1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) các nhân tố tác động đến lạm phát tại việt nam

79 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mã số học viên: 7701210412 Cam đoan luận văn “Các nhân tố tác động đến lạm phát tại Việt Nam” là nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập, không sao chép tài liệu

Trang 1

LÊ NGUYỄN NGUYỆT HƯỜNG

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

LÊ NGUYỄN NGUYỆT HƯỜNG

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Lê Nguyễn Nguyệt Hường; là học viên cao học K21 của Trường Đại học Kinh Tế Tp.HCM Mã số học viên: 7701210412

Cam đoan luận văn “Các nhân tố tác động đến lạm phát tại Việt Nam” là nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập, không sao chép tài liệu và chưa được công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Lê Nguyễn Nguyệt Hường

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LẠM PHÁT 5

1.1 Lạm phát 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Phân loại lạm phát 6

1.1.3 Nguyên nhân lạm phát 7

1.1.3.1 Lạm phát do cầu kéo (Demand Pull Inflation) 7

1.1.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy (Cost Push Inflation) 9

1.1.4 Tác động của lạm phát lên nền kinh tế 10

1.1.4.1 Tác động tích cực 10

1.1.4.2 Tác động tiêu cực 10

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát 11

1.2.1 Tổng sản phẩm quốc nội 11

1.2.2 Cung tiền 12

1.2.3 Tỷ giá hối đoái 13

1.2.4 Lãi suất 14

1.2.5 Giá dầu thế giới 16

1.3 Phương pháp đo lường lạm phát 16

1.4 Các nghiên cứu tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát 17

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới 17

1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 20

Trang 5

1.5 Mô hình xác định lạm phát 24

Kết luận chương 1 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 25

2.1 Tình hình thực trạng lạm phát tại Việt Nam 25

2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam 29

2.2.1 Tổng sản phẩm quốc nội 29

2.2.2 Cung tiền 32

2.2.3 Tỷ giá hối đoái 35

2.2.4 Lãi suất 36

2.2.5 Giá dầu thế giới 40

2.3 Mô hình nghiên cứu 45

2.3.1 Dữ liệu nghiên cứu 45

2.3.2 Lựa chọn biến cho mô hình ước lượng 45

2.3.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng 45

2.3.2.2 Tổng sản phẩm quốc nội 48

2.3.2.3 Cung tiền 48

2.3.2.4 Tỷ giá hối đoái 49

2.3.2.5 Lãi suất 50

2.3.2.6 Giá dầu thế giới 50

2.4 Các bước thực hiện 50

2.4.1 Kiểm định tính dừng của các biến của mô hình 50

2.4.2 Lựa chọn độ trễ cho mô hình VAR cơ bản (Basic-VAR) 51

2.4.3 Kết quả phân tích định lựợng 51

2.4.4 Phân tích tác động của các nhân tố đến lạm phát 52

2.4.5 Phân tích mức độ tác động trong ngắn hạn và trung hạn 53

Kết luận chương 2 54

CHƯƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆC KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 55

Trang 6

3.1 Định hướng kiểm soát lạm phát tại Việt Nam 55

3.2 Khuyến nghị cho kiểm soát lạm phát tại Việt Nam 56

3.2.1 Tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa GDP bền vững 56

3.2.2 Kiểm soát cung tiền 57

3.3 Kiểm soát tỷ giá 58

3.2.4 Kiểm soát lãi suất 58

3.2.5 Giá dầu thế giới 59

Kết luận chương 3 59

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

CPI: Chỉ số giá tiêu dùng

EX: Tỷ giá bình quân liên ngân hàng

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)

M2: Cung tiền

OPEC: Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa

R: Lãi suất tiền gửi

VNĐ: Đồng Việt Nam

WB: Ngân hàng thế giới (World Bank)

WTO: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization) USD: Đôla Mỹ

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát theo các nghiên cứu khác 21

Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2008-2013 25

Bảng 2.2: Chỉ số CPI từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 12 năm 2013 của Việt Nam 26

Bảng 2.3: Tỷ lệ đầu tư hàng năm trên GDP 30

Bảng 2.4: Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế 31

Bảng 2.5: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện phân theo thành phần kinh tế 31 Bảng 2.6: Tốc độ tăng trường cung tiền và tín dụng giai đoạn 2008 – 2013 34

Bảng 2.7: Chính sách lãi suất điều hành của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 39

Bảng 2.8: Diễn biến giá dầu trên thế giới 42

Bảng 2.9: Tình hình nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 44

Bảng 2.10: Rổ hàng hóa để tính CPI 47

Bảng 2.11: Xác định độ trễ cho mô hình VAR 51

Bảng 2.12: Ma trận tham số và thống kê T của mô hình VAR 52

Bảng 2.13: Tác động giải thích lạm phát sau 4 quý và sau 8 quý 53

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ lãi suất đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế 15

Hình 2.1: Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2008 – 2013 26

Hình 2.2: Biểu đồ diễn biến CPI giai đoạn 2008 – 2013 27

Hình 2.3: Biến động chỉ số CPI giai đoạn năm 2008 – năm 2013 27

Hình 2.4: Diễn biến tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2008 -2013 29

Hình 2.5: GDP bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 32

Hình 2.6: Tốc độ tăng trường cung tiền và tín dụng giai đoạn 2008 – 2013 34

Hình 2.7: Tỷ giá mua bán giữa Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ giai đoạn 2008 – 2013 35

Hình 2.8: Chính sách lãi suất điều hành của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 40

Hình 2.9: Giá dầu thô trên thế giới giai đoạn 2008 – 2013 43

Hình 2.10: Tình hình nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 44

Trang 10

tế vĩ mô, tạo tiền đề tăng trưởng bền vững hơn trong những năm tới (đặc biệt là Trung Quốc); thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu, theo đó Ngân hàng Trung ương ấn định một mức lạm phát cụ thể trong trung, xem đây là cam kết duy trì ổn định giá cả trong trung và dài hạn tại các nước phát triển (Mỹ, Anh, Nhật Bản, ) và đang phát

triển (Thái Lan, Philippines, Brazil, Chile, Isarel, Ba Lan ); sử dụng chế độ tỷ giá

linh hoạt (Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á); xây dựng thể chế tài chính – ngân hàng vững mạnh có khả năng thực hiện chương trình ổn định vĩ mô và kiềm chế lạm phát, quản lý và phát triển hiệu quả thị trường thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán

Tại Việt Nam, việc ổn định nền kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng hợp lý là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của Chính phủ Trong đó, ổn định và giữ cho tốc độ lạm phát ở mức vừa phải là vấn đề kinh tế vĩ mô hàng đầu; bởi vì, một sự biến động lạm phát ngoài kiểm soát, chắc chắn sẽ có những ảnh hưởng nhất định không mong muốn đến đời sống kinh tế của đất nước

Tuy nhiên, từ năm 2008 đến nay, lạm phát luôn có biến động không ngừng với biên độ lớn Năm 2008, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam vọt lên mức 19,9%; sau đó, giảm mạnh vào năm 2009 (6,8%) Năm 2010, 2011, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam đạt con số lần lượt là 11.75%, 18,13%, và giảm xuống mức 1 con số vào 02 năm kế tiếp (6,81% năm 2012 và 6,04% năm 2013)

Trang 11

Sự thiếu ổn định của lạm phát gần như đều có quan hệ với các chỉ tiêu kinh tế -

xã hội; đặc biệt trong bối cảnh kinh tế diễn biến có nhiều thay đổi không ngừng: giá dầu thế giới có xu hướng tăng do các biến động tình hình chính trị; Tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng từng bước Với vai trò điều tiết nền kinh tế quốc gia, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng những chính sách tiền tệ cụ thể, điều chỉnh các quy định về lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền (M2) nhằm đảm bảo sự ổn định của kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát

Nhìn chung, lạm phát là hiện tượng kinh tế phổ biến của mọi quốc gia, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh những tác hại không đáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm phát gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với kinh tế

và đời sống Nhiều nước trên thế giới với kinh nghiệm của mình đã đưa ra những biện pháp trước mắt cũng như lâu dài nhằm kiểm soát lạm phát và kiểm soát lạm phát thành công Tại Việt Nam, việc xác định đúng các nhân tố tác động đến lạm phát để

từ đó có các biện pháp đối phó và khắc phục kịp thời là hết sức quan trọng trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế

Xuất phát từ thực tế trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến lạm phát tại Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu trong luận văn, để tìm hiểu xem thực tế nguyên nhân nào là chính yếu trong việc gây ra lạm phát, các biện pháp khác nhau chính phủ đưa ra để khắc phục tình trạng lạm phát mang lại hiệu quả như thế nào

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là kiểm định các nhân tố (bao gồm giá dầu thế giới, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tổng sản phẩm quốc nội, cung tiền) tác động đến lạm phát trong nền kinh tế Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận các nhân tố tác động đến lạm phát

- Đo lường các nhân tố tác động đến lạm phát trong nền kinh tế Việt Nam

Trang 12

- Đánh giá tác động các nhân tố tác động đến lạm phát trong nền kinh tế Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp về kiểm soát lạm phát tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế, giá dầu thế giới, lãi

suất, tỷ giá hối đoái, tổng sản phẩm quốc nội, cung tiền tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động đến lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2013 Tuy nhiên, dữ liệu trong bài được tổng hợp, thu thập và tính toán thủ công từ nhiều nguồn khác nhau vì tại Việt Nam chưa cung cấp hệ thống cơ

sở dữ liệu hoàn chỉnh Số liệu phân tích lấy từ các báo cáo của tổ chức IFS (Tổ chức thống kê tài chính quốc tế thuộc IMF), Tổng cục thống kê Việt Nam, website Ngân hàng Thế giới

- Lạm phát trong nền kinh tế thị trường Việt Nam đo bằng chỉ chỉ số giá tiêu dùng CPI

- Các nhân tố tác động đến lạm phát tại Việt Nam: tỷ giá hối đoái được đo bằng

tỷ giá USD/VND, lãi suất, cung tiền mở rộng M2, giá dầu thế giới, tổng sản phẩm quốc nội

5 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về lạm phát và các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát

Chương 2: Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam

Chương 3: Khuyến nghị cho việc kiểm soát lạm phát tại Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về lạm phát, các các nhân tố tác động đến lạm phát Trên

cở sở đó phân tích được các các nhân tố tác động đến lạm phát tại Việt Nam

Trang 13

Kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu về lĩnh vực kinh

tế có cái nhìn toàn diện hơn về lạm phát tại Việt Nam Bên cạnh đó nhận định được các nhân tố tích cực, hạn chế các nhân tố tiêu cực tác động đến lạm phát tại Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LẠM PHÁT 1.1 Lạm phát

cơ cấu kinh tế được đổi mới nhanh và đúng hướng Ngược lại, nếu nền kinh tế phát triển kém hiệu quả trì trệ, thiết bị kỹ thuật lạc hậu, cơ cấu kinh tế chậm đổi mới hoặc đổi mới không phù hợp, thì lạm phát theo lý thuyết cầu không phải là công cụ tăng trưởng kinh tế Một loại lạm phát khác xuất hiện, có liên quan đến chi phí sản xuất hàng hoá tăng lên nhanh hơn mức tăng năng suất lao động Chi phí sản xuất tăng lên,

có thể do tăng giá của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như tiền lương, nguyên vật liệu, lãi suất vay vốn hoặc lợi suất cổ tức, doanh nghiệp buộc phải tăng giá hàng bán trên thị trường để duy trì lợi nhuận Việc tăng năng suất lao động xã hội đã không bù đắp được mức tăng chi phí sản xuất khiến cho giá cả tăng cao lạm phát xuất hiện Lúc này, lạm phát đã gắn liền với suy thoái kinh tế

Trang 15

Nhà kinh tế học người Mỹ theo trường phái trọng tiền hiện tại - Milton

hơn ra là về dài lâu tăng tiền sẽ làm tăng giá và sẽ có ảnh hưởng rất ít, hoặc thậm chí không có ảnh hưởng gì đến sản lượng Về ngắn hạn tất nhiên nó có ảnh hưởng như lý thuyết Keynes đưa ra Friedman khuyến nghị rằng nếu ngân hàng trung ương đều đặn tăng lượng cung tiền tệ bằng với tốc độ tăng (theo giá

cố định) của nền kinh tế thì lạm phát sẽ biến mất (Milton Friedman, 1956)

Trong bộ tư bản nổi tiếng của mình, Các Mác viết: “Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của mình” Điều này có nghĩa là lạm phát sẽ xuất hiện khi một Nhà nước phát hành và lưu thông khối lượng tiền giấy vượt hạn mức số vàng mà nó đại diện

Theo David Begg “Lạm phát là sự gia tăng của mức giá Lạm phát phát thuần nhất là mức giá của hang hóa và nhân tố đầu vào tăng theo cùng một tỷ lệ”

Tóm lại, ta có thể hiểu lạm phát là hiện tượng giá cả chung tăng lên và giá trị

đồng tiền giảm xuống Đầu tiên, thuật ngữ "lạm phát" chỉ ra sự gia tăng trong số

lượng tiền trong lưu thông Tuy nhiên, hiện nay, trong kinh tế học, lạm phát được hiểu

là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh

tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác

Trang 16

Lạm phát vừa: Tỷ lệ lạm phát ở mức một con số trong năm, và ổn định Đây là mức độ lạm phát mà các chính phủ có thể chủ động định hướng duy trì một tỷ lệ nhất định để phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế ở mỗi thời kỳ khác nhau

Lạm phát phi mã: Tỷ lệ lạm phát ở mức từ mức trung bình của 2 con số đến đỉnh cao của 03 con số Đây là tỷ lệ lạm phát vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của

Siêu lạm phát: Tỷ lệ lạm phát ở mức trên 3 con số, thậm chí người ta không thể đo lạm phát bằng số % mà là bằng số lần tăng giá trong năm Là hiện tượng khủng hoảng kinh tế đã đến mức rất nghiêm trọng Một ví dụ điển hình cho hiện tượng này

là vấn nạn siêu lạm phát của quốc gia Zimbabwe; lạm phát đã tăng từ một tỷ lệ hàng năm 32% năm 1998, lên mức ước tính chính thức cao tới 11.200.000.000% vào tháng

8 năm 2008; đến năm 2009, Zimbabwe buộc phải từ bỏ đồng nội tệ của mình

1.1.3 Nguyên nhân lạm phát

1.1.3.1 Lạm phát do cầu kéo (Demand Pull Inflation)

Với: LAS: Cung dài hạn

SAS: Cung ngắn hạn

AD: Tổng Cầu

Trang 17

Yp: Sản lượng tiềm năng

P: Mức giá

Nếu cung tiền không thay đổi thì khi tiền tệ lưu thông nhanh hơn, mức chi tiêu danh nghĩa tăng, đường tổng cầu dịch ra phía ngoài Trong ngắn hạn, sự gia tăng tổng

được nhiều sản phẩm hơn Do vậy, họ mở rộng sản xuất, thuê thêm nhân công, xây nhà máy Theo thời gian, tổng cầu đẩy tiền lương và giá cả tăng lên Khi giá tăng, cầu lại giảm xuống, và quay về sản lượng tự nhiên Yp, nhưng lúc này giá đã bị đẩy lên cao, sản lượng tiến về gần sản lượng tiềm năng nhưng giá tăng  gây nên làm phát

- Nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên: dự báo về nền kinh tế phát triển, thị trường, mở rộng

- Nhu cầu của nước ngoài: do lợi thế về tỷ giá, giá cả hàng hoá trong nước so với nước ngoài, ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu

- Thuế giảm: thu nhập người dân tăng, kích thích nhu cầu tiêu dùng, cầu AD dịch chuyển

Trang 18

1.1.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy (Cost Push Inflation)

Phát sinh từ phía cung, việc gia tăng chi phí sản xuất, dẫn đến áp lực tăng giá, xuất hiện lạm phát Một số nguyên nhân gây ra sau:

- Giá cả nguyên nhiên vật liệu tăng (do tỷ giá tăng hoặc khả năng khả khai thác hạn chế) thì tổng chi phí sản xuất sẽ tăng lên Nhà sản xuất chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì giá bán sẽ tăng lên

- Giá cả nhập khẩu cao hơn được chuyển cho người tiêu dùng nội địa Nhập khẩu càng trở lên đắt đỏ khi đồng nội tệ yếu đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác

- Tăng thuế: tiền thuế được tính vào giá thành sản phẩm, giá tăng

Tuỳ vào tình hình thực tế của mỗi quốc gia, mà lạm phát còn chịu sự chi phối bởi các nguyên nhân khác:

- Tâm lý của người dân: thái độ của họ đối với đồng tiền của quốc gia mình, nếu họ đẩy tiền vào lưu thông bằng việc mua hàng hoá dự trữ hoặc đầu tư vào một hình thức khác được cho là đảm bảo hơn… Như thế, cầu và cung sẽ không cân bằng trên thị trường, cung không đáp ứng được cầu,sẽ đẩy giá lên cao, từ đó xuất hiện lạm phát

- Chính sách quản lý kinh tế không phù hợp của chính phủ (chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách lãi suất, chính sách thuế ) làm nền kinh tế bị khủng hoảng, gây ra thâm hụt ngân sách, dẫn đến tăng cung ứng tiền tệ và gây ra lạm phát cao Khi vướng vào tình trạng thâm hụt ngân sách, các chính phủ thường tìm cách khắc phục bằng các biện pháp Đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển thì phát hành trái phiếu, song việc phát hành này kéo dài sẽ làm cầu về vốn sẽ tăng và lãi xuất trên thị trưòng tăng cao; để giảm lãi xuất chính phủ lại phải mua vào các trái phiếu đó, dẫn đến cung tiền tăng và gây lạm phát .Đối với các quốc gia đang phát triển, nguồn vốn còn hạn chế, nên việc phát hành trái phiếu chính phủ thường không khả thi, các quốc gia này thường sử dụng phương thức in tiền, vì thế khi sự thâm hụt càng trầm trọng và kéo dài thì lượng tiền tệ sẽ tăng theo và tỷ lệ gây lạm phát càng lớn

Trang 19

- Những nguyên nhân khách quan như: thiên tai, động đất hoặc nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh, tình hình biến động của thế giới…

1.1.4 Tác động của lạm phát lên nền kinh tế

Lạm phát có thể tác động mọi mặt lên nền kinh tế, và theo hai chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực

1.1.4.1 Tác động tích cực

- Giúp tăng trưởng kinh tế: ở một ngưỡng lạm phát nhất định cho tăng trưởng kinh tế, có tác dụng kích thích tiêu dùng, khuyến khích huy động vốn đầu tư và tăng tính linh hoạt giá cả

- Chính phủ có điều kiện lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư thông qua mở tổng tín dụng và tài trợ lạm phát, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực xã hội

có mục tiêu và trong thời gian giới hạn

- Giảm giá trị các khoản nợ: việc lạm phát cao làm hao mòn giá trị thực của đồng tiền, qua đó lợi ích của các doanh nghiệp và cá nhân mắc nợ được tăng lên

Vậy, lạm phát cũng có những tác động tích cực lên nền kinh tế, nếu quốc gia

có khả năng duy trì kiềm chế và duy trì lạm phát ở mức ổn định Lạm phát sẽ không phải là căn bệnh của nền kinh tế, mà trở thành công cụ điều tiết giúp kinh tế phát triển

1.1.4.2 Tác động tiêu cực

- Gây rối loạn chức năng đo lường giá trị tiền tệ, bóp méo các yếu tố thị trường:

về giá trị tiền, ảnh hưởng vai trò điều tiết nền kinh tế của chính phủ thông qua các chính sách tiền tệ

- Nền kinh tế bị rối loạn và khủng hoảng, sản xuất kinh doanh đình trệ, do lạm phát, giá cả vật tư hàng hoá, nguyên liệu tăng nhanh

- Lạm phát còn làm cho lãi suất danh nghĩa tăng lên bởi tỷ lệ lạm phát dự tính tăng lên (lãi suất thực = lãi suất danh nghiã - tỷ lệ lạm phát) Kết quả là sự mất ổn định

Trang 20

của giá cả tiền tệ, phá vỡ thị trường vốn và tín dụng

- Kiềm chế đầu tư dài hạn, kích thích đầu tư ngắn hạn có tính đầu cơ Thu hút nguồn vốn nước ngoài bị suy giảm

- Đời sống người dân gặp khó khăn hơn: Khi lạm phát tăng lên, giá cả hàng hoá tăng, trong khi thu nhập không tăng Lạm phát làm cho đồng tiền bị mất giá trị, thu nhập thực của người lao động bị giảm sút, có thể xảy ra các cuộc đình công đòi tăng lương, làm ngừng trệ sản xuất, dẫn đến thất nghiệp ở người lao động

Vậy, ngoài các tác động tích cực của lạm phát đến nền kinh tế, lạm phát còn lại đều gây ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển của nền kinh tế

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát

1.2.1 Tổng sản phẩm quốc nội

GDP là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng, phản ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị thường trú trong nền kinh tế của một nước trong một thời kỳ nhất định; phản ánh các mối quan hệ trong quá trình sản xuất, phân phối thu nhập, sử dụng cuối cùng sản phẩm hàng hóa và dịch

vụ trong nền kinh tế quốc dân; là nhân tố đại diện cho tăng trưởng kinh tế Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng khối lượng hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Còn để phản ánh tình hình lạm phát, người ta thường sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) - chỉ số giá biểu thị biến động mức giá chung của một rổ hàng hóa và dịch vụ cố định dùng cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình

Theo lý thuyết của Keynes, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng Nghĩa là, muốn cho tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp nhận một tỷ

lệ lạm phát nhất định Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển cùng chiều Sau giai đoạn này, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm đi

Trang 21

1.2.2 Cung tiền

Những nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã dùng Thuyết số lượng tiền của nhà kinh tế Mỹ Irving Fisher để giải thích cho những nguyên nhân gây ra lạm phát từ tiền tệ như sau:

MV = PT (1.1) Với M là khối lượng cung tiền

V là vòng quay của tiền

P là mức giá chung trong nền kinh tế

T là khối lượng giao dịch thực Và giả thuyết T này bằng với sản lượng trong nền kinh tế là Y

Đường tổng cung AS được giả định cho trước và ở mức toàn dụng hay nói cách khác sản lượng đang ở trạng thái cân bằng dài hạn”

AS = Y (1.2)

Với Y là tổng sản lượng thực được cho bởi hàm sản xuất trong dài hạn,

Đường tổng cầu AD được xác định như sau:

Trang 22

→ MV = PY (1.4)

Từ phương trình (1.4), ta có phương trình số được viết dưới dạng phần trăm thay đổi như sau: lnM + lnV = lnP + lnY

% thay đổi M + % thay đổi V = % thay đổi P + % thay đổi Y

% thay đổi P = % thay đổi M + % thay đổi V - % thay đổi Y

+ Các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển giả định rằng V là một hằng số không thay đổi trong ngắn hạn (bởi vì giá trị này phụ thuộc vào sự phát triển của một

hệ thống tài chính mà điều này không phải thay đổi nhanh chóng)

+ Fisher đã đưa thêm một giả định là Y là hằng số trong dài hạn

Với giả thuyết V không đổi thì bất cứ sự gia tăng nào trong cung tiền cũng làm tăng GDP danh nghĩa Vì các nhân tố sản xuất và hàm sản xuất quyết định mức GDP thực tế và xem GDP thực tế không đổi nên mọi sự thay đổi GDP danh nghĩa phải thể hiện sự thay đổi mức giá Hay nói cách khác phần trăm tăng của giá, hay tỷ lệ lạm phát sẽ đúng bằng phần trăm tăng lên của cung tiền trong dài hạn (N.Gregory Mankiw, 2003)

1.2.3 Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác Nó cũng được coi là giá trị đồng tiền của một quốc gia đối với một

hiện chính sách tiền tệ, có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến lạm phát

Khi tỷ giá hối đoái tăng, đồng nội tệ sẽ bị mất giá, những người sản xuất trong nước muốn đẩy giá hàng lên Đồng thời, chi phí cho các nguyên vật liệu, hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng lên, giá cả của các hàng hoá này tăng lên, dẫn đến lạm phát

khẩu có xu hướng giảm, rẻ hơn, do đó người dân có xu hướng tiêu dùng hàng nhập khẩu nhiều hơn, làm hạn chế hoạt động xuất khẩu, thu hẹp sản xuất trong nước, mặc

dù giảm lạm phát nhưng thất nghiệp gia tăng

Trang 23

Đối với những quốc gia có tỷ trọng nhập khẩu/GDP lớn, nền sản xuất còn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài – chưa có nguồn nguyên liệu trong nước thay thế; khi tỷ giá hối đoái tăng, đồng nội tệ bị mất giá, làm giá hàng nhập khẩu tăng, kéo theo mặt bằng giá hàng hóa trong nước tăng lên, xuất hiện lạm phát Bên cạnh đó, các loại hàng hóa nhập khẩu là nguyên liệu đầu vào của các ngành sản xuất hàng hóa trong nước, đẩy giá hàng hóa trong nước tăng lên, xuất hiện lạm phát Điều này ảnh hưởng đến cầu và cung của hàng hóa sản xuất và tiêu dùng trong nước Cung của hàng hóa này có thể giảm trong khi cầu của chúng tăng sẽ tạo áp lực lên lạm phát

Đối với những quốc gia đang phát triển, kinh tế chưa vững mạnh, nền dân trí còn thấp khiến người dân không có niềm tin vào đồng nội tệ Vì vậy, người dân sẽ tích trữ các tài sản của mình bằng vàng, bất động sản hoặc ngoại tệ mạnh thay vì đồng nội tệ Một sự biến động về tỷ giá hối đoái, làm giảm giá đồng nội tệ, sẽ khiến lạm phát tăng cao

1.2.4 Lãi suất

Về phương diện lý thuyết, lãi suất danh nghĩa và lạm phát có mối quan hệ cùng chiều Khi lạm phát tăng thì lãi suất danh nghĩa tăng để đảm bảo mức lãi suất thực được chấp nhận bởi các chủ thể trong nền kinh tế

Triển vọng của lãi suất thực có ảnh hưởng đến các kỳ vọng và hoạt động chi tiêu và đầu tư Sau khi xác định được các kỳ vọng lạm phát, nếu người tiêu dùng tin rằng lãi suất tiết kiệm sẽ không thay đổi hoặc tăng rất thấp, nghĩa là lãi suất thực sẽ

âm thì họ sẽ có khuynh hướng rút tiền gửi tiết kiệm và đầu tư vào các tài sản có giá khác (bất động sản,…) Điều này sẽ tạo nên giá trị ảo, làm cho CPI có xu hướng gia tăng, vì thế, lãi suất thực sẽ là một biến số quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tiêu dùng, đầu tư của các chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời cũng là biến số tác động đến kỳ vọng lạm phát

Trang 24

Tổng cầu = tiêu dùng + đầu tư + chi tiêu chính phủ + (xuất khẩu – nhập khẩu) Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát được hình thành dựa trên sự ảnh hưởng của lãi suất lên tổng cầu

Lãi suất là sẽ chịu tác động trực tiếp của việc thay đổi tiêu dùng và đầu tư Trong đó, tiêu dùng sẽ giảm xuống khi lãi suất tăng lên là do giá cả của việc vay mượn cho nhu cầu tiêu dùng trở nên đắt đỏ hơn; chi phí vay mượn tăng làm cho khả năng sinh lời của các khoản đầu tư trở nên thấp hơn Vì thế mà việc tăng lãi suất cũng

sẽ làm giảm mức độ đầu tư Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống thì hành vi của người tiêu dùng và nhà đầu tư thay đổi theo hướng ngược lại Sự thay đổi đó được thể hiện bằng sự dịch chuyển của đường tổng cầu

Chính vì mối quan hệ trên nên lãi suất đã trở thành công cụ được lựa chọn để kiểm soát lạm phát mục tiêu và kiểm soát các kỳ vọng lạm phát hữu hiệu

Hình 1.1 Sơ đồ lãi suất tác động đến lạm phát

(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thanh, 2010)

Cầu nội địa

Cầu ròng bên ngoài

Lãi suất

chính thức

Lãi suất thị trường

Giá bất động sản

Kỳ vọng thị trường

Tỷ giá

Tổng cầu

Lạm phát

Áp lực lạm phát nội địa

Giá nhập khẩu

Sản lượng

Trang 25

1.2.5 Giá dầu thế giới

Xăng dầu là mặt hàng tác động gián tiếp rất cao đến sự biến động của CPI, nhiều mặt hàng khác sẽ bị tác động khi giá xăng dầu biến động, vì xăng dầu là yếu tố phản ánh chi phí đầu vào của rất nhiều sản phẩm khác trong rổ hàng hóa tính CPI

Theo các lý thuyết kinh tế học hiện đại, để đảm bảo cung cầu của bất kỳ một loại hàng hóa nào đó kể cả năng lượng, hầu hết các quốc gia đều thông qua hoạt động của thị trường Tuy nhiên, thị trường năng lượng dầu khí trên thế giới thường có những vấn đề như chính trị, độc quyền, luôn có sự can thiệp của chính phủ các nước trên thế giới Ngoài ra, dầu khí là nguồn năng lượng quan trọng, là đầu vào không thể thiếu của các hoạt động kinh tế, nên vấn đề định giá bán, trợ cấp và thuế đánh vào xăng dầu luôn là mối quan tâm của hầu hết chính phủ các quốc gia Do đó khi giá dầu thế giới biến động sẽ ảnh hưởng đến các biến số vĩ mô khác Giá dầu thế giới tăng cao, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất trong nước, ảnh hướng đến mặt bằng giá chung

và sẽ tạo ra lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, làm cho thị trường

bị gián đoạn

Nhóm nhân tố khác như yếu tố tâm lý, đầu cơ, găm hàng, làm giá, thu nhập

của dân cư, cơ cấu kinh tế v v Tuy chưa có nghiên cứu mô hình thực nghiệm để chứng minh cụ thể sự ảnh hưởng của các nhân tố này, nhưng những nhân tố này cũng

có ảnh hưởng một phần đến lạm phát, có thể không ảnh hưởng trực tiếp hoặc mức độ ảnh hưởng không rõ ràng, không có số liệu để đo lường

1.3 Phương pháp đo lường lạm phát

Có nhiều phương pháp đo lường lạm phát; như:

Chỉ số giá sinh hoạt (CLI – Cost of Living Index): Đo sự tăng trên lý thuyết giá

cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ

Chỉ số giá hàng hóa (Commodity Price Index): Đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn Trong trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng

Trang 26

Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội: Nó

là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDP thực) Nó là phép đo mức giá cả được sử dụng rộng rãi nhất Các phép khử lạm phát cũng tính toán các thành phần của GDP như chi phí tiêu dùng cá nhân

Chỉ số giá sản xuất (PPI – Producer Price Index): Đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu

Chỉ số giá bán buôn (WPI – Wholesale Price Index): Đo sự thay đổi trong giá

cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán có thuế) một cách có lựa chọn Chỉ số này rất giống với PPI

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index): Đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi người tiêu dùng (không bao gồm giá hàng hóa và dịch vụ được mua bởi chính phủ, các hãng) Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới Các phép đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI Các nhà kinh tế thường dùng chỉ tiêu này để đánh giá lạm phát của nền kinh tế: chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Vì chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá theo thời gian của các mặt hàng trong "rổ" hàng hóa và dịch vụ đại diện CPI nhằm giúp theo dõi mức tăng giảm giá của hàng hóa tiêu dùng, các nhóm hàng quan trọng nhất có ảnh hưởng đến đời sống cũng như tâm lý của dân chúng CPI có thể đo lường hằng tháng, phản ánh nhanh những biến động của thị trường (Vương Thị Thảo Bình, 2010)

1.4 Các nghiên cứu tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Lạm phát là một đề tài được nhiều người tiếp cận và nghiên cứu trên thế giới, gồm các nghiên cứu về lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm cho từng quốc gia

Trang 27

hoặc nhóm các quốc gia có mối liên hệ với nhau Nội dung chủ yếu xoay quanh vấn

đề các nhân tố quyết định lạm phát hoặc lạm phát sẽ tác động như thế nào lên nền kinh tế Qua đó, ta thấy thế giới đã nghiên cứu đề tài về lạm phát từ lâu, thường sử dụng mô hình định lượng với bộ dữ liệu được thu thập qua nhiều năm ở nhiều quốc gia trong cùng một khu vực hoặc có chung một đặc tính; từ đó, kiểm chứng lại đầy đủ các lý thuyết về lạm phát

Năm 1983, Stanley Fischer đã kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế vào những năm sáu mươi trong bài nghiên cứu “Inflation and Growth” Qua bằng chứng thực nghiệm (bằng mô hình “Simple monetary maximizing model”), cho thấy rằng có mối tương quan tiêu cực giữa sự tăng trưởng và lạm phát;

có liên quan giữa lạm phát càng cao với đến tăng trưởng thấp hơn, làm giảm hiệu quả của các yếu tố sản xuất, bởi vì chính phủ thực hiện các chính sách về tiền tệ và chính sách thuế

Năm 2005, Alessandro Cologni and Matteo Manera cho ra đời nghiên cứu “Oil prices, inflation and interest rates in a structural cointegrated var model for the G-7 countries”; trong đó thể hiện rõ mối quan hệ giữa giá dầu, lạm phát, lãi suất Mục tiêu của bài viết này là đo lường tác động trực tiếp của giá dầu trên các chỉ số kinh tế vĩ

mô và xác minh nếu các ngân hàng Nhà nước của các nước G-7 đã phản ứng ngoại sinh đối với cú sốc giá dầu Trong tình hình giá dầu mỏ tăng cao trên thị trường dầu

mỏ thế giới, gây ra lo ngại về chậm có thể có trong các hoạt động kinh tế của các nước phát triển nhất Một số tác giả đã cho rằng việc tăng giá năng lượng đã trực tiếp làm suy thoái kinh tế, một số khác lại cho rằng các phản ứng chính sách tiền tệ do dầu tăng giá dẩn đến lạm phát, suy thoái kinh tế Alessandro Cologni và Matteo Manera

đã sử dụng mô hình VAR để xác minh nếu những thay đổi trong giá dầu đã ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của các nước thuộc nhóm G-7 trong hai mươi năm qua Bài nghiên cứu các mối quan hệ không chỉ nghiên cứu trong dài hạn mà còn xem xét các mối quan hệ ngắn hạn Kết quả cho thấy rằng, đối với hầu hết các nước được nghiên cứu, một cú sốc giá dầu bất ngờ dẫn sự gia tăng tỷ lệ lạm phát và sự suy giảm tăng trưởng sản lượng Ngân hàng nhà nước của một số quốc gia đã phản ứng bằng

Trang 28

cách thông qua lãi suất thấp hơn, để giảm các tác động của các cú sốc lên tốc độ tăng trưởng sản lượng Ngược lại, cơ quan tiền tệ của hầu hết các nước phản ứng bằng cách tăng lãi suất, cho thấy đây là chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát Hơn nữa, việc ước tính tổng tác động của giá dầu sốc năm 1990 chỉ ra rằng các cú sốc giá dầu đã gián tiếp dẫn đến phản ứng của chính sách tiền tệ

Rudiger Dornbusch, Stanley Fischer thực hiện nghiên cứu tại tám quốc gia, trong đó có ba đang bây giờ bị lạm phát vừa phải, và bốn mà đã thành công (trong việc giảm tỷ lệ lạm phát một con số); xem xét các biến quyền lực của người lãnh đạo, chỉ số hoá và disindexation, cam kết tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ và tài khóa trong nghiên cứu “Moderate Inflation” vào năm 1991 Các bằng chứng cho thấy quyền lực của người lãnh đạo đóng vai trò khiêm tốn trong sự tồn tại của lạm phát Các quốc gia thường gặp tình trạng lạm phát trung bình hoặc cao là kết quả của những cú sốc bên ngoài Lạm phát ở mức vừa phải (Colombia và Chile, Mexico, Brazil) vì nhờ vào việc các nước tăng trưởng chậm Lạm phát thấp (Ireland, Hàn Quốc và Tây Ban Nha) vì đã giảm chi phí sản xuất đáng kể Mỗi quốc gia sử dụng các biện pháp phi thị trường để điều chỉnh lạm phát (chính sách thu nhập ở Hàn Quốc, trợ cấp ở Indonesia) Lạm phát vừa phải thường ở các nước có tỷ giá hối đoái linh hoạt (Ireland và Tây Ban Nha , Mexico) Chính phủ thành công trong việc kéo giảm lạm phát, thông qua một sự kết hợp của chính sách tài khóa, chính sách thu nhập, và cụ thể là một số cam kết tỷ giá hối đoái

Với nghiên cứu “Key Elements Of Global Inflation” vào năm 2009, Các tác giả Robert Anderton, Alessandro Galesi, Marco Lombardi và Filippo di Mauro đã thực hiện nghiên cứu trong bối cảnh biến động lớn về giá hàng hóa thế giới và tăng trưởng toàn cầu; quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, ước tính GVAR để kiểm tra xem những cú sốc giá đến lạm phát Dựa vào mô phỏng GVAR, trong những năm 2000, cho rằng cú sốc giá dầu (giá nhập khẩu) có thể không có tác động đáng kể (hoặc rất hạn chế) trên lạm phát ở các quốc gia thuộc OPEC Nếu ước tính trên một quy mô thời gian dài hơn, hiệu ứng từ toàn cầu hóa và / hoặc thay đổi trong chính sách tiền tệ tác động yếu theo thời gian trên lạm phát; ngược lại, giá nhập khẩu dường như ngày

Trang 29

càng quan trọng trong quá trình lạm phát - phù hợp với trọng lượng ngày càng tăng của họ trong chỉ số CPI

Một nghiên cứu lạm phát ở Pakistan do Mohsin S Khan và Axel Schimmelpfennig đã tiến hành thực hiện năm 2006: Inflation in Pakistan: Money or Wheat? Bài viết này xem xét các biến ảnh hưởng lạm phát ở Pakistan: cung tiền, tín dụng cho khu vực tư nhân, tỷ giá hối đoái, giá hỗ trợ lúa mì Mô hình bài nghiên cứu này được ước tính cho giai đoạn từ 1/1998 đến 6/2005, dữ liệu thu thập hàng tháng Kết quả cho thấy: Các yếu tố tiền tệ (gồm: sự tăng cung tiền và tăng trưởng tín dụng khu vực tư nhân) đóng vai trò chi phối lạm phát, ảnh hưởng đến lạm phát với độ trễ khoảng một năm Trong ngắn hạn, thay đổi giá hỗ trợ lúa mì ảnh hưởng đến lạm phát, không ảnh hưởng trong dài hạn; hơn nữa, trong trung hạn sự hỗ trợ giá lúa mì chỉ ảnh hưởng nếu được cung cấp bằng cách chính sách tiền tệ Để giữ lạm phát gần với mục tiêu của nó là 5%, trước hết Pakistan tập trung sự chú ý vào các chính sách tiền tệ độc lập riêng của mình, trong đó có mục tiêu về tỷ giá hối đoái như một neo danh nghĩa Lúc đó, tỷ giá hối đoái sẽ không còn có sẵn để bù đắp tác động của các cú sốc từ bên ngoài đến nền kinh tế trong nước

Maher Hasan and Hesham Alogeel1 đã điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát trong khu vực GCC bằng cách kiểm tra các quá trình lạm phát ở Saudi Arabia và Kuwait (Understanding The Inflationary Process In The GCC Region: The Case Of Saudi Arabia And Kuwait – năm 2008) Bài báo sử dụng một mô hình nghiên cứu các yếu tố nước ngoài (gồm các đối tác thương mại của lạm phát và tỷ giá hối đoái), cũng như yếu tố trong nước ảnh hưởng đến lạm phát Kết luận rằng, trong dài hạn, lạm phát

có sự đóng góp đáng kể từ tỷ giá hối đoái, giá dầu Trong ngắn hạn, những cú sốc cầu tiền và cung tiền sẽ ảnh hưởng đến lạm phát Trong thời gian nghiên cứu, lạm phát chịu áp lực bởi sự gia tăng đối tác thương mại, tỷ giá đồng đô la, giá dầu thế giới

1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Qua các đề tài về lạm phát ở Việt Nam, ta thấy, hiện nay, các nghiên cứu đã từng bước sử dụng các mô hình định lượng để đánh giá thực trạng, hơn là nguyên cứu

Trang 30

định tính, từ đó đưa cá dự báo chính xác những biến đổi trong tương lai Tuy nhiên,

một vài nghiên cứu có bộ dữ liệu còn ít, phải thu thập từ nhiều nguồn khác nhau

Trên tạp chí Kinh tế và Phát triển số 150, Phạm Thế Anh đã công bố nghiên cứu “Xác định các nhân tố quyết định lạm phát Việt Nam” Qua đó, ông đã sử dụng phương pháp phân tích đồng tích hợp của Engle – Granger (1987) và Johansen (1990) nhằm xác định khả năng tồn tại các mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến

Cũng trên tạp chí Nghiên cứu và Trao đổi, số 10, có một “Nghiên cứu lạm phát tại Việt Nam” của Nguyễn Thị Liên Hoa, Trần Đặng Dũng, đề cập các yếu tố nào đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam, đồng thời chạy mô hình định lượng SVAR để kiểm định mức độ ảnh hưởng đến lạm phát của tổng yếu tố

Năm 2012, Trần Thị Thúy Vân đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát ở Việt Nam trong luận văn thạc sĩ của mình, chủ yếu phân tích tình hình thực tế tại Việt Nam và đưa ra định hướng phát triển kinh tế, các biện pháp kiềm chế tại Việt Nam giai đoạn 2012 -2015

Nghiên cứu Vương Thị Thảo Bình với luận án tiến sĩ "Tiếp cận và phân tích động thái giá cả - lạm phát của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới bằng một số mô hình toán kinh tế” đã rút được một số kết luận sau: giá dầu tăng thì lạm phát cũng tăng; tác động của tăng thu nhập danh nghĩa (lương) hay tác động của tăng cung tiền lên biến động lạm phát mạnh hơn tác động của giá dầu lên lạm phát trong giai đoạn lấy mẫu từ kết quả ước lượng mô hình phân tích lạm phát theo tiếp cận đường Phillips

Bảng 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát theo các nghiên cứu khác

Trang 31

(M2)

Thị Liên Hoa, Trần Đặng Dũng

“Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát

ở Việt Nam” - Trần Thị Thúy Vân

Pakistan do Mohsin S Khan và Axel Schimmelpfennig

“Xác định các nhân tố quyết định lạm phát Việt Nam” - Phạm Thế Anh

structural cointegrated var model for the G-7 countries” - Alessandro Cologni and Matteo Manera

Trang 32

05 Tiền lương Cùng chiều

“Moderate Inflation” - Rudiger Dornbusch, Stanley Fischer

"Tiếp cận và phân tích động thái giá cả - lạm phát của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới bằng một số mô hình toán kinh tế” - Vương Thị Thảo Bình

không ảnh hưởng

“Xác định các nhân tố quyết định lạm phát Việt Nam” - Phạm Thế Anh

“Key Elements Of Global Inflation” - Robert Anderton, Alessandro Galesi, Marco Lombardi

“Understanding The Inflationary Process In The GCC Region: The Case Of Saudi Arabia And Kuwait” - Maher Hasan and Hesham Alogeel1

"Tiếp cận và phân tích động thái giá cả - lạm phát của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới bằng một số mô hình toán kinh tế” - Vương Thị Thảo Bình

Trang 33

1.5 Mô hình xác định lạm phát

Dựa trên những nội dung đã bàn về lạm phát ở các phần trên, ta tiến hành xây dựng được mô hình thực nghiệm VAR - mô hình hệ phương trình - để đo lường các nhân tố tác động đến lạm phát Ưu điểm nổi trội nhất của mô hình VAR là không cần xác định biến nào là biến nội sinh, biến nào là biến ngoại sinh Vì như ta đã biết mối quan hệ giữa các biến số - đặc biệt là biến số kinh tế - không đơn thuần chỉ theo một chiều là biến dộc lập ảnh hưởng lên biến phụ thuộc mà còn theo chiều ngược lại, đòi hỏi phải xem xét mối quan hệ giữa các biến cùng một lúc bằng cách sử dụng mô hình nhiều phương trình Trong mô hình của bài nghiên cứu này gồm các biến: chỉ số giá tiêu dùng, tổng sản phẩm quốc nội, cung tiền, lãi suất, tỷ giá, giá dầu thế giới Tuy nhiên, một khó khăn khi sử dụng mô hình VAR là phải đảm bảo tính dừng của các

biến và lựa chọn độ trễ phù hợp

Kết luận chương 1

Chương 1 đã cung cấp cơ sở lý luận chung về các khái niệm của lạm phát và các nhân

tố ảnh hưởng đến lạm phát, phương pháp đo lường tác động cũng những nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát Bên cạnh đó, chương 1 cũng trình bày sự cần thiết phải nghiên cứu các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của lạm phát Dựa trên những kinh nghiệm từ các nghiên cứu có liên quan cùng với cơ sở lý luận được trình bày sẽ là nền tảng khoa học vững chắc cho việc phân tích chi tiết ở chương 2

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 2.1 Tình hình thực trạng lạm phát tại Việt Nam

Theo bảng xếp hạng được Ngân hàng Thế giới (World Bank) công bố ngày 12/7/2013, Việt Nam xếp ở vị trí 42, với GDP hơn 322 tỷ USD (trong đó, tổng sản phẩm quốc nội – GDP tính theo ngang giá sức mua: 1 USD có thể mua được các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau, tùy vào từng quốc gia; ở các nước ít phát triển hơn, 1 USD có thể mua được nhiều hàng hóa hơn; vì vậy, xếp hạng theo GDP ngang giá sức mua của họ sẽ cao hơn) Theo đánh giá của World Bank, Việt Nam có môi trường kinh tế vĩ mô nhìn chung tương đối ổn định, cán cân đối ngoại được cải thiện, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đánh giá Việt Nam là điạ chỉ đầu tư hấp dẫn trong tương lai ở khu vực ASEAN Tuy nhiên, Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng chậm kéo dài Theo giá so sánh năm

1994, bình quân 06 năm, GDP tăng 5,77%/năm, và điều rất lo ngại là khu vực sản xuất vật chất có xu hướng giảm dần tốc độ tăng trưởng

Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2008 – 2013

Trang 35

Hình 2.1: Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2008 – 2013

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

So với các nước khác trong khu vực, khoảng cách tụt hậu của Việt Nam vẫn còn Để đất nước ngày càng phát triển, Việt Nam cần phải duy trì được tốc độ tăng trưởng trong dài hạn, tăng trưởng bền vững, có chất lượn; duy trì kiểm soát lạm phát

ổn định

Chỉ tiêu lạm phát được thể hiện qua biến số chỉ số giá tiêu dùng CPI

Bảng 2.2: Chỉ số CPI từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 12 năm 2013 của Việt Nam

Trang 36

Hình 2.2: Biểu đồ diễn biến CPI giai đoạn 2008 – 2013

Trang 37

Theo số liệu thu thập, CPI của Việt Nam từ năm 2008 tăng 18,89% đến năm

2013 là 6,04% Trong khoảng thời gian 2008 đến năm 2013, CPI có nhiều biến động

Năm 2008, CPI tăng chủ yếu là do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng khá mạnh

Năm 2009, CPI giảm mạnh là do nền kinh tế nước ta có dấu hiệu phục hồi sau khi chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008

Năm 2010, CPI có xu hướng tăng trở lại, và đến năm 2011 mức tăng CPI gần bằng năm 2008

Năm 2011, CPI diễn biến phức tạp, khi việc tăng cao những tháng đầu năm (lớn nhất vào tháng 4/2011) và giảm dần từ quý II, nhóm hàng có chỉ số giá tăng cao nhất và cao hơn nhiều so với mức tăng chung là lương thực, thực phẩm Năm 2012, CPI có diễn biến khác thường khi tháng Tết CPI tăng không cao nhưng lại tăng cao nhất vào tháng 9; và giảm vào hai tháng giữa năm (tháng 6 và 7) thay vì giảm vào sau Tết âm lịch CPI năm 2012 tăng 6,81% so với cùng kỳ năm 2011, xấp xỉ mức tăng 6,52% của năm 2009, thấp hơn nhiều so với mức tăng 19,89% của năm 2008, mức tăng 11,75% của năm 2010 và mức tăng 18,13% của năm 2011

Năm 2012, chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế có sự thay đổi lớn với chỉ số giá tăng mạnh

CPI năm 2013 có mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua, tăng khoảng 6,04% so với năm 2012 Diễn biến của giá cả, thị trường năm 2013 của Việt Nam cho thấy một

số điểm đáng lưu ý như: diễn biến CPI trong năm đã phá vỡ xu hướng biến động giá

có tính quy luật là “hai năm nhanh, một năm chậm” đã hình thành ở nước ta trong 9 năm trước đó (2004-2012), sự biến động CPI giữa các tháng trong năm cũng không đột ngột, chênh lệch quá nhiều như những năm trước

Trang 38

2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam

Theo trang thông tin Kiểm toán nhà nước, năm 2009, Chính phủ đã tung ra gói kích cầu nhằm tăng cường việc kiểm soát vĩ mô trong giai đoạn khó khăn này Gói kích cầu đầu tiên có giá trị 17.000 tỷ đồng để hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho khoản vay ngân hàng bằng Việt Nam đồng của doanh nghiệp, hộ sản xuất bắt đầu thực hiện từ tháng 2/2009, đối với hầu hết các ngành, lĩnh vực cơ bản của nền kinh tế Lãi suất tiền vay sau khi được hỗ trợ còn khoảng từ 4 - 6%/năm gói kích cầu thứ hai nhằm ngăn

Trang 39

chặn suy giảm kinh tế và duy trì tăng trưởng Theo Quyết định số 443/QĐ-TTg, từ ngày 1/4/2009 đến ngày 31/12/2011, các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn ngân hàng bằng đồng Việt Nam để thực hiện đầu tư mới phát triển sản xuất kinh doanh, kết cấu hạ tầng sẽ được Chính phủ hỗ trợ lãi suất tiền vay 4%/năm trong thời gian tối đa

Bảng 2.3: Tỷ lệ đầu tư hàng năm trên GDP

Đơn vị tính: %

(Nguồn: Tổng cục thống kê)

Năm

Chỉ tiêu

Ngày đăng: 31/12/2020, 06:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w