Mục đích nghiên cứu của đề tài Đề tài nghiên cứu này được thực hiện với mục đích nhìn nhận một cách tổng quan về tình hình nợ xấu tại VCBL, từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện công
Trang 1ĐƯỜNG VÂN ANH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2009
Trang 2ĐƯỜNG VÂN ANH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính – Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS HỒ DIỆU
TP Hồ Chí Minh – Năm 2009
Trang 3Trang phụ bìa
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình, biểu đồ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM 4
1.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng của công ty CTTC 4
1.1.1 Tổng quan về CTTC 4
1.1.2 Hoạt động tín dụng của công ty CTTC 6
1.1.3 Rủi ro tín dụng của công ty CTTC 11
1.2 Nợ xấu của công ty CTTC 15
1.2.1 Khái niệm nợ xấu và các tiêu chí phân loại nợ 15
1.2.2 Nguyên nhân phát sinh các khoản nợ xấu trong hoạt động CTTC 21
1.3 Công tác XLNX tại các công ty CTTC 24
1.3.1 Công tác XLNX tín dụng nói chung 24
1.3.2 Các giải pháp XLNX tại công ty CTTC 29
CHƯƠNG 2 33
THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 33
2.1 Giới thiệu chung về VCBL 33
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 33
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 34
2.1.3 Sơ lược tình hình hoạt động kinh doanh 36
2.2 Thực trạng nợ xấu và công tác XLNX tại VCBL 40
2.2.1 Thực trạng nợ xấu tại VCBL 40
2.2.2 Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề nợ xấu tại VCBL 46
2.2.3 Các giải pháp XLNX công ty đã thực hiện 52
2.2.4 Kết quả XLNX qua các năm 53
Trang 42.3.3 Các nhân tố trọng yếu ảnh hưởng đến công tác XLNX tại VCBL 57
2.3.4 Nhân tố bên trong 57
2.3.5 Nhân tố bên ngoài 59
CHƯƠNG 3 62
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY CTTC NHNT VN 62
3.1 Định hướng chiến lược kinh doanh của VCBL 62
3.2 Các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác XLNX tại VCBL 66
3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác XLNX 66
3.2.2 Nhóm giải pháp ngăn ngừa nợ xấu phát sinh tại VCBL 69
3.3 Một số kiến nghị với các cấp quản lý kinh doanh và quản lý nhà nước 76
3.3.1 Kiến nghị về phía nội bộ VCBL 76
3.3.2 Kiến nghị đối với cơ quan chủ quản là NHNT VN 78
3.3.3 Kiến nghị đối với NHNN VN 79
3.3.4 Kiến nghị đối với các tổ chức, cơ quan, ban ngành khác 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 81
KẾT LUẬN CHUNG 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam
Phụ lục 2: Hệ thống xếp hạng tín dụng và quan điểm đánh giá của NHNT VN
Phụ lục 3: Chính sách và khung điều kiện cho thuê đối với khách hàng doanh nghiệp
gợi ý áp dụng tại VCBL
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AMC : Asset Management Company – Công ty quản lý tài sản
CTTC : Cho thuê tài chính
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
DPRR : Dự phòng rủi ro
HĐQT : Hội đồng quản trị
NHNN VN : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHNT VN : Ngân hàng Ngọai thương Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
VCBL : Vietcombank Financial Leasing Company - Công ty Cho thuê tài
chính Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngọai thương Việt Nam WTO : World Trade Organization – Tổ chức thương mại thế giới
XLNX : Xử lý nợ xấu
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 : Một số chỉ tiêu chủ yếu đánh giá hiệu quả hoạt động của VCBL 36
Bảng 2.2 : Tình hình dư nợ, nợ xấu và nợ quá hạn qua các năm 40
Bảng 2.3 : Kết quả kinh doanh năm 2008 của các Công ty CTTC hội viên Hiệp hội CTTC Việt Nam 45
Bảng 2.4 : Tình hình XLNX qua các năm 53
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ Trang Hình 1.1 : Quy trình CTTC hai bên 8
Hình 1.2 : Quy trình CTTC ba bên 9
Hình 1.3 : Cơ cấu của RRTD 13
Hình 2.1 : Mô hình tổ chức VCBL 35
Biểu đồ 2.1 : Tỷ lệ thu lãi CTTC trên tổng thu nhập qua các năm 38
Biểu đồ 2.2 : Tình hình biến động dư nợ, nợ xấu và nợ quá hạn 41
Biểu đồ 2.3 : Cơ cấu nợ xấu theo khu vực địa lý 42
Biểu đồ 2.4 : Cơ cấu nợ xấu theo TPKT 42
Biểu đồ 2.5 : Cơ cấu nợ xấu theo ngành nghề 43
Biểu đồ 2.6 : Cơ cấu tài sản cho thuê theo tình trạng và loại tài sản cuối năm 2008 43
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường tài chính luôn là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của mọi nền kinh tế Thông qua thị trường tài chính, luồng vốn trong nền kinh tế được luân chuyển để tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn Những kết quả nghiên cứu về tính quy luật của nền kinh tế cho thấy kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới đều mang tính chu kỳ
mà suy thoái là điều khó tránh khỏi Nhưng không phải ngẫu nhiên mà nhiều cuộc suy thoái hay khủng hoảng kinh tế lớn trên thế giới đều bắt nguồn từ thị trường tài chính, trong đó nợ xấu luôn là nguyên nhân hoặc là hệ quả khó tránh khỏi
Đi cùng xu thế hội nhập mạnh mẽ sau WTO, thị trường tài chính Việt Nam đã
và đang không ngừng phát triển để bắt kịp trình độ của các thị trường tài chính trong khu vực và thế giới Điều này thể hiện rõ nét ở sự tăng trưởng vượt bậc về mạng lưới, quy mô và chất lượng hoạt động của các định chế tài chính, mà đóng vai trò quan trọng hàng đầu là các TCTD Vậy liệu rằng vấn đề nợ xấu tại các TCTD tại Việt Nam hiện nay có được kiểm soát hiệu quả hay chưa vẫn còn đang là một câu hỏi cần được quan tâm kịp thời và đúng mức
Mặc dù đã có những quy định rõ ràng và được kiểm soát chặt chẽ hơn từ phía NHNN VN, nhưng một thực tế cần nhìn nhận là tình hình nợ xấu tại các TCTD vẫn còn chưa được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và đúng thực chất Đặc biệt là công tác kiểm soát, ngăn ngừa, và xử lý các khoản nợ xấu nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững vẫn còn là thách thức đang đặt ra cho các TCTD tại Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ thực trạng đó, cũng như qua những trải nghiệm thực tế sau một
thời gian công tác của học viên, đề tài nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác xử lý nợ
xấu tại Công ty CTTC Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam”
thực sự mang tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao nhằm góp phần giải quyết các thách thức đang đặt ra cho VCBL nói riêng, cũng như các Công ty CTTC và các TCTD nói chung
Trang 82 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu này được thực hiện với mục đích nhìn nhận một cách tổng quan về tình hình nợ xấu tại VCBL, từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện công tác XLNX nhằm đạt đến mục tiêu cao nhất là lành mạnh hóa và cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh, tăng năng lực tài chính của VCBL trước thềm hội nhập với thị trường tài chính quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là hoạt động CTTC tại VCBL, nhưng được giới hạn trong phạm vi các vấn đề có liên quan đến nợ xấu để từ đó tìm ra được những giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nợ xấu tại VCBL
Các số liệu sử dụng trong luận văn là những số liệu thực tế được thu thập, thống
kê và cập nhật đến 31/12/2008
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, học viên đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tận dụng tính chất hợp lý và ưu việt của từng phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, gắn liền với phương pháp phân tích định tính, tổng hợp, so sánh để đánh giá thực trạng; kết hợp giữa lý luận và thực tiễn tư duy logic để đưa ra các giải pháp mang tính khoa học, hợp lý và khả thi
5 Đóng góp mới của luận văn
Trước đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động CTTC, tuy nhiên hầu hết tập trung vào nghiên cứu nâng cao hiệu quả hoạt động CTTC tại Việt Nam hoặc tại một Công ty CTTC cụ thể
Mặc dù với cùng một mục tiêu chung là phát triển hoạt động CTTC tại Việt Nam, nhưng luận văn này chỉ tập trung đi sâu về vấn đề nợ xấu CTTC, đặc điểm giống
và khác nhau trong công tác XLNX giữa các Công ty CTTC với các TCTD ngân hàng Trên cơ sở kết hợp với việc đánh giá thực trạng nợ xấu tại VCBL luận văn sẽ đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất
Trang 9lượng XLNX nhằm hướng đến mục tiêu cao nhất tăng hiệu quả hoạt động, tối đa hóa lợi ích cổ đông của VCBL
Ngoài ra, một trong những điểm nhấn quan trọng của luận văn là việc xác định vấn đề mấu chốt quan trọng góp phần cải thiện tình hình nợ xấu một cách triệt để đó là kiểm soát tốt chất lượng các khoản nợ ngay từ khâu đầu tiên trong quy trình cho thuê
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu gồm ba chương chính
• Chương I: Những vấn đề cơ bản về XLNX của các Công ty CTTC tại Việt
Nam
• Chương II: Thực trạng nợ xấu và công tác XLNX tại VCBL
• Chương III: Giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện công tác XLNX tại
VCBL
Về mặt nhận thức, tôi cho rằng đây là một đề tài nghiên cứu chuyên sâu, liên quan đến nhiều mảng kiến thức và những vấn đề đặt ra đòi hỏi phải được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau Do đó, để có thể nêu bật được hết tất cả các vấn đề, cũng như xây dựng được một hệ thống giải pháp mang tính chuẩn mực cao đòi hỏi nhiều công sức và thời gian nghiên cứu hơn nữa Do thời gian nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên chắc chắn đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ Quý thầy cô, các anh chị đồng nghiệp và những người
có quan tâm để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện và mang tính thực tiễn cao hơn
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
1.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng của công ty CTTC
1.1.1 Tổng quan về CTTC
1.1.1.1 Nguồn gốc và sự phát triển của hoạt động CTTC
Theo các văn tự cổ, hoạt động cho thuê tài sản (leasing) ra đời rất sớm từ năm
2800 trước Công Nguyên tại Thành phố Sumerian gần vịnh Ba Tư (nay là một phần thuộc Iraq) Ở thời kỳ này, người cho thuê là các thầy tu nắm giữ tư liệu sản xuất và người đi thuê là những người nông dân tự do Tài sản được đem giao dịch bao gồm: các công cụ sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa, ruộng đất và nhiều tài sản đa dạng khác nữa…
Vào khoảng năm 1700 trước Công nguyên, vua Babylon là Hamnurabi đã ban hành nhiều văn bản quan trọng tạo thành một bộ luật lớn, trong đó có đưa ra những quy định về hoạt động cho thuê tài sản Trong các nền văn minh cổ đại khác như Hy Lạp, La Mã hay Ai Cập cũng đã xuất hiện những người cho thuê công cụ lao động, đất đai, gia súc… để phục vụ cho hoạt động sản xuất, buôn bán thời bấy giờ
Tuy nhiên các giao dịch cho thuê tài sản diễn ra ở thời kỳ trước mới chỉ là hoạt động cho thuê theo kiểu truyền thống Phương thức giao dịch của nó tương tự như giao dịch cho thuê vận hành ngày nay Và trong suốt thời gian hàng ngàn năm lịch sử, tính chất giao dịch của hình thức này gần như không đổi
Mãi đến giữa thế kỷ XX, hoạt động cho thuê mới trở thành một ngành kinh doanh thực sự Công ty chuyên hoạt động cho thuê đầu tiên được thành lập vào tháng 05/1952 đó là Công ty cho thuê Hoa Kỳ (United States Leasing Corporation) Cũng chính Công ty này đã làm cho hoạt động cho thuê tài sản có sự phát triển và thay đổi
về chất bằng việc cho ra đời một hình thức cho thuê tài sản mới gọi là CTTC (finance lease), hay còn gọi là cho thuê vốn (capital lease) Hình thức cho thuê này không còn mang tính chất của giao dịch cho thuê tài sản thông thường nữa mà đã mang tính chất
Trang 11của một hoạt động tín dụng Sau đó, hình thức CTTC phát triển sang Châu Âu và đã được ghi vào luật thuê mua của Pháp năm 1960 với tên gọi “Credit Bail”
Tại Châu Á, Nhật Bản là quốc gia có ngành kinh doanh cho thuê ra đời sớm nhất Công ty cho thuê đầu tiên của Nhật được thành lập vào năm 1963, đó là Công ty cho thuê Orient (Orient Leasing Corporation) Đầu những năm 70 hoạt động CTTC cũng bắt đầu xuất hiện ở Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia Và đến cuối những năm 70 đầu
80, hoạt động CTTC đã phát triển hầu hết ở các nước Châu Á
So với các nước Châu Á, ngành công nghiệp cho thuê thâm nhập vào Việt Nam
có phần muộn hơn Kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định đầu tiên là Nghị định 64/CP về “Qui chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC tại Việt Nam” ngày 09/10/1995, cho đến nay cả nước có 13 công ty CTTC hoạt động, bao gồm các công ty CTTC trực thuộc các ngân hàng thương mại, công ty CTTC liên doanh và công ty CTTC 100% vốn nước ngoài (Xem phụ lục 1: Các Công ty CTTC tại Việt Nam)
1.1.1.2 Định nghĩa CTTC
Tiêu chuẩn kế toán quốc tế số 17 (IAS 17) của Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc
tế (IASC) định nghĩa về CTTC như sau: “Một giao dịch cho thuê tài sản được xác định
là CTTC nếu giao dịch đó chuyển dịch về căn bản mọi rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản đó”
Dựa vào định nghĩa này việc xác định một giao dịch cho thuê là CTTC hay cho thuê vận hành tùy thuộc chính vào bản chất của giao dịch hơn là hình thức của giao dịch cho thuê Tuy nhiên, tại IAS 17 cũng đưa ra một số đặc điểm cơ bản để nhận biết một giao dịch CTTC như sau:
Quyền sở hữu tài sản thuê được chuyển giao cho người thuê khi kết thúc
hợp đồng
Hợp đồng quy định quyền chọn mua tài sản thuê với mức giá tượng
trưng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng
Thời hạn hợp đồng chiếm phần lớn thời hạn hữu dụng của tài sản
Trang 12Hiện giá của toàn bộ các khoản tiền thuê do người thuê trả tương đương
hoặc lớn hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng Trên cơ sở định nghĩa và các đặc điểm nhận biết theo IAS 17, mỗi quốc gia đều
có những quy định cụ thể về giao dịch CTTC dựa trên đặc điểm riêng có của mỗi nước Mặc dù có những điểm khác biệt nhất định, song về cơ bản chúng không mâu thuẫn với IAS 17 và tuỳ theo mức độ, những quy định này có thể chi tiết, cụ thể hơn
Tại Việt Nam, CTTC đã chính thức ra đời từ năm 1995 gắn với văn bản pháp luật đầu tiên là Thể lệ tín dụng thuê mua theo quyết định số 149/QĐ-NH5 ngày 27/05/1995 của Thống đốc NHNN VN Nhưng mãi đến năm 1997, một định nghĩa chính thức về CTTC mới được đưa ra tại Luật các TCTD được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/2007 và có hiệu lực từ ngày 01/10/1998 Dưạ trên nền tảng đó, ngày 02/05/2001, Nghị định số 16/2001/NĐ-CP về
“ Tổ chức và hoạt động của công ty CTTC” có hiệu lực đã đưa ra một định nghĩa chi tiết và đầy đủ hơn về CTTC như sau:
“CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận.”
1.1.2 Hoạt động tín dụng của công ty CTTC
1.1.2.1 Phân biệt giữa CTTC và tín dụng ngân hàng
CTTC là một phương thức tài trợ vốn cho nền kinh tế và được sử dụng rất rộng rãi tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển CTTC là phương thức cho thuê tài sản trung dài hạn mà trong thời gian đó bên cho thuê chuyển giao tài sản cho bên thuê
sử dụng Bên thuê có trách nhiệm định kỳ thanh toán tiền thuê theo hợp đồng cho bên cho thuê Khi hợp đồng cho thuê hết hạn, bên thuê được quyền mua tài sản hoặc thuê tiếp hoặc cũng có thể trả lại cho bên cho thuê
Trang 13Trong thời gian thuê tài chính, tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê nhưng vai trò thực sự của bên cho thuê chỉ là cung cấp nguồn tài chính trung dài hạn cho bên thuê Do đó, CTTC và tín dụng trung dài hạn có những điểm giống nhau cơ bản sau:
• Bên cho thuê chuyển giao cho bên thuê một lượng giá trị dưới hình thức tài sản, trong khi bên cho vay chuyển giao cho bên vay một lượng giá trị dưới hình thức tiền tệ trong một khoảng thời gian trung dài hạn
• Bên thuê hay bên vay phải hoàn trả cho bên cho thuê hay bên cho vay toàn
bộ vốn gốc và lãi trong thời gian ký kết hợp đồng
CTTC tài trợ vốn dưới hình thức tài sản nên CTTC không phải là phương pháp thay thế tín dụng trung dài hạn mà chỉ là hình thức tín dụng trung dài hạn đặc biệt, làm
đa dạng hóa các nghiệp vụ tín dụng CTTC cũng chứa đựng đầy đủ các tính chất cơ bản của tín dụng trung dài hạn như tính hoàn trả, tính thời hạn và lãi suất
Tính hoàn trả Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ định kỳ bên thuê phải thanh toán
tiền thuê cho bên cho thuê Bên thuê được quyền sử dụng tài sản tức là đã sử dụng vốn của bên cho thuê dưới hình thức sử dụng tài sản Trong CTTC, vốn gốc thường được hoàn trả lại phần lớn bằng tiền và một phần có thể bằng tài sản Điều này có nghĩa là trong thời gian hiệu lực của hợp đồng CTTC (tức thời gian sử dụng tài sản), vốn gốc được hòan trả bằng tiền và khi kết thúc hợp đồng thì bên thuê có thể lựa chọn hoàn trả toàn bộ bằng tiền (mua lại tài sản) hoặc hoàn trả một phần bằng tài sản (trả lại tài sản thuê) Điều này có một chút khác biệt là trong tín dụng trung dài hạn, vốn gốc được hoàn trả toàn bộ bằng tiền vì
đó là hình thức tài trợ vốn dưới hình thức tiền tệ
Tính thời hạn Tính thời hạn được quy định trong hợp đồng CTTC tùy thuộc
vào sự thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê dựa trên thời gian hữu dụng của tài sản và khả năng tài chính của bên đi thuê Thời gian thuê thông thường
là trung dài hạn, và khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê phải hoàn trả cho bên cho thuê toàn bộ vốn gốc và lãi dưới hình thức thanh toán tiền thuê
Trang 14Lãi suất. Trong CTTC có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài
sản thuê Bên cho thuê mặc dù sở hữu tài sản những sẽ sử dụng nó mà cho thuê
để thu lãi Lãi suất cho thuê thường dựa trên lãi suất cho vay trung dài hạn trên thị trường, thêm vào đó tùy thuộc vào mức độ rủi ro của từng dự án cho thuê và tình hình vốn đầu vào của bên cho thuê
1.1.2.2 Các phương thức CTTC
Ngày nay, bên cạnh các phương thức tài trợ bằng vốn chủ sở hữu, vốn vay, phát hành trái phiếu,…CTTC đã và đang trở thành phương thức tài trợ vốn quan trọng cho các doanh nghiệp không chỉ ở các nước phát triển, mà cả các nước đang phát triển Tại mỗi quốc gia, mỗi khu vực hoạt động CTTC đều có những đặc điểm khác nhau thể hiện sự phong phú và linh hoạt của hình thức kinh doanh này Nhưng tựu chung lại, CTTC có một số phương thức phổ biến sau:
(1) Phương thức CTTC cơ bản
(1a) CTTC hai bên
Theo phương thức này, trước khi cho thuê, tài sản cho thuê đã thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê bằng cách mua tài sản hoặc tự xây dựng
Phương thức CTTC chỉ có sự tham gia của hai bên là bên cho thuê và bên thuê được thực hiện theo quy trình sau:
Hình 1.1: Quy trình CTTC hai bên
(1) Bên cho thuê và bên đi thuê ký hợp đồng CTTC
(2) Bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê sử dụng
(3) Theo định kỳ bên thuê thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê
BÊN CHO THUÊ (1) BÊN ĐI THUÊ
(2) (3)
Trang 15Đây là phương thức thường được các công ty kinh doanh bất động sản và các công ty sản xuất máy móc thiết bị thực hiện Các tổ chức tài chính rất ít khi áp dụng phương thức tài trợ này, trừ trường hợp đối với tài sản đã cho thuê thu hồi về mà không đem phát mại
(1b) CTTC ba bên
Theo phương thức này, bên thuê được quyền lựa chọn, thỏa thuận với bên cung cấp về tài sản thuê Bên cho thuê chỉ thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê theo nội dung đã được hai bên thỏa thuận tại hợp đồng CTTC Quy trình CTTC
có sự tham gia của ba bên là bên cho thuê, bên thuê và bên cung cấp được thực hiện như sau:
Hình 1.2: Quy trình CTTC ba bên
(1) Bên thuê chủ động lựa chọn loại tài sản và nhà cung cấp
(2) Bên cho thuê và bên thuê ký hợp đồng CTTC
(3) Bên cho thuê và bên cung cấp ký hợp đồng mua tài sản phù hợp với yêu cầu của bên thuê theo những thỏa thuận tại hợp đồng CTTC
(4) Bên cung cấp chuyển giao tài sản cho bên thuê sử dụng theo yêu cầu của bên cho thuê
(5) Bên cho thuê thanh toán tiền mua tài sản cho bên cung cấp
(6) Theo định kỳ bên thuê thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê
Phương thức tài trợ ba bên là phương thức CTTC được áp dụng nhiều nhất để tài trợ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là CTTC đối với máy móc thiết bị Trên thế giới, 80% hợp đồng CTTC áp dụng theo phương thức này
BÊN CHO THUÊ BÊN ĐI THUÊ
BÊN CUNG CẤP
(1)
(2)
(3) (5)
(6)
Trang 16(2) Các phương thức CTTC đặc biệt
Từ hai phương thức CTTC cơ bản, CTTC còn có một số phương thức biến tướng đặc biệt như sau:
(2a) Tái cho thuê (Lease-back)
Tái cho thuê hay còn gọi là bán và thuê lại (hoặc mua và cho thuê lại) – là một phương thức đặc biệt của CTTC có sự tham gia của hai bên là bên cho thuê và bên thuê, trong đó bên thuê cũng đồng thời là bên cung cấp Phương thức tái cho thuê áp dụng trong hai trường hợp chủ yếu như sau:
Một là khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn lưu động phục vụ sản xuất
kinh doanh nhưng không thể đi vay được tại các ngân hàng Trong trường hợp đó, họ có thể bán lại một phần tài sản cố định nào đó cho công ty CTTC và ký hợp đồng thuê tài chính lại chính tài sản đó Và như vậy, tiền bán tài sản nhận được từ công ty CTTC, doanh nghiệp có thể sử dụng để bổ sung vốn lưu động
Hai là khi các định chế tài chính áp dụng phương thức tái cho thuê như
(2b) CTTC hợp vốn và CTTC hợp tác
(i) CTTC hợp vốn
CTTC hợp vốn là phương thức CTTC trong đó có từ hai bên cho thuê trở lên cùng tham gia trong một giao dịch CTTC Trong số các bên cho thuê sẽ có một bên cho thuê đứng ra làm đầu mối trong mọi giao dịch Quyền lợi và rủi ro của từng bên cho thuê tham gia trong giao dịch CTTC hợp vốn được phân chia tương ứng với tỷ lệ vốn tham gia
Trang 17(ii) CTTC hợp tác (Leveraged lease)
CTTC hợp tác là phương thức bên cho thuê sử dụng nguồn vốn cho thuê
từ một hoặc nhiều đơn vị cho vay khác bên cạnh nguồn vốn của chính bên cho thuê Trong đó, bên cho thuê là trái chủ của bên thuê, còn bên cho vay là trái chủ của bên cho thuê Thông thường bên cho vay trong phương thức CTTC này
có thể là các ngân hàng, các công ty bảo hiểm hoặc quỹ đầu tư Hình thức hợp tác thường thấy giữa bên cho thuê với bên cho vay là uỷ thác cho thuê trong đó bên uỷ thác là bên cho vay còn bên nhận uỷ thác là bên cho thuê
Cả hai phương thức CTTC hợp vốn và uỷ thác CTTC thường được áp dụng trong trường hợp tài sản cho thuê có giá trị lớn mà một công ty CTTC không đủ khả năng về vốn để cho thuê, hoặc không được cho thuê (vượt hạn mức) hoặc không muốn chấp nhận rủi ro vì tập trung lượng vốn quá lớn vào một khách hàng Tuy nhiên, mức độ phân chia rủi ro đối với các các bên tham gia tài trợ vốn trong hai phương thức cho thuê trên là hoàn toàn khác nhau
(2c) CTTC giáp lưng (Under lease)
Trong nhiều trường hợp, người có nhu cầu sử dụng tài sản thực sự muốn đi thuê nhưng không thể giao dịch trực tiếp với các công ty CTTC vì nhiều lý do khác nhau, thì có thể sử dụng phương thức cho thuê giáp lưng
Cho thuê giáp lưng là phương thức mà trong đó, thông qua sự đồng ý của bên cho thuê, bên thuê thứ nhất sẽ cho bên thuê thứ hai thuê lại tài sản Về thực chất bên thuê thứ nhất chỉ là bên trung gian giữa bên cho thuê và bên thuê thứ hai và chịu trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ nợ của bên thuê thứ hai đối với bên cho thuê
1.1.3 Rủi ro tín dụng của công ty CTTC
1.1.3.1 Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng
RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của các TCTD, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn
Tại quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN
VN có định nghĩa “RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra
Trang 18tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Lý luận và thực tiễn đã minh chứng rằng RRTD là rủi ro luôn luôn tồn tại trong các mối quan hệ vay nợ giữa khách hàng và TCTD thông qua nhiều hình thức giao dịch như cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán và CTTC Cơ cấu RRTD được chia thành hai phần cơ bản là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục
(1) Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt hồ sơ tín dụng, đánh giá khách hàng
và quyết định cấp tín dụng cho khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi
ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro tác nghiệp
(1a) Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá, phân tích tín dụng
nhằm lựa chọn những khách hàng tiềm năng và phương án đầu tư có hiệu quả Một trong những yếu tố quan trọng quyết định mức rủi ro lựa chọn đó là tình trạng bất cân xứng về thông tin trong quan hệ giữa khách hàng và TCTD
(1b) Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo của các khoản cấp
tín dụng như các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng, loại TSBĐ, hình thức bảo đảm và mức cấp tín dụng trên giá trị TSBĐ
(1c) Rủi ro tác nghiệp: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản tín dụng và
quá trình cấp phát tín dụng, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng RRTD
và kỹ thuật xử lý các khoản tín dụng có vấn đề
(2) Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quản lý danh mục đầu tư của TCTD Rủi ro danh mục được phân chia thành hai loại là rủi ro bản chất và rủi ro tập trung
(2a) Rủi ro bản chất: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng
biệt bên trong của từng khách hàng, hoặc từng ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của từng đối tượng khách hàng vay vốn
(2b) Rủi ro tập trung: là trường hợp TCTD tập trung đầu tư quá nhiều đối với một số
khách hàng, ngành nghề, lĩnh vực, vùng địa lý nhất định hoặc tập trung quá
Trang 19nhiều vào một hình thức cấp tín dụng dẫn đến danh mục đầu tư có mức độ tập trung cao và mức độ tổn thất sẽ nhiều hơn nếu có rủi ro xảy ra
Hình 1.3: Cơ cấu của rủi ro tín dụng
1.1.3.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động CTTC
Xét về bản chất, CTTC vẫn là một loại hình tín dụng trung dài hạn nên nó hàm chứa tất cả các yếu tố RRTD như đã nêu ở phần trên Mặc dù vậy, nghiệp vụ CTTC có một số điểm khác biệt so với tín dụng ngân hàng nên mức độ từng loại rủi ro trong cơ cấu RRTD cũng sẽ khác nhau Những yếu tố cụ thể có thể dẫn đến RRTD cho công ty CTTC như sau:
(1) Rủi ro giao dịch: là yếu tố rủi ro luôn tồn tại do tình trạng bất cân xứng về
thông tin giữa bên thuê và bên cho thuê
(1a) Rủi ro lựa chọn: rủi ro lựa chọn có thể định tính và định lượng, tuy nhiên khía
cạnh định tính thường rất khó đánh giá
- Tương tự việc cho vay của các TCTD, công ty CTTC phải định tính các thông
tin tài chính của bên thuê; xác định mục đích sử dụng khoản tiền thuê; xác định rủi ro trong hoạt động kinh doanh của bên thuê dựa trên những dự báo về điều kiện kinh tế chung và kinh tế ngành trong dài hạn; đánh giá uy tín cũng như mức độ cam kết của bên thuê đối với nghĩa vụ trả nợ Ở khía cạnh này, rủi ro của công ty CTTC sẽ có phần dễ kiểm soát hơn vì CTTC là hình thức cho vay
RỦI RO TÍN DỤNG
Rủi ro giao dịch
Rủi ro danh mục
Rủi ro
lựa chọn
Rủi ro tác nghiệp
Rủi ro bảo đảm
Rủi ro bản chất
Rủi ro tập trung
Trang 20bằng tài sản Điều này đảm bảo gần như mọi trường hợp khoản cho thuê đều được sử dụng đúng mục đích Tuy nhiên vấn đề then chốt trong việc định tính rủi ro lựa chọn nằm ở chất lượng và độ tin cậy của các nguồn thông tin
- Khía cạnh định lượng của việc đánh giá rủi ro lựa chọn bao gồm việc phân tích
các dữ liệu tài chính trong quá khứ và dự kiến kết quả trong tương lai nhằm đánh giá khả năng của bên thuê trong việc hòan trả khoản cho thuê đúng hạn và khả năng bên thuê vẫn duy trì được hoạt động kinh doanh tốt trước những biến động của ngành và nền kinh tế Ngòai ra, một yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với các công ty CTTC là phải đánh giá được tính thanh khoản, sự hợp lý giữa giá cả
và chất lượng của tài sản thuê để từ đó quyết định các điều kiện cho thuê phù hợp với đặc thù tài sản cho thuê Độ chính xác trong việc định lượng rủi ro thường phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, trình độ và kinh nghiệm của những cá nhân, bộ phận trực tiếp thẩm định khoản cho thuê
(1b) Rủi ro bảo đảm: rủi ro bảo đảm của các khoản CTTC phụ thuộc rất lớn vào lọai
tài sản cho thuê và điều kiện cho thuê đi kèm Tài sản cho thuê thông thường là máy móc thiết bị và phương tiện vận chuyển phục vụ sản xuất kinh doanh Tùy vào giá trị và tính thanh khoản của tài sản mà RRTD của khoản cho thuê sẽ cao hay thấp vì thông thường các khoản cho thuê chỉ được đảm bảo bằng chính tài sản thuê mà không có biện pháp bảo đảm bổ sung nào khác
(1c) Rủi ro tác nghiệp: là loại rủi ro có khả năng cao dẫn đến nợ xấu tại các công ty
CTTC tại Việt Nam Do bản chất các công ty CTTC chỉ “độc canh” nên việc kết nối thông tin thường xuyên với bên thuê không chặt chẽ được như các TCTD vì không có giao dịch tài khoản, thanh toán, cho vay vốn lưu động,… Hơn nữa, do quy mô các công ty CTTC khá nhỏ so với các TCTD nên hệ thống công nghệ, quản lý và cả nguồn nhân lực cũng có phần hạn chế hơn
(2) Rủi ro danh mục: là lọai rủi ro tương quan, có nghĩa là, rủi ro về danh mục cho
thuê/cho vay không được đa dạng hóa hợp lý luôn có tính tương quan cao so với lợi nhuận của việc cho thuê/cho vay Rủi ro danh mục bao hàm hai yếu tố rủi ro chính là:
Trang 21- Rủi ro bản chất đối với công ty CTTC sẽ có mức độ cao hơn so với các TCTD
cho vay vì phạm vi hoạt động của công ty CTTC nhỏ hơn và không phải tất cả các ngành nghề đều có tài sản phù hợp với hình thức thuê tài chính
- Công ty CTTC với hạn chế về quy mô hoạt động, nguồn nhân lực cũng như hệ
thống mạng lưới nên rủi ro tập trung cũng là loại rủi ro thường xảy ra
Tất cả các yếu tố rủi ro trên có thể có mức độ cao thấp khác nhau tùy thuộc vào chính cơ cấu tổ chức, nguồn lực cũng như danh mục cho thuê của từng công ty CTTC Tuy nhiên, biểu hiện tất yếu của RRTD đối với mọi khoản cho thuê chính là việc xuất hiện các khoản nợ xấu
1.2 Nợ xấu của công ty CTTC
1.2.1 Khái niệm nợ xấu và các tiêu chí phân loại nợ
1.2.1.1 Theo thông lệ quốc tế
Theo định nghĩa về nợ xấu của Phòng Thống kê Liên hợp quốc, “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận, hoặc các khoản thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”
Như vậy, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) thời gian quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng thu hồi nợ không chắc chắn Đây được coi là định nghĩa theo chuẩn mực kế toán quốc tế đang được áp dụng phổ biến hiện nay
Trên cở sở tổng hợp và phát triển các tiêu chí phân loại nợ của các ngân hàng và các quốc gia, tại báo cáo của Viện tài chính quốc tế (The Institute of International Finance - IIF) vào tháng 6 năm 1999 đã đưa ra các tiêu chí chung nhất về phân loại nợ Theo đó, các khoản cấp tín dụng được phân loại thành năm nhóm như sau:
(i) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn – Standard): là những khoản nợ tốt, trong đó cả nợ
gốc và nợ lãi đều đang trong hạn và không có bất kỳ một dấu hiệu rủi ro nào về thanh toán, việc hoàn trả đúng và đầy đủ nợ gốc và lãi
Trang 22(ii) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý – Wach): là nhũng khoản nợ đang bị lo ngại về khả năng
chi trả đầy đủ nếu không có những điều chỉnh hợp lý từ phía khách hàng và cần phải được ngân hàng giám sát kỹ hơn
(iii) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn – Substandard): là những khoản nợ mà việc trả nợ
đầy đủ và đúng hạn bị nghi ngờ do thiếu các điều kiện đảm bảo; hay là nợ gốc hoặc nợ lãi đã quá hạn trên 90 ngày Các khoản nợ này có những yếu kém được xác định rõ ràng, có khả năng đưa đến mất mát nếu không được sửa chữa và vì vậy có thể dẫn đến sự suy giảm khoản nợ
(iv) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ - Doubful): là những khoản nợ có tất cả các nhược điểm
của nợ dưới tiêu chuẩn, cộng thêm các nhược điểm nữa làm cho việc thu hồi hoặc thanh toán toàn bộ khoản nợ trở nên rất đáng ngờ và không chắc chắn; và/hoặc lãi hoặc nợ gốc đã chậm thanh toán quá 180 ngày Trong danh mục cấp tín dụng của ngân hàng, khoản nợ này được đánh giá là bị suy giảm nhưng chưa mất toàn bộ
(v) Nhóm 5 (Nợ tổn thất – Loss): là những khoản nợ được đánh giá là không có khả
năng thu hồi và/hoặc nợ lãi hoặc nợ gốc đã chậm thanh toán quá một năm
Trong năm nhóm nợ trên, các khoản nợ bị phân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5
được coi là nợ xấu (bad debt)
1.2.1.2 Theo chuẩn mực Việt Nam
Cùng với sự phát triển và hội nhập của thị trường tài chính Việt Nam, quan niệm về nợ xấu cũng đã có sự thay đổi về cơ bản qua nhiều giai đoạn khác nhau
(i) Quan niệm về nợ xấu ngân hàng trước năm 2000
Trước năm 2000, Việt Nam chưa có quy định cụ thể về nợ xấu mà chỉ có các quy định về nợ quá hạn và nợ khó đòi Trong thời kỳ này, các TCTD tại Việt Nam thực hiện phân loại nợ theo thời gian quá hạn bao gồm: nợ quá hạn dưới
90 ngày, nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày, nợ quá hạn từ trên 180 ngày đến
360 ngày và nợ quá hạn trên 360 (hay còn gọi là nợ khó đòi) Và theo quy định của NHNN VN, các TCTD chỉ có thể chuyển nợ quá hạn đối với từng kỳ hạn trả nợ bị quá hạn chứ không chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn Việc
Trang 23áp dụng các biện pháp xử lý nợ sẽ được căn cứ vào nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan dẫn đến nợ quá hạn hoặc nợ khó đòi không thu hồi được
(ii) Quan niệm về nợ xấu theo Quyết định 149/2001/QĐ-TTg
Ngày 05/10/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động phân loại nợ và xử lý các khoản nợ tồn đọng phát sinh trước thời điểm 31/12/2000 của các NHTM
Mặc dù nội dung Quyết định 149/2001/QĐ-TTg không nêu cụ thể khái niệm về
nợ xấu, nhưng có thể hiểu nợ xấu bao gồm các khoản nợ tồn đọng phát sinh trước thời điểm 31/12/2000 và mặc dù ngân hàng đã áp dụng nhiều giải pháp theo quy định hiện hành nhưng vẫn không thu hồi được nợ Và trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định này, theo đề nghị của NHNN VN và các NHTM, Thủ tướng Chính phủ cũng đã cho phép đưa vào trong đề án xử lý nợ tồn đọng đối với một số khoản nợ chưa quá hạn trước thời điểm 31/12/2000 nhưng NHTM có đủ căn cứ để xác định khoản nợ khó có khả năng thu hồi
Và với mục đính của đề án xử lý nợ tồn đọng nhằm giúp tái cơ cấu các NHTM, việc phân loại các khoản nợ xấu tồn đọng không căn cứ vào thời gian quá hạn
cụ thể mà căn cứ vào tính chất và khả năng thu hồi thông qua các biện pháp bảo đảm của khoản vay (có hay không có TSBĐ) và tình trạng pháp lý của khách hàng (còn hay không còn tồn tại, hoạt động) để phân thành ba nhóm nợ cụ thể kèm theo các cơ chế xử lý khác nhau, bao gồm:
- Nợ xấu tồn đọng có TSBĐ
- Nợ xấu tồn đọng không có TSBĐ và không còn đối tượng thu hồi
- Nợ xấu tồn đọng không có TSBĐ nhưng con nợ đang còn tồn tại, hoạt
động (iii) Quan niệm về nợ xấu theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định
18/2007/QĐ-NHNN
Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN VN ngày 22/04/2004 về việc ban hành “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
Trang 24phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD” và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ban hành ngày 25/04/2007 về việc “Sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN”, quy định các TCTD tại Việt Nam thực hiện phân loại
nợ thành năm nhóm dựa trên phương pháp phân loại nợ định lượng hoặc định tính theo các tiêu chí cụ thể như sau:
Phân loại nợ theo phương pháp định lượng:
Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ
cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năng
thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;
Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là
doanh nghiệp, tổ chức thì TCTD phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu);
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 do nguyên nhân khác (*)
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ được
điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu được phân loại vào nhóm 2 nêu trên;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả
năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 do nguyên nhân khác (*)
Trang 25Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 do nguyên nhân khác (*)
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở
lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn
trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị
quá hạn hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 do nguyên nhân khác (*) Trong đó, khoản nợ được phân loại vào các nhóm do nguyên nhân khác (*) như nêu trên là khi TCTD phải chuyển khoản nợ vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn trong các trường hợp cụ thể sau:
• Đối với khách hàng có từ hai khoản nợ trở lên tại TCTD thì tất cả các
khoản nợ đều phải được phân loại vào cùng nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất
• Trường hợp khách hàng vay hợp vốn thì các khoản nợ (bao gồm cả
khoản nợ vay hợp vốn và không hợp vốn) đều phải được phân loại vào cùng nhóm nợ có mức rủi ro cao nhất theo kết quả phân loại nợ tại một trong các TCTD tham gia cho vay hợp vốn
• TCTD chủ động phân loại khoản nợ vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo
đánh giá của TCTD khi khoản nợ hoặc khách hàng vay có biểu hiện bất lợi ảnh hưởng đến khả năng thu hồi khoản nợ
Trang 26Ngoài các quy định về phân loại nhóm nợ nêu trên, Quyết định NHNN còn quy định về thời gian thử thách đối với các khoản nợ đã bị phân loại
18/2007/QĐ-từ nhóm 2 trở lên khi muốn chuyển về nhóm nợ có rủi ro thấp hơn cụ thể như sau:
• Đối với các khoản nợ quá hạn, thời gian thử thách là tối thiểu sáu tháng
đối với khoản nợ trung dài hạn và ba tháng đối với khoản nợ ngắn hạn kể
từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn
• Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thời gian thử thách là tối
thiểu sáu tháng đối với các khoản nợ trung dài hạn và ba tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại
Kết thúc thời gian thử thách, nếu TCTD có đủ cơ sở (có tài liệu, hồ sơ chứng minh) về khả năng hồi phục hoặc trả nợ đúng hạn của khách hàng, TCTD có thể phân loại khoản nợ vào nhóm nợ có mức độ rủi ro thấp hơn, kể cả nhóm 1
Phân loại nợ theo phương pháp định tính
NHNN VN cũng đã mở ra hướng đi cho các TCTD có đủ khả năng và điều kiện thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính, cụ thể như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ được đánh giá là không
có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): bao gồm các khoản nợ đánh giá là khả năng tổn thất cao
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): bao gồm các khoản nợ đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Trang 27Căn cứ trên kết quả phân loại nhóm nợ hoặc theo phương pháp định lượng hoặc theo phương pháp định tính như nêu trên, nợ xấu được quy định là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ)
và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)
Từ các quy định nêu trên có thể thấy cơ chế phân loại nợ và xác định nợ xấu hiện nay đã được NHNN VN quy định khá rõ ràng, cụ thể và tiếp cận với các thông lệ quốc tế về nợ xấu Tuy nhiên, vấn đề quan trọng đặt ra là tính nghiêm túc trong việc thực hiện các quy định này tại từng TCTD nhằm đảm bảo đánh giá kịp thời và đúng thực chất chất lượng tín dụng của từng TCTD nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung
1.2.2 Nguyên nhân phát sinh các khoản nợ xấu trong hoạt động CTTC
Mọi yếu tố rủi ro như RRTD, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản,… đều có thể dẫn đến tình trạng nợ xấu Trong đó, RRTD là rủi ro chủ yếu nhất
có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng các khoản cho thuê
Nợ xấu có thể phát sinh từ các nguyên nhân bên trong hoặc nguyên nhân bên ngoài, hoặc cũng có thể là do sự kết hợp của cả hai nguyên nhân này
1.2.2.1 Nguyên nhân bên trong
Vì CTTC là một quan hệ giao dịch đa chiều, do đó các nguyên nhân bên trong của cả phía bên cho thuê, bên thuê thậm chí là bên cung cấp tài sản đều có thể ảnh hưởng đến chất lượng của khoản CTTC
Về phía người cho thuê, các nguyên nhân bên trong thường xuất phát từ bốn
yếu tố cơ bản cấu thành hệ thống phòng ngừa RRTD của công ty CTTC bao gồm: triết lý cho thuê, chính sách cho thuê, quy trình cho thuê và con người Một công ty CTTC với một triết lý và chính sách cho thuê nóng vội, quy trình cho thuê lỏng lẻo và đội ngũ nhân sự kém cỏi, thiếu trung thực thì có thể tìm thấy câu trả lời cho các khoản nợ xấu ngay trong chính công ty CTTC đó Hơn nữa, ngay cả khi công ty CTTC có một hệ thống phòng ngừa rủi ro tốt thì vẫn
có thể phát sinh các sự cố liên quan đến rủi ro tác nghiệp hoặc rủi ro liên quan đến yếu tố con người
Trang 28Về phía bên đi thuê, nguyên nhân bên trong quyết định hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh cũng như ý thức và hành vi của một doanh nghiệp đó là hệ thống quản lý Bất cứ một sự yếu kém nào trong quản lý cũng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán các khoản nợ thuê tài chính Ngoài ra, cũng không loại trừ các nguyên nhân xuất phát từ chủ ý của bên đi thuê liên quan đến rủi ro móc ngoặc, lừa đảo…
Về phía bên cung cấp tài sản, sự yếu kém về năng lực sản xuất hoặc chất lượng
dịch vụ, hậu mãi có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng của tài sản thuê, từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của khách hàng thuê tài chính Ngoài
ra, rủi ro nhà cung cấp cố tình móc ngoặt với bên thuê tài chính để nâng giá tài sản, giả mạo hồ sơ để lừa đảo,… có thể dẫn đến tổn thất lớn đối với bên cho thuê
1.2.2.2 Nguyên nhân bên ngoài
Ngoài các nguyên nhân xuất phát từ nội tại của từng chủ thể tham gia trong giao dịch CTTC, thì các nguyên nhân bên ngoài cũng có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng các khoản cho thuê Các ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài thường rất đa dạng
và sẽ tác động đến hầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế theo nhiều hướng khác nhau, trong đó bao gồm cả bên cho thuê, bên thuê, bên cung cấp và các đối tác có liên quan khác Các nguyên nhân bên ngoài này đa phần mang tính khách quan và thường xuất phát từ một số vấn đề chủ yếu như sau:
Những biến động về tình hình kinh tế vĩ mô của một số ngành nghề hoặc của
cả nền kinh tế. Những biến động vĩ mô này nếu theo hướng bất lợi thường sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi nhuận, dòng tiền của các doanh nghiệp trong nền kinh tế theo các mức độ khác nhau và tất yếu sẽ dẫn đến suy giảm khả năng chi trả các khoản nợ của doanh nghiệp Nếu những biến động bất lợi kéo dài dẫn đến tình trạng suy thoái thì có thể gây ra nguy cơ nhiều doanh nghiệp bị đào thải, cũng như sự đổ vỡ của nhiều công ty CTTC Ngoài ra, ngay
cả khi môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi và trong giai đoạn nền kinh tế hưng thịnh nhất thì vẫn có một số ngành nghề có thể bị suy giảm và có những doanh
Trang 29nghiệp bị đào thải do thiếu tính cạnh tranh trên thị trường Do đó, trong bất kỳ hoàn cảnh nào của nền kinh tế thì các công ty CTTC vẫn phải đối đầu với nguy
cơ nợ xấu nếu không có định hướng cho thuê đúng đắn và không chọn lọc tốt khách hàng để cho thuê
Sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật chung. Nền kinh tế của mọi quốc gia
luôn chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của môi trường pháp lý cũng như chính sách phát triển kinh tế của quốc gia đó Mọi sự thay đổi về hệ thống văn bản pháp luật, cơ cấu tổ chức của các cơ quan hành pháp hoặc cơ quan quản lý nhà nước, đều sẽ có tác động trực tiếp đến hoạt động của nền kinh tế Riêng đối với lĩnh vực tín dụng nói chung và CTTC nói riêng, RRTD có thể phát sinh ngay từ những bất cập trong môi trường pháp lý như sự chồng chéo trong các quy định pháp luật; sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương; sự điều hành, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN; hệ thống thông tin quản lý còn nghèo nàn và kém minh bạch;…
Sự tác động từ thị trường thế giới Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập
quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp – những khách hàng thường xuyên của các TCTD phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Các giao dịch thương mại quốc tế ngày càng mở rộng là động lực phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn
có được do hội nhập thì nền kinh tế của từng quốc gia cũng sẽ nhạy cảm hơn với những biến động của thị trường thế giới Ví dụ như những ảnh hưởng của giá xăng dầu thế giới luôn có tác động đến nền kinh tế tại mọi quốc gia vì đây là mặt hàng thiết yếu mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có nhu cầu nhập khẩu Một ví dụ khác là cuộc khủng hoảng và đổ vỡ mang tính dây chuyền của các tổ chức tài chính tại Mỹ có liên quan đến cho vay dưới chuẩn và cho thế chấp bất động sản đã làm ảnh hưởng đến nhiều quốc gia tại khu vực Châu Âu
và một số nước Châu Á như Nhật, Hàn Quốc…
Trang 30Ngoài ra, một số nguyên nhân bên ngoài khác có thể đến tình trạng nợ xấu như:
ảnh hưởng không thuận lợi của thiên tai, điều kiện khí hậu; sự thay đổi nhanh chóng về trình độ công nghệ; sự thay đổi xu hướng tiêu dùng của xã hội;…
1.3 Công tác XLNX tại các công ty CTTC
1.3.1 Công tác XLNX tín dụng nói chung
1.3.1.1 Dấu hiệu cảnh báo sớm các khoản nợ xấu
Để quản trị RRTD có hiệu quả thì công tác phòng ngừa rủi ro có ý nghĩa quan trọng nhằm duy trì chất lượng tín dụng và giảm thiểu thiệt hại khi xảy ra tổn thất Việc nhận biết các khoản nợ xấu đòi hỏi các TCTD phải có những quy trình và có đội ngũ nhân sự có khả năng thu thập, xử lý và phân tích thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
để tìm ra những dấu hiệu cảnh báo sớm đối với các khoản cho vay
Nhìn chung, các dấu hiệu cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu có thể được chia thành bốn nhóm dấu hiệu như sau:
(i) Dấu hiệu cảnh báo về tài chính
Những dấu hiệu cảnh báo sớm về tài chính tập trung vào những biểu hiện về tình hình tài chính của khách hàng vay thông qua các số liệu trên bảng cân đối
kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ và tình hình thanh toán công nợ của khách hàng
(ii) Dấu hiệu cảnh báo về hoạt động
Những dấu hiệu cảnh báo sớm về hoạt động tập trung vào các bất ổn trong sản xuất; tình hình luân chuyển hàng tồn kho; quan hệ với các nhà cung cấp, nhà phân phối và khách hàng; tình hình nhân sự cũng như bộ mặt của doanh nghiệp (iii) Dấu hiệu cảnh báo về hệ thống quản lý của bên đi vay
Những dấu hiệu cảnh báo sớm có liên quan đến vấn đề quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau trong hành vi quản lý, xuất phát từ
sự thay đổi hành vi cá nhân của các nhân sự cấp quản lý cho đến sự thay đổi thái độ đối với việc chấp nhận rủi ro trong quá trình điều hành kinh doanh (iv) Dấu hiệu cảnh báo có liên quan đến giao dịch ngân hàng
Trang 31Nhóm dấu hiệu này chủ yếu tập trung ở những biểu hiện bất thường trong quan
hệ với các TCTD như giảm số dư tiền gửi, nhu cầu vay nợ tăng, việc thanh toán các khoản nợ cũ có dấu hiệu chậm trễ …
Mặc dù có nhiều dấu hiệu cảnh báo nợ xấu, nhưng lại không có một mô hình nhất định nào để nhận diện đầy đủ và chính xác hoàn toàn quy mô cũng như tính chất của các khoản nợ xấu Do đó, việc xây dựng mô hình hoạt động đảm bảo rà soát tối đa các dấu hiệu rủi ro để có giải pháp phòng ngừa sớm mang ý nghĩa quan trọng đối với tất cả các TCTD theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”
1.3.1.2 Các giải pháp XLNX
Khi phải đối mặt với việc xử lý các khoản nợ xấu, TCTD thường sẽ có hai chiến lược để lựa chọn là “duy trì” hoặc “rút lui”
Chiến lược “duy trì” áp dụng khi TCTD xác định sẽ tiếp tục duy trì mối
quan hệ tín dụng với khách hàng, đồng thời tiến hành thương thảo và thực hiện các biện pháp cần thiết để có thể thu hồi một phần hay toàn bộ khoản nợ mà không dựa vào các công cụ pháp lý để ép buộc người đi vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Chiến lược “rút lui” áp dụng đối với các khoản vay mà TCTD xác định
là khách hàng không còn khả năng hoàn trả nếu không thực hiện việc thanh lý tài sản hoặc xoá nợ Với chiến lược này, TCTD có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau kể cả biện pháp pháp lý để ép buộc người
đi vay thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ,
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của TCTD trong việc lựa chọn chiến lược xử lý khoản nợ xấu, tuy nhiên các giải pháp cơ bản để tiến hành xử lý các khoản
nợ xấu bao gồm: tái cơ cấu; xử lý TSBĐ, đòi nợ bên bảo lãnh; bán khoản nợ; chứng khoán hoá khoản nợ; sử dụng biện pháp pháp lý và xử lý bằng DPRR
a) Tái cơ cấu doanh nghiệp và/hoặc khoản nợ
Đối với các khoản nợ xấu cuả khách hàng là doanh nghiệp, sau khi phân tích thực trạng tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu đánh giá khách hàng còn có khả năng thanh toán các khoản nợ xấu thì TCTD sẽ áp dụng biện pháp tái cơ cấu
Trang 32doanh nghiệp, đồng thời có thể kết hợp với việc cơ cấu lại khoản nợ cho phù hợp với
lộ trình và kế hoạch tái cơ cấu của doanh nghiệp đó
Tái cơ cấu doanh nghiệp là quá trình cải tổ, sắp xếp lại hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm tháo gỡ những khó khăn Việc thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp trong trường hợp này vẫn do doanh nghiệp thực hiện nhưng đặt dưới sự kiểm soát và tư vấn của chủ nợ (các TCTD), các cổ đông hoặc nhà đầu tư khác với mục đích cao nhất là khôi phục và gia tăng lợi nhuận cũng như giá trị của doanh nghiệp
Song song với việc thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp, các khoản nợ xấu thông thường cũng sẽ được các TCTD xem xét cơ cấu lại như điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, miễn giảm lãi Thông thường giải pháp này chỉ được áp dụng đối với các khoản nợ xấu nhóm 3, nhóm 4 và khách hàng có thiện chí, có khả năng để khắc phục tình trạng nợ xấu
b) Xử lý TSBĐ, đòi nợ bên bảo lãnh
Đối với những khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại, khách hàng không có khả năng hồi phục hoặc có thái độ chây ỳ trong việc trả nợ Các TCTD thường lựa chọn giải pháp xử lý tài sản để thu hồi nợ Việc xử lý bán tài sản có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như tự tổ chức bán công khai hoặc bán qua trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản
Riêng đối với các khoản cho vay có sự bảo lãnh của bên thứ 3, TCTD sẽ tiến hành yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay Nếu bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay, các TCTD có thể tiến hành xử lý tài sản bảo lãnh (nếu có) tương tự như tài sản thế chấp, cầm cố của bên vay
Mặc dù đây là biện pháp không mong muốn vì việc xử lý TSBĐ hoặc đòi nợ bên thứ ba thông thường rất phức tạp và tốn nhiều thời gian (đặc biệt đối với TSBĐ là bất động sản), khả năng thu hồi đầy đủ khoản nợ cũng không chắc chắn, tuy nhiên các TCTD vẫn buộc phải thực hiện để thu hồi vốn Cho đến nay, biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vẫn được các TCTD sử dụng chủ yếu, vì
xử lý TSBĐ vẫn là một trong số các biện pháp thu hồi vốn có hiệu quả nhất nếu TCTD
Trang 33đánh giá chính xác giá trị và tính thanh khoản của tài sản lúc nhận cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh Ngoài ra, biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh còn giúp giảm tâm lý ỷ lại của người đi vay
c) Bán các khoản nợ
Biện pháp này thường được TCTD sử dụng đối với các khoản nợ không có TSBĐ hoặc TCTD không muốn mất thêm nhiều thời gian để truy đòi cho khoản nợ tồn đọng Trong trường hợp này, TCTD sẽ chuyển quyền đòi nợ cho một tổ chức khác có chức năng theo luật định Khi bán các khoản nợ xấu, TCTD sẽ phải chấp nhận bán thấp hơn mệnh giá để thu hồi vốn nhanh và tránh ảnh hưởng đến những khoản nợ còn lại, hoặc ảnh hưởng đến tình hình chung của TCTD
Các TCTD cũng thường chọn giải pháp này để làm trong sạch bảng tổng kết tài sản của mình Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, các TCTD thường thành lập tổ chức có tính chuyên môn hoá cao là các AMC Các AMC này sẽ tiếp nhận các khoản
nợ và thực hiện xử lý hoặc tiếp tục mua bán các khoản nợ như nghiệp vụ kinh doanh chính Mô hình AMC cũng đã được nhiều quốc gia lựa chọn như một giải pháp hiệu quả để xử lý các khoản nợ tồn đọng, mang tính chất dây dưa kéo dài
d) Chứng khoán hoá các khoản nợ
Hiện nay, một kỹ thuật mới trong công tác XLNX đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là tại những quốc gia có thị trường tài chính phát triển mạnh, đó
là chứng khoán hoá các khoản nợ
Một cách đơn giản, chứng khoán hóa là quá trình tập hợp và tái cấu trúc các tài sản thiếu tính thanh khoản nhưng lại có thu nhập bằng tiền cao trong tương lai như các khoản phải thu, các khoản nợ rồi chuyển đổi chúng thành trái phiếu và đưa ra giao dịch trên thị trường tài chính Chính vì vậy nên đôi khi chứng khoán hóa còn được gọi là trái phiếu hóa
Thông thường kỹ thuật chứng khoán hóa được thực hiện trên hai nhóm tài sản chủ yếu là các khoản nợ vay được thế chấp bằng bất động sản và các tài sản tài chính không được thế chấp bằng bất động sản Tương ứng với hai loại tài sản này thì sau khi được chứng khoán hóa sẽ hình thành hai loại chứng khoán là các chứng khoán dựa trên
Trang 34thế chấp bất động sản (Mortgage backed securities) và các chứng khoán tài sản tài chính (Asset backed securities – ABS) ABS đơn giản là các trái phiếu hoặc giấy tờ có giá (gọi chung là chứng khoán được hình thành từ các tài sản tài chính ví dụ như các khoản phải thu từ thẻ tín dụng, khoản vay mua ô tô, khoản vay tiêu dùng,…Như vậy, điểm khác biệt lớn nhất giữa ABS và các loại trái phiếu khác là mức độ tín nhiệm của các nguồn thu, khả năng thanh toán của các tài sản tài chính
Ở Châu Âu, chứng khoán hóa đã cứu các tập đoàn viễn thông khỏi nguy cơ phá sản khi họ thực hiện chuyển các khoản doanh thu tương lai của các thuê bao cố định thành các ABS Nhờ vậy mà các công ty này có một khoản tiền đáng kể để trang trải cho các món nợ khổng lồ, hậu quả của cuộc chạy đua tranh giành quyền cung cấp dịch
vụ điện thoại di động thế hệ 3G Đặc biệt là ở Hàn Quốc và Trung Quốc, chứng khoán hóa đã giúp Chính Phủ các quốc gia này vừa giải quyết tốt các khoản nợ xấu và vừa bổ sung hàng hóa cho thị trường chứng khoán
e) Sử dụng biện pháp pháp lý để XLNX
Biện pháp xử lý các khoản nợ xấu bằng con đường pháp lý thông qua trọng tài kinh tế hoặc toà án thường được TCTD lựa chọn khi các biện pháp tái cơ cấu, xử lý tài sản, bán hoặc chứng khoán hoá khoản nợ không khả thi Trong trường hợp này, TCTD
sẽ yêu cầu trọng tài kinh tế hoặc toà án can thiệp để buộc bên đi vay thực hiện nghĩa
vụ trả nợ và/hoặc chuyển giao tài sản đảm bảo để phát mại
Ngoài ra, trong trường hợp TCTD cho vay là chủ nợ chính của bên đi vay thì TCTD có thể lựa chọn phương án yêu cầu toà án tuyên phá sản đối với doanh nghiệp
đi vay theo các quy định cụ thể về luật phá sản của từng quốc gia Nhưng về cơ bản, kể
từ ngày toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản, các khoản nợ chưa tới hạn sẽ được coi là tới hạn và các chủ nợ phải ngừng không được tính lãi cho các khoản nợ Điều này thường không có lợi cho phía TCTD vì thời gian giải quyết phá sản doanh nghiệp có thể kéo dài
Chính vì vậy mà biện pháp pháp lý thường là lựa chọn cuối cùng của TCTD để truy đòi khoản nợ từ bên đi vay vì trình tự thủ tục thực hiện thường phức tạp, thời gian
Trang 35xử lý kéo dài, tốn kém nhiều chi phí trong khi khả năng hoàn trả của bên đi vay là không cao
f) Xử lý bằng DPRR
DPRR là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy
ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết DPRR được tính và hạch toán vào chi phí hoạt động của TCTD
Những trường hợp đuợc xử lý từ quỹ DPRR thông thường là khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh là những tổ chức bị giải thể, phá sản hoặc cá nhân bị chết, mất tích hoặc không thực hiện được các nghĩa vụ nợ do bất khả kháng và những khoản nợ thuộc nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)
Do tính chủ động cao nên biện pháp này thường được các TCTD vận dụng tối
đa nhằm XLNX nhanh chóng Thực chất của biện pháp này là TCTD sử dụng nội lực của mình để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên tất yếu sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của TCTD Việc quá lạm dụng giải pháp này sẽ làm giảm thu nhập cuả TCTD
và thất thoát vốn cho vay Vì vậy, các TCTD nên chú trọng hơn vào các biện pháp thu hồi nợ có tính truy đòi triệt để hơn trừ những trường hợp mang tính bất khả kháng
1.3.2 Các giải pháp XLNX tại công ty CTTC
Về cơ bản, mọi giải pháp XLNX như đã nêu ở phần 1.3.1.2 đều có thể áp dụng đối với nợ xấu CTTC Tuy nhiên, căn cứ vào tính khả thi, điểm ưu việt của từng phương pháp cũng như thực tế hoạt động của các công ty CTTC cho thấy việc XLNX CTTC chỉ tập trung vào bốn nhóm giải pháp chính là tái cơ cấu, xử lý TSBĐ, sử dụng biện pháp pháp lý và xử lý bằng DPRR vì các lý do sau:
Một là do tính không khả thi của một số giải pháp như bán khoản nợ hoặc chứng khoán hóa khoản nợ
- Về nghiệp vụ mua bán nợ chủ yếu được thực hiện thông qua mô hình các AMC
và thường nghiêng về phục vụ cho mục tiêu xử lý nợ tồn đọng gắn với một chính sách kinh tế chứ không theo mục đích kinh doanh vì lợi nhuận Do đó, việc bán các khoản nợ xấu CTTC thường khó có thể thực hiện như một giải pháp xử lý nợ mang tính thương mại
Trang 36- Về nghiệp vụ chứng khoán hóa, để có thể thực sự triển khai thì thị trường chứng
khoán cần đạt đến một trình độ phát triển nhất định với đầy đủ các thị trường phụ trợ như thị trường mua lại (repo), thị trường các sản phẩm phái sinh (derivaties) Hơn nữa, CTTC hiện nay đa phần là cho thuê tài sản là động sản nên khả năng chứng khoán hóa chỉ có thể thực hiện dưới dạng chứng khoán tài sản tài chính (ABS) là các khoản nợ cho thuê Tuy nhiên đa số các khoản nợ cho thuê đã chuyển thành nợ xấu đều có dấu hiệu suy giảm hoặc mất khả năng thu hồi, dòng tiền thu nhập trong tương lai từ các khoản nợ này không đảm bảo nên khả năng áp dụng kỹ thuật chứng khoán hóa cho các khoản nợ xấu CTTC theo từng món là không khả thi
Hai là do điểm đặc thù của CTTC là tài sản cho thuê thuộc sở hữu của bên cho thuê nên giải pháp xử lý tài sản đảm bảo – tức tài sản cho thuê – có nhiều điểm thuận lợi hơn so với TSBĐ trong cho vay Chính vì vậy, giải pháp thu hồi và xử lý tài sản cho thuê gần như là giải pháp chung phổ biến cho hầu hết các khoản nợ xấu CTTC trừ những trường hợp việc thu hồi tài sản gặp trở ngại Và thông thường để XLNX hiệu quả thì các công ty CTTC sẽ phải áp dụng kết hợp một cách linh hoạt nhiều giải pháp nhằm tối đa hóa khả năng thu hồi khoản nợ Tùy theo mức độ nghiêm trọng và phức tạp của khoản nợ xấu, các giải pháp có thể được lựa chọn lần lượt như sau:
- Tái cơ cấu khoản nợ Việc cơ cấu nợ tại các công ty CTTC về cơ bản tương tự
như cơ cấu nợ vay của các TCTD ngân hàng Theo đó, cơ cấu nợ bao gồm hai trường hợp là gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ Đây là giải pháp rất phổ biến được áp dụng ở hầu hết các TCTD nói chung và các công ty CTTC nói riêng khi khách hàng được đánh giá là có thiện chí, còn khả năng hồi phục và khoản nợ còn có khả năng thu hồi đầy đủ
- Xử lý tài sản cho thuê Tùy vào ý thức, tình trạng hoạt động của khách hàng
thuê cũng như mức độ của khoản nợ xấu, các Công ty CTTC có thể quyết định
xử lý tài sản cho thuê để thu hồi nợ mà không cần áp dụng giải pháp tái cơ cấu
Về khía cạnh pháp lý, việc thu hồi tài sản cho thuê của các Công ty CTTC thuận lợi hơn rất nhiều so với việc xiết TSBĐ nợ vay Cũng chính do có quyền sở hữu
Trang 37tài sản mà Công ty CTTC có thể có nhiều phương án lựa chọn hơn đối với việc
xử lý tài sản sau khi thu hồi như cho thuê tiếp, trực tiếp tổ chức bán đấu giá tài sản hoặc bán thông qua tổ chức bán đấu giá Tuy nhiên, việc xử lý tài sản cho thuê trong một số trường hợp vẫn không phải lựa chọn tối ưu do tính thanh khoản của tài sản cho thuê không cao hoặc giá trị thu hồi không đủ bù đắp khoản nợ Chính vì vậy, cho dù có những thuận lợi nhất định về pháp lý nhưng đây không phải là giải pháp luôn luôn có hiệu quả trong việc XLNX CTTC
- Sử dụng biện pháp pháp lý Thông thường trước khi đi đến quyết định lựa chọn
giải pháp XLNX bằng con đường pháp lý, các Công ty CTTC đều đã phải tính đến phương án xử lý tài sản Nhưng có những trường hợp và do nhiều nguyên nhân khác nhau mà tài sản thuê bị mất mát hoặc có tranh chấp dẫn đến Công ty CTTC không thể thực hiện việc thu hồi để xử lý thì giải pháp pháp lý có thể là một lựa chọn hợp lý Tuy nhiên thực tế cho thấy giải pháp này rất ít được sử dụng do tính chất phức tạp, tốn kém nhiều thời gian và hiệu quả không cao Mặc khác văn hóa giải quyết tranh chấp thông qua tòa án hoặc trọng tài kinh tế vẫn còn chưa phổ biến với nhiều nước đang phát triển – nơi có hoạt động CTTC khá phát triển
- Xử lý bằng DPRR Đây có có thể được xem là giải pháp cuối cùng để XLNX
CTTC Tuy nhiên, việc sử dụng DPRR thường chỉ được áp dụng trong các trường hợp khách hàng giải thể phá sản (đối với tổ chức) hoặc chết, mất tích (đối với các nhân) và các khoản nợ được đánh giá hết khả năng thu hồi Ngoài
ra, vì toàn bộ nợ thuê tài chính đều có TSBĐ – là chính tài sản cho thuê - nên việc sử dụng dự phòng để xử lý thường chỉ thực hiện được sau khi thu hồi, bán phát mãi tài sản mà công ty CTTC vẫn không thu hồi đủ khoản nợ Chính vì vậy, việc sử dụng DPRR mặc dù là giải pháp xử lý nợ bằng chính nội lực của các Công ty CTTC nhưng vẫn phải tuân thủ các quy định và được kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế tối đa việc thất thoát vốn cũng như ngăn ngừa tâm lý ỷ lại và tính chủ quan trong khâu ra quyết định cho thuê
Trang 38Về phía các Công ty CTTC, việc tăng cường phát triển hoạt động CTTC phải đi kèm với một chính sách quản trị rủi ro tốt để đảm bảo đầu tư hiệu quả cho nền kinh tế
và góp phần xây dựng thị trường tài chính bền vững, lành mạnh Tín dụng mà đặc biệt
là tín dụng trung dài hạn luôn luôn chứa đựng nhiều rủi ro nên nợ xấu là điều khó tránh khỏi Tuy nhiên, việc nhìn nhận đúng về nợ xấu và có những giải pháp để XLNX có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mọi TCTD, bao gồm cả các Công ty CTTC Phần cơ
sở lý luận trình bày tại Chương 1 là nền tảng cho việc đánh giá thực trạng cũng như đề
ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác XLNX tại VCBL hiện nay và trong tương lai
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu chung về VCBL
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
VCBL được thành lập trên cơ sở Công ty Thuê mua và Đầu tư của NHNT VN Công ty này do NHNT VN lập ra để hoạt động thí điểm nghiệp vụ CTTC trước khi NHNN VN ban hành thể lệ tín dụng thuê mua theo Quyết định 149/QĐ-NH5
Sau khi VCBL ra đời theo quyết định số 108/1998/QĐ-NHNN5 ngày 25/03/1998 của Thống đốc NHNN VN thì Công ty Thuê mua và Đầu tư được chuyển đổi thành Công ty QLN và Khai thác tài sản trực thuộc NHNT VN Ngoài ra, trước khi VCBL được thành lập, NHNT VN còn có một liên doanh với Ngân hàng tín dụng dài hạn Nhật Bản và Công ty Cho thuê Nhật Bản để thành lập Công ty TNHH Thuê tài chính Việt Nam (VLC) với vốn điều lệ là 10 triệu USD Sau một thời gian hoạt động khá hiệu quả, phía liên doanh Nhật Bản gặp khó khăn về tài chính đã xin rút khỏi liên doanh NHNT VN tiến hành mua lại phần vốn góp của phía Nhật Bản và sáp nhập VLC với VCBL
Năm 2004, VCBL tiến hành mở thêm một chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 145/QĐ.NHNT.TCCB-ĐT ngày 22/03/2004 của HĐQT NHNT VN nhằm mở rộng hơn nữa phạm vi hoạt động trên cả nước
Khái quát về loại hình doanh nghiệp, mạng lưới hoạt động, lĩnh vực hoạt động
và quy mô vốn điều lệ của VCBL hiện nay như sau:
- Loại hình doanh nghiệp: Trước khi NHNT VN cổ phần hóa, VCBL là DNNN hạch toán kinh doanh độc lập, trực thuộc NHNT VN Sau khi NHNT VN cổ phần hóa, nhưng chưa tiến hành cổ phần hóa các công ty con, VCBL được chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thành Công ty TNHH một thành viên
Trang 40- Mạng lưới hoạt động: VCBL hoạt động trên phạm vi cả nước với trụ sở chính đặt tại Hà Nội và một chi nhánh đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh Vùng đầu tư cũng được phân định rõ theo khu vực địa lý với khu vực từ Huế trở ra hết phía Bắc do trụ sở chính phụ trách và khu vực từ Đà Nẵng trở vào hết phía Nam do chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh phụ trách
- Lĩnh vực hoạt động: VCBL hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0106000585 do Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 02/06/2008 với các lĩnh vực kinh doanh bao gồm: CTTC đối với các doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản theo mục đích kinh doanh hợp pháp, tư vấn nhận bảo lãnh cho khách hàng về những dịch
vụ có liên quan đến nghiệp vụ CTTC; Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên bằng ngoại tệ; Phát hành trái phiếu giấy tờ có giá bằng ngoại tệ; Vay vốn bằng ngoại tệ của các TCTD trong và ngoài nước; CTTC được thực hiện bằng ngoại tệ; Thực hiện các dịch vụ ủy thác và quản lý tài sản bằng ngoại tệ
- Quy mô vốn điều lệ: VCBL được thành lập với vốn điều lệ ban đầu là 55 tỷ đồng Sau đó, vốn điều lệ tăng dần lên 75 tỷ, 100 tỷ và đến nay là 300 tỷ đồng
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
VCBL được thành lập ban đầu chỉ có 9 người Tính đến cuối năm 2008, tổng số nhân sự của toàn công ty đã lên đến 106 người
Bộ máy tổ chức của VCBL cũng được thay đổi qua nhiều thời kỳ khác nhau, từ
mô hình hoạt động không có HĐQT cho đến nay là mô hình hoạt động có HĐQT Cơ cấu các phòng ban đã dần được kiện tòan nhằm đảm bảo cho sự phát triển của Công ty Hiện nay, cơ cấu tổ chức của VCBL được sắp xếp theo mô hình như sau: