DƯ THỊ THANH TRÚC ẢNH HƯỞNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO ĐẾN NĂNG SUẤT NUÔI TÔM SÚ CỦA NÔNG HỘ TẠI HAI HUYỆN CẦN GIỜ VÀ NHÀ BÈ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2012... DƯ TH
Trang 1DƯ THỊ THANH TRÚC
ẢNH HƯỞNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO ĐẾN NĂNG SUẤT NUÔI TÔM SÚ CỦA NÔNG
HỘ TẠI HAI HUYỆN CẦN GIỜ VÀ NHÀ BÈ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2012
Trang 2DƯ THỊ THANH TRÚC
ẢNH HƯỞNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO ĐẾN NĂNG SUẤT NUÔI TÔM SÚ CỦA NÔNG HỘ TẠI HAI HUYỆN CẦN GIỜ VÀ NHÀ BÈ
Trang 3Tôi cam kết rằng Luận văn Thạc sĩ kinh tế với đề tài: “Ảnh hưởng các yếu tố đầu vào đến năng suất nuôi tôm sú của nông hộ tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè” là công trình nghiên cứu độc lập, nghiêm túc Các số liệu,
nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
TÁC GIẢ
DƯ THỊ THANH TRÚC
Trang 4Xin cho tôi gởi lời chân thành cảm ơn đến:
PGS TS Đinh Phi Hổ, là người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức mới, bổ ích giúp tôi hoàn thành đề tài
Quí thầy, cô Khoa Kinh tế Phát triển Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã trao đổi kiến thức, chỉ dẫn tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện để tài nghiên cứu
Các Anh, Chị lãnh đạo Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Nông Nghiệp Cục Thống kê Thành phố, Chi cục Thống kê Huyện Cần Giờ,
thông tin cần thiết để đề tài có thể hoàn thiện
Xin gửi lời cám ơn đến các bạn đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tp HCM, ngày 21 tháng 03 năm 2012
TÁC GIẢ
DƯ THỊ THANH TRÚC
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC HÌNH
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Số liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp thu thập 3
4.1.1 Dữ liệu thứ cấp 3
4.1.2 Dữ liệu sơ cấp 3
4.2 Phương pháp phân tích số liệu 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Giới hạn nghiên cứu 4
7 Ý nghĩa của đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Cơ sở lý thuyết 6
1.1.1 Lý thuyết kinh tế hộ 6
1.1.2 Lý thuyết hiệu quả kinh tế 7
1.1.3 Hệ thống thước đo phân tích hiệu quả kinh tế 9
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất trong nông nghiệp 9
1.1.5 Lý thuyết về năng suất 11
1.1.6 Hàm sản xuất 14
1.1.7 Hàm sản xuất Cobb-Douglas 14
1.2 Nghiên cứu thực tiễn trong nông nghiệp 16
1.3 Mô hình thực nghiệm 19
Trang 62.1.2 Huyện Cần Giờ 25
2.1.3 Huyện Nhà Bè 31
2.2 Tổng quan về qui trình thực hiện nghiên cứu của đề tài 34
2.3 Tổng quan về kết quả điều tra nông hộ 35
2.3.1 Chọn mẫu điều tra 35
2.3.2 Điều tra phỏng vấn đối tượng 41
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Tổng quan về tình hình nuôi tôm sú của nông hộ 42
3.1.1 Về năng lực sản xuất của hộ 42
3.1.2 Tổng hợp chi phí nuôi tôm sú trên diện tích 1000m2 43
3.1.2.1 Chi phí vật chất 43
3.1.2.2 Chi phí lao động 45
3.1.2.3 Tập hợp các chi phí 48
3.1.3 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế 49
3.1.4 Phân tích kết quả- hiệu quả của 1000m2diện tích nuôi tôm sú 51
3.2 Các biến giải thích và kỳ vọng dấu của các biến giải thích 52
3.3 K ết quả ước lượng hàm sản xuất 55
3.3.1 Hệ số hồi quy 55
3.3.2 Tính phù hợp của mô hình 56
3.3.3 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 57
3.3.4 Kiểm định phương sai của sai số 58
3.3.5 Hệ số hồi quy của mô hình sau cùng 59
3.3.6 Tính phù hợp của mô hình sau cùng 59
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Trang 8TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh KT-XH : Kinh tế - Xã hội
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội UBND : Ủy ban nhân dân
TSCĐ : Tài sản cố định QCCT : Quảng canh cải tiến
3 Bảng 2.2 Diện tích mặt nước nuôi thủy sản của Thành phố 23
5 Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu kinh tế năm 2010 của huyện Cần Giờ 27
Trang 98 Bảng 2.7: Hiện trạng sử dụng đất 1997 32
9 Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu kinh tế năm 2010 của huyện Nhà Bè 33
11 Bảng 2.10: Phân bố số mẫu điều tra theo từng địa bàn 36
13 Bảng 3.1: Tình hình các hộ điều tra phân theo diện tích nuôi 42
14 Bảng 3.2: Tình hình các hộ điều tra phân theo phương thức nuôi 42
15 Bảng 3.3:Chi phí vật chất của 1000m2
tôm sú theo phương thức nuôi 43
16 Bảng 3.4: Chi phí lao động của 1000m2 tôm sú theo phương thức nuôi 46
17 Bảng 3.5: Tập hợp chi phí của 1000m2 tôm sú theo phương thức nuôi 48
18 Bảng 3.6: Phân tích hiệu quả của 1000m2 tôm sú theo phương thức
nuôi
49
19 Bảng 3.7: Kết quả của việc nuôi tôm trên 1000m2diện tích 51
20 Bảng 3.8: Các biến giải thích và kỳ vọng dấu của các biến giải thích 52
22 Bảng 3.10: Kết quả ước lượng tính phù hợp của mô hình 56
26 Bảng 3.14: Kết quả ước lượng tính phù hợp của mô hình sau cùng 59
Trang 10STT Tên biểu đồ Trang
2 Biểu đồ 3.1: Chi phí lao động của 1000m2 tôm sú theo phương thức
3 Biểu đồ 3.2 Năng suất của 1000m2 tôm sú theo phương thức nuôi 50
DANH MỤC HÌNH
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn của cả nước và cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, đầu mối giao thông của khu vực Hoạt động nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong GDP, giá trị tăng thêm của hoạt động nông nghiệp chỉ chiếm 1,2% GDP (nguồn Cục Thống Kê Thành phố, 2007) Quá trình đô thị hóa và các dự án xây dựng khu công nghiệp đã thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp Hiện nay hoạt động nông nghiệp chỉ tập trung ở các huyện ngoại thành và các quận ven thành phố Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn có vai trò quan trọng tạo vành đai xanh, bảo đảm cân bằng sinh thái và cung ứng thực phẩm cho thành phố Diện tích gieo trồng giảm dần, nhưng cơ cấu cây trồng có sự chuyển biến Người nông dân thành phố đã hình thành thói quen sản xuất theo nhu cầu của thị trường, biết lựa chọn cây, con có giá trị kinh tế cao Ngành thủy sản cũng phát triển mạnh, chủ yếu do số hộ nuôi trồng thủy sản tăng lên và quy mô ngày càng lớn Tôm sú là những mô hình thủy sản có giá trị cao đang được chú ý phát triển
Từ năm 2001, Thành phố chỉ đạo phải thay đổi mục đích sử dụng đất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho các hộ sản xuất nhờ vào nguồn tài nguyên đất đai Thành phố đã có Quyết định 61/2006/QĐ-UBND ngày 14/4/2006 về chuyển đổi đất lúa một vụ năng suất thấp sang nuôi tôm sú giai đoạn 2006-2010, thực hiện
ở hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè Mục tiêu mà UBND Thành phố đề ra là đến 2010, diện tích mặt nước nuôi tôm của toàn TP.HCM là 4.100 ha, tăng 18% so với năm
2005, trong đó huyện Cần Giờ là 3.600 ha (tăng 800 ha so với 2005), huyện Nhà Bè
là 500 ha (giảm 400ha so với 2005)
Các hộ nuôi tôm ở huyện Cần Giờ và Nhà Bè khi đã chuyển đổi đất từ trồng lúa sang nuôi tôm, đã tăng được thu nhập, cải thiện được đời sống của các hộ gia đình Trong giai đoạn 2000-2007 ngành nuôi tôm bắt đầu phát triển và tốc độ phát
Trang 12triển nhanh, con tôm dễ nuôi nên thu hút nhiều nhà đầu tư từ nơi khác đến Cần Giờ
và Nhà Bè, có thể thuê đất hay mua đất để nuôi tôm sú, hiệu quả kinh tế rất cao
Bảng 1.1 Sản lượng tôm sú qua các năm của TP.HCM
Đvt: tấn
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
528 2.909 3.795 6.740 7.720 8.507 8.566 7.700 5.594 3.464 3.884
Nguồn niên giám thống kê TP Hồ Chí Minh 2003, 2004, 2010
Nhưng từ năm 2008 đến nay các hộ đã gặp khó khăn trong quá trình nuôi
tôm sú, sản lượng tôm sú giảm qua những năm gần đây Kết quả này có phải do chi
phí đầu vào tăng cao, do dịch bệnh hoặc do giá đầu ra của tôm biến động nhiều?
Huyện Cần Giờ và Nhà Bè là hai huyện mà đời sống người dân nơi đây còn
nhiều khó khăn Đến năm 2010, thu nhập bình quân đầu người ở Cần Giờ là 22,18
triệu đồng/năm, tỉ lệ hộ nghèo: 40,33 % Thu nhập bình quân đầu người ở Nhà Bè là
15 triệu đồng/năm, tỉ lệ hộ nghèo: 13,98 % (nguồn số liệu Chi cục Thống kê huyện
Cần Giờ và Nhà Bè, 2010) Nghề nuôi tôm phần lớn mang tính tự phát, nên nông hộ
gặp không ít khó khăn trong công tác chọn giống, thị trường đầu ra, vốn, hệ thống
thuỷ lợi không đồng bộ, các hộ nuôi trồng lại chưa quen với việc áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào mô hình nuôi do đó năng suất nuôi tôm thấp
Thực tế đó cho thấy việc nghiên cứu tác động của các yếu tố đầu vào đối với
năng suất nuôi tôm sú và tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao năng suất của các hộ
nuôi tôm sú là một thách thức lớn đối với những người quản lý
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng các yếu tố
đầu vào đến năng suất nuôi tôm sú của nông hộ tại hai huyện Cần Giờ và Nhà
Bè”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Đề tài nghiên cứu này tập trung vào 2 mục tiêu chính:
Trang 13- Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình nuôi tôm sú của các hộ gia đình tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến năng suất của các hộ gia đình nuôi tôm sú tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè
Dựa vào kết quả phân tích sẽ gợi ý một số đề xuất phù hợp để nâng cao năng
suất của các hộ nuôi tôm sú tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:
- Mô hình nuôi tôm sú nào của các hộ gia đình tại hai huyện Cần Giờ và Nhà
Bè có năng suất và hiệu quả kinh tế cao?
- Yếu tố đầu vào nào ảnh hưởng nhiều đến năng suất của các hộ gia đình nuôi tôm sú tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè?
4 S Ố LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp thu thập
4.1.1 Dữ liệu thứ cấp:
Các số liệu dùng trong nghiên cứu này được lấy từ bộ dữ liệu điều tra chi phí nuôi tôm sú năm 2010 của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh
Số liệu báo cáo của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh
Số liệu báo cáo của Chi cục Thống kê huyện Cần Giờ và Nhà Bè
4.1.2 Dữ liệu sơ cấp:
Thu thập số liệu thông qua việc sử dụng bảng câu hỏi để điều tra khảo sát
hiện trạng thực tế tình hình nuôi tôm sú tại các hộ gia đình trên địa bàn hai huyện
Cần Giờ và Nhà Bè của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010
4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng chương trình xử lý số liệu bằng excel, kết hợp với thống kê mô tả và định lượng, sử dụng phương pháp hồi quy đa biến, ước lượng các hệ số hồi quy, giải thích mức độ tương thích của mô hình theo phương pháp OLS và thống kê F để
Trang 14phần tích hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú của các hộ gia đình Phần mềm xử lý dữ liệu
SPSS được dùng trong nghiên cứu này
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến năng suất của các hộ gia đình nuôi tôm sú tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè
Địa bàn điều tra: tại các hộ gia đình nuôi tôm sú tập trung trên địa bàn xã Bình Khánh, xã Lý Nhơn, xã An Thới Đông huyện Cần Giờ và xã Hiệp Phước huyện Nhà Bè
Đây là hai huyện có số hộ chăn nuôi thủy sản chiếm tỷ lệ cao trong tổng số hộ nuôi thủy sản trên địa bàn thành phố Tại huyện Cần Giờ hiện có 2.608 hộ, tại huyện Nhà Bè có 495 hộ nuôi thủy sản Cả hai huyện trên chiếm 52,7% (5.888 hộ)
tổng số hộ nuôi thủy sản của Thành phố Hồ Chí Minh ( nguồn Phòng Nông Nghiệp
Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh, 2010)
Số lượng mẫu điều tra: 180 hộ gia đình nuôi tôm sú
- Thời gian nghiên cứu là vụ thu hoạch gần thời điểm điều tra ghi phiếu ngày 1/11/2010
6 GI ỚI HẠN NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu chỉ được thực hiện tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè của Thành
phố Hồ Chí Minh
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu: do hạn chế về thời gian và kiến thức tác giả
chỉ phân tích các chi phí mà hộ gia đình mua hay thuê được trong việc nuôi trồng tôm sú và kết quả thu được bằng tiền từ sản phẩm mang lại
7 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến năng suất của hộ gia đình nuôi tôm sú tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè Qua đó xác định được
những nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất đến năng suất nuôi tôm sú Đề xuất các giải
Trang 15pháp nhằm phát triển việc nuôi tôm sú tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè theo hướng
ổn định và đạt hiệu quả cao
CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Cấu trúc của đề tài gồm có các nội dung sau:
Phần mở đầu: Nêu lên tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài, mục tiêu
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý thuyết: Phần này sẽ thể hiện các nội dung liên quan
đến các cơ sở lý thuyết thực hiện nghiên cứu, các nghiên cứu đã thực hiện trước đây
có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn
Chương 2: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu: Phần này thể hiện các nội
dung về thực trạng nuôi tôm sú tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè của Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Kết quả nghiên cứu: Phần này thể hiện các nội dung nghiên cứu
chính của Luận văn, các kết quả nghiên cứu đạt được cũng như những phát hiện mới của Luận văn
Chương 4: Kết luận và đề xuất: Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, người
nghiên cứu sẽ kiến nghị một số đề xuất ứng dụng từ kết quả nghiên cứu
Trang 16tố sản xuất khác nhằm thu về thu nhập thuần cao nhất (Đào Công Tiến, 2000)
Giáo sư Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp Cambridge (1988) đưa ra một
số định nghĩa về nông dân, nông hộ Theo ông “hộ” là:
- Về yếu tố đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các
yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai
- Về yếu tố lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính
kinh tế nổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản
- Về yếu tố tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng: “người nông dân làm công
việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” (Woly, 1966) nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận
Từ những đặc trưng trên có thể xem kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh
tế:
- Có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình
- Sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất
Thu nhập nông hộ là phần tiền còn lại sau khi trừ đi tất cả các chi phí có liên quan mua ngoài như chi phí vật chất, chi phí lao động thuê Ở nông hộ, thu nhập chủ yếu là dựa vào công lao động của họ bỏ ra
Trang 17Các thành phần cấu thành thu nhập nông hộ: ở nông thôn, thu nhập của người dân chủ yếu dựa vào thu nhập trong nông nghiệp, ngoài ra còn có thu nhập từ phi nông nghiệp
– Thu nhập trong nông nghiệp: bao gồm các nguồn thu từ nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản… hay làm thuê trong nông nghiệp
– Thu nhập phi nông nghiệp: gồm các nguồn như tiền lương, trợ cấp, tiền thu
từ các hoạt động thương mại, dịch vụ và các nguồn khác
Đặc trưng của kinh tế hộ:
- Về mặt kinh tế: nông hộ vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng Quan hệ
giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện trình độ kinh tế của nông hộ
- Về mặt xã hội: các thành viên trong nông hộ có quan hệ huyết thống, thân thuộc
và quan hệ hôn nhân Quan hệ này chi phối mọi hoạt động kinh tế - xã hội của các thành viên
Nông hộ sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất kinh doanh Ở nông hộ
chỉ tiêu thu nhập thuần là quan trọng nhất, không kể thu nhập đó từ nguồn nào,
trồng trọt, chăn nuôi, hay từ nghề ngoài nông nghiệp Đó là kết quả chung của lao động gia đình Người nông dân không tính được cụ thể bằng tiền lao động gia đình
đã bỏ ra, mà chỉ tính chi phí cơ hội của lao động gia đình khi tham gia sản xuất
1.1.2.Lý thuyết hiệu quả kinh tế:
Theo tác giả Hoàng Hùng (2007) cho rằng có 2 quan điểm: quan điểm truyền thống và quan điểm mới về hiệu quả kinh tế
Quan điểm truyền thống cho rằng, hiệu quả kinh tế tức là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí Nó được đo bằng các chi phí và lời lãi Hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh Theo quan điểm mới khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố:
Trang 18+ Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra.Về mối quan hệ này, có
ba phạm trù: Hiệu quả kỹ thuật; hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I) đầu tư
thêm Tỷ số D O/ D I được gọi là sản phẩm biên
- Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm
và giá đầu vào Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên
- Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Nó chỉ đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa
+Yếu tố thời gian: cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu
bằng nhau nhưng hai dự án có thể có hiệu quả khác nhau.Vì thế, khi tính yếu tố thời
gian, các nhà kinh tế đã tính tỷ lệ nội hoàn vốn Đó là mức sinh lời của đồng vốn
khi đầu tư vào dự án, nó được dùng để so sánh giữa việc tiếp tục đầu tư vào dự án hoặc đầu tư vốn vào việc khác xem việc nào có lợi hơn
+Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường
Theo quan điểm toàn diện, hiệu quả kinh tế nên được đánh giá trên ba phương diện: Hiệu quả tài chính, xã hội và hiệu quả môi trưòng
- Hiệu quả tài chính thường được thể hiện bằng những chỉ tiêu như lợi nhuận,
giá thành, tỷ lệ nội hoàn vốn, thời gian hoàn vốn
- Hiệu quả xã hội của một dự án phát triển bao gồm lợi ích xã hội mà dự án
đem lại như: việc làm, mức tăng về GDP do tác động của dự án, sự công bằng xã hội, sự tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái Một số tác giả khác khi đánh giá hiệu quả kinh tế cho rằng cần phân biệt hai khái niệm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Còn hiệu quả xã hội là mối tương quan
so sánh giữa các lợi ích xã hội thu được và tổng chi phí bỏ ra
Trang 191.1.3 Hệ thống thước đo phân tích hiệu quả kinh tế
PCR: tỉ suất lợi nhuận trên chi phí (%)
P: lợi nhuận trên một đơn vị diện tích
TC: tổng chi phí trên một đơn vị diện tích
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất trong nông nghiệp
Theo Đinh Phi Hổ (2008) [4] dựa vào lý thuyết và mô hình phát triển kinh tế trong thời gian qua, phần lớn các nhà kinh tế học cho rằng có bốn yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp: quy mô lao động (L); quy mô vốn sản xuất (K); tài nguyên thiên nhiên (R) và trình độ công nghệ ( T)
Mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tổng sản lượng quốc gia qua hàm sản xuất như sau:
∑
Trang 20Y = F (Xi)
Với i = 1,2, ,n
Xi là các yếu tố đầu vào
Các yếu tố đầu vào cơ bản của một nền kinh tế bao gồm:
- Vốn sản xuất nông nghiệp (K, capital): là bộ phận quan trọng của tổng giá
trị tài sản quốc gia, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất để tạo ra tổng sản lượng quốc gia
Vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp Vốn trong nông nghiệp gồm có vốn
cố định và vốn lưu động
Vốn sản xuất nông nghiệp có đặc điểm:
- Do đặc điểm của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, nhu cầu của vốn cũng mang tính thời vụ
- Đầu tư vốn trong nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro vì kết quả sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên
- Do chu kỳ sản xuất của nông nghiệp dài nên vốn dùng trong nông nghiệp
có mức lưu chuyển chậm
- Trong nông nghiệp, một phần vốn còn do chính nông hộ sản xuất ra (con giống, phân bón) được dùng ngay trong quá trình sản xuất trực tiếp
- Lao động (L,labour): là yếu tố đặc biệt tham gia vào trong quá trình sản xuất
không chỉ về số lượng người lao động mà còn cả chất lượng nguồn lao động Đặc biệt là yếu tố phi vật chất của lao động như kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm lao động được xem như yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến gia tăng sản lượng Do đó, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn lao động chính là đầu tư làm gia tăng giá trị yếu
tố đầu vào đặc biệt này
- Đất đai nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên khác ( R, natural resources):
Đất đai nông nghiệp có vai trò đặc biệt và là tư liệu chủ yếu đối với sản xuất nông nghiệp Bao gồm đất canh tác cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đồng cỏ dùng cho chăn nuôi, diện tích mặt nước dùng sản xuất nông nghiệp Quy mô đất
Trang 21nông nghiệp của một quốc gia càng lớn sẽ góp phần làm tăng sản lượng Đất có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất và chất lượng sản phẩm
Công nghệ là phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu
và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người Nó thể hiện kiếnthức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn (Wikipedia, 2007)
Máy móc, nhà xưởng, thiết bị, con người với kiến thức, kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, qui trình, phương pháp, tổ chức sắp xếp, điều phối
và quản lý là những đầu vào quan trọng làm tăng năng suất Việc ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất sẽ làm tăng quy mô sản lượng, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí lao động sống sẽ làm tăng tổng sản lượng của quốc gia
Sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh hay chậm tùy thuộc vào việc sử dụng các yếu tố lao động, vốn như thế nào, đồng thời cũng phụ thuộc vào các yếu tố tổng hợp, cụ thể như: giống, trình độ, kỹ thuật công nghệ, số năm hoạt động
Như vậy hàm sản xuất tổng hợp được thể hiện như sau: Y = F( K,L,R,T)
1.1.5 Lý thuyết về năng suất
Nhà kinh tế học Adam Smith là tác giả đầu tiên đưa ra thuật ngữ năng suất (Productivity) trong một bài báo bàn về vấn đề hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lượng lao động và khả năng sản xuất vào năm 1776
Theo khái niệm năng suất cổ điển thì năng suất có nghĩa là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực Vì khái niệm năng suất xuất hiện trong giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố được coi trọng nhất Ở giai đoạn này, người ta thường hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động Qua một thời kỳ phát triển, các nguồn lực khác như vốn, năng lượng và nguyên vật liệu cũng được xét đến trong khái niệm năng suất để phản ánh tầm quan trọng và đóng góp của nó trong doanh nghiệp Quan điểm này đã thúc đẩy việc phát triển các
kỹ thuật nhằm giảm bớt lãng phí và nâng cao hiệu quả sản xuất Năng suất ở giai đoạn này có nghĩa là sản xuất “nhiều hơn” với “chi phí thấp hơn” Đây là thời điểm Adam Smith và Frederick Taylor tập trung vào việc phân chia lao động, xác định và
Trang 22tiêu chuẩn hố các phương pháp làm việc tốt nhất để đạt được hiệu suất làm việc cao hơn Tuy nhiên, quan điểm năng suất như vậy mới chỉ dừng lại ở năng suất nguồn lực và đĩ chỉ là một khía cạnh của năng suất
Nhưng thực tế, ý nghĩa của năng suất mang tính tồn diện hơn Năng suất khơng cịn bĩ hẹp trong phạm vi làm ra bao nhiêu sản phẩm trên một đơn vị thời gian, mà năng suất gắn với thị trường vì vậy sẽ song hành với yếu tố chất lượng Theo Mohanty & Yadav (1994) [2], năng suất được định nghĩa đơn giản là tỉ số giữa đầu ra (các sản phẩm hay dịch vụ) và đầu vào (vốn, lao động, nguyên vật liệu, năng lượng và các đầu vào khác) Theo Smith (1995) [2], định nghĩa về năng suất bao gồm lợi nhuận, hiệu suất (efficiency), hiệu quả (effectiveness), giá trị, chất lượng Theo Ross Chapman &Khleef Al- Khawaldeh (2002) [2], năng suất cịn được xem là tạo ra và cung cấp sản phẩm dịch vụ bằng cách sử dụng tối thiểu mọi nguồn lực, cả con người và vật chất, nhằm đạt sự thỏa mãn của khách hàng, cải thiện chất lượng sống của con người và tránh gây tổn hại đến mơi trường
Theo Han F Leong D (1996) [1], trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, người tiêu dùng đang cĩ những điều kiện thuận lợi để so sánh và lựa chọn sản phẩm Vì vậy năng suất cịn nhấn mạnh đến khía cạnh hiệu quả
vào Đầu
ra Đầu suất
Trong đĩ:
Đầu ra: là các sản phẩm / dịch vụ ( giá trị / kết quả làm được)
Đầu vào: bao gồm vốn, lao động, nguyên vật liệu, năng lượng, thời gian…
Hiệu quả: tạo ra các kết quả mong muốn, cĩ chất lượng
Hiệu suất: cho biết kết quả hồn thành tốt như thế nào, nghĩa là sản xuất một sản phẩm đạt chất lượng một cách tốt nhất cĩ thể được với thời gian và chi phí thấp nhất
Khái niệm năng suất theo cách tiếp cận mới:
Năng suất là mối quan hệ (tỷ số) giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để hình thành đầu ra đĩ Theo cách định nghĩa này thì nguyên tắc cơ bản của tăng năng
Trang 23suất là thực hiện phương thức để tối đa hoá đầu ra và giảm thiểu đầu vào Thuật ngữ đầu vào, đầu ra được diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trường kinh tế -
xã hội Đầu ra thường được gọi với những cụm từ như tập hợp các kết quả Đối với các doanh nghiệp, đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất - kinh doanh, giá trị gia tăng hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật Ở cấp vĩ mô thường sử dụng Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) là đầu ra để tính năng suất Đầu vào trong khái niệm này được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra như lao động, nguyên vật liệu, vốn, thiết bị máy móc, năng lượng, kỹ năng quản lý
Như vậy, nói về năng suất, nhất thiết phải đề cập tới 2 khía cạnh, khía cạnh đầu vào và đầu ra Khía cạnh đầu vào thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực Khía cạnh đầu ra thể hiện giá trị sản phẩm và dịch vụ Tuy nhiên, những cách tiếp cận mới gần đây nhấn mạnh hơn vào khía cạnh đầu ra của năng suất để đáp ứng được với những thách thức của môi trường cạnh tranh và những mong đợi của xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, năng suất được gắn chặt với các hoạt động kinh
tế Nó được hiểu là làm sao để tạo ra nhiều đầu ra hơn với lượng đầu vào hạn chế Cải tiến năng suất cho phép tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống cho xã hội Đối với các doanh nghiệp, nó làm cho khả năng cạnh tranh được tăng lên thông qua việc
sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và tạo ra nhiều đầu ra hơn Cải tiến năng suất còn
có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân trong xã hội với cách hiểu tạo ra nhiều của cải hơn, thu nhập cao hơn và chất lượng cuộc sống được cải thiện tốt hơn
Năng suất còn được hiểu là một tư duy hướng tới thói quen cải tiến và vận dụng những cách thức biến mong muốn thành các hành động cụ thể Theo cách tiếp cận này, năng suất là không ngừng cải tiến để vươn tới sự tốt đẹp hơn Ngày hôm
nay phải tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay Điều này có thể thực hiện được nhờ vào các nỗ lực cá nhân và tập thể không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng, kỷ luật, các hoạt động phát huy tinh thần sáng tạo cũng như việc quản lý công việc tốt hơn, phương pháp làm việc tốt hơn, giảm thiểu chi phí, giao
Trang 24hàng đúng hạn, hệ thống và công nghệ tốt hơn để đạt được sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, thị phần lớn hơn và mức sống cao hơn
1.1.6 Hàm sản xuất
Hàm sản xuất Y = f(Xi), trong đó: Y là đầu ra của sản xuất, Xi là các yếu tố đầu vào của sản xuất, f là dạng hàm Theo định nghĩa, hàm sản xuất (Y) là hàm cực biên và đường phản ánh hàm này gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất
(Production possibility frontier) (Debertin, 1986) Các điểm trên đường cực biên (Y=f(X)) phản ánh hiệu quả kỹ thuật đạt được cao nhất Còn những điểm nằm dưới đường cực biên thì hiệu quả kỹ thuật của hộ không đạt 100%
Các yếu tố đầu vào của hàm sản xuất có 2 nhóm chính: nhóm các yếu tố bên trong và nhóm các yếu tố bên ngoài của nông hộ
Nhóm các yếu tố bên trong của hộ chính là khả năng sản xuất nông nghiệp của hộ,
Nhóm các yếu tố bên ngoài như ảnh hưởng thị trường, chính sách, các yếu tố vùng, miền Tham số phản ánh khả năng sản xuất của hộ được gọi với các tên khác nhau Deininger và Jin (2003) gọi đó là khả năng sản xuất của hộ trong khi một số tác giả khác (Alvarez và Arias, 2004; Forsund et al., 1980) gọi là tham số hiệu quả
Hàm sản xuất có tham số phản ánh khả năng sản xuất của hộ có thể viết như sau: Yi = αi f(Xi) Trong đó:
+ Yi là đầu ra sản xuất của hộ i (sản lượng)
+ Xilà vector của các đầu vào biến đổi của hộ i;
+ αilà tham số phản ánh khả năng sản xuất của hộ i
Nếu Y=f(X) là cực biên lý thuyết thì αisẽ nằm trong khoảng [0,1] hay
0 < αi < 1
1.1.7 Hàm sản xuất Cobb – Douglas
Theo (Ramu Ramanathan, 2002), dạng hàm sản xuất thích hợp nhất ứng dụng phân tích nguồn gốc tăng trưởng trong thực tiễn là dạng hàm Cobb – Douglas
Nếu Q : là số lượng đầu ra của một quá trình sản xuất
K: là số lượng vốn đầu vào
Trang 25L : là số lượng lao động đầu vào
Phương trình hàm sản xuất như sau:
Q = F (K,L)
Hàm Cobb – Douglas thông thường có dạng sau:
Qt = c K tα L tβ
C, α và β: là những thông số chưa biết
Lấy Logarit hai vế và thêm vào số hạng sai số, ta có hàm kinh tế lượng (β1= lnC) LnQt = β1+ α ln K t + β lnL t + u t
β1: Hệ số tăng trưởng tự định Hiện nay còn được gọi là năng suất các yếu tố tổng hợp yếu tố tổng hợp này chủ yếu là yếu tố công nghệ
Nếu chỉ thay đổi K và L giữ không đổi, ta có:
α = Δ (ln Q)= (1/Q) ΔQ = K ΔQ
Δ (ln K) (1/K) ΔK Q ΔK
100Δ(lnQ) = 100ΔQ/Q là phần trăm thay đổi theo Q Do đó α là phần trăm thay đổi
của Q chia cho phần trăm thay đổi của K Đây là độ co giãn của đầu ra theo vốn α: độ co giãn đầu ra theo vốn
β: độ co giãn đầu ra theo lao động
Giả sử ta có lượng vốn và lao động đầu vào tăng gấp đôi
Q1 = c(2K)α(2L)β= 2α+βQ
Neáu α + β = 1, Q1 = 2Q Vì thế đầu vào sẽ tăng gấp đôi nếu α + β = 1
Vì thế nếu đầu vào tăng gấp đôi: α+β=1 năng suất biên ổn định
Nếu α+β>1 năng suất biên tăng dần
Nếu α+β<1 năng suất biên giảm dần
Hàm sản xuất tổng quát dạng Cobb-Douglas có thể được thể hiện như sau: Υ =Α∏Χ a i
i (1.1)Với Xi là những nhập lượng đầu vào khác nhau (đất, lao động, phân bón, thuốc trừ sâu,…) Bằng phép biến đổi logarit từ công thức (1.1) kết hợp với một số
Trang 26biến phản ảnh khác như khuyến nông, mùa vụ (biến giả), ta có hàm sản xuất tổng
quát như sau: LnY=LnA +∑αilnΧi +∑βiΖi
1.2 Nghiên cứu thực tiễn trong nông nghiệp :
Theo nghiên cứu của tác giả Thái Thanh Hà (2005) [14] nghiên cứu ảnh
hưởng của yếu tố đầu vào đối với kết quả nuôi tôm của các hộ gia đình tại huyện
Phú Vang, Thừa Thiên Huế tiếp cận nghiên cứu từ tín dụng ngân hàng
Kết quả nghiên cứu cho thấy các hộ nuôi tôm ở huyện Phú Vang có kết quả
kinh tế cao thường là :
- Chủ hộ có thời gian làm nghề nuôi tôm lâu năm với mức ý nghĩa thống kê
0,001.Biến số này trong phương trình cho thấy các hộ nuôi tôm ở huyện Phú Vang
có kết quả kinh tế cao thường là những chủ hộ có thời gian làm nghề tôm lâu năm
Nghề nuôi tôm là một nghề khó, đòi hỏi phải có kinh nghiệm và đó chính là yếu tố
quyết định đến sự thành bại của hộ gia đình nuôi tôm tại huyện Phú Vang
- Việc tập huấn kỹ thuật X2 là một biến số quan trọng trong việc dự báo trong
mô hình với mức ý nghĩa thống kê 0,05, tức là các hộ nuôi tôm có kết quả kinh
doanh cao là những hộ có tham gia tập huấn kỹ thuật
- Các hộ có lao động thường xuyên tham gia làm nghề tôm Nghề nuôi tôm là
một nghề đòi hỏi phải có kinh nghiệm và đó cũng chính là yếu tố quyết định đến sự
thành công của hộ gia đình nuôi tôm tại Phú Vang
Kết quả mô hình trên cũng cho thấy rằng, số lao động thường xuyên của hộ
nuôi tôm X3 cũng là một biến số độc lập, dự báo loại hộ gia đình có kết quả kinh
doanh khác nhau và đạt mức ý nghĩa thống kê 0,05 Những hộ có kết quả kinh
doanh cao cũng chính là hộ gia đình có nhiều số lao động thường xuyên tham gia
làm nghề tôm Trên thực tế, kết quả này hoàn toàn hợp lý bởi vì lao động là một yếu
tố không thể thiếu được, và đặc biệt là yêu cầu kỹ thuật nuôi tôm đòi hỏi sự có mặt
thường xuyên của các lao động trong quá trình sản xuất
Tương tự, các biến số về mặt chi phí như: chi phí phòng bệnh, chi phí dầu
chạy máy mà hộ gia đình sử dụng vốn vay để thực hiện cũng là các nhân tố dự báo
có ý nghĩa về mặt thống kê 0,05 trong mô hình Tức là những hộ có kết quả kinh
Trang 27doanh cao thì chắc chắn là những hộ có xu hướng đầu tư nhiều cho chi phí dầu chạy máy và chi phí phòng bệnh
Chi phí thức ăn và chi phí công cụ nhỏ không phải là biến số dự báo đối với kết quả kinh doanh của các hộ nuôi tôm quảng canh cải tiến tại huyện Phú Vang vì các biến số này không có ý nghĩa về mặt thống kê Điều này cho thấy rằng chi phí thức ăn và chi phí công cụ nhỏ là các loại chi phí được thực hiện theo định mức và thông thường là như nhau đối với các hộ nuôi tôm
Thủ tục vay vốn cũng không phải là biến số dự báo có ý nghĩa về mặt thống kê đến kết quả kinh doanh của hộ gia đình Điều này cho thấy rằng cơ hội tiếp cận tín dụng của tất cả các hộ nuôi tôm tại huyện Phú Vang là như nhau, và ngân hàng hầu như không có phân biệt đối xử khác nhau đối với các hộ trong vấn đề này Mức vốn vay ngân hàng là biến số có ý nghĩa về mặt thống kê, cho thấy rằng mức vốn vay càng lớn thì hộ gia đình nuôi tôm càng có điều kiện để đầu tư để đạt kết quả kinh doanh cao hơn
Tác giả cũng đã kết luận rằng tín dụng đã có tác động khá tích cực đến việc đầu tư và thực hiện các chi phí mang lại lợi ích kinh tế khá cao của các hộ nuôi tôm tại huyện Phú Vang Điều này thể hiện rõ trong việc mức vốn vay của hộ gia đình càng cao thì hộ gia đình đạt được kết quả kinh doanh cao Nuôi tôm quảng canh cải tiến là một trong những nghề đang được phát triển tại huyện Phú Vang trong thời gian qua và vì vậy tín dụng ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng Kết quả nghiên cứu cũng đã gián tiếp cho thấy các ngân hàng trước khi triển khai tín dụng tại huyện Phú Vang cần phải chú ý nhiều đến công tác tập huấn kỹ thuật nuôi tôm Các chương trình tập huấn cần chú trọng đến việc bồi dưỡng kiến thức cho các chủ
hộ nuôi tôm về các loại bệnh thường thấy trong việc nuôi tôm Việc tập huấn có thể được kết hợp một cách tốt nhất với việc tham quan các mô hình điển hình để các chủ hộ gia đình có thể tham khảo Qua nghiên cứu cho thấy, thủ tục vay vốn không phải là một nhân tố có ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của hộ nuôi tôm tại huyện Phú Vang Tuy nhiên, trên thực tế đây là một vấn đề cần có những nghiên cứu sâu
và trên diện rộng hơn nữa để có thể đưa ra một kết luận chắc chắn
Trang 28Theo nghiên cứu: "Một số nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi
của các hộ điều tra ở huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế” của Phan Văn Hòa
(2005) [8], các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất bao gồm: giống, công lao động, thức
ăn tự sản xuất, thức ăn công nghiệp, vụ sản xuất, hình thức nuôi Thức ăn công nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất của năng suất tôm của các hộ nuôi, kế đến là biến thức ăn tươi, vụ nuôi, hình thức nuôi và ảnh hưởng thấp nhất là công lao động Nghiên cứu cũng cho thấy đối với các hộ nuôi tôm ở huyện Phú Vang việc đầu tư cho thức ăn tươi sẽ tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất Còn việc đầu tư thêm giống và công lao động sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế
Các hộ nuôi tôm ở Phú Vang để có được năng suất cao theo nghiên cứu của tác giả thì các hộ nên đầu tư nuôi tôm theo phương thức thâm canh, nuôi ở vụ 1 và
sử dụng nhiều thức ăn tươi
Nghiên cứu tác giả Phan Văn Hòa ở huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế vào năm 2005 cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất bao gồm: thức ăn tự sản xuất, thức ăn công nghiệp, vụ sản xuất, hình thức nuôi
Còn nghiên cứu của tác giả Thái Thanh Hà (2005) cho thấy các hộ nuôi tôm
ở huyện Phú Vang có kết quả kinh tế cao thường là : chủ hộ có thời gian làm nghề nuôi tôm lâu năm, có tham gia tập huấn kỹ thuật, các hộ có lao động thường xuyên tham gia làm nghề tôm, các hộ có đầu tư cho dầu chạy máy và đầu tư cho chi phí phòng bệnh
Từ những có sở lý thuyết chung, người nghiên cứu vận dụng vào thực tế nuôi tôm sú tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè của thành phố Hồ Chí Minh vào năm
2011 Các yếu tố nhập lượng đầu vào được đề xuất đưa vào mô hình nghiên cứu gồm những yếu tố sau:
Nhóm các yếu tố liên quan đến nguồn nhân lực: chi phí thuê ngoài (1.000 đồng/1.000m2
), chi phí lao động tự làm của hộ (1.000 đồng/1000m2
)
- Nhóm các yếu tố nguồn lực :
Trang 29
Lượng con giống (1.000 con/1.000m2), lượng thức ăn (kg/1.000m2
), Phương thức nuôi tôm (1: thâm canh, 2: bán thâm canh, 3:quảng canh hoặc quảng canh cải tiến, 4: nuôi tôm_lúa )
- Các nhóm yếu tố khác: Trong việc nuôi tôm sú, ngoài các yếu tố trên thì yếu
tố xử lý ao, thuốc phòng bệnh, yếu tố xăng dầu, điện chạy máy cũng hết sức quan trọng ảnh hưởng đến năng suất của con tôm Việc xử lý ao, phòng bệnh, có đủ điện
và xăng dầu chạy máy sẽ giúp tăng năng suất Tuy nhiên một sự đầu tư không hiệu quả sẽ có thể làm giảm năng suất Từ cơ sở đó, việc đưa biến chi phí phục vụ cho việc xử lý ao (1.000đồng/1.000m2), chi phí cho thuốc phòng chữa bệnh (1.000 đồng/1.000m2), chi phí cho xăng dầu, điện chạy máy (1.000 đồng/1.000m2 ) là hết sức cần thiết
Đối với các biến như yếu tố yếu tố khuyến nông, tuổi và trình độ của chủ hộ không được đề cập do hạn chế trong vấn đề thu thập thông tin
1.3 Mô hình thực nghiệm
Để lượng hóa mối quan hệ tương quan giữa năng suất (sản lượng) của hộ nuôi tôm sú với các yếu tố đầu vào có liên quan, hàm Cobb-Douglas được sử dụng
với mô hình cụ thể như sau:
Trong đó, Y là biến năng suất tôm sú của hộ gia đình (kg/ 1.000m2 ) Y là biến phụ thuộc của mô hình
X1: Lượng con giống (1.000 con/1.000m2)
X7: Chi phí cho thuốc phòng chữa bệnh (1.000 đồng/1.000m2)
X8: Chi phí cho xăng dầu, điện chạy máy (1.000 đồng/1.000m2
)
X9: Chi phí khấu hao tài sản cố định (1.000 đồng/1.000m2)
X10: Chi phí dụng cụ nhỏ (1.000 đồng/1.000m2)
Trang 30X11: Chi phí thuê ngoài (1.000 đồng/1.000m2)
X12: Chi phí lao động tự làm của hộ (1.000 đồng/1000m2
)
X13: (Phương thức nuôi tôm) là biến về phương thức nuôi tôm chủ yếu ( 1: thâm canh, 2: bán thâm canh, 3:quảng canh hoặc quảng canh cải tiến, 4: nuôi tôm_lúa )
X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7, X8 X9, X10, X11, X12, X13 là các biến độc lập của mô hình
Từ cơ sở các biến độc lập và phụ thuộc nêu trên, tác giả đề xuất sử dụng dạng hàm Cobb – Douglas để ước lượng hàm sản xuất của con tôm sú, đó là dạng hàm thường được sử dụng trong việc ước lượng hàm sản xuất trong nông nghiệp để làm
cơ sở phân tích mối quan hệ giữa năng suất và các nhập lượng đầu vào của quá trình nuôi tôm sú của nông hộ, làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá ở các bước tiếp theo
- Mô hình thực nghiệm dạng hàm Cobb-Douglas:
Ta có mô hình tổng quát: Qt = c K tα L tβ
Dạng hàm Cobb-Douglas trên không thể ước lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) Tuy nhiên, nếu lấy logarit cả hai vế (logarit kép) thì mối quan hệ bây giờ là tương quan tuyến tính và có thể ước lượng bằng OLS
Hàm sản xuất được trình bày dưới dạng tuyến tính sau:
Ln(Y) = b 0 + b1 ln(X1) + b2 ln(X2) + b3 ln(X3) + b4 ln(X4) + b5 ln(X5) + b6 ln(X6) + b7 ln(X7) + b8 ln(X8) + b9 ln(X9) + b10 ln(X10) + b11 ln(X11) + b12
ln(X12) + b13 ln(X13) +ε
b1, b2, b3, b4, b5, b6, b7, b8, b9, b10, b11, b12, b13: là các hệ số co giãn của hàm sản xuất Các hệ số này sẽ được ước lượng bởi phương pháp hồi qui và ε là sai số ngẫu nhiên
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Các nghiên cứu về vấn đề nông nghiệp, năng suất và hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp luôn là những tâm điểm quan tâm của các nhà nghiên cứu Với đa phần
Trang 31người dân sống ở vùng nông thôn, nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp thì việc đề xuất ra những phương án giúp sản xuất nông nghiệp hiệu quả là hết sức cần thiết
Phương thức nuôi tôm sú nào ở hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè mang lại hiệu quả kinh tế cao? Đây là những vấn đề mà các nông hộ đều mong muốn đạt được
Trong quá trình nuôi tôm sú, các yếu tố đầu vào ảnh hưởng nhiều đến năng suất nuôi tôm sú của nông hộ luôn là vấn đề cần phải quan tâm Do đó việc nghiên
cứu và vận dụng vào thực tế nuôi tôm sú ở hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè là hết sức cần thiết
Các lý thuyết về sản xuất nông nghiệp, lý thuyết về kinh tế hộ, lý thuyết về hiệu quả kinh tế, lý thuyết năng suất, đặc biệt là lý thuyết và các ứng dụng của hàm sản xuất Cobb – Douglas được sử dụng làm cơ sở lý thuyết của đề tài Hai công trình nghiên cứu của các tác giả ở huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế có liên quan đến đề tài, đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề tài này kế thừa
Trang 32CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản của Thành phố Hồ Chí Minh:
Do đặc điểm tính chất của ngành nông, lâm, thủy sản nói chung và ngành
thủy sản nói riêng luôn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu thời tiết, môi trường tự
nhiên, yếu tố thị trường (đầu vào, đầu ra ) luôn biến động là nguyên nhân chủ yếu
ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn các mô hình đầu tư sản xuất phù hợp thích nghi
với các điều kiện tự nhiên
Qua 5 năm giai đoạn 2006-2010, nuôi trồng thủy sản thành phố Hồ Chí Minh
được người dân tập trung chủ yếu nuôi là tôm sú, tôm thẻ chân trắng, các loại cá thịt
(cá rô phi, rô đồng, cá kèo, cá điêu hồng, cá trê…), nuôi nhuyễn thể (nghêu, sò,
hào ) Bên cạnh đó, việc phát triển một số mô hình sản xuất được người dân mở
rộng đa dạng nhiều chủng loài và thực hiện nuôi có kết quả khá cao
Sản lượng thủy sản được nuôi trồng có xu hướng giảm từ 35.340 tấn vào
năm 2006 xuống 21.797 tấn vào thời điểm năm 2009, tăng 961 tấn vào năm 2010
Bảng 2.1 Sản lượng nuôi thủy sản của Thành Phố
Đvt 2006 2007 2008 2009 2010 Nuôi trồng
Tấn Tấn Tấn Triệu con
35.340 7.438 10.682 8.566
220 15.600
36
38.189 10.128 9.581 7.700
230 15.782
45
27.814 9.962 8.621 5.594
222 8.678
52
21.797 9.130 9.101 3.464
266 2.931
53
22.758 7.995 10.457 3.884
150 3.806
53
Nguồn: Báo cáo tình hình thủy sản giai đoạn 2006-2010
của Cục Thống kê TP HCM
Trang 33Diện tích nuôi trồng thủy sản ở Thành phố Hồ Chí Minh tập trung ở Quận 9,
Quận 2, Quận 8, Quận 12, Huyện Bình Chánh, Huyện Củ Chi, Huyện Nhà Bè,
Huyện Cần Giờ
Qua 5 năm giai đoạn 2006-2010, diên tích nuôi trồng thủy sản giảm rõ rệt,
bình quân hàng năm giảm 6,19% Năm 2010 đạt 8.248 ha, giảm 5,8% so với cùng
kỳ năm 2009, năm 2006 diện tích nuôi trồng thủy sản từ 10.648 ha giảm mạnh
xuống 8.754 ha năm 2007 (giảm 1.894 ha)
Bảng 2.2 Diện tích mặt nước nuôi thủy sản của Thành phố
Đvt 2006 2007 2008 2009 2010
Số hộ nuôi thủy sản
Diện tích mặt nước nuôi
Diện tích mặt biển nuôi
Hộ
Ha
Ha
7.796 8.262 2.386
7.308 7.892 1.962
5.217 7.954 1.387
5.703 7.617 1.139
5.888 7.044 1.204
Nguồn: Báo cáo tình hình thủy sản giai đoạn 2006-2010
của Cục Thống kê TP HCM
Sau 5 năm tính từ 2006 đến năm 2010 thì toàn Thành phố có 5.888 hộ nuôi
trồng thủy sản (giảm 1.908 hộ so với năm 2006) với tổng diện tích nuôi trồng thủy
sản 8.248 ha (giảm 2.400 ha so với 2006) Trong đó diện tích mặt nước nuôi 7.044
ha (giảm 1.218 ha so với năm 2006), diện tích mặt biển nuôi là 1.204 ha (giảm
8.754 5.396 2.031
9.341 5.891 2.051
8.756 5.842 1.462
8.248 5.898 1.297
Trang 341.855 1.503
1.637 1.813
1.243 1.671
1.190 1.160
Nguồn: Báo cáo tình hình thủy sản giai đoạn 2006-2010
Biểu đồ 2.1 Diện tích nuôi thủy sản 2006-2010
Trang 35Diện tích nuôi cá năm 2007 đạt 1.855 ha, tăng 20,22% so với cùng kỳ năm
2006 Từ 2008 – 2010, diện tích giảm đều qua các năm, đạt 1.190 ha năm 2010 giảm 4,26% so với cùng kỳ năm 2009, tỉ lệ giảm bình quân hàng năm 6,29 %
Diện tích nuôi tôm theo số liệu điều tra trong những năm gần đây xu hướng giảm dần Năm 2007, diện tích nuôi trồng tôm tăng cao đạt 7.796 ha ( tăng 1.615 ha
so với cùng kỳ năm 2006) Năm 2009, nuôi trồng tôm diện tích bị thu hẹp còn 5.217
ha, vào thời điểm năm 2010 tỉ lệ tăng lên 0,96 % so với cùng kỳ năm 2009 Diện tích nuôi tôm chủ yếu giảm ở huyện Nhà Bè Cụ thể diện tích nuôi tôm sú giảm do tình hình nuôi tôm sú không còn thuận lợi, bị ảnh hưởng nhiều tại xã Hiệp Phước Đất đai nơi đây nằm cạnh các sông, rạch bị nhiễm phèn, mặn quanh năm và môi trường bị ô nhiễm Riêng huyện Cần Giờ phần diện tích nuôi tôm sú cũng giảm gần
400 ha so với năm 2008 Một số hộ chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng (phần diện tích nuôi tôm chân trắng hơn 500 ha)
Diện tích nuôi trồng thủy sản (nghêu, sò huyết, cá cảnh …) cũng có xu hướng giảm dần Năm 2010, diện tích còn 1.160 ha, giảm một nửa so với năm 2006,
tỉ lệ thay đổi bình quân trong 5 năm vừa qua 7,8% Năm 2007, diện tích thủy sản giảm 48,6% so với cùng kỳ năm 2006 là 1.503 ha Diện tích thủy sản khác năm
2008 tăng 310 ha so với năm 2007
2.1.2 Huyện Cần Giờ :
Tổng quan về điều kiện tự nhiên:
Ưu thế lớn của huyện Cần Giờ trong sự phát triển kinh tế xã hội là quỹ đất còn nhiều, môi trường thiên nhiên trong lành và đặc biệt đây là một đơn vị hành chính thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, một trong trung tâm kinh tế lớn của cả nước, đồng thời giáp ranh với những vùng kinh tế năng động như Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu Cần Giờ đã có những dự án kêu gọi hợp tác đầu tư nước ngoài nhằm khơi dậy những tiềm năng về thiên nhiên, con người
Trang 36Nguồn:http://www.diaoconline.vn/tinchitiet/20/302/ban-do-huyen-can-gio-cua-tp-hcm Hình 2.1 Bản đồ tự nhiên huyện Cần Giờ
Trang 37/
Cơ cấu đất nông nghiệp
Tổng diện tích tự nhiên: 70.421 ha đứng hàng đầu về diện tích của các huyện
ngoại thành và bằng 1/3 diện tích toàn thành phố, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 32.109 ha, đất sông rạch 22.850 ha bằng 32% diện tích toàn huyện Ngoài ra còn có trên 5000 ha diện tích dùng để trồng lúa, cây ăn trái, cói và làm muối
Đất thổ cư, đất công trình công cộng và đất chưa sử dụng chiếm 6.036 ha Hai đặc điểm lớn về đất thổ nhưỡng của Cần Giờ là phèn và mặn, trong đó mặn là chủ yếu Diện tích vùng ngập mặn chiếm tới 56,7% diện tích toàn huyện, tạo nên hệ sinh thái rừng ngập mặn, trong đó chủ yếu là cây đước
Hệ sinh thái rừng và rừng ngập mặn của Cần Giờ đã được phục hồi ổn định
và phát triển tốt sau những thiệt hại nặng nề do chiến tranh tàn phá
Diện tích nuôi trồng thủy sản của thành phố tập trung nhiều ở huyện Cần
Giờ Huyện Cần Giờ trước năm 1998 chỉ độc canh cây lúa vụ Mùa, năng suất rất thấp (trên dưới 2 tấn /ha) và nhiều rủi ro phụ thuộc vào khí hậu, thời tiết Đặc biệt năm 1998 hạn hán xảy ra, độ mặn xâm nhập vào ruộng lúa (trên 40/00) nên gần 90% diện tích lúa bị thất thu, đời sống của bà con nông dân gặp rất nhiều khó khăn (nguồn cục thống kê, 2005)
1 Cơ cấu giá trị sản xuất:
- Khu vực Nông lâm –Thủy sản
- Khu vực Công nghiệp – xây dựng
Tỷ đồng
Tỷ đồng
Tỷ đồng
4.979 1.249 2.502
Trang 38STT Khoản mục ĐVT Năm 2010
Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình KT-XH huyện Cần Giờ năm 2010
Căn cứ vào các chỉ tiêu kinh tế xã hội của huyện Cần Giờ trong năm 2010 cho thấy giá trị sản xuất của huyện do ngành nông lâm thủy sản đóng góp chiếm 25,08%
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu chủ yếu của ngành thủy sản
2010
Thực hiện năm 2009
Thực hiện năm 2010
Trang 39Trong đó: Tôm sú Tấn 4.709 2.916 3.096 65,75 101,15
Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình KT-XH huyện Cần Giờ năm 2010
Tổng quan về tình hình nuôi tôm sú ở huyện Cần Giờ
Chuyển đổi cơ cấu sản xuất để phá thế độc canh cây lúa ở những vùng sản xuất lúa không hiệu quả và chuyển qua nuôi tôm sú đang là xu thế sản xuất mới ở vùng Cần Giờ Từ năm 1998 bà con đã thăm dò nuôi con tôm sú Ngay từ vụ thử nghiệm đầu tiên, con tôm đã cho thấy khả năng có thể dừng chân lâu dài ở đây Cuộc sống của người dân vùng này khá lên nhờ lợi nhuận từ con tôm sú gấp hàng chục lần trồng lúa, trồng rừng Do lợi nhuận từ con tôm sú mang lại nên diện tích đào ao nuôi tôm càng mở rộng
Phát triển nuôi tôm sú ở Cần Giờ chủ yếu là bốn xã ở phía Bắc gồm Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông và Lý Nhơn Đây là vùng trồng lúa một vụ / năm với năng suất rất thấp Chính vì rất thích hợp cho môi trường nuôi tôm sú nên đất vùng này được chuyển hẳn qua nuôi tôm
Biển là nguồn lợi to lớn của Cần Giờ, vì vậy trong cơ cấu phát triển kinh tế của huyện thì ngành thủy sản được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Từ năm 2000 với chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế của huyện, nghề nuôi tôm sú được phát triển mạnh và nhanh chóng thay thế cho vùng đất trồng lúa phèn mặn có năng suất thấp
Từ vài hộ nuôi thử nghiệm theo chương trình khuyến nông đến tháng 12 năm
2010 huyện Cần Giờ đã có 2.008 lượt hộ thả nuôi tôm sú với 403,26 triệu con giống trên diện tích nuôi tôm là 4.722,53 ha, trong đó:
Trang 40+ Nuôi trên ao: có 1.553 lượt hộ thả nuôi 277,34 triệu con giống trên diện tích 1639,82 ha Cụ thể:
+ Nuôi công nghiệp: có 238 lượt hộ thả nuôi 84,49 triệu con giống trên diện tích 221,95 ha
+ Nuôi bán công nghiệp: có 380 lượt hộ thả nuôi 79,56 triệu con giống trên diện tích 394,88 ha
+ Nuôi ruộng: có 935 lượt hộ thả nuôi 113,28 triệu con giống trên diện tích 1.023ha + Nuôi tôm sinh thái: có 455 lượt hộ thả nuôi 125,92 triệu con giống trên diện tích 3.082,7 ha
B ảng 2.6: Sản lượng nuôi tôm huyện Cần Giờ
Đvt: tấn
2.700 3.200 6.096 6.700 6.670 6.996 6.118 4.844 3.060 3.096 (nguồn: Niên giám thống kê huyện Cần Giờ năm 2005-2010)
Sản lượng thu hoạch tôm sú năm 2010 đạt 3.096 tấn trên diện tích 4.295,43 ha đạt 101,15% so với cùng kỳ,
Mô hình công nghiệp: Sản lượng đạt 637 tấn trên diện tích thu hoạch 184,14 ha,
năng suất đạt 3,46 tấn/ha (giảm 0,193 tấn/ha so cùng kỳ)
Mô hình bán công nghiệp: Sản lượng đạt 593 tấn trên diện tích thu hoạch 320,67
ha, năng suất đạt 1,85 tấn/ha (tăng 0,32 tấn/ha so cùng kỳ)
Mô hình ruộng: Sản lượng đạt 612 tấn trên diện tích thu hoạch 707,92 ha, năng
suất đạt 0,87 tấn/ha (không tăng so cùng kỳ)
Mô hình tôm sinh thái: Sản lượng đạt 1.254 tấn trên diện tích thu hoạch 3.082 ha, năng suất đạt 0,41 tấn/ha (không tăng so cùng kỳ)