1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÁI NIỆM THỰC CHẤT VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

23 726 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái niệm thực chất và mô hình tổ chức marketing của doanh nghiệp thương mại
Chuyên ngành Marketing
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 35,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm, vị trí của marketing và hệ thống marketing của doanh nghiệp Theo góc độ tổ chức chức năng, marketing được hiểu là “một chức năng quảntrị công ty về mặt tổ chức và quản lý toà

Trang 1

KHÁI NIỆM THỰC CHẤT VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC MARKETING

CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI1.1 DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HÌNH THỨC

1.1.1 Khái niệm thương mại và doanh nghiệp thương mại.

Sản xuất và trao đổi (lưu thông) hàng hoá là những phạm trù lịch sử, nó ra đờitrong những điều kiện lịch sử nhất định Khi nào trong xã hội có sự phân công laođộng xã hội, sản phẩm làm ra thuộc những người sở hữu khác nhau thì có sự traođổi hàng hoá

Trao đổi hàng hoá sinh ra ngày từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ thay thế cho chế độcộng sản nguyên thuỷ tan rã trong thời kỳ này nền kinh tế đã có sự phân công laođộng giữa chăn nuôi và trồng trọt, những chủ nô khác nhau chiếm hữu sản phẩmthặng dư của những nô lệ làm ra, đã bắt đầu có sản phẩm dư thừa Sự trao đổi nàybắt đầu với tính cách ngẫu nhiên dần dần nó phát triển dưới hai hình thức chủ yếu:trao đổi cho tiêu dùng sản xuất và trao đổi cho tiêu dùng cá nhân Sự trao đổi pháttriển đi đôi với sự phát triển của sản xuất hàng hoá Khi trao đổi hàng hoá đã pháttriển đến trình độ xuất hiện làm chức năng phương tiện lưu thông thì trao đổi hànghoá được gọi là lưu thông hàng hoá Lưu thông hàng hoá phát triển đến khi nàoxuất hiện thương nhân làm môi giới thì được gọi là thương mại thương mại là lĩnhvực lưu thông hàng hoá, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng Thực hiện chứcnăng này của thương mại thông qua hoạt động của doanh nghiệp thương mại trongnền kinh tế quốc dân

Sự ra đời của các doanh nghiệp thương mại làm cho quá trình mua và bángiữa người sản xuất và người tiêu dùng trở nên thuận tiện hơn, nâng cao được hiệuquả sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất Nhà sản xuất cũngnhư người tiêu dùng sẵn sàng chấp nhận trả công cho sự tham gia của các doanhnghiệp thương mại vì chính một vòng quay vốn của doanh nghiệp thương mại bằngnhiều vòng quay vốn của doanh nghiệp sản xuất Sự chấp nhận của nhà sản xuất vàngười tiêu dùng tạo ra khả năng tham gia và khai thác cơ hội kinh doanh trong hoạtđộng mua bán hàng hoá Nói một cách khác, nó tạo ra khả năng kinh doanh thươngmại Hiện nay khi nói tới thương mại có thể được hiểu trên hai phương diện:

Trang 2

Thứ nhất, thương mại là hoạt động trao đổi hàng hoá thông qua mua bán trên

thị trường Chấp nhận quan điểm này có ý nghĩa lớn trong việc tổ chức và quản lýnền kinh tế xã hội nói chung cũng như đối với hoạt động kinh doanh của từng tổchức kinh tế nói riêng

Thứ hai, thương mại được hiểu theo nghĩa rộng hơn là hoạt động kinh doanh

nhằm tìm kiếm lợi nhuận Như vậy, thương mại đồng nghĩa với kinh doanh Quanđiểm này được hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển thừa nhận Vì vậy, khôngphải là không có cơ sở khi nhiều tổ chức nước ngoài đến Việt Nam không chỉ tìmkiếm cơ hội và thúc đẩy mua bán hàng hoá mà họ còn tìm kiếm các cơ hội đầu tưkinh doanh

Hoạt động trao đổi thông qua mua bán trong nền kinh tế tạo tiền đề cho sựhình thành và phát triển ngành kinh doanh thương mại Theo Luật Doanh nghiệp,

kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Vì vậy, kinh doanh thương mại là sự đầu tư tiền của, công

sức của một cá nhân hay một tổ chức vào việc mua bán hàng hoá đó nhằm tìmkiếm lợi nhuận

Thương mại và kinh doanh thương mại có quan hệ mật thiết với nhau Khi nóiđến thương mại là nói đến sự trao đổi hàng hoá thông qua mua bán trên thị trường,

ở đâu có nhu cầu hàng hoá thì ở đó có hoạt động thương mại Khi nói đến kinhdoanh thương mại là nói tới hoạt động mua bán hàng hoá nhằm mục đích kiếm lời.Đây chính là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại

Như vậy, doanh nghiệp thương mại tồn tại khách quan trong nền kinh tế, cóvai trò quan trọng đối với sản xuất kinh doanh Sự hình thành và phát triển củadoanh nghiệp thương mại khẳng định vị trí và tầm quan trọng của nó trong hệthống doanh nghiệp

1.1.2 Phân loại doanh nghiệp thương mại.

Từ khi nước ta chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần theo cơ chế thị trường thì thuật ngữ doanh nghiệp mới bắt đầu xuấthiện và đã đáp ứng được yêu cầu mới Trong cơ chế thị trường, các thuật ngữ trướcđây như công ty, xí nghiệp chưa bao hàm được tất cả các đơn vị kinh doanh, cónhiều đơn vị kinh doanh nhưng không phải là công ty (như đơn vị kinh doanh tư

Trang 3

nhân), càng không phải là xí nghiệp (như đơn vị kinh doanh thương mại) Chính vìvậy mà thuật ngữ doanh nghiệp là phù hợp hơn cả, nó bao hàm được tất cả các đơn

vị hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Thuật ngữ doanh nghiệpđược xuất hiện ở nước ta cùng với sự ra đời của Luật Công ty (ngày 21/12/1990);Nghị định 338CP/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quychế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước và sau đó là Luật Doanhnghiệp Nhà nước (ngày 20/4/1995)

Trong tất cả các loại hình doanh nghiệp đang tồn tại ở nước ta hiện nay thìdoanh nghiệp thương mại là một loại hình quan trọng, chuyên kinh doanh mau bànhàng hoá trên thị trường để thu lợi nhuận Thông qua hoạt động mua bán trên thịtrường, doanh nghiệp thương mại vừa làm dịch vụ cho người bán (người sản xuất),vừa làm dịch vụ cho người mua (người tiêu dùng) và đồng thời đáp ứng lợi ích củamình là lợi nhuận, đây là đặc điểm để phân biệt doanh nghiệp thương mại với cácloại hình doanh nghiệp khác

Tuỳ theo mục đích yêu cầu khác nhau mà có những cách khác nhau để phânloại các doanh nghiệp thương mại

Theo hình thức lưu thông doanh nghiệp thương mại gồm:

- Công ty bán lẻ

- Công ty bán buôn

- Công ty xuất nhập khẩu

Theo hình thức tổ chức thương mại, doanh nghiệp thương mại gồm:

- Doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp

- Doanh nghiệp chuyên doanh một số mặt hàng nhất định

Theo hình thức sở hữu doanh nghiệp:

- Doanh nghiệp thương mại Nhà nước

- Doanh nghiệp thương mại cổ phần

- Doanh nghiệp thương mại tư nhân

- Các doanh nghiệp liên doanh

- Các hộ cá thể

Trang 4

Theo qui mô của doanh nghiệp gồm các loại doanh nghiệp lớn, doanh nghiệpvừa và nhỏ, doanh nghiệp nhỏ.

Theo hình thức tiếp cận marketing thương mại tồn tại 5 loại hình doanhnghiệp có tính tích hợp gồm:

- Công ty sản xuất - thương mại

- Công ty bán lẻ - bán buôn

- Công ty bán buôn - bán lẻ

- Công ty xuất nhập khẩu gồm: + Doanh nghiệp thương mại thuần tuý

+ Daonh nghiệp sản xuất - xuất nhập khẩu

- Công ty dịch vụ thương mại

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC MARKETING

Ở CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

1.2.1 Vị trí, chức năng của marketing trong hệ thống quản trị chức năng của doanh nghiệp thương mại trong cơ chế thị trường

2.1.1.1 Khái niệm, vị trí của marketing và hệ thống marketing của doanh nghiệp

Theo góc độ tổ chức chức năng, marketing được hiểu là “một chức năng quảntrị công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh, từ việcphát hiện ra và chuyển hoá sức mua của người tiêu dùng thành cầu thực sự về mộtmặt hàng cụ thể đến việc đưa hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảmbảo cho công ty thu được lợi nhuận dự kiến” (Định nghĩa của Viện Marketingvương quốc Anh)

Theo góc độ thực hành chức năng, marketing của công ty kinh doanh là “mộtquá trình quản trị và công nghệ vận hành nhằm nhận biết, tiên lượng và điều hànhcung ứng cho nhu cầu khách hàng một cách hiệu quả và sinh lợi” (Định nghĩa củaViện Quản trị kinh doanh Malaysia)

Marketing có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản trị và công nghệ kinhdoanh của một doanh nghiệp kinh doanh Do có vị trí tiếp cận trực tiếp với kháchhàng, với thị trường mà thị trường và nhu cầu khách hàng lại là điểm xuất phát và

Trang 5

điều kiện của quản lý kinh tế vĩ mô, marketing còn có vai trò hướng dẫn, chỉ đạo

và phối hợp các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhờ cáchoạt động marketing, các quyết định đề ra trong sản xuất - kinh doanh có cơ sởkhoa học vững chắc hơn, doanh nghiệp có điều kiện và thông tin đầy đủ hơn đểthoả mãn toàn diện mọi nhu cầu của khách hàng Chính vì vậy, marketing có vaitrò rất lớn và có tính quyết định đến doanh số, chi phí, lợi nhuận và qua đó đếnhiệu quả kinh doanh tổng hợp, đến hình ảnh và vị thế của doanh nghiệp trên thịtrường Marketing còn có vai trò năng động trong việc khắc phục tính cô lập,không thống nhất của công ty trong việc hoà nhập và ứng xử linh hoạt, uyểnchuyển và có trí tuệ với diễn biến và tình thế thị trường, kích thích sự nghiên cứu,hợp lý hoá, đổi mới để tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp

Trong cơ chế kinh doanh hiện đại, mỗi doanh nghiệp thương mại đều xác địnhnội dung quản trị kinh doanh của mình chủ yếu gồm 4 bộ phận: marketing, tàichính, sản xuất - hậu cần, tổ chức - nhân sự và xác lập tư duy chiến lược địnhhướng về thị trường với khách hàng là trung tâm - hạt nhân Tuy nhiên vj trí và tácđộng tương hỗ giữa 4 chức năng quản trị này theo lịch sử phát triển có thay đổi

2.1.1.2 Các chức năng và đặc điểm hoạt động marketing ở doanh nghiệp thương mại

Chức năng của marketing là những tác động vốn có bắt nguồn từ bản chấtkhách quan của marketing đối với quá trình tái sản xuất hàng hoá và của quan hệgiữa doanh nghiệp với thị trường của nó Xuất phát từ bản chất, vị trí, vai trò củamarketing trong quản trị doanh nghiệp, marketing có các chức năng: kết nối và làmthích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường; phân phối; tiêu thụ; xúc tiến hỗ trợkinh doanh; điều hoà phối hợp và mạo hiểm

- Chức năng kết nối và làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường

Sản phẩm hấp dẫn người mua có thể là vì nó mới hoặc cũng có thể do các đặctính sử dụng của nó luôn luôn được cải tiến và nâng cao Kiểu cách mẫu mã, dángvóc của nó luôn được đổi mới cho phù hợp với nhu cầu đa dạng, phong phú củangười tiêu dùng Marketing có chức năng làm cho sản phẩm luôn luôn thích ứngvới nhu cầu thị trường Nó không làm cho công việc của các nhà kỹ thuật, các nhàsản xuất, nhưng nó chỉ ra cho các bộ phận kỹ thuật sản xuất hậu cần mua và cungứng (sản xuất) gì, sản xuất như thế nào, sản xuất hậu cần kinh doanh với khối

Trang 6

lượng ra sao và bao giờ thì đưa nó vào thị trường Với chức năng này củamarketing có thể bao gồm marketing sản phẩm, nghiên cứu nhu cầu của thị trường

và gắn bó các hoạt động này chặt chẽ với nhau trong đó nghiên cứu thị trường phảichỉ ra cho các chuyên gia kỹ thuật, những nhà tổ chức sản xuất những định hướngđúng đắn về nghiên cứu và phát triển sản phẩm Ngược lại việc nghiên cứu và pháttriển sản phẩm có thể đưa đến những thay đổi đáng kể về nhu cầu và cơ cấu muasắm trên thị trường giúp cho doanh nghiệp trong khi đáp ứng tốt hơn nhu cầu củathị trường thì cũng thu được lợi nhuận nhiều hơn

- Chức năng phân phối:

Chức năng này bao gồm toàn bộ các hoạt động như tổ chức sự vận động tối

ưu sản phẩm hàng hoá từ sau khi nó kết thúc quá trình sản xuất đến khi nó đượctiếp cận những cửa hàng bán buôn hoặc bán lẻ và được giao trực tiếp cho ngườitiêu dùng Nó bao gồm các hoạt động chủ yếu sau:

+ Tìm hiểu những người tiêu thụ và lựa chọn những người tiêu thụ có khảnăng nhất

+ Hướng dẫn các khách hàng về thủ tục ký kết hợp đồng, đơn đặt hàng, chuẩn

bị các chứng từ vận tải, danh sách gửi hàng; các thủ tục hải quan, chỉ dẫn bao gói,

ký hiệu, mã hiệu và các thủ tục khác để sẵn sàng giao hàng

+ Tổ chức điều vận và hướng dẫn khách hàng về địa điểm, các thủ tục cầnthiết để thuê phương tiện vận chuyển với thời gian, điều kiện giao hàng và giácước vận tải phù hợp với đặc điểm của khách hàng và đạt chi phí thấp nhất

+ Tổ chức hệ thống kho tàng như các điểm nút của các kênh phân phối có khảnăng tiếp nhận và giải toả nhanh dòng hàng vào và ra

+ Tổ chức vấn đề bao gói vận chuyển hợp lý, chẳng hạn hàng hoá có thể đựngtrong các loại bao gói nào trong suốt quá trình vận chuyển

+ Tổ chức các hoạt động hỗ trợ và thông tin cho người tiêu thụ trong kênhphân phối Mạng lưới qui hoạch hàng hoá trong các gian thương mại và trên cácphương tiện bán hàng và quảng cáo

+ Phát hiện và xử lý kịp thời sự trì trệ, ách tắc và xung đột kênh phân phối cóthể diễn ra trong quá trình vận động của hàng hoá

- Chức năng tiêu thụ hàng hoá:

Trang 7

Đây là chức năng quan trọng nhất và cũng tế nhị nhất vì nó bao gồm toàn bộquan hệ giữa doanh nghiệp kinh doanh với thị trường dưới (thị trường tiêu thụ) của

nó và chức năng này thể hiện chất lượng vận hành các chức năng còn lại, mặt kháctiêu thụ hàng hoá cũng là giao tuyến của cung công ty và cầu thị trường với mụctiêu và khả năng chấp nhận giá mua bán Không nên đồng nhất tiêu thụ với hành vibán hàng cô lập Ở đây tiêu thụ được hiểu là một hoạt động có chủ đích qua đódoanh nghiệp thực hiện cung ứng và bán hàng hoá và dịch vụ của mình cho cáckhách hàng để tiêu dùng cho cá nhân hay sản xuất một cách gián tiếp qua các trunggian Về nội dung chức năng này bao gồm:

+ Nghiên cứu marketing với khách hàng

+ Tổ chức hoạt động hậu cần kinh doanh của doanh nghiệp

+ Ấn định và kiểm soát giá bán

+ Tổ chức quảng cáo và xúc tiến bán

+ Lựa chọn phương pháp, công nghệ và qui trình kỹ thuật thương lượng vàbán hàng

+ Quyết định sức bán và tổ chức lực lượng bán

+ Theo dõi và quản trị bán

+ Tổ chức dịch vụ thương mại trước, trong và sau khi bán

- Chức năng xúc tiến, hỗ trợ kinh doanh:

Thực hiện chức năng này, marketing có nhiều hoạt động phong phú, chính vìvậy mà nhiều người đã lầm lẫn coi marketing chỉ đơn thuần là quảng cáo, làkhuyếch trương, là tuyên truyền cho những cái ưu việt của hàng hoá, người lãnhđạo công ty phải biết rằng tuy các chức năng hỗ trợ rất quan trọng trong toàn bộhoạt động marketing nhưng nó không phải là tất cả do vậy phải biết giữ đúng liềulượng, mức độ nếu không chúng có thể trở nên mất tác dụng Thuộc chức năng nàymột bao gồm các hoạt động:

+ Điển hình hoá và phân loại sản phẩm

+ Quảng cáo thương mại

+ Xúc tiến bán hàng

+ Dịch vụ yểm trợ sản phẩm

Trang 8

+ Hội chợ.

+ Quan hệ với công luận và bạn hàng

+ Tổ chức tín dụng thương mại

+ Vận dụng các trung gian chức năng trong marketing phân phối

+ Tổ chức hệ thống thông tin thị trường

- Chức năng mạo hiểm (hay còn gọi là chức năng chấp nhận, kiểm soát và hạnchế rủi ro):

Mạo hiểm là một thuộc tính bản chất của quá trình marketing của một công tytrong cơ chế thị trường Ở đây mạo hiểm được định nghĩa là những mất mát, thiệthại có thể có do tác động của sự không chắc chắn từ kết quả kỳ vọng của thị trường

và các hoạt động kinh doanh Không nên đồng nhất khái niệm mạo hiểm và sựchắc chắn nhưng có thể có sự không chắc chắn người không có mạo hiểm Nhưvậy bản chất của mạo hiểm trong kinh doanh là sự không chắc chắn ở chất lượngcác quyết định marketing của doanh nghiệp, cùng những nhân tố gây nhiễu bênngoài như: có sự đột biến trong nhu cầu của thị trường, những hao hụt làm thiệt hạichất lượng và số lượng hàng hoá, sự xuất hiện sản phẩm mới làm thay đổi đườngđẳng trị cầu, các đối thủ cạnh tranh tấn công…

Nội dùng chức năng này bao gồm:

+ Lựa chọn ứng xử tăng cường thế lực và giải pháp kinh doanh an toàn

+ Xác lập nhiều giải pháp tình thế để chấp nhận và xử lý mạo hiểm

+ Xây dựng quỹ bảo hiểm và chấp hành quan hệ bảo hiểm thương mại

+ Chấp nhận và tăng cường chiến lược cạnh tranh

+ Chấp hành hoạt động trong giới hạn năng lực hành vi của doanh nghiệp.+ Lựa chọn tổ chức marketing có hiệu lực và chất lượng

+ Hoàn thiện công nghệ thông tin thị trường, tình báo kinh doanh

- Chức năng điều hoà, phối hợp:

Do các tương tác ngoại lai vốn có giữa marketing với những chức năng khác,marketing phải thực hiện sự điều hoà trong một tiếp cận hệ thống tổng hợp củatoàn doanh nghiệp Do vị trí và vai trò của nó, các nhà quản trị doanh nghiệp quan

Trang 9

tâm và liên kết chặt ché với khu vực marketing để kịp thời xử lý, điều hoà và thốngnhất động lực theo mục tiêu.

Nội dung của chức năng này bao gồm:

+ Điều hoà giữa các bộ phận chức năng của doanh nghiệp được thể hiện trênhai mặt:

Marketing điều hoà trật tự về tổ chức, nếu trong doanh nghiệp thực thi môhình tổ chức có định hướng sản xuất và vì vậy khu vực sản xuất sẽ là trung tâmđiều hoà các hoạt động khác, dẫn tới trong kết cấu tổ chức tồn tại tình trạng “côlập” giữa các bộ phận với nhau và với tổng thể thành các rào chắn mà nhà kinh tế

Mỹ P.Kotler gọi là “tổ chức kinh doanh kiểu cái hộp”

1.2.2 Nội dung và tiêu chí tổ chức marketing hữu hiệu ở doanh nghiệp thương mại

* Xác định mục tiêu, nhiệm vụ của marketing doanh nghiệp

Tổ chức marketing của doanh nghiệp là tập hợp những yếu tố, bộ phận chứcnăng tạo nên cấu trúc tổ chức, giữa chúng có mối quan hệ với nhau và được địnhhướng để thực hiện mục tiêu marketing của doanh nghiệp

Tổ chức marketing của doanh nghiệp bao gồm tổ chức hệ thống và tổ chứcnội bộ bộ phận marketing Bộ phận marketing của doanh nghiệp sẽ được tổ chứcthích ứng nhằm thực hiện tốt nhất các mục tiêu marketing

Mục tiêu marketing của các doanh nghiệp thương mại bao gồm:

- Thu được lợi nhuận tối ưu trên cơ sở thoả mãn có chất lượng và toàn diệnnhất nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ của khách àhng có sức mua chưa thoả mãntrên thị trường mục tiêu của công ty

- Môi trường kinh doanh là môi trường cạnh tranh mạo hiểm có nhiều rủi ronên mục tiêu thứ hai của marketing doanh nghiệp là phải an toàn

- Duy trì và tăng trưởng thế lực của công ty trên thị trường, nâng cao tínnhiệm với khách hàng

- Thoả mãn yêu cầu đa dạng của tập thể cán bộ, nhân viên công ty, tối ưu hoátính nhân bản và môi trường

Trang 10

Xuất phát từ tính chất và trình độ phân công lao động xã hội, từ đánh giá vị trícủa các doanh nghiệp thương mại trong kết cấu kênh phân phối - vận động hànghoá và yêu cầu marketing mục tiêu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp thươngmại trong thực tế có các nhóm chức năng tác nghiệp sau: nhóm các chức năngtrung gian, kết nối thương mại, nhóm các chức năng thương mại hàng hoá và nhómcác chức năng thương mại thị trường.

- Nhóm các chức năng trung gian kết nối thương mại, bao gồm các chức năngkết nối về không gian, về thời gian, chức năng giao tiếp phối thuộc, chức năngthông tin

+ Chức năng kết nối không gian: có quan hệ với việc khắc phục khoảng cáchkhông gian giữa các nơi sản xuất đến các nơi tiêu thụ - tức khoảng không gian từkhi khởi điểm và kết thúc kênh phân phối - vận động Tiến hành liên tục các hoạtđộng sản xuất và thương mại được liên kết sẽ tạo tiền đề kết nối thường xuyên, kịpthời và nhanh chóng khoảng cách không gian này

+ Chức năng kết nối về thời gian: có quan hệ mật thiết với phân phối - vậnđộng hàng hoá, đảm bảo tiếp cận kịp thời hàng hoá vào thị trường trong điều kiệntách biệt về mặt không gian giữa sản xuất và tiêu dùng

+ Chức năng giao tiếp - phối thuộc: là liên kết sắp xếp các mối liên hệ củacông ty với các bạn hàng và giữa các đơn vị doanh nghiệp của công ty hoạt độngtrên các địa điểm khác nhau của khu vực thị trường được cung ứng Dòng giao tiếpphối thuộc bao gồm tổ hợp các dòng hàng (dòng lưu chuyển danh nghĩa sở hữuhàng hoá, dòng vận động vật lý), dòng thông tin, dòng xúc tiến - khuyếch trương

và dòng thanh toán tài chính nhờ sự giúp đỡ của hoạt động hạch toán kế toán

+ Chức năng thông tin: được thực hiện trong mối liên hệ chức năng giao tiếpphối thuộc Chủ yếu trong bộ phận chuẩn bị cụ thể giơã người cung ứng và ngườitiêu thụ Nhờ nắm bắt được thông tin các bạn hàng kinh tế được định hướng vàomục tiêu hoạt động và chấp nhận những quyết định đối với quan hệ cụ thể Chứcnăng này được thực hiện chủ yếu là các phương tiện quảng cáo (bằng lời nói, phátthanh, truyền hình, ngôn ngữ…)

- Nhóm các chức năng thương mại hàng hoá bào gồm các chức năng hìnhthành dự trữ, chuyển hoá mặt hàng, bảo vệ và quản lý chất lượng hàng hoá, nghiêncứu và phát triển (R&D) mặt hàng mới

Trang 11

+ Chức năng hình thành dự trữ của các công ty thương mại xuất phát từ yêucầu khách quan của dự trữ hàng hoá trong phân phối - vận động hàng hoá để điềutiết và khắc phục những chênh lệch về không gian, thời gian nhịp độ, tính chất giữasản xuất và tiêu dùng hàng hoá, mặt khác còn xuất phát từ bản thân yêu cầu đảmbảo tính liên tục, cân đối, thống nhất và hiệu quả của công nghệ các dòng hàng.+ Chức năng chuyển hoá các mặt hàng: chức năng này xuất phát từ nhữngchênh lệch khác nhau giữa mặt hàng sản xuất và mặt hàng thương mại đồng bộ, từyêu cầu phân công lao động xã hội về mặt phạm vi mặt hàng, từ yêu cầu của hạchtoán kinh tế và phát triển trong cạnh tranh mặt hàng, thích ứng cao nhất với kết cấucác thành tố nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng Nội dung và phạm vi của chứcnăng này có liên quan đến các hoạt động mua và nhất là hoạt động kho thương mạibán buôn cùng các cơ sở doanh nghiệp thương mại phụ - bổ trợ ở các doanh nghiệpthương mại.

+ Chức năng bảo vệ và quản lý chất lượng hàng hoá: có liên quan đến quátrình tiếp tục sản xuất trong quá trình phân phối - vận động hàng hoá Chức năngnày yêu cầu kiểm tra và giữ gìn nguyên vẹn các thuộc tính chất lượng hàng hoá, hạthấp tối đa hao hụt chất lượng, phân loại, chỉnh lý bao gói lẻ định lượng, làm trọnbộ… để hàng hoá phù hợp nhất với kết cấu mua hàng của khách hàng

+ Chức năng nghiên cứu và phát triển mặt hàng mới: chức năng này đòi hỏiliên tục nghiên cứu, xúc tiến tiếp thị đa dạng hoá và đổi mới sản phẩm mặt hàng.Chức năng này có quan hệ mật thiết với quá trình nghiên cứu marketing sản phẩmmới, hoạch định đầu tư tiếp thị mặt hàng mới cùng các thủ pháp công nghệ xúctiến, chào hàng, chuẩn bị và thương mại hoá mặt hàng biến thể, mặt hàng cải tiến

và mặt hàng mới trên thị trường hiện hữu và thị trường mới

- Nhóm các chức năng thương mại thị trường:

+ Chức năng thực hiện: các doanh nghiệp thương mại kết thúc việc thực hiệnhàng hoá sẽ có ảnh hưởng mang tính bản chất đến kết quả cuối cùng của quá trìnhtái sản xuất mở rộng, giải phóng thực sự các chi phí bỏ ra trước và tạo điều kiệnvật chất cho quá trình tái sản xuất tiếp tục Các doanh nghiệp thương mại thực hiệnhàng hoá bằng chính cơ sở - kỹ thuật và tổ chức của mình, bằng vận dụng tối ưu

mô hình quản trị QTC (Quality, in Time, Costs) để đảm bảo sức cạnh tranh tổng

Ngày đăng: 26/10/2013, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Mô hình tổ chức bộ phận marketing theo chức năng - KHÁI NIỆM  THỰC CHẤT VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
Sơ đồ 1. Mô hình tổ chức bộ phận marketing theo chức năng (Trang 17)
Sơ đồ 2. Mô hình tổ chức bộ phận marketing theo khu vực địa lý - KHÁI NIỆM  THỰC CHẤT VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
Sơ đồ 2. Mô hình tổ chức bộ phận marketing theo khu vực địa lý (Trang 18)
Sơ đồ 3. Mô hình tổ chức bộ phận marketing theo yêu cầu quản lý sản phẩm thị trường - KHÁI NIỆM  THỰC CHẤT VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
Sơ đồ 3. Mô hình tổ chức bộ phận marketing theo yêu cầu quản lý sản phẩm thị trường (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w