Nhận thức được điều này, Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách thích hợp và một trong những chủ trương quan trọng đó là chương trình cải cách DNNN theo hướng thực hiện cổ phần h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-
LƯU THỊ KHÁNH HÀ
CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ KẾT QUẢ KINH
DOANH Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-
LƯU THỊ KHÁNH HÀ
CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ KẾT QUẢ KINH
DOANH Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS VÕ THỊ QUÝ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài luận văn này, tôi xin phép được gởi lời cảm ơn đầu tiên và chân thành nhất tới Cô TS Võ Thị Quý, người đã dẫn dắt và hướng dẫn tôi rất nhiệt tình trong việc phát hiện, chọn lọc đề tài cũng như phương pháp nghiên cứu, phân tích và thực hiện luận văn
“Cổ phần hóa DNNN và kết quả kinh doanh ở Việt Nam” là một đề tài không đơn giản mặc dù nó không phải là chủ đề mới Với đề tài này, tôi đã gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại trong quá trình thu thập dữ liệu thứ cấp, đặc biệt là các báo cáo tài chính của các DNNN trong giai đoạn 3 năm từ 2004-2006, vì trong thời gian này ở Việt Nam việc công bố thông tin chưa mang tính rộng rãi, nhất là đối với những công ty Nhà nước chưa niêm yết Đối với việc thu thập các báo cáo tài chính của nhóm CTCP có phần thuận lợi hơn, vì những thông tin này đã được công bố trên các website, tuy nhiên việc chọn lọc được những trang web phù hợp có đầy đủ số liệu BCTC trong 3 năm liên tiếp, cũng như việc phải chọn mẫu 30 CTCP đáp ứng đủ điều kiện để nghiên cứu và phân tích trong số hơn 300 công ty niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán TPHCM và Hà Nội không phải dễ dàng
Có thể nội dung của luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, song với tất cả sự cố gắng, nỗ lực của bản thân cùng với sự hỗ trợ và giúp đõ rất nhiệt tình của quý thầy cô, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè và gia đình, tôi đã hoàn tất bài luận văn Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Quý thầy cô Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Khoa Sau Đại Học Trường Đại Học Kinh Tế TPHCM đã truyền đạt những kiến thức rất hữu ích và quý báu trong suốt những năm tôi còn ngồi ghế nhà trường
Gia đình là nơi tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Các anh chị công tác tại các cơ quan như: Cục Thuế TPHCM, Công ty Kiểm toán Ernst & Young, Công ty Kiểm Toán Nhà nước AASC, Công ty Quản Lý Quỹ Vinacapital, Công ty Chứng Khoán Âu lạc, Công ty Kirby Đông Nam Á và rất nhiều các mối quan hệ khác đã giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong việc thu thập, xử lý dữ liệu
Những người bạn đã không ngại giúp tôi trong việc tiếp cận những thông tin và đóng góp ý kiến liên quan đến nội dung đề tài
Một lần nữa tôi xin được gởi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người
Trân trọng Tác giả: Lưu Thị Khánh Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn của tôi là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn Lưu Thị Khánh Hà
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục phụ lục
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DNNN………15
1.1 QUAN HỆ SỞ HỮU, MỐI LIÊN HỆ GIỮA QUAN HỆ SỞ HỮU VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP:………16
1.1.1 Quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN:…………16
1.1.2 Các hình thức sở hữu:………17
1.1.2.1 Sở hữu Nhà nước:……… 17
1.1.2.2 Sở hữu tư nhân:………19
1.1.2.3 Sở hữu hỗn hợp:……… 21
1.1.3 Các thành phần kinh tế:………22
1.1.4 Mối liên hệ giữa quan hệ sở hữu và kết quả kinh doanh của DN:………….24
1.2 CỔ PHẦN HÓA DNNN:………26
1.2.1 Khái quát về cổ phần hóa:……….26
1.2.2 Đặc điểm CPH ở một số quốc gia khác:……….28
1.3.3 Cổ phần hóa ở Việt Nam:………33
1.3.3.1 Hệ thống các chủ trương, chính sách về CPH DNNN và những điểm nổi bật:……….33
1.3.3.2 Quá trình CPH ở Việt Nam:……….36
1.3.4 Sự khác biệt giữa CPH ở Việt Nam và các quốc gia khác:………40
Tóm tắt Chương 1:……….41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NHÓM DNNN……… 42
2.1 DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:……….43
2.1.1 Đặc điểm DNNN:……….43
2.1.2 Những ưu đãi và hạn chế ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các DNNN:……….44
2.2 CÁC CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH TRONG PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DN:……….46
2.2.1 Báo cáo tài chính:………46
Trang 62.2.2 Một số chỉ tiêu tài chính:………47
2.3 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU:………49
2.4 KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NHÓM DNNN:………50
2.4.1 Xem xét theo ngành nghề hoạt động:………51
2.4.2 Xem xét theo quy mô hoạt động:……… 53
Tóm tắt Chương 2:……….55
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NHÓM CTCP……….56
3.1 CÔNG TY CỔ PHẦN:………57
3.1.1 Đặc điểm CTCP:………57
3.1.2 Những ưu đãi và hạn chế ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các CTCP:……… 57
3.2 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU:………59
3.3 KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NHÓM CTCP:……….61
3.3.1 Xem xét theo ngành nghề hoạt động:………62
3.3.2 Xem xét theo quy mô hoạt động:……….64
3.3.3 Xem xét theo tỷ lệ sở hữu vốn Nhà nước khác nhau:……….65
3.3.3.1 So sánh kết quả kinh doanh của nhóm N1 và nhóm N2:……….65
3.3.3.2 So sánh kết quả kinh doanh của nhóm N1 và nhóm N3:……….66
3.3.3.3 So sánh kết quả kinh doanh của nhóm N2 và nhóm N3:……….68
Tóm tắt Chương 3:……….69
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ………70
4.1ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NHÓM DNNN VÀ CTCP 71
4.1.1 Đánh giá theo ngành nghề hoạt động:……… 72
4.1.2 Đánh giá theo quy mô hoạt động:………74
4.1.3 Đánh giá chung:……….75
4.2 ĐÁNH GIÁ VỀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NHÓM CTCP CÓ TỶ LỆ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC KHÁC NHAU:……… 80
4.3 KIẾN NGHỊ:………82
4.1 Kiến nghị đối với Nhà nước:……… 82
4.2 Kiến nghị đối với Doanh Nghiệp:………84
Tóm tắt Chương 4:……….85 KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bài viết sử dụng một số chữ viết tắt sau đây:
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CPH : Cổ phần hóa
CTCP : Công ty cổ phần
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
KQKD : Kết quả kinh doanh
NDT : Nhà đầu tư
TLSHVNN : Tỷ lệ sở hữu vốn Nhà nước
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
CHƯƠNG 2: Gồm các bảng sau:
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp phân tích tốc độ tăng của các chỉ tiêu tài chính nhóm DNNN
Bảng 2.2: Bảng tính tốc độ tăng các chỉ tiêu tài chính theo ngành nghề hoạt động của nhóm DNNN
Bảng 2.3: Thang điểm tính quy mô DNNN
Bảng 2.4: Bảng tính tốc độ tăng các chỉ tiêu tài chính theo quy mô hoạt động của nhóm DNNN
CHƯƠNG 3: Gồm các bảng sau:
Bảng 3.1 : Bảng tổng hợp phân tích tốc độ tăng các chỉ tiêu tài chính nhóm CTCP Bảng 3.2: Bảng tính tốc độ tăng các chỉ tiêu tài chính theo ngành nghề hoạt động của nhóm CTCP
Bảng 3.3: Bảng tính tốc độ tăng các chỉ tiêu tài chính theo quy mô hoạt động của nhóm CTCP
Bảng 3.4: Bảng so sánh kết quả kinh doanh của nhóm N1 và N2
Bảng 3.5: Bảng so sánh kết quả kinh doanh của nhóm N1 và N3
Bảng 3.6: Bảng so sánh kết quả kinh doanh của nhóm N2 và N3
Chương 4: Gồm các bảng sau:
Bảng 4.1: Bảng tính tốc độ tăng trung bình của hai nhóm DNNN và CTCP
Bảng 4.2: Bảng xem xét theo tỷ lệ sở hữu vốn Nhà nước khác nhau
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: Danh sách các DNNN được nghiên cứu
PHỤ LỤC 2: Danh sách các CTCP được nghiên cứu
PHỤ LỤC 3: Bảng phân theo ngành của nhóm DNNN
PHỤ LỤC 4: Bảng phân theo ngành của nhóm CTCP
PHỤ LỤC 5: Bảng tổng hợp và tính tốc độ tăng các chỉ tiêu tài chính của nhóm DNNN
PHỤ LỤC 6: Bảng tổng hợp và tính tốc độ tăng các chỉ tiêu tài chính của nhóm CTCP
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu lý do chọn đề tài:
Công cuộc cải cách đất nước ta đã trải qua nhiều thăng trầm với các thời kỳ lịch sử khác nhau, biểu hiện dưới nhiều chế độ sở hữu khác nhau Trong mỗi giai đoạn, đều tồn tại những hình thức sở hữu nhất định, nhưng bản chất của chế độ sở hữu lại được quyết định bởi hình thức sở hữu nào đóng vai trò chi phối Những năm đầu bước vào đổi mới, khi sở hữu tập thể, sở hữu toàn dân chiếm ưu thế thì nền kinh tế chủ yếu biểu hiện thông qua cơ chế tập trung bao cấp Trong một thời gian dài thực hiện, hình thức này đã bộc lộ nhiều yếu kém, không kích thích sự cạnh tranh, không tạo động lực thúc đẩy mà trái lại nó còn làm kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì rõ ràng loại hình này tỏ ra không còn phù hợp nữa
Ngày nay, xu hướng phát triển của nhân loại cho thấy sự tồn tại của hình thức đa sở hữu thông qua nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu Nhận thức được điều này, Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách thích hợp và một trong những chủ trương quan trọng đó là chương trình cải cách DNNN theo hướng thực hiện cổ phần hóa với những mục tiêu sau: (Trích theo nghị định 109/2007NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính Phủ về chuyển DN 100% vốn Nhà nước thành CTCP).
1 Chuyển đổi những DN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình DN có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các NDT trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
2 Đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, DN, NDT và người lao động trong DN
3 Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ DN, gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán
Với những mục tiêu to lớn và đầy ý nghĩa như thế thì việc phát huy được hiệu quả, huy động được tiềm lực của toàn xã hội không phải là chuyện dễ dàng và nhanh chóng thực hiện được Vì vậy, những nghiên cứu về việc xây dựng cấu trúc quyền sở hữu phù hợp với môi trường quản lý của Việt Nam cũng như những vấn đề xung quanh việc thực hiện cổ phần hóa DNNN đã và đang trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Đó cũng chính là lý do mà đề tài “Cổ phần hóa DNNN và kết quả kinh doanh ở Việt Nam” được chọn làm nghiên cứu
Trang 102 Trình bày vấn đề nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu những vấn đề chính sau:
Vấn đề thứ nhất: nghiên cứu về quan hệ sở hữu, mối liên hệ giữa quan hệ sở hữu và kết quả hoạt động kinh doanh của DN
Vấn đề thứ hai: nghiên cứu kết quả kinh doanh của hai nhóm DNNN và công ty Nhà nước đã CPH trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006 thông qua việc thu thập các báo cáo tài chính và phân tích các chỉ tiêu tài chính từ các báo cáo tài chính này Từ đó, so sánh sự khác biệt về kết quả kinh doanh giữa hai nhóm này
Vấn đề thứ ba: nghiên cứu vấn đề CPH ở Việt Nam, vì đây là quá trình xác lập chế độ cổ phần trong kinh tế Nhà nước nhằm đa dạng hóa các hình thức sở hữu, hay chính xác hơn là phát triển hình thức sở hữu hỗn hợp Qua đó nghiên cứu mối liên hệ giữa kết quả kinh doanh của các nhóm CTCP vớiù tỷ lệ sở hữu vốn Nhà nước khác nhau
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của hai nhóm DNNN và CTCP Nghiên cứu sự khác biệt về kết quả kinh doanh giữa hai nhóm DNNN và CTCP
Nghiên cứu sự khác biệt về kết quả kinh doanh của nhóm các CTCP có tỷ lệ sở hữu vốn Nhà nước khác nhau
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
• Đối tượng nghiên cứu: gồm 3 nhóm chính sau:
_ Nhóm DNNN
_ Nhóm CTCP
_ Nhóm CTCP có tỷ lệ sở hữu vốn Nhà nước khác nhau
• Phạm vi nghiên cứu:
_ Các DN đăng ký hoạt động sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam và theo luật DN Việt nam
_ Các báo cáo tài chính của 30 DNNN và 30 CTCP trong giai đoạn 3 năm từ năm 2004 đến năm 2006
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu định tính:
Nghiên cứu là một quá trình tìm kiếm các tri thức được khái quát hóa để có thể áp dụng vào việc giải thích cho một loạt các sự kiện, hiện tượng Có nhiều phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ các vấn đề Trong những phương pháp đó thì phương pháp định tính tỏ ra phù hợp nhất đối với đề tài nghiên cứu của bài viết này vì những lý do chính sau:
Nghiên cứu định tính là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu định tính hướng tới tìm hiểu ý nghĩa của các hiện tượng, sự kiện xã hội trong mối tương quan với bối cảnh xảy ra các sự kiệân đó, các số liệu thu thập được thường thể hiện dưới dạng văn bản mô tả bản chất và ý nghĩa của hiện tượng từ góc nhìn, quan điểm của nhà nghiên cứu
Nghiên cứu định tính bao gồm việc:
_ Phát hiện, xác định và khám phá các biến số
_ Làm sáng tỏ bản chất và nguyên nhân của vấn đề
_ Làm sáng tỏ hậu quả của các vấn đề đối với các đối tượng chịu sự tác động
Để áp dụng được phương pháp nghiên cứu thì cần phải xác định được loại thông tin cần thu thập và nguồn thông tin cung cấp
Loại thông tin thu thập:
Thông tin thu thập trong bài viết được xác định là thông tin thứ cấp, đó là những thông tin có sẵn, bao gồm các mẫu thuận tiện sau:
_ Các bài viết, các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến nội dung bài viết _ Các văn bản, tài liệu liên quan đến quá trình CPH ở Việt Nam
_ Các báo cáo tài chính ba năm (2004-2006) của hai nhóm DNNN và DNNN đã cổ phần hóa
_ Tỷ lệ sở hữu vốn Nhà nước của các CTCP
_ Quy mô vốn (chỉ tiêu vốn điều lệ) của các DNNN và CTCP
Trang 12Nguồn thông tin:
_ Các văn bản, tài liệu lấy từ các trang web của Bộ Công Thương, Đảng Cộng Sản Việt Nam, sách báo, tạp chí…
_ Các báo cáo tài chính, bảng cáo bạch, bảng công bố thông tin của các DNNN đã CPH (CTCP) Do tính chất công khai minh bạch báo cáo tài chính của các DN khi niêm yết trên sàn chứng khoán, nên có thể tìm thông tin của các DN trên các trang web của một số công ty chứng khoán Tuy nhiên, qua khảo sát các trang web chứng khoán, đa số chỉ trình bày báo cáo tài chính của DN trong hai hoặc ba năm gần nhất (2005-2007) Mặt khác, đề tài chỉ nghiên cứu kết quả kinh doanh của DN đã CPH trong ba năm 2004-2006, do vậy phải chọn lọc những DN có đủ báo cáo đáp ứng điều kiện nghiên cứu Kết quả là đã thu thập được báo cáo tài chính của 30 DNNN đã cổ phần sau khi đã xem xét toàn bộ mẫu hơn 300
DN niêm yết trên cả hai sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh Một số trang web chính được sử dụng để lấy thông tin là:
+ Công ty chứng khoán Âu Lạc
+ Công ty quản lý quỹ Vinacapital
+ Công ty kiểm toán Earn & Young
+ Công ty kiểm toán Nhà nước (AASC)
+ Cục thuế TPHCM
_ Tỷ lệ sở hữu vốn Nhà nước lấy từ báo cáo và vốn điều lệ của các CTCP lấy từ Bản tin thị trường chứng khoán của Sở Giao Dịch Chứng Khoán
Trang 136 Quy trình nghiên cứu:
Quy trình nghiên cứu được biểu diễn theo sơ đồ sau:
Phân tích tốc độ tăng của các chỉ tiêu:
1/ Chỉ tiêu Doanh thu 2/ Chỉ tiêu TSCĐ 3/ Chỉ tiêu Lợi nhuận trước thuế (EBIT) 4/ Chỉ tiêu EBIT/Doanh thu
5/ Chỉ tiêu Doanh lợi trước thuế (BEP)
So sánh KQKD giữa hai nhóm
theo:
1/ Ngành nghề hoạt động
2/ Quy mô hoạt động
Cơ sở dữ liệu từ các báo cáo tài chính, bảng cáo bạch, công bố thông tin
So sánh chéo KQKD giữa 3 nhóm: 1/ Nhóm N1 và nhóm N2
2/ Nhóm N1 và nhóm N3 3/ Nhóm N2 và nhóm N3
cổ phần hóa
1/ Nhóm TLSHVNN (N1) <30%
2/ 30% <Nhóm TLSHVNN (N2) <50% Nhóm DNNN
cổ phần hóa
Trang 147 Ý nghĩa thực tiễn:
• Đóng góp về mặt lý thuyết:
Khẳng định thêm quan hệ sở hữu có ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của
DN
Là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan đến vấn đề CPH DN
• Đóng góp về mặt thực tiễn:
Ngụ ý của bài viết nhằm muốn thay đổi quan điểm, cách nhìn nhận về sở hữu, gia tăng bảo hộ quyền tài sản tư nhân của người dân cũng như quyền làm chủ của các DN trong quá trình hoạch định chính sách của các nhà quản lý Có như thế mới phát huy được hết nội lực và sức mạnh của toàn dân trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
8 Kết cấu đề tài:
Lời mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về Cổ Phần Hóa DNNN
Chương 2: Thực trạng kết quả kinh doanh của nhóm DNNN
Chương 3: Thực trạng kết quả kinh doanh của nhóm CTCP
Chương 4: Đánh giá chung và kiến nghị
Kết luận
Trang 15CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 QUAN HỆ SỞ HỮU, MỐI LIÊN HỆ GIỮA QUAN HỆ SỞ HỮU VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP:
1.1.1 Quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN:
Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, các chế độ sở hữu cũng như các hình thức sở hữu cũng dần thay đổi theo Trong lịch sử phát triển của nhân loại, các chế độ sở hữu đã từng tồn tại và lần lượt thay thế nhau đó là từ chế độ công hữu nguyên thủy đến chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa Lịch sử phát triển của nhân loại đã cho thấy rằng, không có một chế độ sở hữu nào là thuần nhất một hình thức sở hữu mà nó là sự đan xen nhiều loại hình, nhiều hình thức sở hữu khác nhau Tuy nhiên, trong đó có một loại hình sở hữu đóng vai trò chi phối, quy định bản chất của chế độ sở hữu trong từng giai đoạn lịch sử Xu hướng phát triển của nhân loại không phải đi đến chỗ đơn nhất hóa mà ngược lại ngày càng đa dạng hóa các hình thức sở hữu Nếu như trong xã hội nguyên thủy chỉ mới có công hữu nguyên thủy thì ngày nay, ở các nước đều đan xen rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau Đó là quy luật tất yếu phù hợp với quá trình xã hội hóa của lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất có tính xã hội thì quan hệ sản xuất cũng đòi hỏi phải có tính xã hội
Phát triển đất nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ và trong thời kỳ quá độ ấy có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế” Để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, Đảng ta chủ trương đa dạng hóa các hình thức sở hữu “từ các hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu
tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp”
Có thể tóm gọn, quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt: một mặt phải đa dạng hóa các hình thức sở hữu và coi đó là một trong những điều kiện tất yếu của kinh tế thị trường, mặt khác phải không ngừng củng cố và hoàn thiện sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đó là yếu tố quyết định đảm bảo định hướng XHCN về mặt kinh tế
Trang 17Việc kết hợp hai mặt đó là nét đặc thù của quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đây là vấn đề có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta
(Nguồn từ bài viết Quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đăng trên trang http://my.opera.com )
1.1.2 Các hình thức sở hữu:
Có nhiều hình thức sở hữu như sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, sở hữu hỗn hợp, sở hữu
tư nhân, sở hữu chung… Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến ba hình thức sở hữu, đó là: sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp Nền kinh tế mà nước ta đã lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Theo đó nếu không có sở hữu Nhà nước (mà đại diện là thành phần kinh tế Nhà nước) thì sẽ không có định hướng XHCN, nhưng nếu không có sở hữu tư nhân (đại diện là thành phần kinh tế tư nhân) thì cũng sẽ không có kinh tế thị trường Phần dưới đây sẽ trình bày rõ hơn những đặc trưng và vai trò của các loại hình sở hữu: sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân
1.1.2.1 Sở hữu Nhà nước:
(Trích lục trong bài đăng trên Tạp Chí Cộng Sản với chủ đề Một số vấn đề về sở hữu Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cập nhật 22/1/2007)
Những đặc trưng của sở hữu Nhà nước:
Nhà nước vừa đóng vai trò chủ thể sở hữu như các chủ thể khác, vừa phải là chủ thể định ra khuôn khổ thể chế cho toàn xã hội Phân tích các yếu tố cấu thành sở hữu Nhà nước gồm những nội dung chính sau:
Chủ thể Nhà nước: đây là chủ thể đặc biệt vì bản thân Nhà nước là một pháp nhân và quan niệm về Nhà nước cũng rất khác nhau ở các hệ thống kinh tế khác nhau
Đối tượng sở hữu Nhà nước: bao gồm hai nhóm
_ Nhóm thứ nhất mang tính chất đương nhiên, không thể phân chia cho các chủ thể phi Nhà nước như vùng trời, vùng biển, tài nguyên trong lòng đất, hoặc các đối tượng xuất hiện gần đây như tên miền trên mạng Internet… Chính nhóm này quy định sự cần thiết khách quan của sở hữu Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Trang 18_ Nhóm thứ hai gồm các đối tượng vừa có thể thuộc sở hữu Nhà nước vừa có thể thuộc các chủ thể sở hữu khác
Chủ thể sở hữu của Nhà nước: Dù tổ chức theo mô hình nào thì chủ thể sở hữu của Nhà nước cũng thường có nhiều cấp, vì vậy việc thực hiện và kiểm soát thu nhập từ tài sản là rất thấp Mặt khác, quyền quản lý thường được thực hiện bởi một bộ máy làm việc theo chế độ công chức, cơ chế quy trách nhiệm cá nhân và động cơ đạt mục tiêu hiệu quả và áp lực kiểm soát thường không rõ ràng Ngoài ra, quyền chuyển nhượng thường bị hạn chế, biểu hiện là một số quyền như thừa kế, tặng, biếu… không thể thực hiện được vì pháp luật không cho phép Khi bàn đến vấn đề sở hữu Nhà nước, các nhà sáng lập Mác-Lê Nin cũng chưa thống nhất và sử dụng nhiều tên gọi khác nhau mang ý nghĩa gần nhau như: sở hữu toàn dân, sở hữu chung, sở hữu xã hội, sở hữu công cộng Ở Việt Nam, cho đến nay các học giả tương đối thống nhất ý kiến về quan niệm sở hữu công cộng bao gồm tất cả các hình thức sở hữu toàn dân, Nhà nước và tập thể Sở hữu công cộng có nội hàm rộng hơn và bao gồm cả sở hữu Nhà nước và tập thể Sở hữu công cộng được sử dụng như một khái niệm rộng để phân biệt với sở hữu tư nhân
Vai trò của sở hữu Nhà nước:
Nếu quan niệm sở hữu Nhà nước đại diện cho sở hữu toàn dân, thì vai trò của sở hữu Nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có ý nghĩa rất lớn, biểu hiện:
_ Sở hữu Nhà nước là nòng cốt trong việc thực hiện quản lý Nhà nước, tạo lập các quan hệ sản xuất mới, thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội bảo đảm sự phát triển bền vững
_ Sở hữu Nhà nước đại diện cho sở hữu toàn dân, tồn tại trên các lĩnh vực được hiến pháp quy định như sở hữu đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển và tiềm lực quốc gia
_ Sở hữu Nhà nước có vai trò hướng dẫn, mở đường, là công cụ điều tiết nền kinh tế Như vậy, sở hữu Nhà nước thể hiện tiềm lực Nhà nước, là một trong những công cụ quan trọng điểu tiết nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Theo lý thuyết thị trường tự do, vai trò của Nhà nước chỉ hạn chế ở những chức năng tối thiểu, từ thế kỷ XIX, đặc biệt là giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai, vai trò của Nhà nước được đề cao và sở hữu Nhà nước cũng được tăng lên đáng kể, từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX lại có xu hướng mới diễn ra theo
Trang 19hai chiều hướng trái ngược nhau Trong khi vai trò của Nhà nước vẫn được đề cao thì những hình thức và biện pháp tham gia của Nhà nước vào nền kinh tế đã có sự thay đổi sâu sắc, khu vực sở hữu Nhà nước trong kinh doanh giảm mạnh Hiện nay, tỷ trọng DNNN ở các nước công nghiệp phương Tây khoảng dưới 10%, kể cả trong GDP và trong sản xuất công nghiệp và dịch vụ, trong khi đó tỷ trọng này
ở các nước đang phát triển thường lớn hơn khoảng hai lần
Như vậy, sở hữu Nhà nước là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự tồn tại của Nhà nước, bất kể Nhà nước đó thuộc thể chế chính trị xã hội nào Ở các nước có nền kinh tế thị trường, kinh tế Nhà nước, DNNN là một trong những công cụ để khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường Mức độ, phạm vi của khu vực kinh tế Nhà nước, DNNN được xác định trên cơ sở yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, khi Nhà nước nắm trong tay một khối lượng sở hữu khổng lồ thì chính những bất lợi của sở hữu Nhà nước bắt nguồn từ đặc điểm của chủ thể tập thể có xu hướng làm giảm hiệu quả hoạt động của khu vực này, kéo theo sự sụt giảm hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế Vì vậy, xu hướng Nhà nước rút khỏi những ngành cạnh tranh, CPH các DNNN là một giải pháp đảm bảo hiệu quả không những cho các DNNN, mà còn cho cả nền kinh tế 1.1.2.2 Sở hữu tư nhân:
Sở hữu tư nhân là sở hữu của các cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình Các tài sản này được hình thành từ nhiều nguồn gốc hợp pháp khác nhau:
do lao động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức, được cho tặng, thừa kế,
…(Nguồn: Theo bài Pháp luật về tài sản và quyền sở hữu trên trang www.judaca.edu.vn)
Đặc trưng của sở hữu tư nhân:
Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được coi là một trong những quyền tự nhiên của con người Ở các nước tư bản, sở hữu tư nhân được coi là thiêng liêng bất khả xâm phạm Chủ sở hữu được pháp luật trao cho các quyền rộng rãi để bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình Đối tượng sở hữu tư nhân trong các nước tư bản không bị hạn chế
Trong xã hội chủ nghĩa trước đây, sở hữu tư nhân được coi là sở hữu của chế độ người bóc lột người nên bị Nhà nước tìm cách xóa bỏ Vì vậy mà quyền sở hữu tư nhân ở các nước XHCN bị hạn chế Tuy nhiên hiện nay theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam, quyền sở hữu tư nhân, kể cả tư liệu tư bản được thừa nhận và bảo hộ Các công dân, các cá nhân có quyền sở hữu đối với các tư liệu sản xuất, thu nhập, được tổ chức kinh doanh phù hợp với pháp luật Như vậy, sở hữu
tư nhân có những đặc trưng sau:
Trang 20Chủ thể của sở hữu tư nhân là công dân Với tư cách là sở hữu chủ, công dân được chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với những tư liệu sản xuất nhất định, sử dụng tư liệu sản xuất để kinh doanh trong phạm vi pháp luật cho phép Đối tượng sở hữu tư nhân theo pháp luật hiện hành của Việt nam bao gồm tất cả các tài sản, trừ những tài sản thuộc về sở hữu tuyệt đối của Nhà nước
(Theo Bách khoa toàn thư Việt nam- Bài viết về quyền sở hữu tư nhân)
Vai trò của sở hữu tư nhân:
Sở hữu tư nhân mà đại diện là kinh tế tư nhân đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Khu vực kinh tế tư nhân năm 2005 đã chiếm 38,5%GDP, cao gấp 5,4 lần tỷ trọng 7,11% của khu vực kinh tế tập thể, cao gấp 2,5 lần tỷ trọng 15,17% của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và đạt xấp xỉ với tỷ trọng 39,22% của khu vực kinh tế Nhà nước Riêng tỷ trọng GDP của các DN thuộc khu vực kinh tế tư nhân nhìn chung đã tăng lên qua các năm: nếu năm 2000 mới chiếm 7,31% thì năm 2005 là 8,91% Đáng lưu ý là tốc độ tăng trưởng GDP do các DN thuộc khu vực kinh tế tư nhân luôn cao hơn gấp rưỡi, gấp đôi tốc độ tăng chung cũng như cao hơn tốc độ tăng của các khu vực khác (*) Với những số liệu này, có thể thấy vai trò của kinh tế tư nhân biểu hiện ở những mặt sau:
_ Cơ cấu lại ngành nghề Cơ cấu DN đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ, đã xuất hiện nhiều DN ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nhiều DN tư nhân đã hoạt động trong những lĩnh vực mà trước đây chỉ có DNNN tham gia
_ Góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm cho xã hội Khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động đang làm việc (88,8%), cao hơn rất nhiều so với tỷ trọng 9,7% của khu vực Nhà nước Trong tổng số lao động làm việc ở khu vực DN (5,175 nghìn lao động), thì DN thuộc khu vực kinh tế tư nhân chiếm 42,9%, cao hơn tỷ trọng 39,9% của khu vực DNNN Khu vực này cũng đã chiếm gần 1/3 tổng vốn đầu tư toàn xã hội.(*)
_ Đóng góp chung vào thu nhập của toàn xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tạo nên tính sôi động và cạnh tranh cho thị trường
((*) : Số liệu trích trong bài viết Kinh tế tư nhân: Vị thế quan trọng song vẫn thiếu lực đẩy ngày 14/6/2006 theo TBTC 71 của trang web Bộ tài chính:
http://www.mof.gov.vn )
Trang 211.1.2.3 Sở hữu hỗn hợp:
Sở hữu hỗn hợp là hình thức sở hữu kết hợp giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân
Biểu hiện của hình thức sở hữu hỗn hợp:
Việc cổ phần hóa phần lớn các DNNN mà Nhà nước ta đang nỗ lực thực hiện chính là xác lập chế độ cổ phần nhằm đa dạng hóa các hình thức sở hữu, thực chất là phát triển hình thức sở hữu hỗn hợp để từng bước làm tăng thực lực kinh tế của chế độ sở hữu công cộng toàn dân
Một số lý luận về chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần:
Một số lý luận mang tính đột phá đã được các nhà kinh tế học Trung Quốc đúc kết trong quá trình cải cách kinh tế nhằm xác định rõ bản chất của hình thức sở hữu và tác động của nó đến chế độ cổ phần, biểu hiện qua ba cuộc tranh luận sau:
Cuộc tranh luận về chế độ cổ phần là tư hữu hay công hữu, đã làm rõ chế độ cổ phần vừa không mang họ “công” (công hữu) cũng không mang họ “tư” (tư hữu), mà là kinh tế sở hữu hỗn hợp có thể dung hợp “công” và “tư” thành một thể Nếu là quốc hữu và tập thể khống chế cổ phần thì sẽ mang tính chất công hữu, nếu là tư doanh và thương nhân nước ngoài khống chế cổ phần thì mang tính chất tư hữu
Cuộc tranh luận về chế độ cổ phần là kinh tế TBCN hay kinh tế XHCN, đã làm rõ nó không phải họ “tư” (TBCN), cũng không phải họ “xã” (XHCN), mà là một hình thức tổ chức vốn của chế độ xí nghiệp hiện đại, là hình thức thực hiện có hiệu quả phù hợp với yêu cầu kinh tế thị trường của kinh tế quốc hữu
Cuộc tranh luận về chế độ hợp tác cổ phần là kinh tế gì, đã làm rõ kinh tế hợp tác cổ phần vừa không phải là chế độ cổ phần, cũng không phải là chế độ hợp tác, mà là một hình thức thực hiện của kinh tế công hữu, loại hình mới mang một số đặc điểm của cả chế độ cổ phần và chế độ hợp tác, là kinh tế tập thể của sự liên hợp lao động và liên hợp vốn, là một hình thức có hiệu quả của việc cải cách chế độ đối với các xí nghiệp nhỏ quốc hữu
(Nguồn: Sáu đột phá lớn về lý luận cải cách kinh tế ở Trung Quốc từ trang
http://www.vietnamchina.gov.vn/cvweb/vcc/info/Article.jsp?a_no=112154&col_no=554 )
Trang 221.1.3 Các thành phần kinh tế:
Mỗi loại hình DN đều tồn tại tương ứng với một hình thức sở hữu khác nhau Sở hữu ở đây được hiểu là sở hữu về mặt tư liệu sản xuất Với bối cảnh nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì nền kinh tế nhiều thành phần là sự phát triển tất yếu Các thành phần kinh tế đó gồm: Kinh tế Nhà nước: thành phần kinh tế này lấy sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất làm cơ sở kinh tế Nó bao gồm các DNNN, các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước như đất đai, ngân sách, các nguồn dự trữ, nguồn tài nguyên…
Kinh tế hợp tác (tập thể): thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất Kinh tế hợp tác được tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng, phát triển từ thấp đến cao, từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã, tuân theo nguyên tắc tự nguyện bình đẳng, cùng có lợi, quản lý dân chủ, các hợp tác xã được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần Kinh tế hợp tác cùng với kinh tế Nhà nước hợp thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân
Kinh tế cá thể, tiểu chủ: đây là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất và lao động của bản thân họ Loại hình kinh tế này tồn tại ở phạm vi tương đối lớn, được phát triển trong các ngành nghề ở cả thành thị và nông thôn không hạn chế kinh doanh Cần phân biệt kinh tế cá thể với kinh tế gia đình Kinh tế gia đình dựa trên sở hữu cá nhân đặc biệt (vì có một ít tư liệu sản xuất) và thời gian lao động ngoài thời gian mà công nhân viên chức và xã viên làm việc ở nhiệm sở, ở các xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã Nó không phải là một thành phần kinh tế độc lập, nhưng được phát triển mạnh
Kinh tế tư bản Nhà nước: thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và nước ngoài bằng nhiều phương thức góp vốn hợp tác liên doanh Kinh tế tư bản Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc huy động tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý… của các nhà tư bản vì lợi ích của bản thân họ, cũng như công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Kinh tế tư bản tư nhân: thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và quan hệ người bóc lột người, mặc dù không còn nguyên nghĩa như trong xã hội cũ Nó tồn tại trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh và được pháp luật quy định Nó có thể được Nhà nước liên doanh bằng nhiều hình thức đối với cả tư nhân trong nước lẫn tư nhân nước ngoài để hình thành loại hình kinh tế tư bản Nhà nước
Trang 23Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: thành phần kinh tế này bao gồm các DN có vốn nước ngoài (có thể sở hữu 100% vốn nước ngoài), các DN này cũng có thể tham gia liên kết, liên doanh với DNNN hoặc các DN tư nhân trong nước
Tính thống nhất và mâu thuẫn của các thành phần kinh tế:
Tính thống nhất:
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, cơ chế hoạt động của nền kinh tế là cơ chế thị trường Do đó, các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập, mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thống nhất Sự phát triển của mỗi thành phần đều đóng góp chung vào sự phát triển của cả nền kinh tế Mỗi thành phần kinh tế đều dựa trên một hình thức nhất định về tư liệu sản xuất Các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất tuy có sự độc lập tương đối và có bản chất riêng nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh trong một môi trường chung, cùng chịu tác động của các nhân tố, các quy luật của thị trường Không những thế, giữa các thành phần kinh tế lại có sự tác động qua lại lẫn nhau, cả mặt tích cực và tiêu cực, sự biến đổi của thành phần kinh tế này sẽ ảnh hưởng đến các thành phần kinh tế khác
Tính mâu thuẫn:
Các thành phần kinh tế mâu thuẫn với nhau vì mỗi thành phần kinh tế có đặc điểm riêng về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất Trên cơ sở đó, mỗi thành phần kinh tế ngoài các quy luật kinh tế chung, còn có các quy luật kinh tế hoạt động đặc thù, chi phối mỗi thành phần Như vậy, mỗi thành phần kinh tế mang bản chất kinh tế khác nhau, có các lợi ích kinh tế khác nhau, thậm chí đối lập nhau Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế sẽ tạo nên sự cạnh tranh, mà cạnh tranh chính là động lực quan trọng để cải tiến kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là mâu thuẫn giữa một bên là kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư bản Nhà nước với một bên là tính tự phát tư sản và tiểu tư sản của kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể là không thể điều hòa
Tóm lại, sự mâu thuẫn và thống nhất giữa các thành phần kinh tế là mang tính khách quan Nó có tác dụng làm cho các thành phần kinh tế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh Trong quá trình cạnh tranh và hợp tác, từng thành phần kinh tế tồn tại với tư cách là đơn vị sản xuất hàng hóa đều đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế Các thành phần kinh tế cần được thừa nhận, bình đẳng trên mọi phương diện, tạo điều kiện để tồn tại và phát triển
Trang 24(Nguồn: Sách Kinh Tế Chính Trị Mac-Lê Nin của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo và Tài liệu ôn thi cao học môn cơ sở Kinh Tế Chính Trị của Trường ĐHKT TPHCM).
1.1.4 Mối liên hệ giữa quan hệ sở hữu và kết quả kinh doanh của DN:
Thế kỷ XX đã chứng kiến cuộc đua tranh giữa hai hệ thống kinh tế, đó là nền kinh tế chỉ huy dựa trên sự kiểm soát tập trung của Nhà nước, đại diện cho hình thức sở hữu Nhà nước và nền kinh tế thị trường dựa vào thành phần kinh tế
tư nhân đại diện cho hình thức sở hữu tư nhân Nhưng đến cuối thế kỷ XX thì câu trả lời cho sự phân tranh nói trên mới trở nên rõ ràng: mô hình của nền kinh tế chỉ huy đã thất bại trong việc duy trì tăng trưởng, trong việc tạo ra sự phồn vinh và thậm chí cả trong việc nâng cao đời sống nhân dân Trong khi đó, nền kinh tế thị trường lại tỏ ra thành công ở nhiều nước Tây Âu đến Bắc Mỹ, và cả ở Châu
Á Điều này nói lên rằng:
Việc trực tiếp đầu tư và điều hành sản xuất kinh doanh không phải là chức năng của cơ quan Nhà nước công quyền Dưới hình thức sở hữu Nhà nước, những người quản lý DNNN dù ở cương vị nào cũng chỉ là người được ủy quyền, nhưng họ lại có quyền định đoạt, quyết định số phận tài sản và hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN Rõ ràng khi quyền lực, trách nhiệm và sở hữu không gắn liền với nhau thì hậu quả gây ra là không thể kiểm soát nổi Ở nước ta, trước thời kỳ đổi mới do chính sách xóa bỏ quan hệ thị trường và kinh tế tư nhân, nên Nhà nước đã ôm toàn bộ chức năng của NDT và thống nhất điều hành từ sản xuất đến lưu thông phân phối và tiêu dùng, tức là thực thi cơ chế bao cấp với toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội Chính sách và cơ chế này đã đưa nền kinh tế đến khủng hoảng, suy sụp, và kết quả tất yếu đòi hỏi phải mở ra nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp với toàn bộ đời sống xã hội
Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, xét riêng trong nền kinh tế sau mấy thập kỷ đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân liên tục phát triển vươn lên nhanh chóng tạo thành nền kinh tế với cơ cấu mới về chất Kinh tế tư nhân trong nước đã đạt được tỷ trọng cao trong nền kinh tế Sự biến đổi cơ cấu thành phần kinh tế như vậy, xét về mặt tổ chức, quản lý nền kinh tế là thể hiện xu hướng tất yếu tiến bộ: chuyển mạnh chức năng tích lũy, đầu tư và điều hành sản xuất kinh doanh từ Nhà nước sang khu vực kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân được giải phóng đã chứng tỏ khả năng kinh doanh tốt hơn hẳn so với Nhà nước, trước hết là trong lĩnh vực kinh doanh cạnh tranh
Rõ ràng trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả hoạt động kinh doanh của sở hữu tư nhân tỏ ra nổi trội hơn hẳn so với khối DNNN, đại diện cho sở hữu Nhà
Trang 25nước Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, nếu thị trường và hệ thống thị trường là hiệu quả thì tại sao Nhà nước vẫn phải can thiệp vào các hoạt động của nó? Tại sao không thực hiện một chính sách để tư nhân được hoàn toàn tự do cạnh tranh? Trả lời vấn đề này, có thể khẳng định rằng Nhà nước không thể thay thế cho thị trường nhưng nó có thể tác động một cách có hiệu quả đến mọi hoạt động của nền kinh tế thị trường
Điều này đã được lịch sử chứng minh rằng, những nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước Nền kinh tế thị trường nguyên thủy dựa trên cơ sở sản xuất và trao đổi giản đơn nên có thể hoạt động một cách hiệu quả mà không cần tới sự can thiệp của Nhà nước Tuy nhiên, vì nền kinh tế tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày càng phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường Song, cũng phải cân nhắc kỹ lưỡng tới cái được và cái mất của sự can thiệp này Cách giải quyết không phải là bỏ mặc thị trường mà phải là nâng cao hiệu quả của sự can thiệp đó Nhà nước có vai trò chính đáng và thường xuyên trong nền kinh tế hiện đại Vai trò của Nhà nước biểu hiện ở việc xác định “luật” để can thiệp vào những khu vực cần có sự lựa chọn, thể hiện những khuyết tật của thị trường, để đảm bảo tính chỉnh thể của nền kinh tế và để cung cấp những dịch vụ phúc lợi
(Nguồn: Tạp chí triết học ngày 25/11/2006)
Trang 261.2 CỔ PHẦN HÓA DNNN:
1.2.1 Khái quát về cổ phần hóa:
Thuật ngữ “Cổ phần hóa DNNN” xuất hiện ở Việt Nam vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 gắn với công cuộc cải cách DNNN Cho đến nay, dường như mọi người mặc nhiên sử dụng thuật ngữ CPH mà chưa quan tâm nhiều tới việc định nghĩa hay đưa ra khái niệm đầy đủ cho thuật ngữ này và thậm chí cách hiểu về CPH cũng chưa thống nhất
Ở Việt Nam, CPH thường được hiểu là tư nhân hóa (privatization)
Ở nước ngoài, CPH chia làm ba loại:
_ Loại 1: Tư doanh hóa một DNNN (privatization)
_ Loại 2: Tư hữu hóa một phần tài sản của một số cơ sở công lập (equitization)
_ Loại 3: Công ty hóa một hay nhiều bộ phận hoạt động của một cơ sở Nhà nước (corporatization)
Trong ba loại CPH trên, loại 1 trên thế giới thích hợp cho các DNNN vừa và nhỏ Loại 2 rất phổ biến ở Việt Nam, từ trên mười năm nay (kể từ năm 1992) đã có trên 3000 DNNN vừa và nhỏ được cổ phần hóa, và còn khoảng trên 2000 DNNN vừa và lớn dự kiến sẽ CPH hết đến năm 2010 Loại 3 phổ biến ở nhiều nước phát triển, đặc biệt là trong các công ty dịch vụ quốc gia như đường sắt, xa lộ, điện nước và cả một số trường đại học, bệnh viện công lập
(Nguồn: Tác giả Nguyễn Xuân Thu- Báo Tuổi Trẻ.)
Khái niệm cổ phần hóa:
Thực hiện đổi mới toàn diện để phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế được Đại hội Đảng VI (1986) khởi xướng, phương thức mà Chính phủ áp dụng mạnh hiện nay là CPH DNNN Xuất phát điểm của chủ trương này là việc phải làm sao để những DNNN có chủ thực sự, gắn chặt quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Chính phủ chủ trương thực hiện chuyển đổi các DN thuộc sở hữu 100% của Nhà nước sang hình thức CTCP thông qua việc chia nhỏ giá trị DN thành các phần bằng nhau và bán lại cho các NDT dưới hình thức phát hành cổ phiếu
Như vậy, CPH DNNN chính là quá trình chuyển DN thuộc sở hữu Nhà nước sang hình thức CTCP thông qua quá trình chào bán các cổ phiếu chứng nhận quyền sở hữu DN cho các cổ đông Hay có thể hiểu là thông qua quá trình CPH
Trang 27DNNN mà DN trước đây thuộc sở hữu 100% của Nhà nước được chuyển sang một loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, trong đó Nhà nước có thể là một cổ đông Quan niệm CPH DNNN có thể nói đã được thể hiện chính thức, đầu tiên trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, đó là “Đổi mới tổ chức quản lý DNNN, phát huy cao độ quyền tự chủ của DN trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Thực hiện tốt chủ trương CPH một bộ phận DNNN để huy động thêm vốn, tạo động lực thúc đẩy DN làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản thuộc sở hữu Nhà nước ngày càng tăng lên”
Các hình thức CPH DNNN:
CPH DNNN là quá trình chuyển đổi DNNN sang hình thức CTCP Một trong những đặc điểm cơ bản của CTCP là vốn chủ sở hữu do nhiều cổ đông nắm giữ, đồng sở hữu thông qua việc sở hữu các cổ phiếu của DN Do vậy, quá trình CPH nhất thiết phải chào bán cổ phiếu chứng nhận quyền sở hữu DN cho các cổ đông Quá trình này được thực hiện dưới các hình thức sau:
_ Giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại các DN, phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn để phát triển DN
_ Bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nước tại DN để chuyển thành CTCP _ Tách một bộ phận của DN đủ điều kiện để cổ phần hóa
_ Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại DN để chuyển thành CTCP
Các phương thức chào bán cổ phiếu DNNN thực hiện CPH:
Kết thúc quá trình xác định giá trị DN, xác định số cổ phần, cổ phiếu và bốn hình thức CPH ở trên là quá trình chào bán cổ phiếu cho các NDT để hình thành CTCP Hoạt động chào bán cổ phiếu của các DNNN thực hiện cổ phần thông qua các phương thức sau:
_ Chào bán trong nội bộ DN: toàn bộ số cổ phiếu dự định bán cho các NDT được bán hết cho CBCNV của DN Phương thức này có ưu điểm là nâng cao vị thế và quyền lợi của đại đa số CBCNV của DN, khuyến khích người lao động trong DN tích cực làm việc, kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của DN Hạn chế của phương thức này là các nhà đầu tư bên ngoài không được mua cổ phiếu, do đó giảm động lực phát triển mới cho DN sau CPH
_ Chào bán công khai tại DN: phương thức này chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định, một số lượng các NDT nhất định nắm được thông tin và kế
Trang 28hoạch CPH DN, thông tin để tham gia mua cổ phiếu Phương thức này có hạn chế là bị chi phối bởi lãnh đạo DN
_ Chào bán thông qua trung gian: phương thức này có ưu điểm là công ty trung gian là công ty chứng khoán, công ty tài chính… đứng giữa NDT và DN có tham gia vào một khâu nào đó trong quá trình xác định giá trị DN Vì thế thông tin được chào bán chứng khoán của DN CPH sẽ được phổ biến rộng rãi Các hình thức chào bán chứng khoán trong phương thức này là: bảo lãnh phát hành, trung gian đấu giá hoặc mua lại toàn bộ đợt phát hành và sau đó bán lại cho các NDT, bảo lãnh không toàn bộ …
_ Đấu giá trên thị trường chứng khoán: phương thức này thu hút nhiều NDT mới ngoài DN, nhất là những NDT chiến lược, tạo động lực phát triển mới cho DN sau CPH, vì theo phương thức này việc thực hiện chào bán cổ phần của
DN phải thông qua đấu giá công khai trên thị trường chứng khoán, vì vậy giá cổ phần đã phần nào phản ánh giá trị thực của DN cũng như khắc phục được những hạn chế trong khâu định giá DN Phương thức này cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán thông qua khả năng tăng cung hàng hóa cho thị trường chứng khoán
(Nguồn: Bài viết Để hiểu đúng về CPH DNNN của Trần Đại Bằng đăng trên trang web
http://www.icb.com.vn )
1.2.2 Đặc điểm CPH ở một số quốc gia khác:
Ở Trung và Đông Âu:
(Nguồn: Theo Những mô hình và cơ chế chuyển đổi thị trường của các nước Trung và Đông Aâu của web http://www.issi.gov.vn/)
Hầu hết các nước Trung và Đông Âu trước năm 1989 đều có nền kinh tế XHCN với sự động viên của Nhà nước và sau đó cùng đồng lòng nhất trí xúc tiến chuyển đổi sang nền kinh tế kiểu tư bản chủ nghĩa cạnh tranh, thị trường- tư nhân và đã đạt được những kết quả nhất định
Lịch sử đổi mới các cơ sở kinh doanh được hình thành đầu tiên ở Trung và Đông Âu sau năm 1989 trong quá trình xây dựng cơ chế kinh tế thị trường, sau đó lan rộng ra các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Theo số liệu thống kê, chỉ trong hai năm 2004 và 2005, hơn 60 nước đã thực hiện gần 400 trường hợp CPH với tổng giá trị khoảng 90 tỷ USD Trong đó, hai nền kinh tế mới nổi là Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ đóng góp hơn 1/3 các hoạt động này với giá trị tính bằng USD tương ứng là 18 tỷ và 12,6 tỷ Ấn Độ và Pakistan cũng đóng góp đặc
Trang 29biệt tích cực với tổng giá trị hoạt động CPH tương đương khoảng 8 tỷ USD Tại các nước OECD và một số nền kinh tế thị trường tại Châu Mỹ Latinh, hoạt động CPH có phần chậm lại hơn là do bởi rất nhiều nước đã hoàn thành CPH trong hai thập kỷ qua
Ở Đông Á:
Đặc trưng cơ bản của mô hình phát triển Đông Á, mà đại diện là Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo, đó là khả năng của Nhà nước trong việc áp đặt kỷ cương đối với các nhóm lợi ích, nhất là khi các nhóm này làm cản trở nền kinh tế có tính cạnh tranh hơn Trong mô hình này, sự ưu ái của Nhà nước đối với một
DN phụ thuộc vào thành công trong kinh doanh chứ không phải vào các mối quan hệ chính trị hay thân quen của nó Chính phủ thường xuyên từ chối ký hợp đồng, cấp tín dụng và các phương tiện khác, ngay cả với những tập đoàn có thế lực nhất về mặt chính trị khi Chính phủ thấy rằng kế hoạch kinh doanh của những tập đoàn này không khả thi, không đem lại lợi ích xã hội, hay những dự án trước đây của chúng không được thực hiện một cách thỏa đáng
Ở Đông Nam Á:
Đối với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, chủ nghĩa tư bản thân hữu thực sự là thất bại của Nhà nước trong việc xác định một ranh giới rạch ròi giữa những thế lực kinh tế và chính trị
Ở Trung Quốc: (Nguồn: CPH ở Việt Nam: Quản trị DN của Quách Mạnh Hào- Đại Học Kinh Tế Quốc Dân)
Quá trình CPH được diễn ra trên rất nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, Việt Nam chúng ta lại có nhiều điểm khá tương đồng trong chiến lược phát triển kinh tế so với Trung Quốc Một trong những đặc điểm mà chỉ có ở Việt Nam và Trung Quốc là giải quyết vấn đề DNNN trong quá trình đàm phán gia nhập WTO Các DNNN vẫn tồn tại chủ yếu dựa vào độc quyền, bảo hộ, ưu đãi, trợ giá, Do vậy, việc phân tích và rút ra bài học kinh nghiệm từ quá trình CPH ở đất nước này là vô cùng cần thiết
CPH ở Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1990 với trọng tâm ban đầu là các DNNN quy mô nhỏ Đến năm 1998, quá trình này được triển khai với các DN có quy mô lớn hơn với tốc độ nhanh hơn Năm 1996 với số lượng là 114.000 DNNN được cổ phần hóa, nhưng đến năm 2003 con số này lên đến 34.000 DN Sở hữu Nhà nước trong toàn bộ nền kinh tế đã giảm từ khoảng 41% trong năm
1998 xuống còn 34% vào năm 2003 Đến năm 2005, đã có khoảng 1.400 DNNN
Trang 30quy mô lớn được niêm yết với mức vốn hóa thị trường chiếm khoảng 40% GDP
(Theo Garnaut va cộng sự, 2005)
Về cơ cấu sở hữu: Các cá thể chỉ có thể được sở hữu một phần ba số cổ phần của các DNNN được niêm yết trên sàn giao dịch Hai phần ba còn lại là do Nhà nước hoặc các tổ chức của Nhà nước sở hữu Cổ phần của DNNN cũng được chia thành các nhóm khác nhau, trong đó nhóm A chỉ dành cho người Trung Quốc sở hữu và giao dịch, trong khi nhóm B niêm yết ở Thượng Hải và Thâm Quyến lại chỉ dành cho người nước ngoài sở hữu và giao dịch Cổ phiếu niêm yết ở nước ngoài, bao gồm nhóm H ở Hồng Kông và nhóm N ở New York cũng chỉ giới hạn cho các NDT nước ngoài Với cách phân chia như vậy, khó có thể đo lường được kết quả hoạt động của các DN cổ phần hóa (Megginson va Netter 2001)
Những kết quả thực tế cho thấy quá trình CPH ở Trung Quốc đã không thực sự thành công Nghiên cứu của Shirai (2004) chỉ ra rằng thị trường cổ phiếu
ở Trung Quốc đóng góp rất ít trong việc cấp vốn cho hoạt động đầu tư của DN, nhưng lại có tác động rất tích cực đến việc cấp vốn vay Điều này có nghĩa rằng các công ty phát hành đã sử dụng quỹ hình thành nhờ thị trường chứng khoán vào các hoạt động phi sản xuất như trả nợ, mua lại DN khác, bổ sung vốn hoạt động… Còn công chúng giữ cổ phần chỉ nhằm thu lợi ngắn hạn, khiến cho giá chứng khoán luôn dao động, và cổ phiếu trở thành nguồn tài chính bất ổn định cho đầu tư
Nghiên cứu Shirai (2004) cũng thấy rằng DN có vốn sở hữu Nhà nước ở mức 41 đến 60% có xu hướng thu lợi nhuận thấp hơn, nguyên nhân có lẽ do các nhà quản lý hoặc quan chức có liên quan chiếm dụng Do vậy, Chính phủ cần cấp bách đưa ra các biện pháp ngăn chặn thực trạng này trước khi tiếp tục triển khai
tư nhân hóa Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng bởi nó cho thấy hiệu ứng của vốn sở hữu Nhà nước trong DN
Một phát hiện khác của nghiên cứu Shirai, đó là việc niêm yết trên sàn giao dịch cũng không giúp DN nâng cao hiệu quả hoạt động, chứng tỏ vai trò quản trị DN chưa được phát huy Giải pháp cho vấn đề này là Chính phủ cho phép thêm nhiều DN được niêm yết trên các sàn giao dịch nội địa nhằm tăng số
DN có khả năng cạnh tranh và quản lý minh bạch, đồng thời khuyến khích các
DN đã niêm yết nâng cao năng lực quản trị DN mình, qua đó khuyến khích các NDT giữ cổ phần lâu hơn
Với những phát hiện trên có thể tóm gọn là để đảm bảo thành công của quá trình cổ phần hóa, cần phải nâng cao năng lực quản trị DN
Trang 31Ở Nga: (Nguồn từ “Bài học kinh nghiệm CPH ở Nga” của Hữu Nghị đăng trên web http://vietbao.vn/Kinh-te )
CPH ở Nga là đề tài được nghiên cứu bởi vô số tổ chức quốc tế và học giả hàng đầu thế giới, trong đó có GS Joseph Stigltz, Nobel kinh tế học năm 2001, nguyên cựu Phó chủ tịch WB, và cả đương kim nữ Ngoại trưởng Hoa Kỳ
Giai đoạn 1992-1993: Đợt CPH đầu tiên ở Nga kết thúc với 85% xí nghiệp nhỏ và 82.000 xí nghiệp quốc doanh (tức 1/3 tổng số DNNN) theo tinh thần phân chia công bằng tài sản quốc gia cho công dân bằng tem phiếu
Năm 1995: Đợt CPH thứ hai với các công ty Nhà nước lớn nhất và đến giữa năm 1996, công cuộc CPH coi như đã hoàn tất Cùng kịch bản với CPH lần thứ nhất, các công nhân viên đều được chia một số cổ phiếu, số cổ phiếu còn lại bán ra ngoài, ai còn tiền thì giữ lại, ai túng tiến thì bán đi, thậm chí bán lúa non
Vì vậy, hầu hết số cổ phiếu và quyền làm chủ các cơ sở được CPH đã rơi vào tay những người có chân trong bộ máy chính quyền
Sau cuộc bầu cử năm 1996, chương trình CPH lại tiếp tục, chủ yếu tập trung vào các xí nghiệp hàng đầu như YeES Rossi (điện lực), Rosgosstrakh (bảo hiểm)… Và một lần nữa, công nhân viên các đơn vị này lại bán như cho các cổ phiếu của họ
Trong một thời gian ngắn, từ các đợt CPH này đã xuất hiện một lớp tỷ phú Nga với một khối lượng tài sản sở hữu cực lớn Điều này có nghĩa là tài sản quốc gia từ chỗ là của chung nay trở thành sở hữu riêng của một lớp người “ngồi trước” mà “ăn trên.” Khi cổ phần hóa, ai cũng tin rằng sẽ thiết lập một nền tảng cho việc cai trị theo pháp luật Điều này không những không xảy ra mà ngược lại đã dẫn đến tình trạng vô Chính phủ, vì luật pháp được sử dụng bởi một vài nhóm có thế lực nhằm chiếm hữu vốn liếng tài sản của người khác qua một quá trình khiến họ phá sản Trong một vài trường hợp luật pháp đã được sử dụng như là hàng rào để duy trì các vị thế độc quyền Bà Condoleezza Rice đã mô tả quá trình CPH ở Nga:” Nền kinh tế Nga chưa trở thành thị trường song lại đang biến thành một cái gì khác Bán tống bán tháo đủ thứ, ngân hàng chẳng ra ngân hàng, tiền bạc tỉ được cất giấu ở ngoại quốc, CPH không giống ai đã làm giàu cho những kẻ tự nhận là cải cách, đã làm cho nền kinh tế Nga đầy vẽ Trung cổ” Qua khảo sát “The Privatization programs in Russia in the 1990s”- CPH ở Nga trong những năm 1990, một nhóm nghiên cứu của đại học tiểu bang San Jose (Hoa Kỳ) đã khái quát hóa một số vấn đề sau:
Trang 32_ Vấn đề độc quyền: Đa số các xí nghiệp Nhà nước đều hưởng chế độ độc quyền trong lĩnh vực của mình Giá bán một xí nghiệp sẽ là rất cao nếu vẫn còn giữ được thế độc quyền đó Song, duy trì như thế, về lâu về dài sẽ có hại cho nền kinh tế Xí nghiệp độc quyền được CPH đó sẽ lại cần tiếp tục được độc quyền để có thể tồn tại Chính vì vậy mà nên đặt mục tiêu CPH là bán xí nghiệp mà không duy trì thế độc quyền
_ Vấn đề bán nội bộ: Một nhóm tác giả của Đại học Maryland phân tích trong nghiên cứu “Russian privatization and corporate governance: what went wrong?- CPH ở Nga và lãnh đạo xí nghiệp: điều gì sai lầm Họ nhận xét rằng: Việc bán nội bộ sẽ dẫn đến định giá có lợi cho nội bộ với nhau nhưng có hại cho
xí nghiệp, nhất là khi Nhà nước chẳng kiễm soát được gì Vì vậy, càng CPH ồ ạt, thì sẽ càng bán giá nội bộ ồ ạt, trừ khi có sẵn một cơ chế kiểm soát
_ Vấn đề tham nhũng: Nếu các Giám đốc tiếp tục được trao quyền, họ thường lại chẳng biết làm sao lãnh đạo trong cơ chế thị trường Một số sẽ ăn cắp của xí nghiệp, thậm chí khai tử xí nghiệp Vì vậy cần phải triển khai một cơ cấu pháp luật và thực thi pháp luật đàng hoàng trước khi tiến hành CPH các xí nghiệp lớn Nếu CPH trước, ăn cắp hàng loạt sẽ có thể xảy ra trước khi cơ sở pháp lý kiểm soát ra đời
Đến năm 2000, Putin lên làm Tổng thống Nga, bắt đầu một kỷ nguyên mới: khôi phục chủ quyền Nga cả trong kinh tế lẫn chính trị Lần lượt một số tỷ phú bị truy tố về tội kinh doanh bất hợp pháp, trốn thuế trong thời gian CPH trước đây
Trên đây chính là những bài học quý báu mà Việt Nam cần phải cân nhắc và rút kinh nghiệm trong quá trình tiếp tục thực hiện mục tiêu CPH DNNN
Trang 331.3.3 Cổ phần hóa ở Việt Nam:
1.3.3.1 Hệ thống các chủ trương, chính sách về CPH DNNN và những điểm nổi bật:
Tinh thần CPH của Nhà nước ta đã được thảo luận, đề cập và hướng dẫn thực thi thông qua từ các nghị quyết, quyết định, chỉ thị đến nghị định trong suốt khoảng thời gian từ 1992 đến nay như sau:
Các nghị quyết của Nhà nước về cổ phần hóa:
Chủ chương CPH DN của Nhà nước đã được đề cập từ nhiều kỳ hội nghị và tinh thần này ngày càng được khẳng định qua các nghị quyết:
Nghị quyết hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành Trung Ương Đảng Khóa VII tháng 11 năm 1991 đã ghi rõ: “Chuyển một số DN quốc doanh có điều kiện thành CTCP và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm
vi thích hợp”
Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII ngày 26/12/1991 về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm từ 1991 đến 1995 đã viết: “Thí điểm việc CPH một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển”
Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII tháng 11/1994 đã đề cập mục tiêu cổ phần là nhằm thu hút thêm vốn cho DN
Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 173/1995 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò của DNNN cũng đã ghi: “Tùy tính chất loại hình DNNN mà tiến hành bán một số tỷ lệ cổ phần cho CBCNV chức, … và cá nhân ngoài DN.”
Các quyết định và chỉ thị về cổ phần hóa:
Quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về tổng kết thực hiện Quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 Nghị định 50/HĐBT ngày 20/3/1988 và Nghị định 98/HĐBT ngày 2/6/2988 về làm thử việc tiếp tục đổi mới quản lý xí nghiệp quốc doanh thành CTCP đối với một số ít các xí nghiệp có đủ điều kiện và tiêu biểu
Quyết định 202/CT ngày 8/6/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về tiếp tục thí điểm chuyển một số DNNN thành CTCP
Trang 34Quyết định 203/CT ngày 8/6/1992 đã chọn 7 DNNN do Chính phủ chỉ đạo thí điểm và giao nhiệm vụ cho mỗi Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọn từ 1 đến 2 DN thí điểm chuyển thành CTCP
Chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/2993 của Thủ tướng chính phủ về việc xúc tiến thực hiện thí điểm CPH DNNN và các giải pháp đa dạng hóa hình thức sở hữu đối với các DNNN đã nêu: “CPH chưa kết hợp chặt chẽ với sắp xếp DN, đặc biệt là DN gặp khó khăn, trong khi sắp xếp, thiên về giải thể hơn là áp dụng hình thức
đa dạng hóa sở hữu”
Thống kê và sự khác biệt của các nghị định về cổ phần hóa:
Nghị định 28/CP tháng 5/1996 về chuyển DNNN thành CTCP Đây là nghị định đầu tiên quy định một cách tương đối đồng bộ về các chính sách đối với DNNN cổ phần hóa Nghị định này được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 25/CP ngày 26/3/1997
Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 ra đời nhằm thay thế Nghị định 28/CP tháng 5/1996 về chuyển DNNN thành CTCP So với nghị định 28/CP thì nghị định 44/1998/NĐ-CP đã tạo ra sự hấp dẫn đối với người lao động, thủ tục, trình tự rõ ràng hơn, có sự phân công trách nhiệm cụ thể, tạo điều kiện cho các bộ, ngành, địa phương và DN dễ dàng triển khai thực hiện việc CPH DN Những điểm mới đó cụ thể là:
+ Về hình thức cổ phần hóa: ngoài ba hình thức như (1) giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại DN và phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn; (2) bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại DN; (3) tách một bộ phận của DN đủ điều kiện để cổ phần hóa, nay bổ sung thêm một hình thức CPH mới, đó là bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại DN để chuyển thành CTCP
+ Về xác định giá trị DN: Giá trị thực tế của DN có mức vốn Nhà nước tại thời điểm CPH mà người mua và người bán cổ phần đều chấp nhận được, có nghĩa là phải theo giá thị trường Lợi thế kinh doanh như vị trí địa lý, mặt hàng … chỉ được thêm tối đa 30% vào giá trị thực tế của DN
+ Về giới hạn quyền quyết định giá trị DN: Bộ trưởng Bộ tài chính có quyền quyết định giá trị DN có mức vốn Nhà nước tại thời điểm CPH là hơn 10 tỷ đồng, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hội đồng quản trị các Tổng công ty 91 quyết định giá trị DN có mức vốn Nhà nước tại thời điểm CPH là dưới 10 tỷ đồng
Trang 35+ Về chính sách đối với người lao động: Nghị định 28/CP thực hiện chính sách cấp không một số cổ phiếu để hưởng cổ tức, nhưng không được chuyển nhượng và chính sách cho vay trả lãi chậm với lãi suất trong thời gian 5 năm, tổng mức mua chịu không quá 15 đến 20% giá trị DN Nghị định 44/CP đã thay bằng chính sách bán giảm giá 30% đối với số cổ phần được mua với giá ưu đãi cho người lao động, số cổ phần ưu đãi tính theo thâm niên công tác Cứ 1 năm làm việc cho Nhà nước được mua tối đa 10 cổ phần, trị giá mỗi cổ phần là 100.000 đồng nhưng chỉ phải trả 70.000 đồng Người lao động có quyền sở hữu cổ phần của mình và có thể chuyển nhượng
+ Về tổ chức thực hiện: Quyết định thành lập Ban đổi mới quản lý DN Trung ương đã giúp Thủ tướng chính phủ tập trung chỉ đạo quá trình đổi mới DN và CPH DNNN Ban đổi mới quản lý DN cũng được thành lập tại các Bộ, ngành Trung ương, các UBNN tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tổng công ty 91 Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 thay thế Nghị định 44/1998/NĐ-CP của Chính phủ về chuyển DNNN thành CTCP có điểm mới về quy định: Việc bán cổ phần lần đầu ra bên ngoài của các DN CPH phải theo phương thức đấu giá cổ phần và phải bảo đảm nguyên tắc công khai, công bằng, minh bạch và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia Phương thức bán đấu giá cổ phần công khai đã tạo cơ hội bước đầu cho các NDT tham gia mua cổ phần, đã khắc phục được tình trạng bán cổ phiếu chỉ cho những người thân quen, thu hút được chất xám từ NDT bên ngoài tham gia quản lý DN, và đây cũng là phương thức xác định giá trị DN theo cơ chế thị trường nhằm đảm bảo việc bán tài sản Nhà nước theo đúng giá trị
Nghị định 187/2004/NĐ-CP thay thế nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 về chuyển công ty Nhà nước thành CTCP Nghị định 187 được đánh giá là tiến bộ bởi tăng cường tính quản lý công bằng, công khai, minh bạch:
+ Về xác định giá trị DN: Nghị định 64 áp dụng cơ chế Hội đồng nên không tránh khỏi sự thiếu khách quan Ngoài ra, Hội đồng định giá thiếu tính chuyên nghiệp làm ảnh hưởng tới thời gian và kết quả định giá
+ Về phương pháp quản lý: Nghị định 187 có phương pháp quản lý tốt hơn thông qua việc thuê tư vấn định giá và đưa ra đấu giá công khai
+ Về chính sách đối với người lao động: trước đây không cần đấu giá cũng cầm chắc được mua cổ phiếu bằng 70% mệnh giá sàn Tuy nhiên theo quy định mới mặc dù được mua với giá ưu đãi giảm 40% so với đấu giá nhưng người lao
Trang 36động lại không chắc chắn được việc giảm 40% như vậy có lợi hay thiệt so với quy định cũ
Tuy nhiên sau hơn hai năm thực hiện, nghị định 187 cũng bộc lộ những vấn đề cần được sửa đổi, bổ sung, đó là:
+ Chưa bao quát được loại hình công ty mẹ, công ty TNHH một thành viên không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn Đặc biệt, việc quy định bán giảm giá 20% so với đấu thầu bình quân cho các NDT chiến lược trong nước thể hiện phân biệt đối xử giữa các NDT trong nước và ngoài nước Cách thức bán cổ phần lần đầu chỉ quy định phương thức duy nhất là bán đấu giá đã hạn chế đi sự đa dạng
+ Chưa khuyến khích mở rộng tỷ lệ bán ra bên ngoài, chưa gắn kết CPH với việc niêm yết trên thị trường chứng khoán, nhằm đảm bảo tính minh bạch và tạo hàng hóa cho thị trường chứng khoán Đặc biệt, việc xác định rõ trách nhiệm kiểm tra xử lý vi phạm trong việc sắp xếp, đổi mới DN và CPH cũng chưa được quy định cụ thể
1.3.3.2 Quá trình CPH ở Việt Nam:
Khái quát quá trình CPH ở Việt Nam:
Giai đoạn 1992-1997: CPH DNNN được triển khai thí điểm từ năm 1992 Trong giai đoạn này, số lượng DNNN đã được sắp xếp và giảm từ 12.000 xuống còn khoảng hơn 5.000 DN Tuy nhiên, do chưa có đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề CPH và chưa có hướng dẫn cụ thể nên cả nước mới có 38 DNNN được cổ phần hóa
Giai đoạn 1998-2002: kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 44/1998, trong đó nêu rõ các chính sách ưu đãi đối với DN và người lao động tại các DN cổ phần, số lượng DNNN CPH trong thời gian này đã lên tới con số 800, nhưng chủ yếu là các DN vừa và nhỏ Các DN này chủ yếu hoạt động trên ba lĩnh vực chính như thương mại, công nghiệp, xây dựng và được phân bổ ở khắp các vùng, miền trong cả nước Nhìn chung trong giai đoạn này, những nỗ lực cải cách DN của Nhà nước có phần trì trệ
Giai đoạn 2002-2003: Tổng số DNNN được sắp xếp lại, bao gồm cổ phần hóa, giao bán, cho thuê, giải thể, phá sản là 1.766, trong đó có 905 DNNN được cổ phần hóa, mới chỉ đạt 80% kế hoạch (Nguồn: Theo Báo cáo sơ kết của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DNNN tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN toàn quốc ngày 15-16 tháng 3 năm 2004)
Trang 37Giai đoạn 2001-2005: Cải cách DNNN được đẩy mạnh trở lại, cả nước sắp xếp được 3.590 DNNN trong tổng số 5.655 DNNN có vào đầu năm 2001, trong đó đã CPH 2.347 DNNN, chiếm hơn 80% toàn bộ số DN đã CPH trong 15 năm Đã huy động được thêm 20.704 tỷ đồng để đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, kinh doanh, ngân sách Nhà nước thu về 14.971 tỷ đồng, 85% số DN cổ phần hoạt động có lãi, có cổ tức cao (Nguồn từ Ủy ban thường vụ Quốc hội)
Đến tháng 5/2006, qua 15 năm nước ta đã thực hiện CPH được 2,935 DNNN
Năm 2007 trên cả nước đã sắp xếp, CPH được 116 DNNN, đạt 21% so với kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (khoảng 600 DN) Cũng trong năm này, theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới phát triển DN, tổng vốn Nhà nước ở DN CPH là 29.766 tỷ đồng, chiếm 42% tổng vốn Nhà nước của các DN đã CPH
Thực trạng của quá trình CPH ở Việt Nam:
Sau khi cổ phần hóa, có tới 90% DN hoạt động có hiệu quả, góp phần tăng ngân sách Nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động, huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách Nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm Chỉ có 10% số DN sau CPH hoạt động kém hiệu quả vì trước khi CPH các DN này đã có kết quả hoạt động kinh doanh kém, nội bộ mất đoàn kết, không thống nhất, ngoài ra còn có nguyên nhân khác do sự can thiệp không đúng của chính quyền địa phương…
Theo số liệu của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DNNN, thực trạng CPH DNNN ở nước ta được thể hiện qua một số mặt sau:
Đối tượng cổ phần hóa: So với ban đầu, Nhà nước đã bổ sung đối tượng CPH là các DN có quy mô lớn, các tổng công ty nhà nước Tuy nhiên đến nay, có 77% số DNNN đã cổ phần chỉ với quy mô dưới 10 tỷ đồng Riêng đối với loại
DN mà Nhà nước không giữ tỷ lệ nào trong vốn điều lệ thì đều là DN nhỏ, có vốn nhà nước dưới 1 tỷ đồng và kinh doanh kém hiệu quả Loại DN nhỏ này cũng chiếm gần 30% số DN mà Nhà nước thực hiện cổ phần hóa Sự lựa chọn các DN CPH như vậy đã làm chậm tiến độ thực hiện chủ trương CPH của Nhà nước, các DNNN chưa thể hiện được rõ những ưu thế của DN đã CPH với những DN chưa cổ phần hóa, chưa thực hiện được các mục tiêu CPH đã đề ra
Cơ cấu vốn điều lệ: Tỷ lệ CPH do Nhà nước nắm giữ ở các DN đã CPH như sau:
Trang 38+ Nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% số vốn ở 33% số DN
+ Nắm giữ cổ phần chi phối dưới 50% số vốn ở 37% số DN
+ Không giữ lại tỷ lệ % vốn nào ở gần 30% số DN
Xem xét cụ thể hơn nữa, có thể thấy số vốn Nhà nước đã CPH chỉ mới chiếm 12%, và ngay trong số vốn này Nhà nước cũng chỉ nắm khoảng 40%, vì thế số vốn mà Nhà nước CPH được bán ra ngoài mới chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 3.6%)
Cơ cấu cổ đông: Cổ đông trong các DN đã CPH gồm:
+ Những cán bộ, công nhân viên có tỷ lệ nắm giữ là 29.6% cổ phần
+ Người ngoài DN có tỷ lệ nắm giữ là 24.1% cổ phần
+ Nhà nước có tỷ lệ nắm giữ là 46.3% cổ phần
Điểm đáng chú ý trong cơ cấu cổ đông là các NDT chiến lược trong nước khó mua được lượng cổ phiếu đủ lớn để có thể tham gia vào việc quản lý, điều hành DN, còn NDT nước ngoài có tiềm năng về vốn, công nghệ, có năng lực quản lý kinh doanh cũng chỉ mua được số lượng cổ phần hạn chế Điều này làm cho các DN đã CPH rất khó hoạt động có hiệu quả, nhất là trước sức ép cạnh tranh gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
(Nguồn: Bài Cổ phần hóa DNNN-Thực trạng và giải pháp của Trần Ngọc Hiên từ trang web
http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=3435467 )
Những bất cập trong quá trình CPH ở Việt Nam:
Theo báo cáo của Ban đổi mới và phát triển DN, có rất nhiều DN CPH khép kín (có tới 860 DN không có cổ phần bán ra bên ngoài) Điều này đã dẫn tới việc không thu hút được nhiều vốn đầu tư, công nghệ, chất xám từ bên ngoài cũng như không tiếp cận được các phương pháp quản lý, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, ngoài ra có thể còn gây thất thoát tài sản của Nhà nước do xác định giá trị DN thấp hơn giá thị trường
Theo quy luật của thị trường, CPH DN là một bước tiến của quá trình xã hội hóa, tuân theo quy luật khách quan là quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tuy nhiên CPH DN ở Việt Nam chưa tuân theo quy luật này vì đó là chủ trương của Nhà nước, CPH DN được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết những tồn tại và tình trạng sản xuất kinh doanh kém hiệu quả của các DNNN mà các DN này là một trong những nguyên nhân gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 39Một bộ phận các DNNN sau khi được CPH vẫn chưa thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu cả về tài chính, tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý
Trên thực tế, chính sách và quy trình CPH ở nước ta vẫn dựa trên tư duy cũ Vì vậy, từ khâu định giá tài sản DN cho đến tổ chức bộ máy quản lý sau khi
DN đã CPH vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề Cụ thể:
Vấn đề xác định giá trị DN để CPH chưa đúng và chưa sát với thực tế, đã dẫn đến tình trạng thất thoát và lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa Trước khi có nghị định 187, việc xác định giá trị DN chỉ do một Hội đồng hoặc DN tự đảm nhận, đã dẫn đến việc xác định thấp hoặc quá thấp giá trị
DN, do đó phần lớn cổ phần rơi vào quyền sở hữu của một nhóm người Trong giai đoạn sau khi có nghị định 187 thì tình trạng thất thoát tài sản nhà nước đã được hạn chế, song lại nảy sinh tình trạng liên kết, gian lận trong đấu thầu
Chất lượng định giá DN của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm định giá trị có độ tin cậy chưa cao Mặt khác, quy chế lựa chọn, giám sát hoạt động tư vấn và xác định giá trị DN chưa được quy định rõ ràng, chưa gắn trách nhiệm của tổ chức tư vấn, định giá với việc bán cổ phần
Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng cũng gặp nhiều khó khăn.Tính đến ngày 31/12/2005, dư nợ cho vay đối với các CTCP vào khoảng 51.603 tỷ đồng Đặc biệt, việc xử lý nợ xấu đã làm mất rất nhiều thời gian và công sức do thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan chức năng như Thuế, Tài chính, Ngân hàng
Về bộ máy quản lý: Sau khi cổ phần hóa, rất nhiều DN vẫn hoạt động như cũ, quản lý Nhà nước vẫn tiếp tục chi phối mọi hoạt động, thậm chí kể cả những
DN mà vốn Nhà nước chưa tới 30% vốn điều lệ DN, bộ máy quản lý cũ trong nhiều DN vẫn chiếm giữ đến 80%
Thời gian thực hiện CPH kéo dài: Quy trình cổ phần hóa, từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án còn rườm rà, phức tạp, chưa sát với thực tế nên đã kéo dài thời gian cổ phần hóa Theo thống kê cho thấy bình quân thời gian để thực hiện CPH một DN mất 437 ngày, công ty mất 554 ngày
Tình trạng một số DNNN sau khi CPH đang có khuynh hướng chuyển dần sang DN tư nhân, do một số cổ đông đã bán hoặc chuyển nhượng số cổ phần của mình, hoặc làm trung gian thu gom cổ phần cho tư nhân ngoài DN nắm giữ, cá biệt có trường hợp đã nắm hơn 50% tổng giá trị cổ phần doanh nghĩa để trở thành chủ nhân đích thực của DN Đây là điều trái với chủ trương CPH của Đảng và
Trang 40Nhà nước Theo dự báo của Economist Intelligence Unit (EIU) cho rằng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ suy giảm mạnh kể từ năm 2010 trở đi, là do “những nhóm có đặc quyền đặc lợi về chính trị có thể gây trở ngại cho cải cách và ngăn chặn quá trình cấu trúc lại một số DNNN, ảnh hưởng tới việc tăng cường năng lực cạnh tranh và hạn chế kết quả tăng trưởng của Việt Nam” Cũng theo dự báo này, trong giai đoạn 2011-2020, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam chỉ có thể duy trì ở mức 5,1% mỗi năm, thay vì mức trên 8% như hiện nay CPH các DNNN sẽ là một chủ trương đúng nhằm tăng cường hiệu quả và sức cạnh tranh cho khu vực kinh tế Nhà nước nếu như quá trình này được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệm Tuy nhiên, trên thực tế cũng vì quản lý yếu kém nên CPH trong nhiều trường hợp đã bị biến thành tư nhân hóa, giúp cho những người nắm quyền kiểm soát công ty trở nên giàu có trong khi tài sản quốc gia bị thất thoát nặng nề 1.3.4 Sự khác biệt giữa CPH ở Việt Nam và các quốc gia khác:
CPH DNNN ở Việt Nam có những đặc điểm khác với tính quy luật chung
ở các nước Những điểm khác biệt đó là:
Các DN mà Việt Nam thực hiện CPH được hình thành trong quá trình công hữu hóa, tập thể hóa nền kinh tế trước đây Điều này khác biệt với các DN thực hiện CPH ở các nước phát triển: đó là kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất đã vượt quá tầm của sở hữu tư nhân, đòi hỏi phải mở rộng quan hệ sở hữu
Các DN mà nước ta thực hiện CPH vốn tồn tại lâu năm trong cơ chế tập trung bao cấp, kế hoạch của Nhà nước, và mới chỉ làm quen với cơ chế thị trường, nó khác với các DN thực hiện CPH ở các nước là đã tồn tại trong cơ chế thị trường cạnh tranh
Các DN mà Nhà nước ta tiến hành CPH chủ yếu được tổ chức và hoạt động theo yêu cầu và kế hoạch của Nhà nước, khác với các DN thực hiện CPH ở các nước là tổ chức và hoạt động vì lợi nhuận tối đa của bản thân DN và theo quy luật của thị trường
Lý do chính của chủ trương CPH ở nước ta là các DNNN hoạt động kém hiệu quả, nhiều DN đứng trước nguy cơ phá sản, khác với lý do thực hiện CPH
DN ở các nước phát triển là chuyển từ giai đoạn tập trung vốn xã hội (trong và ngoài DN) để nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh