1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG

45 1,4K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Phát Triển Kinh Tế Hộ Nông Dân Ở Huyện Thanh Miện Tỉnh Hải Dương
Trường học Trường Đại học Hải Dương
Chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 95,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cao độ Diện tích ha Tỷ lệ % 2- Điều kiện kinh tế - xã hội: Trong những năm vừa qua, hoà chung với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước, kinh tế huyện Thanh Miện cũng có sự khở

Trang 1

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở

HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG

I- NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA HUYỆN ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN.

1- Điều kiện tự nhiên:

a-Vị trí địa lý:

Thanh miện là một huyện đồng bằng nằm ở phía tây Nam của tỉnh Hảidương.Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 122 km2 trải dài từ 1060

7’50’’ đến 106016’20” kinh độ đông và từ 20040’45” đến 20050’55’’ vĩ độ bắc.Phía tây bắc giáp với huyện Bình Giang,

Phía đông bắc giáp với huyện Gia Lộc,

Phía tây giáp với huyện Phù Cừ của Hưng Yên,

Phía đông nam giáp với huyện Ninh Giang,

Phía nam giáp với tỉnh Thái Bình

Trung tâm huyện Thanh Miện cách Hà Nội 66 km; cách thành phố Hải Dương

23 km và thị xã Hưng yên 30 km theo đường bộ Với vị trí địa lý như trên, cùngvới mạng lưới giao thông tốt, Thanh miện là một huyện có nhiều điều kiện thuậnlợi để sản xuất hàng hoá

b-Đặc điểm thời tiết, khí hậu.

Do nằm trong vị trí trung tâm của đồng bằng sông Hồng nên Thanh Miện cókhí hậu đặc trưng của đồng bằng Bắc bộ đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa Trongnăm phân biệt thành bốn mùa rõ rệt Lượng mưa nhiều chủ yếu vào hai thời kỳ đó

là từ tháng 4 đến tháng 9 và mưa rất ít từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Lượngmưa trung bình của huyện trong năm từ 1350 tới 1600 mm (cao nhất 2501 mm(1973); thấp nhất 752,2 mm (1989)) Nhiệt độ trung bình trong năm trên địa bàn

Trang 2

huyện là 23,30C số ngày nóng trong năm là 180 đến 200 ngày Độ ẩm trung bình từ

81 đến 87%

c-Đặc điểm đất đai, địa hình và nguồn nước

Tổng diện tích đất tự nhiên trên địa bàn toàn huyện là 122 km2 , trong đó có

8464 ha đất nông nghiệp Cơ cấu đất nông nghiệp của huyện rất phức tạp trong đó

có 1489,02 ha đất chân cao; 4462,91 ha đất chân vàm; 1757,3 ha đất thấp và354,84 ha đất triều chũng Trong tổng số 8464 ha đất nông nghiệp của huyện thì cótới 6.028 ha đất ở độ chua cấp một (PH< 4,5), chiếm tỷ lệ ~ 70% Nhìn chung đấtnông nghiệp nghèo dinh dưỡng, tầng canh tác mỏng, tỷ lệ đất nghèo lân chiếm tớigần 60%

Đất nông nghịêp của huyện ở địa hình dốc từ tây bắc xuống đông nam, có caotrình cao thấp xen kẽ nhau

Cao độ Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

2- Điều kiện kinh tế - xã hội:

Trong những năm vừa qua, hoà chung với sự phát triển vượt bậc của nền kinh

tế đất nước, kinh tế huyện Thanh Miện cũng có sự khởi sắc đáng khích lệ Tốc độtăng trưởng trung bình của nền kinh tế trong 5 năm 1996-2000 là 8,12% Năm

2000 dân số toàn huyện là 128.800 người với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,1% Tổnggiá trị nội huyện đạt 454,6 tỷ đồng Giá trị sản phẩm bình quân đầu người đạt 3,5triệu đồng, tăng 1,42 triệu so với năm 1995 Lương thực bình quân đầu người đạt

710 kg/ người/năm Tỷ lệ hộ nghèo còn 11,1% vào năm 2000, không còn hộ đói

Cơ cấu kinh tế chung của toàn huyện năm 2000: nông nghiệp đạt 302,2 tỷ đồng

Trang 3

chiếm 66,5% tiểu thủ công nghiệp đạt 62,4 tỷ chiếm 13,7%, dịch vụ đạt 90 tỷchiếm 19,8% tổng giá trị nội huyện Trong nhiệm kỳ vừa qua, Đảng bộ và nhândân huyện Thanh Miện đã có sự cố gắng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tuynhiên tỷ trọng ngành nông nghiệp vẫn lớn, đặc biệt số lao động làm việc trongngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao Theo điều tra năm 2000 thì vẫn còn tới84,6% số lao động toàn huyện làm việc trong ngành này Trong khi đó số lao độnglàm việc trong ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chỉ có 15,2% Đây là tỷ lệkhông hợp lý mà trong một vài năm tới Thanh Miện sẽ phải cố gắng để cải thiệntình hình này.

Nhìn chung hiện nay cơ sở hạ tầng nông thôn trên địa bàn huyện khá đầy đủ

và khang trang Cả huyện có hai trường THPT Mỗi xã có một trường THCS, mộttrường tiểu học, mỗi thôn có ít nhất một nhà trẻ mẫu giáo; trạm y tế xã đã đượchoàn tất từ lâu Tất cả các đường giao thông nông thôn đều được dải nhựa, đá, bêtông hoặc gạch ngiêng Hệ thống công trình thuỷ lợi cũng được hoàn tất và đảmbảo tưới tiêu trên toàn bộ diện tích canh tác của huyện Đời sống của nhân dântrong huyện ngày càng được cải thiện, số hộ giàu ngày càng nhiều, tỷ lệ hộ nghèongày càng giảm An ninh, trật tự ổn định và đảm bảo Đời sống văn hoá tinh thầnđược bảo đảm và không ngừng được nâng cao

II- THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN HUYỆN THANH MIỆN-TỈNH HẢI DƯƠNG.

1- Tình hình sản xuất của huyện trong một số năm vừa qua.

Trong những năm vừa qua, cùng với sự cố gắng của Đảng Bộ và nhân dântrong toàn huyện, nền kinh tế huyện Thanh Miện đã có những chuyển biến và khởisắc đáng mừng Tổng sản phẩm nội huyện liên tục tăng với tốc độ khá

Biểu2: Tốc độ tăng trưởng của các ngành thời kỳ 1997-2000

Đơn vị: triệu đồng

Trang 4

Tốc độ phát triển

(%) 98/97 99/98 00/99 TB

275.600 241.000 61.600 55.400 75.500

289.800 219.600 70.200 58.900 83.200

302.200 226.700 75.500 62.400 90.000

7,82 13,28 -7,65 9,48 14,56

5,15 2,61 13,96 6,31 10,20

4,27 3,23 7,55 5,94 8,17

5,70 6,36 4,66 7,24 11,00

Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Miện.

Qua biểu số liệu chúng ta nhận thấy tổng sản phẩm nội huyện, trong thời kỳvừa qua tăng trưởng với tốc độ khá (trung bình 7%) Tuy nhiên không đều, cụ thể

là giảm dần trong những năm gần đây GDP toàn huyện vẫn tăng qua các nămnhưng tốc độ tăng giảm dần, năm 2000 tốc độ tăng chỉ còn 5,42%.Đó là điềuchúng ta cần phải suy nghĩ và tìm ra nguyên nhân của nó Nhìn vào các ngành cụthể chúng ta cũng thấy tình trạng diễn ra tương tự mặc dù hai ngành là TTCN vàThương mại - dịch vụ có tăng ở tốc độ khá cao Năm 1998 tốc độ tăng trưởng đạt ởmức cao nhất trong thời kỳ ở tất cả các ngành Năm 1999 tốc độ tăng trưởng củangành trồng trọt giảm mạnh từ 13,28%, năm 1998 xuống chỉ còn 2,61% Điều đó

đã có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả chung Nhưng ngành chăn nuôi lại có sự khởisắc vào năm này với tốc độ tăng trưởng đạt 13,96%, điều này lại càng có ý nghĩakhi chúng ta biết trước đó, năm 1998 tốc độ tăng trưởng đạt - 7,65% Năm 2000 tất

cả các ngành đều có tốc độ tăng trưởng giảm, tuy nhiên tốc độ giảm đã ít đi Riêngngành trồng trọt của huyện đã có bước đầu khởi sắc trở lại với tốc độ 3,23% Đâythực sự là tín hiệu đáng mừng đối với nền kinh tế Thanh Miện

Tuy tốc độ tăng trưởng của các ngành trong huyện không đều nhưng nhìnchung cả thời kỳ chúng ta vẫn có tốc độ tăng trưởng khá ở tất cả các ngành, phùhợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cả nước Đặc biệt trong ngành nôngnghiệp đã có mức tăng cao hơn (5,7%)

Biểu1 cũng cho chúng ta thấy một điều là sự phát triển kinh tế của huyện phụthuộc rất nhiều vào ngành nông nghiệp, đặc biệt là ngành trồng trọt Tốc độ tăngtrưởng của trồng trọt có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh

tế Mà thời gian vừa qua ngành trồng trọt có tốc độ tăng trưởng thấp và không đều

Trang 5

nhất là các năm 1999 và 2000 Điều này xảy ra có nhiều nguyên nhân, mà mộtnguyên nhân chủ yếu là bộ giống cây trồng của huyện không có sự thay đổi độtbiến tích cực Nhiều giống cây trồng cho năng xuất không cao vẫn được sử dụng từnhiều năm nay.

Tình trạng xuy giảm nội lực trong toàn bộ nền kinh tế cũng có ảnh hưởng xấuđến tốc độ phát triển của nền kinh tế mà trong một số năm sắp tới, Thanh Miệnphải tìm cách cải thiện tình hình này

Cùng với việc giữ nhịp độ phát triển khá của nền kinh tế, huyện Thanh Miệnđang phấn đấu tới một cơ cấu kinh tế cân bằng và hợp lý đối với một huyện đồngbằng châu thổ sông Hồng

Biểu3 cho chúng ta thấy một cơ cấu giá trị sản lượng theo ngành trong vàinăm trở lại đây Chúng ta có thể nói rằng nền kinh tế của huyện đang dần tiến tớimột cơ cấu hợp lý với việc giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp từ 68,8% năm 1997xuống còn 66,5% vào năm 2000, tăng tỷ trọng ngành TTCN,Xây dựng, dịch vụ,Thương mại từ 31,2% năm1997 lên 33,5% năm 2000

Tuy tốc độ chuyển dịch còn diễn ra rất chậm, nhưng cũng là một

Biểu3: Cơ cấu giá trị sản lượng theo ngành thời kỳ 1997-2000.

Đơn vị: tỷ đồng

Năm Ngành

68,8 73,9 26,1 13,5 17,7

275,6 214,0 61,6 55,4 75,5

67,8 77,64 22,36 13,6 18,2

289,8 219,6 70,2 58,9 83,2

67,1 75,7 24,3 13,6 19,3

302,3 226,7 75,5 62,4 90

66,5 75,0 25,0 13,7 19,8

Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Miện.

Tín hiệu đáng mừng đối với nền kinh tế của toàn huyện

Trang 6

Ngành tiểu thủ công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng thấp, lại tăng rất chậmtrong những năm vừa qua, năm 1997 chiếm 13,5% thì tới năm 2000 con số này chỉ

là 13,7%, một tỷ lệ tăng khá khiêm tốn Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạngtrọng ngành TTCN và xây dựng tăng chậm trong cơ cấu nền kinh tế là vì trongnhững năm vừa qua Thanh Miện chưa quan tâm đầu tư phát triển đúng mức đối vớilĩnh vực này mặc dù giá trị tổng sản lượng vẫn tăng đều qua các năm Tiểu thủcông nghiệp thì nhỏ bé lại tự phát theo quy mô hộ gia đình chủ yếu chỉ sản xuấtcác công cụ phục vụ cho nông nghiệp và xây dựng gia đình nên không tránh khỏiviệc chiếm tỷ lệ không cao

Ngành nông nghiệp là ngành chủ yếu và truyền thống của vùng cũng như củahuyện nên việc nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu GDP toàn huyện đã tồntại rất lâu Mặc dù trong năm 2000 này tỷ trọng ngành nông nghiệp đã giảm nhiều,còn 66,5% thấp hơn các thời kỳ trước nhưng đó vẫn là một con số quá lớn so với

cơ cấu hợp lý

Ngành dịch vụ và thương mại tuy cũng có tốc độ tăng trưởng cao và dầnchiếm vị trí xứng đáng trong GDP toàn huyện từ 17,7% năm 1997 lên đến 19,8%năm 2000 nhưng vẫn còn quá thấp Nguyên nhân thì có nhiều nhưng một nguyênnhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó là sự phát triển tự phát của ngành này, chưa có

sự quan tâm và quy hoạch đúng mức của huyện Các ngành dịch vụ chủ yếu phục

vụ cho sản xuất nông nghiệp, còn thương mại phục vụ cho nông nghiệp và sinhhoạt của nhân dân nên phần nào khó tránh khỏi tình trạng nhỏ bé như hiện nay Nhìn vào toàn bộ cơ cấu GDP của huyện chúng ta vẫn thấy một sự chưa hợp

lý mà trong thời gian tới cần nhiều công sức để cải thiện nhất là việc chuyển dịch

cơ cấu còn diễn ra rất chậm

Qua hai biểu ở trên chúng ta đã thấy được phần nào vị trí của nông nghiệptrong nền kinh tế của huyện Thanh Miện cũng như vị trí độc tôn của ngành trồngtrọt trong nông nghiệp Để hiểu thêm về vấn đề này chúng ta hãy xem biểu sau:

Trang 7

Biểu4: Số lượng và cơ cấu diện tích cây trồng và con nuôi của huyện

Thanh Miện thời kỳ 1997-2000 Năm

59,8 485.996 45.815 1.234 4.247 409.100 25.600

100 81,69 6,95 4,17 5,83 0,77 0,26

0,33 100 9,43 0,25 0,87 84,18 5,27

19.111,7 15.402 835 1.043 1.450 156 106,4

119,3 529.264 47.648 1.276 4.440 453.300 22.600

100 80,59 4,37 5,45 7,59 0,81 0,56

0,63 100 9,00 0,24 0,84 85,65 4,27

18.614,1 15.428 487 1,399 839 165 148,6

147,5 542.659 49.134 1.206 4.459 464.100 32.760

100 82,8 2,62 7,59 4,50 0,89 0,80

0,80 100 9,05 0,22 0,82 85,5 4,41

18.673 15.435 520 1410 900 168 148,6

91,4 561.689 51.470 1.150 4.489 485.300 19.280

100 82,6 2,78 7,55 4,82 0,90 0,8

0,49 100 9,16 0,20 0,80 86,4 3,44

Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Miện.

Qua biểu số 3 chúng ta đã phần nào thấy được vị trí độc tôn của trồng trọttrong nông nghiệp của Thanh Miện với tỷ trọng về giá trị thường xuyên ở mức trên73% Ngành chăn nuôi và thuỷ sản chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ ở mức ~ 26% Thì ởbiểu số 3 này chúng ta sẽ thấy được vị trí của những cây trồng, vật nuôi chủ yếutrong nông nghiệp của huyện

Đứng đầu ngành trồng trọt là vị trí độc tôn của cây lúa cả về giá trị và diệntích gieo trồng Diện tích trồng lúa của huyện trong những năm vừa qua thườngxuyên chiếm trên 80% diện tích gieo trồng Trồng lúa đã trở thành thế mạnh củaThanh Miện trong những năm trở lại đây với diện tích hàng năm đạt sấp xỉ 15,5nghìn ha Hệ số lần trồng ngày càng tăng đạt từ 2,3 đến 2,4 lần tính chung cho toàndiện tích đất nông nghiệp Đây là hệ số không cao so với một huyện đồng bằngnhưng cũng đã là sự cố gắng của nhân dân trong những năm vừa qua

Ngô là cây trồng, ngày càng giảm cả về diện tích lẫn tỷ trọng trong ngànhtrồng trọt nhưng nó vẫn giữ vị trí quan trọng trong các cây vụ đông của huyện

Trang 8

Năm 1997 diện tích ngô là 1.315 ha chiếm 6,95% diện tích gieo trồng nhưng tớinăm 2000 con số này chỉ còn 520 ha với 2,78% Sản phẩm hạt ngô của huyện chỉchủ yếu dùng làm thức ăn cho vật nuôi, rất ít cho sinh hoạt của con người và hầunhư không dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp Diện tích khoai lang và đậutương có tăng qua từng năm nhưng tăng chậm với tốc độ ổn định Năm 1997 diệntích khoai lang trên địa bàn huyện là 791 ha, chiếm 4,17% tổng diện tích gieo trồngthì đến năm 2000 các con số này đã là 1.410 ha và 7,55% Sản phẩm củ và dâykhoai lang chủ yếu dùng làm thức ăn gia súc trực tiếp tại các hộ Còn đậu tươngnăm 1997 có 147 ha chiếm 0,77% tổng diện tích gieo trồng thì tới năm 2000 chỉtăng chút ít là 168 ha với 0,90% diện tích gieo trồng.Sản phẩm đậu tương chủ yếudùng làm thực phẩm cho con người, một số để bán nhưng không đáng kể Diệntích rau cũng thường xuyên chiếm ở mức cao với năm 1997 là 1.104 ha và năm

2000 là 900 ha, cao nhất là năm 1998 với 1450 ha.Rau trên địa bàn huyện chủ yếuđược trồng ở xã Phạm Kha, cung cấp cho một số xã và thị trấn trong huyện Số rauxanh trồng được cũng chỉ chủ yếu đáp ứng nhu cầu rau của vùng, mang lại hiệuquả khá cao nhưng cũng chưa được áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trên quy môrộng, chủ yếu trồng theo quy mô hộ và diện tích hẹp

Trong những năm vừa qua, huyện đã có sự chỉ đạo của cấp trên duyệt chophép đến năm 2000 chuyển 196,42 ha đất nông nghiệp sang trồng cây ăn quả chủyếu là nhãn, vải nhưng tới nay con số này vẫn chưa đạt được Năm 1997 bắt đầu cóchủ trương chuyển dịch nhưng cũng mới làm được 49,3 ha, qua các năm tiếp theocon số này lần lượt là 106,4 ha và 148,6 ha đến năm 2000 vì nhiều lý do khác nhau

mà con số này cũng chỉ dừng lại ở mức 148,6 ha chiếm 1,8% tổng diện tích đấtcanh tác của huyện Thật là con số khiêm tốn so với hiệu quả đem lại Biêủ số 4cũng cho chúng ta một sự hiểu biết về mặt nào đó của ngành chăn nuôi ThanhMiện Nhìn tổng quan các số liệu trên biểu chúng ta có thể nhận định ngành chănnuôi của Thanh Miện chủ yếu theo lối tận dụng gia đình, sản xuất lớn cực ít Sốlượng các loại vật nuôi thường ổn định, ít biến động theo một sự sắp đặt có từ rấtlâu Mỗi hộ nông dân ở Thanh Miện có từ 1 đến 2 con lợn, 10 đến 20 con gà Trâu

bò chủ yếu dùng làm sức kéo phục vụ nông nghiệp và vận chuyển Số lượng trâu

bò nuôi rất ít vì hiện nay các công việc phục vụ nông nghiệp đã được cơ giới hoámột phần Chỉ có một điều đáng quan tâm ở đây là số lượng gà thường xuyênchiếm tỷ trọng cao trong ngành chăn nuôi Chúng thường xuyên chiếm tới 93 đến

Trang 9

96% số đầu gia cầm nuôi trong nhà Ngoài ra các vật nuôi khác như dê, ngan,ngỗng, vịt rất ít được nuôi trong địa bàn huyện, tổng của chúng chỉ chiếm 3,44%

số đầu vật nuôi trong năm 2000

Về thuỷ sản, cho chúng ta một bức tranh tương tự như trong chăn nuôi khi màsản lượng nuôi trồng và đánh bắt thường xuyên ổn định qua một số năm vừa qua.Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng năm 1997 là 425 tấn;năm 1998 là 686 tấn;năm1999 là 735 tấn và năm 2000 là 760 tấn Tuy tăng với tốc độ khá cao nhưngnhững con số trên quá nhỏ bé Sản lượng khai thác năm 1997 là 77 tấn;năm1998 là

135 tấn; năm1999 là 183 tấn và năm2000 cũng chỉ có 183 tấn Trọng lượng cáchiếm tỷ lệ tuyệt đối trong tổng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và đánh bắt với tỷtrọng thường xuyên ở mức 92 đến 98%

Nhìn chung, qua xem xét cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi của Thanh Miệnchúng ta nhận thấy trong những năm tới đây cây trồng chủ lực của huyện vẫn làcây lúa, ngoài ra còn có ngô,khoai, rau, đậu tương và nhãn,vải cũng chiếm tỷ trọngđáng kể Các cây trồng khác chiếm tỷ trọng rất thấp Quá trình chuyển dịch cần có

sự quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa của nhân dân trong toàn huyện

Vật nuôi chủ yếu vẫn là gà và lợn, đây cũng là hai nguồn thu nhập đáng kểcủa nông dân trên địa bàn huyện, các vật nuôi khác cho thu nhập không đáng kể.Sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện của ngành chăn nuôi còn quá khiêm tốn,không đóng góp được vai trò quan trọng vào thu nhập của hộ nông dân trongnhững năm vừa qua

Trong những năm tới đây, cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng,vật nuôi chúng ta phải thực sự quan tâm đến những vấn đề này

2- Cơ cấu các loại hộ nông dân trong huyện.

a-Cơ cấu theo loại hình sản xuất.

Hiện nay trên địa bàn huyện,hộ nông dân tồn tại ở hai hình thức đó là hộ nôngdân thuần nông và hộ nông dân kiêm thương mại- dịch vụ

Trang 10

Biểu 5: Cơ cấu theo loại hình sản xuất hộ nông dân thời kỳ 1997-2000.

Thuần nông Kiêm

Thuần nông Kiêm

Thuần nông Kiêm

95 39 73 356 504 90 85 131 251 121 97 184 112 138 148 174 94 132 208

1.439 662 1.498 925 1.278 1.097 801 1.099 1.319 1.568 1.665 1.961 1.896 1.688 1.487 1.756 1.235 1.761 2.039

112 48 82 368 491 112 79 126 231 132 148 198 156 196 156 250 86 134 287

1.477 646 1.497 916 1.232 1.092 752 1.095 1.455 1.741 1.528 1.948 1.951 1.647 1.435 1.913 1.131 1.598 2.052

136 45 78 366 476 116 58 121 246 193 139 205 152 175 171 270 97 102 298

1.511 656 1.609 944 1.342 1.108 790 1.153 1.332 1.583 1.597 1.618 1.914 1.685 1.462 1.963 1.119 1.602 2.048

142 47 91 362 458 122 66 13 228 167 141 182 126 178 186 271 81 98 278

Tổng số: SL 27.246 3.032 27.174 3.392 27.106 3.444 27.026 3.356

% 89,996 10,004 88,902 11,098 88,726 11,274 88,953 11,047

Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Miện.

Qua bảng số liệu chúng ta thấy tỷ lệ hộ nông dân kiêm thương mại-dịch vụtrên toàn huyện Thanh Miện hiện nay ở mức thấp, thường xuyên từ 10 đến 11,5%tổng số hộ nông dân Tỷ lệ này có tăng qua các năm nhưng rất chậm, năm 1997 là10,004%; năm 1998 là 11,098%; năm1999 là 11,274% và năm 2000 là 11,047%

Tỷ lệ hộ lông dân kiêm thương mại-dịch vụ lại phát triển không đều ở các xã, cónhững xã, thị trấn như Thị trấn Thanh Miện, Xã Thanh Tùng, xã Đoàn tùng tỷ lệ

hộ kiêm rất cao Nhưng cũng có những xã tỷ lệ này rất thấp như Diên Hồng, PhạmKha, Ngũ Hùng Qua xem xét em thấy rằng ở những xã có điều kiện phát triển cácphố, thị tứ, Thị trấn, bến xe, chợ thì tỷ lệ hộ nông dân kiêm cao và ngược lại những

xã chưa có điều kiện như trên lại có tỷ lệ thấp Những hộ nông dân kiêm thương

Trang 11

mại-dịch vụ ở Thanh Miện chủ yếu là buôn bán và dịch vụ nhỏ Phục vụ trên địabàn thôn và xã, chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt hàng ngày Ngoàinhững công việc nông nghiệp của gia đình, hộ tận dụng thời gian để tiến hàng cáckhâu dịch vụ như cầy, bừa, chở thuê hoặc buôn bán những mặt hàng phục vụ chosản xuất như lân, đạm, thuốc trừ sâu hay các mặt hàng khác Những hộ kiêm nàythường là những hộ nông có lực lượng lao động dồi dào có chút ít vốn đầu tư Thunhập của họ cao hơn hẳn so với các hộ thuần nông Một điều chúng ta cần phải giảithích thêm đó là cùng với sự phát triển của dân số, số hộ gia đình sẽ tăng lên vàtheo đó hộ nông dân cũng tăng qua thời gian Tuy nhiên chúng ta vẫn không thấytăng là bao qua biểu số 5, có lúc còn giảm Em thấy đó cũng là điều đáng mừng khi

mà người nông dân đã biết chuyển sang sản xuất ở những ngành khác, họ nhượnglại ruộng đất cho những hộ không có điều kiện này Đây là cơ sở bước đầu choviệc tích tụ đất đai, số hộ làm nông nghiệp sẽ ngày càng ít đi tương đối

Nắm bắt được tất cả những điều này, chúng ta sẽ có cách thức tác động vàotừng loại hộ nông dân và từng xã phù hợp

Trang 12

b-Cơ cấu các loại hộ nông dân theo mức thu nhập và mức sống.

Biểu 6: Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới

trong toàn huyện năm 2001

Hộ nông dân

Hộ nghèo Trong hộ nông dân

Trong hộ gia đình

1.226 1.648 1.560 1.750 1.306 2.234 1.200 700 856 1.738 1.853 1.285 1.700 2.030 1.800 1.643 1.800 2.326 1700

246 200 112 220 249 226 129 61 68 170 285 99 281 261 161 126 204 223 251

20,10 12,13 7,18 12,57 19,06 10,12 10,75 8,90 7,94 9,78 15,38 7,70 16,53 12,86 8,94 7,67 11,33 9,58 14,70

20,06 11,80 6,50 11,00 19,00 9,80 10,00 8,90 7,90 9,30 15,00 7,40 12,20 13,00 7,30 7,63 10,60 9,00 14,70

Nguồn: Phòng tổ chức-lao động-xã hội huyện Thanh Miện.

Công cuộc phát triển kinh tế nói chung và kinh tế hộ nông dân nói riêng củahuyện Thanh Miện đã được quan tâm thực hiện từ rất sớm Qua nhiều năm đã đạtđược những thành quả to lớn, số hộ giầu, khá tăng nhanh, số hộ nông dân nghèo

đã giảm nhiều và số hộ đói không còn nữa Vấn đề cốt yếu trong việc phát triểnkinh tế hộ của huyện hiện nay là giảm dần tiến tới xoá bỏ tình trạng hộ nghèo trêntoàn huyện

Theo tiêu chí mới ban hành nhận dạng hộ nghèo thì hiện nay toàn huyệnThanh Miện có 3572 hộ nghèo, chiếm 11,10% trong toàn bộ hộ gia đình và11,76% trong tổng hộ nông dân Điều này cũng thật dễ hiểu bởi theo điều tra của

Trang 13

phòng tổ chức lao động và xã hội huyện thì gần như toàn bộ những hộ nghèo trênđịa bàn huyện là những hộ nông dân.

Nếu tính theo chuẩn mới,với tiêu trí chủ yếu là thu nhập của mỗi nhân khẩutrong hộ dưới 100.000 đồng/1tháng thì toàn huyện có 11,10% hộ nghèo Còn nếutính theo chuẩn cũ tức là thu nhập của mỗi nhân khẩu trong hộ dưới 20 kg gạo 1tháng thì trên toàn huyện có khoảng trên 5% số hộ nghèo

Đây là một con số cao đối với một huyện đồng bằng như Thanh Miện, tuynhiên công cuộc phát triển kinh tế hộ, xoá đói giảm nghèo cũng đã ghi nhận sự cốgắng của toàn Đảng bộ nhân dân trong huyện

Qua biểu số 6 chúng ta nhận thấy rằng, ở một số xã còn tỷ lệ hộ nghèo rất caonhư Tiền Phong 20,06%; Thanh Tùng 16,6%; Lê Hồng 15,00%; Phạm Kha 14,7%

Và một số xã có tỷ lệ hộ nghèo khá thấp như Đoàn Tùng 6,50%; Hùng Sơn 7,9%;Thị trấn Thanh Miện 7,3%; Chi lăng Nam 7,40% Có thể có rất nhiều nguyên nhândẫn đấn sự chênh lệch này như: cơ cấu hộ, truyền thống sản xuất, địa thế địa hình nhưng chúng ta không thể không kể tới một số nguyên nhân làm giảm hộ nghèocủa các xã có sự chênh lệch khác nhau Đó là sự hoạt động của các cấp chínhquyền, đoàn thể có nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo ở các xã, các tổ chức này hoạtđộng tốt sẽ dẫn tới sự đầu tư có hiệu quả từ các hộ nghèo, và tình trạng hộ nghèogiảm đi nhanh chóng, và ngược lại, tình trạng nghèo nàn sẽ không được cải thiệnnếu sự đầu tư không mang lại hiệu quả

Chúng ta cũng nhận thấy một điều rằng, đa số những hộ nghèo trong huyệnđều là những hộ nông dân Điều này đòi hỏi trong công cuộc giảm nghèo củahuyện cần chú trọng và giành sự đầu tư đặc biệt vào các giải pháp phát triển nôngnghiệp Như vậy phần nào sẽ trợ giúp được các hộ nông dân trong việc xoá đói củachính mình

Có rất nhiều lý do để dẫn tới tình trạng nghèo đói của một hộ gia đình như:thiếu vốn; thiếu kinh nghiệm sản xuất; ốm đau ở Thanh Miện, qua cuộc phỏng vấn

và tìm hiểu 3572 hộ nghèo, chúng ta được kết quả về nguyên nhân nghèo như sau:

Trang 14

Biểu 7: Số lượng hộ nghèo phân theo nguyên nhân nghèo đói:

Đơn vị: hộ

Xã-Thị trấn

Thiếu kinh nghiệm làm ăn

Thiếu lao động

Thiếu vốn Thiếu đất

Có người

ốm, tàn tật, già yếu

Có người mắc TNXH

Đông người ăn

30 14 13 25 18 28 16 7 8 20 34 11 33 31 19 15 24 26 30

88 82 40 79 91 82 47 80 24 64 102 36 101 94 61 46 75 80 90

10 8 5 4 9 10 5 3 3 8 11 4 11 8 7 5 8 8 10

49 40 23 48 49 46 26 12 8 34 57 20 56 52 32 26 41 45 50

4 2 1 2 4 8 3 2 2 3 4 0 3 3 5 2 4 6 3

29 24 13 28 30 27 15 5 8 21 34 12 33 31 19 15 24 26 30

8 6 3 9 18 2 4 0 6 3 10 7 11 14 2 4 5 7 11

3 4 2 3 5 0 0 0 3 0 3 0 3 2 0 0 2 2 2

% 10,0 11,1 3,78 3,78 19,68 1,68 11,71 3,58 0,97

Nguồn: Phòng lao động-Tổ chức-xã hội huyện Thanh Miện.

Theo số liệu điều tra của phòng tổ chức-lao đông và xã hội huyện Thanh Miệnđối với 3572 hộ nghèo Mỗi hộ có một nguyên nhân chính dẫn đến tình trạngnghèo đói, được kết quả như ở biểu 7 Qua đây chúng ta sẽ thấy một cách tổngquan những nguyên nhân chính của tình trạng nghèo đói trong các hộ Đứng đầunhóm nguyên nhân này là do thiếu vốn sản xuất: 37,5%, sau đó đến có người tàntật, ốm đau, già yếu: 19,68%; đông người ăn: 11,71% và thiếu lao động 11,1%.Chúng ta cũng phải thấy rằng thiếu vốn sản xuất đang là tình trạng phổ biến đốivới các hộ nông dân trong nông thôn hiện nay Nhưng qua cuộc điều tra này, mộtlần nữa lại khẳng định tầm quan trọng của vốn sản xuất đối với công cuộc xoá đói

Trang 15

giảm nghèo nói chung và ở huyện Thanh Miện nói riêng Có người ốm, tàn tật, giàyếu cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng nghèo đói

do chi phí chạy chữa, chăm sóc lớn Kéo theo đó là những nguyên nhân quan trọngkhác như thiếu lao động, đông người ăn Những điều này thực sự đã trở thành mộtgánh nặng đối với nguồn thu nhập ít ỏi của các hộ nông dân Thiếu kinh nghiệmlàm ăn cũng là một nguyên nhân đáng kể dẫn đến tình trạng này (10%), tuy nhiênnếu đúng hơn chúng ta phải nói là thiếu kiến thức và hiểu biết do trình độ củanhững người trong hộ có hạn

Ngoài ra các nguyên nhân khác không đáng kể, chỉ chíêm một tỷ lệ nhỏ Tìnhtrạng thiếu đất trong các hộ nghèo cũng chiếm một tỷ lệ khá (3,78%), đây khôngphải là những hộ không làm nông nghiệp mà chủ yếu họ là những vợ chồng khátrẻ, sinh con cái muộn vì vậy không có đất canh tác cho những trẻ em sinh sau này.Nên có những gia đình 4 hoặc 5 người nhưng chỉ có bố mẹ là có ruộng cấy, dẫnđến tình trạng thiếu đất để sản xuất

Phân biệt được những nguyên nhân này, chúng ta sẽ có những giải pháp hữu hiệunhằm thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo tốt nhất, đem lại hiệu quả cao nhất

3- Các yếu tố sản xuất của hộ nông dân trong huyện.

3.1-Đất đai:

Tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện trong một vài năm trở lại đâythường xuyên ổn định ở mức 8464,1 ha Gồm nhiều loại đất và ở mỗi cánh đồngđều có cao độ khác nhau

Cao độ đất có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tưới tiêu, thiết kế các công trìnhthuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nhưng còn mộtnguyên nhân khác quan trọng hơn khiến chúng ta phải nghiên cứu cao độ đất trêntừng cánh đồng, đó là việc thiết kế, quy hoạch các loại cây trồng ứng với mỗi cao

độ cụ thể, phát hiện ra nhừng vùng đất có thể chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhữngcánh đồng có thể canh tác theo kiểu chuyên môn hoá và ứng với mỗi cao độ cónhững cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất

Qua biểu 8 chúng ta biết rằng, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên địa bànhuyện được chia làm 4 loại tuỳ theo cao độ của chúng, theo từng cánh đồng đó là:chân cao, chân vàm, chân thấp và triều chũng Tổng diện tích đất nông nghiệp ở

Trang 16

chân cao là 1487,2 ha, chiếm 18,45% đất nông nghiệp; chân vàm có 462,91 hachiếm 55,35%; chân thấp có 1737,30 ha chiếm 21,80% và triều chũng có 354,84

ha chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện

Xã Hùng Sơn là nơi có cao độ đất nông nghiệp thấp nhất của huyện, chỉ có từ

1 đến 1,6 Và Thị trấn Thanh Miện là nơi đất nông nghiệp có cao độ lớn hơn cả, từ1,5 đên 2,5

Biểu8: Các loại đất phân theo cao độ đất nông nghiệp trong huyện.

89,42 147,60 125,88 39,93 6,66 73,80 165,50 38,46 40,35 270,85 - 160,30 78,70 53,80 49,10 70,00 64,12 16,45 11,1

2,4-2,55 2,4-2,8 2,2-2,7 2,4-2,7 2,2-2,5 2,2-2,4 2,4-2,5 2,6-3,0 2,4-2,6 2,2-2,5 - 2,0-2,9 2,4-2,9 1,9-2,5 2,0-2,5 1,8-2,2 1,7-1,95 2,0-2,5 1,95-2,1

427,65 221,39 171,00 508,51 465,95 267,6 90,71 272,15 351,51 29,10 34,67 252,80 150,60 337,10 232,30 150,90 23,29 340,00 135,70

1,7-2,4 1,8-2,4 1,8-2,2 2,0-2,4 2,0-2,4 2,0-2,2 2,2-2,4 2,0-2,4 2,1-2,4 2,0-2,2 1,35-1,6 1,5-1,9 1,7-2,3 1,5-1,8 1,5-1,95 1,45-1,7 1,5-1,55 1,3-1,8 1,2-1,5

130,37 130,84 93,52 93,43 72,21 32,20 88,57 41,00 95,44 99,55 155,86 152,30 131,6 133,5 29,80 83,80 106,54 37,70 -

1,5-1,8 1,51-1,8 1,5-1,8 1,8-1,0 1,7-2,0 1,6-2,0 2,0-2,2 1,5-1,8 1,5-2,1 1,7-1,95 1,1-1,35 1,1-1,4 1,4-1,6 1,1-1,4 1,15-1,3 1,05-1,4 1,03-1,4 1,05-1,2 -

22,18 13,74 73,50 - 35,86 - - 13,07 10,64 8,10 5,18 14,80 33,30 36,10 53,60 - 3,03 32,59 -

1,3-1,5 1,2-1,5 1,2-1,5 - 1,5-1,7 - - 1,4-1,5 1,5-1,7 1,5-1,7 1,0-1,1 0,9-1,0 1,2-1,38 0,9-1,0 1,0-1,1 - 0,9 0,8-1 -

Tổng 8062,0 1487,2 18,45% 4462,90 55,35% 1757,3 21,80% 354,54 4,4%

Nguồn: Xí nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi huyện Thanh Miện.

Nhìn chung với cao độ như ở trên, đất nông nghiệp của huyện khá thuận lợitrong việc canh tác nhất là cây lúa Hiện nay cây lúa giữ vị trí đặc biệt trong nhữngcây trồng nông nghiệp, nó được gieo trồng từ rất lâu và trên hầu hết các diện tíchđất nông nghiệp của huyện Tuy nhiên nếu chúng ta đề cập đến vấn đề hiệu quả thì

Trang 17

việc này chưa mang lại hiệu quả cao nhất cho người nông dân Bởi những diện tích

có thể trồng một số loại cây khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn

Hiện nay trên đất triều chũng của huyện có cao độ dưới 1 thì việc sử dụng rấtkhó khăn, người nông dân chỉ có thể cấy một vụ với những giống lúa dài ngày,thân cao, không mang lại hiệu quả lớn, nếu có thể kết hợp với nuôi cá sẽ mang lạihiệu quả kinh tế cao hơn Còn đối với chân cao và chân vàm ngoài việc trồng lúachúng ta hoàn toàn có thể trồng những cây công nghiệp ngắn ngày hoặc cả nhữngcây như nhãn, vải, táo cho hiệu qủa kinh tế cao hơn Nghiên cứu thêm về nhữngđiều này chúng ta sẽ có sự quy hoạch trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp

lý và hiệu quả Diện tích đất nông nghiệp của huyện Thanh Miện vài năm trở lạiđây thường xuyên ổn định mức 8484,1 ha Với dân số 128800 người như hiện naythì diện tích đất bình quân theo đầu người chỉ có 0,0657 ha Đây là con số khôngthấp đối với một huyện trung tâm của đông bằng châu thổ sông Hồng Tuy nhiên

cơ cấu các loại đất nếu xét theo việc sử dụng thường xuyên không ổn định Chúng

ta hãy xem biểu đồ số liệu sau:

Trang 18

Biểu 9: Số lượng và tỷ trọng từng loại đất nông nghiệp thời kỳ 1997-2000.

Đơn vị: ha

Xã-Thị trấn

Đất trồng cây hàng năm

Đất vườn tạp

Đất trồng cây lâu năm

Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản

Đất trồng cây hàng năm

Đất vườn tạp

Đất trồng cây lâu năm

Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản

8,39 1,41 - 11,32 17,18 3,31 3,7 4,41 13,48 - 5,4 0,83 10,0 0,08 - - 2,00 - 7,45

8,81 0,27 - 5,00 1,29 0,39 5,7 4,0 5,86 - - 3,27 - 3,99 3,5 2,51 - 4,42

-11,01 29,08 23,09 35,76 35,74 20,47 33,97 18,88 31,3 24,35 6,45 17,48 41,1 35,86 5,21 25,12 22,34 24,34 21,98

163,9 172,7 403,3 519,5 283,6 348,6 589,6 382 343,6 478 197,2 352,7 624,3 498,3 350,6 339,5 635,8 479,4 373,3

11,11 1,41 - 11,32 17,18 3,31 3,7 4,41 18,24 5,65 5,4 0,75 10,0 7,87 - 5,87 3,86 0,83 0,61

7,95 2,13 - 2,42 1,29 0,39 6,27 4,0 4,39 1,59 0,31 7,08 3,41 7,19 0,13 2,51 - 16,8

-10,01 31,0 25,16 29,5 30,58 20,8 30,26 19,28 21,44 30,79 8,63 22,7 46,36 37,45 21,28 19,43 18,89 26,44 36,2

Tổng số 7.843 92,46 45,51 476,23 7836 111,5 67,1 486,2

% 92,66 1,1 0,54 5,7 92,2 1,31 0,79 5,70

Nguồn: Phòng địa chính huyện Thanh Miện.

Qua biểu số liệu trên, chúng ta đã phần nào thấy được mức độ biến động của

cơ cấu đất nông nghiệp trên địa bàn toàn huyện Nhìn chung thời kỳ 1997-2000mức độ biến động xảy ra rất ít và theo quy luật khá rõ đó là diện tích đất trồng câyhàng năm giảm dần cả về tuyệt đối lẫn tương đối Năm 1997, tổng diện tích đấttrồng cây hàng năm trên địa bàn huyện là 7910 ha, chiếm 93,45% tổng diện tíchđất nông nghiệp Năm 1998 diện tích còn 7843 ha, chiếm 92,66% và đến năm 2000

Trang 19

các con số này lần lượt là 7836 ha và 92,17%.Chúng ta cũng không nên lo ngại quá

về điều này, tuy có giảm qua từng năm nhưng diễn ra rất chậm, tới một mức độhợp lý nó sẽ dừng lại Trong khi đó đất vườn tạp lại có xu hướng tăng; năm 1997 là90,362 ha, chiếm 1,067% tổng diện tích đất nông nghiệp; năm 1998 là 92,46 hachiếm 1,1% tổng diện tích và năm 2000 các con số này lần lượt là 111,5 ha và1,31% nhưng cũng tăng với tốc độ rất chậm Sự tăng lên của đất vườn tạp là điềukhông hợp quy luật và không hợp lý Tuy nhiên có thể giải thích hiện tượng đóbằng việc hiện nay trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, có một bộ phận

hộ cải tạo ruộng cấy không hiệu quả hoặc đất nông nghiệp thành các vườn cây.Nhưng mọi việc chỉ mới ở giai đoạn đầu, do đó cây trồng chính chưa đủ lớn, người

ta thường tận dụng diện tích vườn bằng cách trồng kèm theo các loại cây ngắnngày hoặc những cây cho sản phẩm nhanh hơn vào trước khi cây trồng chính phủkín diện tích đất Vì vậy cùng với quá trình tăng lên của các vườn cây là quá trìnhtăng lên của vườn tạp Điều này sẽ không còn xảy ra một khi quá trình chuyển dịch

cơ cấu cây trồng đă hoàn thành Diện tích đất trồng cây lâu năm cũng có chiềuhướng tăng lên: năm 1997 diện tích này là 16,89 ha chiếm 0,2% tổng diện tích đấtnông nghiệp thì đến năm 1998 đã tăng lên 45,51 ha với 0,54% và đến năm 2000 đã

là 67,1 ha, chiếm 0,79 tổng diện tích đất nông nghiệp Kết quả này có được là doquá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng và cải tạo lại những diện tích đất nôngnghiệp sử dụng không có hiệu quả

Tương tự như vậy, diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản cũng ngàymột tăng, năm 1997 có 448,9 ha chiếm 5,28% tổng diện tích đất nông nghiệp; năm

1998 đã là 476,23 ha và đến năm 2000 là 486,2 ha Tuy tăng chậm nhưng đó cũng

là điều đáng mừng bởi đây là kết quả của quá trình kết hợp giữa cấy lúa và nuôi cácùng với quá trình cải tạo thùng, đấu bấy lâu nay vẫn bỏ hoang

Biểu 9 cũng cho ta một bức tranh khá toàn cảnh về quá trình chuyển dịch cơcấu cây trồng trong nông nghiệp Thanh Miện, tuy diện tích trồng cây hàng nămchuyển dịch không được thể hiện trên biểu nhưng chúng ta có các số liệu vềchuyển dịch cây lâu năm Nhìn về các số liệu ta thấy có những xã có diện tíchvườn tạp và vườn cây lâu năm khá cao như Tiền Phong; Ngũ Hùng; Chi LăngNam; Thị Trấn Và đó lại là một điều đáng mừng ghi nhận kết quả bước đầu củaviệc chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Trang 20

Qua biểu 9 chúng ta thấy vị trí của cây trồng hàng năm trong nông nghiệpThanh Miện rất quan trọng, thường xuyên chiếm trên 90% tổng diện tích đất nôngnghiệp Điều này một lần nữa lại đòi hỏi một sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp

lý hơn

Bình quân đất nông nghiệp của một hộ nông dân trên địa bàn Thanh Miệnhiện nay là 2786,4 m2 Diện tích này có được chủ yếu từ 3 nguồn chính, đó là: đấtđược giao; đất nhận thầu của HTX và đất nhận thầu của các hộ không còn làmnông nghiệp nhưng vẫn còn đất Trong đó đất được giao chiếm 88%, đất nhận thầuchiếm 12%, tuy nhiên nguồn đất trung bình của một hộ không đều giữa các xãtrong huyện, thậm trí không đều giữa các thôn của một xã Phần đất nhận thầu củacác hộ khác và của hợp tác xã không đều nhau giữa các hộ là điều phổ biến Cónhững hộ nông dân nhận thầu nhiều, nhưng cũng có những hộ nông dân nhận thầu

ít nếu biết sức mình không đảm đương nổi và đa số hộ nông dân không nhận thầu

Có những hộ nông dân thậm trí không nhận thầu mà còn cho thầu hoặc bán bớtruộng đi Hiện nay trên địa bàn huyện, tình trạng chuyển nhượng ruộng đất dài hạn

đã diễn ra, giá chuyển nhượng được thỏa thuận giữa hai bên, họ có thể chuyểnnhượng ba năm, 5 năm hoặc lâu hơn tuỳ theo khả năng và mức độ cần thiết Họcũng có thể cho cấy từng vụ, cuối vụ trả thóc (thường khoảng 20 dến 30 kg mộtsào Bắc bộ) Đối tượng chuyển nhượng ruộng cũng rất đa dạng, có những hộ do có

đủ tiềm lực về tài chính, do chuyển sang kinh doanh hoặc làm những ngành nghềkhác, do thiếu lao động không thể làm hết, do chuyển đi nơi khác sinh sống đãchuyển nhượng ruộng khoán của mình cho những hộ nông dân khác có đủ điềukiện nhận theo giá cả thoả thuận giữa hai bên Nhưng cũng có những hộ nông dân

do nghèo khó, túng qũân mà bán ruộng, thậm trí gán ruộng để trả nợ Đây thực sự

là điều khiến chúng ta phải suy nghĩ, mà thường ở những trường hợp này ngườichuyển nhượng bị ép giá Sau khi không còn ruộng đất, đời sống của hộ lại càngkhó khăn hơn tuy mới diễn ra nhưng tình trạng chuyển nhượng đất ở các hộnghèo của Thanh Miện đã là hồi chuông báo động cho các cơ quan, ban ngành,đoàn thể và các cấp chính quyền ở Thanh Miện cần phải quan tâm đến việc này.Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bảo đảm thực hiện 5 quyềncủa người sử dụng đã cơ bản được hoàn thành ở Thanh Miện Nhưng điều chúng taquan tâm ở đây chính là việc sử dụng đất chưa có hiệu quả trên những diện tích đấtnông nghiệp và đất chuyên dùng do các UBND xã quản lý Hiện nay những diện

Trang 21

tích này là khá lớn và việc sử dụng hiệu quả hơn nữa là điều hoàn toàn có thể thựchiện được.

Ngoài ra, diện tích đất chưa sử dụng trên địa bàn huyện vẫn còn, mà chủ yếu

do các UBND xã trực tiếp quản lý hiện đang là nguồn rất lãng phí,đòi hỏi trongthời gian tới cần đưa vào sử dụng có hiệu quả hơn

Chúng ta hãy theo dõi bảng số liệu sau:

Biểu 10: Đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng năm 2000.

Đơn vị: ha

Xã-Thị trấn Đất chuyên dùng

Đất chưa sử dụng Tổng số Đất có mặt nước chưa SD Sông

102,64 4,91 20,90 34,28 13,10 12,61 14,29 2,45 18,29 20,05 9,80 10,51 2,75 13,28 - 8,06 4,27 37,48 7,26

19,44 4,91 11,21 20,33 13,10 12,61 8,82 2,45 7,88 20,05 6,62 3,98 2,75 13,27 - 8,06 4,27 14,53 7,26

83,20 - 2,69 13,95 - - 5,47 - 10,41 - 2,78 6,53 - - - 22,95 -

Nguồn: Phòng địa chính huyện Thanh Miện.

Diện tích đất chuyên dùng do các UBND xã quản lý hiện nay là: 2530,85 hachủ yếu sử dụng vào các mục đích như đất xây dựng; đất giao thông; đất thuỷ lợi

Trang 22

và một số công việc khác Nhưng việc sử dụng nguồn đất này còn lãng phí vớinhững diện tích còn bỏ trống.

Diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều 336,50 ha được chia làm hai loại đó làđất có mặt nước chưa sử dụng và sông ngòi, được tập trung nhiều ở các xã TiềnPhong, Ngũ Hùng, Ngô Quyền

Ngoài ra trên toàn huyện vẫn còn tới 950,03 ha đất nông nghiệp do UBND xãquản lý, trong đó có 568,55 ha là đất lúa,30,19 ha là đất trồng cây lâu năm; 56,96

ha đất trồng cây ngắn ngày khác còn lại các diện tích khác: 294,33 ha, trong đó chỉ

có 568,55 ha đất lúa hiện đang giao cho các hộ gia đình đấu thầu sử dụng tươngđối hiệu quả

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong hoạt động sản xuất nông, lâm, thuỷsản, và cũng là tư liệu sản xuất chủ yếu của các hộ nông dân.Các nông hộ muốnphát triển lên sản xuất hàng hoá cần một diện tích đủ lớn và liền khoảnh Hiện nay

ở Thanh Miện, cũng như các huyện đồng bằng sông Hồng khác, tình trạng manhmún về ruộng đất diễn ra phổ biến Mỗi hộ nông dân trên địa bàn huyện có khoảng

từ 7 đến 10 khoảnh ruộng, có khoảnh diện tích chỉ 100m2 hoặc thấp hơn nữa Điềunày đã gây khó khăn rất nhiều cho quá trình canh tác của các hộ nông dân

3.2-Vốn của hộ nông dân và sự hoạt động của các tổ chức cung cấp vốn-tín dụng cho hộ nông dân trong huyện.

Vốn là yếu tố quan trọng của tất cả các ngành sản xuất, của mọi quá trình vàcủa mọi thành phần kinh tế.Đặc biệt trong quá trình tái sản xuất mở rộng, nguồnvốn lại đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Trong sản xuất kinh tế hộ nôngdân cũng vậy, không có vốn sẽ không thể thực hiện được quá trình tái sản xuất và

hộ nông dân có nhu cầu về vốn nhất định Nguồn vốn của hộ nông dân được hìnhthành từ hai nguồn chính đó là vốn tự có và vốn đi vay Nguồn vốn tự có của hộnông dân là do tích luỹ được qua mỗi quá trình sản xuất và đây là nguồn chủ yếucủa hộ Tuy nhiên chúng ta không quan tâm nhiều đến nguồn vốn đó mà điềuchúng ta chú ý ở đây chính là nguồn vốn đi vay và nhu cầu vay vốn của họ

ở Thanh Miện hiện nay, qua sự tìm hiểu của em được biết thì đa số các hộ nôngdân đều có nhu cầu vay vốn, tuy mức độ cần thiết khác nhau: Có những hộ đã có ý địnhđầu tư nhưng cũng có hộ cho rằng nếu có vốn họ sẽ đầu tư vào cái này, làm cái kia Cónhững hộ kết hợp giữa vốn của gia đình và vốn vay nhưng cũng có những hộ đầu tư

Ngày đăng: 26/10/2013, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

a-Cơ cấu theo loại hình sản xuất. - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
a Cơ cấu theo loại hình sản xuất (Trang 9)
Qua bảng số liệu chúng ta thấy tỷ lệ hộ nông dân kiêm thương mại-dịch vụ trên toàn huyện Thanh Miện hiện nay ở mức thấp, thường xuyên từ 10 đến 11,5%  tổng số hộ nông dân - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
ua bảng số liệu chúng ta thấy tỷ lệ hộ nông dân kiêm thương mại-dịch vụ trên toàn huyện Thanh Miện hiện nay ở mức thấp, thường xuyên từ 10 đến 11,5% tổng số hộ nông dân (Trang 10)
Chúng ta hãy theo dõi bảng số liệu sau: - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
h úng ta hãy theo dõi bảng số liệu sau: (Trang 19)
Biểu 13: Tình hình nhân khẩu- lao động của hộ nông dân thời kỳ 1998-2000. - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
i ểu 13: Tình hình nhân khẩu- lao động của hộ nông dân thời kỳ 1998-2000 (Trang 26)
Qua bảng số liệu trên chúng ta thấy rằng lúa và lợn là hai nguồn thu nhập chủ yếu của các hộ nông dân Thanh Miện - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
ua bảng số liệu trên chúng ta thấy rằng lúa và lợn là hai nguồn thu nhập chủ yếu của các hộ nông dân Thanh Miện (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w