du lịch, văn phòng, các ngành xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt kinh doanh bất động sản, vận tải thủy sẽ gặp nhiều khó khăn hơn các ngành hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, Các khoản cho thuê được quyết định dễ dãi trong thời kỳ tăng trưởng sẽ trở thành khó đòi vài năm sau đó Các Công ty CTTC cần lưu ý vấn đề này trước khi quyết định cho thuê
Chính sách vĩ mô
Đây là một loại rủi ro xảy ra phổ biến ở những nước có chính sách quản lý kinh tế không ổn định Những thay đổi thường xuyên trong chính sách thuế, chính sách tiền tệ, các quy định về kinh doanh bất động sản, vận tải sẽ làm các doanh nghiệp khó có thể chủ động trong chiến lược kinh doanh của mình Môi trường kinh doanh không ổn định, lãi suất tăng cao gián tiếp làm suy yếu khả năng tài chính của người thuê
- Thanh tra giám sát Ngân hàng nhà nước
Nếu Ngân hàng nhà nước tiến hành thanh tra, giám sát hoạt động của Công
ty CTTC thường xuyên, chủ động, đáp ứng được yêu cầu, đúng nội dung và phương pháp thì sẽ ngăn ngừa được các khoản nợ xấu phát sinh Ngược lại, năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp
vụ kinh doanh và công nghệ mới Thanh tra Ngân hàng còn chưa theo kịp Nội dung
và phương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm được đổi mới
Ngoài ra, còn những yếu tố bất khả kháng như: thiên tai, hỏa hoạn, chiến
Trang 31tranh… làm cho khách hàng lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, không có khả năng trả nợ cho công ty CTTC
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Trong hoạt động tín dụng, việc phát sinh nợ xấu do các nguyên nhân khác nhau là điều không tránh khỏi Do đó, nghiên cứu về nợ xấu và các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu nhằm giúp công ty CTTC nâng cao chất lượng quản lý, xử lý nợ Các đề tài nghiên cứu nợ xấu trong lĩnh vực CTTC không nhiều Tuy nhiên, xét về bản chất CTTC cũng là hoạt động cấp tín dụng nên cũng có thể xem xét các nghiên cứu liên quan đến nợ xấu ở lĩnh vực ngân hàng
(1) Muhammad Azeem (2011) sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến
để phân tích các nhân tố tác động đến nợ xấu Nghiên cứu chỉ ra rằng các biến như
GDP, lãi suất, tổng dư nợ có tác động đáng kể đến nợ xấu Số liệu nghiên cứu từ năm 1985-2010 Nghiên cứu cũng đưa ra kiến nghị rằng các ngân hàng nên kiểm soát và điều chỉnh các chính sách tín dụng để giảm tỷ lệ nợ xấu
(2) Vasiliki Marki và cộng sự (2011) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của hệ thống ngân hàng khu vực Châu Âu giai đoạn 2000-2008 Kết quả cho thấy các biến như GDP, tỷ lệ nợ trên GDP, tỷ lệ thất nghiệp, số tiền cho vay, ROA, ROE có ảnh hưởng đến nợ xấu, trong đó lãi suất có tác động mạnh nhất
(3) Roland Beck và cộng sự (2013) cho rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến nợ xấu Tác giả nghiên cứu trên 75 quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến như GDP, giá cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, lãi suất cho vay có ảnh hưởng đến nợ xấu
(4) Trầm Thị Xuân Hương, Nguyễn Công Hà, Đỗ Công Bình (2013), Giải
pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam
Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng nợ xấu phát sinh trong hệ thống NHTM Việt Nam (NHTM) giai đoạn 2009-2012, phân tích chi tiết nguyên nhân phát sinh
nợ xấu trong các tập đoàn nhà nước cũng như trong lĩnh vực bất động sản và chứng khoán… Với mục đích làm sáng tỏ mức độ và tính chất nghiêm trọng của nợ xấu
Trang 32trong hệ thống NHTM, nguyên nhân phát sinh nợ xấu như hệ quả của gói kích cầu, các chính sách nới lỏng tín dụng cũng như công tác quản trị điều hành hệ thống NHTM được sử dụng trong thời gian qua còn nhiều bất cập Từ đó, đề xuất giải pháp xử lý nợ xấu từ Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và bản thân các NHTM phát sinh nợ xấu
(5) Lương Thị Kim Thuận (2011), Ứng dụng mô hình Binary Logistic vào
phân tích rủi ro tín dụng doanh nghiệp tại Công ty CTTC II Ngân hàng đầu tư & Phát triển Việt Nam
Nghiên cứu tổng quan về CTTC và rủi ro tín dụng, tác giả tiến hành phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng và ứng dụng mô hình Binary Logistic trong phân tích rủi ro tín dụng doanh nghiệp tại công ty CTTC II Ngân hàng đầu tư & Phát triển Việt Nam Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Công ty CTTC II Ngân hàng đầu tư & Phát triển Việt Nam
(6) Phạm Phú Nhân (2011), Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng của
NHTM
Tác giả đã mã hóa 34 nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng tại NHTM đưa ra ban đầu trong phiếu điều tra Qua phân tích các nhân tố Explore Factor Analysis (EFA) và kiểm định Cronbach Alpha, tác giả tổng hợp các nhân tố chính
và nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các NHTM gồm có 5 nhân tố chính: áp lực chỉ tiêu; quy định quản lý tài sản tại địa phương; khách hàng chưa hợp tác và phê duyệt, kiểm soát thiếu chặt chẽ; ảnh hưởng môi trường kinh tế
vĩ mô; chính sách cho vay thiếu khoa học
(7) Võ Thị Hồng Nhung (2012), Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến rủi
ro tín dụng của các NHTM trên địa bàn TP Cần Thơ
Nghiên cứu tổng quan về NHTM và rủi ro tín dụng, tác giả tiến hành phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các NHTM trên địa bàn TP Cần Thơ Kết quả phân tích hồi quy Logistic nhị nguyên
Trang 33chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng bao gồm: lãi suất, giá trị tài sản đảm bảo, số tiền vay, lợi nhuận trung bình trong năm của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế rủi
ro tín dụng của các NHTM trên địa bàn TP Cần Thơ
(8) Huỳnh Thị Thu Hiền (2012), Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến nợ
xấu của các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Nghiên cứu tổng quan về NHTM và nợ xấu, tác giả phân tích thực trạng nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long Kết quả phân tích hồi quy Binary Logistic chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu bao gồm: lãi suất, số tiền vay, giá trị tài sản đảm bảo tiền vay, kinh nghiệm của người quản lý, khả năng vốn tự có tham gia, lợi nhuận, mức ổn định của thị trường, trình độ học vấn của khách hàng vay Kết quả nghiên cứu là cơ
sở đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế nợ xấu của các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
1.4 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI
CHÍNH
Việc xây dựng chỉ tiêu đánh giá nợ xấu có vai trò quan trọng trong quản lý
nợ xấu Chỉ tiêu nợ xấu không chỉ giúp các công ty cho thuê tài chính có định hướng mà còn có tác động trực tiếp đến công tác xử lý nợ xấu phát sinh
Chất lượng tín dụng là tiêu chí để đánh giá hiệu quả và tính an toàn trong hoạt động CTTC Một khoản thuê tài chính tốt là khoản thuê mà công ty CTTC có thể thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi Thông thường, đánh giá chất lượng tín dụng người ta thường căn cứ vào chỉ tiêu sau:
Trang 34Tỷ lệ trên chỉ đề cập đến những khoản nợ đã quá hạn mà không đề cập đến những khoản thuê có một kỳ hạn bị quá hạn (lúc này toàn bộ dư nợ kỳ hạn đó trở về sau sẽ bị chuyển nợ quá hạn) Như vậy, sẽ chính xác hơn ta có:
Tổng dư nợ cho thuê
Theo khuyến cáo của NHNN, tỷ lệ nợ quá hạn ≤ 5%, tỷ lệ nợ xấu ≤ 3%
Tổng số nợ xấu: đây là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn
bộ khoản nợ xấu CTTC Chỉ tiêu này chưa cho biết chi tiết của từng nhóm 3,4,5 trong tồng số nợ xấu
Tỷ lệ nợ khó đòi/ nợ xấu: Chỉ tiêu này phản ánh khá trung thực về nguy
cơ mất vốn của Công ty CTTC Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng rủi ro mất vốn càng cao
Tỷ lệ dự phòng rủi ro/ nợ xấu: tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp bao nhiêu cho khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành các khoản nợ
có khả năng mất vốn Nếu tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ dự phòng rủi ro đủ
bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty CTTC càng cao và ngược lại
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, luận văn đã tổng hợp có hệ thống những nội dung cơ bản
về CTTC như khái niệm; đặc điểm; chủ thể tham gia trong giao dịch CTTC; tính pháp lý và kinh tế của tài sản sản CTTC; các hình thức CTTC và vai trò của CTTC Đồng thời, luận văn cũng trình bày những lý luận chung về nợ xấu như so sánh khái niệm về nợ xấu của tổ chức, quốc gia trong và ngoài nước; xem xét tác động của nợ xấu đến các chủ thể của nền kinh tế và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại công ty CTTC Nội dung cuối cùng mà luận văn đề cập là xây dựng các chỉ tiêu đánh giá nợ xấu tại các công ty CTTC Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI
CHÍNH VIỆT NAM
2.1 THỰC TRẠNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
2.1.1 Sản phẩm của công ty cho thuê tài chính
Theo điều 16 của Nghị định 16/2001/NĐ-CP sửa đổi bổ sung, Công ty CTTC được phép thực hiện các nghiệp vụ như sau: CTTC, bán và cho thuê lại, cho thuê vận hành, bán các khoản phải thu từ hợp đồng CTTC cho các tổ chức và cá nhân, thực hiện các dịch vụ ủy thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính và các hoạt khác nhà nước cho phép như tư vấn các nghiệp vụ cho khách hàng có liên quan đến CTTC, cho thuê hợp vốn Hiện tại sản phẩm chủ yếu của các công ty CTTC là CTTC ba bên Tuy nhiên, chỉ có Công ty CTTC II Ngân hàng NNo & PTNT là đơn vị có sản phẩm cung cấp cho thị trường tương đối
đa dạng Ngoài sản phẩm CTTC, công ty đã triển khai và áp dụng các sản phẩm như
cho thuê hợp vốn, cho thuê vận hành
2.1.2 Tình hình chung về cho thuê tài chính
Nhìn vào bảng 2.1, tính đến thời điểm 31/12/2012, thị trường CTTC Việt Nam đã có 12 công ty với 11 chi nhánh, bao gồm:
+ 7 công ty trực thuộc NHTM trong đó có 5 công ty thuộc NHTM gốc nhà nước, 4 công ty 100% vốn nước ngoài và 1 công ty thuộc tập đoàn công nghiệp tàu thủy Trong 12 công ty có 8 công ty thuộc Hiệp hội CTTC Việt Nam
+ Các công ty CTTC có vốn điều lệ tương đối thấp so với vốn pháp định của ngân hàng là 3.000 tỷ đồng, cụ thể: 5 công ty có vốn điều lệ từ 103 tỷ đồng đến 200
tỷ đồng, 6 công ty có vốn điều lệ từ 200 tỷ đến 500 tỷ đồng và 1 công ty có vốn điều
lệ 800 tỷ đồng là công ty CTTC TNHH MTV NH TMCP Công Thương Việt Nam
+ Các công ty có trụ sở chỉ ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM; được thành lập trong khoảng thời gian từ 1998 đến 2008, đây là khoảng thời gian thị
Trang 37trường CTTC rất phát triển Nhưng sau năm 2008 do ảnh hưởng khủng hoảng kinh
tế toàn cầu nên không thành lập thêm công ty CTTC
Trong tổng số 12 công ty CTTC, có 6 công ty thuộc thành phần kinh tế quốc doanh trong đó có 4 công ty TNHH MTV; 6 công ty thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh trong đó có 4 công ty 100% vốn nước ngoài
Bảng 2.1: Danh sách các Công ty CTTC tại Việt Nam tính đến 31/12/2012
STT Tên Công ty CTTC và năm thành lập Trụ sở Vốn điều lệ
Các công ty thuộc Hiệp hội CTTC
1 Công ty TNHH MTV CTTC NH Ngoại thương Việt Nam (1998) Hà Nội 500 tỷ đồng
2 Công ty CTTC TNHH MTV NH TMCP Công thương Việt Nam (1998) Hà Nội 800 tỷ đồng
3 Công ty CTTC I Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (1998) Hà Nội 200 tỷ đồng
4 Công ty TNHH một thành viên CTTC Công nghiệp Tàu thuỷ (2008) Hà Nội 200 tỷ đồng
5 Công ty CTTC TNHH MTV NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
447 tỷ đồng
6 Công ty CTTC II Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (1998) TP HCM 350 tỷ
Các công ty ngoài Hiệp hội CTTC
9 Công ty CTTC ANZ-V/TRAC (100% vốn nước ngoài) (1999) Hà Nội 103 tỷ đồng
10 Công ty CTTC Kexim (100% vốn nước ngoài) (1998) TP HCM 13 Triệu
Trang 38Bảng 2.2: Tỷ trọng dư nợ CTTC so với tổng dư nợ tín dụng
( Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam)
Nhìn vào bảng 2.2 cho thấy, tổng dư nợ CTTC quá nhỏ so với tổng dư nợ tín dụng chỉ chiếm 3,1% năm 2010; 2,6% năm 2011 và 2,1% năm 2012
Bảng 2.3 : Huy động vốn tại các công ty CTTC Việt Nam
(Nguồn: Hiệp hội CTTC Việt Nam)
Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng huy động vốn tại các Công ty CTTC Việt Nam
(Nguồn: Hiệp hội CTTC Việt Nam)
Trang 39Qua bảng 2.3 cho thấy tình hình huy động vốn tại các công ty CTTC Việt Nam năm 2011 giảm 2.359 tỷ đồng, tương đương 15,2% so với năm 2010 Điều này
có thể giải thích bởi trong giai đoạn này tình hình lạm phát trong nước tăng, đồng thời sự biến động của thị trường vàng, giá vàng có xu hướng tăng cao mà trong điều kiện tình hình lạm phát tăng thì việc cất trữ vàng có lợi hơn, đã làm cho việc huy động vốn trở nên không hấp dẫn; sang năm 2012 tình hình huy động vốn tăng nhẹ khoảng 1,89% so với 2011 Nhìn chung, vốn hoạt động của Công ty CTTC phải vay
từ ngân hàng mẹ khá lớn chiếm từ 57% đến 67% và có xu hướng ngày càng tăng
( Nguồn: Hiệp hội CTTC Việt Nam)
Qua bảng 2.4 cho thấy, dư nợ của 12 công ty CTTC có xu hướng giảm qua các năm, trong đó dư nợ của công ty CTTC thuộc Hiệp hội CTTC Việt Nam cũng
có xu hướng giảm mạnh, cụ thể năm 2011 giảm 2.293 tỷ đồng tương đương 11,63%
so với năm 2010 và năm 2012 dư nợ tiếp tục giảm 1.883 tỷ đồng tương đương 10,81% so với năm 2011 Ngược lại với dư nợ của công ty CTTC thuộc hiệp hội CTTC xu hướng giảm thì năm 2012 dư nợ của Công ty CTTC ngoài hiệp hội tăng khoảng 10,07% so với năm 2011 Như vậy, dư nợ CTTC giảm qua các năm chủ yếu là do dư nợ của Công ty thuộc Hiệp hội CTTC giảm Việc dư nợ CTTC có xu hướng giảm là do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế kéo dài, thị trường CTTC suy giảm nên các công ty CTTC tập trung thu hồi, xử lý tài sản để thu hồi vốn
Trang 402.1.3 Cơ cấu dư nợ cho thuê tài chính tại Việt Nam
Dư nợ CTTC được xem xét theo 2 tiêu chí:
17.423
15.540 -2.293 -11,63% -1.883 -10,81% + Quốc doanh
1.433
1.690
+ Ngoài quốc doanh
18.283
15.733
14.477 -2.550 -13,95% -1.256 -7,98%
( Nguồn: Hiệp hội CTTC Việt Nam)
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng dư nợ CTTC theo thành phần kinh tế của khách hàng
(Nguồn: Hiệp hội CTTC Việt Nam)
Qua biểu đồ 2.2 cho thấy, dư nợ CTTC tập trung chủ yếu vào khối kinh tế ngoài quốc doanh chiếm từ 90% đến 93% tổng dư nợ CTTC Điều này có thể giải thích là do đa phần các doanh nghiệp ở Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên điều kiện vay vốn tại ngân hàng rất khó Chính vì thế nguồn vốn CTTC được khối kinh tế ngoài quốc doanh quan tâm và đón nhận rất cao Dư nợ năm 2011 giảm 11,63% so với năm 2010 trong đó dư nợ khối ngoài quốc doanh giảm 2.550 tỷ đồng tương đương 13,95% do các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đa phần các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị tác động mạnh của cuộc khủng hoảng kinh tế nên nhanh