Những khó khăn, tồn tại trong hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại VIB và những khó khăn, tồn tại khách quan ảnh hưởng đến hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN HUY HOÀNG
TP.HCM - 2010
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài Luận văn Thạc sĩ Kinh tế “Nâng cao chất lượng
quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam (VIB)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Tất cả số liệu minh họa đều được chỉ rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay
Học viên
TRẦN THANH AN
Trang 4CHỮ VIẾT TẮT NGUYÊN VĂN
NHTW Ngân hàng trung ương
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHLD Ngân hàng liên doanh
TCTD Tổ chức tín dụng
VIB Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế
Vietcombank Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Eximbank Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu
Viettinbank Ngân hàng Kỹ Thương
ATM Máy rút tiền tự động
DNV&N Doanh nghiệp vừa và nhỏ
CIC Credit information center – trung tâm thông tin tín dụng
Trang 5Số hiệu
Mục lục Nội dung bảng, sơ đồ, biểu đồ Trang
Biểu số 2.1 2.1.3 Tổng dư nợ của VIB qua các năm 2007 – 2009 31Biểu số 2.2 2.1.3 Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế 33Biểu số 2.3 2.1.3 Cơ cấu dư nợ theo thời hạn cho vay 35Biểu số 2.4 2.1.3 Cơ cấu dư nợ theo loại tiền vay 36Biểu số 2.5 2.1.3 Dư nợ quá hạn qua các năm 2007 – 2009 37
Trang 6MỤC LỤC Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - 1 -
1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - 1 -
1.1.1 Khái niệm về rủi ro - 1 -
1.1.2 Một số rủi ro liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng - 1 -
1.1.2.1 Rủi ro tín dụng - 1 -
1.1.2.2 Rủi ro về lãi suất - 2 -
1.1.2.3 Rủi ro về tỷ giá - 2 -
1.2 QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG - 3 -
1.2.1 Khái niệm quản lý ruỉ ro tín dụng - 3 -
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng - 3 -
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng - 4 -
1.2.3.1.Tỷ lệ nợ quá hạn - 5 -
1.2.3.2 Tỷ trọng nợ xấu/ Tổng dư nợ cho vay - 6 -
1.2.3.3 Hệ số rủi ro tín dụng - 8 -
1.2.4 Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng - 9 -
1.2.4.1 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng - 9 -
1.2.4.2 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay - 10 -
1.2.4.3 Rủi ro xuất phát từ các yếu tố khách quan - 11 -
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NƯỚC - 12 -
1.3.1 Quản lý rủi ro tín dụng bằng biện pháp trích lập dự phòng - 12 -
1.3.2.Quản lý rủi ro tín dụng bằng biện pháp tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng - 12 -
1.3.3 Quản lý rủi ro tín dụng bằng biện pháp đặt ra hạn mức cho vay - 13 -
1.3.4 Quản lý rủi ro tín dụng bằng biện pháp quản trị hệ thống thông tin tín dụng - 14 -
1.3.5.Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp kiểm tra, giám sát - 14 -
Trang 7Chương 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB) - 16 -
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB) - 16 -
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của VIB - 16 -
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của VIB trong năm 2009 - 17 -
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA VIB TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY - 21 -
2.2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng tại VIB giai đoạn 2007 – 2009 - 21 -
2.2.2 Cơ cấu dư nợ tín dụng qua các năm 2007 - 2009 - 24 -
2.2.3 Tình hình nợ quá hạn tại VIB - 28 -
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI VIB - 31 - 2.3.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của các khối, bộ phận liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý rủi ro tín dụng - 31 -
2.3.1.1 Ủy ban tín dụng - 31 -
2.3.1.2 Khối quản lý tín dụng - 32 -
2.3.1.3 Phòng quản lý rủi ro tín dụng - 39 -
2.3.2 Đánh giá chung về hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại VIB - 40 -
2.3.2.1 Những kết quả đạt được - 40 -
2.3.2.2 Những khó khăn, tồn tại trong hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại VIB và những khó khăn, tồn tại khách quan ảnh hưởng đến hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại - 43 -
Chương 3 : CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB) - 49 - 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA VIB TRONG THỜI GIAN TỚI - 49 -
3.1.1 Các mục tiêu cần đạt được trong thời gian tới - 49 -
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng trong thời gian tới - 51 -
Trang 83.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ RỦI RO
TÍN DỤNG TẠI VIB - 52 -
3.2.1 Giải pháp đối với khối kinh doanh - 52 -
3.2.1.1 Chú trọng đẩy mạnh công tác tiếp thị và thực hiện tốt chính sách khách hàng - 52 -
3.2.1.2 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm tín dụng, nghiên cứu và áp dụng phương thức cho vay phù hợp - 53 -
3.2.1.3 Nâng cao trình độ, năng lực và trách nhiệm của cán bộ tín dụng thông qua chính sách đào tạo, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật hợp lý - 55 -
3.2.2 Giải pháp đối với khối công nghệ thông tin - 57 -
3.2.3 Giải pháp đối với khối quản lý tín dụng -57-
3.2.3.1 Hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay - 57 -
3.2.3.3 Theo dõi, đánh giá đúng thực trạng dư nợ để có những giải pháp điều chỉnh, xử lý kịp thời - 61 -
3.2.3.4 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát nội bộ ngân hàng - 62 -
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ CHÍNH PHỦ - 63 -
3.3.1 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước đối với ngân hàng thương mại - 63 -
3.3.2 Nâng cao chất lượng cung cấp thông tin nhằm ngăn ngừa rủi ro tín dụng - 63 - 3.3.3 Xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo môi trường thông thoáng và an toàn cho hoạt động tín dụng - 64 -
KẾT LUẬN - 67 -
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Ý Nghĩa của đề tài
Hoạt động tín dụng ngân hàng được xem là hoạt động chủ chốt và là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cũng như hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, có thể gây ra tổn thất về mặt tài chính và ảnh hưởng đến uy tín, tên tuổi của ngân hàng
Cùng với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã và đang trong quá trình phát triển cả về số lượng và quy mô hoạt động
Sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ trên thị trường tài chính trong nước đã tạo ra áp lực không nhỏ cho các ngân hàng Trong đó, có những ngân hàng đã tận dụng cơ hội trong môi trường cạnh tranh gay gắt để đi lên và khẳng định thương hiệu thông qua khả năng chiếm lĩnh thị phần, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, năng lực kinh doanh cũng như năng lực quản trị rủi ro Ngược lại, không ít các ngân hàng vẫn đang trong gia đoạn đầu của quá trình phát triển và phải đối đầu với nhiều thách thức lớn Tuy nhiên, dù đứng ở vị trí nào trên thị trường tài chính thì quản lý rủi ro trong kinh doanh, trong đó tiêu điểm là rủi ro tín dụng được xem là then chốt và xuyên suốt trong quá trình hoạt động của ngân hàng Xây dựng một hệ thống quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả là một công tác thiết thực nhằm giúp ngân hàng ngăn ngừa và hạn chế tối đa rủi ro tín dụng vốn ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp và khó lường
Trong thời gian tới, mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ còn gia tăng khi Việt Nam mở ra những chính sách thông thoáng hơn nhằm thu hút các tổ chức tài chính nước ngoài vốn có ưu thế vượt trội về năng lực tài chính, thương hiệu, kinh nghiệm quản lý và kinh doanh Chính vì vậy, hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh nói chung và quản lý rủi ro tín dụng nói riêng của các ngân hàng thương mại trong nước cần được hoàn thiện hơn nữa để có thể đứng vững trong môi trường kinh doanh bình đẳng và mang tính toàn cầu hóa
Trang 10Xuất phát từ các yêu cầu trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế Việt Nam - VIB”, qua đó hy vọng những kinh nghiệm trong quá trình công tác tại VIB
và những kiến thức tích lũy qua thời gian nghiên cứu sẽ được vận dụng để đưa ra một mô hình quản lý tín dụng an toàn, hiệu quả và phù hợp với các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và VIB nói riêng
2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài nghiên cứu những tồn tại, vướng mắc trong hoạt hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại nói chung và VIB nói riêng Từ đó, đưa ra những giải pháp cho vấn đề được nêu, mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam Đề tài tập trung vào các nội dung:
Nghiên cứu lý thuyết về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Phân tích thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam
Đề xuất mội số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam
3 Phương pháp thực hiện đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp phân tích định tính và phân tích định lượng, trong đó chủ yếu là sử dụng phương pháp định tính để nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý rủi ro tín dụng Từ đó, đề xuất các biện pháp - giải pháp, các kiến nghị và điều kiện để thực hiện giải pháp nhằm quản
lý tốt hơn rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về rủi ro
Rủi ro là sự không chắc chắn liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong tương lai Theo nhiều nhà phân tích, rủi ro chỉ phát sinh khi có một sự không chắc chắn về mất mát sẽ xảy ra Với khái niệm về rủi ro này, nếu xác suất mất mát là 0 hoặc 1, thì không có rủi ro Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro, chỉ
có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là sự bất trắc chứ không phải rủi ro
1.1.2 Một số rủi ro liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng
1.1.2.1 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng được định nghĩa như những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra
do khách hàng của ngân hàng không có khả năng hoặc không có đủ năng lực thực hiện các nghĩa vụ của họ, bao gồm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, cam kết với bên thứ ba mà ngân hàng đã đứng ra bảo lãnh cho các cam kết này, các nghĩa vụ này đã được ký kết giữa khách hàng và ngân hàng thông qua hợp đồng tín dụng
Rủi ro này phát sinh từ việc ngân hàng đưa ra quyết định cấp tín dụng nhưng vẫn chưa đánh giá, thẩm định đầy đủ về khách hàng hoặt không nhận biết được
Trang 12những dấu hiệu xấu từ khách hàng có thể dẫn đến tình trạng mất khả năng chi trả nợ vay Rủi ro tín dụng được xem là khá phổ biến tại các ngân hàng hiện nay khi mà hệ thống thông tin chính thức, đáng tin cậy về khách hàng, đặc biệt là khách hàng doanh nghiệp vẫn chưa đầy đủ, vì vậy dễ dẫn đến những quyết định thiếu chính xác trong quá trình cấp tín dụng Ngoài ra, các ngành nghề kinh tế Việt Nam đang đang trong quá trình phát triển với mô hình quản lý theo kiểu gia đình thiếu bài bản vẫn còn phổ biến, tư tưởng kinh doanh vẫn còn mang nặng tính kinh nghiệm Chính vì vậy, mức độ tuân thủ các cam kết của các khách hàng khi sử dụng sản phẩm tín dụng của ngân hàng là không cao, vẫn còn xu hướng tùy tiện sử dụng vốn vay của ngân hàng với kỳ vọng cao nhất về lợi nhuận mang lại mà không cân nhắc đầy đủ mức độ rủi ro ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng
1.1.2.2 Rủi ro về lãi suất
Một trong các rủi ro cần được quan tâm trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng là rủi ro về lãi suất Về mặt lý thuyết, một phần lợi nhuận không nhỏ của ngân hàng có được từ sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay Tuy nhiên, trên thực tế lãi suất huy động vốn trên thị trường có sự dao động khá thường xuyên Trong khi đó, hầu hết các hợp đồng tín dụng ký kết giữa ngân hàng
và khách hàng thể hiện cam kết duy trì mức lãi suất cho vay cố định trong một thời hạn nhất định (mức tối thiểu thông thường là 1 tháng, mức tối đa thông thường là 1 năm, ở một số nước có những sản phẩm cho vay có mức lãi suất cố định trong vòng
20 năm) Do vậy, rủi ro về lãi suất có thể xảy ra dẫn đến sự thua lỗ hoặc nhẹ nhất là làm sụt giảm lợi nhuận của ngân hàng
1.1.2.3 Rủi ro về tỷ giá
Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá gây ra Các khoản cấp tín dụng bằng các ngoại tệ đều chứa đựng rủi ro tỷ giá cho khách hàng hoặc ngân hàng Khả năng thực hiện đúng cam kết của khách hàng đối với các khoản tín dụng bằng ngoại tệ sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu tỷ giá tăng và đồng tiền thu về từ hoạt động kinh doanh của khách hàng không phải là đồng ngoại tệ của khoản vay
Trang 13Điều này xảy ra tương tự cho ngân hàng khi mà nguồn tiền ngoại tệ ngân hàng dùng
để cấp tín dụng có nguồn gốc từ nguồn tiền khác được chuyển đổi qua để cấp tín dụng, ngân hàng hoàn toàn có thể bị tổn thất trong trường hợp có biến động bất lợi
về tỷ giá
1.2 QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
1.2.1 Khái niệm quản lý ruỉ ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro dẫn đến tốn thất tài sản trong trường hợp khách hàng vay vốn, được cấp tín dụng không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn
bộ những cam kết nêu tại hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng
Quản lý rủi ro tín dụng là việc ngân hàng sử dụng các biện pháp nghiệp vụ
để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn thất không để lại hoạt động ngân hàng lâm vào tình trạng bị đổ
vỡ
Quản lý rủi ro tín dụng luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng ngay cả với những nền kinh tế phát triển ổn định và là điều kiện vô cùng cần thiết cho sự phát triển bền vững của ngân hàng
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau :
- Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, đánh giá khách hàng và xét duyệt cho vay Rủi ro giao dịch bao gồm: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
o Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả
để ra quyết định cho vay
Trang 14o Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo
o Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác giải ngân và quản lý khoản vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật
xử lý các khoản cho vay có vấn đề
- ủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
o Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
o Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một nhóm khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục
Rủi ro nội tại Rủi ro tập trung
Rủi ro bảo đảm nghiệp vụ Rủi ro Rủi ro lựa
chọn
Trang 15Theo quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 25/04/2007, các khoản nợ quá hạn trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam được phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạn thành 04 nhóm :
- Nhóm 2: Nợ cần chú ý:
o Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày
o Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
o Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3, Điều 6 của Quyết định này
- Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn:
o Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày
o Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2
o Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn
Tổng Dư nợ cho vay
x 100%
Trang 16o Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3, Điều 6 của Quyết định này
- Nhóm 4: Nợ nghi ngờ:
o Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày
o Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
o Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần 2
o Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3, Điều 6 của Quyết định này
- Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn:
o Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
o Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần dầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
o Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần 2 quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ 2
o Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa
bị quá hạn hoặc đã quá hạn
o Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý
o Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3, Điều 6 của Quyết định này
1.2.3.2 Tỷ trọng nợ xấu/ Tổng dư nợ cho vay
Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày và không được tái cơ cấu Tại Việt Nam, nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ quá hạn không được Chính Phủ xử lý rủi ro
Trang 17Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi,…) là những khoản nợ mang các đặc trưng :
- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã hết hạn
- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi
- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trãi nợ gốc và lãi
- Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày
Theo Quyết định 149/QĐ-TTg ngày 05/01/2001 thì nợ xấu có thể chia thành
Nhóm 3: Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ vẫn còn tồn tại, đang hoạt động, gồm có: Nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi; nợ tín dụng chính sách còn có khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360 ngày
Ngoài ra còn có nhóm nợ phát sinh sau ngày 31/12/2000, là những khoản nợ không thu được nhưng không đủ điều kiện để khoanh, xóa
Trang 18Cũng từ cách phân loại nợ quá hạn theo thời gian như vậy nên phần lớn nợ quá hạn ở nước ta đều là nợ xấu Các khoản nợ xấu tồn tại hiện nay ở các NHTM bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên
- Nợ liên quan đến các vụ án, nợ đã khởi kiện nhưng chưa thể thu hồi chờ xử
lý, nợ có tài sản đảm bảo nhưng không hợp lệ
- Những khoản nợ quá hạn, nợ trả thay không còn đối tượng để thu
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 22/04/2005, nợ xấu của tổ chức tín dụng bao gồm các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5 Việc phân loại nợ được điều chỉnh Theo quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 25/04/2007
1.2.3.3 Hệ số rủi ro tín dụng
Hệ số này cho thấy tỷ trọng của các khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao Thông thường, tổng dư nợ cho vay của ngân hàng được chia thành 03 nhóm :
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt : là những khoản cho vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho ngân hàng Đây là khoản tín dụng cũng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình : là những khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho
Trang 19ngân hàng là vừa phải Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng dư
nợ cho vay của ngân hàng
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu : là những khoản cho vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
1.2.4 Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.2.4.1 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng có thể được khái quát
cơ bản như sau:
- Do áp lực về chỉ tiêu kinh doanh nên không ít cán bộ tín dụng đã chạy theo
số lượng mà không chú trọng đến chất lượng khoản vay Thậm chí nhiều cán bộ tín dụng còn giúp khách hàng làm lại phương án vay vốn hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố để khoản vay được phê duyệt một cách dễ dàng hơn
- Sự thiếu kinh nghiệm cũng như yếu kém về năng lực chuyên môn có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng phân tích, đánh giá khách hàng dẫn đến việc nhận định sai về tính khả thi của phương án vay hay xác định thời gian cho vay và kế hoạch trả nợ không phù hợp Ngoài ra, còn chưa kể đến sự xuống cấp về đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng mang lại hậu quả nghiêm trọng do cố tình làm trái các quy định cho vay
- Bên cạnh đó, rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động cấp tín dụng còn xuất phát từ quy trình quản lý tín dụng yếu kém, quá trình phê duyệt tín dụng được thực hiện một cách lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm, công tác kiểm tra, giám sát khách hàng trước, trong và sau khi cho vay chỉ nặng tính hình hình thức,đối phó Ngoài ra, công tác kiểm tra nội bộ chưa được chú trọng tại một số ngân hàng cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Công tác kiểm tra nội bộ nếu được tiến hành thường xuyên sẽ giúp rà soát nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những sai sót trong quá trình quản lý
hồ sơ tín dụng
Trang 20- Một nguyên nhân khác dẫn đến rủi ro tín dụng là sự dễ dãi trong quá trình phê duyệt tín dụng do quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó
là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay
- Mặt khác, do sư cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng chưa thực sự lành mạnh, để lôi kéo khách hàng từ các ngân hàng khác, nhiều ngân hàng đã nới lòng điều kiện cho vay dẫn đến việc gia tăng rủi ro tín dụng Mặt khác, cũng do tính cạnh tranh, các ngân hàng vẫn chưa thực sự hợp tác trong việc chia sẻ thông tin khách hàng nhằm hạn chế rủi ro trong trường hợp khách hàng vay cùng lúc nhiều ngân hàng
1.2.4.2 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
- Đa số các khách hàng khi xuất trình hồ sơ vay vốn ngân hàng đều có phương
án kinh doanh cụ thể, khả thi Tuy nhiên, sau khi giải ngân, không ít các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích hoặc cố tình che dấu các thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này thể hiện sự thiếu thiện chí trong việc hợp tác với ngân hàng, gây khó khăn cho cán bộ tín dụng khi kiểm tra sử dụng vốn vay
và theo dõi thu hồi nợ vay Chưa kể đến trường hợp cán bộ tín dụng cấu kết với khách hàng kê khai khống thông tin hoặc làm giả hồ sơ vay, trong đó có phương án vay vốn Sự cấu kết này phần lớn để lại hậu quả nghiêm trọng và có khả năng gây tổn thất nặng nề cho ngân hàng Vấn đề này thường trở nên nổi cộm khi ngân hàng đang ở trong giai đoạn phát triển nhanh chóng về mạng lưới và thị phần hoạt động,
số lượng khách hàng và nhân viên gia tăng với tốc độ cao nhưng tiêu chuẩn sàng lọc lại có xu hướng giảm
- Trường hợp khách hàng vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh nhưng không mạnh dạn thay đổi cung cách quản lý, điều hành cho phù hợp Việc đầu tư dàn trải, thiếu sự giám sát, quản lý một cách khoa học, bài bản dẫn đến nguy
cơ thất thoát về vốn, phương án kinh doanh khả thi bị phá sản, tình trạng mất khả năng thanh toán nợ vay ngân hàng là điều khó tránh khỏi
Trang 21- Một thực trạng khá phổ biến hiện nay là hệ thống sổ sách kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa được cập nhận đầy đủ, chính xác và còn thiếu minh bạch Các báo cáo tài chính cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính hình thức và chưa phản ánh trung thực tình hình hoạt động của doanh nghiệp Do
đó, các phân tính của ngân hàng dựa trên các số liệu trên thường không sát với thực
tế, dẫn đến việc đánh giá không đúng về khách hàng vay Đây cũng là lý do vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp và xem đó là chỗ dựa cuối cùng
để thu hồi nợ vay
1.2.4.3 Rủi ro xuất phát từ các yếu tố khách quan
- Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như: thiên tai, dịch bệnh gây tổn thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh
- Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới tác động không nhỏ đến một số lĩnh vực xuất nhập khẩu vốn phụ thuộc vào biến động giá cả hoặc các biến động khác của nền kinh tế thế giới Điển hình như các hoạt kinh doanh: xuất khẩu gạo, cà phê, thủy sản ; may mặc xuất khẩu, kinh doanh nhập khẩu kim loại màu…thường chịu ảnh hưởng lớn trước những thay đổi của thị trường thế giới Ngoài ra, sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái làm tăng chi phí đầu vào, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng như khả năng trả nợ ngân hàng
- Rủi ro khách quan còn bắt nguồn từ môi trường pháp lý chưa thuận lợi hay những điều chỉnh trong chính sách quản lý, điều hành của nhà nước đối nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Một số điều chỉnh của nhà nước có thể mang lại lợi ích về lâu dài, nhưng trước mắt sẽ tạo ra không ít khó khăn cho doanh nghiệp cũng nhưng ngân hàng nếu không có sự chuẩn bị trước để thích nghi với những thay đổi một cách nhanh chóng…
- Rủi ro tất yếu phát sinh trong giai đoạn đầu hội nhập quốc tế khi mà các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa sẵn sàng đối phó với môi trường cạnh tranh gay gắt và quy luật chọn lọc, đào thải khắc nghiệt của thị trường
Trang 22Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp Trung tâm thông tin tín dụng (CIC – Credit Information Center) của ngân hàng nhà nước về cơ bản vẫn đóng vai trò trong việc cung cấp thông tin về khách hàng để các ngân hàng có cơ sở xem xét trước khi đưa ra quyết định cho vay Tuy nhiên, dữ liệu của CIC đến nay vẫn chưa chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin của các ngân hàng, thậm chí chưa được cập nhật và xử lý kịp thời
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NƯỚC 1.3.1 Quản lý rủi ro tín dụng bằng biện pháp trích lập dự phòng
Trích lập dự phòng là cách thức hữu hiệu để quản trị rủi ro do tổn thất tín dụng Việc trích lập dự phòng phải căn cứ vào thực tế trả nợ vay hay căn cứ vào khả năng trả nợ trong quá khứ của khách hàng Các nước chia sẻ kinh nghiệm rằng họ
áp dụng các nguyên tắc dự phòng khác nhau theo việc phân loại nợ vay có khả năng gây tổn thất ở mức độ khác nhau
Hồng Kông: Xếp loại rủi ro cho khách hàng và trích lập dự phòng tương ứng
Hàn Quốc: Các nguyên tắc dự phòng phân lập theo loại tín dụng
Singapore: Dự phòng tổn thất khoản vay ước tính từ danh mục vay được áp dụng cho các khoản vay tiêu dùng
Thái Lan: phân loại khoản vay được đưa vào luật Các cơ quan giám sát ngân hàng có quyền yêu cầu trích lập dự phòng cho các khoản vay cần chú ý Columbia: Dự phòng cho tín dụng tiêu dùng, thương mại, cầm cố thế chấp và tín dụng nhỏ theo thời hạn khoản vay từ 1-18 tháng
1.3.2.Quản lý rủi ro tín dụng bằng biện pháp tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng
Trang 23Hồng Kông: Giới hạn cho vay các đối tác ở mức 5% giá trị ròng doanh nghiệp Tổng dư nợ vay cho các đối tượng khác không vượt quá 10% vốn tự
có Ngân hàng
Columbia: Giới hạn cho vay cho nhóm khách hàng có liên quan 10% vốn tự
có Mở rộng 25% nếu có tài sản đảm bảo tốt
1.3.3 Quản lý rủi ro tín dụng bằng biện pháp đặt ra hạn mức cho vay
Phòng ngừa rủi ro do tập trung tín dụng là hoạt động được xem là thường xuyên của Ngân hàng các nước trong việc quản lý danh mục tín dụng của mình Biện pháp sử dụng là đặt ra các hạn mức cho vay dựa trên vốn tự có của Ngân hàng đối với khách hàng vay riêng lẻ hay nhóm khách hàng vay
Hồng Kông: Giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 25% vốn tự có của Ngân hàng
Hàn Quốc: Giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 20% vốn tự có của Ngân hàng và giới hạn cho vay nhóm khách hàng ở mức 25% vốn tự có của Ngân hàng
Singapore: Giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 25% vốn tự có của Ngân hàng
Thái Lan: Giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 25% vốn tự có của Ngân hàng
Columbia: giới hạn cho vay ở mức 40% giá trị ròng của khách hàng vay Hàn Quốc: Giới hạn cho vay cổ đông ở mức 25% vốn tự có Ngân hàng hoặc
tỷ lệ mà họ sở hữu Giới hạn cho vay các đối tác liên quan ở mức 10% vốn tự
có Ngân hàng
Singapore: Ngân hàng không được phép tham gia vào các hoạt động phi tài chính Cũng không được phép đầu tư hơn 10% vốn vào các công ty hoạt
Trang 24động phi tài chính Mức đầu tư vốn vào một công ty đơn lẻ giới hạn 2% vốn
tự có Ngân hàng Tổng vốn đầu tư giới hạn ở 10% vốn tự có Ngân hàng Thái Lan: Giới hạn đầu tư ở mức 10% vốn khách vay và 20% vốn của Ngân hàng Giới hạn cho vay cho nhóm khách hàng ở mức 5% vốn Ngân hàng, 50% giá trị ròng của doanh nghiệp và 25% giá trị nợ
Columbia: Giới hạn cho vay cho nhóm khách hàng liên quan 10% vốn tự có
Mở rộng tới 25% nếu có tái sản đảm bảo tốt
1.3.4 Quản lý rủi ro tín dụng bằng biện pháp quản trị hệ thống thông tin tín dụng
Tổ chức hệ thống thông tin tín dụng sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác thẩm định khách hàng, giúp hạn chế, phòng ngừa rủi ro ngay từ khâu thẩm định hồ sơ vay: Singapore: Hiệp hội Ngân hàng tổ chức và quản lý thông tin tín dụng từ các thành viên Hỗ trợ thông tin về các khoản tín dụng lớn
Thái Lan: Cục thông tin tín dụng được quản lý bởi công ty tư nhân Tất cả các Ngân hàng báo cáo thông tin về Cục, sau đó Cục thông tin kết xuất báo cáo về khách hàng vay và lịch sử trả nợ vay hàng tháng, không cung cấp thông tin thẩm định tín dụng
1.3.5.Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp kiểm tra, giám sát
Kiểm tra và giám sát là các hoạt động thường xuyên được thực hiện trước khi
Trang 25Singapore: Kiểm tra trong quá trình phát vay và sau khi cho vay Giám sát hệ
số đủ vốn dự báo Có hệ thống báo cáo định kỳ
Columbia: Kiểm tra trong quá trình phát vay, kiểm tra bởi Ủy ban giám sát Ngân hàng
Kết luận chương 1: Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nguồn thu chủ
yếu cho các ngân hàng thương mại nhưng đồng thời lại chứa nhiều rủi ro có khả năng gây tổn thất lớn cho ngân hàng Do đó, việc phân loại rủi ro tín dụng, xem xét các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng cũng như việc đi sâu nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng là thực sự cần thiết để các ngân hàng thương mại sớm đưa ra các giải pháp hạn chế, khắc phục nhằm ngăn chặn những tình huống xấu nhất có thể xảy ra gây thiệt hại về vật chất và ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng
Trang 26Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ
VIỆT NAM (VIB) 2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của VIB
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam, tên viết tắt là Ngân hàng Quốc Tế (VIB) được thành lập ngày 18 tháng 9 năm 1996, trụ sở đặt tại 198B Tây Sơn Q Đống Đa - Hà Nội
Sau 14 năm hoạt động, VIB đã trở thành một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản đạt hơn 60 nghìn tỷ đồng, vốn điều lệ 4.000 tỷ đồng, mạng lưới chi nhánh gồm hơn 120 đơn vị kinh doanh trên cả nước
Từ khi thành lập đến nay, VIB luôn được xếp hạng A theo các tiêu chí xếp hạng của Ngân hàng Nhà nước Trong nhiều năm gần đây VIB luôn đạt mức tăng trưởng mạnh và ổn định Theo xếp hạng của chương trình phát triển liên hiệp quốc (UNDP – United Nations Development Programme), năm 2007, VIB là doanh nghiệp lớn đứng thứ 137 trong tổng số 200 doanh nghiệp hàng đầu trong nước Báo VietNamNet bình chọn VIB đứng thứ 3 trong tổng số 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam về doanh thu VIB cũng giành được nhiều danh hiệu và giải thưởng
do các tổ chức uy tín trong nước và nước ngoài trao tặng, như danh hiệu Thương hiệu mạnh Việt Nam, danh hiệu Ngân hàng có dịch vụ bán lẻ được hài lòng nhất, Ngân hàng thanh toán quốc tế xuất sắc
Với những nhận thức sâu sắc về sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong những năm vừa qua, về các cơ hội và thách thức trong những năm tới và về những hạn chế nội tại của VIB, ngay từ cuối năm 2008, Ban lãnh đạo VIB đã chủ trương
Trang 27xây dựng một số dự án đặc biệt quan trọng, được xem là nền tảng cho sự phát triển của VIB trong giai đoạn mới Năm 2009, VIB đã tập trung nguồn lực triển khai các
dự án then chốt, đó là dự án chiến lược kinh doanh tổng thể giai đoạn 2009 – 2013,
dự án tái định vị thương hiệu VIB và dự án chuyển đổi hệ thống chi nhánh Đây sẽ
là nền tảng cho sự phát triển của VIB trong giai đoạn mới
Năm 2010 đánh dấu bước phát triển quan trọng của VIB bằng việc hợp tác chiến lược với Ngân hàng Commonwealth (Commonwealth Bank of Australia) – ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Úc Trong năm năm tới, VIB đặc biệt chú trọng công tác tái cấu trúc bộ máy theo hướng trở thành một ngân hàng hiện đại, năng động, thân thiện; lấy khách hàng làm trọng tậm; tập trung phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ dựa trên cơ sở phát triển về công nghệ, sản phẩm dịch vụ, mạng lưới phân phối và năng lực nhân viên
Với quyết tâm “trở thành ngân hàng luôn sáng tạo và hướng đến khách hàng nhất tại Việt Nam”, trong thời gian tới, VIB sẽ tăng hiệu quả sử dụng vốn và tăng cường năng lực quản trị điều hành, tiếp tục chú trọng phát triển mạng lưới ngân hàng bán lẻ và các sản phẩm mới thông qua các kênh phân phối đa dạng, cung cấp các giải pháp tài chính trọn gói cho các nhóm khách hàng trọng tâm
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của VIB trong năm 2009
Hoạt động huy động vốn và cho vay:
So với năm 2008, thị trường vốn năm 2009 có phần khả quan hơn Tuy nhiên, tăng trưởng huy động vốn chậm dần vào những tháng cuối năm khi các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất huy động Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo VIB đã đưa
ra các quyết định điều chỉnh lãi suất linh hoạt để phù hợp với thị trường, triển khai nhiều chương trình tiếp thị, khuyến mại Vì vậy, VIB vừa đảm bảo thanh khoản, vừa tiếp túc tăng trưởng về nguồn vốn huy động để phục vụ cho kế hoạch sử dụng vốn của mình
Tính đến 31/12/2009, tổng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế đạt 34.210 tỷ đồng, tăng 42,8% so với thời điểm cuối năm 2008, cao hơn so với mức tăng trưởng
Trang 28của toàn ngành ngân hàng là 14,2% Ngoài ra, năm 2009, VIB còn phát hành thành công 1.300 tỷ đồng trái phiếu Đồng thời với sự tăng trưởng về nguồn vốn, VIB đã duy trì và phát triển một lượng khách hàng lớn trong năm qua, với tổng số khách hàng đang có giao dịch tiền gửi tăng 18% so với năm 2008
Hoạt động tín dụng đầu măn 2009 của toàn ngành ngân hàng gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của kinh tế suy giảm Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc ngăn chặn suy giảm kinh tế, VIB đã tích cực thực hiện cho vay tài trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiểu dùng đối với doanh nghiệp và cá nhân Tính đến 31/12/2009, tổng dư nợ tín dụng của VIB đạt 27.353 tỷ đồng, tăng 38,3% so với cuối năm 2008, cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn ngành là 1,3% Cùng với tăng trưởng tín dụng, VIB chú trọng đến chất lượng tín dụng, tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay, nhờ đó các khoản vay được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo tính ổn định và bền vững, nợ xấu của VIB ở mức 1,28% so với mức 2,2% của toàn ngành ngân hàng
Hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ:
Đối với khách hàng doanh nghiệp, VIB quan tâm đến việc phát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng như: sản phẩm tiền gửi kinh tế Economic Account 50 nhằm giúp doanh nghiệp tiết kiệm tối đa đến 30% chi phí giao dịch, triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất 4%, bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, gói sản phẩm hỗi trợ phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn…Ngoài ra, VIB còn thực hiện đẩy mạnh chương trình chăm sóc khách hàng vào các ngày lễ tết, ngày Doanh nhân Việt Nam, ngày 8/3, tổ chức lễ trao giải cho Khách hàng doanh nghiệp tiêu biểu,… để duy trì, thúc đẩy mối quan hệ bền vững giữa VIB và doanh nghiệp
Đối với khách hàng cá nhân, trong năm 2009, một loạt các sản phẩm tín dụng tiêu dùng cũng được cải tiến để ngày càng phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng như: cho vay mua nhà, cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay mua ô tô, cho vay hỗ trợ phát triển kinh doanh…Ngoài ra, VIB còn phát triển sản phẩm gói và
Trang 29các sản phẩm công nghệ cao như: triển khai dự án bán chéo sản phẩm; triển khai sản phẩm thẻ tín dụng nội địa Taxi Dầu khí; dịch vụ Internet Banking theo tiêu chuẩn quốc tế, cho phép khách hàng không chỉ tham vấn số dư đơn thuần, mà còn
có thể chuyển khoản tới các tài khoản trong và ngoài hệ thống VIB, nạp tiền các dịch vụ trả trước, thanh toán hóa đơn, thanh toán trực tuyến hàng hóa dịch vụ tại các website thương mại điện tử, thanh toán tiền vay, gửi tiết kiệm định kỳ, đặt lịch thanh toán tự động cũng như thực hiện nhiều giao dịch tiện ích khác
Trong năm 2009, tổng thu thuần dịch vụ tăng 43,1% so với năm 2008, trong
đó hoạt động tài trợ thương mại đóng vai trò quan trọng Số lượng giao dịch thanh toán trong nước tăng 27,3% và số lượng giao dịch thanh toán quốc tế tăng 17,2% Kết quả đạt được là nhờ sự nỗ lực của toàn hàng nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng cả về số lượng và chất lượng
Hoạt động kinh doanh thẻ:
Đến hết năm 2009, tổng số lượng thẻ mà VIB đã phát hành (bao gồm thẻ tín dụng quốc tế, thẻ ghi nợ nội địa và trả trước nội địa) đạt 504.507 thẻ, tăng 26,2% so với năm 2008 Trong đó, thẻ nội địa tăng 35%, đạt 481.628 thẻ và vược 8,2% kế hoạch; thẻ quốc tế tăng 51%, đạt 22.879 thẻ Thẻ nội địa phát triển mạnh trong toàn hàng mang đến lượng tiền gửi thanh toán đáng kể trong tổng nguồn vốn của VIB
Đi đôi với số lượng thẻ tăng thêm, dịch vụ về thẻ của VIB cũng không ngừng được nâng cao và đang nằm trong danh sách nhóm dẫn đầu các ngân hàng mạnh nhất về các tính năng cơ bản của thẻ
Cũng trong năm 2009, VIB đã phát triển thêm 50 máy ATM và 342 POS Với hơn 10.000 máy ATM, gần 40.000 POS của liên minh thẻ và hệ thống ATM, POS của các Tổ chức thẻ quốc tế Visa International và Mastercard, mạng lưới chấp nhận thẻ của VIB đạt độ bao phủ rộng lớn
Hoạt động phát triển mạng lưới chi nhánh:
Đến 31/12/2009, ngoài Hội sở chính đặt tại 198B Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội, VIB đã có 115 đơn vị kinh doanh tại 27 tỉnh thành trên cả nước, bao gồm: 43
Trang 30chi nhánh (trong đó có 1 Sở Giao dịch, 23 Chi nhánh đầu mối và 19 Chi nhánh cơ sở), 69 Phòng giao dịch và 01 điểm giao dịch trực thuộc Chi nhánh Tp.HCM, 2 Quỹ tiết kiệm
Một trong những yếu tố đảm bảo cho VIB ổn định và phát triển trong những năm qua là sự năng động, sáng tạo không ngừng của hệ thống mạng lưới kinh doanh
cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, khẳng định vị thế và thương hiệu của VIB trên thương trường
Hoạt động phát triển nhân sự và cơ cấu tổ chức:
Đến hết năm 2009, tổng số cán bộ, nhân viên toàn hệ thống VIB là 2.641 người, tăng 7,1% so với năm 2008 Trong đó, cán bộ, nhân viên có trình độ cao đẳng, đại học chiếm 88,4%; trình độ trên đại học chiếm 3,1% VIB được coi là một ngân hàng trẻ với 71,3% nhân lực có tuổi đời dưới 30
Về cơ cấu tổ chức: VIB đã chuyển đổi thành công sang mô hình tổ chức mới theo chiến lược kinh doanh tổng thể giai đoạn 2009 – 2013 Thành lập một số đơn
vị mới như khối Quản lý rủi ro, Khối nghiệp vụ tổng hợp, Văn phòng Quản lý sự thay đổi, tái cấu trúc lại khối Khánh hàng doanh nghiệp, khối Khách hàng cá nhân, triển khai thí điểm cơ cấu vùng và hệ thống chi nhánh kiểu mới…
Hoạt động phát triển công nghệ ngân hàng:
Trong năm 2009, VIB đã hoàn thành việc triển khai dịch vụ kết nối thanh toán với các đối tác Smartlink, VNPAY, VietnamIT, Chợ điện tử, VNDebit, Vinagame, VTConline, Mobivi, tạo ra một hệ thống dịch vụ thanh toán hóa đơn, mua hàng trực tuyến, đặt vé máy bay, thanh toán điện thoại trả sau, ví điện tử…; phát triển hệ thống ngân hàng trực tuyến; đồng thời triển khai và xây dựng hệ thống Mobibanking và thí điểm với hơn 700 khách hàng sử dụng thường xuyên
Các hoạt động khác:
Ngoài việc triển khai thành công dự án tái định vị thương hiệu, cũng trong năm 2009, VIB đã hoàn thành thủ tục thành lập và xây dựng bộ máy tổ chức cho
Trang 31Công ty TNHH một thành viên Quản lý nợ và Khai thác tài sản của VIB (VIBAMC), bắt đầu đi vào hoạt động từ 29/12/2009 Bên cạnh đó, VIB cũng đã tiến hành triển khai một số dự án quan trọng như: Dự án chiến lược công nghệ IT Strategy, dự án thiết kế không gian bán lẻ, dự án phát triển hệ thống báo cáo quản trị MIS, dự án phát triển hệ thống quản trị hiệu quả công việc…
Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009:
Năm 2009, lợi nhuận sau thuế của VIB đạt 463,2 tỷ đồng, tăng 174,3 so với năm 2008 Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu đạt 2.200 đồng, tăng 162% so với năm trước Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn điều lệ bình quân đạt 23,5%
Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của năm 2009 như sau:
- Tổng tài sản tăng 64% so với năm 2008, đạt 56.638 tỷ đồng
- Tiền gửi của khách hàng tăng 35%, đạt 32.364 tỷ đồng
- Dư nợ cho vay khách hàng tăng 38%, đạt 27.353 tỷ đồng
- Lợi nhuận trước thuế tăng 166,5%, đạt 614,311 tỷ đồng
- ROA tăng 142% và ROE tăng 104% so với năm 2008
- Chi phí hoạt động tăng 43,9% tương đương 866,602 tỷ đồng, phản ánh các hoạt động đầu tư chiến lược nhằm đưa VIB chuyển mình toàn diện
- Dự phòng rủi ro tín dụng tăng 53%, đảm bảo bù đắp rủ ro và phản ánh đúng điều kiện thị trường
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA VIB TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
2.2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng tại VIB giai đoạn 2007 – 2009
Trong năm 2007, đi đôi với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế trong nước
là sự vươn lên mạnh mẽ của ngành ngân hàng Đối với VIB, 2007 tiếp tục là một năm thành công và đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc về mọi mặt, trong đó phải kể đến hoạt động tín dụng Cụ thể, đến 31/12/2007, tổng dư nợ đạt 16.744 tỷ đồng,
Trang 32vượt 19,6% so với kế hoạch và tăng 83,25% so với cuối năm 2006, tăng hơn gấp 2 lần so với tốc độ tăng trưởng toàn ngành Tổng số lượng khách hàng có quan hệ tín dụng tăng hơn 60% so với năm 2006
Tuy nhiên, năm 2008 lại là một năm tồi tệ nhất của nền kinh tế thế giới trong nhiều thập niên qua Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ hàng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ Nền kinh tế Việt Nam cũng không thoát khỏi vòng xoáy của cuộc khủng hoảng toàn cầu Hệ thống Ngân hàng trong nước phải đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn 20 năm đổi mới Diễn biến bất lợi của tình hình kinh tế trong và ngoài nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của VIB nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng Tính đến 31/12/2008, tổng dư nợ tín dụng đạt 19.774
tỷ đồng, chỉ tăng 18,10% so với cuối năm 2007 và thấp hơn tăng trưởng 20,60% của toàn hệ thống ngân hàng Tổng dư nợ chiếm 82,54% so với tổng nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư
Qua năm 2009, nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục lâm vào tình trạng khủng hoảng và suy thoái trầm trọng Kinh tế Việt Nam mặc dù chịu sự tác động nặng nề nhưng cũng nhanh chóng vượt qua khó khăn để có những bước đột phá trong những tháng cuối năm Với hàng loạt các giải pháp kích thích kinh tế từ Chính phủ như cho vay hỗ trợ lãi suất; miễn, giảm, hoàn thuế cho nhiều loại hàng hóa, dịch vụ; nới lỏng chính sách tiền tệ…, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển mình, dần ổn định trong quý II và phục hồi rõ nét trong 2 quý còn lại để đạt mức tăng trưởng GDP cả năm là 5,2% Đây là mức tăng trưởng ấn tượng trong khu vực châu
Á cũng như trên thế giới Sự phục hồi nhanh chóng của nền kinh tế trong nước đã tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Trong
đó, dư nợ tín dụng trên toàn hệ thống ngân hàng tăng 37%, vượt xa các định hướng
và dự kiến đầu năm Tại VIB, mặc dù hoạt động tín dụng đầu năm 2009 gặp nhiều khó khăn nhưng tính đến cuối năm, tổng dư nợ của VIB vẫn đạt mức tăng trưởng 38,3%, tổng dư nợ đạt 27.353 tỷ đồng
Trang 33Bảng 2.1: Tổng dư nợ của VIB qua các năm 2007 – 2009
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2007 2007/2006 2008 2008/2007 2009 2009/2008
Dư nợ cho vay 16.744 183,25% 19.774 118,10% 27.353 138,32%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VIB)
Biểu đồ 2.1: Tổng dư nợ của VIB qua các năm 2007 – 2009
27,353
0 5,000 10,000 15,000 20,000 25,000 30,000
và ngoài nước
Trang 342.2.2 Cơ cấu dư nợ tín dụng qua các năm 2007 - 2009
Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ tại VIB qua các năm
Đơn vị tính: Tỷ đồng
2007
Tỷ trọng
Năm
2008
Tỷ trọng
Năm
2009
Tỷ trọng
Khách hàng cá nhân 4.618 27,58% 5.141 26,00% 7.960 29,10%Khách hàng doanh nghiệp 12.126 72,42% 14.633 74,00% 19.393 70.90%
Ngắn hạn 10.025 59,9% 11.609 58,7% 17.400 63,6%Trung & dài hạn 6.719 49,1% 8.165 41,3% 9.953 36,4%
VND 11.306 67,5% 14.803 74,9% 23.115 84,5%Ngoại tệ (quy đổi) 5.438 32,5% 4.971 25,1% 4.238 15,5%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VIB)
¾ Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế:
Có thể nói, cho vay đối với doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ là hoạt động mang lại nguồn thu lớn nhất cho VIB, chưa kể đến thu nhập mang lại từ phí dịch vụ đi kèm cung cấp cho đối tượng khách hàng này Hướng phát triển chung toàn hệ thống trong thời gian qua không nằm ngoài chủ trương: “Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế là đối tượng khách hàng chủ yếu của VIB”
Trang 35Biểu đồ 2.2: Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế
0 5 10 15 20 25 30
Tỷ đồng
Năm
Tín dụng doanh nghiệp Tín dụng cá nhân
Tính đến 31/12/2007, dư nợ cho vay đối khách hàng doanh nghiệp đạt 12.126 tỷ đồng, chiếm 72,42% trong tổng dư nợ, trong đó dư nợ đối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) chiếm 64,42%, dư nợ đối với doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (CB & FDI) chiếm 8% Khách hàng cá nhân mặc
dù có số lượng áp đảo nhưng xét về cơ cấu dư nợ chỉ chiếm 27,58%, tương đương 4.618 tỷ đồng Điều này hoàn toàn phù hợp với tính chất đặc của thù loại hình cho vay tiêu dùng với dư nợ của mỗi món vay thường không cao
Đến cuối năm 2008, dư nợ cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp đạt 14.633 tỷ đồng , chiếm 74% trong tổng dư nợ, tăng 20,67% so với cuối năm 2007
Dư nợ cho vay đối với khối CB & FDI đã có những bước tiến mạnh mẽ, vươn lên chiếm 20% về cơ cấu dư nợ, dư nợ khối SME chiếm 54% và khối khách hàng cá nhân chiếm 26% trong tổng dư nợ
Năm 2009, VIB tiến hành triển khai các chương trình hỗ trợ tín dụng, bao gồm: các gói hỗ trợ lãi suất 4% trong chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ, cho vay các đối tượng khách hàng được Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh vay vốn Bên cạnh đó, VIB còn ưu tiên hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề trọng điểm như: gạo, cà phê, thủy sản… nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất
Trang 36khẩu Đồng thời, VIB có chính sách lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu, trang thiết bị phục vụ mở rộng sản xuất và kinh doanh Chính sách
và chương trình được triển khai với mục tiêu: tạo điều kiện cho doanh nghiệp tháo
gỡ khó khăn về vốn để tiếp tục phát triển ổn định và mở rộng hoạt động kinh doanh Trong thời gian tới, VIB tiếp tục hoàn thiện chính sách tín dụng và các gói sản phẩm dịch vụ dành cho doanh nghiệp ngành gỗ, dệt may, dược phẩm, hóa chất,… Mặt khác, một loạt các sản phẩm tín dụng cá nhân cũng được cải tiến ngày càng đa dạng và phù hợp hơn với nhu cầu thực tế như: Cho vay mua nhà, cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay mua ô tô, cho vay tín chấp, cho vay cầm cố giấy tờ có giá, cho vay hỗ trợ phát triển kinh doanh, thấu chi tài khoản…Cuối năm 2009, dư
nợ cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp chiếm 70,90% trên tổng dư nợ, tương đương 19.393 tỷ đồng, dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân đạt 7.960 tỷ đồng, chiếm 29,10% trên tổng dư nợ
¾ Cơ cấu dư nợ theo thời hạn cho vay:
Nhìn chung, nợ ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ của VIB
Cụ thể, dư nợ ngắn hạn cuối năm 2007 đạt 10.025 tỷ đồng, chiếm 59,87% trong tổng dư nợ Đến cuối năm 2008 và 2009 tỷ trọng dư nợ ngắn hạn lần lượt ở mức 58,71% và 63,61%, tăng trưởng dư nợ ngắn hạn năm 2009 là 50% so với 2008, cao hơn mức tăng trưởng 38% của tổng dư nợ Phần lớn nợ ngắn hạn tập trung vào các khoản cho vay bổ sung vốn lưu động của doanh nghiệp Nợ trung hạn chủ yếu là các khoản cho vay tiêu dùng đối khách cá nhân Mặt khác, nợ trung và dài hạn là một bộ phận quan trọng cấu thành nên tài sản cố định, đưa của doanh nghiệp ngày càng phát triển cả về lượng lẫn chất Trong hoạt động tín dụng trung dài hạn đã có
sự uyển chuyển hơn thông qua việc nhận đảm bảo bằng tài sản hình thành trong tương lai và phân kỳ trả nợ được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng
Trang 37Biểu đồ 2.3: Cơ cấu dư nợ theo thời hạn cho vay
0 5 10 15 20 25 30
¾ Cơ cấu dư nợ theo loại tiền vay:
Từ số liệu thực tế cho thấy, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ có xu hướng giảm qua những năm gần đây Cụ thể, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ năm 2007 đạt 5.438
tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 32,5% trên tổng dư nợ), nhưng năm 2009 giảm xuống 4.238
tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 15,5% trên tổng dư nợ) Trong thời gian qua, VIB luôn chú trọng việc mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tham gia xuất nhập khẩu mang lại nguồn thu về lãi vay, tăng thu về phí dịch vụ tài trợ thương mại
và gia tăng nguồn ngoại tệ cho Ngân hàng Tuy nhiên, việc phát triển khách hàng theo định hướng trên đến nay vẫn chưa đạt được kết quả như đã kỳ vọng Điều này xuất phát từ một số nguyên nhân:
- Áp lực cạnh tranh về cho vay bằng ngoại tệ với lãi suất thấp từ các ngân hàng chuyên tài trợ xuất nhập khẩu như: Vietcombank, Eximbank, Viettinbank…
- Các doanh nghiệp xuất khẩu thường đòi hỏi cơ chế tín chấp (ứng trước tiền mua nguyên liệu hoặc hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu) rất khó đáp ứng do tính rủi
ro cao Trong khi đó, cho vay chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu theo phương thức L/C được xem là ít rủi ro nhưng quy trình cấp tín dụng đối với các khoản vay này vẫn được thực hiện như một khoản vay thông thường, đòi hỏi nhiều thời gian và thủ tục nên không tạo được tính cạnh tranh so với các ngân hàng khác
Trang 38- Mạng lưới ngân hàng đại lý còn mỏng, phải thông qua các ngân hàng trung
gian làm mất thời gian và tốn kém chi phí
- Hệ thống kho bãi và lực lượng bảo vệ quản lý hàng cầm cố vẫn chưa đáp ứng
kịp thời, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu có nhu cầu vay đảm bảo
0 5 10 15 20 25 30
2.2.3 Tình hình nợ quá hạn tại VIB
Bảng 2.3: Tỷ lệ nợ quá hạn qua các năm 2007 – 2009
Trang 39Biểu đồ 2.5: Dư nợ quá hạn qua các năm 2007 – 2009
329
644
467
0 100 200 300 400 500 600 700
Năm
2008
Tỷ trọng
Năm
2009
Tỷ trọng
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VIB)
Nếu so sánh với mặt bằng chung của toàn hệ thống ngân hàng trong nước, VIB được đánh giá là một trong những ngân hàng có hoạt động an toàn và hiệu quả Chất lượng tín dụng luôn được kiểm soát tốt với quy trình giám sát ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là trong những năm gần đây Cụ thể, năm 2007, mặc dù dư nợ cho vay