CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÔNG TY Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tiếp cận vấn đề quản trị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-o0o -
BÙI THỊ THANH THẢO
ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN LÊN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA
CÔNG TY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-o0o -
BÙI THỊ THANH THẢO
ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN LÊN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA
CÔNG TY
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
TP Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Lời đầu tiên, tôi xin cam đoan bài nghiên cứu này là kết quả làm việc của chính cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Uyên Uyên – Giảng viên Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Để hoàn thiện bài viết này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể Trước tiên, tôi xin cảm ơn tập thể Giảng viên trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy cho tôi các kiến thức cơ bản và chuyên sâu về nền kinh tế Tiếp theo, tôi xin cảm ơn cá nhân giáo viên hướng dẫn của tôi là Tiến sĩ Nguyễn Thị Uyên Uyên; cô Uyên đã hướng dẫn nhiệt tình, sâu sát trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu này Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự ủng hộ của cơ quan và gia đình đã tạo điều kiện cho tôi mọi mặt để tôi chuyên tâm nghiên cứu, cùng với sự giúp đỡ của bạn bè đã bổ sung các kiến thức còn thiếu của tôi trong lĩnh vực nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện và trình bày kết quả bài nghiên cứu, do hạn chế về mặt thời gian, số liệu cũng như kiến thức và kinh nghiệm của chính tôi nên không thể tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự hướng dẫn thêm từ Quý thầy cô; sự chia sẻ, đóng góp của người thân, bạn bè và các đọc giả để tôi có thể nghiên cứu tốt hơn nữa
Tp Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 9 năm 2013
TÁC GIẢ
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Tp HCM, ngày 27 tháng 9 năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
Trang 5NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT
Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 2013
Hội đồng xét duyệt
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 4
1.5 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÔNG TY 6
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐÈ TÀI 19
3.1 Phương pháp nghiên cứu 19
3.2 Mô hình nghiên cứu 20
3.3 Mô tả các biến 22
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 23
CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN LÊN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÔNG TY TẠI VIỆT NAM 24
4.1 Thống kê mô tả 24
4.2 Ma trận tương quan 26
4.3 Kết quả hồi quy 29
Trang 74.4 Tóm tắt và đối chiếu kết quả nghiên cứu thu được với các nghiên cứu trên thế
giới 34
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu mới 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 42
Phụ lục 1: Danh sách các công ty khảo sát 42
Phụ lục 2: Số liệu tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2009-2012 50
Phụ lục 3: Thống kê mô tả 50
Phụ lục 4: Ma trận tương quan 50
Phụ lục 5: Kết quả hồi quy 51
Phụ lục 6: Kết quả kiểm định hồi quy dữ liệu bảng theo phương pháp mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model, FEM) 54
Phụ lục 7: Kết quả kiểm định hồi quy dữ liệu bảng theo phương pháp mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects Model, REM) 55
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FFAR Tỉ lệ đầu tư tài chính dài hạn trên tổng tài sản
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 - Tổng hợp kết quả nghiên cứu trước đây về mối tương quan giữa các biến độc lập với khả năng sinh lời công ty 13 Bảng 3.1 - Lĩnh vực/ ngành nghề hoạt động của các công ty trong mẫu nghiên cứu 20 Bảng 4.1 - Thống kê mô tả 24 Bảng 4.2 - Ma trận tương quan 26 Bảng 4.3 - Tác động của quản trị vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lời 29 Bảng 4.4 - So sánh kết quả nghiên cứu của tác giả và nghiên cứu khác đã được thực hiện tại Việt Nam 35
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 - Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và chu kỳ kinh doanh 13
Trang 10TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này xem xét sự ảnh hưởng của việc quản trị từng thành phần vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty tại một thị trường mới nổi là Việt Nam Từ việc sử dụng phương pháp bình phương bé nhất thông thường với dữ liệu của 365 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009 -
2012, kỳ quan sát tính theo năm; bài nghiên cứu rút ra các phát hiện quan trọng sau đây:
(1) Tồn tại mối tương quan phủ định ở mức ý nghĩa cao giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lời (sig<0,01) Điều này có nghĩa là các công ty có thời gian bị khách hàng chiếm dụng vốn càng ngắn thì khả năng sinh lời càng cao và ngược lại;
(2) Tồn tại mối tương quan khẳng định ở mức ý nghĩa cao giữa kỳ trả tiền bình quân
và khả năng sinh lời (sig<0,01) Điều này có nghĩa là thời gian công ty thanh toán cho chủ nợ càng lâu thì khả năng sinh lời càng cao và ngược lại;
(3) Tương tự, việc cố gắng rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng cải thiện khả năng sinh lời của công ty
Kết quả bài nghiên cứu đưa ra một bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng lên khả năng sinh lời của quản trị vốn luân chuyển Do đó, các công ty tại Việt Nam cần chú trọng đến hoạt động quản trị vốn luân chuyển để tạo ra tác động tích cực lên khả năng sinh lời của công ty
Từ khóa: Quản trị vốn luân chuyển, khả năng sinh lời, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt,
thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu chính của bất kỳ công ty nào cũng đều là tối đa hóa khả năng sinh lời, nhưng duy trì tính thanh khoản cũng là một mục tiêu quan trọng Vấn đề là tăng khả năng sinh lời bất chấp tính thanh khoản có thể mang lại những hậu quả nghiêm trọng cho công ty Chẳng hạn như một công ty có thể đạt được doanh số lớn hơn bằng một chính sách tín dụng nới lỏng; khi đó chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài hơn
có thể đạt được một tỷ suất sinh lời cao hơn nhưng công ty có thể gặp phải vấn đề mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Vì vậy, chiến lược của công ty phải
có sự cân bằng giữa hai mục tiêu: khả năng sinh lời và thanh khoản Bởi vì tầm quan trọng của khả năng sinh lời và thanh khoản đều giống nhau như vậy, một mục tiêu này không nên là sự đánh đổi của một mục tiêu khác: nếu chúng ta bỏ qua khả năng sinh lời, chúng ta không thể tồn tại trong một khoảng thời gian dài; ngược lại, nếu chúng ta không quan tâm đến thanh khoản, chúng ta có thể lâm vào tình trạng phá sản khi không thanh toán được các khoản nợ đến hạn Do đó, quản trị vốn luân chuyển đóng một vai trò quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, có thể ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của công ty trong kinh doanh bởi vì quản trị vốn luân chuyển ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty
Nhận thức được tầm quan trọng đó, tác giả thực hiện nghiên cứu về “Ảnh hưởng
của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty” và lấy đó làm
mục tiêu nghiên cứu chính
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm định ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của các công ty được niêm yết tại Việt Nam
Trong nghiên cứu này, tác giả đã tham khảo nhiều nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau và chọn mô hình nghiên cứu về các doanh nghiệp tại Kenya của David M
Trang 12Mathuva (2010) trong bài “The Influence of Working Capital Management
Components on Corporate Profitability: A Survey on Kenya Listed Firms - Ảnh hưởng của các thành phần quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty: khảo sát trên các công ty niêm yết ở Kenya”, để áp dụng nghiên cứu tại Việt Nam Lý do lựa chọn nghiên cứu này là kinh tế Kenya có nhiều nét tương đồng với Việt Nam: 85% dân số sống về nghề nông (Việt Nam 72,6%); công nghiệp khá phát triển với ngành chủ chốt là công nghiệp thực phẩm, hoá dầu, điện và vật liệu xây dựng; GDP bình quân là 780 USD/người/năm – năm 2009 (Việt Nam 835 USD/người/năm – năm 2007)1
Các câu hỏi nghiên cứu chính được đặt ra là:
Một là: những bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa quản trị
vốn luân chuyển với khả năng sinh lời của công ty có kết luận như thế nào và có đồng nhất với nhau không?
Hai là: vận dụng các nghiên cứu này để kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn
luân chuyển với khả năng sinh lời ở Việt Nam So với các nghiên cứu khác, kết quả nghiên cứu tại Việt Nam có gì khác biệt và nguyên nhân của sự khác biệt đó?
1.3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu định lượng với sự hỗ trợ của Eviews 6 Nghiên cứu dựa trên mô hình tác động cố định FEM (Fixed Effect Model) trên dữ liệu bảng (Panel data) để ước lượng mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của công ty
Phạm vi nghiên cứu là 365 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Việt Nam với nhiều ngành nghề hoạt động, thời gian nghiên cứu là 4 năm: từ năm 2009 đến năm
2012, kỳ quan sát tính theo năm
Trang 13
Mô hình được xây dựng với các biến như sau:
Biến phụ thuộc: tỉ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA)
Biến độc lập: chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC), kỳ thu tiền bình quân (ACP), kỳ luân chuyển hàng tồn kho (ICP), kỳ trả tiền bình quân (APP), quy mô công ty (CS), tuổi công ty (AGE), tỉ lệ nợ trên tổng tài sản (LEV), tỉ lệ đầu tư tài chính dài hạn trên tổng tài sản (FFAR) và tỉ lệ tăng GDP (GDPGrow)2
Nguồn số liệu được thu thập dựa trên báo cáo tài chính giai đoạn 2009 - 2012 đã được kiểm toán mà các doanh nghiệp công bố đại chúng Sau đó số liệu được tính toán bằng phần mềm Excell để cho kết quả về các biến
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn này cung cấp một bằng chứng thực nghiệm để đóng góp vào sự hiểu biết
về mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của công ty Dựa vào nền tảng đó, các nhà quản lý có thêm nhiều giải pháp để tạo ra giá trị cho các cổ đông - đặc biệt là tại thị trường mới nổi như Việt Nam
1.5 Bố cục luận văn
Tác giả trình bày nội dung bài nghiên cứu theo thứ tự như sau:
Chương 1 : Giới thiệu đề tài
Tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp
và phạm vi nghiên cứu, cũng như giới thiệu sơ lược bố cục luận văn
Chương 2 : Bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của quản trị vốn
luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty
Trang 14
Chương này trình bày, tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu trên thế giới
Từ đó, tác giả rút ra cơ sở lý luận cho nghiên cứu tại Việt Nam
Chương 3 : Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu, cũng như mô tả các biến
sử dụng trong bài nghiên cứu được trình bày cụ thể trong chương này
Chương 4 : Kiểm định sự ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng
sinh lời của công ty tại Việt Nam
Chương này trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu của tác giả, đồng thời so sánh từng kết quả thu được với bài nghiên cứu mà tác giả đã áp dụng Sau đó, tác giả tiến hành đối chiếu kết quả này với các nghiên cứu khác trên thế giới và nghiên cứu tại Việt Nam đã công bố năm 2010 để phân tích nguyên nhân khác biệt giữa hai giai đoạn nghiên cứu
Chương 5 : Kết luận
Chương này tóm tắt lại kết quả nghiên cứu và khẳng định vai trò của quản trị vốn luân chuyển trong tài chính danh nghiệp Những điểm còn hạn chế của luận văn cũng được trình bày để làm tiền đề cho các nghiên cứu sau này
Trang 15CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ KHẢ NĂNG SINH
LỜI CỦA CÔNG TY
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tiếp cận vấn đề quản trị vốn luân chuyển bằng nhiều cách: trong khi một số học giả nghiên cứu việc quản trị hàng tồn kho sao cho thích hợp hoặc tối ưu, thì một số học giả khác nghiên cứu việc quản trị khoản phải thu để đưa ra một chính sách tối ưu nhằm tối đa hóa khả năng sinh lời Theo Deloof (2003), cách thức vốn luân chuyển được quản trị có tác động đáng kể đến khả năng sinh lời của các công ty Vì quản trị vốn luân chuyển được mô tả tốt nhất bằng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (Ioannis Lazaridis và Dimitrios Tryfonidis, 2006) nên các nghiên cứu trước đây đều cố gắng thiết lập mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
Trong mục này, tác giả sẽ trình bày tóm tắt các nghiên cứu tại một số nước trên thế giới về ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty; bao gồm các nghiên cứu tại Hy Lạp, Tây Ban Nha, Việt Nam, Mỹ, Kenya, Pakistan,
Ấn Độ và Iran theo trình tự thời gian từ quá khứ cho tới hiện tại, cụ thể như sau:
Năm 2006, Ioannis Lazaridis và Dimitrios Tryfonidis trong bài “Relationship
between working capital management and profitability of listed companies in the Athens stock exchange - Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens” đã sử dụng một mẫu gồm 131 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens trong giai đoạn 2001 – 2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại tương quan phủ định có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Đồng thời, khả năng sinh lời có tương quan khẳng định ở mức ý nghĩa cao với kỳ trả tiền bình quân, điều này có thể dẫn đến kết luận rằng các công ty lợi dụng thời hạn tín dụng của các nhà cung cấp càng lâu thì khả năng sinh lời càng cao Ngoài ra, mối tương quan phủ
Trang 16định có ý nghĩa giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lời cho thấy các công ty
bị khách hàng chiếm dụng vốn càng lâu thì khả năng sinh lời càng thấp Tương tự như vậy mối tương quan phủ định có ý nghĩa giữa kỳ luân chuyển hàng tồn kho và khả năng sinh lời cho thấy trong trường hợp doanh số giảm đột ngột đi kèm với sự yếu kém trong quản lý hàng tồn kho sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, giảm khả năng sinh lời Cuối cùng, các tác giả nhận định các nhà quản lý có thể tạo ra lợi nhuận cho công ty bằng cách xử lý đúng đắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và giữ mỗi thành phần đến một mức tối ưu
Năm 2007, Pedro Juan Garcia-Teruel và Pedro Martinez-Solano thực hiện nghiên
cứu “Effects of working capital management on SME profitability - Tác động của
quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của các công ty vừa và nhỏ” ở thị trường Tây Ban Nha Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời công ty vừa và nhỏ Hầu hết tài sản của công ty vừa và nhỏ là các loại tài sản ngắn hạn và
nợ ngắn hạn là nguồn tài chính bên ngoài quan trọng Trong thực tế mẫu quan sát gồm 8.872 công ty vừa và nhỏ với số liệu giai đoạn 1996-2002 thì tài sản ngắn hạn chiếm 69,48% tổng tài sản, nợ ngắn hạn chiếm 52,82% nợ phải trả Các tác giả tìm thấy mối tương quan phủ định có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ trả tiền bình quân Điều này chứng minh rằng các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho cổ đông bằng cách giảm thời gian thu tiền khách hàng và mức dự trữ hàng tồn kho Cuối cùng, các tác giả kết luận công ty vừa và nhỏ cần phải quan tâm đến việc quản trị vốn luân chuyển, vì họ cũng có thể tạo ra giá trị công ty bằng cách giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ở mức tối thiểu hợp lý
Tiên phong trong nghiên cứu doanh nghiệp niêm yết trên thị thường chứng khoán
Việt Nam, năm 2010, tác giả Huỳnh Phương Đông và Jyh-tay Su trong bài “The
relationship between working capital management and profitability: a Vietnam case
- Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời: trường hợp tại
Trang 17Việt Nam” đã sử dụng một mẫu gồm 131 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn năm 2006 – 2008 Nghiên cứu phát hiện quan hệ phủ định có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt; có nghĩa là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài hơn thì khả năng sinh lời thấp hơn Vì vậy, các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt trong một phạm vi hợp lý Kết quả từ phân tích mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam cũng phát hiện tương quan phủ định có ý nghĩa cao giữa kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và khả năng sinh lời Vì vậy, tác giả cho rằng các nhà quản lý có thể tăng khả năng sinh lời bằng cách giảm số ngày thu tiền và dự trữ hàng tồn kho Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các công ty có khả năng sinh lời càng cao thì càng trì hoãn việc thanh toán các khoản nợ của họ Cuối cùng, nhà quản trị phải tạo ra giá trị thực cho cổ đông bằng cách công bố đầy đủ chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và duy trì các thành phần của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ở mức tối ưu
Khi nghiên cứu tại thị trường Mỹ, năm 2010, nhóm tác giả Amarjit Gill, Nahum
Biger và Neil Mathur trong bài “The relationship between working capital
management and profitability: Evidence from the United States - Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển với khả năng sinh lời khi khảo sát các công ty niêm yết tại Mỹ” đã tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
và khả năng sinh lời; theo đó, nhà quản lý có thể tăng khả năng sinh lời cho công ty bằng việc xử lý một cách đúng đắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khoản phải thu ở mức tối ưu Mẫu nghiên cứu gồm 88 công ty sản xuất thuộc 5 lĩnh vực khác nhau:
thiết bị y tế, công nghiệp, hóa chất, năng lượng và lương thực Các công ty này đều
được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán New York; thời gian nghiên cứu là 3 năm, giai đoạn 2005- 2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy không có tương quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian thanh toán nợ và khả năng sinh lời Đặc biệt, trái ngược với các quan điểm truyền thống và các nghiên cứu khác về mối tương quan
Trang 18phủ định, nghiên cứu này phát hiện mối tương quan khẳng định giữa chu kì chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lời
Nhóm tác giả còn đưa ra đề nghị các công ty phải duy trì một số dư tiền mặt hợp lý
để đảm bảo cho nhu cầu thanh toán vì các quyết định về tín dụng thương mại, sản xuất và tiền mặt có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc quản trị vốn luân chuyển Những phát hiện của nghiên cứu này khuyến nghị rằng các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông của họ bằng việc giảm số ngày thu tiền khách hàng Ngoài ra mối tương quan phủ định giữa các khoản phải thu khách hàng và khả năng sinh lời của công ty cũng cho rằng các công ty có khả năng sinh lời thấp sẽ theo đuổi việc giảm tài khoản phải thu khách hàng trong nỗ lực giảm khoảng cách trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của họ Cuối cùng, nhóm tác giả cũng khẳng định rằng lợi nhuận có thể tăng thêm nếu công ty quản trị vốn luân chuyển hiệu quả hơn
Cũng trong năm 2010, David M Mathuva trong bài “The Influence of Working
Capital Management Components on Corporate Profitability: A Survey on Kenya Listed Firms - Ảnh hưởng của các thành phần quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty: Khảo sát trên các công ty niêm yết ở Kenya” đã xem xét
sự ảnh hưởng của việc quản trị từng thành phần vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lời của công ty Mẫu nghiên cứu gồm 30 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nairobi, dữ liệu sử dụng trong giai đoạn 1993 – 2008 Dựa vào các phát hiện quan trọng từ bài nghiên cứu, tác giả đưa ra các kết luận:
(1) Việc quản trị vốn luân chuyển của một công ty có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách giảm số ngày thu tiền - có nghĩa là các công ty sinh lời cao hơn tốn
ít thời gian hơn để thu hồi tiền mặt từ khách hàng của họ;
(2) Việc quản trị vốn luân chuyển cũng có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách tăng mức dự trữ hàng tồn kho đến một mức hợp lý Điều này có nghĩa là công
ty nào duy trì mức dự trữ tồn kho hợp lý sẽ giảm được chi phí phát sinh do những gián đoạn tiềm năng trong quá trình sản xuất và thua lỗ trong kinh doanh do khan
Trang 19hiếm sản phẩm; từ đó, công ty giảm chi phí cung ứng và bảo vệ công ty khỏi các biến động về giá Các công ty cũng có thể kéo dài thời gian thanh toán cho chủ nợ miễn là họ không gây căng thẳng trong mối quan hệ của mình với các chủ nợ này; (3) Các công ty có thể nhận được các lời thế cạnh tranh lâu dài bằng cách tận dụng các nguồn lực của mình một cách hữu hiệu và hiệu quả thông qua việc rút ngắn một cách cẩn thận chu kỳ chuyển đổi tiền mặt đến điểm cực tiểu Như vậy, tỷ suất sinh lời của công ty được kỳ vọng sẽ gia tăng
Năm 2011, Mustafa Afeef trong nghiên cứu “Analyzing the Impact of Working
Capital Management on the Profitability of SME’s in Pakistan - Phân tích tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của các công ty vừa và nhỏ ở Pakistan” đã lập luận rằng việc quản trị hiệu quả vốn luân chuyển có thể có một tác
động sâu sắc hơn đến khả năng sinh lời của các công ty nhỏ hơn là các công ty lớn
vì một tỷ lệ đáng kể trong tổng tài sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là tài sản ngắn hạn và một phần khá lớn trong tổng nợ phải trả của họ là nợ ngắn hạn Mẫu nghiên cứu gồm 40 doanh nghiệp vừa và nhỏ Pakistan niêm yết trên TTCK Karachi trong thời gian sáu năm: từ năm 2003 đến năm 2008 Những phát hiện từ nghiên cứu cho rằng quản trị vốn luân chuyển đã có ảnh hưởng rõ ràng đến khả năng sinh lời của các công ty vừa và nhỏ Dựa trên các phân tích tương quan và phân tích hồi quy của dữ liệu, tác giả đưa ra kết luận: ma trận tương quan cho thấy có tương quan phủ định mạnh mẽ giữa kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân đến khả năng sinh lời của các công ty vừa và nhỏ Tuy nhiên, không có tương quan ở mức ý nghĩa cao được tìm thấy giữa khả năng sinh lời và kỳ trả tiền bình quân, chu
kỳ chuyển đổi tiền mặt và đòn bẩy tài chính
Cũng tại Pakistan, tháng 12 năm 2011, nhóm giáo sư Ahsen Saghir, Faisal
Mehmood Hashmi và Muhammad Nehal Hussain tại đại học Muhammad Ali Jinnah
đã công bố nghiên cứu “Working capital management and profitability: evidence
from Pakistan firms - Quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời: bằng chứng từ các doanh nghiệp tại Pakistan” Mẫu nghiên cứu gồm 60 công ty dệt may niêm yết
Trang 20tại TTCK Karachi trong giai đoạn 2001 - 2006 Ngành dệt may được chọn bởi công nghiệp đồ trang sức và dệt may chiếm gần 60% kim ngạch xuất khẩu của Pakistan3 Mục đích của nghiên cứu là thiết lập một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, các thành phần của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại tương quan phủ định có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Hơn nữa các nhà quản lý có thể cải thiện khả năng sinh lời cho các công ty của họ bằng cách xử lý đúng đắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và giữ thời gian thu tiền bình quân, thời gian trả tiền bình quân,
và thời gian luân chuyển hàng tồn kho đến mức tối ưu
Dựa vào mối tương quan giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời mà nghiên cứu rút ra, có vẻ như là khả năng sinh lời quyết định cách mà nhà quản lý hoặc chủ sở hữu công ty sẽ hành động như thế nào về việc quản trị vốn luân chuyển của công ty Nhóm tác giả quan sát thấy rằng khả năng sinh lời thấp có liên quan với sự gia tăng trong thời gian thanh toán nợ Điều đó có thể dẫn đến kết luận rằng các công ty có khả năng sinh lời thấp chờ đợi lâu hơn để trả các hóa đơn của họ, lợi dụng thời hạn tín dụng của các nhà cung cấp Mối tương quan phủ định giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lời của các công ty cho thấy rằng các công ty ít khả năng sinh lời hơn sẽ theo đuổi sự sụt giảm của tài khoản phải thu trong một nỗ lực
để giảm bớt khoảng cách tiền mặt của họ trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Kết quả nghiên cứu xây dựng được mối quan hệ có ý nghĩa thống kê, do đó các nhà quản lý
có thể tăng khả năng sinh lời cho các công ty của họ bằng cách xử lý đúng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và giữ mỗi thành phần đến một mức tối ưu
Không nghiên cứu tập trung vào ngành riêng biệt như nghiên cứu trên, nghiên cứu
của Arunkumar O.N và T.Radharamanan vào năm 2012 trong bài “Analysis of
effects of working capital management on corporate profitability of Indian Manufacturing Firms - Phân tích hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển đối với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp sản xuất Ấn Độ” đi vào các công ty trong
Trang 21lĩnh vực sản xuất Mẫu phân tích gồm 1.198 công ty, thời gian nghiên cứu là 5 năm,
từ niên độ 2005-2006 đến niên độ 2009-20104 Nghiên cứu này phân tích tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp sản xuất Kết quả chỉ ra rằng có mối tương quan khẳng định giữa khả năng sinh lời và kỳ trả tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khả năng sinh lời sẽ cải thiện khi chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ngắn hơn Bài nghiên cứu kết luận rằng: trong bối cảnh các công ty ở Ấn Độ, các công ty phải duy trì kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ trả tiền bình quân sao cho tương đối dài; đầu tư cho tài sản ngắn hạn phải tương đương nợ ngắn hạn để nâng cao kết quả kinh doanh
Năm 2012, tác giả Abbasali Pouraghajan và Milad Emamgholipourarchi trong bài
“Impact of Working Capital Management on Profitability and Market Evaluation: Evidence from Tehran Stock Exchange - Tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời và giá trị thị trường: bằng chứng từ các công ty trên TTCK Tehran” đã đặt ra mục tiêu nghiên cứu mới: cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời và giá trị thị thường của các công ty niêm yết trên TTCK Tehran Các tác giả thu thập 400 mẫu quan sát của 80 công ty trong giai đoạn 2006 - 2010 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của công ty - nhưng không tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa với giá trị thị trường của công ty Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhà quản trị có thể làm tăng khả năng sinh lời của các công ty thông qua việc giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và tỉ lệ nợ
Như vậy, với các thành phần của vốn luân chuyển là: các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả; nên việc duy trì một sự cân bằng tối ưu giữa các thành phần này là mục tiêu chính của quản trị vốn luân chuyển
Trang 22
Mối tương quan giữa các thành phần vốn luân chuyển được thể hiện ở hình vẽ sau:
Hình 2.1: Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và chu kỳ kinh doanh
Nguồn: Ross et al (2003)
Quyết định đầu tư bao nhiêu vào các phải thu khách hàng, hàng tồn kho và bao nhiêu cho tín dụng thương mại từ nhà cung cấp được phản ánh trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt – biểu thị cho số ngày trung bình từ khi công ty thanh toán cho nhà cung cấp đến khi công ty thu hết tiền nợ của khách hàng Vì quản trị vốn luân chuyển được mô tả tốt nhất bằng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt nên các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới nêu trên đều xây dựng mô hình để tìm ra mối quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với khả năng sinh lời của công ty Để đánh giá khả năng sinh lời của công ty, các nghiên cứu thường sử dụng tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản Các biến độc lập được
sử dụng phổ biến ngoài chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt là: tỉ lệ nợ trên tổng tài sản, tỉ lệ đầu tư tài chính dài hạn trên tổng tài sản, quy mô công ty, tuổi công ty… Để có sự so sánh giữa các nghiên cứu, dưới đây là bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty:
Thời gian
Tiền mặt trả cho hàng tồn kho
Hàng tồn kho bán Hàng tồn kho mua
Kỳ trả tiền
Chu kỳ kinh doanh
Tiền mặt nhận được
Trang 23Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả nghiên cứu trước đây về mối tương quan giữa các
biến độc lập với khả năng sinh lời của công ty
Kết quả hồi quy về mối quan hệ với
khả năng sinh lời của công ty
Kết luận của tác giả
Kỳ thu
tiền bình
quân
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho
Kỳ trả tiền bình quân
Chu kì chuyển đổi tiền mặt
Hy Lạp
- Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
- Giữ các thành phần của vốn luân chuyển ở mức tối ưu
Tây Ban
Nha (2007) (-) *** (-) *** (-)*** (-) ***
- Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
- Giảm thời gian thu tiền và mức tồn kho
Việt Nam
(2010) (-) *** (-) *** (+) *** (-) ***
- Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
- Giữ các thành phần của vốn luân chuyển ở mức tối ưu
Mỹ
Không tương quan
(+) **
- Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
- Giảm thời gian thu tiền
Kenya
(2010) (-) *** (+) *** (+) *** (-) ***
- Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
- Giảm thời gian thu tiền, tăng mức tồn kho và kéo dài thời gian thanh toán
- Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
- Giữ các thành phần của vốn luân chuyển ở mức tối ưu
Ấn Độ
- Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
- Tăng mức tồn kho và kéo dài thời gian thanh toán
(***, ** và *: tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%)
Trang 24Các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới đều cho thấy rằng tồn tại ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty; trong đó chu kỳ chuyển đổi tiền mặt được sử dụng như một thước đo hiệu quả quản trị vốn luân chuyển Trong các nghiên cứu này, ảnh hưởng của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần được phân tích riêng để thấy rõ từng mối tương quan nhằm đưa ra kiến nghị cho các nhà quản trị để cải thiện hiệu quả hoạt động công ty, đạt mục tiêu tối đa hóa khả năng sinh lời Tuy nhiên, các nghiên cứu được tiến hành ở nhiều quốc gia khác nhau với hình hình kinh tế khác nhau, lại dựa trên mô hình kinh tế khác nhau, dẫn đến kết quả nghiên cứu có sự khác biệt; cụ thể là:
(1) Xét mối tương quan có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt: các nghiên cứu đưa ra tương quan phủ định Mối tương quan này được giải thích rằng việc tối thiểu hóa đầu tư vào tài sản ngắn hạn có thể giúp thúc đẩy gia tăng khả năng sinh lời Điều này đảm bảo rằng tiền mặt không được duy trì trong kinh doanh quá lâu và được dùng để tạo ra lợi nhuận cho công ty Ngoài ra, mối tương quan này cũng phù hợp với quan điểm cho rằng độ trễ thời gian giữa chi tiêu để mua nguyên vật liệu và thu tiền từ bán các thành phẩm có thể quá lâu và việc làm giảm độ trễ thời gian này sẽ làm gia tăng khả năng sinh lời (Deloof, 2003) Tuy nhiên, có riêng nghiên cứu tại Mỹ năm 2010 đưa ra tương quan khẳng định có
ý nghĩa Một chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài hơn còn có thể gia tăng khả năng sinh lời cho công ty bởi vì sẽ dẫn đến doanh thu cao hơn – nếu chi chi phí đầu tư vào vốn luân chuyển thấp hơn và tăng chậm hơn so với những lợi ích của lưu trữ nhiều hàng tồn kho và cấp thêm tín dụng thương mại cho khách hàng (Deloof, 2003) Nghiên cứu này khảo sát các công ty sản xuất tại Mỹ giai đoạn 2005-2007 là giai đoạn liền kề với khủng hoảng tài chính năm 2008 - 2010 Trước cuộc khủng hoảng này, kinh tế Mỹ tăng trưởng nhanh có thể khiến các công ty đẩy mạnh sản xuất, dễ dàng hơn trong điều kiện tín dụng thương mại… để tăng doanh thu, từ đó nâng cao khả năng sinh lời – nhưng họ phải chấp nhận chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài hơn
Trang 25(2) Xét mối tương quan có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và kỳ thu tiền bình quân: tất cả các nghiên cứu đều thống nhất rằng có tương quan phủ định Kết quả
này chỉ ra rằng các công ty có thể cải thiện tỷ suất sinh lời bằng cách giảm thời gian thu tiền khách hàng; ám chỉ rằng chính sách tín dụng càng thắt chặt - tức cho khách hàng ít thời gian hơn để thanh toán nợ thì sẽ cải thiện hiệu quả hoạt động Kết quả cũng có thể giải thích rằng khi thời gian mà khách hàng thanh toán nợ càng ngắn thì càng có nhiều tiền mặt có sẵn để bổ sung thêm hàng tồn kho, dẫn đến việc tăng thêm doanh thu mà kết quả là một sự gia tăng trong tỷ suất sinh lời
(3) Xét mối tương quan có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và kỳ luân chuyển hàng tồn kho: các nghiên cứu đều đưa ra kết quả không thống nhất Trong khi
nghiên cứu ở Mỹ và Kenya cho kết luận là tương quan khẳng định; thì các nghiên
cứu ở Tây Ban Nha, Việt Nam và Pakistan lại cho kết luận về tương quan phủ định Mối tương quan khẳng định giữa khả năng sinh lời và kỳ luân chuyển hàng tồn kho
có thể được giải thích rằng các công ty duy trì mức tồn kho cao sẽ giảm bớt chi phí phát sinh do những gián đoạn tiềm năng trong quá trình sản xuất Điều này giúp ngăn ngừa thua lỗ trong kinh doanh do khan hiếm sản phẩm và giúp giảm chi phí cung ứng hàng hóa; đồng thời các công ty được bảo vệ khỏi các biến động giá gây
ra do các yếu tố kinh tế vĩ mô bất lợi
Ngược lại, mối tương quan phủ định giữa khả năng sinh lời và kỳ luân chuyển hàng tồn kho được Huỳnh Phương Đông và Jyh-tay Su (2010) giải thích rằng nếu hàng hóa cần nhiều thời gian hơn để tiêu thụ thì khả năng sinh lời sẽ chịu ảnh hưởng bất lợi
(4) Xét mối tương quan có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và kỳ trả tiền bình quân: tương tự như trên, các nghiên cứu đưa ra kết quả không thống nhất Tương
quan khẳng định có ý nghĩa được tìm thấy trong nghiên cứu tại Hy Lạp, Việt Nam, Kenya và Ấn Độ; trong khi nghiên cứu tại Tây Ban Nha và Pakistan có kết quả trái ngược
Trang 26Tương quan khẳng định có thể được giải thích rằng việc trì hoãn thanh toán cho các nhà cung cấp đảm bảo cho công ty có thêm tiền mặt để mua nhiều hàng tồn kho hơn
để bán, vì vậy làm gia tăng doanh thu, dẫn đến tăng lợi nhuận
Ngược lại, trong nghiên cứu tại Tây Ban Nha công bố năm 2007, tác giả Pedro Juan Garcia-Teruel và Pedro Martinez-Solano đã lý giải mối tương quan phủ định giữa
kỳ trả tiền bình quân và khả năng sinh lời khá rõ ràng Các tác giả cho rằng kết quả nghiên cứu thu được có thể bị ảnh hưởng bởi các vấn đề nội sinh; trong chừng mực nào đó, kỳ trả tiền bình quân có thể bị ảnh hưởng bởi khả năng sinh lời - là biến phụ thuộc trong mô hình Mối tương quan phủ định này có thể là hậu quả của một công
ty có nhiều vấn đề hơn và khả năng sinh lời thấp hơn, bị giảm sút tín nhiệm tín dụng
từ các nhà cung cấp
Từ những kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác nhau, các tác giả đưa ra những giải pháp khác nhau cho các nhà quản lý trong hoạt động quản trị vốn luân chuyển – được tóm tắt tại phần kết luận bảng 2.1 nêu trên Các tác giả đều có sự đồng thuận trong việc phải rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Tuy nhiên, trong khi một số tác
giả đề nghị giữ các thành phần của vốn luân chuyển ở mức tối ưu (Ioannis Lazaridis
2006, Huỳnh Phương Đông 2010, David M Mathuva 2010, Mustafa Afeef 2011);
thì tác giả khác lại đề nghị chỉ cần quản trị khoản phải thu (Amarjit Gill 2010), hoặc quản trị khoản phải thu và hàng tồn kho (Pedro Juan Garcia-Teruel 2007), hoặc quản trị hàng tồn kho và khoản phải trả (Arunkumar O.N 2012)
Mức tối ưu của vốn luân chuyển là một sự cân bằng giữa rủi ro và hiệu quả Do đó,
ba thành phần của vốn luân chuyển là các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả cần được giám sát liên tục Việt Nam là một thị trường mới nổi, các nhà quản trị chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản lý doanh nghiệp Chẳng hạn đối với chính sách tín dụng thương mại: rõ ràng là quản lý thành công các nguồn lực sẽ tăng khả năng sinh lời, nhưng làm thế nào chúng ta có thể đo lường sự thành công khi cấp tín dụng cho khách hàng có thể dẫn đến sự tăng doanh thu và thị phần trong khi đi kèm với giảm khả năng sinh lời hoặc ngược lại? Hoặc có nhiều công ty gắn
Trang 27thời hạn thanh toán cho nhà cung ứng với thời hạn thu tiền từ khách hàng của mình: nếu nhà cung cấp rút ngắn thời hạn, họ cũng cố gắng xoay đủ lượng tiền mặt cần thiết bằng cách thắt chặt chính sách tín dụng của mình (Kevin Kaiser và S David Young, 2009) mà không tính đến các lợi thế, đặc trưng… của mình đối với nhà cung cấp và khách hàng Vào thời điểm kinh tế xuống dốc như hiện tại, nguồn vốn
và tín dụng bị thắt chặt, khách hàng cũng ra sức thắt lưng buộc bụng còn nhà cung ứng thì không chấp nhận bất kỳ hình thức chậm thanh toán nào… Hơn bao giờ hết, quản trị vốn luân chuyển cần nhìn nhận một cách tỉnh táo và cẩn trọng
Áp dụng các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời cho các công ty tại Việt Nam là thực sự cần thiết và đặc biệt quan trọng đối với công ty vừa và nhỏ; bởi hầu hết các tài sản của các công
ty này là tài sản ngắn hạn; và nợ ngắn hạn là một trong những nguồn tài trợ chính Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có trên 500.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tới 98% số lượng doanh nghiệp5 Việc áp dụng các nghiên cứu trên thế giới cho các công ty tại Việt Nam nhằm đưa ra gợi ý và kiến nghị cho các nhà quản lý để quản trị vốn luân chuyển đạt mục đích tối đa hóa khả năng sinh lời Phương pháp và kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày trong phần tiếp theo
7/4/2012
Trang 28CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐÈ TÀI 3.1 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định lượng dựa trên mô hình
nghiên cứu năm 2010 của David M Mathuva trong bài “The Influence of Working
Capital Management Components on Corporate Profitability: A Survey on Kenya Listed Firms - Ảnh hưởng của các thành phần quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty: Khảo sát trên các công ty niêm yết ở Kenya” Đây là nghiên cứu mới và phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới; các biến được lựa chọn
có tương quan phù hợp với nhau và việc thu thập số liệu rất khả quan
Khi ước lượng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng có nhiều cách tiếp cận khác nhau: tiếp cận mô hình hồi quy tuyến tính thông thường (the pooled model - Pooled), tiếp cận mô hình các ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model, FEM) hay còn gọi là hồi quy biến giả bình phương nhỏ nhất LSDV (Least Squares Dummy Variable) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects Model, REM) Tác giả sử dụng kiểm định Likelihook Ratio để lựa chọn ra mô hình hồi quy phù hợp giữa hai mô hình Pooled hay FEM; và kiểm định Hausman để quyết định lựa chọn mô hình FEM hay REM Từ kết quả kiểm định ta có thể lựa chọn ra mô hình hồi quy phù hợp nhất Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng Eviews 6 để chạy mô hình hồi quy Từ kết quả kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp, tác giả chọn mô hình ảnh hưởng cố định FEM (Fixed Effect Model) để thực hiện nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Việt Nam với nhiều lĩnh vực và ngành nghề hoạt động, thời gian nghiên cứu từ năm 2009 đến
2012, kỳ quan sát tính theo năm Phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới, các công
ty hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bảo hiểm… không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này
Trong tổng số 435 công ty thu thập số liệu, mẫu cuối cùng được chọn gồm 365 công
ty Các công ty có giá trị dị biệt ở các biến bị loại ra khỏi mẫu Bảng 3.1 nêu trên
Trang 29thể hiện lĩnh vực/ngành nghề hoạt động và phân loại quy mô của các công ty trong mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1: Lĩnh vực/ ngành nghề hoạt động của các công ty trong mẫu nghiên cứu
3.2 Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu xem xét tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty Tác giả sử dụng tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) làm biến phụ thuộc Sau đó, tiến hành hồi quy lần lượt các biến giải thích gồm: kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC), kỳ thu tiền bình quân (ACP), kỳ luân chuyển hàng tồn kho (ICP) và kỳ trả tiền bình quân (APP) với biến phụ thuộc để thấy rõ từng mối
Trang 30tương quan nhằm đưa ra gợi ý cho các nhà quản trị để cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty, đạt mục tiêu tối đa hóa khả năng sinh lời
Bên cạnh đó, dựa trên nghiên cứu của David M Mathuva, tác giả còn sử dụng thêm các biến khác gồm: qui mô công ty (CS), tỉ lệ nợ trên tổng tài sản (LEV), tỉ lệ đầu tư tài chính dài hạn trên tổng tài sản (FFAR), số năm công ty tồn tại đến năm nghiên cứu (AGE) và tỉ lệ tăng GDP (GDPGrow)
Mô hình tương quan cụ thể như sau:
it it
it it
it it
it it
it it
GDPGrow
Age FFAR
Lev CS
APP ICP
ACP ROA
εβ
ββ
ββ
ββ
ββ
+ +
+ +
+ +
+ +
+
=
8
7 6
5 4
3 2
1 0
)
1
(
it it it
it it
it it
it it
it it
it it
it it
it it
it it
ACP - Kỳ thu tiền bình quân: là thời gian trung bình từ khi bán hàng cho đến khi
thu xong tiền từ khách hàng; hoặc thời gian trung bình công ty bị khách hàng chiếm dụng vốn
ICP - Kỳ luân chuyển hàng tồn kho: là khoảng thời gian trung bình cần thiết để
chuyển đổi nguyên vật liệu thô sang thành phẩm và bán những sản phẩm này
APP - Kỳ trả tiền bình quân: là khoảng thời gian trung bình từ khi mua hàng hóa
cho tới khi trả hết tiền cho người bán; hoặc thời gian trung bình công ty chiếm dụng vốn của người bán
CCC - Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt: là khoảng thời gian từ khi trả tiền mua nguyên
vật liệu thô đến khi thu tiền bán thành phẩm
Trang 310
≥
hơn tổng thời gian chuyển đổi nguyên vật liệu sang thành phẩm và thu hết tiền từ khách hàng
:
0
<
tổng thời gian chuyển đổi nguyên vật liệu sang thành phẩm và thu hết tiền từ khách hàng
3.3 Mô tả các biến
Biến phụ thuộc:
ROA it
(tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản) = Lãi ròng từ hoạt động kinh doanh
Tổng tài sản – Đầu tư tài chính
Biến độc lập:
ACP it
(kỳ thu tiền bình quân) = Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân 1 ngày
ICP it
(kỳ luân chuyển hàng tồn kho) = Trị giá hàng tồn kho
Giá vốn hàng bán bình quân 1 ngày
APP it
(kỳ trả tiền bình quân) = Nợ phải trả ngắn hạn
Giá vốn hàng bán bình quân 1 ngày
Trang 32(số năm công ty tồn tại)
3.4 Dữ liệu nghiên cứu
Số liệu được tải xuống từ các trang thông tin điện tử của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và trang dữ liệu chứng khoán Cafef, Cophieu68 Số liệu được thu thập và tổng hợp tính toán bằng phần mềm Excell để cho ra kết quả về các biến
Biến độc lập về tỉ lệ tăng GDP năm 2009-2011 được thu thập từ Tổng cục thống kê Việt Nam; riêng số liệu năm 2012 thu thập từ báo cáo về kinh tế-xã hội của Chính phủ
Kết quả hồi quy được trình bày tại chương 4