Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu về các chỉ số tăng trưởng kinh tế và tài chính của Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2012 và mô hình tăng trưởng với nhiều yếu tố khác nhau để phân tích tác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
QUÁCH PHƯỚC HẢI
ĐÓNG GÓP CỦA PHÁT TRIỂN TRUNG GIAN TÀI CHÍNH
VÀO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, tháng 05/2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
QUÁCH PHƯỚC HẢI
ĐÓNG GÓP CỦA PHÁT TRIỂN TRUNG GIAN TÀI CHÍNH
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÃ SỐ: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HOÀNG BẢO
Tp Hồ Chí Minh, tháng 06/2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và trích dẫn trong luận văn được sử dụng từ các nguồn xác thực Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Học viên cao học
Quách Phước Hải
Trang 4
MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình vẽ và đồ thị
Danh mục chữ viết tắt
Tóm tắt
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Dữ liệu và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 4 2.1 Cơ sở lý thuyết 4
2.1.1 Tổng hợp các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế 4
2.1.2 Trung gian tài chính – tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế 5
2.1.3 Các chỉ số đo lường phát triển tài chính 7
2.1.4 Các thước đo phát triển kinh tế, nguồn lực phát triển kinh tế 8
Trang 52.2 Các nghiên cứu trước đây về mối liên hệ giữa phát triển trung gian tài
chính và tăng trưởng kinh tế 9
2.2.1 Quan điểm phát triển trung gian tài chính không đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế 10
2.2.2 Quan điểm phát triển trung gian tài chính tác động tích cực đến sản lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 11
2.2.3 Quan điểm phát triển trung gian tài chính chỉ tác động đến sản lượng trong dài hạn nhưng không đóng góp vào tăng trưởng trong ngắn hạn 13
2.2.4 Quan điểm phát triển trung gian tài chính chỉ tác động đến sản lượng khi phát triển tài chính đạt dến một mức độ phát triển nhất định 17
2.2.5 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trên thế giới về mối quan hệ phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế 17
2.3 Thực trạng phát triển tài chính và các nghiên cứu về mối liên hệ giữa trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam 20
2.4 Khung phân tích 21
2.5 Tổng kết chương 2 22
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Mô hình nghiên cứu đề nghị 23
3.2 Tóm tắt các biến trong mô hình 27
3.2 Giả thiết nghiên cứu 29
3.3 Thu thập dữ liệu 30
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 32
3.5 Tổng kết chương 32
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 33
Trang 64.1 Thống kê mô tả 33
4.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính 36
4.3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 38
4.3.1 Kết quả kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình 38
4.3.2 Kết quả kiểm định tương quan chuỗi và đa cộng tuyến 40
4.3.3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 45
4.4 Tổng kết chương 50
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 51
5.1 Phương pháp nghiên cứu 51
5.2 Khám phá chính 51
5.3 Hạn chế của đề tài 53
5.4 Gợi ý chính sách 54
5.5 Hướng nghiên cứu mở rộng 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.3 Tổng hợp số liệu mô hình từ 1995 – 2012 31
Bảng 4.8 Kết quả nghiên cứu: hệ số hồi quy của mô hình 4.1 và 4.2 46 Bảng 4.9 Kết quả nghiên cứu: hệ số hồi quy của mô hình 4.3 và 4.4 47 Bảng 4.10 Kết quả phân tích nhân tố phóng đại phương sai VIF
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 4.1 Tương quan phát triển tài chính – tăng trưởng kinh tế 33
Hình 4.2 Các chỉ số tăng trưởng, tỷ lệ tín dụng và tỷ lệ tiền tệ mở
rộng trong GDP giai đoạn 1995 - 2012
34
Hình 4.3 Tương quan giữa thu nhập (GDP) và các chỉ số phát
triển tài chính
37
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
M2: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng GDP: Gross Domestic Product, tổng sản phẩm quốc nội
Trang 10Trong bối cảnh các giới khoa học chưa đồng thuận về đóng góp của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu này trả lời câu hỏi rằng, trong trường hợp của Việt Nam, phát triển tài chính có thực sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế hay không Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu về các chỉ số tăng trưởng kinh tế và tài chính của Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2012 và mô hình tăng trưởng với nhiều yếu tố khác nhau để phân tích tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Kết quả của nghiên cứu cho thấy, đối với cả hai thước đo nói trên, với mức ý nghĩa là 15% và 5%, phát triển tài chính ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong trường hợp của Việt Nam tuy tác động chưa đáng kể Chính sách được đề xuất, nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bởi luận văn này
là chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống tài chính, chẳng hạn như hệ thống trung gian tài chính, bao gồm các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính phi ngân hàng
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Vấn đề nghiên cứu
Các trung gian tài chính, hay đại diện là các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế và được xem như là kênh cung cấp vốn cho nền kinh tế Quy mô hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam bùng nổ
từ 4 ngân hàng năm 1990 tới gần 40 ngân hàng như hiện nay, dư nợ của hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần so với GDP đạt 28.85% vào năm 2008 (Ngân hàng nhà nước, 2010), chiếm gần bằng 1/3 GDP cả nước, điều này cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng như hoạt động cung cấp vốn cho nền kinh tế Tuy nhiên, tăng trưởng GDP tại Việt Nam đã giảm xuống còn 5% từ năm 2010 so với mức tăng trưởng xấp xỉ 7% như giai đoạn trước
Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động, các ngân hàng cũng bộc lộ một số điểm yếu như xuất hiện nợ xấu, khả năng thanh khoản kém dẫn đến chính phủ phải đề ra phương án sáp nhập các ngân hàng để ổn định nền kinh tế Cũng như việc xuất hiện của công ty quản lý nợ Việt Nam (VAMC) để giải quyết các khoản nợ phát sinh từ việc cấp tín dụng của ngân hàng Chúng ta có thể thấy rằng thông qua biểu hiện bên ngoài quá trình hoạt động của mình, hệ thống ngân hàng tại Việt Nam có những bất ổn từ đó ảnh hưởng đến chức năng chính là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Các nghiên cứu khoa học chỉ ra những bằng chứng cho những quan điểm trái ngược nhau về tác động của phát triển trung gian tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Trong nhóm các nghiên cứu ủng hộ quan điểm phát triển trung gian tài chính tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, rất nhiều các bài viết của nhiều tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của phát triển trung gian tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Các tác giả này tìm thấy ảnh hưởng tích cực của các tổ chức tài chính đối với tăng trưởng tổng sản phẩm của các quốc gia Một vài nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm này bao gồm Levine and Zervos (1996), Beck and Levine (2004), King and Levine (1993) Ngược lại, một nhóm các nghiên
Trang 12cứu khác bác bỏ vai trò của trung gian tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu này tập trung nhấn mạnh vai trò của vốn vật chất (physical capital) và vốn con người (human capital) và bỏ qua vai trò của trung gian tài chính trong việc tích lũy vốn phục vụ tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu nổi bật trong nhóm này có thể kể đến như Devereux and Smith (1994), Lucas Jr (1988), Stiglitz (1985, 1993) và Stern (1989) Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Hải Phương Linh (2012) và Ngô Quang Mỹ Thiên (2012) kết luận rằng độ sâu tài chính tăng trưởng cùng chiều với tốc độ tăng trưởng kinh tế
Với tình hình thực tiễn nêu trên, cùng với những mâu thuẫn trong cách xem xét đóng góp của hệ thống tài chính trong các nghiên cứu khoa học nói trên, luận văn này nhằm mục đích tìm hiểu những vai trò của hệ thống các trung gian tài chính đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này có mục tiêu tổng quát là xem xét ảnh hưởng của sự phát triển trung gian tài chính đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Sự phát triển của trung gian tài chính được biểu hiện bởi lượng tiền trong nền kinh tế và lượng tín dụng tư nhân trong nền kinh tế, là hai vấn đề được xem xét trong luận văn này
Do vậy, luận văn này có hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
(i) Phân tích tác động của sự thay đổi khối tiền tệ mở rộng (M2) đến tăng
trưởng kinh tế Việt Nam
(ii) Phân tích tác động của sự thay đổi khối lượng tín dụng tư nhân đến tăng
trưởng kinh tế Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm mục đích trả lời câu hỏi: Sự phát triển của trung gian tài chính theo chiều sâu có giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam hay không? Một cách tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm để trả lời hai câu hỏi nghiên cứu cụ thể dưới đây
Trang 13Câu hỏi nghiên cứu 1: Tăng trưởng kinh tế sẽ thay đổi như thế nào khi
khối tiền tệ mở rộng (M2) trong nền kinh tế thay đổi?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Tăng trưởng kinh tế sẽ thay đổi như thế nào khi
khối lượng tín dụng tư nhân trong nền kinh tế thay đổi?
1.4 Dữ liệu và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của Việt Nam Dữ liệu dạng chuỗi thời gian với các biến được đo lường trong định kỳ hàng năm, trong khoảng thời gian
từ năm 1995 đến năm 2012
Dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cơ sở dữ liệu của Worldbank và tổng cục thống kê Việt Nam
1.5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn này bao gồm phần mở đầu, các chương trong nội dung bao gồm chương 1, chương 2 và chương 3 và phần kết luận và gợi ý chính sách Phần mở đầu trình bày những động cơ thúc đẩy người viết tiến hành nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cùng với dữ liệu và phạm vi nghiên cứu Chương
1 sẽ tổng hợp các lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và trình bày khung phân tích của luận văn Chương 2 sẽ nối tiếp trình bày phương pháp nghiên cứu và phân tích dữ liệu để kiểm định mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Chương tiếp theo trình bày kết quả nghiên cứu của luận văn và các thảo luận về kết quả này Cuối cùng sẽ là phần tổng kết nghiên cứu và trình bày các gợi ý chính sách, dựa vào kết quả của nghiên cứu trong chương trước
Trang 14CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
VỀ QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ 2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Tổng hợp các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về mặt sản lượng của một nền kinh tế (Soubbotina, 2004) Tăng trưởng kinh tế thông thường được đo lường bằng phần trăm thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP) Cũng theo Soubbotina (2004), tăng trưởng kinh tế có thể đến từ hai nguồn gốc, bao gồm tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu Tăng trưởng theo chiều rộng (extensive growth) đạt được khi một nền kinh tế sử dụng nhiều hơn các nguồn lực sản xuất (vốn vật chất, vốn con người, lao động), trong khi đó, tăng trưởng theo chiều sâu đạt được khi một nền kinh tế
sử dụng cùng một số lượng các nguồn lực này một cách hiệu quả hơn (tiến bộ công nghệ)
Đã có rất nhiều nghiên cứu, cả lý thuyết lẫn thực nghiệm bàn về các yếu
tố tác động đến tăng trưởng kinh tế Đầu tiên, mô hình tăng trưởng Harrod – Domar khẳng định rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tiết kiệm và năng suất của vốn Sau đó, Solow (1956) xây dựng một mô hình tăng trưởng nổi tiếng đến tận ngày hôm nay, được gọi là mô hình Solow hay mô hình tăng trưởng tân cổ điển (neoclassical growth model) Trong mô hình Solow, bên cạnh các yếu tố như tích lũy vốn và tăng trưởng dân số, tiến bộ công nghệ là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế Mankiw và cộng sự (1992) cho rằng quá trình tích lũy vốn con người, cũng như quá trình tích lũy vốn vật chất, có đóng góp tích cực đến tăng trưởng kinh tế Gần đây, Acemoglu và cộng sự (2003) khám phá ra rằng thể chế kinh tế cũng có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Barro (1996) bằng nghiên cứu thực nghiệm đã tìm ra bằng chứng cho ảnh hưởng của các yếu tố như tuổi thọ và học vấn cao của người dân, tỷ lệ sinh sản thấp, chi tiêu chính phủ, khả năng khuyến khích của luật pháp và sự cải thiện
Trang 15trong tỷ giá thương mại Trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn này tập trung phân tích tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế với các
lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm được trình bày trong phần tiếp theo
2.1.2 Trung gian tài chính – tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế
Trung gian tài chính (Financial intermediaries) hay còn gọi là các thể chế tài chính (Financial instituition) cùng với thị trường tài chính, công cụ tài chính
và cơ sở hạ tầng tài chính tạo nên một hệ thống tài chính hoàn chỉnh Trung gian tài chính bao gồm ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển và các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Trung gian tài chính là tổ chức có chức năng chính là huy động vốn từ người tiết kiệm và chuyển lượng vốn này đến các nhà đầu tư Chức năng của trung gian tài chính bao gồm: huy động tiết kiệm, đánh giá dự án, quản lý rủi ro, giám sát và đánh giá các giao dịch tài chính (Schumpeter, 1911)
Thông qua cơ chế hoạt động của mình, các trung gian tài chính góp phần đánh giá và phân bổ nguồn vốn xã hội cho các dự án mang lại hiệu quả kinh tế từ
đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Hình 2.1 Vai trò của trung gian tài chính
(Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, chương trình Fullbright)
Trang 16Quan điểm “phát triền về hệ thống tài chính (development hypothesis) mà còn được gọi là quan điểm “tự do mới” coi hệ thống tài chính có một tầm quan trọng đáng kể đối với phát triển kinh tế Những người theo quan điểm này cho rằng việc không có một hệ thống tài chính phát triển làm hạn chế tăng trưởng kinh tế và do vậy, chính sách nhà nước phải hướng tới khuyến khích sự tăng trưởng của hệ thống tài chính Quan điểm ngược lại (và có lẽ là quan điểm tương đối cực đoan) thì lại cho rằng hệ thống tài chính chỉ có một vai trò rất nhỏ trong quá trình phát triển của các khu vực sản xuất và rằng hệ thống tài chính chẳng qua là chỉ tạo ra các cơ hội cho khu vực tư nhân kiếm được lợi nhuận hay chịu thua lỗ quan điểm “sòng bạc” (casino hypothesis) này về hệ thống tài chính cho rằng nhà nước hoàn toàn không cần chú ý tới hệ thống tài chính hay thậm chí còn
có thể coi đó là có hại cho tăng trưởng và phân phối thu nhập vì vậy cần kiềm chế hay quốc hữu hóa (Đinh Xuân Thành, bài đọc chương trình giảng dạy kinh
tế Fullbright)
Thông qua các dịch vụ của mình, trung gian tài chính đóng vai trò thiết yếu cho sự đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế (Schumpeter, 1911) Phát triển trung gian tài chính có liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng GDP bình quân đầu người, tỷ lệ tích lũy vốn vật chất, và tăng hiệu quả thu hút vốn vật chất của nền kinh tế (King & Levine 1993) Trung gian tài chính có tác động tích cực đến nhân tố năng suất tổng hợp (TFP), tăng trưởng vốn vật chất và tăng tỷ lệ tiết kiệm tư nhân (Beck, Levine & Loayza 2000)
Hình 2.2 Vai trò của hệ thống tài chính
(Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, chương trình Fullbright)
Trang 172.1.3 Các chỉ số đo lường phát triển tài chính
Một hệ thống tài chính phát triển được đo lường thông qua sự phát triển của trung gian tài chính hay độ sâu của trung gian tài chính (financial deepening) Theo King và Levine (1993), độ sâu tài chính được đo lường bằng các chỉ số như:
tỷ số tiền thanh khoản của hệ thống tài chính cho nền kinh tế (M3/GDP-LLY - Liquid Liabilities of the financial system to GDP),
chỉ số tiền gửi ngân hàng nội địa trên tổng tiền gửi ngân hàng nội địa
và ngân hàng trung ương,
chỉ số tín dụng phi tài chính khu vực tư nhân trên tổng tín dụng nội địa, và
Tỷ lệ tín dụng được cấp cho khu vực tư nhân trên GDP
Vai trò của các ngân hàng thương mại với các ngân hàng trung ương Trong một nghiên cứu khác, Levine (1997) đã đo lường mức độ phát triển tài chính bằng các chỉ số bao gồm:
tính thanh khoản của hệ thống tài chính (tiền và thanh khoản của các trung gian tài chính ngân hàng và phi ngân hàng) trên GDP, DEPTH
mức độ phân bổ tín dụng của ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại (BANK): được đo bằng tỷ lệ của tín dụng ngân hàng trên tín dụng ngân hàng và tài sản nội địa của ngân hàng trung ương,
tỷ lệ tín dụng được phân bổ cho các công ty tư nhân trên tổng tín dụng nội địa (loại trừ tín dụng được cấp cho ngân hàng), PRIVATE
tỷ lệ tín dụng cho các công ty tư nhân trên GDP, PRIVY
Trang 18 Bên cạnh đó, X là ma trận của các biến kiểm soát bao gồm thu nhập bình quân, học vấn, ổn định chính trị, tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại, tài chính và chính sách tiền tệ
Khác với hai nghiên cứu đề cập ở trên, các tác giả Beck, Levine và Loayza (2000) định nghĩa biến tín dụng tư nhân (Private Credit) bằng tín dụng được các trung gian tài chính cấp cho khu vực tư nhân trên GDP, không bao gồm tín dụng được cấp bởi ngân hàng trung ương và ngân hàng phát triển
Khan và Senhadji (2003) đề xuất đo lường phát triển tài chính bằng bốn chỉ
số fd 1 là tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP; fd 2 bằng fd 1 cộng với tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán trên GDP; fd 3 bằng fd 2 cộng với tỷ lệ vốn hóa thị trường trái
phiếu trên GDP; và fd 4 hay stockc chỉ số vốn hóa thị trường chứng khoán
Levine (1998) chỉ ra rằng thông qua tác động gián tiếp của hệ thống luật pháp, các quốc gia có hệ thống luật pháp nhấn mạnh quyền lợi của người cho vay
sẽ có hệ thống ngân hàng phát triển hơn các quốc gia khác, từ đó dẫn đến tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP cao hơn so với các quốc gia có hệ thống luật pháp kém phát triển hơn Trong mối quan hệ tương quan giữa phát triển tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế, ông sử dụng biến BANK để đo lường tỷ lệ tín dụng của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác cho khu vực tư nhân trên GDP
2.1.4 Các thước đo phát triển kinh tế, nguồn lực phát triển kinh tế
Để kiểm định mối quan hệ thực nghiệm của phát triển trung gian tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế, Levine (1997) đã đo lường các chỉ số tăng trưởng kinh tế như sau:
Tỷ lệ tăng trưởng trung bình GDP bình quân đầu người
Tỷ lệ tăng trưởng trung bình vốn cổ phần bình quân đầu người
Trang 19 Tăng trưởng tổng năng suất, là phần dư trong mô hình Solow được tính bằng tăng trưởng GDP bình quân đầu người trừ 0.3 lần tỷ lệ tăng trưởng trung bình vốn cổ phần bình quân đầu người
Bên cạnh tăng trưởng GDP bình quân đầu người (GYP), King và Levine (1993) phân tích tăng trưởng kinh tế thành tăng trưởng vốn vật chất và các yếu tố khác bằng phương trình:
Y = kα x Trong đó: Y là tăng trưởng GDP bình quân đầu người, k là tăng trưởng vốn vật chất bình quân đầu người, x là biến chỉ các nguồn lực khác
Lấy logarit từ mô hình trên ta được:
GYP = α.GK + EFF Trong đó: GYP là tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong dài hạn, GK là tỷ
lệ tăng trưởng của vốn vật chất bình quân đầu người, EFF được xem như phần
dư – biến hiệu quả, là tỷ lệ tăng trưởng của các yếu tố còn lại bao gồm có tốc độ tăng trưởng công nghệ, tích lũy vốn vật chất, sự gia tăng giờ làm việc của mỗi công nhân, sự gia tăng các yếu tố đầu vào
Bên cạnh đó, Levine (1997) và Levine & Zervos (1998) đã sử dụng các chỉ số tăng trưởng như sau: tỷ lệ tăng trưởng trung bình của GDP bình quân đầu người, tỷ lệ trung bình của tăng trưởng vốn chứng khoán bình quân đầu người, nhân tố năng suất tổng hợp và tổng kiết kiệm tư nhân để do lường tăng trưởng
2.2 Các nghiên cứu trước đây về mối liên hệ giữa phát triển trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế
Trong suốt chiều dài tồn tại của trung gian tài chính, các nhà kinh tế đã có những quan điểm không giống nhau về đóng góp của các trung gian tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Trong phần này, bài viết tổng hợp các quan điểm của các nhà nghiên cứu về ảnh hưởng của trung gian tài chính đến tăng trưởng kinh tế
Trang 20của một quốc gia Một cách tổng quát, các quan điểm trên có thể được phân loại như sau
2.2.1 Quan điểm phát triển trung gian tài chính không đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế
Với nhiều lập luận và dẫn chứng khác nhau, các nghiên cứu trong nhóm quan điểm này xem nhẹ hoặc bỏ qua vai trò của thị trường tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Đây là những nghiên cứu xuất hiện sớm hơn, so với các nhóm quan điểm khác được xem xét trong phần này Một số bài viết đáng chú ý ủng hộ quan điểm này có thể kể đến như Stiglitz (1993), Stern (1989), Lucas Jr (1988)
và Devereux and Smith (1994)
Hệ thống tài chính, và sự phát triển của hệ thống tài chính đã bị bỏ qua trong các mô hình phát triển của Lucas Jr (1988) và Stern (1989) Trong mô hình phát triển kinh tế của mình, cả hai nhà kinh tế này đều đưa vào rất nhiều nguồn lực sản xuất, bao gồm vốn vật chất, lao động, vốn con người, tiến bộ công nghệ Tuy nhiên, các mô hình này đã không đưa vào xem xét ảnh hưởng của hệ thống tài chính vào sản lượng hay thu nhập của quốc gia Do đó, có thể thấy rằng, vai trò của thị trường tài chính trong tăng trưởng kinh tế đã không được đánh giá là quan trọng
Trong một nghiên cứu của mình, Stiglitz (1993) tập trung sự chú ý vào những thất bại của thị trường (market failures) một cách cụ thể cho thị trường tài chính Theo đó, Stiglitz (1993) chỉ ra rằng thị trường tài chính mắc phải rất nhiều dạng thất bại thị trường (chẳng hạn như độc quyền nhóm, thông tin bất cân xứng, ngoại tác, v.v.) Một khi điều này xảy ra, hệ thống tài chính không thể phân bổ nguồn lực sản xuất, cụ thể là vốn, một cách hiệu quả Sản lượng của một nền kinh tế vì thế bị ảnh hưởng tiêu cực Có thể thấy rằng, trong trường hợp này, đóng góp của thị trường tài chính vào tăng trưởng kinh tế là tương đối hạn chế Cũng cần nói thêm rằng, Stiglitz (1993) khẳng định rằng vai trò của chính phủ trong điều tiết thị trường tài chính trong trường hợp này là rất quan trọng đối với thúc đẩy sản lượng quốc gia
Trang 21Trong một nghiên cứu khác, Devereux and Smith (1994) tìm hiểu ảnh hưởng của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế thông qua tác động của phát triển tài chính đến tiết kiệm Hai tác giả này nhận định rằng, khi thị trường tài chính phát triển, cùng với hội nhập tài chính, rủi ro trong đầu tư tài chính giảm xuống do quá trình chia sẻ rủi ro quốc tế (international risk sharing) Ý tưởng chính của bài viết này là tỷ lệ tiết kiệm phụ thuộc vào rủi ro thu nhập (income risk) và rủi ro suất sinh lợi (rate-of-return risk) Đây là mối quan hệ đồng biến, vì rủi ro càng cao đồng nghĩa với tỷ lệ tiết kiệm càng cao Devereux and Smith (1994) lập luận rằng, với một nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển, rủi ro thấp sẽ làm giảm tiết kiệm trong nền kinh tế Do đó, tăng trưởng kinh
tế của quốc gia sẽ giảm xuống do tác động của việc giảm tiết kiệm
Tóm lại, một nhóm các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế đã bác bỏ, hoặc không công nhận tầm quan trọng những đóng góp của thị trường tài chính đối với tăng trưởng GDP của các quốc gia Thị trường tài chính, trong các nghiên cứu này, bị bỏ qua trong các mô hình tăng trưởng Hoặc, nếu được nhắc đến, thì
nó mắc phải các thất bại của thị trường, hoặc làm giảm tiết kiệm và qua đó ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng sản phẩm quốc gia Tuy nhiên, các nghiên cứu được đề cập trong mục này đều là xuất hiện trong thời gian cách đây khá xa Trong những phần tiếp theo, bài viết này sẽ tổng hợp các công trình khoa học theo xu hướng mới hơn, ủng hộ quan điểm rằng thị trường tài chính có đóng góp tích cực đến tăng trưởng kinh tế
2.2.2 Quan điểm phát triển trung gian tài chính tác động tích cực đến sản lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trái ngược với quan điểm của nhóm các nghiên cứu nêu ra ở phần trên, nhóm các nghiên cứu trong mục này mạnh dạn đưa các biến đo lường phát triển tài chính vào mô hình tăng trưởng tân cổ điển để xem xét ảnh hưởng của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Các công trình nghiên cứu trong nhóm này, tiêu biểu như Levine (1997), Beck và Levine (2004) và Khan và Senhadji (2003), đều ủng hộ quan điểm cho rằng trung gian tài chính có ảnh hưởng đến
Trang 22sản lượng của một quốc gia và hệ thống tài chính phát triển sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng sản lượng của quốc gia
King và Levine (1993) phân tích tăng trưởng kinh tế thông qua mối quan hệ với bốn chỉ số tài chính bằng phương trình:
Y = kα x Trong đó: Y là tăng trưởng GDP bình quân đầu người, k là tăng trưởng vốn vật chất bình quân đầu người, x là biến chỉ các nguồn lực khác
Lấy logarit từ mô hình trên ta được:
mô hình này, tăng trưởng GDP phụ thuộc vào các yếu tố bao gồm
phát triển tài chính,
tỷ lệ đầu tư trên GDP,
tỷ lệ tăng dân số, ngoại thương, và
thu nhập bình quân đầu người (Khan & Senhadji, 2003)
Một cách tổng quát, bằng những phương pháp mới trong kinh tế lượng và
dữ liệu được cập nhật, các nghiên cứu trong nhóm này ủng hộ nhận định rằng sự phát triển của trung gian tài chính có tương quan dương một cách có ý nghĩa với
Trang 23sản lượng quốc gia Hay nói các khác, phát triển tài chính đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế Trong các nghiên cứu này, các lý thuyết về trung gian tài chính đã được phát triển với bằng chứng là có nhiều chỉ số khác nhau để đo lường sự phát triển của trung gian tài chính Các phương pháp cũng đa dạng hơn với việc sử dụng nhiều mô hình hồi quy khác nhau Tuy nhiên, với bất kỳ mô hình hay chỉ số đo lường nào, mối tương quan giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế vẫn giữ nguyên
2.2.3 Quan điểm phát triển trung gian tài chính chỉ tác động đến sản lượng trong dài hạn nhưng không đóng góp vào tăng trưởng trong ngắn hạn
Trong nhóm quan điểm này, các nhà kinh tế tập trung nhấn mạnh những ảnh hưởng tích cực của phát triển hệ thống tài chính đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Bằng nhiều mô hình và phương pháp khác nhau, các nhà nghiên cứu có cùng một quan điểm rằng phát triển tài chính có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng sản lượng trong dài hạn và qua đó đóng góp vào phát triển kinh tế Các công trình nghiên cứu được đề cập trong mục này có thể kể đến như Levine and Zervos (1996), Levine (1998), Christopoulos and Tsionas (2004) và Ang (2007)
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính trong dài hạn
đã được Levine and Zervos (1996) phân tích thông qua thị trường chứng khoán,một mảng cụ thể trong hệ thống tài chính Sử dụng hồi quy dữ liệu chéo của các quốc gia trên thế giới, Levine and Zervos (1996) đã chỉ ra rằng mối quan
hệ giữa phát triển tài chính, mà cụ thể là thị trường chứng khoán, với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn là mối quan hệ đồng biến và hoàn toàn có ý nghĩa về mặt thống kê Do đó, một thị trường chứng khoán phát triển sẽ góp phần vào tăng trưởng sản lượng trong dài hạn của một quốc gia (Beck & Levine, 2004) Tuy nhiên, nghiên cứu này lại không chỉ ra được bản chất mối quan hệ giữa hai đại lượng nói trên Cụ thể, trong hai yếu tố là tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính, nghiên cứu nói trên không chỉ ra yếu tố nào tác động lên yếu tố nào, hay
là chiều hướng của mối quan hệ
Trang 24Cũng nghiên cứu về ảnh hưởng của thị trường tài chính đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, nhưng Levine (1998) lại xem xét mối quan hệ này trong bối cảnh khác Đó là mối quan hệ giữa môi trường pháp lý, hệ thống ngân hàng
và tăng trưởng kinh tế Có hai mục tiêu quan trọng cần giải quyết, đó là:
mối quan hệ giữa môi trường pháp lý và phát triển hệ thống ngân hàng; và
mối quan hệ giữa hệ thống ngân hàng và tăng trưởng kinh tế (Levine, 1998)
Nghiên cứu này sử dụng ba thước đo của tăng trưởng kinh tế, bao gồm
tăng trưởng sản lượng (output growth), tăng trưởng vốn (capital stock growth)
và tăng trưởng năng suất (productivity growth) Một trong các kết luận quan
trọng được rút ra trong Levine (1998) là sự phát triển của hệ thống ngân hàng tương quan dương với tăng trưởng kinh tế Đồng thời, kết quả này vẫn được giữ nguyên khi các thước đo khác nhau của tăng trưởng kinh tế (ba thước đo nói trên) được thay đổi trong mô hình
Beck, Levine và Loaya (2000) đánh giá tác mối quan hệ thực nghiệm giữa phát triển trung gian tài chính tới
(i) tăng trưởng kinh tế,
(ii) nhân tố năng suất tổng hợp,
(iii) tích lũy vốn vật chất và
(iv) tỷ lệ tiết kiệm tư nhân
Bằng phương pháp sử dụng dữ liệu chéo và dữ liệu bảng, nghiên cứu đã chỉ ra rằng:
(i) trung gian tài chính tác động tích cực đến nhân tố năng suất tổng hợp,
từ đó tác động tới tăng trưởng GDP;
Trang 25(ii) mối quan hệ dài hạn của phát triển trung gian tài chính và tăng trưởng vốn vật chất và tỷ lệ tiết kiệm có ý nghĩa rất nhỏ Phương trình được sử dụng trong nghiên cứu này:
Yi = α + β Finance + γ’Xi + εi Trong đó biến Y gồm tăng trưởng, tăng trưởng vốn, tiết kiệm, Finance gồm biến tín dụng tư nhân, thanh khoản của ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương, X đại diện cho vector các biến kiểm soát tăng trưởng bao gồm thu nhập bình quân, năm đi học trung bình, độ mở thương mại, lạm phát, quy mô chính phủ
Christopoulos và Tsionas (2004) nghiên cứu tác động của phát triển tài chính theo chiều sâu (financial depth) đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn bằng mô hình:
Y = βo + β1F + β2S + β3p + u Trong đó: Y là sản lượng đầu ra, F là biến đo lường độ sâu tài chính được đo bằng tổng thanh khoản tiền gửi trên GDP, S là đầu ra cổ phiếu đầu tư, p là tỷ lệ lạm phát và sai số u
Mô hình tăng trưởng tân cổ điển (neoclassical growth model) đã được sử dụng trong bài viết của Ang (2007) để phân tích mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng sản lượng trong dài hạn của nền kinh tế Malaysia
Hai mô hình nghiên cứu được sử dụng như sau:
PRK PUK LF PCY
f
Trong đó: PRK là vốn tư nhân (private capital),
PUK là vốn công cộng (public capital)
M2Y là tỷ lệ tiền khối tiền mở rộng M2 trên GDP,
Trang 26PCY là tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP,
LF là lực lượng lao động
T là biến thời gian Trong mô hình này, Ang (2007) đã sử dụng hai biến giả đại diện cho suy thoái kinh tế toàn cầu và khủng hoảng tài chính Châu Á Biến D85-86 = 1 nếu t=1985 – 1986 và D85-86 = 0 nếu ngược lại biến D97-98 = 1 nếu t = 1997 –
1998 và D97-98 = 0 nếu ngược lại Kết quả phân tích dữ liệu chuỗi thời gian cho thấy rằng những cải thiện trong trung gian tài chính đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc tạo điều kiện ứng dụng phát triển công nghệ (Ang, 2007) Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng những bằng chứng thực nghiệm trong trường hợp của Malaysia cho thấy rằng, trong ngắn hạn, không có mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế
Một cách tổng quát, bằng nhiều công cụ và dữ liệu cũng như phương pháp nghiên cứu khác nhau, các nghiên cứu trong nhóm này đều cung cấp bằng chứng cho nhận định rằng không có mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn Tuy nhiên, trong dài hạn, câu chuyện lại hoàn toàn khác Sự phát triển của hệ thống tài chính có ảnh hưởng một cách có ý nghĩa
và tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Đóng góp của hệ thống tài chính có thể thông qua thị trường chứng khoán (Levine & Zervos, 1996), hệ thống ngân hàng (Levine, 1998) hay hỗ trợ tiến bộ công nghệ Ang (2007), để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia Trong nhóm quan điểm này, các nhà kinh tế tập trung nhấn mạnh những ảnh hưởng tích cực của phát triển hệ thống tài chính đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Bằng nhiều mô hình và phương pháp khác nhau, các nhà nghiên cứu có cùng một quan điểm rằng phát triển tài chính có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng sản lượng trong dài hạn và qua đó đóng góp vào phát triển kinh tế Các công trình nghiên cứu được đề cập trong mục này có thể kể đến như Levine (1998), Christopoulos và Tsionas (2004) và Ang (2007)
Trang 272.2.4 Quan điểm phát triển trung gian tài chính chỉ tác động đến sản lượng khi phát triển tài chính đạt dến một mức độ phát triển nhất định
Trong mối quan hệ tương quan giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, một số nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng khi tài chính đạt đến một mức độ phát triển nhất định mới có tác động đến tăng trưởng kinh tế Trong nghiên cứu của mình, King và Levine (1993) đã chỉ ra tương quan mạnh giữa mức độ phát triển tài chính, tốc độ tích lũy vốn vật chất và hiệu quả phát triển cao hơn với tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn
Bằng nghiên cứu thực nghiệm, Demetriades và Hussein (1996) đã chứng minh mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ hai chiều Trong một số trường hợp quốc gia, mối quan hệ chỉ có tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến phát triển tài chính Nghiên cứu này đã đưa ra bằng chứng rằng phát triển tài chính không nhất thiết tác động đến tăng trưởng kinh tế
Theo nghiên cứu thực nghiệm từ 16 quốc gia đang phát triển, kết quả kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế biến động qua các quốc gia (Arestis & Demetriades, 1997) Kết quả nghiên cứu
dữ liệu thực tế của 12 quốc gia đưa ra bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng bị ảnh hưởng lớn bởi tác động của tính chất và sự vận hành của các trung gian tài chính và các chính sách mà các quốc gia này theo đuổi
2.2.5 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trên thế giới về mối quan hệ phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các trung gian tài chính làm giảm chi phí thu thập thông tin và giảm chi phí giao dịch (Levine, 1997) Trong những nghiên cứu lý thuyết, tác động của phát triển trung gian tài chính đến tăng trưởng kinh tế được mô hình hóa một cách nghiêm ngặt, thông qua những kênh ảnh hưởng khác nhau Đồng thời, các nghiên cứu thực nghiệm đã nghiêm túc kiểm tra tính đúng đắn của các mô hình lý thuyết này Kết quả đã được Levine (1997) tổng hợp lại rằng giữa phát triển trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế có
Trang 28mối tương quan dương, tương quan này là ổn định và có ý nghĩa thống kê Điều này hàm ý rằng sự phát triển của hệ thống tài chính có đóng góp tích cực đến tăng trưởng sản lượng quốc gia Các nước với các trung gian tài chính hoạt động hiệu quả trong việc hé lộ các rào cản thông tin sẽ có một tốc độ tăng trưởng kinh
tế nhanh hơn thông qua nhiều đầu tư hơn các nước kém hiệu quả hơn trong việc thu thập và xử lý thông tin (Levine, 1997) Bên cạnh đó, các nước khác nhau về
hệ thống luật pháp và tiêu chuẩn kế toán có các mức độ phát triển tài chính khác nhau Nghiên cứu cho thấy chế độ kế toán và luật pháp nhấn mạnh quyền của người đi vay, thực thi hợp đồng và thực hành kế toán sẽ thúc đẩy phát triển tài chính và gia tăng tốc độ phát triển kinh tế (Levine, Loayza & Beck, 2000)
Khan và Senhadji (2003) đã tìm ra mối tương quan dương có ý nghĩa giữa phát triển các trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế Mối tương quan này xuất hiện ở cả ba chỉ số đo lường phát triển tài chính Từ đó, nghiên cứu này kết luận: “chiều sâu trung gian tài chính là một yếu tố quan trọng xác định sự khác biệt về tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia” (Khan & Senhadji, 2003, p ii105)
Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế được nêu ra trong Levine (1997) bằng cách tổng quan các nghiên cứu của các tác giả khác trong lĩnh vực này Theo những nghiên cứu này, trung gian tài chính có các chức năng quan trọng như tạo cơ chế chuyển đổi rủi ro, phân bổ nguồn vốn, giám sát quản lý công ty, điều chuyển tiết kiệm và hỗ trợ trao đổi hàng hóa một cách dễ dàng (Levine, 1997)
Trong một nghiên cứu khác, Beck và Levine (2004) đánh giá một cách cụ thể tác động của sự phát triển thị trường chứng khoán và sự phát triển của các ngân hàng, hai thành phần chủ đạo của một hệ thống tài chính, đến sự tăng trưởng của sản lượng quốc gia Sự đánh giá riêng lẻ này bắt nguồn từ nhận định rằng các ngân hàng và thị trường chứng khoán cung cấp các dịch vụ tài chính khác nhau, và do đó sẽ ảnh hưởng khác nhau đến sản lượng quốc gia (Beck & Levine, 2004) Khác với những nghiên cứu trước đó, Beck và Levine (2004) sử dụng hai mô hình hồi quy cho dữ liệu bảng, được tổng hợp từ 40 quốc gia trong
Trang 29thời gian 1976-1998 Kết quả của nghiên cứu cho thấy, cả thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng đều ảnh hưởng một cách có ý nghĩa trong cả hai
mô hình hồi quy tăng trưởng kinh tế Hay nói cách khác, sự phát triển của trung gian tài chính đóng góp một cách tích cực vào tăng trưởng kinh tế
Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm dùng bảng động dữ liệu từ 74 quốc qua, Felix và Neven (2003) đã đưa ra nhận định mối liên hệ giữa tài chính
và tăng trưởng biến thiên tùy theo mức độ của phát triển tài chính của quốc gia
đó Ở các quốc gia có mức độ phát triển tài chính thấp, tiến bộ tăng thêm trong thị trường tài chính có tác dộng không rõ ràng đến tăng trưởng Trong các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển ở mức trung bình, phát triển tài chính có tác động mạnh và tích cực đến tăng trưởng Cuối cùng, ở các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển ở mức cao, tác động này tích cực nhưng giảm đi (Felix &
Neven, 2003)
Khác với các nghiên cứu trước, vốn chỉ sử dụng dữ liệu chéo sectional data) hoặc dữ liệu chuỗi thời gian (time-series data), Christopoulos và Tsionas (2004) sử dụng dữ liệu bảng (panel data) từ 10 quốc gia đang phát triển gồm Colombia, Paraguay, Peru, Mexico, Ecuador, Honduras, Kenya, Thailand, Comincana và Jamaica từ năm 1970 tới năm 2000 để phân tích mối quan hệ giữa độ sâu tài chính và tăng trưởng sản lượng Christopoulos và Tsionas (2004) kết luận rằng quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, trong dài hạn, là mối quan hệ đồng biến và là quan hệ một chiều theo hướng phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Christopoulos và Tsionas (2004) còn chỉ ra rằng mối quan hệ trên không xuất hiện trong ngắn hạn, mà chỉ có ý nghĩa trong dài hạn
Trang 30(cross-2.3 Thực trạng phát triển tài chính và các nghiên cứu về mối liên hệ giữa trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Theo các nghiên cứu được thực hiện trước đây, tồn tại mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, mối quan hệ này là tương quan dương và có ý nghĩa thống kê
Theo Ngô Quang Mỹ Thiên (2012) phát triển tài chính có tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1995 -2010 Mô hình được sử dụng trong nghiên cứu này như sau:
Mô hình a: lnGDP =f(PRK, PUK, LF, M2Y)
Mô hình b: lnGDP =f(PRK, PUK, LF, PCY)
Trong đó các biến PRK, PUK, LF, M2Y, PCY lần lượt là vốn tư nhân, vốn công cộng, lực lượng lao động, tỷ lệ khối tiền mở rộng trên GDP và tỷ lệ tín dụng cấp cho khu vực tư nhân trên GDP
Kết quả kiểm định nhân quả Granger và kiểm định mô hình Vector Autoregression Model cho thấy tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa vốn khu vực tư, vốn khu vực công, lực lượng lao động, tỷ lệ tín dụng tư nhân và tỷ lệ khối tiền tệ
mở rộng và tăng trưởng kinh tế Bằng chứng thực nghiệm cho thấy phát triển tài chính có mối quan hệ tích cực với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn nhưng không
có tác động trong ngắn hạn (Ngô Quang Mỹ Thiên, 2012)
Cũng cùng mục tiêu nghiên cứu xác định mức độ đóng góp của phát triển tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế, tác giả Nguyễn Hải Phương Linh (2012) sử dụng dữ liệu bảng cho mười quốc gia ở Châu Á trong giai đoạn từ năm
1990 tới năm 2011 cũng đi tới kết luận phát triển tài chính theo chiều sâu có tác động tích cực đến tăng trưởng Mô hình được sử dụng trong nghiên cứu này:
lnGDP = b 0 + b 1 M2OFGDP + b 2 PCOFGDP +b 3 LnL + b 4 LNK +
b 5 EXPENDITURE + b 6 TRADE + b 7 INF
Trang 31Trong đó biến M2OFGDP là tỷ lệ tiền tệ mở rộng trên GDP, PCOFGDP
và tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP, LnL là logarithm của lao động, LnK là logarithm của tổng vốn đầu tư, EXPENDITURE là tổng chi tiêu chính phủ của quốc gia (tính bằng phần trăm trên GDP), TRADE là tỷ lệ thương mại của quốc gia (thương mại = xuất khẩu + nhập khẩu), INF là tỷ lệ lạm phát
Báo cáo kết luận, có những giai đoạn khủng hoảng tài chính diễn ra làm cho tốc độ tăng trưởng âm, tuy nhiên tỷ số tiền tệ mở rộng và tín dụng tư nhân trên GDP có xu hướng tăng trưởng cùng chiều với tốc độ tăng trưởng kinh tế
2.4 Khung phân tích
Thông qua cơ chế vận hành của các trung gian tài chính là giảm chi phí tiếp cận thông tin và giảm chi phí giao dịch, các trung gian tài chính đã tạo ra các dịch vụ trung gian giữa người cho vay và người đi vay bao gồm
Huy động tiết kiệm: các trung gian tài chính thu hút vốn nhàn rỗi từ hộ gia đình, các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, doanh nghiệp và chính phủ
Phân bổ nguồn lực: các trung gian tài chính sử dụng nguồn vốn huy động được để phân bổ lại cho các công ty và hộ gia đình
Quản lý rủi ro: thông qua việc giảm bớt chi phí thông tin và thông tin bất cân xứng, các trung gian tài chính chuyển hóa rủi ro từ người gửi tiết kiệm và người đầu tư qua nhiều dạng và nhiều công cụ tài chính khác nhau
Giám sát giao dịch, tạo thuận lợi cho các bên: các trung gian tài chính thông qua việc đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các dự án của người đi vay trước khi tiến hành cho vay để đảm bảo khoản vay mang lại hiệu quả sinh lời
Mối quan hệ giữa phát triển trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế được thể hiện trong khung phân tích dưới đây
Trang 32(Nguồn: Levine, 1997)
Hình 2.3 Khung phân tích 2.5 Tổng kết chương 2
Nội dung chủ yếu của chương này bao gồm hai vấn đề chính Thứ nhất, chương này giới thiệu lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính, và
vị trí của phát triển tài chính trong các mô hình tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, nội dung chính thứ hai của Chương 2 là tổng hợp các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế Trong chương này, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có những khám phá mâu thuẫn với nhau
về tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, trong chương này còn trình bày khung phân tích, làm cơ sở cho phương pháp nghiên cứu và phân tích số liệu Chương tiếp theo sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu của luận văn này
Trang 33CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phần này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu của luận văn Với mục đích đánh giá đóng góp của phát triển tài chính đối với tăng trưởng cho trường hợp Việt Nam, phần này sẽ bao gồm mô hình nghiên cứu được đề xuất và các giả thiết nghiên cứu
3.1 Mô hình nghiên cứu đề nghị
Lý thuyết kinh tế chỉ ra một phương pháp đo lường đóng góp của các yếu
tố đến tăng trưởng sản lượng (growth accounting) bằng cách sử dụng mô hình tăng trưởng tân cổ điển (neoclassical growth model) Do vậy, mô hình nghiên cứu được rút ra từ mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển Tương tự như các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu hiện tại xem xét đóng góp của các yếu tố đầu vào, trong mô hình tân cổ điển, đối với tăng trưởng sản lượng của một quốc gia
Trong nghiên cứu về đóng góp của trung gian tài chính trong tăng trưởng sản lượng, Ang (2007) và Khan và Senhadji (2003) là hai trong số nhiều nhà nghiên cứu đã vận dụng thành công mô hình tân cổ điển phục vụ mục đích nghiên cứu của mình Phần dưới đây sẽ xem xét cả hai mô hình này cùng với các
mô hình đã đề cập trong chương 1 để rút ra mô hình nghiên cứu đề nghị
i Mô hình của Khan và Senhadji (2003)
Khan và Senhadji (2003) đề xuất mô hình như sau:
0 5 4
3 2
1
Trong đó: GDP là tổng sản phẩm quốc nội,
fd là thước đo phát triển tài chính, igdp là tỷ lệ tổng đầu tư trên GDP, dln(POP) là tốc độ tăng dân số, dln(TOT) là tốc độ tăng tỷ giá thương mại,
Trang 34Y 0 là thu nhập bình quân đầu người ban đầu
Trong mô hình này, Khan và Senhadji (2003) đề xuất đo lường phát triển
trung gian tài chính bằng bốn chỉ số fd 1 là tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP; fd 2 bằng fd 1 cộng với tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán trên GDP; fd 3 bằng fd 2 cộng với tỷ lệ vốn hóa thị trường trái phiếu trên GDP; và fd 4 hay stockc chỉ số
vốn hóa thị trường chứng khoán
Các thước đo phát triển trung gian tài chính trong mô hình của Khan và Senhadji (2003) là những thước đo tốt, vì đo lường được một cách toàn diện độ sâu tài chính Tuy nhiên, đối với trường hợp các quốc gia có trung gian tài chính
chưa phát triển, các chỉ số fd 2 , fd 3 và fd 4 hoặc là không có dữ liệu, hoặc là không
có thị trường tương ứng Do đó, chỉ có duy nhất việc áp dụng chỉ số fd1 là khả thi trong trường hợp của luận văn này
ii Mô hình của Ang (2007)
Ang tổng hợp các lý thuyết và đề xuất hai mô hình hồi quy như sau:
PRK PUK LF PCY
f Growth A , , ,
và Growth f BPRK,PUK,LF,M2Y
Trong đó: PRK là vốn tư nhân (private capital),
PUK là vốn công cộng (public capital)
M2Y là tỷ lệ tiền khối tiền mở rộng M2 trên GDP,
PCY là tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP,
Trang 35triển, với việc các trung gian tài chính vẫn còn ở mức độ thấp, việc sử dụng các chỉ số này để đo lường sự phát triển của hệ thống tài chính là hoàn toàn hợp lý
iii Mô hình của Christopoulos và Tsionas (2004)
Christopoulos và Tsionas (2004) nghiên cứu tác động của phát triển tài chính theo chiều sâu (financial depth) đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn bằng mô hình:
Y = βo + β1F + β2S + β3p + u Trong đó: Y là sản lượng đầu ra,
F là biến đo lường độ sâu tài chính được đo bằng tổng thanh khoản tiền gửi trên GDP,
S là đầu ra cổ phiếu đầu tư,
p là tỷ lệ lạm phát và sai số u
iii Mô hình của Beck, Levine và Loaya (2000)
Phương trình được sử dụng trong nghiên cứu này:
Yi = α + β Finance + γ’Xi + εi Trong đó: biến Y gồm tăng trưởng, tăng trưởng vốn, tiết kiệm,
Finance gồm biến tín dụng tư nhân, thanh khoản của ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương,
X đại diện cho vector các biến kiểm soát tăng trưởng bao gồm thu nhập bình quân, năm đi học trung bình, độ mở thương mại, lạm phát, quy
mô chính phủ
Trang 36Bảng 3.1 So sánh các mô hình nghiên cứu:
b 3 dlnPOP + b 4 dlnTOT + b5 lnY 0
Growth = fA(PRK, PUK, LF, PCY) Growth = fB(PRK, PUK, LF, M2Y)
Diễn giải Phát triển trung gian tài chính đo
trường trái phiếu trên GDP; và fd 4
hay stockc chỉ số vốn hóa thị
trường chứng khoán
Hai thước đo phát triển tài chính
là tỷ lệ khối tiền mở rộng M2 trên
GDP (M2/GDP) và tỷ lệ tín dụng
cá nhân trên GDP (PC/GDP)
Nhận xét Các thước đo phát triển trung gian
tài chính đo lường được một cách
toàn diện độ sâu tài chính Tuy
nhiên, không phù hợp với các
quốc gia có trung gian tài chính
chưa phát triển
Các chỉ số đo lường sự phát triển của hệ thống tài chính là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với các quốc gia đang phát triển (trung gian tài chính phát triển ở mức độ thấp)
Kết hợp các mô hình trên, tác giả nhận xét rằng một mô hình phù hợp đối với việc đánh giá tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế cho trường hợp Việt Nam sẽ có dạng:
Tăng trưởng GDP = F (chỉ số phát triển tài chính, các biến kiểm soát)
Hơn nữa, mô hình này phải thỏa mãn các tiêu chí dưới đây Đầu tiên, nó phải dựa trên cơ sở mô hình tăng trưởng tân cổ điển được đề xuất bởi Mankiw et
Trang 37al (1992) với dạng hàm logarit Thứ hai, để đo lường sự phát triển của hệ thống
tài chính, hai chỉ số được sử dụng là tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP (PC/GDP)
và tỷ lệ khối tiền mở rộng M2 trên GDP (M2/GDP)
Mô hình nghiên cứu đề nghị cho luận văn được đưa ra dựa trên các mô hình của các tác giả đã được trình bày trong phần nghiên cứu trước :
lnGDP = F(M2Y, PCY, PRK, PUK, IY, lnL, TOT, INF)
Mặt khác, theo tổng hợp các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Hoàng Bảo, 2012), tăng trưởng sản lượng có thể chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau, chẳng hạn như đầu tư trực tiếp nước ngoài (Nair‐Reichert & Weinhold 2001), xuất khẩu (Chow, 1987) Do đó, các biến kiểm soát trong mô hình đề nghị có thể bao gồm xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài Nên mô hình nghiên cứu đề nghị được bổ sung như sau :
lnGDP = F(M2Y, PCY, PRK, PUK, IY, lnL, TOT, INF, INF2, EXPORT, FDI)
3.2 Tóm tắt các biến trong mô hình
Các số liệu cho mô hình trên được diễn giải trong bảng sau:
Bảng 3.2 Tóm tắt các biến trong mô hình hồi quy:
vọng
1 M2Y Tỷ lệ khối tiền tệ
mở rộng trên tổng sản phẩm quốc nội
(tổng lượng tiền mặt do ngân hàng trung ương phát hành đang lưu thông + tiền các ngân hàng thương mại gửi tại ngân hàng trung ương + tiền gửi tiết kiệm,
có kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng)/GDP
+