1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ của khách hàng cá nhân sử dụng thẻ tín dụng do ngân hàng TMCP đông á phát hành

72 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM --- NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG THẢO NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI THANH TOÁN NỢ CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG D

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI THANH TOÁN NỢ CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG DO NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á PHÁT HÀNH

Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Học viên thực hiện luận văn

Nguyễn Ngọc Phương Thảo

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Danh mục từ viết tắt iv

Danh mục bảng, biểu đồ v

Tóm tắt vii

Phần mở đầu 1

Chương 1 Tổng quan về thẻ tín dụng và hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng 4

1.1 Tổng quan về thẻ tín dụng 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Hoạt động phát hành, thanh toán và quản lý nợ thẻ tín dụng 6

1.1.2.1 Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ phát hành, thanh toán và quản lý nợ thẻ tín dụng 6

1.1.2.2 Quy trình phát hành, thanh toán và quản lý nợ của thẻ tín dụng 7

1.1.3 Những lợi ích từ việc sử dụng thẻ tín dụng 9

1.1.3.1 Xét trên phương diện vĩ mô 9

1.1.3.2 Xét trên phương diện vi mô 10

1.2 Tổng quan về hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng 11

1.2.1 Khái niệm về hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng 11

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng 12

1.2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng 12

1.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng 13

1.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm bằng mô hình kinh tế lượng 18

1.2.3.1 Mô hình của Kim and A De Vaney (2001) 18

1.2.3.2 Mô hình của Stavins (2000) 20

1.2.3.3 Đánh giá mô hình Kim and A De Vaney (2001) và Stavins (2000) 21

Chương 2: Thực trạng về hành vi thanh toán nợ của khách hàng cá nhân sử dụng thẻ tín dụng do Ngân hàng TMCP Đông Á phát hành và mô hình nghiên cứu 23 2.1 Hoạt động phát hành thẻ tín dụng tại DAB 23

2.2 Thực trạng hành vi thanh toán nợ 24

2.3 Mô hình nghiên cứu đề nghị 26

2.3.1 Khung phân tích của mô hình nghiên cứu 26

2.3.2 Xác định biến và dấu kỳ vọng trong mô hình kinh tế lượng 26

2.3.3 Mô hình kinh tế lượng đề nghị 28

2.3.4 Phát triển giả thiết 29

Trang 4

2.4 Dữ liệu nghiên cứu 30

2.5 Mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ của KHCN sử dụng thẻ tín dụng do DAB phát hành 30

2.5.1 Giới tính 30

2.5.2 Độ tuổi 31

2.5.3 Trình độ học vấn 32

2.5.4 Số người phụ thuộc 33

2.5.5 Tình trạng hôn nhân 34

2.5.6 Tình trạng sở hữu nhà ở 36

2.5.7 Thu nhập 37

2.5.8 Tỷ lệ hạn mức thẻ tín dụng /thu nhập 38

2.6 Ma trận tương quan và kiểm tra đa cộng tuyến giữa các biến 39

Chương 3: Kết quả từ mô hình nghiên cứu 42

3.1 Mô hình hồi quy logistic các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ của KHCN sử dụng thẻ tín dụng do DAB phát hành 42

3.1.1 Mô hình tổng thể 42

3.1.2 Mô hình giới hạn 44

3.2 Nhận xét chung và lựa chọn mô hình 47

3.3 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ của KHCN sử dụng thẻ tín dụng do DAB phát hành 49

Chương 4: Kết luận và đề xuất 55

4.1 Kết luận 55

4.2 Hạn chế của đề tài 56

4.3 Một số đề xuất từ mô hình nghiên cứu 57

Tài liệu tham khảo 62

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1 : Quy trình nghiệp vụ thanh toán thẻ tín dụng 8

Biểu đồ 2.1 : Số lượng thẻ tích lũy cuối kỳ 24

Biểu đồ 2.2: Thực trạng hành vi thanh toán nợ của KHCN sử dụng thẻ tín dụng do DAB phát hành từ kỳ sao kê tháng 01/2013 đến 07/2013 25

Bảng 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng và dấu kỳ vọng 27

Bảng 2.2 : Diễn giải các biến trong mô hình hồi quy logistic 29

Biểu đồ 2.3 : Tỷ lệ HVTT nợ đúng hạn theo giới tính 31

Biểu đồ 2.4 : Tỷ lệ HVTT nợ trễ hạn theo giới tính 31

Biểu đồ 2.5 : Tỷ lệ HVTT nợ đúng hạn theo độ tuổi 31

Biểu đồ 2.6 : Tỷ lệ HVTT nợ trễ hạn theo độ tuổi 31

Biểu đồ 2.7 : Tỷ lệ HVTT nợ đúng hạn theo trình độ học vấn 33

Biểu đồ 2.8 : Tỷ lệ HVTT nợ trễ hạn theo trình độ học vấn 33

Biểu đồ 2.9 : Tỷ lệ HVTT nợ đúng hạn theo số người phụ thuộc 34

Biểu đồ 2.10 : Tỷ lệ HVTT nợ trễ hạn theo số người phụ thuộc 34

Biểu đồ 2.11 : Tỷ lệ HVTT nợ đúng hạn theo tình trạng hôn nhân 35

Biểu đồ 2.12 : Tỷ lệ HVTT nợ trễ hạn theo tình trạng hôn nhân 35

Biểu đồ 2.13 : Tỷ lệ HVTT nợ đúng hạn theo tình trạng sở hữu nhà ở 36

Biểu đồ 2.14 : Tỷ lệ HVTT nợ trễ hạn theo tình trạng sở hữu nhà ở 36

Biểu đồ 2.15 : Tỷ lệ HVTT nợ đúng hạn theo thu nhập 37

Biểu đồ 2.16 : Tỷ lệ HVTT nợ trễ hạn theo thu nhập 37

Biểu đồ 2.17 : Tỷ lệ HVTT nợ đúng hạn theo tỷ lệ HM/TN 38

Biểu đồ 2.18 : Tỷ lệ HVTT nợ trễ hạn theo tỷ lệ HM/TN 38

Bảng 2.3: Ma trận tương quan 39

Bảng 3.1:Variables in the Equation (Mô hình tổng thể) 42

Bảng 3.2: Omnibus Tests of Model Coefficients (Mô hình tổng thể) 43

Bảng 3.3: Hosmer and Lemeshow Test (Mô hình tổng thể) 43

Bảng 3.4: Model Summary (Mô hình tổng thể) 43

Bảng 3.5: Classification Tablea (Mô hình tổng thể) 44

Bảng 3.6: Variables in the Equation (Mô hình giới hạn) 45

Bảng 3.7: Omnibus Tests of Model Coefficients (Mô hình giới hạn) 45

Trang 7

Bảng 3.8: Hosmer and Lemeshow Test (Mô hình giới hạn) 46 Bảng 3.9: Model Summary (Mô hình giới hạn) 46 Bảng 3.10: Classification Tablea (Mô hình giới hạn) 46 Bảng 3.11: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ của KHCN sử dụng thẻ

tín dụng do DAB phát hành 49 Bảng 3.12: So sánh mối tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc từ kết quả

của mô hình hồi quy logistic và ma trận tương quan 50

Trang 8

TÓM TẮT

Phát triển thẻ tín dụng là một trong những mục tiêu lớn mà Ngân hàng TMCP Đông Á đã đề ra Đi đối với việc phát triển thẻ, công tác thẩm định, xét duyệt hạn mức rất quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng cho ngân hàng

Để giảm thiểu rủi ro tín dụng cho ngân hàng, việc nhận biết các yếu tố tác động đến hành vi thanh toán nợ của khách hàng sử dụng thẻ tín dụng do DAB phát hành là rất cần thiết Đó là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài

Đề tài sử dụng mô hình hồi quy logistic để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ của khách hàng sử dụng thẻ tín dụng do DAB phát hành dựa trên dữ liệu thực tế về hành vi thanh toán nợ của khách hàng và thông tin khách hàng sử dụng thẻ tín dụng trong hệ thống quản lý của DAB

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hành vi thanh toán nợ của khách hàng có mối tương quan với các yếu tố: trình độ học vấn, số người phụ thuộc, tình trạng hôn nhân, tình trạng sở hữu nhà ở, thu nhập, tỷ lệ hạn mức thẻ tín dụng/thu nhập Hành

vi thanh toán nợ trễ hạn có mối tương quan thuận chiều với số người phụ thuộc và

tỷ lệ hạn mức thẻ tín dụng/thu nhập; có mối tương quan ngược chiều với trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng sở hữu nhà ở, thu nhập Đề tài cũng đưa ra

mô hình dự báo khả năng KH có hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng trễ hạn và một

số đề xuất nhằm làm giảm rủi ro tín dụng cho ngân hàng

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, thẻ tín dụng đang dần trở thành một phương tiện thanh toán phổ biến đồng thời là một nguồn tín dụng tiện lợi được nhiều người sử dụng vì những lợi ích mà nó đem lại Tuy nhiên, cấp tín dụng thông qua thẻ tín dụng đem lại nhiều rủi ro cho tổ chức phát hành thẻ vì đa phần không có tài sản đảm bảo và phụ thuộc hoàn toàn vào hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của khách hàng

Trong những năm gần đây, các tổ chức phát hành thẻ đều đẩy mạnh việc phát triển thẻ tín dụng, đây từng là lối thoát cho các ngân hàng trong thời kỳ tín dụng bị thắt chặt, khó tăng lãi suất Kết quả là số lượng thẻ tín dụng phát hành mới tăng nhanh Tuy nhiên, trong điều kiện và bối cảnh kinh tế hiện nay đang khó khăn, thu nhập của khách hàng giảm thì khả năng trả nợ (khả năng thanh toán nợ) cũng giảm dẫn đến tỷ lệ nợ xấu của thẻ tín dụng đang tăng nhanh

Đối với Ngân hàng TMCP Đông Á (DAB), nắm bắt được xu thế mới trong hình thức thanh toán hàng hóa dịch vụ, DAB chính thức đưa sản phẩm thẻ tín dụng

ra thị trường từ ngày 08/08/2008 DAB đã đề ra mục tiêu phát triển thẻ tín dụng là một trong những mục tiêu hàng đầu mà từ năm 2011 Đến năm 2012, thẻ tín dụng của DAB mới thực sự tăng nhanh về số lượng Đi đôi với mục tiêu phát triển thẻ tín dụng, DAB cũng rất chú trọng đến mục tiêu kiểm soát nợ xấu của thẻ tín dụng Để thực hiện mục tiêu kiểm soát nợ xấu thẻ tín dụng, việc xác định mối tương quan (sự ảnh hưởng) giữa các tiêu chí được sử dụng trong công tác thẩm định khách hàng trước khi cấp thẻ tín dụng với hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng trên thực tế của khách hàng rất cần thiết Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài: “NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI THANH TOÁN NỢ CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG DO NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG

Á PHÁT HÀNH”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 10

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài dựa trên cơ sở đánh giá, phân tích định tính và định lượng dựa trên dữ liệu từ hồ sơ mở thẻ tín dụng của KH và dữ liệu về tình hình thanh toán nợ của KH qua các kỳ sao kê:

(i) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng

(ii) Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng

(iii) Đề xuất đối với Ngân hàng Đông Á về việc xét duyệt hạn mức cấp thẻ tín dụng cho KH

3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng

Đối tượng khảo sát là các KH sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng Đông Á được phát hành từ 01/04/2012 đến 31/01/2013, có lịch sử giao dịch thẻ (có phát sinh nợ và/hoặc đang trả nợ) từ 6 kỳ sao kê trở lên trong thời gian khảo sát từ 01/2013 – 07/2013

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hành vi thanh toán

nợ thẻ tín dụng của KH, bao gồm: các yếu tố về nhân khẩu học như độ tuổi, giới tính, học vấn, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc; các yếu tố về kinh tế như thu nhập, tình trạng sở hữu nhà ở, tỷ lệ hạn mức thẻ tín dụng/thu nhập

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu trên hồ sơ mở thẻ tín dụng của KH, dữ liệu về những KH có phát sinh giao dịch theo kỳ sao kê và về tình hình thanh toán nợ thẻ tín dụng của KH Ngoài phương pháp thống kê mô tả, diễn dịch so sánh, nghiên cứu này sử dụng phần mềm SPSS để ước lượng và kiểm định mức độ ảnh hưởng của

Trang 11

các yếu tố đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của KH bằng mô hình kinh tế lượng

Quy trình nghiên cứu cụ thể như sau:

1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của

KH dựa trên lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

2 Xác định mẫu nghiên cứu:

Mẫu nghiên cứu: 3222 KH sử dụng thẻ tín dụng có lịch sử giao dịch thẻ từ 6 kỳ sao kê liên tiếp trở lên Thực hiện nghiên cứu toàn bộ KH thanh toán đúng hạn và

KH thanh toán trễ từ 2 kỳ sao kê liên tiếp trở lên

3 Thu thập thông tin: Từ danh sách KH thanh toán đúng hạn và KH thanh toán trễ hạn, thu thập thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán đối với từng KH trên cơ sở dữ liệu của ngân hàng

4 Ước lượng và kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của KH theo mô hình hồi quy logistic với xác suất p = 5%

4 Khả năng ứng dụng của đề tài

Nghiên cứu này có thể cung cấp cho các tổ chức cấp thẻ tín dụng cơ sở để dự báo hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của KH để từ đó, hạn chế được rủi ro tín dụng của ngân hàng

5 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Tổng quan về thẻ tín dụng và hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng

Chương 2: Thực trạng về hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân sử dụng thẻ tín dụng do Ngân hàng TMCP Đông Á phát hành và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Kết quả từ mô hình nghiên cứu

Chương 4: Kết luận và một số đề xuất

Trang 12

Tính chất tín dụng của thẻ thể hiện ở việc chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định Thẻ tín dụng ra đời xuất phát từ nhu cầu tối đa hóa hữu dụng từ tiêu dùng của người tiêu dùng:

 Theo các lý thuyết về hành vi tiêu dùng như mô hình của Fisher, giả thuyết vòng đời của F Modigliani, giả thuyết thu nhập thường xuyên của M Friedman (Mankiw, 1996; Bryant and Zick, 2006) đã giải thích về vay mượn để tiêu dùng, đó

là sự chuyển giao các nguồn lực trong tương lai tới hiện tại để tăng mức tiêu dùng ở hiện tại Với một giới hạn về ngân sách, người tiêu dùng có thể vay mượn để tối đa hóa hữu dụng từ tiêu dùng Người tiêu dùng có thể vay mượn để điều hòa mức tiêu dùng trong suốt cuộc đời của họ

Theo Garman and Forgue (1997) thẻ tín dụng vừa là phương tiện thanh toán trong tiêu dùng vừa cung cấp nguồn tín dụng tiện lợi cho người tiêu dùng Theo Duca and Whitesell (1995), người tiêu dùng có thể tối đa hóa hữu dụng từ tiêu dùng bằng cách sử dụng thẻ tín dụng như nguồn cung cấp tín dụng

Cơ chế sử dụng thẻ tín dụng (Nguyễn Thị Tú Quỳnh, 2006): tại thời điểm

KH thanh toán hàng hóa dịch vụ NH sẽ tạm ứng thanh toán cho đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ và sau đó sẽ thu hồi khoản tiền này từ KH sau khoảng thời gian

Trang 13

nhất định, có độ dài tùy thuộc vào loại thẻ của tổ chức thẻ khác nhau, theo thoả thuận giữa ngân hàng và KH Nếu KH thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở thành thời gian ân hạn và KH hoàn toàn được miễn lãi đối với số dư nợ cuối kỳ Còn nếu hết thời gian này mà KH vẫn chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán hết dư nợ cuối kỳ cho NH thì chủ thẻ sẽ phải chịu những khoản phí

và lãi chậm trả trên số dư nợ còn lại Sau khi thanh toán hết dư nợ phát sinh trong

kỳ, hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ được khôi phục như ban đầu Đó chính là tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng

Ngoài các sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế thông thường như Visa, Master vàng, chuẩn để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, các tổ chức thẻ quốc tế còn đưa ra một sản phẩm thẻ tín dụng đặc biệt phục vụ những khách hàng có thu nhập rất cao, có khả năng tài chính vững vàng và có mức chi tiêu lớn Đó là thẻ thanh toán (charge card) Khi sử dụng thẻ thanh toán khách hàng được hưởng một hạn mức tín dụng đặc biệt cao hoặc không bị chi phối bởi hạn mức tín dụng nhưng chủ thẻ sẽ phải thanh toán toàn bộ số tiền phát sinh cho ngân hàng vào ngày đến hạn Một số khái niệm liên quan (Điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng Visa

DongA Bank):

- Chủ thẻ là cá nhân yêu cầu cấp thẻ và được DAB cấp thẻ để sử dụng, trong đó

bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ Chủ thẻ có tên được in trên thẻ

- Sao kê thẻ tín dụng là thông báo được gửi cho chủ thẻ hàng tháng và liệt kê chi tiết các nội dung: các giao dịch thẻ, phí, lãi phát sinh trong kỳ, số tiền đã thanh toán, số dư nợ đầu kỳ, số dư nợ cuối kỳ, số tiền thanh toán tối thiểu, ngày đến hạn thanh toán, và một số nội dung khác có liên quan

- Hạn mức tín dụng là giá trị tối đa của tổng số dư nợ tài khoản thẻ tín dụng (bao gồm của chủ thẻ chính và của chủ thẻ phụ) được DAB cho phép tại một thời điểm nhất định

Trang 14

- Dư nợ thẻ tín dụng: là số dư nợ tài khoản thẻ tín dụng bao gồm giá trị các giao dịch thẻ, phí và lãi liên quan đến việc sử dụng thẻ được liệt kê trong sao kê thẻ tín dụng được gửi cho chủ thẻ

- Kỳ (kỳ sao kê): được hiểu là số ngày được tính trong vòng 01 (một) tháng dương lịch và là khoảng thời gian để tính các giao dịch thẻ phát sinh được ghi nhận trong sao kê thẻ tín dụng

- Số tiền thanh toán tối thiểu (MAD_Minimum Amount Due) là số tiền chủ thẻ phải thanh toán được ghi nhận trên sao kê thẻ tín dụng

1.1.2 Hoạt động phát hành, thanh toán và quản lý nợ thẻ tín dụng

Theo Trần Thị Ngọc Thơ (2012), Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng (2007), Nguyễn Thị Tú Quỳnh

 Ngân hàng phát hành thẻ (NHPH): là thành viên chính thức của tổ chức thẻ

Có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý hồ sơ xin cấp thẻ, thiết kế các tiêu chuẩn kĩ thuật, mật mã, kí hiệu,… cho các loại thẻ để bảo đảm an toàn; sau đó phát hành, mở và

quản lí tài khoản thẻ, thanh toán số tiền mà KH trả cho người bán bằng thẻ

 Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): là thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết của tổ chức thẻ và/ hoặc các ngân hàng được NHPH uỷ quyền thực hiện nghiệp vụ thanh toán thẻ

Trang 15

 Chủ thẻ: là người có tên trên thẻ và được quyền sử dụng thẻ, là một cá nhân riêng lẻ, hoặc đại diện cho một công ty hay tổ chức Chỉ chủ thẻ mới có thể sử dụng thẻ của mình và phải trả phí cho ngân hàng phát hành thẻ

 Cơ sở chấp nhận thẻ (CSCNT): Là đơn vị bán hàng hoá- dịch vụ hoặc ứng tiền mặt, có kí hợp đồng với NHTTT để chấp nhận thanh toán thẻ như: cửa hàng, khách sạn, nhà hàng, Các đơn vị này được NHTTT trang bị máy móc kĩ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán và thường phải trả một phí về việc sử dụng tiện ích này.1.1.2.2 Quy trình phát hành, thanh toán và quản lý nợ của thẻ tín dụng

Nghiệp vụ phát hành thẻ gồm các bước sau:

- Bước 1: KH nộp hồ sơ yêu cầu phát hành

- Bước 2: NHPH nhận và thẩm định hồ sơ Đối với hồ sơ được chấp thuận, ngân hàng phải xác định các yếu tố: hạng thẻ phát hành, hạn mức tín dụng, thời hạn thẻ Nguyên tắc phát hành thẻ tín dụng: phát hành thẻ tín dụng quan trọng nhất là bước thẩm định hồ sơ, phần lớn các ngân hàng đều có mô hình định mức tín nhiệm thể nhân để đánh giá KH trước khi cấp tín dụng Theo mô hình này, các tiêu chí (yếu tố) sau đây sẽ được đánh giá và lượng hóa bằng thang điểm tín dụng:

+ Đặc điểm của khách hàng: tuổi tác, trình độ học vấn, lý lịch tư pháp, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc, mối tương quan với cộng đồng, tình trạng sức khỏe, tình trạng sở hữu nhà ở / bất động sản, gia cảnh, nghề nghiệp

+ Năng lực trả nợ: là khả năng tài chính, nguồn thu nhập tích lũy mà khách hàng có thể sử dụng để trả nợ cho khoản vay

+ Số lượng tín dụng xin được vay: là số tiền khách hàng vay của ngân hàng + Các nhân tố khác: như lịch sử tín dụng tại các tổ chức tín dụng, cơ cấu nợ so với khả năng tài chính, tài sản tích lũy, các yếu tố thị trường ảnh hưởng đến thu nhập của khách hàng

Trang 16

Mức điểm thu được cho biết mức độ rủi ro tương đối của khả năng thanh toán

và khả năng gây thiệt hại của KH đối với ngân hàng

- Bước 3: Cấp thẻ cho KH Ngân hàng tiến hành mã hoá thẻ và in thẻ, xác định mã

số cá nhân (PIN) của chủ thẻ, nhập dữ liệu về chủ thẻ vào tập tin quản lý, giao thẻ

và số PIN cho chủ thẻ

1.1.2.2.2 Quy trình nghiệp vụ thanh toán thẻ tín dụng

Gồm có những nội dung cơ bản được thể hiện trong sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ thanh toán thẻ tín dụng

Chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán, rút tiền mặt tại các CSCNT CSCNT so sánh chữ ký trên hoá đơn và chữ ký trên thẻ, nếu đúng thì cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay ứng tiền mặt cho KH

CSCNT nộp lại hoá đơn cho NHTTT

CSCNT nhận tiền thanh toán - đã trừ khoản chiết khấu đại lý - từ NHTTT

NHTTT gửi dữ liệu cho tổ chức thẻ quốc tế đòi tiền NHPH

Tổ chức thẻ quốc tế ghi có cho NHTTT số tiền giao dịch - đã trừ phí trao đổi thông tin

Tổ chức thẻ quốc tế gửi dữ liệu cho NHPH

Tổ chức thẻ quốc tế ghi nợ tài khoản của ngân hàng phát hành

Trang 17

Định kỳ hàng tháng ngân hàng phát hành lập sao kê chi tiết về hoạt động của chủ thẻ trong kỳ, sau đó gửi sao kê cho chủ thẻ yêu cầu thanh toán.

1.1.2.2.3 Quy trình quản lý nợ thẻ tín dụng

- Bước 1: NHPH gửi sao kê liệt kê các giao dịch của chủ thẻ

- Bước 2: Gọi điện, gửi tin nhắn nhắc chủ thẻ số tiền cần phải thanh toán, ngày hết hạn thanh toán

- Bước 3: Lập danh sách những chủ thẻ chậm thanh toán sao kê, thời gian lập danh sách sau ngày hết hạn thanh toán của kỳ sao kê, trước ngày lập sao kê của kỳ sao kê tiếp theo

 Đối với những chủ thẻ không thanh toán 3 kỳ sao kê liên tiếp (theo quy định chủ thẻ cần thanh toán tối thiểu mức MAD cho mỗi kỳ sao kê), tiến hành khóa thẻ, không cho phép chủ thẻ giao dịch Chủ thẻ cần phải thanh toán tối thiểu mức MAD của kỳ sao kê để được mở khóa thẻ

 Đối với những chủ thẻ không thanh toán 5 kỳ sao kê liên tiếp, ngân hàng sẽ gửi thông báo về việc thưa kiện KH vì không thanh toán nợ đồng thời nhân viên xử

lý nợ sẽ liên hệ, tiếp xúc để tìm hiểu lý do, cùng với KH tìm hướng giải quyết nợ

1.1.3 Những lợi ích từ việc sử dụng thẻ tín dụng

1.1.3.1 Xét trên phương diện vĩ mô

 Đối với lĩnh vực lưu thông tiền tệ:

- Tăng thanh toán không dùng tiền mặt: làm giảm bớt giao dịch thủ công, nâng cao được độ an toàn xã hội, cải thiện được môi trường tiêu dùng, xây dựng một nền văn minh thanh toán, tạo cơ sở để Việt Nam hội nhập quốc tế

- Giảm lưu thông bằng tiền mặt: từ đó tiết kiệm chi phí sản xuất, vận chuyển, bảo quản và kiểm đếm tiền mặt

 Về phương diện quản lý của Nhà nước: phát triển thẻ là một trong những công cụ hữu hiệu góp phần thực hiện biện pháp kích cầu, tăng trưởng tín dụng

Trang 18

1.1.3.2 Xét trên phương diện vi mô

1.1.3.2.1 Đối với người sử dụng thẻ

 Tiện lợi trong thanh toán: thẻ tín dụng như một chiếc ví điện tử, giúp chủ thẻ thanh toán hàng hóa dịch vụ ở bất kỳ đâu không cần phải mang theo tiền mặt hoặc séc du lịch, đặc biệt mua hàng qua Internet, điện thoại, thư tín và đi ra nước ngoài

 An toàn trong thanh toán: khi bị mất thẻ hoặc thất lạc, chủ thẻ có thể yên tâm

vì ngân hàng đã bảo vệ tiền cho chủ thẻ bằng số PIN, ảnh và chữ ký trên thẻ

 Nhanh chóng trong thanh toán: hầu hết các giao dịch thẻ đều được thực hiện qua mạng kết nối trực tuyến, việc ghi nợ được thực hiện một cách tự động do đó

quá trình thanh toán dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng

 Tiết kiệm thời gian: giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ giá trị lớn bằng tiền mặt sẽ mất nhiều thời gian kiểm đếm hơn so với việc sử dụng thẻ, vì vậy sử dụng thẻ giúp cho chủ thẻ tiết kiệm được thời gian

 Nguồn tín dụng dự phòng linh hoạt: Được cấp tín dụng nhanh chóng, thủ tục đơn giản; hạn mức tín dụng linh hoạt thích hợp với mọi đối tượng KH, phục vụ cho nhu cầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ và nhu cầu rút tiền mặt Khi KH thanh toán thì hạn mức tín dụng được phục hồi theo dư nợ được thanh toán

1.1.3.2.2 Đối với cơ sở chấp nhận thẻ

 Giảm được chi phí kinh doanh do giảm công tác kiểm đếm, thu giữ tiền mặt, tránh nhận phải tiền giả trong thanh toán Tiết kiệm được thời gian trong giao dịch thanh toán, tạo thiện cảm cho KH, góp phần thúc đẩy tăng doanh số, doanh thu

 Thiết lập mối quan hệ mật thiết với ngân hàng, ngân hàng có thể có những khoản ưu đãi trong những giao dịch khác, đặc biệt là trong các quan hệ tín dụng

1.1.3.2.3 Đối với ngân hàng

Trang 19

 Củng cố uy tín và tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thông qua việc gia nhập các tổ chức thẻ quốc tế giúp ngân hàng tạo thêm được tương quan với nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính khác

 Gia tăng thu nhập của ngân hàng thông qua thu phí và lãi từ việc cung cấp tín dụng qua thẻ, thu phí chiết khấu đại lý từ các CSCNT

Mở rộng hoạt động cho vay, góp phần giải quyết bài toán tăng trưởng tín dụng

Người tiêu dùng có thể sử dụng thẻ tín dụng – một phương thức thanh toán hiện đại và cũng là một hình thức vay mượn - để điều hòa mức tiêu dùng và tối đa hóa hữu dụng từ tiêu dùng

1.2 Tổng quan về hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng

Phần 1.1 đã xác định được: người sử dụng thẻ tín dụng có phát sinh dư nợ là người tiêu dùng có vay nợ và có khả năng trả nợ Vì vậy, lý thuyết về hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của KH dựa trên nền tảng lý thuyết hành vi tiêu dùng

1.2.1 Khái niệm về hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng

Hành vi người tiêu dùng được hiểu là một loạt các quyết định về việc mua cái

gì, tại sao, khi nào, như thế nào, nơi nào, bao nhiêu, bao lâu một lần, liệu như thế thì sao mà mỗi cá nhân, nhóm người tiêu dùng phải có quyết định qua thời gian về việc chọn dùng sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng hoặc các hoạt động (Wayne D.Hoyer, Deborah J Macinnis, 2008 trích trong Nguyễn Thị Thùy Miên, 2011)

Hành vi mua sắm của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ (Peter D Bennett, 1995 trích trong Nguyễn Ngọc Duy Hoàng, 2011)

Như vậy có thể xác định được hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng là hành vi thanh toán các khoản phải trả liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng để mua sắm hàng hóa dịch vụ hay để rút tiền mặt của chủ thẻ tín dụng cho tổ chức phát hành thẻ

Trang 20

- Hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng (đúng hạn, trễ hạn):

Hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng trễ hạn: theo Stavins (2000) là việc KH thanh toán trễ ít nhất 2 kỳ sao kê liên tiếp trở lên Theo Gross and Souleles (2002),

là việc KH không thanh toán MAD trong 3 kỳ sao kê liên tiếp

Hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng đúng hạn: theo Stavins (2000) là việc KH thanh toán trễ tối đa 1 kỳ sao kê Theo Gross and Souleles (2002), là việc KH thanh toán với mức tối thiểu MAD trong 1 kỳ sao kê khi xét 3 kỳ sao kê liên tiếp

- Theo Bird et al (1997):

+ Sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn: là việc chủ thẻ tín dụng vẫn còn dư nợ thẻ tín dụng sau khi thanh toán dư nợ của kỳ sao kê

+ Sử dụng thẻ tín dụng thuận tiện: là việc chủ thẻ tín dụng thanh toán hết dư

nợ của kỳ sao kê

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng

Hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng về bản chất là một hành vi của người tiêu dùng đang vay nợ và có khả năng trả nợ Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng

1.2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng

Theo Philip Kotler (1997), Schifffman and Kanuk (1997):

Hành vi của người tiêu dùng là cá nhân bị ảnh hưởng bởi sự tác động của tâm lý bên trong, đặc điểm cá nhân và môi trường xã hội bên ngoài

 Những yếu tố cá nhân bao gồm như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, phong cách sống, cá tính

Tuổi tác có tương quan chặt chẽ đến việc lựa chọn các hàng hóa như thức ăn, quần áo, những dụng cụ phục vụ cho sinh hoạt, các loại hình giải trí Con người thay đổi hàng hóa và dịch vụ mà họ mua sắm trong các giai đoạn trong cuộc đời họ

Trang 21

Giới tính có ảnh hưởng nhất định đến việc lựa chọn hàng hóa và dịch vụ Nam,

nữ có sự khác biệt khi quyết định mua và tiêu dùng

Nghề nghiệp có ảnh hưởng nhất định đến tính chất của hàng hóa và dịch vụ được chọn Sự lựa chọn quần áo, giày dép, thức ăn các loại hình giải trí của một công nhân sẽ rất khác biệt với vị giám đốc điều hành của một công ty nơi họ làm việc

Tình trạng kinh tế, cơ hội thị trường của tiêu dùng phụ thuộc vào hai yếu tố đó là: khả năng tài chính và hệ thống giá cả hàng hóa Tình trạng kinh tế dựa vào thu nhập, phần tiết kiệm, khả năng đi vay, tích luỹ của người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn đến loại hàng hóa và số lượng hàng hóa mà họ lựa chọn mua

Những yếu tố tâm lý bên trong con người gồm những yếu tố như động cơ, nhu cầu, nhận thức, khả năng hiểu biết, niềm tin, thái độ có ảnh hưởng quan trọng đến các quyết định mua sắm của một người

 Những yếu tố bên ngoài như môi trường văn hóa, nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội, nhóm ảnh hưởng, gia đình

Các yếu tố này tác động đến KH khiến họ có những phản ứng không giống nhau Các quyết định mua sắm và tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của người này không thể giống với các quyết định mua sắm và tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của người khác do ảnh hưởng của môi trường văn hóa, xã hội, đặc điểm bản thân và sự thúc đẩy của tâm lý cá nhân… và phụ thuộc vào khả năng thanh toán của mỗi cá nhân

Theo các lý thuyết về hành vi tiêu dùng như mô hình của Fisher, giả thuyết vòng đời của F Modigliani, giả thuyết thu nhập thường xuyên của M Friedman (Mankiw, 1996; Bryant and Zick, 2006) cho thấy hành vi tiêu dùng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: thu nhập, của cải, độ tuổi, trình độ học vấn, giới hạn vay nợ

1.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng

Trang 22

Về mặt lý thuyết, hành vi tiêu dùng của cá nhân chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhóm yếu tố như đã trình bày ở phần trên vì vậy hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của KH cá nhân cũng có thể chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố đó

Về mặt thực tiễn, dựa trên kết quả nghiên cứu về khả năng trả nợ, các ngân hàng thường đưa các yếu tố cá nhân vào hệ thống tiêu chí đánh giá khách hàng nhằm đánh giá khả năng thanh toán của KH trước khi cấp thẻ tín dụng

Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi chỉ xem xét mối tương quan giữa nhóm yếu tố cá nhân đối với hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của khách hàng, được phân chia như sau:

- Nhóm yếu tố nhân khẩu học: độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc, giới tính

- Nhóm yếu tố kinh tế: thu nhập, tình trạng sở hữu nhà, tỷ lệ hạn mức thẻ tín dụng / thu nhập

Để có thêm cơ sở cho việc nghiên cứu, chúng tôi xem xét các nghiên cứu có liên quan trước đây Qua đó cho thấy, các nghiên cứu thực nghiệm về thẻ tín dụng trước đây, chủ yếu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thẻ tín dụng ở khía cạnh: lựa chọn thẻ tín dụng như một công cụ vay mượn, xem xét dư nợ thẻ tín dụng qua các kỳ sao kê Vì vậy, để có thêm cơ sở cho nghiên cứu thực nghiệm, bên cạnh việc xem xét lại các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thẻ tín dụng của KHCN, chúng tôi còn xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ trong các nghiên cứu về khả năng trả nợ của hộ gia đình, vì khả năng trả nợ (khả năng thanh toán nợ)

là yếu tố quyết định đến việc được cho vay mượn hay được cấp thẻ tín dụng Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây như sau:

1.2.2.2.1 Các yếu tố nhân khẩu học

- Độ tuổi:

Trong các nghiên cứu về thẻ tín dụng trước đây đều cho kết quả: có mối tương quan thuận chiều giữa tuổi tác và việc sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn (Canner and

Trang 23

Cyrnak, 1985; Wasberg et al., 1992; Bei, 1993; Steidle, 1994; Choi and Devaney, 1995) Có nghĩa là các hộ gia đình có chủ hộ trẻ tuổi hơn có nhiều khả năng sử dụng thẻ tín dụng như là công vụ vay mượn hơn các hộ gia đình có chủ hộ lớn tuổi hơn Trong các nghiên cứu về khả năng trả nợ: độ tuổi là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Canner and Luckett (1990) tìm thấy mối tương quan tuyến tính mạnh giữa độ tuổi và khả năng hoàn trả nợ Khả năng vỡ nợ cao gấp đôi nếu so sánh giữa người đi vay trẻ hơn và người đi vay già hơn (Peterson and Peterson, 1981) Chủ hộ trẻ thường có tổng số nợ cao hơn so với chủ hộ lớn tuổi (Durkin and Elliehausen, 1977; Duca and Rosenthal, 1990; Hira, 1992) Điều này được giải thích là do khi chủ hộ còn trẻ thì thường vòng quay thu nhập không đủ để

bù đắp cho khoảng chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu tối thiểu để duy trì mức sống của gia đình Do đó, hộ gia đình buộc phải vay mượn thu nhập trong tương lai (Thurow, 1969) Chủ hộ gia đình có tuổi dưới 35 được cho là có khả năng gặp vấn

đề trong việc thanh toán nợ cao gần gấp bốn lần so với những người từ 55 tuổi trở lên và mức độ sử dụng tín dụng cũng tăng tuyến tính với độ tuổi cho đến tuổi 65 (Lindley et al., 1989) Năm 1994, khẳng định lại kết quả của những nghiên cứu trước, De Vaney và Hanna bằng điều tra về “Ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân , thu nhập, độ tuổi và các yếu tố khác đến tình trạng không trả được nợ ở Mỹ” cho rằng tuổi của chủ hộ gia đình có mối tương quan ngược chiều với tình trạng mất khả năng trả nợ Tuy nhiên, Sullivan and Fisher (1988), Liviingstone and Lunt (1992) lại cho rằng khả năng khó hoàn trả nợ không có mức tương quan có ý nghĩa đối với yếu tố tuổi của chủ hộ

- Trình độ học vấn:

Trong các nghiên cứu về thẻ tín dụng: mối tương quan giữa trình độ học vấn

và cách sử dụng thẻ tín dụng không đồng nhất trong các nghiên cứu trước đây Bei (1993) và Steidle (1994) cho rằng giáo dục có mối tương quan ngược chiều với việc

sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn Canner (1988) cho rằng cả người có trình độ học vấn cao hơn và thấp hơn đều sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn trái ngược với người

Trang 24

sử dụng thẻ tín dụng thuận tiện Trong nghiên cứu này, phần lớn người sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn (60%) có trình độ học vấn dưới lớp 8 Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, trình độ học vấn được xem như là một trong những vốn con người Trình độ học vấn có thể gia tăng nhu cầu tiêu dùng hiện tại Nguồn lực tương lai cao đưa ra giả thuyết rằng thu nhập cao trong tương lai có khả năng làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng và vay mượn nhiều hơn ở thời kỳ hiện tại Thực nghiệm, Choi and DeVaney (1995) đã đưa ra kết quả cho rằng giáo dục có mối tương quan thuận chiều với việc

sử dụng thẻ tín dụng

Trong các nghiên cứu về khả năng trả nợ: trình độ học vấn của chủ hộ thấp được cho là một trong những nguyên nhân gây ra những món nợ chậm trả hoặc mất khả năng thanh toán (Sullivan and Fisher, 1988; Hartarska et al., 2002) Tuy nhiên, Canner and Luckett (1990), De Vaney and Hanna (1994) lại không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa nào giữa trình độ giáo dục và khả năng hoàn trả nợ vay

- Tình trạng hôn nhân:

Trong các nghiên cứu về thẻ tín dụng: Canner and Cyrnak (1985) cho rằng tình trạng hôn nhân là yếu tố quan trọng trong việc giải thích một người sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn Kinsey (1984) và Steidle (1994) cũng tìm thấy mối liên hệ giữa tình trạng hôn nhân với việc sở hữu và sử dụng thẻ tín dụng Người đã kết hôn có khả năng có nhu cầu tiêu dùng cao hơn người chưa kết hôn

Trong các nghiên cứu về khả năng trả nợ: điều tra của Shepard (1998) về

“Tình trạng tăng tỷ lệ vỡ nợ tín dụng cá nhân ở Mỹ: Một số phân tích trên số liệu tổng thể” đã tìm thấy mối tương quan tuyến tính giữa tỷ lệ ly dị với tỷ lệ vỡ nợ Canner and Luckett (1991), cũng đồng ý rằng những người gặp vấn đề trong việc trả nợ thường là những người ly dị hoặc ly thân Tuy nhiên, De Vaney and Hanna (1994) lại cho rằng giai đoạn trước năm 1983, những cặp đã kết hôn có xu hướng mất khả năng trả nợ ( khả năng trả nợ) thấp; nhưng đến năm 1986, mối tương quan giữa tình trạng hôn nhân và mất khả năng thanh toán trở nên không rõ ràng

Trang 25

- Số người phụ thuộc: Canner and Luckett (1990) cho rằng những hộ gia đình có nhiều người phụ thuộc sẽ có xác suất chậm trả hoặc không trả nợ cao hơn Godwin (1998) cho rằng số người phụ thuộc có mối tương quan thuận chiều với việc gia tăng nợ của của hộ gia đình Kết quả này củng cố thêm kết quả của các nghiên cứu trước đây cho rằng nhu cầu tiêu dùng hiện tại có mối tương quan thuận chiều với số người phụ thuộc Như vậy, nhu cầu để tài trợ cho chi phí sinh hoạt có thể được phản ảnh trong việc vay mượn tiền từ thẻ tín dụng Tuy nhiên, Livingstone and Lunt (1992), Hira (1992) cũng như De Vaney and Hanna (1994) lại không cho rằng khả năng trả nợ bị ảnh hưởng bởi số người phụ thuộc

- Giới tính: trong các nghiên cứu về thẻ tín dụng trước đây, hầu như không đề cập đến yếu tố giới tính Trong các nghiên cứu về khả năng trả nợ: Hira (1992) cho rằng đa số các hộ gia đình nộp đơn xin phá sản thường có chủ hộ là đàn ông, còn trẻ tuổi, có gia đình và đã có con Nghiên cứu của Jacobson and Roszbach (2001) cũng khẳng định kết quả trên khi cho thấy yếu tố giới tính có mức tương quan có ý nghĩa

về mặt thống kê với khả năng trả nợ

1.2.2.2.2 Các yếu tố kinh tế

- Thu nhập: Bryant and Zick, 2006 cho rằng thu nhập có thể xác định mức độ tiêu dùng của hộ gia đình, nếu thu nhập ròng, người tiêu dùng có thể vay mượn từ thẻ tín dụng để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình

Trong các nghiên cứu về khả năng trả nợ: thu nhập của hộ được xem như một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của hộ gia đình (Hartarska et al., 2002; Ramsay and Sim, 2008) Năm 1988, Sullivan and Fisher đã thông qua nghiên cứu “Rủi ro quá hạn tín dụng KH cá nhân: Những đặc điểm của KH cá nhân”, chỉ ra rằng khi mức thu nhập gia tăng sẽ có ảnh hưởng đến việc chậm trả món vay Đối với nhóm KH có thu nhập thấp thì rủi ro khó hoàn trả được nợ rất cao và ngược lại, nhóm KH có thu nhập cao thì khả năng không trả nợ rất thấp Nghiên cứu của Livingstone and Lunt (1992) về “Dự đoán tín dụng cá nhân và sự hoàn trả nợ: Tâm

lý, xã hội và các yếu tố kinh tế” cũng dự đoán rằng mức thu nhập hiện có là một yếu

Trang 26

tố quan trọng cho việc hoàn trả các khoản nợ định kỳ Năm 1994, khẳng định lại kết quả của những nghiên cứu trước, De Vaney and Hanna khẳng định mức thu nhập cũng có ảnh hưởng ngược rất lớn lên xu hướng mất khả năng thanh toán Tuy nhiên, Canner and Luckett (1990) lại không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa nào giữa thu nhập với khả năng hoàn trả nợ vay

- Tình trạng sở hữu nhà ở: mức độ sở hữu nhà ở hoặc thuê nhà của hộ gia đình được cho rằng có tương quan ngược chiều với tỷ lệ vỡ nợ (Ramsay and Sim, 2008) Nghiên cứu của Sullivan and Fisher (1988) đưa ra kết quả rằng những người phải thuê nhà được cho là có những món nợ khó thanh toán gần gấp hai lần so với những người có nhà ở Tuy nhiên, trái ngược với phát hiện của Sullivan and Fisher (1988), Canner and Luckett (1991) lại không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa nào giữa

sự sở hữu nhà ở với khả năng hoàn trả nợ vay

- Tỷ lệ hạn mức thẻ tín dụng / thu nhập: trong các lý thuyết về hành vi tiêu dùng (Mankiw, 1996; Bryant and Zick, 2006) người tiêu dùng có giới hạn ngân sách để tiêu dùng, khi vay nợ có giới hạn vay nợ nhằm đảm bảo khả năng hoàn trả nợ vay,

vì vậy yếu tố này có thể xem như là giới hạn vay nợ của thẻ tín dụng Theo lý thuyết, yếu tố này cần được xem xét khi nghiên cứu hành vi thanh nợ thẻ tín dụng của KHCN

1.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm bằng mô hình kinh tế lượng

1.2.3.1 Mô hình của Kim and A De Vaney (2001)

Kim and De Vaney (2001), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự cân bằng

dư nợ thẻ tín dụng giữa những chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn

Dữ liệu nghiên cứu được rút ra từ cuộc khảo sát Tài chính tiêu dùng (SCF) năm

1998, được tài trợ bởi Hội đồng Dự trữ Liên bang Mỹ SCF là một khảo sát ở cấp

độ hộ gia đình, cung cấp thông tin về tài sản, nợ, và các đặc điểm của hộ gia đình bình thường tại thời điểm phỏng vấn, cũng như thông tin về thu nhập, việc làm, và các sự kiện trong năm qua hoặc nhiều năm trước Thông tin về thẻ tín dụng bao

Trang 27

gồm số lượng thẻ được sở hữu bởi các thành viên hộ gia đình, loại thẻ (của ngân hàng, xăng, cửa hàng bách hóa,…), số dư nợ, phí mới, và tần suất thanh toán Một

hộ gia đình là một "đơn vị kinh tế cơ bản" (thực chất là chủ hộ và người phụ thuộc của mình) Do đó các thành viên hộ gia đình không nhất thiết phải có tương quan huyết thống, cũng không phải một hộ gia đình bao gồm tất cả mọi người sống chung nhà Cuộc khảo sát SCF, cung cấp thông tin toàn diện và chi tiết về đặc điểm tài chính của các hộ gia đình Mỹ

Trong nghiên cứu này, các tác giả sử dụng mô hình hồi quy probit để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi KH không thanh toán hết dư nợ

P(Y=1 | X1… Xi) = p = F(β0 + βiXi)

Với Y = 1 nếu KH không thanh toán hết dư nợ; Y = 0 nếu KH thanh toán hết nợ

o: là hệ số tung độ gốc

i: là hệ số hồi quy giải thích xác suất không thanh toán hết dư nợ

Xi là biến độc lập như độ tuổi, độ tuổi bình phương, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc, trình độ học vấn, tài sản lưu động, tài sản đầu tư, tài sản thực tế,

nợ hộ gia đình (không bao gồm số dư thẻ dư nợ tín dụng), số thẻ tín dụng, hạn mức tín dụng, và kỳ vọng về thu nhập trong tương lai, lãi suất

Kết quả nghiên cứu:

Độ tuổi có mối tương quan phi tuyến với việc sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn Nếu giữ các yếu tố khác ở giá trị trung bình, xác suất KH sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn tăng cho tới độ tuổi 37, sau đó giảm khi độ tuổi tăng lên Các yếu tố: Trình độ học vấn, thu nhập, tài sản lưu động, tài sản đầu tư, tài sản thực, hạn mức tín dụng có mối tương quan ngược chiều với việc sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn; có nghĩa là khi có sự gia tăng của một yếu tố (như trình độ học vấn, thu nhập…cao hơn) thì ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ của chủ thẻ tín dụng, kết quả là làm giảm dư nợ thẻ tín dụng Các yếu tố: nợ hộ gia đình, số lượng thẻ tín dụng có mối tương quan

Trang 28

thuận chiều với việc sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn Ảnh hưởng của các yếu tố này đều có ý nghĩa về mặt thống kê

Trong khi đó, các yếu tố: tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc, kỳ vọng về thu nhập trong tương lai có mối tương quan thuận chiều với việc sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn; còn yếu tố lãi suất có mối tương quan ngược chiều với việc sử dụng thẻ tín dụng tuần hoàn Tuy nhiên, kết quả của các yếu tố này không có ý

nghĩa về mặt thống kê

1.2.3.2 Mô hình của Stavins (2000)

Stavins (2000) nghiên cứu về vay mượn từ thẻ tín dụng, thanh toán trễ hạn và

vỡ nợ

Dữ liệu nghiên cứu được rút ra từ cuộc khảo sát Tài chính tiêu dùng (SCF) năm

1998, được tài trợ bởi Hội đồng Dự trữ Liên bang Mỹ

Tác giả giả sử dụng mô hình hồi quy logistic trong nghiên cứu về việc thanh toán không đúng hạn của KH sử dụng thẻ tín dụng, để ước lượng phương trình sau:

D = iXi + ω D: hành vi thanh toán của KH, bằng 1 nếu KH trả nợ không đúng hạn từ 2 tháng trở lên, bằng 0 nếu KH thanh toán đúng hạn hoặc không đúng hạn 1 tháng X: là biến độc lập như độ tuổi, thu nhập, giá trị tài sản sở hữu, tình trạng thất nghiệp, loại hình nhà đang ở, số người trong gia đình, tình trạng hôn nhân, học vấn, tình trạng sức khỏe, số lượng thẻ tín dụng đang sở hữu, dư nợ, tỷ lệ tổng nợ / thu nhập hàng năm, tình trạng vỡ nợ, vùng địa lý

: là các hệ số cần ước lượng

: phần nhiễu

Mô hình hồi quy logistic có dạng:

Trang 29

Nhằm ước lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi thanh toán của người sử dụng thẻ tín dụng thể hiện qua giá trị của hệ số 

Trong đó: p là xác suất KH thanh toán không đúng hạn

Kết quả nghiên cứu:

Độ tuổi, thu nhập, giá trị tài sản sở hữu, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn có mối tương quan ngược chiều với hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng Người tiêu dùng lớn tuổi hơn, sở hữu tài sản có giá trị cao hơn, có mức thu nhập cao hơn, tình trạng đã kết hôn, trình độ học vấn cao hơn làm giảm đáng kể hành vi thanh toán

nợ trễ hạn Ngoại trừ biến đã kết hôn/chưa kết hôn, các chỉ số tình trạng hôn nhân khác là không có ý nghĩa trong hồi quy Người tiêu dùng lớn tuổi hơn và trình độ học vấn cao hơn có xác suất thanh toán trễ hạn thấp hơn, nếu các yếu tố khác không đổi Tình trạng sở hữu nhà không có ý nghĩa trong việc dự đoán hành vi thanh toán trễ khi cố định biến thu nhập, tài sản ròng và biến khác

1.2.3.3 Đánh giá mô hình Kim and A De Vaney (2001) và Stavins (2000)

 Về mô hình hồi quy ước lượng:

Hai nghiên cứu trên sử dụng mô hình ước lượng khác nhau Kim and A De Vaney (2001) sử dụng mô hình probit, Stavins (2000) sử dụng mô hình logistic

Theo Yu xie and Charles F Manski: sự khác nhau trong giả thiết giữa mô hình logistic và mô hình probit là mô hình logistic giả định hạng nhiễu phân phối chuẩn logistic trong khi mô hình probit giả định hạng nhiễu phân phối chuẩn thông thường Tuy nhiên, sự khác biệt giữa logistic và probit không đáng kể và không có ý nghĩa về mặt thống kê

Vì dễ dùng hơn trong trình bày toán học, mô hình logistic thường được sử dụng cho mô hình nghiên cứu về hành vi thanh toán nợ trong thực tế Ưu điểm của mô hình Logistic và Probit có thể cung cấp xác suất KH cá nhân có thể trả nợ đúng hạn

là bao nhiêu

Trang 30

Hai nghiên cứu trên sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát Tài chính tiêu dùng (SCF) của Mỹ

Ưu điểm: SCF là cuộc khảo sát có quy mô lớn, thông tin từ cuộc khảo sát này rất nhiều, vì vậy các biến khảo sát của 2 nghiên cứu này tương đối nhiều, đa dạng, phong phú

Nhược điểm: các dữ liệu của SCF có được từ phỏng vấn trực tiếp mẫu nghiên cứu (người tiêu dùng được lựa chọn), vì vậy các thông tin về hành vi thanh toán nợ có thể chỉ ở mức tương đối chính xác

Trang 31

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ HÀNH VI THANH TOÁN NỢ CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG DO

NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á PHÁT HÀNH

VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Hoạt động phát hành thẻ tín dụng tại DAB

DAB bắt đầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế từ 08/08/2008 Đối tượng phát hành thẻ tín dụng quốc tế của DAB là các cá nhân người Việt Nam và người nước ngoài từ 18 tuổi trở lên, sống và làm việc hợp pháp tại Việt Nam, được các tổ chức nơi cá nhân công tác đứng ra uỷ quyền cho cá nhân đó sử dụng thẻ với trách nhiệm thanh toán chi tiêu thẻ của chính tổ chức đó; hoặc người có thu nhập cao, ổn định; hoặc người có tiền ký quỹ hoặc chứng từ có giá dùng để thế chấp, cầm cố tại DAB hoặc người được các đối tượng trên bảo lãnh

DAB đã xây dựng một qui trình phát hành đảm bảo thông suốt từ hội sở xuống các đơn vị kinh doanh ngay từ những ngày đầu phát hành thẻ Khi xét duyệt cấp thẻ tín dụng cho KH, DAB sử dụng mô hình định mức tín nhiệm thể nhân gồm nhiều yếu tố để đánh giá về khả năng thanh toán nợ của KH và tham chiếu khung hạn mức theo chính sách hạn mức thẻ tín dụng đối với từng nhóm đối tượng KH của DAB – chính sách này được DAB xây dựng dựa trên khả năng thanh toán của khách hàng, khả năng quản lý và thu hồi nợ của DAB Có nghĩa là, nhằm đảm bảo KH có thể thanh toán được nợ thẻ tín dụng thì DAB sẽ cấp thẻ tín dụng cho KH với hạn mức tín dụng phù hợp với các yếu tố được đánh giá và chính sách hạn mức thẻ tín dụng của DAB cho từng nhóm khách hàng

Thời điểm thẻ tín dụng của DAB ra đời thì trên thị trường đã có nhiều sản phẩm thẻ tín dụng của các ngân hàng lớn như Ngân hàng TMCP Ngoại thương, Ngân hàng TMCP Á Châu ra đời trước đó vài năm…Vì vậy trong những năm đầu tiên, số lượng thẻ tín dụng của DAB được phát hành rất ít

Trang 32

Biểu đồ 2.1: Số lượng thẻ tích lũy cuối kỳ

Từ đầu năm 2012, DAB đặt ra mục tiêu phát triển thẻ tín dụng với các biện pháp: thay đổi quy trình xét duyệt cấp thẻ, chính sách hạn mức cấp thẻ, xây dựng đội ngũ bán hàng, hướng đến nhóm khách hàng chi lương, khách hàng gửi tiết kiệm tại DAB, kết quả là đến cuối tháng 12/2012, so với năm 2011 số lượng thẻ phát hành tăng 3,65 lần Tính đến cuối tháng 05/2013, số lượng thẻ lũy kế tăng 41% so với cuối năm 2012 Đây là kết quả của sự nỗ lực rất lớn từ đội ngũ bán hàng đến đội ngũ nhân viên thẩm định, xét duyệt hồ sơ trong điều kiện hiện nay có nhiều ngân hàng phát hành thẻ tín dụng với sản phẩm đa dạng

2.2 Thực trạng hành vi thanh toán nợ

Trang 33

Biểu đồ 2.2: Thực trạng hành vi thanh toán nợ của KHCN sử dụng thẻ tín dụng do

DAB phát hành từ kỳ sao kê tháng 01/2013 đến 07/2013

Tỷ lệ KH thanh toán đúng hạn, trễ hạn là tỷ số giữa số lượng KH thanh toán đúng hạn, trễ hạn với số lượng KH đã phát sinh giao dịch thẻ (có phát sinh nợ) và thanh toán nợ thẻ trong kỳ sao kê Tỷ lệ KH thanh toán đúng hạn và trễ hạn trung bình 7 kỳ sao kê đầu năm 2013: 82% đúng hạn: 18% trễ hạn

Biểu đồ cho thấy tỷ lệ KH thanh toán đúng hạn, trễ hạn qua các kỳ sao kê biến động không nhiều, kỳ sau so với kỳ trước có khi tăng, giảm tuy nhiên độ chênh lệch

so với mức trung bình thấp Qua đó cho thấy, tại DAB, những người có thẩm quyền xét duyệt hồ sơ đã thực hiện nghiêm túc theo quy định về xét duyệt cấp thẻ tín dụng Và hành vi thanh toán đúng hạn hay trễ hạn của KH sử dụng thẻ tín dụng của DAB có thể cùng chịu sự tác động bởi một số yếu tố như nhau (trong hệ thống các yếu tố được DAB đánh giá trước khi cấp thẻ tín dụng) và chính sách hạn mức thẻ tín dụng DAB áp dụng Vì vậy, cần phải nghiên cứu các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của khách hàng, để từ đó có cơ sở cho việc

rà soát, chỉnh sửa chính sách hạn mức thẻ tín dụng dành cho từng nhóm đối tượng khách hàng, nhằm làm giảm tỷ lệ khách hàng có hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng trễ hạn Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ xem xét các yếu tố về nhân khẩu học

Trang 34

và kinh tế ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ của KHCN sử dụng thẻ tín dụng do DAB phát hành

2.3 Mô hình nghiên cứu đề nghị

Từ phân tích ưu nhược điểm của hai mô hình nghiên cứu thực nghiệm Kim and

A De Vaney (2001) và mô hình của Stavins (2000) và từ thực tế về phạm vi nghiên cứu: chỉ xét trên KH cá nhân sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng Đông Á và khả năng thu thập thông tin nghiên cứu, chúng tôi đề nghị sử dụng mô hình hồi quy logistic để ước lượng hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của KH cá nhân sử dụng thẻ tín dụng do Ngân hàng Đông Á phát hành dựa vào các đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện kinh tế

Mô hình nghiên cứu đề nghị kế thừa mô hình hồi quy, một số biến khảo sát từ hai mô hình nghiên cứu trên, trong đó biến hành vi thanh toán nợ có dữ liệu chính xác từ thực tế việc thanh toán nợ thẻ tín dụng của KHCN

2.3.1 Khung phân tích của mô hình nghiên cứu

2.3.2 Xác định biến và dấu kỳ vọng trong mô hình kinh tế lượng

Biến phụ thuộc: hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của KHCN, dựa trên số liệu thực tế từ việc thanh toán nợ thẻ tín dụng của KHCN

Chúng tôi đề nghị sử dụng số liệu theo định nghĩa của Stavins (2000), nghĩa là: Hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng trễ hạn: là việc KH thanh toán trễ ít nhất

2 kỳ sao kê liên tiếp trở lên

Trang 35

Hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng đúng hạn: là việc KH thanh toán trễ tối đa

1 kỳ sao kê

Biến độc lập: các yếu tố ảnh hưởng đến HVTT nợ thẻ tín dụng của KHCN

- Nhóm yếu tố nhân khẩu học: độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc, giới tính

- Nhóm yếu tố kinh tế: thu nhập, tình trạng sở hữu nhà, tỷ lệ hạn mức thẻ tín dụng / thu nhập

Danh sách các biến và dấu kì vọng được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán

nợ thẻ tín dụng và dấu kỳ vọng

STT Biến Dấu kỳ vọng

của hệ số ước lượng

Giải thích

I Nhóm yếu tố nhân khẩu học

toán nợ thẻ đúng hạn hơn khi chủ thẻ là Nam

II Nhóm yếu tố kinh tế

thẻ trễ hạn ít hơn

Trang 36

07 Tình trạng sở

hữu nhà ở

Chủ thẻ sở hữu nhà đang ở, thì sẽ thanh toán nợ thẻ đúng hạn hơn vì ít tốn chi phí hơn (không tốn tiền thuê nhà)

2.3.3 Mô hình kinh tế lượng đề nghị

Trên cơ sở mô hình thực nghiệm của Stavins (2000), chúng tôi đề nghị sử dụng

mô hình hồi quy logistic định lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với hành

vi thanh toán nợ thẻ tín dụng của KH cá nhân:

Trong đó:

Y: hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng, là biến phụ thuộc (nhận giá trị nhị phân, bằng 1 nếu KH có hành vi thanh toán trễ hạn; bằng 0 nếu KH có hành vi thanh toán nợ đúng hạn)

1)

=P(Yloge là logarit cơ số e của tỷ lệ xác suất KH thanh toán nợ thẻ tín

dụng trễ hạn trên xác suất KH thanh toán nợ thẻ tín dụng đúng hạn Tỷ lệ xác suất

KH thanh toán nợ thẻ tín dụng trễ hạn trên xác suất KH thanh toán nợ thẻ tín dụng đúng hạn là khả năng KH có hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng trễ hạn

 là các hệ số hồi quy tương ứng

Xi là các biến độc lập, gồm các biến: độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc, giới tính, thu nhập, tình trạng sở hữu nhà ở, tỷ lệ hạn mức thẻ tín dụng / thu nhập

Dữ liệu biến được thu thập, mã hóa và đưa vào phần mềm SPSS để ước lượng các hệ số hồi quy Dưới đây là phần diễn giải các biến khi đưa vào phần mềm

xử lý số liệu SPSS:

i i 0

Ngày đăng: 31/12/2020, 09:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w