1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam

106 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng trước áp lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi ngày càng gay gắt với các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NỮ HỒNG ÂN

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT

ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỞI CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60 340 201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT

TP HỒ CHÍ MINH

2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Nữ Hồng Ân

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 1

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỞI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10

1.1 Hoạt động huy động vốn của NHTM 10

1.2 Khái niệm chung về năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của NHTM 11

1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của NHTM 14

1.3.1 Thị phần huy động vốn 14

1.3.2 Sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ huy động vốn, sự khác biệt trong dịch vụ 15 1.3.3 Biểu phí, lãi suất huy động vốn 15

1.3.4 Hoạt động marketing dịch vụ huy động vốn, mối quan hệ với khách hàng 15

1.3.5 Hệ thống kênh phân phối 16

1.3.6 Thương hiệu của NHTM 17

1.3.7 Năng lực tài chính của NHTM 17

1.3.8 Năng lực công nghệ của NHTM 18

1.3.9 Nguồn nhân lực của NHTM 18

1.3.10 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức của NHTM 19

1.3.11 Khả năng nghiên cứu và phát triển dịch vụ huy động vốn 20

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của NHTM 20

1.5 Năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của các ngân hàng trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2 29

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỞI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 29

2.1 Giới thiệu tổng quan về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB) 29

2.2 Tình hình hoạt động huy động vốn tiền gởi của VCB 33

2.3 Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của VCB 37

Trang 4

2.3.1 Thị phần huy động vốn tiền gởi và một số dịch vụ hỗ trợ hoạt động huy động

vốn 37

2.3.2 Sản phẩm dịch vụ huy động vốn tiền gởi và một số dịch vụ hỗ trợ 39

2.3.3 Biểu phí, lãi suất huy động vốn tiền gởi 42

2.3.4 Hoạt động marketing dịch vụ huy động vốn tiền gởi , mối quan hệ với khách hàng 43

2.3.5 Kênh phân phối 44

2.3.6 Thương hiệu 48

2.3.7 Năng lực tài chính 49

2.3.8 Năng lực công nghệ 53

2.3.9 Nguồn nhân lực 55

2.3.10 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức của NHTM 58

2.3.11 Khả năng nghiên cứu và phát triển dịch vụ huy động vốn tiền gởi 59

2.4 Khảo sát thực tế năng lực cạnh tranh trong huy động vốn tiền gởi của VCB bằng công cụ ma trận hình ảnh cạnh tranh 59

2.4.1 Xây dựng danh mục các yếu tố đánh giá 60

2.4.2 Xây dựng các đối thủ so sánh 62

2.4.3 Phân loại mức độ quan trọng, hạng 62

2.4.4 Lập ma trận hình ảnh cạnh tranh của VCB 67

2.5 Đánh giá chung thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của VCB 68

2.5.1 Kết quả đạt được 68

2.5.2 Các mặt hạn chế và nguyên nhân 71

CHƯƠNG 3 75

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỞI CỦA 75

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 75

3.1 Phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đến năm 2015 75

3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 78

Trang 5

3.2.1 Các giải pháp nâng cao năng lực hoạt động huy động vốn tiền gởi của

NHTMCP Ngoại thương Việt Nam 78

3.2.2 Các giải pháp phát triển dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động huy động vốn tiền gởi 80

3.2.3 Tăng cường hoạt động marketing và thực hiện chăm sóc khách hàng 84

3.2.4 Đẩy mạnh hoạt động quảng bá thương hiệu, mở rộng mạng lưới chi nhánh 85

3.2.5 Tăng cường năng lực tài chính 85

3.2.6 Giải pháp phát triển hạ tầng công nghệ thông tin 86

3.2.7 Giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 87

3.2.8 Giải pháp nâng cao năng lực quản trị điều hành 88

3.3 Một số giải pháp hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh trong huy động vốn tiền gởi của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam 89

3.3.1 Kiến nghị với Quốc hội về Luật NHNN và Luật các TCTD 89

3.3.2 Kiến nghị đối với Chính phủ, NHNN Việt Nam và các Bộ có liên quan 90

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95

PHẦN KẾT LUẬN 96

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACB Ngân hàng TMCP Á Châu

AGB Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

ATM Máy rút tiền tự động

CN Chi nhánh

CNTT Công nghệ thông tin

CTG Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

NHTW Ngân hàng Trung ương

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh

NHNNg Ngân hàng nước ngoài

VCB Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

VNBC Hệ thống kết nối giao dịch thẻ giữa các ngân hàng do Ngân hàng Đông Á sáng lập WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1 Bảng 2.1: Quy mô hoạt động kinh doanh của VCB giai đoạn 2007-2012

2 Bảng 2.2: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của VCB giai đoạn 2007-2012

3 Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng quy mô và hiệu quả hoạt động kinh doanh

của VCB giai đoạn 2007-2012

4 Bảng 2.4: Tình hình tổng nguồn vốn huy động của VCB giai đoạn

2007-2012

5 Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn huy động của Vietcombank theo sản phẩm

6 Bảng 2.6: Cơ cấu tổng nguồn vốn huy động của VCB theo đối tượng khách

hàng

7 Bảng 2.7: Cơ cấu vốn huy động từ nền kinh tế của VCB theo loại tiền tệ

8 Bảng 2.8: Cơ cấu tổng nguồn vốn huy động của Vietcombank theo kỳ hạn

9 Bảng 2.9: Bảng thị phần huy động vốn và một số dịch vụ hỗ trợ huy động

vốn của VCB qua các năm

10 Bảng 2.10: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của VCB, CTG, Agribank,

ACB, HSBC qua các năm

11 Bảng 2.11: Số lượng ngân hàng qua các năm

12 Bảng 2.12: Số lượng CN-PGD của VCB giai đoạn từ năm 2010 đến năm

2012

13 Bảng 2.13: Số lượng CN-PGD của một số NH đến 31/12/2012

14 Bảng 2.14 Một số chỉ tiêu của các NHTM lớn của Việt Nam năm 2011

15 Bảng 2.15: Tổng hợp chất lượng tài sản Có của VCB các năm 2007-2012

16 Bảng 2.16: Chất lượng tài sản Có của các ngân hàng năm 2012

17 Bảng 2.17: Tổng hợp khả năng sinh lời

18 Bảng 2.18: Khả năng sinh lời của các ngân hàng năm 2011

19 Bảng 2.19: Khả năng thanh khoản của VCB giai đoạn từ năm 2008 – 2012

20 Bảng 2.20: Nguồn nhân lực của các ngân hàng năm 2012

21 Bảng 2.21: Tổng điểm và trọng số của các yếu tố đánh giá

22 Bảng 2.22: Hạng trung bình của các ngân hàng

23 Bảng 2.23: Ma trận hình ảnh cạnh tranh của NH

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hướng tất yếu của thời đại Đối với ngành tài chính ngân hàng, hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam; mở rộng cơ hội trao đổi hợp tác quốc tế giữa các ngân hàng thương mại trong hoạt động kinh doanh tiền tệ Qua đó các ngân hàng Việt Nam có điều kiện tranh thủ về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và phát huy lợi thế

so sánh của mình để theo kịp yêu cầu cạnh tranh quốc tế và mở rộng thị trường ra nước ngoài Tuy nhiên, các ngân hàng Việt Nam cũng gặp phải thách thức to lớn trong cạnh tranh với các ngân hàng trong nước và với ngân hàng nước ngoài

Một trong những lĩnh vực gây ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng là lĩnh vực nguồn vốn Cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt khi mà trên thị trường có rất nhiều

tổ chức cùng huy động vốn và khan hiếm tiền đồng khi Nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ Theo đó đòi hỏi mỗi ngân hàng phải xây dựng và thực hiện công tác quản

lý nguồn vốn sao cho hoạt động huy động và cho vay luôn nhịp nhàng ăn khớp với nhau, tạo được lòng tin, uy tín đối với khách hàng, đồng thời góp phần thực hiện thành công chính sách của Chính phủ, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội

Qua gần 50 năm hình thành và phát triển, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam hiện nay đã xây dựng cho mình một vị trí quan trọng và một thương hiệu nổi tiếng trong hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam Nhưng trước áp lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi ngày càng gay gắt với các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế về năng lực cạnh tranh, hiệu quả hoạt động huy động vốn tiền gởi vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế

Xuất phát từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu, đánh giá năng lực cạnh tranh trong huy động vốn tiền gởi của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam là một

đòi hỏi cấp thiết Vì vậy tác giả chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt

động huy động vốn tiền gởi của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam” để nghiên cứu nhằm đưa ra những phương hướng, giải pháp góp phần nâng cao

năng lực cạnh tranh trong huy động vốn tiền gởi của Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Trang 9

Ngoại thương Việt Nam, tạo điều kiện phát triển và khẳng định vị thế của ngân hàng này trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt

2 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa lý luận về năng lực cạnh tranh trong huy động vốn của NHTM Trên cơ sở lý luận được hệ thống hóa, tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh trong huy động vốn tiền gởi của Vietcombank nhằm đánh giá những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong huy động vốn tiền gởi của Vietcombank

3 Phạm vi và đối tượng của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Về mặt không gian hệ thống Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam; về mặt thời gian là số liệu thu thập và phân tích của Vietcombank trong giai đoạn từ 2007 – 2012

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Dùng phương pháp điều tra, thu thập thông tin, so sánh, phân tích tổng hợp và hệ thống hóa để làm rõ các vấn đề nghiên cứu và đưa ra đánh giá cho luận văn

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Lý luận tổng quan về năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của Ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB)

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB)

Trang 10

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỞI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Hoạt động huy động vốn của NHTM

Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế

1.1.1 Khái niệm

Hoạt động huy động vốn của NHTM là một bộ phận của nghiệp vụ nguồn vốn phải trả của NHTM (bao gồm vốn huy động, đi vay và nguồn vốn khác theo quy định của luật pháp), nhằm đảm bảo cho ngân hàng có đủ nguồn vốn để duy trì và phát triển một cách hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu thanh khoản ở mức độ chi phí thấp nhất

đa sự sụt giảm đột ngột về nguồn vốn của ngân hàng

Sử dụng các công cụ huy động vốn đa dạng để hạn chế rủi ro và phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng

Luôn đa dạng hóa các loại nguồn vốn huy động

Trang 11

1.2 Khái niệm chung về năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của NHTM

1.2.1 Cạnh tranh trong NHTM

Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng thường xuyên trong lý thuyết kinh tế Song cạnh tranh là một hiện tượng có tính đa dạng và đa nghĩa nên người ta vẫn chưa tìm được một nghĩa thống nhất cho khái niệm này Do vậy tùy theo quan điểm nghiên cứu, cạnh tranh có các khái niệm khác nhau

Đứng trên quan điểm người bán, Paul Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng, thị trường” Chú trọng hơn đến tích chất cạnh tranh và phương pháp cạnh tranh, Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm cho rằng: “Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để đem lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình”

Cạnh tranh trong các NHTM là một quy luật tất yếu mà các ngân hàng đều phải thực hiện để tồn tại và phát triển Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, cạnh tranh trong các NHTM là sự ganh đua hợp pháp, sự đấu tranh gay gắt giữa các NHTM nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể như thị phần, lợi nhuận, vốn, nhân lực hay đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh

Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của các NHTM Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội

và lợi thế mà mình có được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước… Thông qua cạnh tranh các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh

1.2.2 Lợi thế cạnh tranh trong NHTM

Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho NHTM nổi bật hay khác biệt so với đối thủ cạnh tranh Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh

Lợi thế cạnh tranh của NHTM được thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Trang 12

Chi phí: Theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được NHTM nào có chi phí thấp thì NHTM đó có nhiều lợi thế hơn trong quá trình cạnh tranh giữa các NHTM Chi phí thấp mang lại cho NHTM tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự hiện diện của các lực lượng cạnh tranh mạnh mẽ

Sự khác biệt hóa: Là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoay quanh các dịch vụ mà NHTM đưa ra thị trường Những khác biệt này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, như là sự điển hình về thiết kế hay danh tiếng dịch vụ, công nghệ dịch

vụ, đặc tính dịch vụ, dịch vụ khách hàng, mạng lưới bán hàng…

Lợi thế cạnh tranh của một NHTM này so với đối thủ là nhờ NHTM cung cấp giá trị lớn hơn cho khách hàng, làm tăng mức độ hài lòng của khách hàng so với các NHTM cạnh tranh

Mức độ hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của khách hàng bắt nguồn từ việc so sách kết quả thu được từ dịch vụ so với những kỳ vọng của họ về dịch

vụ Những kỳ vọng này có được nhờ vào kinh nghiệm của những lần mua trước, ý kiến của bạn bè, người thân và các thông tin từ các nguồn khác cũng như từ chính cam kết của NHTM

Bằng việc đem lại sự hài lòng cho khách hàng, NHTM nâng cao mức độ trung thành của khách hàng và nhận được những lợi ích sau:

Giảm chi phí phục vụ như: chi phí duy trì tài khoản, chi phí thiết lập lại hạn mức tín dụng…

Giảm thời gian nắm bắt các yêu cầu của khách hàng

Có cơ hội bán chéo sản phẩm đang có và các sản phẩm mới

Thu hút khách hàng mới thông qua kênh quảng cáo truyền miệng từ những khách hàng trung thành

1.2.3 Năng lực cạnh tranh của NHTM

Có nhiều quan niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM, có thể phát biểu như sau: Tác giả Đỗ Thị Minh Đức trong bài viết “Đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” đã đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của các NHTM như sau: “Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra

và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với NHTM khác” Như vậy đây là một yếu tố năng động, luôn được đặt trong sự phát triển liên tục Các lợi thế so sánh (hiện có và được tạo ra) chỉ là những yếu tố tiềm năng,

Trang 13

điều quan trọng là những yếu tố này phải được sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, đồng thời phải luôn đầu tư nhằm duy trì và tăng cường thêm năng lực một cách bền vững

Trong tác phẩm “Năng lực cạnh tranh của các NHTM trong xu thế hội nhập”, PGS.TS Nguyễn Thị Quy cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh” Với khái niệm này thì PGS.TS Nguyễn Thị Quy đã đề cập đến năng lực nội tại của một ngân hàng thương mại và mối quan hệ của nó với sự phát triển của ngành ngân hàng trên cơ sở tận dụng được lợi thế của mình nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn Mặt khác khái niệm trên cũng thể hiện sự linh hoạt trong chiến lược cạnh tranh của NHTM khi thích nghi và tận dụng những thay đổi của môi trường kinh doanh

Cũng có quan niệm cho rằng: Năng lực cạnh tranh của các NHTM được hiểu là khả năng tạo lập, duy trì lợi nhuận và thị phần trên cơ sở đa dạng và nâng cao chất lượng tiện ích các dịch vụ tài chính ngân hàng

Hay là: Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các NHTM khác

Hay là: Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo

ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh

Từ những quan điểm trên, theo tác giả: “Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra, sử dụng và duy trì lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh, nhằm đứng vững và phát triển trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi” Nó bao gồm các yếu tố nội tại và ngoại sinh của ngân hàng tác động đến chiến lược cạnh tranh của ngân hàng

đó Từ đó có thể tận dụng các cơ hội trên cơ sở phát huy lợi thế của mình, đồng thời cũng khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực của môi trường kinh doanh đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng

1.2.4 Năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của NHTM

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả xin đi sâu vào nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của NHTM

Trang 14

Trên cơ sở khái niệm năng lực cạnh tranh của một NHTM, theo tác giả: “Năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của NHTM là khả năng tạo ra, sử dụng

và duy trì lợi thế của mình trong hoạt động huy động vốn tiền gởi so với đối thủ cạnh tranh, nhằm đứng vững và phát triển thị phần huy động vốn và các mục tiêu khác trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi” Nó bao gồm các yếu tố nội tại và ngoại sinh của ngân hàng tác động đến chiến lược cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng đó Từ đó có thể tận dụng các cơ hội trên cơ sở phát huy lợi thế của mình, đồng thời cũng khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực của môi trường kinh doanh đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng

1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của NHTM

Do mục tiêu của luận văn là làm rõ về khả năng cạnh tranh để tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM nên tác giả chú trọng đến các năng lực thuộc các yếu tố nguồn lực nội tại và ngoại tại như sau:

1.3.1 Thị phần huy động vốn

Thị phần huy động vốn là tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn hiện tại của một ngân hàng trong việc thu hút và duy trì khách hàng Thị phần huy động vốn càng lớn, năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng càng cao và ngược lại

Thị phần huy động vốn không phản ánh hết nguyên nhân đem lại, duy trì và phát triển NLCT trong huy động vốn của ngân hàng trong hiện tại và tương lai Do đó để phân tích cụ thể hơn cần nghiên cứu thêm các yếu tố khác nữa

Hoạt động của các NHTM có ổn định và phát triển hay không, có khả năng cạnh tranh trong huy động vốn với các đối thủ khác hay không phụ thuộc không chỉ vào các nguồn lực nội tại và hiện có của các ngân hàng như tiềm lực tài chính, công nghệ, chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như các nguồn lực mà ngân hàng có để thích ứng với những thay đổi thế nào, những đối thủ cạnh tranh của các ngân hàng đó, NH có khả năng thay đổi chiến lược cạnh tranh của mình không, khả năng thâm nhập của các đối thủ như thế nào, mức độ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại sẽ ra sao, chiến lược mà các ngân hàng sử dụng có phù hợp không, các điều kiện của môi trường vĩ mô sẽ tác động như thế nào đến khả năng đó của các NH trước những thách thức và cơ hội mới…

Trang 15

1.3.2 Sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ huy động vốn, sự khác biệt trong dịch vụ

Các chỉ tiêu đánh giá dịch vụ huy động vốn của ngân hàng gồm:

Uy tín cung cấp dịch vụ:

Thể hiện ở mức độ chính xác trong việc cung cấp Uy tín cung cấp là yếu tố chất lượng hàng đầu

Mức độ đa dạng của dịch vụ huy động vốn:

Dịch vụ huy động vốn càng đa dạng, khách hàng càng có nhiều cơ hội lựa chọn hơn Mức độ đánh giá tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng của khách hàng và số lượng dịch

vụ huy động vốn của ngân hàng mà khách hàng có thông tin

Mức độ đa dạng hóa các dịch vụ huy động vốn cung cấp cũng là một chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Một ngân hàng có nhiều loại hình dịch vụ huy động vốn cung cấp phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực quản lý của ngân hàng sẽ là một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh Sự đa dạng hóa các dịch vụ huy động vốn tạo cho ngân hàng phát triển ổn định, và cho phép ngân hàng phát huy lợi thế nhờ quy mô Sự đa dạng hóa các dịch vụ huy động vốn cũng cần phải được thực hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện có của ngân hàng

1.3.3 Biểu phí, lãi suất huy động vốn

Biểu phí, lãi suất huy động vốn của ngân hàng chủ yếu được đánh giá qua tính cạnh tranh của lãi suất, biểu phí huy động vốn

Mức lãi suất, biểu phí huy động vốn của ngân hàng áp dụng phải đem lại sự hài lòng cho khách hàng

1.3.4 Hoạt động marketing dịch vụ huy động vốn, mối quan hệ với khách hàng

Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động marketing dịch vụ huy động vốn, mối quan hệ với khách hàng của ngân hàng gồm:

Quy trình cung cấp dịch vụ:

Tính tốc độ (nhanh/chậm) trong việc cung cấp dịch vụ huy động vốn Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của yếu tố chất lượng dịch vụ, quy trình thủ tục và yếu tố con người trong hoạt động cung cấp dịch vụ Dịch vụ được cung cấp nhanh, khách hàng càng có giá trị gia tăng về chất lượng thời gian

Tính đơn giản của thủ tục trong giao dịch Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả của yếu

tố quy trình trong hoạt động cung cấp dịch vụ Do hoạt động kinh doanh ngân hàng chịu nhiều rủi ro cũng như chịu sự giám sát chặt chẽ của Chính phủ, mỗi NH đều có những

Trang 16

quy định riêng cho việc cung cấp dịch vụ Nếu NH quy định thủ tục quá phức tạp và khó thực hiện sẽ làm cho KH không hài lòng và làm tăng nguy cơ mất khách hàng

Kỹ năng phục vụ của nhân viên ngân hàng:

Chỉ tiêu đánh giá sự quan tâm, tính chuyên nghiệp trong phong cách phục vụ của toàn bộ hệ thống ngân hàng và nhân viên giao dịch Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả của yếu tố con người trong hoạt động marketing mix và đánh giá kết quả của hoạt động nhân sự Chỉ tiêu này được đánh giá qua: mức độ quan tâm, đáp ứng của ban lãnh đạo cũng như nhân viên đối với các nhu cầu chính đáng riêng có của khách hàng, góp phần tạo nên sự khác biệt cho sản phẩm và kết quả là mức độ hài lòng của khách hàng sẽ tăng lên

Phong cách phục vụ hòa nhã, tận tâm, thái độ cư xử đúng mực và trình độ chuyên môn của nhân viên ngân hàng cũng là yếu tố mang lại sự hài lòng cho khách hàng

Hiệu quả giải quyết khiếu nại:

Trong quá trình giao dịch, khách hàng không thể không phát sinh những điểm không hài lòng về sản phẩm, dịch vụ của NH Tùy theo từng khách hàng, sự không hài lòng có thể được hoặc không được phản ánh Nếu được phản ánh và hiệu quả trong giải quyết khiếu nại cao, NH sẽ thu được kết quả khả quan Từ đó làm tăng mức độ trung thành đối với NH và sẽ là một kênh quảng cáo truyền miệng tốt

Yếu tố bằng chứng hữu hình

Xuất phát từ đặc điểm vô hình của sản phẩm ngân hàng, bằng chứng hữu hình có

ý nghĩa quan trọng tạo sự tin tưởng và định hướng quá trình mua của khách hàng Điều kiện phòng giao dịch tốt và hiện đại là một trong những yếu tố đầu tiên đánh vào niềm tin của KH Yếu tố bằng chứng hữu hình còn được thể hiện qua trang phục nhân viên, mạng lưới chi nhánh…

1.3.5 Hệ thống kênh phân phối

Hệ thống kênh phân phối luôn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của các NHTM Hệ thống kênh phân phối của các NHTM thể hiện ở số lượng các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc khác và sự phân bố các chi nhánh theo địa lý lãnh thổ Việc triển khai các công nghệ ngân hàng hiện đại đang làm rút ngắn khoảng cách về không gian và làm giảm tác động của một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đối với năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Tuy nhiên vai trò của một mạng lưới chi nhánh rộng lớn vẫn rất có ý nghĩa, đặc biệt là ở Việt Nam khi mà các dịch vụ huy động vốn truyền thống ở ngân hàng vẫn còn phát triển

Trang 17

Hiệu quả của mạng lưới chi nhánh rộng cũng là một chỉ tiêu quan trọng, thể hiện thông qua tính hợp lý trong phân bố chi nhánh ở các vùng, miền cũng như vấn đề quản

lý, giám sát hoạt động của các chi nhánh

1.3.6 Thương hiệu của NHTM

Ngân hàng là định chế tài chính trung gian trong nền kinh tế cung cấp dịch vụ tài chính, tín dụng Tài sản thực của ngân hàng rất nhỏ so với giá trị giao dịch luân chuyển qua ngân hàng Hơn bất kỳ ngành nghề nào khác, uy tín chính là yếu tố sống còn của ngân hàng Vì vậy hơn bất kỳ doanh nghiệp nào, ngân hàng là lĩnh vực cần phải đầu tư xây dựng thương hiệu mạnh mẽ, chuyên nghiệp

Đối tượng khách hàng của ngân hàng rất đa dạng: cá nhân, công ty, hợp tác xã…vì thế khi xây dựng thương hiệu ngân hàng phải hướng đến tất cả các đối tượng trên Mọi chính sách, mọi sản phẩm, mọi dịch vụ…của thương hiệu phải đa dạng hơn những thương hiệu khác

Ngoài những tiêu chí đánh giá thương hiệu một doanh nghiệp như: lợi nhuận, số lượng khách hàng, sự chấp nhận của thị trường, của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ thì thương hiệu ngân hàng còn được đánh giá qua một số tiêu chí thêm sau: tổng huy động, tổng dư nợ cho vay, tổng lượng thẻ, doanh số chuyển tiền, quy mô các dịch vụ tăng không ngừng…

1.3.7 Năng lực tài chính của NHTM

Năng lực tài chính là thước đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời điểm nhất định Năng lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn: Tiềm lực về vốn thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể như: quy mô vốn chủ sở hữu, hệ số an toàn vốn (CAR) Tiềm lực về vốn chủ

sở hữu phản ánh sức mạnh tài chính của một ngân hàng và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng đó Cách thức mà một ngân hàng có khả năng cơ cấu lại vốn, huy động thêm vốn cũng là một khía cạnh phản ánh tiềm lực về vốn của một ngân hàng Đây là một trong những nguồn lực quyết định khả năng cạnh tranh của một ngân hàng

Chất lượng tài sản có được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như: tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung

và đa dạng hóa của danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn…

Mức sinh lợi: là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của ngân hàng, đồng thời cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng Chỉ tiêu mức sinh lời có thể được

Trang 18

phân tích thông qua những chỉ tiêu cụ thể như: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế; tốc độ tăng trưởng lợi nhuận; cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hình thành

từ nguồn nào, từ hoạt động kinh doanh thông thường hay từ các khoản thu nhập bất thường); tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

có (ROA); các chỉ tiêu về mức sinh lợi trong mối tương quan với chi phí…

Khả năng thanh khoản: được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như khả năng thanh toán tức thời, khả năng thanh toán nhanh, đánh giá định tính về năng lực quản lý thanh khoản của các NHTM, đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM

1.3.8 Năng lực công nghệ của NHTM

Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động ATM… Công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống báo cáo rủi ro… trong nội bộ ngân hàng

Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các NHTM cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ của một ngân hàng Với tốc độ phát triển rất nhanh của ngành công nghệ thông tin nói chung và công nghệ lĩnh vực ngân hàng nói riêng, nếu chỉ tập trung phân tích vào khả năng công nghệ hiện tại mà không chú ý tới khả năng nâng cấp và thay đổi trong tương lai thì sẽ rất dễ có những nhận thức sai lầm về năng lực công nghệ của các ngân hàng Vì thế năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện đại mà còn bao gồm cả khả năng mở (nghĩa là khả năng đổi mới) của các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế

1.3.9 Nguồn nhân lực của NHTM

Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp cũng như ngân hàng nào Năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực của một doanh nghiệp nói chung thể hiện ở những yếu tố như: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp Nhân sự của một ngân hàng là yếu tố mang tính kết nối các nguồn lực của ngân hàng, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cải tiến hay đổi mới Trình độ, hay kỹ năng của người lao động là những chỉ tiêu quan trọng thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực Động cơ phấn đấu và mức độ cam kết gắn bó

Trang 19

cũng là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh từ nguồn nhân lực của mình hay không

Ngân hàng là một ngành đòi hỏi người lao động phải có kinh nghiệm và trình độ cao được tích lũy theo thời gian Rõ ràng nếu một ngân hàng có tốc độ lưu chuyển nhân viên cao sẽ không phải là một ngân hàng có lợi thế về nguồn nhân lực Quá trình tuyển dụng

và đào tạo một chuyên viên ngân hàng thường rất tốn kém cả về thời gian và công sức Hiệu quả của các chính sách nhân sự, đặc biệt là chính sách tuyển dụng, cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng duy trì một đội ngũ nhân sự chất lượng cao của một ngân hàng

1.3.10 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức của NHTM

Năng lực quản lý phản ánh năng lực điều hành của hội đồng quản trị cũng như ban giám đốc của một ngân hàng Năng lực quản lý thể hiện ở mức độ chi phối và khả năng giám sát của hội đồng quản trị đối với ban giám đốc; mục tiêu, động cơ, mức độ cam kết của ban giám đốc cũng như hội đồng quản trị đối với việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng; chính sách tiền lương và thu nhập đối với ban giám đốc; số lượng, chất lượng và hiệu lực thực hiện của các chiến lược, chính sách và quy trình kinh doanh cũng như quy trình quản lý rủi ro, kiểm toán kiểm soát nội bộ Năng lực quản lý quyết định hiệu quả sử dụng các nguồn lực của ngân hàng Một ban giám đốc hay hội đồng quản trị yếu kém, không có khả năng đưa ra những chính sách, chiến lược hợp lý, thích ứng với những thay đổi của thị trường… sẽ làm lãng phí các nguồn lực và làm yếu

đi năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó

Năng lực quản lý của hội đồng quản trị cũng như ban giám đốc cũng bị chi phối bởi

cơ cấu tổ chức của NHTM Cơ cấu tổ chức là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh cơ chế phân bổ các nguồn lực của một ngân hàng có phù hợp với quy mô, trình độ quản lý của ngân hàng; phù hợp với đặc trưng cạnh tranh của ngành và yêu cầu của thị trường hay không Cơ cấu tổ chức của một ngân hàng thể hiện ở sự phân chia các phòng ban chức năng, các bộ phận tác nghiệp, các đơn vị trực thuộc… Hiệu quả của cơ chế quản lý không chỉ phản ánh ở số lượng các phòng ban, sự phân công, phân cấp giữa các phòng ban mà còn phụ thuộc vào mức độ phối hợp giữa các phòng ban, các đơn vị trong việc triển khai chiến lược kinh doanh, các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày, khả năng thích nghi và thay đổi của cơ cấu trước những biến động của ngành hay những biến động của môi trường vĩ mô…

Trang 20

1.3.11 Khả năng nghiên cứu và phát triển dịch vụ huy động vốn

Khả năng nghiên cứu và phát triển dịch vụ huy động vốn của ngân hàng chú trọng đến tiềm lực và sự đầu tư của ngân hàng trong việc phân tích và tìm cách thỏa mãn cao nhất các yêu cầu của khách hàng Hơn thế nữa khả năng nghiên cứu phát triển còn cho thấy mức độ nhạy bén của ngân hàng trong việc gợi mở nhu cầu của khách hàng thông qua việc không ngừng nghiên cứu và tung ra thị trường các dịch vụ huy động vốn mới, nghiên cứu cải tiến dịch vụ và công nghệ, cung cấp cho khách hàng các tiện ích vượt trội

so với đối thủ cạnh tranh, từ đó góp phần không nhỏ vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của NHTM

Năng lực cạnh tranh của NHTM chịu ảnh hưởng bởi một số các yếu tố sau:

Một là, các yếu tố của bản thân NHTM: Các yếu tố này bao gồm các yếu tố về con

người: chất lượng, kỹ năng, chi phí; các yếu tố về vật chất; các yếu tố về trình độ như khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thị trường; các yếu tố về vốn Các yếu tố này có thể chia làm 2 loại: Một là các yếu tố cơ bản như: môi trường tự nhiên, địa lý, nhân viên không có

kỹ năng; Hai là các yếu tố nâng cao như: thông tin, nhân viên có trình độ cao…

Trong hai yếu tố trên thì yếu tố thứ hai có ý nghĩa quyết định tới khả năng cạnh tranh của NHTM Chúng quyết định lợi thế cạnh tranh của NHTM ở mức độ cao và những công nghệ có tính độc quyền Trong dài hạn thì đây là những yếu tố có tính quyết định, chúng phải được đầu tư phát triển một cách đầy đủ và đúng mức

Hai là, nhu cầu của khách hàng: đây là yếu tố có tác động rất lớn tới sự phát triển của

NHTM, nó quyết định tới sự sống còn của NHTM Thông qua nhu cầu của khách hàng

mà NHTM có thể tận dụng được lợi thế về quy mô, từ đó cải thiện các hoạt động kinh doanh dịch vụ của mình

Nhu cầu của khách hàng còn có thể gợi mở ra cho NHTM phát triển các loại hình dịch vụ huy động vốn mới Các loại hình này có thể được phát triển rộng rãi ra thị trường bên ngoài và khi đó NHTM là người có lợi thế cạnh tranh trước tiên

Ba là, các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ: Sự phát triển của NHTM không thể tách

rời sự phát triển các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ như sự phát triển của công nghệ thông tin, tin học, mạng truyền thông… trong thị trường tài chính

Trang 21

Đối với các NHTM, yếu tố thông tin có vai trò quan trọng Nhờ sự phát triển của công nghệ tin học và thông tin mà các ngân hàng có thể theo dõi và tham gia vào thị trường tài chính 24/24 giờ trong ngày, chính điều đó càng chứng tỏ vai trò quan trọng của các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ đối với năng lực cạnh tranh của NHTM

Bốn là, chiến lược của NHTM, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh: Đây là những

vấn đề liên quan đến cách thức NHTM được hình thành, tổ chức và quản lý cũng như mức độ cạnh tranh trong nước và trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay Sự phát triển các hoạt động doanh nghiệp sẽ thành công nếu có được sự quản lý và tổ chức trong một môi trường phù hợp và kích thích được các lợi thế cạnh tranh của nó Sự cạnh tranh giữa các NHTM sẽ là yếu tố thúc đẩy sự cải tiến và thay đổi nhằm hạ chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ khách hàng

Năm là, ảnh hưởng của quá trình hội nhập

Toàn cầu hóa kinh tế dẫn tới quá trình hội nhập các ngân hàng, thực tế cho thấy toàn cầu hóa kinh tế là một phương thức thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hội nhập của các quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, qua đó các NHTM đã không ngừng

mở rộng quy mô hoạt động và thị phần bằng cách vươn tới những thị trường vượt ra khuôn khổ quốc gia

Cạnh tranh không giới hạn phạm vi quốc gia mà diễn ra ở khắp châu lục, trong cuộc cạnh tranh này các NHTM ở các nước phát triển, có quy mô lớn và tiềm lực tài chính, giàu kinh nghiệm sẽ có lợi thế hơn các ngân hàng ở các nước đang phát triển, nguy cơ bị thôn tính của các ngân hàng tại các quốc gia này sẽ tăng, song nó cũng tạo ra những động lực nhất định để các ngân hàng có quy mô nhỏ ý thức hơn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, nâng cao vị thế của mình

Một trong những tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hội nhập và khả năng phát triển của các NHTM là tính đa quốc gia trong phạm vi hoạt động kinh doanh Vì vậy nhiều NHTM đã mở ra khắp các châu lục bằng nhiều phương thức: mở mới chi nhánh, hợp nhất, sát nhập, mua lại… quy mô của các NHTM tăng lên đáng kể Xu hướng các NHTM lớn, giàu tiềm lực tài chính tìm cách thâm nhập vào các NHTM nhỏ ở các quốc gia, nơi họ đến để tìm kiếm cơ hội kinh doanh Đây được xem là giải pháp chủ yếu trong việc thâm nhập thị trường cung cấp dịch vụ ngân hàng ở các nước đang phát triển của các ngân hàng lớn, tạo ra tính đa quốc gia trong hình thức sở hữu các NHTM

Trang 22

1.5 Năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của các ngân hàng trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Kinh nghiệm cải cách hệ thống ngân hàng thương mại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn ở một số nước trên thế giới

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước Đông Âu Trung Quốc, Hàn Quốc là những quốc gia nằm

ở khu vực Đông Á, có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam, song quan trọng hơn, kinh nghiệm cải cách hệ thống ngân hàng ở các quốc gia này có những đặc thù riêng, là những gợi ý tốt cho công cuộc cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn của NH trong thời gian trước mắt cũng như trong định hướng xây dựng chiến lược phát triển lâu dài

1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc thực hiện công cuộc cải cách hệ thống ngân hàng với sự khởi đầu là việc ban hành Luật NHTM mới, có hiệu lực từ ngày 1/7/1995 Việc gia nhập WTO của Trung Quốc tháng 12/2001 càng làm cho công cuộc cải cách nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng được đẩy mạnh rất nhiều

Trên thực tế, các NHTM Trung Quốc đang phải đối diện với những yếu kém thể hiện trên các mặt: năng lực quản lý hệ thống, sự cân đối về vốn, chất lượng tài sản và năng lực đổi mới Khi tiến hành cải cách hệ thống NHTM để tăng khả năng cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn, Trung Quốc đã tập trung vào một số mục tiêu: nâng cao năng lực quản lý, cải thiện chất lượng tài sản và nâng cao các dịch vụ hỗ trợ cho công tác huy động vốn như dịch vụ ngân hàng điện tử e-banking; phát triển các thể chế tài chính lành mạnh không bị tổn thương bởi làn sóng cạnh tranh nước ngoài và phát triển thị trường liên ngân hàng tạo điều kiện cho tự do hóa lãi suất và quản lý rủi ro

Năm 1998, Bộ tài chính Trung Quốc đã phát hành 270 tỷ nhân dân tệ trái phiếu đặc biệt để tăng cường vốn cho các ngân hàng lớn, nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trung bình của các ngân hàng này từ 4,4% đến 8% theo đúng Luật ngân hàng thương mại Trung Quốc

Cổ phần 4 ngân hàng thương mại lớn và khuyến khích các ngân hàng này bán cổ phiếu trên thị trường trong và ngoài nước, coi đây như một cách để tăng vốn và nâng cao năng lực quản lý

Trang 23

Sự giám sát tài chính các ngân hàng cũng được củng cố Cuối năm 1998, Trung Quốc

đã đưa ra các tiêu chuẩn kế toán quốc tế cho các ngân hàng, mặc dù hệ thống này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi

Một phần trong chương trình cải cách hệ thống ngân hàng là cải cách lãi suất nhằm đưa ra các mức lãi suất về sát với cung cầu thị trường để tăng khả năng cạnh tranh nói chung và khả năng cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn nói riêng và nâng cao chất lượng tài sản của các ngân hàng Bước đầu, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC)

đã tự do hóa lãi suất trên thị trường liên ngân hàng Tháng 9/2000, PBOC lên kế hoạch 3 năm để tự do hóa lãi suất Các hạn chế đối với việc cho vay bằng ngoại tệ được loại bỏ ngay lập tức và tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ đã tăng lên

Tháng 6/2004, 2 ngân hàng China Construction Bank (CCB) và Bank of China (BOC) đã xử lý 300 tỷ nhân dân tệ (tương đương khoảng 36,2 tỷ USD) nợ khó đòi, giảm

tỷ lệ nợ xấu từ 5,16% xuống còn 3,74% và chuẩn bị cho lần đầu tiên phát hành cổ phiếu

ra công chúng

Tháng 5/2006, International Commercial Bank of China (ICBC) cũng bán cổ phiếu ra công chúng và trở thành ngân hàng Trung Quốc có tỷ lệ đầu tư nước ngoài cao nhất, chiếm khoảng 8,89% vốn điều lệ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ICBC được tăng lên tới 10,26% và tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 4,43%, gần tới mức 1-2% của các ngân hàng nước ngoài

Kể từ khi gia nhập WTO, khu vực ngân hàng của Trung Quốc không dễ bị thôn tính bởi các đối thủ nước ngoài bởi chính phủ Trung Quốc đã có những phản hồi đúng hướng

và có những bước đi thận trọng Mở cửa thị trường tài chính và sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài đã trở thành động lực cho khu vực tài chính của Trung Quốc trong việc cải cách thể chế cơ cấu mà không đem lại những cuộc khủng hoảng trầm trọng

Để hội nhập thành công, Trung Quốc luôn xác định ngoài việc đưa ra các chính sách tạo điều kiện cho hội nhập, cần tạo một môi trường trong nước thật hấp dẫn để tất cả các ngân hàng cùng phát triển Quá trình hội nhập “từ từ” nhưng đồng bộ và toàn diện của Trung Quốc chắc chắn sẽ giúp đất nước có một hệ thống ngân hàng lành mạnh và hội nhập quốc tế

Trung Quốc cũng tập trung vào phát triển các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động huy động vốn như dịch vụ e-banking thông qua chiến lược vừa vững chắc vừa linh hoạt của các NHTM Trung Quốc

Trang 24

Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, nhiều chuyên gia tài chính ngân hàng tại Trung Quốc cho rằng e-banking sẽ là đầu cầu để các ngân hàng nước ngoài tấn công vào trị trường tài chính ngân hàng trong nước Để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài, các NHTM Trung Quốc đã áp dụng chiến lược vừa vững chắc vừa linh hoạt cho dịch vụ e-banking với đặc tính nhanh chóng, linh hoạt và khả năng bảo mật an toàn cao, vững chắc Nội dung của chiến lược như sau:

Để dịch vụ e-banking có được sự thông minh, lanh lợi, các NHTM lớn tại Trung Quốc đã liên tục nâng cấp hệ thống ngân hàng trực tuyến và thực hiện nhiều chiến dịch quảng cáo về sự tiện dụng của dịch vụ e-banking này Ngoài ra các NHTM Trung Quốc còn tuyển dụng những nhân viên giỏi nhất, thành thạo nghiệp vụ nhất vào làm việc tại bộ phận e-banking

Để đảm bảo tính vững chắc, các NHTM Trung Quốc phải áp dụng nhiều biện pháp

để tăng tính an toàn và bảo mật cho dịch vụ này như: xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu hoàn toàn tự động để lưu giữ hồ sơ và phân tích các giao dịch e-banking để tăng cường kiểm tra nội bộ trong ngân hàng và chú trọng việc bảo mật thông tin e-banking để giữ cho các thông tin thiết yếu không bị rò rĩ và không bị truy cập trái phép; nhất là khi các giao dịch này hoàn toàn được thực hiện qua Internet và được lưu trong cơ sở dữ liệu

Có thể dẫn chứng sự thành công của chiến lược này của các NHTM Trung Quốc qua kết quả đạt được tại ngân hàng ICBC ICBC đã nâng cấp hệ thống ngân hàng trực tuyến của mình lên gấp 2 lần trong 2 năm đầu thực hiện chiến lược và đã thu được giá trị giao dịch lên đến 4 tỷ nhân dân tệ (482 triệu USD) mỗi ngày kể từ tháng 12/2003 ICBC cũng

đã dẫn đầu trong việc cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến cước điện thoại cố định

và di động tại thị trường nội địa Hầu hết các công ty bảo hiểm, phần lớn trong số 10 tập đoàn môi giới bảo hiểm lớn nhất cả nước và một số tổ chức tài chính đa quốc gia, trong

đó phải kể đến Citibank, hiện là khách hàng trong tổng số 5.600 khách hàng của hệ thống ngân hàng trực tuyến ICBC

Thế mạnh của các NHTM Trung Quốc so với các ngân hàng thương mại nước ngoài

là họ dễ chiếm lĩnh lòng tin của khách hàng nội địa hơn Do vậy họ đã biết tận dụng lợi thế này để phát triển một dịch vụ mới và hiện đại (là điểm mạnh của ngân hàng nước ngoài), nhưng dịch vụ này cũng cần có sự tin tưởng của khách hàng Vì vậy họ đi trước

và họ đã thành công

Trang 25

1.5.2 Kinh nghiệm từ Hàn Quốc

Bốn tháng sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á nổ ra, từ cuối tháng 11-1997, Chính phủ Hàn Quốc bắt đầu thực thi một chương trình cải cách toàn diện ngành ngân hàng Ủy ban giám sát tài chính (FSC) được thành lập Mục tiêu ban đầu của Ủy ban là xem xét thu hồi giấy phép hay đình chỉ hoạt động của những tổ chức tài chính không thể tiếp tục hoạt động; lành mạnh hóa bảng cân đối tài chính của các tổ chức tài chính có khả năng tồn tại, hợp nhất những ngân hàng nhỏ thành ngân hàng lớn trên cơ sở các mô hình ngân hàng của Hoa Kỳ và Châu Âu, cho phép các ngân hàng đã được tái cơ cấu tham gia vào quá trình tái cơ cấu các tập đoàn kinh tế Hàn Quốc (cheabol)

Theo báo cáo điều tra của FSC, một số ngân hàng của Hàn Quốc không đủ khả năng tồn tại vì các ngân hàng này không đáp ứng những yêu cầu tối thiểu về tiêu chuẩn vốn

Vì vậy các ngân hàng này được yêu cầu đệ trình phương án tái cơ cấu của chính mình, trong đó nêu cụ thể những biện pháp cắt giảm chi phí, tái cơ cấu nguồn vốn và những thay đổi về quản lý Tuy nhiên các đề án của các ngân hàng này đều không khả thi và không được FSC chấp nhận Do đó chỉ còn lại một số ngân hàng được chấp nhận hoạt động trên cơ sở có điều kiện

Chính phủ Hàn Quốc đã hỗ trợ cho các ngân hàng được cơ cấu lại bằng việc cấp thêm vốn thông qua trái phiếu chính phủ do Cơ quan bão lãnh tiền gởi Hàn Quốc phát hành và được Chính phủ Hàn Quốc bảo lãnh

Tiếp đó, Chính phủ Hàn Quốc cũng yêu cầu các ngân hàng được phép hoạt động có điều kiện phải hợp nhất với nhau hoặc tự tìm những đối tác nước ngoài có khả năng về vốn và có kinh nghiệm quản lý trong ngành ngân hàng Để nhận được sự trợ giúp của Chính phủ, các ngân hàng này phải giảm 45-50% nhân viên, sắp xếp lại hoạt động của

bộ máy lãnh đạo, củng cố hệ thống mạng lưới chi nhánh, đảm bảo tìm kiếm được đối tác

để hợp nhất hay đối tác hợp tác nước ngoài và phải thay thế bộ máy điều hành cũ bằng đội ngũ các chuyên gia ngân hàng trong nước và quốc tế theo mô hình của Anh hoặc Hoa Kỳ Theo quan điểm của FSC, những quyết định liên quan tới chiến lược kinh doanh, quản ý rủi ro, bổ nhiệm và đánh giá hiệu quả công việc của đội ngũ lãnh đạo phải

do một ban giám đốc độc lập tiến hành Bên cạnh đó, FSC cũng theo dõi chặt chẽ những ngân hàng khác có tỷ lệ vốn tự có thấp hơn tỷ lệ tiêu chuẩn Basel là 8% Nếu bảng cân đối tài sản của những ngân hàng này không đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế thì FSC sẽ yêu cầu các ngân hàng này phải có những biện pháp sửa chữa kịp thời

Trang 26

Từ đó, hầu hết các ngân hàng buộc phải cơ cấu lại của Hàn Quốc đã thành công trong việc tiến hành các biện pháp cải cách do FSC yêu cầu Nhìn chung các ngân hàng này giảm được 20% nhân viên và lành mạnh hóa hệ thống bằng việc đóng cửa hơn 700 chi nhánh Để đạt được điều này, các ngân hàng buộc phải hợp nhất với nhau để tạo ra những ngân hàng lớn có sức cạnh tranh cao, đồng thời cắt giảm được chi phí và nhân viên Ngoài ra một số ngân hàng nhỏ của Hàn Quốc cũng đã được các ngân hàng lớn mua lại với sự hỗ trợ của Chính phủ Tuy nhiên việc mua lại này rất tốn kém đối với Chính phủ Hàn Quốc vì nhà nước phải bỏ ra rất nhiều tiền mua lại nợ xấu, bù đắp những khoản trượt giá và tái cơ cấu vốn cho ngân hàng Do đó các nhà đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư vào hệ thống ngân hàng Hàn Quốc

1.5.3 Kinh nghiệm từ các nước Đông Âu

Ở thời điểm các nước Đông Âu bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường, các nước Đông Âu đã thực hiện nhiều bước cải cách quan trọng, trong đó quan trọng nhất là cải cách hệ thống tài chính của mình Mỗi nước Đông Âu đã thực hiện những cách làm khác nhau Tuy vậy, các phổ biến và thành công nhất mà các nước này thường làm là tìm các nhà đầu tư chiến lược Điển hình thành công là mô hình của Hungary, Balan Vấn đề mà các nước Đông Âu gặp phải là quá trình tư nhân hóa hệ thống tài chính quá nhanh dẫn đến sự thống lĩnh của các ngân hàng nước ngoài đối với hệ thống tài chính (chiếm gần 60% thị phần) Sau quá trình tư nhân hóa, hiện nay hệ thống tài chính của các nước Đông Âu được đánh giá tương đối hiệu quả và có sự hội nhập cao

1.5.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ việc tìm hiểu năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của các ngân hàng trên thế giới, tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm phù hợp áp dụng cho điều kiện của thị trường tiền tệ của Việt Nam nói chung và các NHTM của Việt Nam nói riêng như sau Theo đó để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong nước, cần

có những hành động đúng hướng từ Chính phủ, cũng như sự nỗ lực từ chính bản thân các ngân hàng

Về phía Chính phủ:

Xây dựng một môi trường pháp lý ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế Việt Nam và hệ thống ngân hàng phát triển, cạnh tranh bình đẳng trong điều kiện hội nhập quốc tế

Trang 27

Chính phủ cần có những biện pháp để hỗ trợ tăng cường năng lực tài chính của các NHTM như: tăng vốn cho các ngân hàng thương mại để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo thông lệ quốc tế bằng hình thức phát hành trái phiếu, cổ phần hóa các ngân hàng thương mại, khuyến khích các NHTM bán một phần cổ phiếu cho nhà đầu tư trong nước

và nước ngoài, xử lý nợ khó đòi, nợ xấu của các NHTM nhà nước Khi thực hiện cổ phần hóa, bán cổ phiếu cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài cần chú ý tránh bị tư nhân hóa, tránh sự thống lĩnh của các ngân hàng nước ngoài

Từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp, bảo hộ đối với NHTM Việt Nam, đồng thời nới rộng dần các hạn chế đối với NHNNg

Tiến hành rà soát, đối chiếu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam để xây dựng văn bản pháp luật cho phù hợp với các quy định cam kết

Từng bước thiết lập và áp dụng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về an toàn trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thông qua việc tiến hành sửa đổi, bổ sung các văn bản để môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế

Xây dựng khung pháp lý đảm bảo sân chơi bình đẳng, an toàn cho các loại hình NHTM trên lĩnh vực dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ khác có liên quan đến hoạt động huy động vốn

Tiếp tục hoàn thiện các công cụ điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chuyển

từ trực tiếp sang gián tiếp

Hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp quá sâu của Chính phủ, của cơ quan, tổ chức đối với các hoạt động của NHNN

Đầy mạnh và phát triển thị trường liên ngân hàng: Từng bước hoàn thiện thị trường tiền tệ thứ cấp, đặc biệt là thị trường liên ngân hàng về nội tệ và ngoại tệ Phát triển các công cụ tài chính của thị trường này, đặc biệt là các công cụ phái sinh như forward, swap, option… Mở rộng thành viên tham gia giao dịch trên thị trường liên ngân hàng cho tất cả các tổ chức tín dụng kể cả NHNNg

Về phía các ngân hàng thương mại:

Các ngân hàng thương mại cần thực hiện chiến lược vừa vững chắc vừa linh hoạt trong các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động huy động vốn

Nâng cao năng lực tài chính thông qua thực hiện tăng vốn tự có, cần tăng vốn tự

có lên mức ngang bằng với các ngân hàng trong khu vực (trên 1 tỷ USD) Tuy nhiên việc nâng vốn tự có của các ngân hàng phải phù hợp với chiến lược tài chính của mình

Trang 28

Nâng cao năng lực quản trị điều hành của NHTM, tăng cường tổ chức các khóa đào tạo dành riêng cho cán bộ quản lý theo từng cấp, lựa chọn cán bộ quản lý cấp cao đi đào tạo thực tập ở các ngân hàng nước ngoài, đổi mới mô hình tổ chức và quy chế điều hành theo hướng tăng quyền lực quản lý của hội đồng quản trị, nâng cao hơn nữa quyền

Để đánh giá năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn của NHTM người

ta thường dựa vào một số chỉ tiêu như thị phần huy động vốn, sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ huy động vốn, sự khác biệt trong dịch vụ, biểu phí, lãi suất huy động vốn và hoạt động marketing dịch vụ huy động vốn, mối quan hệ với khách hàng, hệ thống kênh phân phối, thương hiệu của NHTM, năng lực tài chính của NHTM, năng lực công nghệ của NHTM, nguồn nhân lực của NHTM, năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức của NHTM, khả năng nghiên cứu và phát triển dịch vụ huy động vốn

Bên cạnh đó tác giả tìm hiểu kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn của các NHTM ở một số nước để từ đó rút ra một số kinh nghiệm để áp dụng cho các NHTM tại Việt Nam

Trang 29

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỞI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

2.1 Giới thiệu tổng quan về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB)

Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập lại VCB theo

mô hình Tổng công ty 90, 91 được quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng

03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ

Là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, VCB chính thức hoạt động với tư cách là một Ngân hàng TMCP vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Ngày 30/6/2009, cổ phiếu VCB (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM

Sau gần nửa thế kỷ hoạt động trên thị trường, VCB hiện có trên 12.500 cán bộ nhân viên, với gần 400 Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoài nước, gồm Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở Giao dịch, 78 chi nhánh và hơn

300 phòng giao dịch trên toàn quốc, 3 công ty con tại Việt Nam, 2 công ty con tại nước

Trang 30

ngoài, 1 văn phòng đại diện tại Singapore, 5 công ty liên doanh, liên kết Bên cạnh đó, VCB còn phát triển một hệ thống Autobank với 1.700 ATM và 22.000 điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý tại 100 quốc gia và vùng lãnh thổ

Với bề dày hoạt động và đội ngũ cán bộ có chuyên môn vững vàng, nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại, mang tính hội nhập cao…VCB luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn và của hơn 6 triệu khách hàng cá nhân

Bằng trí tuệ và tâm huyết, các thế hệ cán bộ nhân viên VCB đã, đang và sẽ luôn nỗ lực để xây dựng VCB xứng đáng với vị thế là “Ngân hàng hàng đầu vì Việt Nam thịnh vượng”

2.1.2 Sơ lược về tình hình hoạt động kinh doanh của VCB trong thời gian qua

2.1.2.1 Sơ lược bối cảnh nền kinh tế Việt Nam

Kết thúc một năm 2011 đầy khó khăn của nền kinh tế, những tín hiệu tích cực vĩ mô cùng những chính sách điều hành cứng rắn của Chính phủ trong nhiệm kỳ mới đang mở

ra kỳ vọng sáng sủa hơn cho năm 2012 dù thách thức là không nhỏ

Đứng trước bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam năm 2011 có một số vấn đề tiêu biểu sau:

Thứ nhất, Nghị quyết 11 có ý nghĩa to lớn trong việc cơ cấu lại nền kinh tế

Trong bối cảnh lạm phát tăng vọt, đầu tư công tràn lan kém hiệu quả và các tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn của nước ta đầu tư ồ ạt ra ngoài ngành, Nghị quyết 11 (ngày 24/2/2011) của Chính phủ có ý nghĩa to lớn để tổng rà soát và tái cơ cấu lại hoạt động của nền kinh tế, ổn định vĩ mô

Việc thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu

tư công, kiềm chế nhập siêu và đảm bảo an sinh xã hội theo Nghị quyết 11 đã được thể hiện xuyên suốt trong điều hành vĩ mô của Chính phủ năm 2011 Mặc dù lạm phát vẫn cán mốc trên 18% nhưng những dấu hiệu cải thiện vĩ mô rõ rệt vào thời điểm cuối năm cũng như các định hướng tái cấu trúc kinh tế, cắt giảm lãi suất, thoái vốn ngoài ngành, tăng hiệu quả đầu tư công đã mở ra triển vọng sáng sủa hơn cho mục tiêu duy trì tăng trưởng 6% và giữ lạm phát 9% trong năm 2012

Thứ hai, Lạm phát tăng cao trên 18%

Mặc dù các biện pháp kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô được Chính phủ tập trung

triển khai quyết liệt đã khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 9 tháng đầu năm giảm đáng

kể song theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính chung cả năm 2011, lạm phát vẫn ở

Trang 31

mức cao 18,58% - cao hơn dự đoán trước đó của các bộ ngành và các chuyên gia Trong

đó, thủ phạm chính là do giá thực phẩm, giáo dục, lương thực tăng mạnh với mức tăng lần lượt là 29,34%, 23,18% và 22,82%

Thứ ba, Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

Sau quãng thời gian tăng trưởng quá nóng với 130 tổ chức tín dụng, gần 10.000 chi nhánh và phòng giao dịch trên cả nước, hệ thống ngân hàng đã lộ rõ nhiều điểm yếu nguy hiểm: tỷ trọng sở hữu chéo cao, đạo đức kinh doanh xuống thấp, những cuộc đua lãi suất không ngừng, nợ xấu gia tăng

Trước tình hình đó NHNN đã mở đầu cho tái cấu trúc hệ thống ngân hàng bằng việc

xử lý nghiêm các ngân hàng vượt trần lãi suất huy động Tiếp sau đó, nhà nước hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng yếu kém, đồng thời khởi động nhanh quá trình sáp nhập

mà điển hình là thương vụ hợp nhất SCB - Ficombank - TinNghiaBank Song song với việc xử lý các ngân hàng yếu kém được dự báo sẽ còn kéo dài trong năm tới, các NH lớn VietinBank, VCB và BIDV lần lượt được IPO Nỗ lực tái cấu trúc hệ thống tài chính được các tổ chức quốc tế và giới chuyên gia đánh giá cao

Thứ tư, Vỡ nợ tín dụng đen dây chuyền

Hàng trăm vụ vỡ nợ tín dụng đen liên tiếp lộ ra ở nhiều địa phương đã khiến không ít người lao đao, khốn đốn Không có gì ngạc nhiên khi những vụ vỡ nợ này thường gắn với giới bất động sản, ngân hàng và chứng khoán Tín dụng đen được cho là gắn với sự tăng trưởng bong bóng của bất động sản trong vài năm qua, gắn với thời tranh tối tranh sáng tiền tái cấu trúc của hệ thống ngân hàng và sức chịu đựng tới hạn của chứng khoán Điều đáng lo ngại là đã có dấu hiệu liên kết giữa tín dụng đen và các kênh huy động vốn chính thống Hiệu ứng domino này được dự báo sẽ còn tiếp tục, cho đến khi thị trường bất động sản còn đóng băng và nguồn vốn giá rẻ từ ngân hàng chưa cởi mở

Thứ năm, Việt Nam bị hạ bậc tín nhiệm

Trong bối cảnh kinh tế Mỹ và châu Âu vướng vào cuộc khủng hoảng nợ công, năm

2011, Việt Nam cũng bị hãng Standard & Poors (S&P) hạ bậc tín nhiệm nợ dài hạn đối với đồng nội tệ từ mức BB xuống mức BB- và đánh giá triển vọng "tiêu cực" đối với các mức tín nhiệm nợ của Việt Nam Cùng với việc hạ bậc tín nhiệm nợ quốc gia của Việt Nam, S&P cũng đã đánh tụt hạng tín nhiệm của 3 ngân hàng lớn trong nước là BIDV, Techcombank và VCB xuống BB- Hãng này cũng đã hạ bậc tín nhiệm của doanh nghiệp

Trang 32

Hoàng Anh Gia Lai xuống mức xuống B- và đặt triển vọng tín dụng của doanh nghiệp này vào diện tiêu cực

2.1.2.2 Sơ lược về hoạt động kinh doanh của VCB thời gian qua

Trước diễn biến phức tạp của thị trường tài chính tiền tệ như trên, VCB cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ Tuy nhiên với trách nhiệm là một trong những NHTM lớn, VCB

đã tiên phong trong việc can thiệp và hỗ trợ thị trường một cách toàn diện trên tất cả các mặt: định hướng tăng, giảm lãi suất phù hợp với diễn biến của nền kinh tế; đẩy mạnh tín dụng thanh toán xuất nhập khẩu; cung ứng vốn cho các tập đoàn để tạo lập cân đối lớn, sản xuất các mặt hàng thiết yếu… giúp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững

Sơ lược kết quả hoạt động kinh doanh của VCB thời gian qua được thể hiện qua bảng sau: Bảng 2.1: Quy mô hoạt động kinh doanh của VCB giai đoạn 2007-2012; Đvt: Tỷ đồng

Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010 2011 2012

Tổng tài sản 197.363 222.090 255.496 307.621 366.722 414.670 Vốn chủ sở hữu 13.528 13.946 16.710 20.737 28.639 42.337 Tổng vốn huy động 178.114 196.162 238.676 286.278 334.945 395.235

Dư nợ cho vay 95.405 112.799 141.621 176.882 209.418 241.163 Lợi nhuận sau thuế 2.390 2.728 3.945 4.303 4.217 4.425

Nguồn: Báo cáo thường niên VCB năm 2007-2012

Bảng 2.2: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của VCB giai đoạn 2007-2012

Đơn vị: Tỷ đồng

1/ Chỉ tiêu hiệu quả 2007 2008 2009 2010 2011 2012

Lợi nhuận sau thuế 2.390 2.728 3.945 4.303 4.217 4.425

Tỷ trọng thu nhập ngoài lãi 34,47% 25,93% 30,02% 28,93% 16,47% 18,09%

Trang 33

Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng quy mô và hiệu quả hoạt động kinh doanh của VCB giai

Lợi nhuận sau thuế 14,14% 44,61% 9,07% -2,00% 4,93%

Nguồn: Báo cáo thường niên VCB năm 2007-2012

Qua các bảng trên cho thấy, quy mô và hiệu quả hoạt động kinh doanh của VCB có

sự ổn định và tăng trưởng qua các năm Cụ thể như sau:

Tổng tài sản của VCB năm 2011 đạt 366.722 tỷ đồng, tăng 19,21% so với năm 2010 Mức tăng tổng tài sản giai đoạn từ năm 2007-2011 đạt trung bình khoảng 16,75%

Vốn chủ sở hữu của VCB cũng có sự tăng trưởng đáng kể và đến năm 2011 đạt 28.639 tỷ đồng, tăng 38,11% so với năm 2010 và tăng trung bình 20,62% trong giai đoạn

từ năm 2007-2011

Trong các năm qua, tổng vốn huy động của VCB luôn có sự tăng trưởng, tuy tốc độ tăng trưởng năm 2010, 2011 có thấp hơn so với năm 2009, điều này cũng phù hợp với thực tế cạnh tranh gay gắt trong hoạt động huy động vốn giữa các ngân hàng thời gian qua và VCB không cạnh tranh bằng cách tăng lãi suất huy động một cách quyết liệt ở nhiều thời điểm

Tổng dư nợ cho vay của VCB đến 31/12/2011 là 209.418 tỷ đồng, tăng 18,39% so với năm 2010 và tốc độ tăng trung bình giai đoạn từ năm 2007-2011 là 21,72%

Lợi nhuận sau thuế của VCB năm 2011 đạt 4.217 tỷ đồng, có giảm nhẹ so với năm

2010 Mức tăng lợi nhuận sau thuế giai đoạn từ năm 2007-2011 đạt trung bình khoảng 15,25%

2.2 Tình hình hoạt động huy động vốn tiền gởi của VCB

Nhằm đảm bảo sự tăng trưởng ổn định của nguồn vốn, VCB đã đưa ra chính sách chú trọng huy động vốn từ cả nền kinh tế và thị trường liên ngân hàng, sử dụng công cụ lãi suất linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng khách hàng và tận dụng lợi thế vùng, miền để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế

Trang 34

Với mục tiêu trở thành một ngân hàng đa năng, chính sách huy động vốn của VCB không chỉ hướng tới các khách hàng bán buôn truyền thống là các Tổng công ty, các doanh nghiệp lớn mà còn không ngừng mở rộng hoạt động huy động vốn tới các khách hàng bán lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Với chiến lược cạnh tranh bằng sự khác biệt trên nền tảng công nghệ quản lý vốn của ngân hàng hiện đại, các sản phẩm tiền gởi của VCB đã mang lại cho khách hàng những lợi ích khác biệt so với sản phẩm cùng loại trên thị trường

Trong giai đoạn 2007-2011, thị trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất trong nước và trên thị trường quốc tế, tình hình lạm phát, cạnh tranh về huy động vốn giữa các

tổ chức tín dụng trong nước gây ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của các ngân hàng thương mại nói chung và VCB nói riêng Trước các biến động về giá huy động vốn trên thị trường, VCB đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường, tích cực cải thiện chênh lệch lãi suất cho vay - huy động và chênh lệch lãi suất giữa các Chi nhánh; cải thiện quản trị thanh khoản dựa trên hệ thống thông số an toàn và phát triển nhiều công cụ huy động vốn mới (chứng chỉ tiền gửi, lãi suất bậc thang, đầu tư tự động, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bảo an, tiết kiệm trực tuyến, tiết kiệm linh hoạt )

Hiện nay, VCB là ngân hàng có nhiều sản phẩm tiết kiệm nội tệ và ngoại tệ với kỳ hạn phong phú, thu hút mạnh nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và doanh nghiệp Các sản phẩm huy động vốn của VCB rất linh hoạt, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng như: các sản phẩm tiết kiệm cho phép khách hàng chủ động lựa chọn phương thức nhận lãi, gốc; các loại chứng chỉ tiền gởi, kỳ phiếu, trái phiếu với lãi suất ưu đãi kèm theo nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn Ngoài ra với lợi thế công nghệ hiện đại, VCB là ngân hàng đầu tiên triển khai cơ chế quản lý vốn tập trung cho các khách hàng là tổ chức kinh tế lớn Mô hình quản lý vốn tập trung giúp khách hàng sử dụng vốn an toàn và hiệu quả hơn Sản phẩm này đã được khách hàng của VCB đánh giá cao Bên cạnh đó VCB

đã cung cấp cho khách hàng sản phẩm đầu tư tự động, theo đó khách hàng được hưởng lãi suất cao hơn song vẫn đảm bảo được tính năng sẵn sàng thanh khoản trên tài khoản tiền gởi thanh toán

Trang 35

Bảng 2.4: Tình hình tổng nguồn vốn huy động của VCB giai đoạn 2007-2012

Nguồn: Báo cáo thường niên VCB năm 2007-2012

Theo bảng trên ta thấy năm 2007 được đánh giá là năm sôi động và gặt hái thành công của hoạt động kinh doanh ngân hàng (đặc biệt là khối các ngân hàng thương mại cổ phần) Tổng huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng mạnh so với năm 2006 Mức tăng trưởng huy động vốn của VCB năm 2007 tăng 16,63% Tuy nhiên cuối năm 2007 đến đầu năm 2008, lạm phát tăng cao, theo chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước thực hiện các chính sách tiền tệ thắt chặt, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, khống chế mức tăng trưởng tín dụng đã tạo ra cuộc đua về lãi suất huy động giữa các ngân hàng, đẩy mặt bằng lãi suất chung lên cao làm cho hoạt động kinh doanh ngân hàng gặp nhiều khó khăn Tình hình khó khăn tiếp tục kéo dài hết năm 2008, vì vậy không nằm ngoài tình hình chung của toàn hệ thống, tổng huy động vốn của VCB năm

2008 tăng 10,1%, thấp hơn so với mức độ tăng của năm 2007 Tổng huy động vốn cả hai thị trường (I và II) của VCB năm 2009, 2010, 2011, 2012 vẫn tăng, lần lượt là 21,67%, 19,94%, 17% và 17,81% Trong bối cảnh bị cạnh tranh gay gắt, huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế bị giảm, song huy động từ dân cư lại có mức tăng trưởng khá tốt và đều đặn là nhờ vào các chương trình huy động trải đều trong năm, chính sách lãi suất linh hoạt…

Bước sang năm 2011 huy động vốn từ nền kinh tế của VCB đạt hơn 241 nghìn tỷ đồng, tăng 17% - cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn hệ thống (ước khoảng 11%) Song, con số đó mới chỉ đạt được 96,7% kế hoạch đề ra Năm 2012 huy động vốn từ nền kinh

tế của VCB tăng trưởng 18% so với năm 2011 là một kết quả khả quan

Trang 36

Bảng 2.5: Cơ cấu tổng nguồn vốn huy động của VCB theo sản phẩm

vay khác 38.210 71.108 77.989 87.000 102.660 18 10,36 9,68 86,10 Giấy tờ có giá 2.922 386 3.564 6.945 7.431 7 48,68 823,32 -86,79 Cộng 196.161 238.676 286.278 334.945 394.605 17,81 17 19,94 21,67

Nguồn: Báo cáo thường niên VCB năm 2008-2012

Bảng 2.6: Cơ cấu tổng nguồn vốn huy động của VCB theo đối tượng khách hàng

Nguồn: Báo cáo thường niên VCB năm 2008-2012

Bảng 2.7: Cơ cấu tổng nguồn vốn huy động của VCB theo loại tiền tệ

Trang 37

Bảng 2.8: Cơ cấu tổng nguồn vốn huy động của VCB theo kỳ hạn; Đơn vị: tỷ đồng

Nguồn: Báo cáo thường niên VCB năm 2008-2012

Đáng chú ý là trong kết quả tăng trưởng huy động vốn của năm 2011, huy động vốn

từ dân cư có tốc độ tăng trưởng mạnh với 23%, chiếm tỷ trọng tới 50,4%; trong khi huy động vốn từ các tổ chức kinh tế lại chỉ tăng 9,7% và chỉ đạt 90,3% kế hoạch Nguyên nhân là do năm 2011 chính sách tiền tệ thắt chặt, các tổ chức tận dụng tối đa nguồn vốn của mình cho sản xuất kinh doanh, nguồn vốn nhàn rỗi hạn chế và thị trường huy động vốn lộn xộn mà VCB thì không huy động bằng mọi giá

Tuy nhiên lượng vốn huy động từ dân cư tăng mạnh, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu

là kết quả đáng mừng Nếu như trước đây vốn huy động từ các tổ chức kinh tế thường chiếm tỷ trọng từ 70% - 80%, thì nay từ dân cư đã chi phối cho thấy niềm tin của người dân vào ngân hàng tốt hơn Mặt khác, cơ cấu như vậy là ổn định và ít rủi ro, bởi nếu vốn

từ các tổ chức kinh tế chi phối dễ dẫn tới sự thiếu bền vững do có tính linh hoạt cao hơn

2.3 Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của VCB

Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gởi của VCB được thể hiện qua các mặt như sau:

2.3.1 Thị phần huy động vốn tiền gởi và một số dịch vụ hỗ trợ hoạt động huy động vốn

Bảng 2.9: Bảng thị phần huy động vốn và một số dịch vụ hỗ trợ huy động vốn của VCB

Thị phần doanh

số thanh toán thẻ ATM

Thị phần doanh

số thanh toán thẻ quốc tế

Thị phần

số máy ATM

Năm 10 11 12 10 11 12 10 11 12 10 11 12 10 11 12 Thị phần 9,3 8,8 8 27 26,2 26 30,7 30 29 53 52 50 16 15 14

Nguồn: Báo cáo thường niên của VCB qua các năm

Trang 38

VCB là một trong những ngân hàng giữ vai trò chủ đạo và chiếm thị phần lớn trên thị trường Trong nhiều năm liên tiếp VCB đã được các tổ chức có uy tín trên thế giới bình chọn là ngân hàng tốt nhất Việt Nam

Tuy nhiên trong những năm gần đây, chính sách của VCB là không chạy đua về mức tăng trưởng huy động vốn mà ưu tiên tăng trưởng năng lực tài chính cũng như việc quản

lý chất lượng tín dụng Bên cạnh đó, do sự phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại cổ phần khác, đặc biệt là các ngân hàng TMCP mới thành lập, nên thị phần huy động vốn có xu hướng giảm dần Năm 2010 VCB chiếm 9,3%, năm 2011 chiếm 8,8% và đến năm 2012 chiếm 8% thị phần huy động toàn ngành Hiện thị phần huy động vốn của VCB đều cao hơn ACB, HSBC nhưng lại kém CTG, Agribank

Về một số dịch vụ hỗ trợ cho dịch vụ huy động vốn, VCB còn là ngân hàng đứng đầu

về thị phần dịch vụ thẻ Năm 2012 VCB chiếm 26% thị phần doanh số chuyển tiền mạng lưới POS, 29% doanh số thanh toán thẻ ATM, 50% doanh số thanh toán thẻ quốc tế và 16% thị phần về số máy ATM trên toàn thị trường Mặc dù thị phần trên thị trường có xu hướng giảm do có hơn 40 ngân hàng tham gia vào thị trường thẻ tại Việt Nam, tuy nhiên VCB vẫn là một trong những ngân hàng lớn nhất Việt Nam về số lượng thẻ phát hành,

về số lượng máy ATM và đơn vị chấp nhận thẻ Được sự chú trọng đầu tư nguồn lực đặc biệt, hệ thống thanh toán thẻ VCB không ngừng mở rộng và phát triển một cách mạnh

mẽ, từ việc tăng cường các điểm ATM, POS, hoàn thiện đường truyền đến phát triển trung tâm thanh toán và dữ liệu Trong tương lai, VCB sẽ tiếp tục chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động thẻ bằng việc tích cực đầu tư cho cơ sở hạ tầng, mở rộng các dịch

vụ thanh toán mới, hướng tới mục tiêu góp phần hiện đại hóa hệ thống thanh toán, thúc đẩy phương thức thanh toán không dùng tiền mặt

Bảng 2.10: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của VCB, CTG, Agribank, ACB, HSBC

Trang 39

Bảng trên cho thấy tốc độ tăng trưởng huy động vốn của các ngân hàng qua các năm khá cao (riêng có ngân hàng HSBC có mức tăng trưởng âm vào năm 2011), trong đó mức tăng trưởng cao nhất thuộc về CTG, và mức tăng trưởng ổn định nhất thuộc về CTG

Như vậy xét đến yếu tố thị phần huy động vốn của các ngân hàng qua các năm thì cho đến nay, đối thủ cạnh tranh về thị phần huy động vốn của VCB đáng kể nhất là CTG

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Như vậy tính đến thời điểm tháng 12/2012, hệ thống các tổ chức tín dụng của Việt Nam có 3 ngân hàng thương mại quốc doanh, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh, 55 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài; tổng cộng đến cuối năm 2012 có 99 ngân hàng

Mặc dù số liệu các bảng trên cho thấy VCB có sự tăng trưởng bền vững, ổn định về thị phần huy động vốn, tuy nhiên với số lượng ngân hàng tăng dần qua các năm và tỷ trọng của các nhóm ngân hàng không ngừng thay đổi, cho thấy cuộc cạnh tranh thị phần huy động vốn sẽ ngày càng khốc liệt hơn, và để VCB tiếp tục giữ vững vị trí của mình đòi hỏi sự nỗ lực rất nhiều của toàn thể lãnh đạo, cán bộ nhân viên VCB

2.3.2 Sản phẩm dịch vụ huy động vốn tiền gởi và một số dịch vụ hỗ trợ

Việc đa dạng hóa sản phẩm, phát triển sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng

đa dạng của khách hàng đã trở thành công việc thường xuyên và liên tục tại ngân hàng Các sản phẩm của VCB luôn dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến, có độ an toàn và bảo mật cao

Các sản phẩm truyền thống giữa các ngân hàng gần như không có gì khác biệt lắm giữa các ngân hàng, thì các ngân hàng ngày càng phát triển ở lĩnh vực dịch vụ Các ngân

Trang 40

hàng ngày càng đưa ra nhiều dịch vụ ngân hàng để chất lượng phục vụ được nâng cao, khách hàng ngày càng cảm thấy hài lòng khi giao dịch với các ngân hàng

Để thu hút được khách hàng tổ chức và dân cư, VCB đã cung cấp một hệ thống các nhóm sản phẩm về huy động vốn và các sản phẩm hỗ trợ cho huy động vốn khá đầy đủ

- Ngân hàng điện tử: dịch vụ ngân hàng trực tuyến (VCB-Ib@nking, VCB Money, Internet Banking), dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di dộng (SMS Banking), dịch vụ thanh toán tour du lịch trực tuyến (VCB-Etour), dịch vụ quản lý tài khoản tiền gởi giao dịch chứng khoán VCB Securities Online;

- Nhóm dịch vụ chuyển tiền trong nước, chuyển tiền đi nước ngoài, nhận tiền kiều hối, chuyển và nhận tiền trong nước;

Với mục tiêu là ngân hàng tiên phong trong mọi lĩnh vực hoạt động, VCB liên tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng và đưa ra những dịch vụ mới để đáp ứng tốt nhất nhu cầu đa dạng của mọi đối tượng khách hàng

Ngày đăng: 31/12/2020, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w