Việc công bố thông tin CBTT của các DN niêm yết đang xem nhẹ, thông tin công bố không kịp thời cho người sử dụng và một điều đáng quan tâm là số liệu tài chính sau khi được kiểm toán là
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUY ỄN THỊ PHƯƠNG
Chuyên ngành: K ế toán
Mã s ố: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUY ỄN THỊ KIM CÚC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, các số liệu hoàn toàn trung thực và
k ết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ tài
li ệu nào
Tác gi ả
Trang 41 Danh m ục viết tắt tiếng Việt
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
Trang 5Ch ữ viết tắt Gi ải nghĩa tiếng Anh Gi ải nghĩa tiếng Việt IAS International accounting standards Chuẩn mực kế toán quốc tế
IASB
International Accounting Standards Board
Hội đồng chuẩn mực kế toán
nhận
Trang 6Danh m ục bảng
Bảng 2.1 Tổng hợp kỳ vọng tương quan của các biến độc lập với các
Bảng 2.2 Thxác định mức độ điều chỉnh lợi nhuận ống kê mô tả các biến trong mô hình Jones (1991) để 59
Bảng 2.3 Thống kê mô tả dữ liệu.biến mức độ CBTT, biến quản trị
lợi nhuận DA và các biến kiếm soát từ các mẫu được chọn 62 Bảng 2.4 Kết quả hồi quy định giả thuyết H1 63
Bảng 2.5 Kết quả hồi quy khi loại biến không phù hợp cho giả
Bảng 2.6 Kết quả hồi quy định giả thuyết H2 67
Bảng 2.7 Kết quả hồi quy khi loại biến không phù hợp cho giả
Danh m ục sơ đồ
Trang 7ỤC PHỤ LỤC
Ph ụ lục 1.1: Chỉ số đo lường mức độ CBTT- Chỉ số chất lượng
Ph ụ lục 2.1: Danh sách tổng thể 380 công ty niêm yết từ năm 2010 đến 2013
Ph ụ lục 2.2: Mẫu và các biến của nghiên cứu từ năm 2010 đến 2013
Ph ụ lục 2.3: Các chỉ mục trên thuyết minh BCTC để ghi mã
Trang 8TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang
PH ẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính c ấp thiết của đề tài: 1
2 Các nghiên c ứu liên quan 2
3 M ục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu: 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp mới của đề tài 6
7 B ố cục của luận văn: 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ QU ẢN TRỊ LỢI NHUẬN 8
1.1 NH ỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 8
1.1.1 M ột số khái niệm 8
1.1.2 Tầm quan trọng của CBTT trên thị trường chứng khoán 9
1.1.3 Phân loại CBTT 11
1.1.3.1 Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hay tự nguyện 11
1.1.3.2 Phân loại theo tính chất định kỳ hoặc bất thường 11
1.1.3.3 Phân loại thông tin theo mức độ xử lý 12
1.1.4 Yêu cầu CBTT 12
1.1.4.1 Yêu cầu về CBTT trong chuẩn mực kế toán 12
Trang 91.1.5 Nguyên tắc CBTT trên thị trường chứng khoán 14
1.1.5.1 Nguyên tắc chính xác, trung thực và đầy đủ: 14
1.1.5.2 Nguyên tắc kịp thời và liên tục 16
1.1.6 Đo lường mức độ CBTT của DN 16
1.1.6.1 Một số lý thuyết về đo lường mức độ CBTT 16
1.1.6.2 Các chỉ số đo lường mức độ CBTT 17
1.2 NH ỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 19
1.2.1 Khái niệm về quản trị lợi nhuận: 19
1.2.2 Cơ sở và mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận 21
1.2.3 Các hành vi về quản trị lợi nhuận 24
1.2.4 Các mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận trong các nghiên cứu thực nghiệm 32
1.2.5 Hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận thông qua chi phối các hoạt động kinh tế phát sinh 37
1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CBTT VÀ QUẢN TR Ị LỢI NHUẬN 38
1.3.1 Các lý thuyết nền tảng 38
1.3.2 Mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và thông tin bất cân xứng 40
1.3.3 Mối quan hệ giữa CBTT và thông tin bất cân xứng 41
1.3.4 Các nghiên cứu về mối quan hệ CBTT và quản trị lợi nhuận 42
CHƯƠNG 2: KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH V ỚI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM Y ẾT TẠI VIỆT NAM 45
2.1 Phát tri ển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề nghị 45
2.2 Quy trình nghiên c ứu 50
2.2.1 Giới thiệu tổng thể nghiên cứu và lựa chọn mẫu nghiên cứu 50
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu và kiểm định 52
2.2.2.1 Đo lường các biến nghiên cứu 52
2.2.2.1.1 Biến phụ thuộc: 52
Trang 102.3 K ết quả nghiên cứu 56
2.3.1 Kết quả về mức độ quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam 56 2.3.2 Kết quả về mối quan hệ giữa mức độ CBTT trên BCTC với quản trị lợi nhuận 58
2.3.3 Kết quả kiểm định giả thuyết H1 59
2.3.4 Giải thích ý nghĩa của mô hình và ý nghĩa các hệ số hồi quy 62
2.3.5 Kết quả kiểm định giả thuyết H2 64
2.3.6 Giải thích ý nghĩa của mô hình và ý nghĩa các hệ số hồi quy 66
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CBTT TRÊN BCTC VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHU ẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 71
3.1 Gi ải pháp đối với DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam 71
3.1.1 Xây dựng hội đồng kiểm toán nội bộ độc lập và đầy đủ quyền hạn 71
3.1.2 Bộ phận kế toán trong DN cần duy trì sự chủ động, khách quan khi quyết định ghi nhận các nghiệp vụ phát sinh 72
3.1.3 DN niêm yết nên công bố đầy đủ hơn một số chỉ tiêu “nhạy cảm” trên thuyết minh BCTC 73
3.1.4 Hoàn thiện cơ chế CBTT nội bộ và kênh thông tin qua website của DN 73
3.2 Đối với Ủy ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN) 74
3.2.1 Hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá mức độ CBTT 74
3.2.2 Xây dựng một hội đồng đánh giá xếp hạng chất lượng thông tin của các DN niêm yết 75
3.2.3 Thực hiện nghiêm khắc các biện pháp chế tài trong quy định về CBTT 75
3.3 Đối với nhà đầu tư, các cổ đông 76
3.4 Đối với kiểm toán viên và tổ chức kiểm toán độc lập: 77
K ết luận: 80
H ạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo: 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
TÀI LIỆU TIẾNG ANH
PHỤ LỤC
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp đang đứng trước nhiều cơ hội và thử thách khác nhau thì vấn đề nâng cao chất lượng thông tin công bố đặc biệt là thông tin lợi nhuận là vô cùng cần thiết để giúp các nhà đầu tư giảm được những chi phí trung gian, giảm thiểu rủi ro và đưa ra những quyết định đầu tư chính xác, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội huy động vốn và quảng bá doanh nghiệp, và hơn nữa là tăng khả năng cạnh tranh của thị trường chứng khoán Việt Nam trong quá trình hội nhập Để đạt được điều đó thì chất lượng thông tin của các doanh nghiệp nói chung và chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) nói riêng cần phải thể hiện tính tin cậy, kịp thời, chính xác, đầy đủ và nhất quán theo cách mà người sử dụng có thể tiếp cận một cách thuận lợi Trong bối cảnh đó, vấn đề quan tâm chính là chất lượng của thông tin được công bố
Với thị trường chứng khoán Việt Nam đã hoạt động gần 15 năm, tuy nhiên thông tin tài chính của các công ty niêm yết được trình bày và công bố thiếu sự minh bạch, chất lượng thông tin thiếu sự kiểm soát Việc công bố thông tin (CBTT) của các DN niêm yết đang xem nhẹ, thông tin công bố không kịp thời cho người sử dụng và một điều đáng quan tâm là số liệu tài chính sau khi được kiểm toán là một con số hoàn toàn khác so với trước khi kiểm toán trong đó xuất hiện hành vi quản trị lợi nhuận Những hành vi quản trị lợi nhuận theo mục đích của nhà quản lý có thể làm cho BCTC không còn phản ánh được bản chất của tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của DN Đối với quản trị lợi nhuận thông qua hành vi vận dụng sai các quy định kế toán thì nhà quản lý thường không thực hiện các công bố và trình bày đầy đủ các thông tin cần phải công bố trên BCTC (Đường Nguyễn Hưng- Tạp chí kế toán kiểm toán số 12/2013- Trang 17) Vậy
khi các nhà quản lý có động lực để quản trị lợi nhuận thì thông tin công bố cho nhà đầu
tư quan tâm liệu có còn đầy đủ và chất lượng nữa hay không, có mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận với mức độ CBTT trên BCTC hay không? Xuất phát từ ý tưởng trên nên tác
giả đã chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn “Kiểm định mối quan hệ giữa mức độ công
Trang 12bố thông tin trên báo cáo tài chính với quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam”
2 Các nghiên cứu liên quan
Nguyễn Thị Thanh Phương (2013) –Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh Bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp định lượng, dữ liệu là BCTC năm 2010
để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT bao gồm: tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành của DN, chức danh chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) và tổng giám đốc do một người đảm nhận, kích cỡ của HĐQT DN, ban kiểm soát, sở hữu của cổ đông nước ngoài, sở hữu nhà nước, quy mô DN, đòn bẩy tài chính, mức độ sinh lời, khả năng thanh toán, thời gian hoạt động, lĩnh vực hoạt động, tình hình niêm yết, kiểm toán độc lập, số công ty con Qua nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh gồm quy mô DN, mức sinh lời (Lợi nhuận/Doanh thu), Thời gian niêm yết, kiểm toán độc lập, tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài
Đinh Cẩm Vân (2013)-Hoàn thiện việc CBTT kế toán của các công ty bất động sản niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh Bài nghiên cứu sử
dụng phương pháp định tính và định lượng, dữ liệu là BCTC của 19 công ty thuộc lĩnh vực bất động sản của năm 2010-2011 Trong bài nghiên cứu tác giả đã đưa ra 9 biến ảnh hưởng đến mức động CBTT của các công ty trong lĩnh vực bất động sản bao gồm: Văn bản pháp luật về nội dung CBTT, văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm CBTT, chuẩn
mực kế toán, văn bản pháp luật liên quan đến ngành bất động sản, quy mô DN, tỷ lệ vốn
sỡ hữu của nhà nước, chủ thể kiểm toán, tỷ suất nợ, tỷ suất lợi nhuận Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT như sau: Văn bản pháp luật về nội dung CBTT càng hợp lý thì mức độ CBTT của công ty càng cao, Văn bản pháp luật về
xử phạt vi phạm CBTT càng có tính răn đe thì mức độ CBTT của các công ty càng cao Chuẩn mực kế toán Việt Nam càng hợp lý thì mức độ CBTT càng cao, Văn bản pháp luật liên quan đến ngành bất động sản có mối quan hệ thuận chiều với mức độ CBTT, các
Trang 13công ty bất động sản hoạt động có lợi nhuận cao thường CBTT tốt hơn để giúp người sử dụng có thể thu thập nhiều thông tin
Phạm Thị Thu Đông (2013) – Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các DN niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Bài
nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu các dữ liệu qua thời gian, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, sử dụng mô hình nghiên cứu thông qua mẫu được lựa chọn là BCTC năm 2012 của 80 DN niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Bài nghiên cứu đã đưa ra 7 nhân tố ảnh hường đến mức độ CBTT bao gồm: quy mô DN, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ, chủ thể kiểm toán, tài sản cố định, thời gian hoạt động của DN, khả năng thanh toán Kết quả nghiên cứu cho thấy có 2 nhân tố là khả năng sinh lời và tài sản cố định có mối quan hệ đồng biến tới mức độ CBTT của các DN niêm yết trên sở chứ khoán
Hà Nội
Từ ba nghiên cứu cho thấy có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới mức độ CBTT Ở khu vực khác nhau và đi sâu vào khảo sát thực nghiệm trong một ngành thì có những nhân tố ảnh hưởng khác nhau, nhưng cả 3 nghiên cứu đều chỉ ra rằng khả năng sinh lời hay tỷ suất lợi nhuận là nhân tố chung có mối quan hệ đồng biến đến mức độ CBTT của các DN
niêm yết Vậy liệu rằng có mối quan hệ giữa mức độ CBTT với quản trị lợi nhuận không? Đây là hướng để đề tài tiếp tục phát triển và khảo sát
Huỳnh Thị Vân (2012)- Nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Bài nghiên cứu sử
dụng phương pháp định tính là số liệu trên BCTC năm 2008-2010 của các DN năm đầu niêm yết trên 2 sàn chứng khoán TP Hồ Chính Minh và Hà Nội dựa trên 2 mô hình được
lựa chọn là Mô hình DeAngelo (1986) và Mô hình Friedlan (1994) Tác giả đã đưa ra 3
nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận đối với những DN niêm yết gồm năm đầu niêm yết trên sàn chứng khoán, ưu đãi thuế, quy mô DN Qua khảo sát kết quả cho thấy rằng phần lớn các tổ chức niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán, điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết quan
hệ thuận chiều với điều kiện ưu đãi thuế TNDN mà DN được hưởng Qua đó tác giả cũng đưa ra các kiến nghị về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC trong đó nhấn
mạnh vấn đề CBTT
Trang 14 Nguyễn Thị Minh Trang (2011- Tạp chí nghiên cứu khoa học)- Kỹ thuật quản trị lợi nhuận của nhà quản lý ( NQL) Bài báo đã trình bày một cách tổng quát về các kỹ
thuật như lựa chọn phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản… mà các NQL có thể vận dụng để quản trị lợi nhuận theo ý muốn chủ quan, đồng thời đưa ra một vài ý kiến về tính trung thực của công tin kế toán và yêu cầu công bố để tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các đối tượng kiểm tra chất lượng nguồn thông tin từ đó đưa ra quyết định đúng đắn Bài nghiên cứu chấp nhận rằng quản trị lợi nhuận luôn có mối quan
hệ với việc CBTT nhưng chưa thực hiện kiểm tra thực nghiệm
Disclosure quality and earnings management (2001)- Gerald J Lobo, and Jian Zhou Bài nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa chất lượng thông tin công bố và quản trị lợi nhuận Bài nghiên cứu đã sử dụng số liệu trên BCTC của 2531 công ty giai đoạn 1990-1995, và sử dụng mô hình Dechow, Sloan and Sweeny (1995) để đo lường quản trị lợi nhuận Từ đó tác giả xây dựng mô hình để đo lường mối quan hệ giữa chất lượng CBTT và quản trị lợi nhuận Kết quả cho thấy chất lượng CBTT và quản trị lợi nhuận có
mối quan hệ nghịch biến
Information disclosure quality and Earnings Management Evidence from Tehran
Stock Exchange (2013)- Fereydoun Ohadi, Tahmineh Shamsjahan Bài nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa chất lượng công bố thông tin và quản trị lợi nhuận từ thị trường chứng khoán Tehran Mẫu nghiên cứu là 74 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehhran giai đoạn 2005 đến 2010 Tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy như Logistics để thực hiện kiểm định giả thuyết, kết quả cho thấy rằng chỉ số tài chính của các công ty có mức độ công bố thông tin cao hơn thì rất khác biệt so với những công ty công bố thông tin ít, đồng thời những công ty ít sử dụng biến dồn tích có điều chỉnh thì
khả năng quản trị lợi nhuận cũng thấp hơn những công ty còn lại
Tóm lại qua các nghiên cứu trước đây, tác giả nhận ra rằng thông tin công bố và quản trị lợi nhuận có mối quan hệ với nhau, nhưng vẫn chưa được nghiên cứu thực nghiệm cho các công ty niêm yết tại Việt Nam để xác định được mối quan hệ này Đây là hướng nghiên cứu mà đề tài sẽ phát triển và có thể so sánh với các nghiên cứu ở các quốc gia khác
Trang 153 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu:
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chung:
Xác định được mối quan hệ giữa mức độ CBTT trên BCTC với quản trị lợi nhuận
Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống cơ sở lý luận về mức độ CBTT và quản trị lợi nhuận
Đo lường mối quan hệ giữa mức độ CBTT trên BCTC với quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị đối với vấn đề nâng cao chất lượng thông tin công bố nhằm giảm mức độ quản trị lợi nhuận theo hướng tiêu cực
3.2 Câu hỏi nghiên cứu:
Để đáp ứng mục tiêu cụ thể đã đưa ra, câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết như sau:
- Chỉ số nào để đo lường mức độ CBTT và mức độ quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam
- Đối với các công ty niêm yết tại Việt Nam, mức độ CBTT và quản trị lợi nhuận có mối quan hệ như thế nào?
- Có các giải pháp nào khi xác đinh được mối quan hệ giữa mức độ CBTT và quản trị lợi nhuận?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Mối quan hệ giữa mức độ thông tin công bố và quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Trang 162010 đến 2013 và không bao gồm những công ty tài chính, ngân hàng, công ty chứng khoán
- Trong đó mức độ CBTT chỉ sử dụng chỉ số số lượng mà không sử dụng chỉ số chất lượng và chỉ số phạm vi
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định tính kết hợp với phân tích định lượng Tổng quan về CBTT và quản trị lợi nhuận thông qua phân tích định tính để đưa ra cái nhìn khái quát về mối quan hệ giữa hai đối tượng này Đồng thời, sử dụng phương pháp định lượng và sử dụng mô hình phân tích hồi quy dữ liệu bảng từ những mô hình đưa ra dựa trên cơ sở lý thuyết được chọn phù hợp với tình hình tại Việt Nam để khảo sát mối quan hệ giữa mức độ CBTT và quản trị lợi nhuận theo số liệu trên BCTC của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
6 Đóng góp mới của đề tài
Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học cũng như thực tiễn:
Về mặt khoa học: Thông qua đề tài tác giả đã hệ thống hóa được hệ thống
lý thuyết về CBTT và quản trị lợi nhuận, tìm hiểu được mối quan hệ giữa CBTT và quản trị lợi nhuận, tính cấp thiết trong việc nâng cao chất lượng của CBTT nhằm hạn chế hành
vi quản trị lợi nhuận
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng về việc sử dụng quản trị lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu của DN và mối quan hệ với việc CBTT của các
DN Từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên sàn chứng khoán
Việt Nam nhằm giảm thiểu mức độ quản trị lợi nhuận, giúp các đối tượng kiểm tra chất lượng nguồn thông tin từ đó đưa ra quyết định đúng đắn Đồng thời giúp cho thị trường
chứng khoán Việt Nam ngày càng minh bạch thông tin và phát triển
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa mức độ CBTT và quản trị lợi nhuận
Trang 17Chương 2: Khảo sát thực nghiệm tại các công ty niêm yết ở Việt Nam về mối quan hệ
giữa mức độ công bố thông tin trên BCTC với quản trị lợi nhuận
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện CBTT trên BCTC và hạn chế quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN
Để xác định được mối quan hệ giữa mức độ CBTT và quản trị lợi nhuận dựa trên
cơ sở lý thuyết, cần phải xây dựng cơ sở lý luận của hai đối tượng đó là mức độ công bố thông tin và quản trị lợi nhuận Từ hai cơ sở này đi tới một điểm chung đó là mối quan hệ giữa chúng Trong toàn chương 1 tác giả sẽ đưa ra những vấn đề cơ bản về công bố thông tin và quản trị lợi nhuận và cuối cùng là khẳng định mối quan hệ giữa mức độ CBTT và quản trị lợi nhuận
1.1.1 Một số khái niệm
Khái niệm về CBTT, mức độ CBTT
Theo Owusu-Ansah (1998) CBTT là quá trình cung cấp các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, vị thế và triển vọng phát triển của đơn vị, đặc biệt là các khoản mục được xác định bằng tiền cho các bên có quan tâm và có lợi ích liên quan đến đơn
vị
Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể
tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời
Từ khái niệm về CBTT, theo nhận định của tác giả trong luận văn này mức độ CBTT được hiểu như sau:
Mức độ CBTT là bậc gần hay xa so với tiêu chuẩn của CBTT, trong đó tiêu chuẩn của CBTT chính là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, công bố các thông tin liên quan đến tính hình tài chính, vị thế , triển vọng phát triển của đơn vị để thực hiện quy trình minh bạch của DN
Khái niệm về thông tin trên BCTC và CBTT tài chính
Thông tin trên BCTC là thông tin có được thông qua BCTC (như thông tin về doanh thu, lợi nhuận, các khoản phải thu, phải trả…) do DN cung cấp và chủ yếu thu thập từ bộ phận kế toán thông qua các BCTC gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết
Trang 19quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh trên BCTC
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vì thông tin trên BCTC là kết quả của quá trình tạo lập và công bố trên BCTC, sản phẩm của công tác kế toán, do vậy hai cụm từ
“thông tin trên BCTC” và “ thông tin kế toán” là tương đồng
CBTT kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các BCTC của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên)1
Chúng ta thấy rằng những thông tin về nguồn lực của DN thường được trình bày trong các BCTC CBTT là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc công bố hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa DN và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài DN Những người có lợi ích liên quan đến DN sẽ sử dụng thông tin từ các báo tài chính để ra quyết định Theo IASB thì người có lợi ích này
có thể phân loại như sau: cổ đông và cổ đông tiềm năng, nhân viên, chủ nợ, nhà cung cấp, khách hàng, chính phủ và công chúng Mỗi một nhóm khi sử dụng BCTC thì họ có những yêu cầu thông tin khác nhau, rất là khó để có một BCTC mà có thể đáp ứng yêu cầu cho tất cả nhóm trên Và khi đó, cổ đông được xem như là một nhóm quan trọng hơn các nhóm còn lại vì họ chính là người cung cấp vốn cho công ty hoạt động Vì vậy, BCTC nên trình bày những thông tin sao cho đáp ứng được mong đợi ở mức trung bình của các nhóm trên, tuy nhiên tập trung chủ yếu vào cổ đông Nhu cầu thông tin mà cổ đông chủ yếu quan tâm về BCTC chính là sự minh bạch thông tin Do đó để đảm bảo cho thị trường hoạt động hiệu quả thì thông tin công bố của các DN phải thực hiện một cách công khai , minh bạch Nguyên tắc công khai được hiểu như thông tin cung cấp : thích hợp, đáng tin cậy, có thể so sánh được và có thể hiểu được
1.1.2 Tầm quan trọng của CBTT trên thị trường chứng khoán
CBTT được xem là nền tảng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán, kết quả dịch chuyển nguồn vốn trong DN, tình hình sản xuất kinh doanh của các tổ chức niêm yết, mức cổ tức được chia trong kỳ và các thông tin khác trong BCTC chính là yếu tố
1 Thực trạng và giải pháp của vấn đề công bố thông tin của các DN niêm yết ở Việt Nam, Đặng Thị Thúy Hằng
Trang 20củng cố niềm tin của nhà đầu tư, cổ đông cũng như đối tác khác của DN Đó chính là chìa khóa cho sự thành công và phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Có thể nói CBTT là ngôn ngữ giao tiếp giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư bên ngoài Việc công bố thông tin có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các chủ thể sau:
- Đối với nhà đầu tư: Việc tìm hiểu một cách chủ ý cũng như tiếp cận thông tin từ
DN là phương tiện tốt nhất để thực hiện đầu tư hiệu quả Công ty niêm yết cung cấp thông tin qua các BCTC định kỳ và đột xuất giúp nhà đầu tư nắm bắt được thời cơ kinh doanh cũng như xây dựng một danh mục đầu tư phù hợp Đây là vấn đề đáng quan tâm nhằm giảm bớt sự bất cân xứng về thông tin
- Đối với nhà quản lý thị trường (Uỷ ban chứng khoán (UBCK), Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK)): Thông tin từ công ty niêm yết giúp nhà quản lý thị trường có thể đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết, từ đó có thể điều chỉnh hoạt động của họ như cho phép niêm yết, hủy bỏ niêm yết hay tái niêm yết, và cũng là căn cứ để đưa ra quyết định khen thưởng hay xử lý vi phạm một cách công bằng
và hợp lý
- Đối với bản thân các công ty niêm yết: Việc CBTT thể hiện trên BCTC hay những thông tin khác đã phản ánh trung thực hiệu quả hoạt động của công ty Nó là một phương tiện quảng bá tốt nhất, khách quan nhất về hình ảnh, thương hiệu, uy tín của công
ty trên thương trường và mang lại một mức giá cao xứng đáng cho cổ phiếu của họ, tạo được lòng tin đối với nhà đầu tư Còn nếu kinh doanh không hiệu quả, thì công ty phải chịu thiệt hại do giá cổ phiếu đi xuống Nhưng điều này lại có mặt tích cực của nó, các thông tin trung thực sẽ là động lực giúp các công ty hoàn thiện chế độ quản trị, tìm ra phương án tốt nhất phát triển thương hiệu của mình
- Duy trì mối quan hệ chủ sở hữu và nhà quản lý: Do có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người đại diện hay tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, nên về mặt lý thuyết và thực tế đã xuất hiện vấn đề khi một người hoạt động vì lợi ích của người khác, thì về bản chất người đại diện công ty luôn có xu hướng tư lợi cho họ hơn là hành động vì người chủ sở hữu và các cổ đông Nguyên nhân của hiện tượng trên là do có sự tách biệt
Trang 21giữa quyền sở hữu và quyền điều hành đã tạo ra thông tin không cân xứng (asymestric information), người điều hành (đại diện) có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng rất tốn kém, khó khăn, phức tạp Vậy nên CBTT nói chung và thông tin kế toán nói riêng được sử dụng để giám sát hoạt động của nhà quản lý, đây là cầu nối là ngôn ngữ giao tiếp của nhà quản lý và các cổ đông
Ở nhiều nước trên thế giới, việc CBTT đã trở thành một thứ văn hóa trong kinh doanh, vì cổ đông và những người có quyền lợi liên quan đến công ty cần được cung cấp thông tin kịp thời và chính xác về tình hình của công ty Những thông tin này phải đáng tin cậy và phải được phổ biến rộng rải cho công chúng một các kịp thời và công bằng Đó
là điều kiện để người sử dụng thông tin ra quyết định đúng đắn về công ty Vì vậy thị
trường chứng khoán là nơi thực hiện sự đánh giá của xã hội đối với giá trị công ty
1.1.3 Phân loại CBTT
1.1.3.1 Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hay tự nguyện
CBTT bắt buộc: là những CBTT được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của luật kinh doanh, Ủy ban chứng khoán, các cơ quan quản lý về kế toán, GAAPs và các chuẩn mực kế toán
CBTT tự nguyện là sự lựa chọn của DN, không bắt buộc Có nghĩa là một công
ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin mà pháp luật không yêu cầu nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài DN
1.1.3.2 Phân loại theo tính chất định kỳ hoặc bất thường
Các loại thông tin công bố định kỳ thường là BCTC năm, BCTC bán niên kèm theo báo cáo kiểm toán, BCTC quý Nội dung CBTT về BCTC của các công ty niêm yết bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bản thuyết minh BCTC theo quy định của pháp luật về kế toán
Các loại thông tin công bố bất thường: Bao gồm CBTT bất thường theo quy định
Trang 22như tài khoản công ty tại ngân hàng bị phong tỏa, tổn thất tài sản có giá trị 10% vốn chủ sở hữu trở lên…
1.1.3.3 Phân loại thông tin theo mức độ xử lý
Thông tin ban đầu: Là những BCTC do DN công bố trên thị trường
Thông tin đã được xử lý: Là những thông tin đã được thống kê lại từ những thông tin ban đầu nhằm nhiều mục đích sử dụng khác nhau
1.1.4 Yêu cầu CBTT
Yêu cầu CBTT được quy định rõ trong chuẩn mực kế toán của Việt Nam và trong các văn bản pháp lý về CBTT dành cho các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nội dung dưới đây được rút ra từ yêu cầu chung của chuẩn mực kế toán và của thông tư hướng dẫn về CBTT theo văn bản pháp lý của Việt Nam
1.1.4.1 Yêu cầu về CBTT trong chuẩn mực kế toán
Theo chuẩn mực kế toán VAS 01- Chuẩn mực chung, thông tin kế toán cần được trình bày trung thực và khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và tính có thể so sánh được
Thể hiện tính trung thực là các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Khách quan là các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo
Đầy đủ là mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót
Kịp thời là các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ
Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề
Trang 23phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh
Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một DN
và giữa các DN chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng BCTC
có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các DN hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch
Theo chuẩn mực kế toán số 21- Trình bày BCTC quy định và hướng dẫn các yêu cầu và nguyên tắc chung để lập và trình bày BCTC trong đó có yêu cầu: BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của DN Đồng thời DN phải trình bày BCTC theo đúng quy định tại Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006
1.1.4.2 Yêu cầu CBTT của các DN niêm yết
Hiện nay, yêu cầu CBTT phải được tuân thủ theo Thông tư số 52/2012/TT-BTC (có hiệu lực từ ngày 1/06/2012) hướng dẫn về việc CBTT nhằm giải quyết một số hạn chế của thông tư 09/2010/TT-BTC và các thông tư trước đó Do thời gian nghiên cứu của đề tài từ năm 2010-2013 nên cơ sở lý thuyết về yêu cầu CBTT vẫn được tác giả sử
dụng thông tư 09/2010/TT-BTC và Thông tư số 52/2012/TT-BTC
Theo thông tư 09/2010/TT-BTC việc CBTT tài chính phải tuân thủ theo:
Để CBTT tài chính phải lập trang thông tin điện tử với đầy đủ các chuyên mục về quan hệ cổ đông, trong đó phải có điều lệ công ty, quy chế quản trị nội bộ, báo cáo thường niên, BCTC định kỳ phải công bố theo quy định và các vấn đề liên quan đến kỳ họp Đại hội đồng cổ đông
Việc CBTT tài chính, tổ chức niêm yết phải công bố BCTC năm đã được kiểm toán, BCTC bán niên (6 tháng) đã được soát xét bởi tổ chức kiểm toán Các tổ chức niêm yết phải báo cáo giải trình khi cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 10 phiên liên tiếp; hoặc tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp mà không theo xu thế chung của thị trường, thay vì các tổ chức niêm yết phải giải trình khi cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp như trước đây
Trang 24Theo thông tư 52/2012/TT-BTC việc CBTT tài chính có thay đổi một số điểm sau:
Thông tư 52 bỏ quy định khi giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp mà không theo xu hướng chung của thị trường thì tổ chức niêm yết phải công bố các
sự kiện liên quan có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu Chỉ có công ty niêm yết và công ty đại chúng có quy mô lớn (vốn điều lệ thực góp từ 120 tỷ đồng trở lên, có số lượng cổ đông không thấp hơn 300 cổ đông) mới phải CBTT bất thường khi giá cổ phiếu niêm yết tăng trần hoặc giảm sàn từ 10 phiên liên tiếp trở lên
Với thông tin nghiêm trọng, các DN CBTT hoặc đính chính thông tin trong vòng
24 giờ kể từ khi nhận được thông tin hoặc theo yêu cầu từ ủy ban chứng khoán
Đối với các BCTC kiểm toán năm, thời gian tối đa để DN công bố được rút ngắn,
từ 100 ngày kể từ ngày kết thúc niên độ xuống 90 ngày Đối với BCTC bán niên, thời gian nộp BCTC soát xét là 45 ngày Yêu cầu CBTT bắt buộc theo TT 09/2010/TT-BTC
và TT 52/2012/TT-BTC được thể hiện ở phụ lục 1.1
1.1.5 Nguyên tắc CBTT trên thị trường chứng khoán
Nguyên tắc CBTT trên thị trường chứng khoán được quan tâm nhất đó là sự minh bạch thông tin Minh bạch thông tin được xem là nhân tố quan trọng nhất giúp thị trường chứng khoán phát triển Với tư cách là chủ sở hữu của DN, cổ đông của công ty hoàn toàn được quyền biết rõ tình trạng DN của mình Minh bạch thông tin được thể hiện qua các khía cạnh: nguyên tắc chính xác, trung thực, đầy đủ, kịp thời, liên tục và công bằng
1.1.5.1 Nguyên tắc chính xác, trung thực và đầy đủ:
Đây là yêu cầu cơ bản đầu tiên của việc CBTT Theo điều 9 luật chứng khoán số 70/2006/QH 11 quy định các hành vi bị cấm như sau: “Trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi gian lận, lừa đảo, tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc bỏ sót thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Trang 25- CBTT sai lệch nhằm lôi kéo, xúi giục mua, bán chứng khoán hoặc CBTT không kịp thời, đầy đủ về các sự việc xảy ra có ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán trên thị trường
- Sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán cho chính mình hoặc cho người khác; tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho người khác mua, bán chứng khoán trên cơ sở thông tin nội bộ”
Từ quy định của luật và tăng hiệu quả hoạt động của thị trường vốn, đòi hỏi các tổ chức khi tham gia thị trường thực hiện CBTT phải tôn trọng tính vốn có của thông tin, không được xuyên tạc, bóp méo thông tin công bố hoặc có những hành vi cố ý gây hiểu nhầm thông tin CBTT là một vấn đề cơ bản đảm bảo sự công bằng trong việc hình thành giá cổ phiếu Về nguyên tắc, các chủ thể có nghĩa vụ CBTT phải cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin quan trọng về DN một cách đầy đủ nhất để từ đó nhà đầu tư có thể đưa
ra quyết định đầu tư chính xác Chính vì thế sự đầy đủ của thông tin trong BCTC của các
DN niêm yết trình bày đầy đủ là điều trước tiên mà nhà đầu tư, cổ đông, ngân hàng quan tâm Qua những số liệu được trình bày đầy đủ mà các đối tượng sử dụng thông tin công
bố có thể dễ dàng nhận thấy, phân tích, đánh giá được tình hình tài chính cũng như triển
vọng trong tương lai
Thực tế cho thấy, các chủ thể CBTT thường có sự mâu thuẫn về lợi ích với nhà đầu tư về mặt CBTT Đặc biệt các tổ chức niêm yết thường không muốn tiết lộ các thông tin bí mật của ban quản trị, chiến lược kế hoạch kinh doanh, lợi nhuận vì sợ đối thủ cạnh tranh sẽ sử dụng thông tin này để cạnh tranh không lành mạnh gây những nguy hại Ví dụ như thông tin về phát triển sản phẩm được tiết lộ bởi một công ty có thể được sử dụng cho lợi ích của một đối thủ cạnh tranh (Verrecchia, 1983) Hơn nữa, chi phí vụ kiện có thể xảy ra khi một công ty bị kiện liên quan đến CBTT của mình nếu các thông tin sau đó hóa ra là sai lầm (Skinner, 1998) Ngược lại các nhà đầu tư lại muốn biết các thông tin này càng nhiều càng tốt Những thông tin sai lệch hoặc không chính xác sẽ gây hiểu
nhầm cho nhà đầu tư Do đó, một quyết định để cung cấp thêm thông tin cho công chúng,
về mặt lý thuyết, nên được dựa trên một phân tích chi phí-lợi ích mặc dù dự toán chi tiết của tất cả các chi phí và lợi ích là khó khăn (Healy và Palepu,1993)
Trang 261.1.5.2 Nguy ên tắc kịp thời và liên tục
Sự minh bạch thông tin là công bố kịp thời và đầy đủ Điều này có nghĩa thông tin được công bố tức thời, ngay lập tức khi có các tài liệu được công bố tức là CBTT càng sớm càng tốt Đối với CBTT định kỳ được quy định trong luật chứng khoán và các thông
tư quy định về CBTT, chẳng hạn như BCTC quý, năm Những thông tin này đôi khi đi kèm cả những báo cáo về các cuộc họp, thảo luận, nhận định, phân tích tình hình của ban lãnh đạo công ty, do vậy những thông tin này phải được công bố, tuân thủ về mặt thời gian và không được để gián đoạn Việc CBTT kịp thời sẽ giúp tránh gây hiểu nhầm cho nhà đầu tư Nếu các thông tin không được cung cấp kịp thời thị trường sẽ bị ảnh hưởng bởi tin đồn và điều này sẽ làm sai lệch sự hình thành giá cổ phiếu, và có thể làm tăng các
vi phạm về giao dịch nội gián có thể xảy ra Với ý nghĩa đó, việc CBTT đúng hạn đóng vai trò quan trọng thể hiện sự khách quan trong CBTT
1.1.6 Đo lường mức độ CBTT của DN
1.1.6.1 Một số lý thuyết về đo lường mức độ CBTT
Theo các nghiên cứu trước chưa có sự đồng thuận về việc thiết kế tốt nhất các chỉ
số để đo lường CBTT Đến nghiên cứu của Fracisco, Maria và Marco (2010), tác giả cho rằng có 3 chỉ số để đo lường mức độ CBTT2
2 Francisco Bravo Urquiza, María Cristina Abad Navarro and Marco Trombetta, Disclosure theories and disclosure measures, 401-403pp
Trang 27Theo Marston (1991), một cách đo lường thông tin là đếm tất cả các mục dữ liệu, như số lượng hoặc các từ hoặc câu trong BCTC hàng năm Số lượng câu tiết lộ thông tin nhiều hơn không nhất thiết ngụ ý mức độ CBTT có chất lượng hơn
Để phục vụ cho chương nghiên cứu thực nghiệm, tác giả sẽ tìm hiểu chi tiết các chỉ số được phát hiện trong nghiên cứu của Fracisco, Maria và Marco (2010), chi tiết hơn tác giả chỉ đi sâu vào chỉ số số lượng
- Độ bao phủ và độ phân tán được kết hợp tạo ra độ giàu của thông tin Theo giả thiết số chủ đề được công bố cao hơn từ đó sẽ tăng độ rộng từ đó tăng độ giàu của thông tin Đồng thời, số lượng thông tin cung cấp ở mỗi chủ đề càng cao thì chất lượng thông tin sẽ càng cao (tính phân tán cao hơn) Vì phương diện độ bao phủ (COV) được xây dựng trên những cách tương tự như hầu hết các chỉ số được chấp nhận trong các nghiên cứu lý thuyết trước đó, sự đo lường này cũng được kiểm tra một cách độc lập, để mở rộng sự so sánh các chỉ số khác
Độ sâu (DEP) phụ thuộc vào loại đo lường được sử dụng trong một đơn vị thông tin (MRS), trong mối liên hệ của các dấu hiệu kinh tế của các mục được công bố (ES)
và trong quan điểm tóm tắt sơ lược của thông tin được công bố (OLT) Các câu chứa thông tin về phương pháp đo lường và dấu hiệu kinh tế, cũng như thông tin về các hành động, các chương trình hay bất kỳ thông tin nào cũng hữu dụng cho việc dự báo phải đóng góp chất lượng công bố của các công ty trên toàn cầu Vì thế những đặc trưng này được mong đợi để tăng độ giàu của thông tin
Trang 28Chi tiết nội dung về chỉ số chất lượng được tác giả thể hiện ở phụ lục 1.2
b) Chỉ số phạm vi
Chỉ số phạm vi (SCI) là một chỉ số tự xây dựng, nó tương tự với các chỉ số đã được chấp nhận trong các nghiên cứu lý thuyết trước đó Dựa theo một danh sách các khoản mục, chỉ số được tính bằng cách chia số thông tin hiện hành được công bố Danh sách này được chọn dựa trên sự hướng dẫn của các chuyên gia và kế hoạch phân loại được đề xuất bởi Robb, Single và Zarzeski (2001) Nơi mà thông tin hiện hành được chia thành 3 nhóm : bối cảnh phối hợp, môi trường và các chiến lược Từ đây, sáu loại thông tin hiện hành được xem xét
+ Môi trường (các văn bản luật, điều kiện tự nhiên, hệ thống kinh tế
+ Sự phát triển của công ty (vị trí trong thị trường, thu nhập của công ty)
+ Mục tiêu, chiến lược và chính sách kinh doanh
+ Thông tin về đầu tư trong tương lai
+ Tổ chức và cấu trúc hợp nhất
Chỉ số phạm vi không phải là một chỉ số được cân đo, tầm quan trọng của mỗi thành tố (6 thành tố đã nêu) là như nhau Sự chấm câu cho mỗi mục thông tin là 0- nếu không phải là thông tin hiện hành; 0.5 nếu thông tin mang tính tường thuật và 1 nếu thông tin định lượng
c) Chỉ số số lượng
Chỉ số số lượng (QNI) được thiết kế để đo lường số lượng thông tin được công
bố bởi công ty, nhắm vào chỉ số đơn vị (số câu) thông tin hiện hành Mỗi câu thông tin sẽ được xem xét Nó là một chỉ số đơn giản chỉ nắm bắt số lượng tuyệt đối của công bố Chỉ số này được chuẩn hóa để làm cho nó liên quan với mẫu, được tính như sau:
Trang 29QNIi = ½ (FLi- Min) / (Max –Min)
Với : FLi là số câu thông tin được công bố bởi công ty i
Max là số câu lớn nhất của thông tin hiện hành được công bố trong mẫu
Min là số câu ít nhất của thông tin hiện hành được công bố trong mẫu
Chỉ số số lượng cũng được xếp hạng từ 0 đến 1
Trên đây là phương pháp đo lường mức độ CBTT cả về số lượng và chất lượng
mà tác giả đã tham khảo trong những nghiên cứu trước Nhưng trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ sử dụng chỉ số số lượng để đo lường mức độ CBTT
Trong nghiên cứu này tác giả chọn cách ghi nhận theo phương pháp không lượng hóa để tính chỉ số CBTT Trong trường hợp này, điều quan trọng là thông tin có được công bố trên BCTC hay không, cụ thể là trên thuyết minh BCTC Nếu một đầu mục thông tin được công bố sẽ được mã hóa nhận giá trị là 1, nếu không công bố sẽ nhận giá trị là 0 Như vậy, chỉ số công bố của công ty sẽ được tính như sau:
V ới:
Ij: Chỉ số CBTT của công ty j, 0≤Ij≤1;
d = 1 nếu mục thông tin i được công bố, = 0 nếu mục thông tin i không được công
bố
n = số lượng mục thông tin mà công ty có thể công bố
1 2.1 Khái niệm về quản trị lợi nhuận:
Theo Schipper (1989) Hành vi quản trị lợi nhuận là hành vi có mục đích đối với quy trình lập và trình bày BCTC nhằm đạt được lợi ích cá nhân
Theo Healy và Wahlen (1999) thì hành vi quản trị lợi nhuận xuất hiện khi nhà quản trị dùng xét đoán trên BCTC và trong cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế nhằm làm thay
Trang 30đổi BCTC để gây hiểu lầm cho một số đối tượng liên quan về thực trạng kinh tế của DN hoặc nhằm tác động đến kết quả của các hợp đồng kinh tế mà chúng dựa trên số liệu kế toán
Theo Ronen và Yaari (2008) cung cấp định nghĩa đầy đủ hơn về hành vi quản trị lợi nhuận như sau: Hành vi quản trị lợi nhuận là một tập hợp các quyết định quản lý mà kết quả không phản ánh đúng thu nhập thực trong ngắn hạn, có tính chất tối đa hóa giá trị
DN mà nhà quản lý đã biết về chúng
Hay theo Đường Nguyễn Hưng (2013) hành vi quản trị lợi nhuận là hành động quản trị lợi nhuận kế toán của NQL DN nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua việc sử dụng các công cụ của kế toán3
Từ đó ta nhận thấy quản trị lợi nhuận là hành động có mục đích của NQL bằng cách sử dụng các hình thức chi phối thu nhập như lựa chọn chính sách kế toán hay thông qua thực hiện các nghiệp vụ kinh tế, sử dụng các hành động quản lý nhằm mục đích gây hiểu nhầm khi cung cấp thông tin cho người sử dụng để đạt được lợi ích gì đó
Ở đây cần làm rõ bản chất của hành vi quản trị lợi nhuận Người quản lý được quyền vận dụng các xét đoán chủ quan của mình trong việc lựa chọn chính sách và thực hiện các ước tính để phản ánh một cách đúng đắn hơn bản chất kinh tế của thực trạng tài chính và kết quả hoạt động của DN Còn hành vi quản trị lợi nhuận được hiểu như là việc vận dụng không đúng đắn các chính sách và thực hiện các ước tính kế toán và quyết định thời điểm thực hiện các nghiệp vụ một cách có ý đồ dẫn đến việc phản ánh không trung thực bản chất của thực thể kinh tế của DN Như vậy, ngay cả khi lựa chọn đó làm sai lệch lợi nhuận công bố so với kết quả hoạt động kinh doanh thực sự của DN thì cũng thuộc hành vi quản trị lợi nhuận Việc thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận là nhằm thu được những lợi ích nhất định cho DN hoặc cho nhà quản lý Và do bản chất của sự việc thường
là không đúng đắn nên sẽ gây tác động tiêu cực đến nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan đến DN Trường hợp phổ biến là người sử dụng thông tin BCTC của DN để ra
3 Phương pháp và thủ tục áp dụng trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam đối với hành
vi quản trị lợi nhuận- Đường Nguyễn Hưng- Tạp chí kế toán kiểm toán tháng 12/2013 pp15
Trang 31quyết định có thể dẫn đến quyết định không tối ưu Trong một số trường hợp khác, việc thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận của DN có thể là nhằm bảo đảm các hợp đồng mà có các điều khoản ràng buộc dựa trên thông tin kế toán không bị vi phạm, ví dụ, trong hợp đồng vay vốn mà DN ký kết với ngân hàng Vấn đề này sẽ được tác giả thể hiện rõ hơn trong phần mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận
Từ những phân tích trên, theo nhận định của tác giả quản trị lợi nhuận là hành vi tiêu cực theo hướng chủ quan của nhà quản lý, được xem là hành vi cơ hội, xuất phát từ
sự xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý
1 2.2 Cơ sở và mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận
• Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận chính là kế toán theo cơ sở dồn tích
Cơ sở kế toán dồn tích là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán DN Theo đó, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (chuẩn mực kế toán số 01, 2002) Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận của DN trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem
là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của DN Lợi nhuận theo cơ
sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, BCTC nói chung và BCKQKD nói riêng phải được lập trên cơ sở dồn tích Điều này mang lại cơ hội cho NQL thực hiện hành động quản trị lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được một mục tiêu nào đó Trong khi đó, kế toán theo cơ sở tiền được sử
dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) dựa trên cơ sở thực thu, thực chi tiền nên NQL không thể điều chỉnh các giao dịch Từ đó chênh lệch giữa lợi nhuận trên BCKQHĐKD và dòng tiền trên BCLCTT (theo phương pháp trực tiếp) tạo
ra biến kế toán gọi là Accruals Ta có công thức sau
Biến kế toán dồn tích (Accuals) = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền thuần từ hoạt HĐKD
• Mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận
Trang 32Theo Healy và Wahlen (1999) có ba động cơ chủ đạo để thực hiện quản trị lợi nhuận:
Động cơ về thị trường vốn: Động cơ thực hiện hành vi chi phối lợi nhuận xuất
phát từ thị trường vốn là một trong những hiện tượng phổ biến Thông thường nhà quản
lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận nhằm mục đích đạt được hoặc vượt mức lợi nhuận mục tiêu, phát hành cổ phiếu, mua bán hoặc sáp nhập DN Nhiều nghiên cứu đã cung cấp được bằng chứng là NQL có xu hướng chi phối lợi nhuận để đạt hoặc vượt mức lợi nhuận mục tiêu Điều này được giải thích bởi lý thuyết chính trị Yếu tố phí tổn chính trị đối với
DN được coi là các phí tổn phi hợp đồng Ví dụ như công đoàn công ty sẽ gây sức ép với ban lãnh đạo để được trả lương cao hơn khi công ty có lãi cao hoặc một số những cổ đông quá khích sẽ gây áp lực lên nhà quản lý nếu lợi nhuận thực tế chênh lệch quá lớn so với dự báo… Đó là động lực để ban lãnh đạo phù phép giảm lợi nhuận thông qua các thủ thuật kế toán Theo Burgstahler và Eames (1998) cho thấy rằng các công ty quản trị lợi nhuận để đáp ứng được sự mong đợi của các nhà phân tích dự báo Bằng chứng thực nghiệm cũng cho thấy rằng giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi công ty có mức lợi nhuận vượt quá lợi nhuận kỳ vọng Do về mặt tâm lý nhà đầu tư luôn thích một DN đạt được một mức lợi nhuận nào đó thay vì lỗ, và không có quá nhiều biến động qua các năm Do
đó sự thất bại trong việc không đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng của nhà quản lý cũng bị trừng phạt mạnh bởi thị trường Vì vậy nhà quản lý có xu hướng trình bày mức lợi nhuận đạt hoặc vượt mức lợi nhuận mục tiêu
Các nhà quản lý cũng thường quản trị lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu hoặc phát hành thêm cổ phiếu4 Trong sáp nhập và mua bán DN, hành động quản trị lợi nhuận cũng có thể được thực hiện Xu hướng thường là đẩy lợi nhuận lên cao để tăng giá cổ phiếu trước khi thực hiện thương vụ Có một số những tác giả đã nghiên cứu thực nghiệm
về hành vi quản trị lợi nhuận trước khi thực hiện các thương vụ mua lại DeAngelo (1988) chỉ ra rằng thông tin lợi nhuận là rất quan trọng trong việc định giá trị mua lại và
4Phạm Thị Bích Vân (tạp chí ngân hàng số 18 tháng 9/2013) Quản trị lợi nhuận của các DN phát hành thêm cổ phiếu trên sở giao dịch chứng khoán TPHCM
Trang 33các nhà quản lý của các công ty mua lại có động cơ để giảm bớt lợi nhuận và cho thấy những biến dồn tích kiểm soát những thay đổi doanh thu và chi phí vốn, những biến dồn tích là tiêu cực trước khi mua lại Những nghiên cứu khác cũng đã kiểm tra việc các nhà quản lý phóng đại lợi nhuận khi phát hành thêm cổ phiếu Những phát hiện này chỉ ra rằng các công ty báo cáo tăng thu nhập bằng các biến dồn tích trước khi phát hành cổ phiếu (Teoh,Welch and Wong (1998b)) và phát hành lần đầu ra công chúng (Teoh, Welch and Wong (1998a) và Teoh, Wong and Rao (1998))
Động cơ về chi phí hợp đồng: Hợp đồng vay thường được các chủ nợ sử dụng để
bảo vệ quyền lợi của họ trước hành động quản trị lợi nhuận của NQL Ở các nước phát triển, hợp đồng vay có một số những điều khoản ràng buộc sau: công ty đi vay phải duy trì mức tài sản hữu hình đáp ứng một mức cụ thể nào đó hoặc phải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu về CBTT theo quy định, hoặc phải duy trì một mức bảo hiểm cụ thể nào đó
về nợ vay, hoặc mức lợi nhuận tối thiểu Do có sự tách rời quyền sở hữu và quyền quản
lý trong các công ty niêm yết nên các NQL có động cơ quản trị lợi nhuận tăng để tránh vi phạm hợp đồng đi vay Nếu vi phạm, các chủ nợ có thể tăng tỷ lệ lãi suất đối với các khoản nợ hoặc yêu cầu DN thanh toán khoản nợ ngay lập tức Vì các chủ nợ cho rằng nếu
DN làm ăn không có lãi thì khả năng thanh toán nợ cho họ khó khăn hơn Từ đó rủi ro rất lớn trong việc thu hồi nợ vốn vay Hệ quả là các NQL sử dụng các thủ thuật quản trị lợi nhuận nhằm tránh các rắc rối liên quan đến hợp đồng đi vay Đặc biệt là trong trường hợp công ty niêm yết làm ăn thua lỗ thì NQL càng có động cơ mạnh hơn trong việc quản trị lợi nhuận Bởi vì không một NQL nào muốn đưa tín hiệu xấu đến các bên liên quan trong
đó có chủ nợ Ví dụ theo nghiên cứu của Das và Shroff, 2002 cho thấy rằng do bên cho vay đánh giá mức độ rủi ro của bên đi vay nhằm đánh giá khả năng trả nợ của bên đi vay bằng cách phân tích các chỉ số tài chính như nợ/vốn chủ sở hữu, DN thường có xu hướng thổi phồng thu nhập Hay trong quá trình thực hiện hợp đồng vay khi các NQL cho rằng
sự vi phạm hợp đồng vay không được giải quyết thì nhà quản lý thường thực hiện hành vi chi phối thu nhập theo hướng thổi phồng lợi nhuận nhằm mục đích nới lỏng các điều
khoản nhằm đảm bảo vay (Healy and Palepu, 1990)
Động cơ đáp ứng các quy định về phía nhà nước: DN có thể thực hiện hành vi
quản trị lợi nhuận để tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN hoặc trì hoãn thanh toán thuế hoặc
Trang 34hưởng ưu đãi thuế Nghiên cứu của Han and Wang (1998) cho thấy các DN xăng dầu đã trì hoãn ghi lợi nhuận trong thời kỳ khủng hoảng vùng vịnh năm 1990 khi các DN này đã đạt được khoản lợi nhuận siêu lớn Hay DN sẽ ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại khi cung cấp được bằng chứng rằng trong tương lai DN sẽ tạo ra được lợi nhuận để khấu trừ với tài sản này NQL sẽ sử dụng tài khoản này để giảm chi phí thuế TNDN khi DN đã biết được rằng mình đã đạt được mình đã đạt được mức lợi nhuận như mong muốn, (Miller and Skinner 1998) Ngoài ra hành vi quản trị lợi nhuận còn có thể được thực hiện nhằm mục tiêu tối thiểu hóa chi phí thuế thu nhập DN (Boynton, Dobbins and
Plesko,1992)
Bên cạnh đó trong mối quan hệ giữa người quản lý và DN Nhà quản lý có thể quản trị lợi nhuận vì những lợi ích cá nhân, nhà quản lý sẽ được hưởng nhiều quyền lợi khi hoàn thành các chỉ tiêu được giao, chẳng hạn như các khoản thưởng, đề bạt, tăng lương, và cả việc giữ được vị trí của mình Do đó, nếu không hoàn thành các chỉ tiêu lợi nhuận, nhà quản lý có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận để đạt được các chỉ tiêu này, hoặc khi đã đạt vượt chỉ tiêu lợi nhuận nhưng mức thưởng có giới hạn, nhà quản lý có thể điều chuyển bớt lợi nhuận sang năm sau Theo Leone, A., Rock, S., Guidry, F.,(1998) cho thấy rằng cá nhân nhà quản lý có khả năng trì hoãn thu nhập khi lợi nhuận mục tiêu trong
kế hoạch tiền thưởng của họ không được đáp ứng hay khi họ đã đạt được mức tối đa trong kế hoạch thưởng Mặt khác, nhà quản lý cũng có thể sở hữu cổ phiếu của DN Khi này, nếu muốn bán đi số cổ phiếu nắm giữ và thu lợi được mức cao, nhà quản lý cũng có
thể quản trị lợi nhuận tăng để tác động vào giá cổ phiếu nhằm thu lợi
1 2.3 Các hành vi về quản trị lợi nhuận
Tùy theo mục tiêu khác nhau của các NQL, có thể mục tiêu là của NQL là quản trị lợi nhuận nhằm tiết kiệm thuế phải nộp, có thể mục tiêu điều chính tăng lợi nhuận là để
5 Phạm Thị Bích Vân (2012) Nghiên cứu ảnh hưởng của thuế TNDN đến sự lựa chọn chính sách kế toán của các DN trên địa bàn TP Đà Nẵng – Tạp chí khoa học công nghệ số 04/2012- ĐH Đà Nẵng.
Trang 35hút vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường Nhiều thủ thuật được nhà quản lý sử dụng để
chi phối thu nhập Có thể phân loại theo hành vi quản trị lợi nhuận theo bốn loại:
Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán: Quản trị lợi nhuận
phản ánh hành động của NQL trong việc lựa chọn các chính sách kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá thị trường của công ty Việc lựa chọn chính sách kế toán
áp dụng để thực hiện hành động để thực hiện hành động quản trị lợi nhuận luôn nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán Do đó hành động quản trị lợi nhuận là tuân thủ khuôn khổ pháp lý và là sự vận động khéo léo, linh hoạt của các “khoảng không tự do”
mà chuẩn mực để lại để sắp xếp BCTC theo cách thuận lợi nhất cho công ty hay cho chính họ chứ không phải hành hành động phi pháp Theo đó để tăng cường có thể so sánh thông tin trình bày trên BCTC, chuẩn mực kế toán yêu cầu DN cần phải áp dụng chính sách kế toán một cách nhất quán đối với các sự kiện và các giao dịch tương tự nhau Khi
có sự thay đổi chính sách kế toán thì cần phải thuyết minh lại sự thay đổi và ảnh hưởng của nó đối với BCTC, hoặc phải điều chỉnh hồi tố số liệu đầu kỳ Sự lựa chọn chính sách
kế toán phụ thuộc vào xét đoán của nhà quản lý để đảm bảo BCTC phản ánh trung thực nhất thực trạng kinh tế của DN Chính vì lý do đó NQL có thể lựa chọn chính sách kế toán có lợi nhất để đạt được mục đích gì đó Chính sách kế toán thường được lựa chọn để tác động đến kết quả kinh doanh của DN: ghi nhận doanh thu, giá vốn, phương pháp tính khấu hao, phương pháp xuất giá hàng tồn kho, vốn hóa chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm, vốn hóa chi phí xây dựng và sửa chữa lớn tài sản cố định
- Lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận doanh thu, giá vốn: Ta thấy rằng việc lựa
chọn chính sách kế toán về doanh thu và giá vốn sẽ tác động rất lớn đến lợi nhuận trong
kỳ vì doanh thu và giá vốn là hai chỉ tiêu quan trọng trên báo cáo hoạt động kinh doanh Lựa chọn chính sách kế toán làm cho việc ghi nhận doanh thu lớn hơn và ghi nhận giá vốn chậm hơn sẽ làm tăng lợi nhuận và ngược lại sẽ làm giảm lợi nhuận Ví dụ đối với những hợp đồng dài hạn thì DN được phép lựa chọn chính sách kế toán doanh thu theo tiến độ thực hiện hoặc theo tỷ lệ phần trăm hoàn thành như đối với DN xây dựng, việc thi công công trình kéo dài Do đó NQL có thể lựa chọn chính sách kế toán để xác định
doanh thu theo tiến độ thực hiện hay tỷ lệ phần trăm hoàn thành công trình
Trang 36- Lựa chọn chính sách kế toán đánh giá hàng tồn kho:
+ Chính sách đối với tính giá thành sản phẩm: Lựa chọn phương pháp tính giá thành
sản phẩm và phương pháp đánh giá thành sản phẩm dở dang cuối kỳ khác nhau như phương pháp trực tiếp, phương pháp tỷ lệ, phương pháp hệ số, phương pháp loại trừ sản phẩm phụ, phương pháp theo đơn đặt hàng, phương pháp phân bước có thể làm cho giá thành sản phẩm thay đổi, từ đó có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán
+ Chính sách đối với xác định giá trị hàng xuất kho: Chuẩn mực kế toán cho phép
DN lựa chọn chính sách khác nhau để đánh giá hàng tồn kho như nhập trước xuất trước (FIFO), thực tế đích danh, bình quân gia quyền 6 Việc lựa chọn phương pháp tính giá xuất kho ở một kỳ có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán và qua đó tác động đến lợi nhuận
Ví dụ trong nền kinh tế lạm phát với giá mua hàng hóa tăng thì lựa chọn chính sách đánh giá hàng tồn kho theo phương pháp nhập trước xuất trước sẽ làm cho hàng tồn kho cuối
kỳ trên bảng cân đối kế toán có giá trị lớn hơn và giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có giá trị nhỏ hơn nên lợi nhuận sẽ lớn hơn so với phương pháp bình quân gia quyền Do vậy NQL sẽ lựa chọn chính sách kế toán phù hợp để đạt được mục tiêu
- Lựa chọn phương pháp tính khấu hao: Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ
cũng cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ Ví dụ phương pháp khấu hao giảm dần sẽ ghi nhận chi phí khấu hao cao trong những năm đầu sử dụng tài sản và ghi nhận chi phí khấu hao thấp trong những năm sau sử dụng tài sản So với DN sử dụng phương pháp khấu hao đường thẳng, DN áp dụng phương pháp khấu hao giảm dần sẽ trình bày trên bảng cân đối kế toán có giá trị thấp hơn và lợi nhuận trên báo cáo hoạt động kinh doanh thấp hơn
- Lựa chọn chính sách kế toán về đánh giá tổn thất tài sản: Chuẩn mực kế toán yêu
cầu DN cần đánh giá tổn thất cho các tài sản phải khấu hao và các tài sản không khấu hao như lợi thế thương mại Việc đánh giá tổn thất tài sản dựa trên nhiều xét đoán của
6 : Trước đây chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho cho phép áp dụng phương pháp nhập sau xuất trước nhưng chuẩn mực mới không cho phép áp dụng phương pháp này (IAS 02)
Trang 37NQL liên quan đến giá cả hợp lý, giá trị sử dụng, giá trị thu hồi….Do đó cũng tạo cơ hội
cho nhà quản lý thực hiện hành động quản trị lợi nhuận của DN
Quản trị lợi nhuận thông qua thực hiện ước tính kế toán: Thủ thuật lựa chọn
chính sách kế toán là thủ thuật phổ biến nhất mà các NQL thường sử dụng để quản trị lợi
nhuận Do hệ thống chuẩn mực kế toán nói chung cho phép sử dụng nhiều chính sách kế
toán khác nhau để ghi nhận và trình bày một loại sự kiện, nghiệp vụ Thủ thuật này được
gọi tên là thủ thuật “Cookie jar reservers” (CJR) Nguyên tắc hoạt động chung của CJR là
lập các dự phòng và trích trước nhiều hơn mức cần thiết nhằm mục đích sử dụng cho
tương lai khi cần thiết Trong chuẩn mực kế toán, theo yêu cầu thận trọng tại thời điểm
kết thúc niên độ, DN sẽ ước tính và ghi nhận chi phí đối với các tài sản có giá trị thuần
thấp hơn giá trị sổ sách (dự phòng) hoặc chi phí phát sinh từ nghĩa vụ đã phát sinh sẽ
thanh toán trong tương lai (trích trước) Đặc điểm của các khoản ước tính này chủ yếu
dựa trên xét đoán của nhà quản lý hơn là dựa trên các bằng chứng cụ thể, do đó chuẩn
mực kế toán cho phép các ước tính kế toán giao động trong một khoản nhất định Nhà
quản lý thường có xu hướng ghi nhận chi phí cao trong kỳ kế toán hiện tại và thông qua
đó sẽ giảm chi phí ghi nhận trong các kỳ trong tương lai Trong việc thực hiện các ước
tính kế toán, có thể chia thành ước tính kế toán một lần và ước tính kế toán mỗi kỳ
Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chẳng
hạn:
- Ước tính thời gian khấu hao tài sản cố định: DN được tự quyết định thời gian sử
dụng tài sản cố định trong khoảng thời gian theo quy định về mức khấu hao Vì vậy NQL
có thể sử dụng thời gian khấu hao tài sản cố định để quản trị được mức lợi nhuận theo
mong muốn Và DN được quyền khấu hao nhanh khi có đủ bằng chứng chứng minh rằng
DN có hiệu quả hoạt động kinh tế cao và cần thiết để đổi mới công nghệ Vì vậy khi DN
đã vượt quá mức lợi nhuận mong muốn thì NQL có thể sử dụng ước tính này để quản trị
lợi nhuận giảm xuống
Ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ của chi phí trả trước: Thời gian phân bổ
công cụ dụng cụ hay số lần phân bổ công cụ dụng cụ là do DN tự xác định dựa vào đặc
điểm của công cụ dụng cụ, tính chất công việc, công suất sử dụng công cụ dụng cụ Do
Trang 38đó có thể cùng là một công cụ dụng cụ nhưng các DN có khi lại phân bổ công cụ dụng cụ khác nhau về thời gian và số lần phân bổ Vì vậy nhà quản lý cũng có thể điều chỉnh được khoản chi phí này
Uớc tính kế toán vào mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ kế toán, chẳng hạn:
- Ước tính chi phí bảo hành sản phẩm : Nhiều DN bán sản phẩm kèm theo điều
khoản bảo hành sản phẩm trong một khoảng thời gian nhất định Khi sản phẩm bị hư hỏng và được bảo hành, DN sẽ phát sinh chi phí để sửa chữa sản phẩm hoặc đổi mới sản phẩm cho khách hàng Theo chuẩn mực kế toán chi phí bảo hành sản phẩm trong tương lai là để tạo ra doanh thu bán hàng trong hiện tại, do đó theo nguyên tắc phù hợp, chi phí bảo hành sản phẩm trong tương lai phải được ghi nhận cùng thời kỳ với doanh thu bán hàng khi ghi nhận sản phẩm được bán ra Để xác định khoản chi phí bảo hành sản phẩm cần được ghi nhận trên BCTC, chuẩn mực kế toán cho phép DN sử dụng xét đoán liên quan đến tỷ lệ sản phẩm bảo hành bình quân của quá khứ và chi phí bảo hành trên mỗi đơn vị sản phẩm để tính chi phí bảo hành đối với doanh số bán hàng trong kỳ kế toán hiện tại Việc cho phép sử dụng xét đoán sẽ tăng cơ hội cho nhà quản lý quản trị được lợi nhuận thông qua ước tính chi phí bảo hành sản phẩm cao hơn hoặc thấp hơn mức cần trích lập Qũy dự phòng từ trích trước chi phí bảo hành sẽ được sử dụng để quản trị lợi nhuận trong tương lai bằng cách hoàn nhập dự phòng khi sản phẩm hết thời hạn bảo hành
- Ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp và cung cấp dịch vụ: Trong nhiều
lĩnh vực như xây dựng, hợp đồng dịch vụ phát triển phần mềm…Khi hợp đồng dài hạn được thanh toán theo tiến độ kế hoạch, doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận với phần tương ứng công việc đã hoàn thành dựa trên biên bản nghiệm thu được hai bên xác nhận Trường hợp hợp đồng dài hạn được thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành, thường là tỷ lệ phần trăm giữa chi phí đã phát sinh của phần công việc đã hoàn thành với tổng chi phí dự toán hoặc tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng công việc đã hoàn thành so với tổng khối lượng công việc của hợp đồng Phương pháp tỷ lệ hoàn thành được áp dụng bởi vì phương pháp này giải quyết được vấn đề sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí tạo ra doanh thu Nhưng đối với việc xây dựng một
Trang 39ước tính kế toán hợp lý, mức chính xác của doanh thu đã hoàn thành và mức chi phí tương ứng với doanh thu sẽ gặp nhiều khó khăn và cũng dựa rất nhiều trên xét đoán của hai bên Do vậy sẽ tạo cơ hội cho hành vi thực hiện quản trị lợi nhuận của nhà quản lý
- Ước tính khoản phải thu khó đòi để lập dự phòng: Các DN thường cung cấp một
hạn mức tín dụng cho khách hàng, do đó hầu hết các DN đều có nợ phải thu Thủ thuật CJR dựa trên khoản mục dự phòng phải thu khó đòi theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán
về việc lập dự phòng đối với các khoản nợ phải thu có khả năng không thu hồi được Theo chuẩn mực kế toán, khoản mục nợ phải thu cần được trình bày trên BCTC theo giá trị thuần có thể thực hiện được Khi đó nhà quản lý cần ước tính các khoản nợ không thể thu hồi được để lập dự phòng Mức trích lập có thể là 30%, 50%, 70%, 100% tùy theo tuổi nợ quá hạn của các khoản nợ ( văn bản có thể lựa chọn là thông tư số 228/2009/TT-BTC để phù hợp với chuẩn mực) Thông thường phương pháp lập dự phòng nợ phải thu khó đòi đòi hỏi nhiều xét đoán của nhà quản lý, do đó tạo cơ hội cho hành vi quản trị lợi nhuận
- Ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm giá để lập dự phòng: Khi giá trị thuần
có thể thực hiện được của hàng tồn kho thấp hơn so với giá gốc thì DN cần lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (chuẩn mực số 02 về hàng tồn kho) Ngược lại khi giá trị thuần của hàng tồn kho được phục hồi lại thì DN phải hoàn nhập dự phòng đã trích trước đó Việc lập chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho là hợp pháp theo pháp luật Việt Nam Nhưng Bộ Tài Chính chỉ mới yêu cầu việc ước tính phải dựa trên bằng chứng đáng tin cậy chứ chưa nêu rõ quy định về mặt giá trị của giá trị thuần có thể thực hiện được Khoản mục dự phòng giảm giá hàng tồn kho thường được sử dụng bởi việc ước tính khoản giảm giá của hàng tồn kho đòi hỏi sử dụng nhiều xét đoán liên quan đến giá trị thuần có thể thực hiện được của nhà quản lý dựa trên kinh nghiệm và đặc điểm của từng mặt hàng để ước tính Vì vậy nhà quản lý có thể sử dụng thủ thuật CJR để quản trị lợi nhuận trong kỳ Trong kỳ kế toán hiện tại nhà quản lý lập dự phòng hàng tồn kho nhiều hơn hoặc thấp hơn mức thực tế cần lập để quản trị lợi nhuận Trong những kỳ sau khoản
dự phòng đó được hoàn nhập khi hàng tồn kho được bán hoặc có bằng chứng về sự phục hồi của giá trị thuần có thể thực hiện được
Trang 40Trong thực tế thủ thuật CJR được sử dụng qua nhiều năm để xây dựng được ngân quỹ đủ lớn để ứng phó với sự thay đổi bất thường trong lợi nhuận trong tương lai hoặc là tạo ra sự tăng trưởng ổn định trong lợi nhuận hàng năm của DN, qua đó tạo sự tăng trưởng đều của cổ phiếu
Sở dĩ cần phân biệt quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán và quản trị lợi nhuận thông qua thực hiện các ước tính kế toán là vì điều này sẽ giúp phân biệt được khả năng vận dụng hai hình thức trên để thực hiên hành vi quản trị lợi nhuận Khi nhà quản lý lựa chọn để áp dụng một chính sách kế toán hay một phương pháp kế toán cụ thể nguyên tắc nhất quán yêu cầu DN phải nhất quán chính sách đó trong nhiều
kỳ kế toán khác nhau, nếu có thay đổi giữa hai kỳ thì cần phải có thuyết minh sự thay đổi chính sách kế toán và mức độ ảnh hưởng đến sự thay đổi này đến lợi nhuận trên BCTC
Do đó việc áp dụng lựa chọn một chính sách kế toán để quản trị lợi nhuận thường chỉ có thể áp dụng ở một kỳ kế toán nhất định Trong khi việc thực hiện ước tính kế toán ta thấy
có thể chia thành hai loại: ước tính một lần và ước tính mỗi kỳ Các ước tính thực hiện một lần thì cũng có thể được sử dụng để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận như đối với việc lựa chọn chính sách kế toán nhưng những ước tính thực hiện mỗi kỳ thì có thể được vận dụng vào mỗi kỳ và đây là công cụ để nhà quản l y sử dụng thường xuyên hành vi quản trị lợi nhuận
Quản trị lợi nhuận thông qua quyết định quản lý về thực hiện nghiệp vụ kinh
tế
- Chính sách quyết định về việc thực hiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm: Nhà quản lý
có thể quyết định sản xuất hoặc thay đổi chính sách bán hàng nhằm đạt được mức lợi nhuận mục tiêu Ví dụ khi DN muốn tăng lợi nhuận, nhà quản lý sẽ quyết định tăng sản xuất, khi đó định phí cố định sẽ được phân bổ cho nhiều sản phẩm hơn nên định phí trên mỗi đơn vị sản phẩm giảm Khi mức độ tăng lên của định phí không bị bù trừ bởi chi phí biên thì tổng chi phí của một đơn vị sản phẩm giảm xuống Từ đó giá thành sản phẩm giảm dẫn đến giá vốn hàng bán giảm và lãi gộp cao hơn Nhưng khi DN tăng sản xuất sẽ làm giảm dòng tiền hoạt động với mức doanh thu không đổi Hoặc đối với chính sách bán hàng, khi NQL muốn đạt mức lợi nhuận mục tiêu để nhận các khoản lợi ích cá nhân thì họ có thể đưa ra chính sách giảm giá, khuyến mãi hoặc nới lỏng thời gian thanh toán