1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược

98 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu nhằm phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trong làm việc nhóm tới kết quả của quá trình triển khai chiến lược. Cụ thể, tác giả sẽ đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong làm việc nhóm bao gồm Thành viên nhóm, Văn hóa nhóm, Quản trị sự thay đổi trong nhóm, Cơ cấu nhóm, Cơ chế giám sát nhóm và Phát triển kĩ năng tới Triển khai chiến lược. Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của các nhân tố từ đó nâng cao hiệu quả của triển khai chiến lược.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

VAI TRÒ CỦA LÀM VIỆC NHÓM TRONG

TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG

Hà Nội - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Đề tài: VAI TRÒ CỦA LÀM VIỆC NHÓM

TRONG TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC

Ngành: Kinh doanh Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin được chân thành gửi lời cảm ơn đến: PGS.TS Lê Thái Phong - Trưởng khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Ngoại thương Nhờ vào sự chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của thầy mà tôi có thể hiểu rõ về phương pháp khoa học và nội dung đề tài, từ đó tôi có thể hiểu rõ và thực hiện luận văn hoàn thiện hơn

Quý thầy cô trường đại học Ngoại thương đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi theo học tại trường Những kiến thức này cung cấp cho tôi một nền tảng vững chắc để hoàn thành luận văn cũng như phục vụ cho công việc sau này

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã ủng hộ

về mặt tinh thần, tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôi hết mình trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và bạn đọc

Xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 6 năm 2018

Người viết

Nguyễn Việt Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là do bản thân tôi tự nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thái Phong

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Nội dung của luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính pháp lý trong quá trình nghiên cứu khoa học của luận văn này

Hà Nội, tháng 6 năm 2018 Người viết

Nguyễn Việt Phương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA LÀM VIỆC NHÓM TRONG TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC 4

1.1 Triển khai chiến lược 4

1.1.1 Khái niệm chiến lược 4

1.1.2 Khái niệm quản trị chiến lược 5

1.1.3 Khái niệm triển khai chiến lược 5

1.1.4 Nội dung cơ bản của triển khai chiến lược 6

1.2 Khái luận về nhóm làm việc 10

1.2.1 Khái niệm và phân loại nhóm làm việc 10

1.2.2 Đặc điểm nhóm làm việc 13

1.2.3 Các giai đoạn hình thành và phát triển của nhóm làm việc 15

1.2.4 Một số nội dung cơ bản của nhóm làm việc 18

1.3 Vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược 19

1.3.1 Vai trò của làm việc nhóm trong tổ chức 19

1.3.2 Vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược 21

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính 26

2.1.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng 26

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 27

2.1.3 Sự khác biệt giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng 28

2.2 Mô hình nghiên cứu 29

2.2.1 Các giả thiết nghiên cứu 29

2.2.2 Mô hình nghiên cứu 31

Trang 6

2.3 Thiết kế nghiên cứu 32

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 32

2.3.2 Xây dựng thang đo 33

2.3.2.1 Thang đo Các yếu tố của làm việc nhóm 33

2.3.2.2 Thang đo Triển khai chiến lược 35

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA LÀM VIỆC NHÓM TRONG TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC 36

3.1 Đặc điểm của mẫu khảo sát 36

3.2 Kiểm định mô hình đo lường 38

3.2.1 Đánh giá sơ bộ bằng thang đo Cronbach’s Alpha 39

3.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 44

3.2.2.1 Thang đo các yếu tố của làm việc nhóm 45

3.2.2.2 Thang đo Triển khai chiến lược 48

3.3 Đánh giá vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược 48

3.3.1 Phân tích tương quan 48

3.3.2 Phân tích hồi quy 49

3.3.3 Dò tìm các vi phạm giả định cần thiết trong phân tích hồi quy 51

3.4 Một số bình luận về vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược 53

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

4.1 Ý nghĩa và kết luận 56

4.2 Hàm ý chính sách cho doanh nghiệp 56

4.2.1 Nâng cao chất lượng Thành viên nhóm 56

4.2.2 Phát triển văn hóa nhóm 62

4.2.3 Xây dựng cơ cấu nhóm linh hoạt, hiệu quả 63

4.2.4 Quản trị sự thay đổi trong nhóm hiệu quả 65

4.2.5 Hoàn thiện cơ chế giám sát nhóm 66

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC i

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Đặc điểm cơ bản của nhóm làm việc

Bảng 2.1 Sự khác biệt giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lƣợng Bảng 2.2 Thang đo thành viên nhóm

Bảng 2.3 Thang đo Văn hóa nhóm

Bảng 2.4 Thang đo Quản trị sự thay đổi trong nhóm

Bảng 2.5 Thang đo Cơ cấu nhóm

Bảng 2.6 Thang đo Cơ chế giám sát nhóm

Bảng 2.7 Thang đo Phát triển kĩ năng

Bảng 2.8 Thang đo Triển khai chiến lƣợc

Bảng 3.1 Thống kê mẫu khảo sát

Bảng 3.2 Cronbach's Alpha của Thang đo thành viên nhóm

Bảng 3.3 Cronbach's Alpha của Thang đo Văn hóa nhóm

Bảng 3.4 Cronbach's Alpha của Thang đo Quản trị sự thay đổi trong nhóm Bảng 3.5 Cronbach's Alpha của Thang đo Cơ cấu nhóm

Bảng 3.6 Cronbach's Alpha của Thang đo Giám sát nhóm

Bảng 3.7 Cronbach's Alpha của Thang đo Phát triển kĩ năng

Bảng 3.8 Cronbach's Alpha của Thang đo Triển khai chiến lƣợc

Bảng 3.9 Kết quả Cronbach’s Alpha với thang đo CC

Bảng 3.10 Kết quả Cronbach’s Alpha với thang đo KN

Bảng 3.11 Kết quả kiểm định thang đo bằng Cronbach’s Alpha

Bảng 3.12 Kết quả KMO & Barlett

Bảng 3.13 Hệ số Eigenvalue

Bảng 3.14 Kết quả EFA thang đo các yếu tố của làm việc nhóm

Bảng 3.15 Đánh giá độ phù hợp của mô hình

Bảng 3.16 Kết quả các thông số hồi quy

Bảng 3.17 Kết quả chạy hồi quy đa biến

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Các giai đoạn hình thành và phát triển nhóm làm việc Hình 2.1 Mô hình hành vi nhóm

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu

Hình 3.1 Thống kê mẫu khảo sát theo giới tính

Hình 3.2 Thống kê mẫu khảo sát theo độ tuổi

Hình 3.3 Thống kê mẫu khảo sát theo loại hình tổ chức

Hình 3.4 Kết quả hồi quy

Hình 3.5 Biểu đồ Scatter

Hình 3.6 Biểu đồ Histogram

Trang 9

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương I: Cơ sở lý luận và vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược

Triển khai chiến lược

Cở sở lý luận của luận văn được xây dựng trên những lý thuyết có sẵn về chiến lược, quản trị chiến lược và triển khai chiến lược Mục này làm rõ các nội dung cơ bản về triển khai chiến lược

Khái luận về nhóm làm việc

Mục này trình bày khái niệm và phân loại nhóm làm việc, các đặc điểm của nhóm cùng các giai đoạn hình thành và phát triển nhóm

Vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược

Vai trò của nhóm trong tổ chức, doanh nghiệp, cụ thể hơn là ở trong triển khai chiến lược, bao gồm:

- Vai trò của nhóm trong Xây dựng cơ cấu tổ chức

- Vai trò của làm việc nhóm trong Phát triển văn hóa doanh nghiệp

- Vai trò của làm việc nhóm trong Xây dựng cơ chế giám sát

- Vai trò của làm việc nhóm trong Phát triển kĩ năng cá nhân

- Vai trò của làm việc nhóm trong Quản trị sự thay đổi

Chương II: Phương pháp nghiên cứu

Chương II giới thiệu về phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính cùng các ưu, nhược điểm của mỗi phương pháp Qua đó, nêu

rõ lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu định lượng của tác giả

Sau khi lựa chọn được phương pháp nghiên cứu, tác giả xây dựng nên mô hình nghiên cứu gồm 6 biến độc lập (Thành viên nhóm, Cơ cấu nhóm, Văn hóa nhóm,

Cơ chế giám sát nhóm, Quản trị sự thay đổi trong nhóm, Phát triển kĩ năng cá nhân)

Trang 10

và 1 biến phụ thuộc (Triển khai chiến lược) Từ đó xây dựng nên các thang đo phục

- Đánh giá sơ bộ bằng chỉ số Cronbach’s Alpha

- Phân tích nhân tố khám phá EFA

- Phân tích tương quan

- Phân tích hồi quy

- Dò tìm các vi phạm giả định cần thiế trong phân tích hồi quy

Thông qua việc chạy mô hình SPSS, tác giả so sánh được mức độ ảnh hưởng của các yếu trong làm việc nhóm tới triển khai chiến lược, cụ thể là yếu tố Thành viên nhóm có tác động mạnh nhất tới triển khai chiến lược (Beta = 0,358), sau đó lần lượt là các yếu tố Văn hóa nhóm (Beta = 0,267), Quản trị sự thay đổi trong nhóm (Beta = 0,243), Cơ cấu nhóm (Beta = 0,154)

và Cơ chế giám sát nhóm (Beta = 0,132), Phát triển kĩ năng có ít ảnh hưởng nhất tới Triển khai chiến lược (Beta = 0,120)

Chương IV: Kết luận và kiến nghị

Chương IV đưa ra kết luận sơ bộ và đề xuất các giải pháp cho doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả của triển khai chiến lược dựa trên các yếu tố của làm việc nhóm,

cụ thể là:

- Nâng cao chất lượng Thành viên nhóm thông qua đào tạo hoặc tuyển dụng

- Phát triển Văn hóa nhóm bằng các hoạt động “teambuilding” hay sự liên kết giữa các thành viên trong quá trình làm việc

- Xây dựng Cơ cấu nhóm linh hoạt, hiệu quả bằng cách tạo ra các nhóm tùy theo điều kiện thực tế của công ty như nhóm chuyên môn, nhóm dự án…

Trang 11

- Quản trị sự thay đổi hiệu quả bằng sự minh bạch, tinh thần hợp tác dựa trên

sự công bằng

- Hoàn thiện Cơ chế giám sát bằng cách nâng cao ý thức của từng thành viên, theo dõi thời gian thực cùng việc thiết lập các chỉ tiêu KPI…

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhóm được hình thành khi các cá nhân có cùng chung sở thích, chung quan điểm đến làm việc với nhau vì một mục tiêu thống nhất Henry Ford đã nói: “Đến với nhau là khởi đầu, bên nhau là sự tiến triển, làm việc cùng nhau là thành công” Câu nói này càng làm nổi bật tầm quan trọng của làm việc nhóm Mọi cá nhân đều cần phụ thuộc vào đồng đội của anh ta để đóng góp hiệu quả cho tổ chức Không ai

có thể làm việc một mình mà họ phải nhờ đến sự hỗ trợ của đồng nghiệp để hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu suất làm việc sẽ được cải thiện tốt hơn khi làm việc nhóm bởi ở đó khả năng tốt nhất của người này sẽ có cơ hội kết hợp với khả năng tốt nhất của những thành viên khác và điểm yếu của họ cũng vì thế mà được hỗ trợ, bổ sung

Triển khai chiến lược là một quá trình gồm những hoạt động liên tục từng bước về xây dựng cơ cấu tổ chức, phân bổ nguồn lực để thực hiện và giám sát, điều chỉnh sao cho phù hợp với mục tiêu đã đặt ra của tổ chức Hiệu quả làm việc của từng cá nhân trong tổ chức đóng một vai trò nhất định trong việc đảm bảo quá trình triển khai chiến lược diễn ra một cách hiệu quả, đúng tiến độ Và làm việc nhóm chính là một phương pháp hữu hiệu để phát huy tốt nhất khả năng của mỗi thành viên từ đó nâng cao hiệu quả công việc Vì vậy, việc phân tích ảnh hưởng của các yếu tố trong làm việc nhóm tới quá trình triển khai chiến lược để từ đó các tổ chức, doanh nghiệp đưa ra các biện pháp cải thiện là một nhu cầu rất cần thiết trong tình hình hiện nay

Vai trò của làm việc nhóm trong tổ chức đã được đề cập tới từ lâu Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo nói về vai trò của làm việc nhóm trong tổ chức, doanh nghiệp Tuy nhiên cho tới nay chưa có một công trình nghiên cứu hay một đề tài luận văn cụ thể nào về vai trò của làm việc nhóm trong quá trình triển khai chiến lược được thực hiện Tất cả mới chỉ dừng ở mức độ các bài báo, tham luận nói về ảnh hưởng của làm việc nhóm tới một khía cạnh, một nội dung nào đó

Trang 13

của triển khai chiến lược như phát triển văn hóa doanh nghiệp, cơ hội nâng cao kĩ năng của các cá nhân…

Trên cơ sở phân tích ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, tác giả đã tiến

hành nghiên cứu đề tài “Vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược”

làm luận văn tốt nghiệp khóa học thạc sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nhằm nghiên cứu vai trò của làm việc nhóm trong công tác triển khai chiến lược của doanh nghiệp Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn đề ra một số nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trong làm việc nhóm tới kết quả của quá trình triển khai chiến lược Cụ thể, tác giả sẽ đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong làm việc nhóm bao gồm Thành viên nhóm, Văn hóa nhóm, Quản trị sự thay đổi trong nhóm, Cơ cấu nhóm, Cơ chế giám sát nhóm và Phát triển kĩ năng tới Triển khai chiến lược

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của các nhân tố từ đó nâng cao hiệu quả của triển khai chiến lược

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm những nội dung như sau:

- Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu vào vai trò của các yếu tố trong làm việc nhóm tới quá trình triển khai chiến lược trong tổ chức, doanh nghiệp

- Đối tượng tham gia khảo sát là những cá nhân đang công tác tại các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dùng kỹ thuật thu thập thông tin bằng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp và bảng câu hỏi trực tuyến Nghiên cứu được tiến hành tại Hà Nội Mục đích của nghiên cứu nhằm thu thập, phân tích dữ liệu khảo sát, khẳng định lại các thành phần cũng như giá trị và độ tin cậy của thang

đo làm việc nhóm, và kiểm định mô hình lý thuyết

Phương pháp độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) được sử dụng để đánh giá thang đo Phương pháp phân tích mô hình hồi quy bội thông qua phần mềm SPSS 20.0 được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

được kết cấu thành 4 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược

Chương II: Phương pháp nghiên cứu

Chương III: Thực trạng vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược

Chương IV: Kết luận và kiến nghị

Đây là một nội dung nghiên cứu còn mới, đề tài chỉ dừng lại ở một đề tài nghiên cứu khoa học mang tính hàn lâm nên luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các chuyên gia, các thầy cô và bạn đọc để luận văn có điều kiện được bổ sung và hoàn thiện hơn

Trang 15

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA LÀM VIỆC NHÓM

TRONG TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC

Trong các tổ chức và doanh nghiệp, làm việc nhóm là một vấn đề then chốt bởi vì trong nhiều trường hợp khi làm việc theo nhóm sẽ có thể hoàn thành một nhiệm vụ mà không bất kỳ một cá nhân riêng lẻ nào có thể thực hiện được Điều này cũng đúng với việc triển khai chiến lược của tổ chức và doanh nghiệp Nội dung chương này giới thiệu những vấn đề cơ bản nhất về làm việc nhóm và vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược bao gồm: khái luận về triển khai chiến lược, khái luận về nhóm làm việc và vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược

1.1 Triển khai chiến lược

1.1.1 Khái niệm chiến lược

Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với hai từ “stratos” (quân đội, bầy, đoàn) và “agos” (lãnh đạo, điều khiển) Chiến lược được sử dụng đầu tiên trong quân sự để chỉ ra các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc được cái gì đối phương có thể làm và cái gì đối phương không thể làm được

Trên thực tế, tồn tại rất nhiều quan điểm về chiến lược, trong đó có thể kể đến một số quan điểm sau:

 Theo Michael Porter: “chiến lược là nghệ thuật tạo ra lợi thế cạnh tranh”

 Theo Genral Aileret: “chiến lược là việc xác định những con đường và phương tiện để đạt tới các mục tiêu đã được xác định thông qua các chính sách”

 Theo Mintzberg: “chiến lược là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động”

Dù có nhiều quan điểm nhưng về cơ bản, chiến lược có thể được hiểu như là

việc xác định chính xác mục tiêu, từ đó xác định con đường hay phương thức

và định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu đó

Trang 16

1.1.2 Khái niệm quản trị chiến lược

Chiến lược và quản trị chiến lược là hai khái niệm không thể tách rời nhau Chiến lược của doanh nghiệp cần phải được hoạch định một cách chặt chẽ và phải được triển khai thực hiện để đảm bảo đạt được những kết quả mong đợi “Quản trị chiến lược là một tiến trình nghiên cứu, phân tích môi trường bên trong và bên ngoài của tổ chức, hiện tại cũng như tương lai; xác lập nhiệm vụ chức năng và xây dựng hệ thống các mục tiêu cần theo đuổi; hoạch định, thực hiện và kiểm tra chiến lược nhằm giúp cho tổ chức vận dụng hữu hiệu các nguồn lực và tiềm năng của tổ chức để đạt được các mục tiêu như mong muốn” Chiến lược có thể hiểu là một văn bản xác định cách thức tổ chức/doanh nghiệp sẽ thực hiện để đạt đến mục tiêu trong tương lai, còn quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động quản trị có ảnh hưởng đến hoạt động dài hạn của một tổ chức/doanh nghiệp Nó bao gồm việc xây dựng chiến lược, thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược Qua các định nghĩa trên chúng ta thấy quản trị chiến lược là một quá trình liên tục

Quản trị chiến lược được đặc trưng bởi sự nhấn mạnh vào những mối tương tác của một tổ chức/doanh nghiệp với môi trường bên ngoài và mỗi tương tác của những hoạt động chức năng khác nhau bên trong tổ chức/doanh nghiệp

1.1.3 Khái niệm triển khai chiến lược

Kết thúc giai đoạn hoạch định chiến lược, doanh nghiệp đã lựa chọn cho mình các phương án chiến lược cấp công ty, cấp đơn vị kinh doanh hay cấp chức năng Bước tiếp theo là doanh nghiệp sẽ triển khai thực hiện các chiến lược đó Nếu như việc hoạch định chiến lược là nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo, quản lý các cấp thì quá trình triển khai chiến lược sẽ liên quan đến toàn thể các bộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp Giai đoạn hoạch định và giai đoạn triển khai có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mục đích của giai đoạn hoạch định chiến lược là xây dựng được những chiến lược phù hợp với các mục tiêu chiến lược, các nguồn lực và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, xây dựng chiến lược mới chỉ là bước đầu tiên, việc triển khai thực hiện chiến lược giữ vai trò quan trọng đối với thành công của chiến lược

Trang 17

Triển khai chiến lược là gì? Triển khai chiến lược là một chủ đề nóng trong lĩnh vực quản trị học hiện nay Theo khảo sát của Conference Board gần đây đối với các nhà quản trị đều cho thấy rằng họ rất quan tâm đến việc triển khai chiến lược vì

họ đánh giá nó luôn nằm trong những vấn đề thách thức nhất Khi được hỏi để định nghĩa triển khai chiến lược, hầu hết các nhà quản lý sẽ trả lời như sau: “Đó là việc thực hiện thành công một kế hoạch chiến lược” hoặc “Điều đó giúp cho chiến lược của bạn được hoàn thành”

Sau đây là một vài quan điểm về triển khai chiến lược được nhiều người chấp nhận Cách tiếp cận thứ nhất cho rằng “Triển khai chiến lược là một quá trình” Trong cuốn sách Execution: The Discipline of Getting Things Done, Larry Bossidy

và Ram Charan đã đưa ra tình huống cho việc triển khai như là một kỷ luật hay

“phương thức có hệ thống của biểu đạt sự thật và hành động theo nó” Họ giải thích rằng “trái tim của việc triển khai nằm ở 3 quy trình cốt lõi” bao gồm: a) Con người; b) Chiến lược và c) Hành động

Ở cách tiếp cận thứ hai, “Triển khai chiến lược như là một hệ thống” Những thông tin được đưa ra trong cuốn Execution là rất hữu ích, tuy nhiên các tác giả không giải thích cặn kẽ việc làm thế nào một tổ chức có thể triển khai được 3 quy trình cốt lõi trên có chiến lược thành công Vào năm 2008, giáo sư Robert S Kaplan

và cộng sự là David P Norton đã viết cuốn sách The Execution Premium: Linking Strategy to Operations for Competitive Advantage Trong này họ đã trình bày hệ thống quản lý gồm có 6 bước thực hiện liên tục: 1) Phát triển chiến lược; 2) Lập kế hoạch cho chiến lược; 3) Phân phối tổ chức; 4) Kế hoạch hoạt động; 5) Giám sát và học tập; 6) Kiểm tra và thích ứng

Từ hai quan điểm trên ta có thể hiểu Triển khai chiến lược là một quá trình gồm những hoạt động liên tục từng bước về xây dựng cơ cấu tổ chức, phân bổ nguồn lực để thực hiện và giám sát, điều chỉnh sao cho phù hợp với mục tiêu

đã đặt ra của tổ chức

1.1.4 Nội dung cơ bản của triển khai chiến lược

 Xây dựng các mục tiêu hàng năm:

Trang 18

Mục tiêu chiến lược là các mục tiêu dài hạn, mang tính khái quát và định hướng cao Khi tổ chức thực hiện chiến lược, doanh nghiệp sẽ phải xây dựng các mục tiêu hàng năm để có thể phân công công việc và triển khai các công việc tác nghiệp một cách cụ thể nhất Xác định mục tiêu hàng năm là nhiệm vụ đầu tiên trong giai đoạn triển khai chiến lược

Mục tiêu hàng năm chính là sự cụ thể hóa mục tiêu chiến lược của tổ chức Được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chiến lược, phù hợp với các mục tiêu dài hạn và

hỗ trợ cho việc thực hiện các mục tiêu dài hạn

Mục tiêu hàng năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện chiến lược Vai trò của việc thiết lập mục tiêu hàng năm là tạo sự cần thiết cho việc thực hiện chiến lược chung vì đây là cơ sở phân phối các nguồn lực trong quá trình thực hiện chiến lược, cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của các cấp độ quản lý, công cụ quan trọng để kiểm soát tiến trình thực hiện chiến lược nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn đặt ra, căn cứ ưu tiên để phân bổ nguồn lực hoặc ra quyết định quản lý

Công việc tiếp theo để triển khai chiến lược là lập và thực hiện các kế hoạch của các bộ phận chức năng Mục tiêu của việc lập kế hoạch là nhằm đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện theo đúng mục tiêu chiến lược đã

đề ra Kế hoạch xác định phương pháp quản lý một hoạt động trong một thời kỳ nhất định Đây chính là công cụ quản lý tác nghiệp, là cơ sở của tiếng nói chung cho

Trang 19

toàn doanh nghiệp Việc lập kế hoạch cho giai đoạn thực hiện là rất quan trọng

Kế hoạch được xây dựng dựa trên mục tiêu hàng năm đã được xác định Các mục tiêu ngắn hạn được đưa ra dựa trên việc cụ thể hóa mục tiêu tổng quát và mục tiêu hàng năm

Phân bổ nguồn lực:

Để thực hiện chiến lược, tổ chức sẽ phải cung cấp đủ các nguồn lực cần thiết cho các đơn vị, các bộ phận Các nguồn lực có thể được phân bổ là nguồn lực tài chính, nguồn nhân sự và nguồn lực về công nghệ, nguồn lực về cơ sở vật chất… Tùy theo lĩnh vực hoạt động của tổ chức, các nguồn lực cần phân bổ sẽ được xác định phù hợp Vấn đề quan trọng trong tổ chức thực hiện là đảm bảo và phân bổ nguồn lực sao cho hợp lý để phục vụ cho việc thực hiện các chiến lược của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có các mục tiêu và định hướng chiến lược đúng đắn nhưng không phân bổ nguồn lực phù hợp thì có thể làm cho chiến lược không thực hiện được hoặc hiệu quả thực hiện chiến lược không cao Việc phân bổ nguồn lực phải được thực hiện theo mức độ ưu tiên tùy thuộc vào mục tiêu chiến lược và mục tiêu hàng năm đã thông qua

Đôi khi, trong quá trình phân bổ nguồn lực, do các nguồn lực là hữu hạn, doanh nghiệp phải cắt giảm bớt nguồn lực cho hoạt động này để đảm bảo đủ nguồn lực cho một hoạt động khác Khi đó doanh nghiệp sẽ có sự điều chuyển các nguồn lực hợp lý để đảm bảo hiệu quả hoạt động chung của doanh nghiệp mình Cũng phải nhấn mạnh rằng việc thực hiện chiến lược không phải chỉ đơn giản bằng cách phân

bổ các nguồn lực hợp lý cho các đơn vị hoặc phòng ban mà phải đảm bảo việc phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này

 Xây dựng cơ cấu tổ chức:

Sau khi phân bổ các nguồn lực hợp lý, để thực hiện được chiến lược thì tổ chức/doanh nghiệp cần xây dựng một cơ cấu tổ chức phù hợp bởi cơ cấu tổ chức là nền tảng về mặt tổ chức của bất kỳ một tổ chức/doanh nghiệp nào Cơ cấu tổ chức

là tổng hợp các bộ phận được chuyên môn hóa, có những trách nhiệm và quyền hạn nhất định, mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được bố trí theo từng cấp

Trang 20

nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản trị và thực hiện mục tiêu chung của tổ chức/doanh nghiệp

Xây dựng được một cơ cấu tổ chức phù hợp giúp cho tổ chức có thể điều phối các hoạt động của nhân viên để họ có thể làm việc với nhau và thực hiện chiến lược một cách có hiệu quả nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức sẽ định hướng các nhân viên ứng xử và hoạt động như thế nào trong tổ chức Nếu một ban lãnh đạo điều hành muốn biết tại sao các việc quy định trong tổ chức thường mất nhiều thời gian, hoặc tại sao lại thiếu sự hợp tác giữa các bộ phận thì cần phải xem xét việc thiết kế cơ cấu tổ chức đã hợp lý chưa và phải phân tích xem cơ cấu tổ chức cơ sở đã điều phối và động viên các hành vi ứng xử của nhân viên như thế nào Thiết kế tổ chức hợp lý cho phép tổ chức nâng cao khả năng cạnh tranh và thuận lợi trong việc tổ chức thực hiện chiến lược

 Quản trị sự thay đổi trong quá trình thực hiện chiến lược :

Khi có những tác động từ các yếu tổ thuộc môi trường bên ngoài và nội bộ doanh nghiệp, quá trình thực hiện hoạt động quản trị chiến lược sẽ phát sinh các thay đổi Lúc này đòi hỏi các nhà quản trị phải quản trị việc thực hiện các thay đổi sao cho có lợi nhất

Quản trị sự thay đổi là quá trình thiết kế và thực hiện có tính toán sự đổi mới

tổ chức theo hướng thích nghi với những thay đổi của môi trường hoặc những mục đích mới Quản trị sự thay đổi được xác định như một tập hợp toàn diện các quy trình cho việc ra quyết định, lập kế hoạch, thực hiện các bước đánh giá quá trình thay đổi trong mọi hoạt động của doanh nghiệp…

Sự thay đổi được diễn ra ở tất cả mọi quá trình trong doanh nghiệp, chủ động thay đổi nhằm mục đích tạo sức cạnh tranh lớn hơn cho tổ chức, từ việc áp dụng công nghệ mới, những bước dịch chuyển có tính chất chiến lược, tổ chức lại dây chuyền sản xuất, liên kết hoặc hợp nhất với doanh nghiệp khác, tái cơ cấu các bộ phận kinh doanh, đến nỗ lực tối ưu hóa phong cách văn hóa Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những tư tưởng bảo thủ chống lại sự thay đổi Điều đó đồng nghĩa với việc tổ chức đang tự cô lập và tạo nên sự trì trệ trong các hoạt động của tổ chức Chính vì vậy, khi

Trang 21

cần thay đổi tổ chức, trọng tâm của các hoạt động thay đổi là sự thay đổi trong nguyên tắc, đời sống, công việc hàng ngày và đem lại những bước phát triển mới cho một tổ chức

1.2 Khái luận về nhóm làm việc

1.2.1 Khái niệm và phân loại nhóm làm việc

 Khái niệm:

Có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về nhóm làm việc:

Theo Trung tâm từ điển học (2013), nhóm được hiểu là một tập hợp gồm một

số cá thể được hình thành theo những nguyên tắc nhất định Thuật ngữ nhóm có thể được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày để chỉ một nhóm sự vật hoặc một nhóm người Một nhóm người cùng nhau làm việc theo một mục tiêu chung được gọi là

một nhóm làm việc Trong tiếng Việt, thuật ngữ “nhóm làm việc” được dịch từ

“team” trong tiếng Anh hay từ “équipe” trong tiếng Pháp Tuy nhiên các học giải

nước ngoài hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về nhóm làm việc Theo Katzenback và Smith (1993), nhóm làm việc là một tập hợp nhỏ những cá nhân có

kỹ năng bổ sung cho nhau và họ cùng cam kết chung một mục đích, mục tiêu về hiệu suất và cùng chịu trách nhiệm cho những gì mà họ đạt được Trong khi đó, theo Salas và các cộng sự (1992), nhóm làm việc là một tập hợp đặc thù bao gồm hai hoặc nhiều người làm việc có sự tương tác với nhau một cách năng động, phụ thuộc và thích nghi cùng nhau để hướng tới một mục đích/mục tiêu/nhiệm vụ chung

và có giá trị Cuối cùng, các tác giả Harvard Business School (2006) cho rằng nhóm

là một tập hợp các cá nhân với kỹ năng bổ sung cùng hoạt động để đạt được một mục đích chung

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng các quan điểm trên đều thống nhất cho rằng nhóm làm việc bao gồm một tập hợp người có cùng hiểu biết chung

về mục tiêu và kết quả làm việc mà họ hướng tới và cùng nhau thực hiện những hành vi nhất định để đạt được mục tiêu chung đó

Trong bối cảnh môi trường quản trị luôn thay đổi, nhóm làm việc ngày càng được tổ chức một cách chặt chẽ hơn, các thành viên trong nhóm có mức độ phụ

Trang 22

thuộc cao hơn, các kỹ năng và kinh nghiệm giữa các cá nhân được chia sẻ nhiều hơn

để nhóm trở nên linh hoạt hơn và có khả năng thực hiện được những nhiệm vụ phức tạp mà không có bất kỳ cá nhân riêng lẻ nào trong tổ chức có thể thực hiện được

Từ các phân tích trên có thể đưa ra khái niệm như sau về nhóm làm việc:

Nhóm làm việc là sự liên kết của từ hai cá nhân trở lên có mức độ phụ thuộc lẫn nhau cao, chia sẻ quyền hạn và trách nhiệm tự quản lý, chịu trách nhiệm về kết quả tập thể và hướng tới cùng một mục tiêu chung xác định

 Phân loại nhóm làm việc:

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại nhóm làm việc

Theo thời gian vận hành nhóm: có nhóm làm việc tạm thời và nhóm làm việc

thường xuyên (ổn định) Nhóm làm việc tạm thời là nhóm làm việc được hình thành

để thực hiện một nhiệm vụ chuyên biệt do tổ chức giao phó Nhóm làm việc tạm thời tự giải thể khi kết thúc nhiệm vụ Nhóm làm việc thường xuyên (ổn định) có cấu trúc tổ chức mang tính ổn định và lâu dài, nó gắn liền với cơ cấu tổ chức mà trong đó nhóm hoạt động

Theo cách thức giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm: có nhóm làm việc

“thực tế” và nhóm làm việc “ảo” Nhóm “thực tế” là nhóm làm việc mà các thành viên trong nhóm trực tiếp làm việc cùng nhau, trao đổi thông tin và thực hiện các nhiệm vụ được giao Nhóm “ảo” bao gồm các thành viên ở cách xa nhau về mặt địa

lý, giao tiếp với nhau thông qua công nghệ truyền thông Chẳng hạn có thể bắt gặp các nhóm làm việc theo dự án ở các công ty đa quốc gia mà trong đó các thành viên trong nhóm là những nhân viên xuất sắc ở các quốc gia khác nhau

Theo mức độ tương đồng giữa các thành viên trong nhóm: có nhóm làm việc đồng nhất và nhóm làm việc đa dạng Nhóm đồng nhất là nhóm trong đó các thành viên trong nhóm có những đặc điểm giống nhau, chẳng hạn như các đặc điểm nhâu khẩu học, cá tính, các kỹ năng, năng lực, hoặc kinh nghiệm công tác Nhóm đa dạng

là nhóm mà các thành viên chỉ có một vài hoặc không có đậc điểm tương tự nhau

Theo mục tiêu, nhiệm vụ mà tổ chức đặt ra cho nhóm làm việc: có ba loại

nhóm làm việc cơ bản bao gồm: nhóm đặc nhiệm, nhóm làm việc chức năng và nhóm dự án

Trang 23

Nhóm đặc nhiệm là nhóm làm việc được thành lập nhằm giải quyết một vấn đề

cụ thể hoặc cải tiến một chức năng chuyên biệt nào đó trong tổ chức Nhóm đặc nhiệm được vận hành nhằm hỗ trợ cho các hoạt động thường xuyên trong tổ chức

Họ tư vấn cho sự thay đổi nhưng không thực hiện việc thay đổi đó Những nhóm như vậy thường có chu kỳ hoạt động hạn chế hoặc tự giải thể sau khi vấn đề được giải quyết

Nhóm làm việc chức năng là nhóm làm việc trong đó các thành viên trong

nhóm làm việc một cách thường xuyên và ổn định lâu dài Nhóm làm việc chức năng chịu trách nhiệm chính đối với chất lượng một sản phẩm hay một dịch vụ do nhóm tạo ra Các thành viên trong nhóm có thể có cùng kỹ năng chuyên môn hoặc

đa chức năng nhưng có cùng thực hiện một chức năng, nhiệm vụ giống nhau Nhóm này thường kiểm soát chặt chẽ việc hoàn thành các công việc được giao nhưng ít kiểm soát việc lựa chọn các nhiệm vụ, các vấn đề cá nhân và các khía cạnh công việc khác Nhóm làm việc chức năng phát huy được nhiều lợi ích khi hoàn thành các nhiệm vụ phức tạp và hỗ trợ các thành viên trong nhóm trên phương diện xã hội Tuy nhiên, họ gặp phải vấn đề đánh giá và đãi ngộ bởi vì họ thường xuyên gặp khó khăn khi đánh giá và đãi ngộ các cá nhân trong nhóm cho dù các nhiệm vụ và công việc được phân công cho từng cá nhân tương đối độc lập

Nhóm dự án là nhóm bao gồm nhiều thành viên có chuyên môn khác nhau để

cùng nhau thực hiện một dự án trong một khoảng thời gian nhất định Chẳng hạn như nhóm phát triển sản phẩm mới Nhóm dự án làm việc với những nhiệm vụ, công việc độc nhất và không chắc chắn, đòi hỏi sự sáng tạo và ra quyết định Nhóm dự án có cấu trúc tạm thời trong đó các thành viên có thể thay đổi trong quá trình thực hiện dự án hoặc bị giải thể khi dự án được hoàn thành Nhóm dự án đòi hỏi các thành viên trong nhóm gắn kết với nhau trong suốt thời gian thực hiện dự

án, nhưng trong một khoảng thời gian nhất định Nhóm dự án thường là nhóm đa chức năng, trong đó các thành viên trong nhóm có các kỹ năng và kinh nghiệm chuyên môn rất khác nhau Tuy nhiên, họ cũng gặp phải các vấn đề về đánh giá và đãi ngộ vì không ai có khả năng đánh giá các chuyên môn chuyên biệt của các thành viên trong nhóm

Trang 24

1.2.2 Đặc điểm nhóm làm việc

Mặc dù có những tiêu thức phân loại nhóm làm việc khác nhau nhưng có thể thấy rằng bất kỳ nhóm làm việc nào trong một tổ chức cũng có các đặc điểm cơ bản giống nhau như nhóm có mục tiêu chung được xác định, phương thức hoạt động được quy định rõ ràng, sự giao tiếp giữa các thành viên… Bảng 1.1 dưới đây mô tả những đặc điểm cơ bản của nhóm làm việc:

Bảng 1.1 Đặc điểm cơ bản của nhóm làm việc

Nhận thức của các

thành viên

Các thành viên nhận ra rằng họ là một tập thể phụ thuộc nhau

Ảnh hưởng lẫn nhau Tác động giữa người này tới người khác vì họ có

sự kết nối Tương tác giữa các cá nhân Các thành viên giao tiếp và tương tác với nhau thường xuyên Động lực cá nhân Thỏa mãn nhu cầu và mục tiêu của các thành viên

trong nhóm

Nguồn: Johnson và Johnson (2012)

Thứ nhất, nhóm làm việc có định hướng mục tiêu chung Trước hết, mục tiêu

của nhóm làm việc và ranh giới mục tiêu giữa các nhóm làm việc với nhau trong một tổ chức phải được xác định rõ ràng Nhóm làm việc thường được hình thành trong một tổ chức, hoạt động nhằm phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ chung của tổ chức

đó Nếu bất đồng với mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức thì nhóm làm việc không thể tồn tại trong các tổ chức này Ngoài ra, các thành viên trong nhóm làm việc phải cùng nhau hướng tới mục tiêu chung của cá nhóm, cùng phải xác định lợi ích nhóm được đặt lên trên lợi ích cá nhân

Thứ hai, các thành viên trong nhóm làm việc có mối quan hệ phụ thuộc lẫn

nhau Giữa các thành viên nhóm làm việc luôn tồn tại một sự kết nối, tin tưởng và chia sẻ với nhau về những hoạt động và mục tiêu chung Chính sự kết nối này đã

Trang 25

làm nên các giá trị văn hóa, ý tưởng, nhận thức chung được các thành viên trong nhóm làm việc xây dựng và phát triển trong quá trình cùng nhau làm việc

Thứ ba, các thành viên trong nhóm làm việc cần phải nhận thức rõ ràng họ là

một tập thể phụ thuộc vào nhau, nhóm sẽ đạt được mục tiêu chung nếu tất cả các thành viên trong nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Các thành viên trong nhóm phải coi rằng công việc là trách nhiệm chung của cả nhóm mặc dù các cá nhân có thể thực hiện các nhiệm vụ riêng lẻ Bản thân nhà quản trị nhóm làm việc cũng cần phải đặt mình vào trong nhóm, nhà quản trị nhóm không đứng ngoài hay đứng trên những thành viên khác trong nhóm mà là một thành viên thực sự của nhóm trực tiếp tham gia và giám sát công việc của các thành viên trong nhóm

Thứ tư, các thành viên trong nhóm làm việc có mức độ ảnh hưởng và liên đới

chịu trách nhiệm cùng nhau đối với công việc và mục tiêu chung Sự thành công của nhóm làm việc là công sức của tất cả các thành viên trong nhóm Ngược lại nếu tất cả các thành viên trong nhóm gặp thất bại thì nhóm sẽ không thể hoàn thành được mục tiêu thì tất cả thành viên trong nhóm sẽ thất bại Nếu họ không phải liên đới chịu trách nhiệm lẫn nhau, có nhiều khả năng là các cá nhân trong nhóm sẽ đi ngược lại mục tiêu và lợi ích của nhóm

Thứ năm, mối quan hệ cấu trúc trong nhóm làm việc là khá chặt chẽ Nhóm làm

việc có phương thức hoạt động và quy trình làm việc được tổ chức chặt chẽ cho dù sự

ổn định về các thành viên trong nhóm chỉ trong một khoảng thời gian nhất định hay lâu dài Trong nhóm làm việc, các nhiệm vụ và quyền hạn của các thành viên được phân công cụ thể, rõ ràng trên cơ sở năng lực và sở trường của từng cá nhân Tuy nhiên để hướng tới mục tiêu chung đòi hỏi các thành viên trong nhóm làm việc cần tuân thủ các nguyên tắc làm việc chung, thống nhất trong cách tiếp cận công việc trên

cơ sở thực hiện các phương thức hoạt động và quy trình làm việc của nhóm

Thứ sáu, trong nhóm làm việc, các thành viên có sự tương tác và tác động qua

lại với nhau Do nhóm làm việc thực hiện công việc qua sự phối hợp hoạt động chặt chẽ của các thành viên trong nhóm, đồng thời phối hợp khai thác năng lực và sở trường của các thành viên để đạt được hiệu quả công việc cao nhất Thông thường, các thành viên trong nhóm làm việc có chuyên môn về lĩnh vực công việc của mình

Trang 26

phụ trách và có thể giúp đỡ, hỗ trợ thành viên khác trong phạm vi chuyên môn của mình Tuy nhiên họ cũng có thể gặp những khó khăn nhất định khi phải xử lý các tình huống ngoài lĩnh vực chuyên môn của mình Khi đó họ cần chia sẻ thông tin, giao tiếp với các thành viên khác trong nhóm để đạt được năng suất và chất lượng công việc Do đó, các thành viên trong nhóm làm việc thường hiểu hết các công việc của người khác và tương tác thường xuyên với nhau

Thứ bảy, nhóm làm việc cần tạo động lực cá nhân cho các thành viên trong

nhóm Khi mọi người làm việc như một nhóm, họ sẽ đem lại lợi ích nhiều hơn khi

họ làm việc một cách độc lập Thành công trong vai trò một nhóm làm việc sẽ làm cho các thành viên cảm thấy sự gắn bó, tính cộng đồng với các thành viên khác

1.2.3 Các giai đoạn hình thành và phát triển của nhóm làm việc

Cho dù nhóm làm việc là tạm thời hay lâu dài thì cũng phải trải qua một khoảng thời gian nhất định để vận hành một cách trơn tru và hiệu quả bởi lẽ nhóm làm việc được hình thành từ các cá nhân riêng lẻ và cùng hướng tới những mục tiêu chung Thông thường nhóm làm việc được hình thành và phát triển theo năm giai đoạn như Hình 1.1 dưới đây

Hình 1.1 Các giai đoạn hình thành và phát triển nhóm làm việc

Nguồn: Tuckman và Jensen (1977)

Trang 27

Theo quan điểm của Tuckman và Jensen (1977), việc phân chia các giai đoạn hình thành và phát triển nhóm làm việc dựa trên sự phát triển về mối quan hệ nội bộ giữa các thành viên trong nhóm làm việc

học hỏi làm thể nào để hoạt động như một nhóm làm việc Các thành viên có khuynh hướng trở nên hào hứng, thăm dò nhau, và phục tùng mệnh lệnh của người lãnh đạo Họ thường thấy khó chịu và bị ràng buộc bởi vì chưa quen thuộc với các thành viên khác Thành viên của nhóm làm việc không chắc chắn về hành động cần làm, và họ dành thời gian lập kế hoạch cho công việc của mình

Giai đoạn thành lập nhóm gắn liền với những khó khăn ban đầu, thường là chưa rõ ràng về vai trò của các thành viên, về nhiệm vụ cần thực hiện, phương pháp

và phong cách lãnh đạo điều hành nhóm của nhà quản trị nhóm Các cá nhân, mặc

dù đã tham gia là thành viên nhóm nhưng vẫn thấy là cá nhân riêng biệt Nhóm mới này thực chất vẫn còn là một tập hợp các cá nhân có cùng mục tiêu Giai đoạn này

là thời gian tìm kiếm: “Chúng ta ở đây làm gì?” “Tôi sẽ làm phần công việc nào?”

“Tôi phải làm gì đây?” Giai đoạn này kết thúc khi thành viên của nhóm trở nên thoải mái tương tác nhau

Giai đoạn sóng gió: Trong giai đoạn này nhóm các cần được xác định rõ

ràng hơn nội dung công việc nhóm phải làm, hoặc các mục tiêu cụ thể cần đạt được Các thành viên bắt đầu nhận thấy phần nào vai trò của mình trong việc đạt được mục tiêu; và xu hướng hợp tác với nhau để thực hiện các công việc cần làm

Trong nhóm tồn tại các xung đột giữa các thành viên và đôi khi có sự nhầm lẫn về vai trò các thành viên và về yêu cầu mục tiêu chung Các thành viên của nhóm bắt đầu nhận ra rằng công việc và hoạt động của nhóm khó khăn hơn dự đoán, và họ có thể trở nên lo lắng Xung đột về vai trò và nhiệm vụ tăng lên giữa các thành viên; giữa những người muốn thực hiện công việc nhanh chóng và những người làm việc thận trọng; giữa những người đã quyết định công việc được thực hiện như thế nào và những người có khuynh hướng thử nghiệm Một số thành viên mạnh dạn đề xuất và áp dụng giải pháp, trong khi những người khác lo lắng về việc liệu các vấn đề đã được xác định chính xác hay chưa Cũng có những thành viên thể

Trang 28

hiện khuynh hướng độc đoán ngay từ đầu, và những người thích làm việc trong môi trường dân chủ, cởi mở hơn Các vấn đề cá nhân cũng xuất hiện Một số thành viên muốn giành được ảnh hưởng trong nhóm, hoặc vì họ có tố chất lãnh đạo tự nhiên, hoặc vì họ muốn ưu tiên áp dụng phương pháp riêng, hoặc muốn sử dụng nhóm để tăng uy tín và quyền lực

Ở giai đoạn này, các thành viên trong nhóm bắt đầu tìm kiếm tự do trong hoạt động nhóm Họ bắt đầu bày tỏ những ý kiến khác nhau về mục tiêu chung của nhóm

và tìm cách giải quyết vấn đề thế nào cho tốt Nhiệm vụ của nhà quản trị nhóm trong giai đoạn này là phát triển mục tiêu chung, thống nhất giá trị và phương thức hoạt động của nhóm Các cuộc tranh luận nảy lửa không thể tránh khỏi trong quá trình làm việc và mâu thuẫn thường xảy ra trong giai đoạn này

thực hiện các nhiệm vụ Trong thời gian này, nhóm trở nên gắn bó hơn, giảm dần các xung đột Các thành viên nhận thấy họ không còn là một tập hợp các cá nhân riêng biệt, mỗi người đều có mục tiêu và chương trình hành động của riêng mình, nhưng cùng hướng tới một mục tiêu chung Nếu trước đó họ xác định vai trò của mình là tự phục vụ, trong giai đoạn này, họ xác định vai trò của mình là phục vụ nhóm Vai trò cũ phụ thuộc vào vai trò mới, nhằm đảm bảo nhóm đạt được mục tiêu chung đã đề ra Các thành viên đều hiểu rằng phải chú ý đến tương tác giữa các thành viên nhóm

Nhóm thành lập một vài quy tắc hoặc tiêu chuẩn, chuẩn hóa (norming) để giúp các thành viên làm việc cùng nhau hiệu quả hơn, và các mối quan hệ xã hội được phát triển đủ để phân định đây là một nhóm cụ thể Các thành viên cũng tăng mức

độ tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau Mặc dù những khác biệt vẫn tồn tại và tiếp tục nảy sinh, nhưng các thành viên đã chung tay thảo luận và đàm phán cùng nhau để giải quyết tối ưu

Giai đoạn hình thành chuẩn mực của nhóm được định hình bởi các cuộc thương lượng, đàm phán nghiêm túc hơn về vai trò của từng cá nhân trong nhóm, cách thức tổ chức nhóm và quy trình làm việc Đây cũng là giai đoạn các thành viên trong nhóm cùng có mối quan hệ với nhau

Trang 29

Giai đoạn đi vào hoạt động ổn định: Trong giai đoạn này nhóm đã trưởng

thành và biết cách hoạt động, vì vậy tập trung vào các nhiệm vụ của mình Nếu nhóm đã phát triển các tiêu chuẩn và xây dựng thành công các mối quan hệ xã hội, điều đó có thể giúp dễ dàng quản lý được thời gian, tránh căng thẳng khi gần đến các thời hạn cuối cùng Nghiên cứu về nhóm chỉ ra rằng hầu hết việc thực thi xảy ra trong suốt giai đoạn này, gần kết thúc dự án của nhóm

Giai đoạn kết thúc: Đây là giai đoạn nhằm đánh giá kết quả nhóm và tiến

hành giải thể nếu các nhiệm vụ và mục tiêu nhóm được hoàn thành Khi nhóm đi đến giai đoạn kết thúc, các thành viên trong nhóm cần dành thời gian cho việc đánh giá quá trình và kết quả làm việc nhóm cũng như sử dụng các phản hồi để chuẩn bị cho các công việc trong tương lai

Đây là giai đoạn mà mọi thành viên trong nhóm yêu thích nhất – giai đoạn đạt năng suất và hiệu quả cao nhất Những tồn đọng của các giai đoạn trước còn sót lại đều có thể được giải quyết và cả nhóm tập trung toàn bộ sức lực hoàn thành mục tiêu chung Các thành viên rất phấn khích khi làm việc với nhau để cùng đạt mục tiêu chung và tinh thần đồng đội tăng cao hơn bao giờ hết

1.2.4 Một số nội dung cơ bản của nhóm làm việc

Khi nhắc tới nhóm, có rất nhiều chủ đề xung quanh khái niệm này nhưng tất

cả sẽ nằm trong phạm vi của 6 nội dung cơ bản sau:

Thành viên nhóm: Là những người thuộc về một nhóm người cụ thể hoạt

làm việc với nhau vì một mục tiêu chung Thành viên nhóm bao gồm trưởng nhóm

và các thành viên còn lại

Trưởng nhóm là người có thể không có thẩm quyền đối với các thành viên khác nhưng được chỉ định từ cấp có thẩm quyền để làm những nhiệm vụ sau: (1) đại diện cho nhóm báo cáo lên các cấp cao hơn; (2) là người ra quyết định cuối cùng của nhóm; (3) giải quyết mâu thuẫn giữa các thành viên trong nhóm; (4) điều phối hoạt động của nhóm

Văn hóa nhóm: Là cách cư xử của nhóm đối với các vấn đề xảy ra xung

quanh nhóm Đó là những giá trị về niềm tin, đạo đức, các giá trị văn hóa được gây

Trang 30

dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của nhóm và được toàn bộ các thành viên nhóm thấu hiểu, áp dụng

Quản trị sự thay đổi trong nhóm: Là việc tiếp cận một cách có hệ thống

để thích ứng với sự thay đổi trong mục tiêu, quy trình hoặc công nghệ của nhóm hoặc của tổ chức

Cơ cấu nhóm: Là cách thức tổ chức vị trí, vai trò của các thành viên

trong một nhóm Một nhóm thông thường sẽ bao gồm một trưởng nhóm và các thành viên Tuy nhiên hiện nay các doanh nghiệp tổ chức cơ cấu nhóm rất linh hoạt

và mềm dẻo để phù hợp với điều kiện hoạt động của doanh nghiệp nên những vị trí trong nhóm có thể thay đổi luân phiên, không cố định

Cơ chế giám sát: Trong quá trình hoạt động, nhóm sẽ quy định ra các

phương thức để theo dõi quá trình hoạt động của từng thành viên để đảm bảo rằng các hoạt động đó đang đi đúng với mục tiêu mà nhóm đã đề ra, các quy định này chính là cơ chế giám sát

Phát triển kĩ năng: Mỗi thành viên khi làm việc sẽ phải đối mặt với

nhiều tình huống phát sinh với chính bản thân hoặc với cả nhóm Từ đó, họ sẽ được rèn luyện và phát triển nhiều kĩ năng như khả năng lắng nghe, khả năng xử lý giải quyết vấn đề, kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng giao tiếp…

1.3 Vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược

1.3.1 Vai trò của làm việc nhóm trong tổ chức

Trên thế giới, 70% các nền văn hóa đều có thiên hướng được dẫn dắt bởi các

tổ chức; cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi các tổ chức phải trở nên “phẳng” và linh hoạt hơn Dưới đây là những ưu điểm nổi bật của làm việc nhóm đối với tổ chức:

Phân công công việc:

Làm việc nhóm đảm bảo rằng có sự phân phối công bằng và công bằng trong

tổ chức Phân phối công việc hợp lý đảm bảo rằng mọi người hoặc mọi đơn vị làm việc đều thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào, với hiệu quả tốt nhất có thể Việc phân chia công việc, cũng đảm bảo rằng công việc được thực hiện đúng thời hạn và thời hạn không được gia hạn Làm việc theo nhóm tạo điều kiện tăng năng suất và hiệu quả của công việc Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng làm việc theo nhóm năng suất

Trang 31

và hiệu quả của mỗi cá nhân cao hơn hẳn năng suất và hiệu quả trung bình của mỗi

cá nhân khi làm việc riêng lẻ Vì trong nhóm, khi làm việc các kỹ năng và kinh nghiệm có thể bổ trợ lẫn nhau

Giảm rủi ro:

Khi nhiệm vụ được giao có thể được thực hiện với hiệu suất tối đa thì sẽ giảm thiểu được rủi ro Ưu điểm tốt nhất của tinh thần đồng đội trong kinh doanh là áp lực của việc thất bại được chia đều cho tất cả các thành viên của đội chứ không rơi vào bất kỳ một cá nhân cụ thể nào Ngoài ra, làm việc theo nhóm có thể giảm được một số nhân sự, khâu trung gian nên linh hoạt hơn Vì linh hoạt nên tổ chức dễ thay đổi để đối phó với thay đổi của môi trường, nắm bắt cơ hội và giảm thiểu nguy cơ Nhóm có thể tạo ra môi trường làm việc mà các kiến thức và kinh nghiệm của các

cá nhân bổ trợ cho nhau, các quyết định đưa ra toàn diện và phù hợp hơn Nhóm làm việc có đủ khả năng hoàn thành một dự án hoàn chỉnh trong khi mỗi cá nhân chỉ có thể hoàn thành một phần việc Nhóm có thể tận dụng những gì tốt nhất của mỗi cá nhân trong công tác chuyên môn và cả ngoài chuyên môn.Các thành viên tự rút ra những gì tốt nhất để học hỏi lẫn nhau, cải thiện thái độ và ứng xử của mình

Gắn liền lợi ích cá nhân với lợi ích tổ chức:

Một trong những lợi thế lớn nhất của tinh thần đồng đội là lợi ích cá nhân phụ thuộc vào lợi ích của tổ chức Điều này đảm bảo rằng tất cả các thành viên trong nhóm sẽ nỗ lực tối đa có thể vào công việc của họ, do đó đảm bảo sản lượng chất lượng cao và kịp thời Mô hình làm việc theo nhóm có thể thúc đẩy tinh thần hợp tác, sự phối hợp, hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, từ đó tạo ra những giải pháp mới cho mọi vấn đề khó khăn Những kỹ năng và sự hiểu biết của cả nhóm có ích lợi lớn đối với từng cá nhân Tuy nhiên, lợi ích lớn nhất của mô hình đội nhóm là tận dụng mọi nguồn lực chung của nhóm Kỹ năng của mỗi cá nhân và

sự tự giám sát của nhóm sẽ tạo điều kiện cho việc hoàn thành mục tiêu một cách tốt nhất Thậm chí, với những vấn đề có thể được xử lý bởi một cá nhân, thì việc giao cho đội nhóm giải quyết vẫn có những ích lợi riêng: thứ nhất là việc tham gia của nhóm sẽ tăng khả năng quyết định và thực hiện, thứ hai là có những vấn đề mà nhóm sẽ có khả năng phân tích rõ hơn chỉ một cá nhân riêng lẻ

Trang 32

Cơ hội học hỏi:

Ích lợi của mô hình làm việc nhóm còn được thể hiện qua sự hoàn thiện bản thân của mỗi thành viên tham gia Mỗi nhóm làm việc thường bao gồm các thành viên có kĩ năng và tài năng riêng Qua việc tham gia thảo luận về quyết định của nhóm, qua việc tham gia tìm hiểu mục đích và văn hoá nhóm, mỗi người sẽ có khả năng giải quyết một khía cạnh của những vấn đề liên quan đến công việc Từ góc độ

cá nhân, mỗi người có thể phát huy được khả năng tiềm tàng của mình đồng thời có thể học hỏi thêm được những kĩ năng mà họ chưa có Bởi vì nhóm có thể tạo môi trường làm việc tập thể – nơi mỗi cá nhân đều được giao trách nhiệm và có quyền hạn, nơi mà sự tin tưởng và sẻ chia được đặt lên hàng đầu – nên có thể khuyến khích mọi người làm việc nhiệt tình hơn

1.3.2 Vai trò của làm việc nhóm trong triển khai chiến lược

Như đã đề cập từ những nội dung trước, một trong những nội dung cơ bản của chiến lược chính là định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra

Và làm việc nhóm chính là phương thức biểu đạt cách thức phân bổ nguồn lực của

tổ chức được áp dụng rộng rãi trong giai đoạn hiện nay

Chiến lược đặt ra mục tiêu và phương hướng hoạt động chung nhất cho tổ chức Khi tổ chức thực hiện triển khai chiến lược, đó là lúc tổ chức chuyển hóa những mục tiêu và phương hướng hoạt động đó thành những nội dung chi tiết và cụ thể hơn thì nhóm chính là tập hợp các cá nhân trong tổ chức được giao thực hiện cùng một nội dung chi tiết đó Tiếp theo, luận văn sẽ trình bày cụ thể về vai trò của làm việc nhóm tới các nội dung của triển khai chiến lược

 Vai trò của làm việc nhóm trong Xây dựng cơ cấu tổ chức:

Hiện nay, với sự hiệu quả ngày một gia tăng của làm việc nhóm, ngày càng có nhiều doanh nghiệp xây dựng cơ cấu tổ chức của mình dựa trên nền tảng cốt lõi là các nhóm Cách tiếp cận này giúp cho doanh nghiệp có thể tối đa hóa điểm mạnh và tối thiểu hóa điểm yếu của nhân viên Cơ cấu tổ chức dựa trên nhóm tập hợp những

cá nhân có vai trò khác nhau vào thành các nhóm dự án để thực hiện các chức năng

Trang 33

cụ thể Loại cơ cấu này cho phép đảm bảo khả năng bao phủ tốt nhất cho các hoạt động như phát triển sản phẩm, hỗ trợ khách hàng và các sáng kiến cải tiến quy trình

Cụ thể như sau:

Khi một nhóm làm việc hiệu quả, doanh nghiệp có thể giảm bớt các cấp quản

lý giúp cho người lao động có thể đưa ra các quyết định mà không cần phải xin phép qua nhiều cấp Điều này giúp hợp lý hóa quy trình và giảm chi phí quản lý hành chính Bởi vì những thành viên trong nhóm đều có chung mục tiêu nên họ sẽ

ưu tiên tập trung vào các thực hiện các nhiệm vụ thay vì vướng vào các tranh cãi nhỏ lẻ mà cần có sự can thiệp của cấp quản lý

Ngoài ra, sự linh hoạt và cân bằng khi xây dựng cơ cấu tổ chức là điều rất rõ ràng khi các hoạt động làm việc nhóm tỏ rõ sự hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp Với cơ cấu tổ chức dựa trên nhóm, doanh nghiệp có thể xây dựng các đội ngũ phù hợp với từng dự án khác nhau mà vẫn đảm bảo nguồn lực

 Vai trò của làm việc nhóm trong Phát triển văn hóa doanh nghiệp:

Muốn phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng nền văn hóa đặc trưng cho mình Chỉ khi đó, họ mới phát huy được tiềm năng của mọi cá nhân, góp phần thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp

Sự phát triển mạnh mẽ của làm việc nhóm đang tạo ra một nền văn hóa làm việc dựa trên sự cộng tác Trong môi trường làm việc nhóm, các thành viên đều hiểu và tin rằng việc nghĩ, lên kế hoạch, quyết định và hành động sẽ trở nên tốt hơn khi thực hiện sự cộng tác: “Không ai trong chúng ta tốt bằng tất cả chúng ta”

“Đồng đội” (TEAM) là một từ gần đây rất thịnh hành trong giới quản lý doanh nghiệp, nó dường như đã trở thành một danh từ thay thế của trạng thái làm việc lý tưởng thống nhất giữa lợi ích cá thể và lợi ích tập thể, từ đó thực hiện vận hành hiệu quả cao của tổ chức Doanh nghiệp là một tổ chức đồng đội Tinh thần đồng đội là một trong những bí quyết quan trọng của sự thành công của doanh nghiệp, cũng là một trong những tiêu chuẩn để doanh nghiệp, cũng là một trong những tiêu chuẩn

để doanh nghiệp chọn lựa nhân viên Tinh thần đồng đội của nhân viên là nhân tố quan trọng nhất quyết định thành quả vên là nhân tố quan trọng nhất quyết định

Trang 34

thành quả công tác Tinh thần đồng đội của nhân viên được biểu hiện bởi ý thức hợp tác, sự phối hợp hài hoà, lấy lợi ích của doanh nghiệp làm trọng, yêu nghề, đoàn kết với đồng nghiệp trong tổ chức doanh nghiệp Chỉ khi nhân viên tự giác nghĩ tới lợi ích chỉnh thể của doanh nghiệp, thì khi gặp khó khăn sẽ tìm kiếm nguyên nhân, nghĩ cách để giải quyết tốt những khó khăn đó, mà không lo ngại phải va chạm với các

bộ phận tương quan trong công việc, cũng sẽ không chi li tính toán vì sự bất đồng ý kiến giữa đồng nghiệp với nhau, giữa nhân viên với nhau để đạt tới sự đoàn kết chân thành, hợp đồng tác chiến, xây doanh nghiệp dựng một hình tượng doanh nghiệp có sức tập hợp mạnh mẽ Đồng thời, tinh thần đồng đội cũng rất có ích cho chúng ta xử lý vấn đề mối quan hệ giữa phát triển cá nhân và phát triển doanh nghiệp, nhân viên sẽ không chi li tính toán được mất nhất thời của mình, mà biết nhìn xa hơn, làm việc hết mình vì sự nghiệp chung, thật sự hoà mình vào sự phát triển của doanh nghiệp “Sự khác biệt duy nhất của thiên tài chính là hợp tác đồng đội” Hiệu ứng đồng đội vừa có thể phát huy được hiệu quả tốt nhất của mỗi một cá nhân, lại có thể nảy sinh hiệu ứng tập thể tốt nhất

Với mô hình tổ chức dựa trên nền tảng là các nhóm làm việc trong rất nhiều doanh nghiệp hiện nay thì nhóm làm việc chính là nơi thể hiện văn hóa của doanh nghiệp rõ ràng nhất Chính từ những giá trị về tinh thần làm việc nhóm, sự hết mình

vì mục tiêu chung của các nhóm sẽ xây dựng nên một nền văn hóa doanh nghiệp đặc sắc và hiệu quả

 Vai trò của làm việc nhóm trong Xây dựng cơ chế giám sát:

Các tổ chức ngày nay đang dần trở nên phụ thuộc vào các nhóm làm việc ở bên trong nội bộ tổ chức bởi vì hiện nay các nhiệm vụ cần được hoàn thành càng ngày càng trở nên quá phức tạp nếu chỉ thực hiện một mình Và khi đó, khái niệm

“giám sát hoạt động lẫn nhau” (mutual performance monitoring) càng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết “Giám sát hoạt động lẫn nhau” là việc các thành viên trong nhóm vẫn có thể dõi theo hoạt động của thành viên trong nhóm trong lúc làm việc của chính bản thân họ để đảm bảo rằng mọi thứ vẫn đang diễn ra theo đúng dự kiến

và trình tự đã đặt ra Trong quá khứ, giám sát thường được coi là chức năng của người lãnh đạo hoặc của một cá nhân, một nhóm chuyên trách, tuy nhiên trong thời

Trang 35

đại hiện nay, một thành viên trong nhóm phải có khả năng biết được hoạt động chung của cả nhóm có đang đi đúng hướng hay không Điều này giảm bớt sự ỷ lại của các thành viên trong nhóm vào lãnh đạo nhóm hay đội giám sát chuyên trách, nâng cao tinh thần làm việc trách nhiệm Từ đó có thể điều chỉnh hoạt động kịp thời

và chính xác

Mở rộng phạm vi từ nhóm ra doanh nghiệp thì việc các nhóm làm việc trong doanh nghiệp có thể theo dõi hoạt động của nhau giúp cho doanh nghiệp có thể phát hiện sai sót kịp thời, đảm bảo kế hoạch được triển khai theo đúng tiến độ, trình tự

 Vai trò của làm việc nhóm trong Phát triển kĩ năng cá nhân:

Ích lợi của mô hình đội nhóm còn được thể hiện qua sự hoàn thiện bản thân của mỗi thành viên tham gia Tham gia thảo luận, tìm hiểu mục đích và văn hoá nhóm, mỗi người sẽ có khả năng giải quyết những vấn đề liên quan đến công việc

Từ đó mỗi người có thể phát huy được khả năng tiềm tàng của mình Vì nhóm có thể tạo môi trường làm việc tập thể - nơi mỗi cá nhân đều được giao trách nhiệm

và có quyền hạn, nơi mà sự tin tưởng và sẻ chia được đặt lên hàng đầu - nên có thể khuyến khích mọi người làm việc nhiệt tình hơn Khi các thành viên cùng góp sức giải quyết một vấn đề chung, họ học hỏi được cách xử lý mọi nhiệm vụ đơn giản hay khó khăn; họ học hỏi từ những thành viên khác và cả người lãnh đạo Thúc đẩy quản lý theo nhóm là cách tốt nhất để phát huy năng lực của các nhân viên (một hình thức đào tạo tại chức) Hoạt động theo nhóm mang lại cơ hội cho các thành viên thoả mãn những nhu cầu về bản ngã, được đón nhận và thể hiện mọi tiềm năng Quản lý theo nhóm giúp phá vỡ bức tường ngăn cách, tạo sự cởi mở và thân thiện giữa các thành viên và người lãnh đạo Thông qua việc quản lý theo nhóm, các thành viên có thể học hỏi và vận dụng phong cách lãnh đạo từ cấp trên của mình

 Vai trò của làm việc nhóm trong Quản trị sự thay đổi:

Mục tiêu cao nhất của việc Quản trị sự thay đổi chính là điều chỉnh hoạt động của tổ chức bằng cách khuyến khích và truyền cảm hứng cho người lao động nhanh chóng thích nghi với phương thức làm việc mới Sự thay đổi chỉ có thể thành công

Trang 36

khi tất cả các thành viên trong tổ chức cũng đều tham gia vào sự thay đổi đó Trong thời đại mà môi trường kinh doanh thay đổi rất nhanh như hiện nay, chính các thành viên làm việc ở quy mô nhỏ chính là ở trong các nhóm sẽ là những người nhạy cảm nhất với những biến động của môi trường Với số lượng thành viên ít, các nhóm có thể nhanh chóng đưa ra những phương án thích nghi phù hợp và tiến hành thực hiện thay đổi kịp thời, đồng thời có thể nhanh chóng kiểm tra được tính hiệu quả của sự thay đổi đó Như vậy, các nhóm làm việc không chỉ là những nhân tố đầu tiên giúp cho tổ chức phát hiện biến động của môi trường mà còn là nơi giúp cho tổ chức có thể truyền đạt sự thay đổi một cách nhanh chóng, hiệu quả và toàn diện nhất

Như vậy, hiệu quả hoạt động của các nhóm làm việc sẽ tác động trực tiếp tới kết quả của quá trình triển khai chiến lược Hiệu quả đạt được tốt sẽ giúp cho tổ chức luôn đi đúng hướng, bám sát với mục tiêu đã đặt ra trong chiến lược, đồng thời giúp cho tổ chức kịp thời thích nghi với sự biến đổi của môi trường xung quanh

Trang 37

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này sẽ giới thiệu về các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện nay (định lượng và định tính), so sánh ưu nhược điểm của từng phương pháp để từ đó lựa chọn được phương pháp nghiên cứu phù hợp với luận văn Sau đó, tác giả tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu, thiết kế thang đo phục vụ cho nghiên cứu thực

tế ở chương III

2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính

2.1.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng là xem xét hiện tượng theo cách có thể đo lường được trên các đối tượng nghiên cứu Nói chung, nghiên cứu định lượng thường được áp dụng đối với các hiện tượng có thể được diễn tả/quy đổi bằng số Đây là phương pháp nghiên cứu sử dụng các phương pháp khác nhau để lượng hóa, đo lường và phản ảnh diễn giải các mối quan hệ giữa các nhân tố (các biến) với nhau Trong khoa học xã hội, nghiên cứu định lượng được sử dụng rộng rãi trong tâm lý học, kinh tế học, xã hội học, tiếp thị, y tế… Phương pháp nghiên cứu định lượng có những đặc trưng cơ bản sau đây:

 Nghiên cứu định lượng liên quan đến lượng và số trong khi định tính liên quan đến chất và mô tả

 Mục đích của nghiên cứu định lường là đo lường, kiểm tra sự liên quan giữa các biến số dưới dạng số đo và thống kê

 Việc sử dụng các mô hình kinh tế lượng, mô hình toán là bắt buộc khi sử dụng phương pháp nghiên cứu này

 Nghiên cứu định lượng được dùng để tổng quát hóa kết quả nghiên cứu thông qua phân phối ngẫu nhiên và lấy mẫu đại diện

 Nghiên cứu định lượng có thể cung cấp dữ liệu để mô tả sự phân bổ của các đặc điểm và tính chất tổng thể của nghiên cứu, khảo sát các mối quan hệ giữa chúng

và xác định mối quan hệ nhân quả

 Đối với các biến số có bản chất là định tính (không đo lường được), việc lượng hóa biến số là yêu cầu bắt buộc để thực hiện nghiên cứu định lượng

Trang 38

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính là hướng tiếp cận nhằm thăm dò, mô tả và giải thích dựa vào các phương tiện khảo sát kinh nghiệm, nhận thức, động cơ thúc đẩy, dự định, hành vi, thái độ Chúng có thể hướng chúng ta đến việc xây dựng giả thuyết và các giải thích Phương pháp nghiên cứu định tính phù hợp để trả lời các câu hỏi “Thế nào?”, “Tại sao?” hoặc “Cái gì?” Trong nghiên cứu định tính, dữ liệu được sử dụng

có thể là dữ liệu định tính hoặc dữ liệu định lượng Trong đó, dữ liệu định tính thường ở dạng chữ, phản ánh tính chất, đặc điểm hay sự hơn kém và ta không tính được trị trung bình của dữ liệu dạng định tính Để phục vụ mục đích thống kê, mô tả trong nghiên cứu định tính thì việc mã hóa dữ liệu định tính thành dạng số (lượng hóa) có thể được thực hiện hoàn toàn tương tự như khi sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Điểm khác biệt duy nhất là khi sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, người nghiên cứu không thực hiện các mô hình kinh tế lượng, mô hình toàn với các dữ liệu được lượng hóa đó Phương pháp nghiên cứu định tính có những đặc trưng cơ bản sau đây:

 Nghiên cứu định tính liên quan đến mô tả, giải thích và ít nhiều có yếu tố chủ quan của người nghiên cứu

 Mục đích của nghiên cứu định tính là trả lời các câu hỏi nghiên cứu bằng dữ liệu mang tính chất giải thích, minh chứng cho kết quả của người nghiên cứu tìm ra Tuy nhiên, những kết quả đó không được chứng thực bằng các mô hình kinh tế lượng hay mô hình toán như trong nghiên cứu định lượng

 Nghiên cứu định tính đặc biệt phù hợp để trả lời các câu hỏi mà nghiên cứu định lượng chưa thực hiện được, nhằm mở ra hướng nghiên cứu mới sử dụng phương pháp khoa học Do đó, đây cũng là thách thức cho nhà nghiên cứu khi sử dụng phương pháp này

 Đây là phương pháp có vẻ dễ dàng sử dụng nhưng không dễ dàng thuyết phục vì yếu tố này phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực tư duy và lý luận của người nghiên cứu; khác với nghiên cứu định lượng là phụ thuộc vào kết quả sau khi chạy các mô hình

Trang 39

2.1.3 Sự khác biệt giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Bảng 3.1 Sự khác biệt giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Đặc điểm

- Nhấn mạnh vào kiểm tra bằng chứng

- Tập trung vào cơ sở lập luận hoặc các

nguyên nhân của các sự kiện

- Cách tiếp cận logic và phê phán

- Cách nhìn khách quan của người ngoài

cuộc, cách xa số liệu

- Tập trung giải quyết giả thuyết

- Kết quả được định hướng

- Nhấn mạnh vào sự hiểu biết

- Tập trung vào sự hiểu biết từ quan điểm của người cung cấp thông tin

- Cách tiếp cận qua lý lẽ và giải thích

- Cách nhìn chủ quan của người trong cuộc và gần gũi với số liệu

- Định hướng thăm dò, giải thích

- Quá trình được định hướng

Khó khăn

- Tiềm ẩn nhiều sai biệt thống kê, tốn

nhiều thời gian nếu gặp vấn đề về dữ

liệu

- Khó kiểm soát chất lượng đầu ra

- Khó tiếp cận chuyên gia để phỏng vấn

- Khó viết phần phân tích và báo cáo

Nên lựa chọn sử dụng khi

- Am hiểu và có khả năng xử lý và phân

tích dữ liệu thống kê

- Vấn đề nghiên cứu có tính chất mô tả

và dự báo mối quan hệ giữa các biến phụ

thuộc và biến tác động (biến độc lập)

- Nếu chọn nghiên cứu định lượng, cần

chú ý khả năng thu thập dữ liệu và khả

năng thực hiện thiết kế nghiên cứu

hoàn chỉnh

- Không am hiểu và không có khả năng xử lý phân tích dữ liệu thống

kê tốt

- Vấn đề nghiên cứu không nhằm

mô tả và dự báo mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc và biến tác động

- Các vấn đề nghiên cứu tập trung vào sự khám phá một kinh nghiệm hoặc hành vi, về một hiện tượng còn

ít biết tới

- Nếu chọn nghiên cứu định tính, nên chú ý khả năng tiếp cận và phỏng vấn chuyên gia hoặc thu thập

dữ liệu thứ cấp

Nguồn: RCES (2016)

Trang 40

Từ những ưu nhược điểm như trên, học viên lựa chọn phương pháp nghiên cứu định lượng, cụ thể là sử dụng mẫu khảo sát và phương pháp chọn mẫu

2.2 Mô hình nghiên cứu

2.2.1 Các giả thiết nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của làm việc nhóm đối với doanh nghiệp, tuy nhiên việc nghiên cứu cụ thể về vai trò của làm việc nhóm đối với triển khai chiến lược thì lại rất ít Theo mô hình hành vi nhóm được đề cập trong cuốn sách “Organizational Behavior” của tác giả Robbins P.S (1998) thì thì sự thành bại của một nhóm sẽ được quyết định bởi các yếu tố: các điều kiện bên ngoài, nguồn lực của các thành viên trong nhóm, cấu trúc nhóm, quy trình làm việc nhóm và nhiệm vụ được giao Các yếu tố này đều có mối quan hệ thuận chiều tới kết quả của làm việc nhóm

Hình 2.1 Mô hình hành vi nhóm

Nguồn: Robbins P.S (1998)

Trên cơ sở tham khảo mô hình trên và kết hợp với kết luận về quan hệ của hiệu quả hoạt động của nhóm làm việc tới kết quả của quá trình triển khai chiến lược trong chương I, trong nghiên cứu cụ thể này, tác giả tập trung vào việc xác định ảnh hưởng của các yếu tố có sẵn bên trong nhóm đến quá trình triển khai chiến lược Cụ thể là các yếu tố của làm việc nhóm, bao gồm: thành viên nhóm, văn hóa

Ngày đăng: 31/12/2020, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm