Đề tài môn chính sách thương mại quốc tế:Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại việt nam
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam đang dần tiến những bước chân vững chắc hội nhập vào nềnkinh tế thế giới với mong muốn trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển hàngđầu trong khu vực và trên thế giới Việt Nam đang tích cực thực hiện việc cắtgiảm thuế quan trong AFTA, ký hiệp định Việt Nam - Hoa Kì, cường quốc cónền kinh tế đứng đầu thế giới, và đặc biệt là năm 2006, sau 11 năm tích cực đàmphán, chúng ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Mở ra rất nhiềutriển vọng cho nền kinh tế Việt Nam Trong quá trình hội nhập đó, Việt Nam sẽ
là miền đất đầy hứa hẹn cho các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời thị trườngnước ngoài cũng sẽ là nơi mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam hướng tới
Trong xu thế hội nhập vô cùng năng động và sôi động đó, thì việc xảy racác tranh chấp là điều không thể tránh khỏi và cũng không dễ giải quyết đượcmột cách nhanh chóng và chính xác Hiện nay, chúng ta có rất nhiều các phươngpháp giải quyết tranh chấp như: Hòa giải, Trọng tài, Tòa án…Nhưng phươngthức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì đang ngày càng khẳng định được vịthế, vai trò, và tính hấp dẫn trong việc giải quyết các tranh chấp
Chính vì những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “ Giải quyết tranh chấpthương mại quốc tế bằng trọng tài tại Việt Nam” nhằm tìm hiểu kĩ lưỡng vềphương thức giải quyết tranh chấp này, với mong muốn sẽ góp phần làm sáng tỏnhững vấn đề cơ bản về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc
tế, đồng thời chỉ ra một số hạn chế và đề suất một số kiến nghị nhằm phát triểnhơn nữa phương thức này ở Việt Nam
2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Trọng tài là một trong những lĩnh vực rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnhvực khoa học Trong khuôn khổ bài khóa luận này, tôi không có tham vọng vàtrình độ cần thiết để giải quyết tất cả các vấn đề về trọng tài, mà tôi chỉ đi tậptrung làm rõ những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại
Trang 2quốc tế bằng trọng tài tại Việt Nam và phân tích thực trạng giải quyết tranh chấpthương mại quốc tế bằng trọng tài, chỉ ra các tồn tại, và đưa ra các ý kiến đểhoàn thiện.
3.Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quan điểm của Đảng vàNhà nước về kinh tế và pháp luật kết hợp với phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin
Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp tổng hợp, đối chiếu, so sánhphương pháp hệ thống gắn với quá trình nghiên cứu thực tiễn về trọng tài
4 Kết cấu của khóa luận.
Nội dung cơ bản của khóa luận ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đượctrình bày ở hai chương:
Chương I: Lí luận chung về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọngtài
Chương II: Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài.Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyếttranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài
Trang 3CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI
1.1 Tranh chấp trong thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế đã ra đời từ rất sớm và trải qua nhiều quá trình pháttriển khác nhau Ở Việt Nam cũng vậy, sự ra đời của thương mại quốc tế gắnliền với sự trao đổi, giao lưu buôn bán với các nước trong khu vực Có thể nóirằng, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, thì khái niệmthương mại quốc tế cũng dần hoàn thiện cả về nội dung và hình thức
Theo quan điểm chung trên thế giới hiện nay, thì thương mại quốc tếđược hiểu là hành vi thương mại của thương nhân vượt ra khỏi phạm vi biêngiới quốc gia; cũng có thể gói gọn trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia tuy nhiênđược thực hiện bởi chủ thể là các thương nhân quốc tế hoặc giữa các chủ thểtrong một quốc gia nhưng đối tượng của hợp đồng nằm ở nước ngoài
Ở Việt Nam, hoạt động thương mại được hiểu là hoạt động nhằm mụcđích sinh lời bao gồm các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại, và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (khoản 1Điều 3, Luật Thương mại năm 2005) Trong khi đó, việc mua bán hàng hóaquốc tế được hiểu là việc xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, theo đó hàng hóađược đưa ra đưa vào lãnh thổ Việt Nam hoặc khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổViệt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Nóicách khác, thương mại quốc tế được hiểu là hoạt động thương mại vượt ra khỏibiên giới quốc gia hoặc biên giới hải quan
Với cách tiếp cận như trên, thì ở Việt Nam, hai thuật ngữ InternationalTrade (thương mại quốc tế) và International Commerce (kinh doanh quốc tế)thường được hiểu chung một nghĩa là kinh doanh quốc tế
Trang 4Tuy nhiên, ở nhiều nước trên thế giới hai thuật ngữ này có nghĩa khácnhau Nếu International Trade là thuật ngữ chỉ các hoạt động thương mại quốc tế
do các quốc gia thực hiện thì International Commerce là thuật ngữ chỉ các hoạtđộng thương mại do thương nhân tiến hành Qua đó, có thể thấy cách tiếp cậncác khái niệm này ở các nước không giống với Việt Nam Nếu Việt Nam lấy dấuhiệu hành vi thương mại vượt ra khỏi biên giới quốc gia làm tiêu chí xác địnhquan hệ thương mại quốc tế thì ở một số nước việc xác định quan hệ thương mạiquốc tế lại dựa vào tiêu chí chủ thể
Qua phân tích ở trên, ta có thể rút ra định nghĩa về thương mại quốc tếnhư sau: Thương mại quốc tế là hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài.Các yếu tố nước ngoài trong thương mại quốc tế được xác định qua ba dấu hiệu:chủ thể trong quan hệ thương mại là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ
sở ở các nước khác nhau; sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệthương mại xảy ra ở nước ngoài; và đối tượng của quan hệ thương mại như hànghóa, dịch vụ, hoặc các đối tượng khác ở nước ngoài
1.1.2 Tranh chấp thương mại quốc tế.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau như
sự khác biệt về ngôn ngữ, pháp luật, tập quán, …và nhất là sự thay đổi về điềukiện thực hiện hợp đồng nên các tranh chấp phát sinh là điều khó tránh khỏi
Hiện nay, trên thế giới, tranh chấp thương mại được hiểu chính là tranhchấp phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các thỏa thuậntrong hoạt động thương mại quốc tế Bao gồm các hoạt động sau: mua bán hànghoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyểnhàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường hàng không, đườngbiển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính,ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác;
Ở Việt Nam, khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được đề cậpchính thức trong văn bản pháp luật là Luật thương mại năm 1997, tuy nhiên,theo Luật thương mại, tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc
Trang 5thực hiện không đúng, không đầy đủ hợp đồng trong hoạt động thương mại.Như vậy, ta nhận thấy khái niệm trên có nội hàm rất hẹp so với quan niệm phổbiến của các nước trên thế giới về thương mại.
Đến Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, tuy không trực tiếp đưa rađịnh nghĩa về tranh chấp thương mại song với sự hiện diện của khái niệm “hoạtđộng thương mại” theo nghĩa rộng đã tạo ra sự tương đồng trong quan niệm về
“thương mại” và “tranh chấp thương mại” của pháp luật Việt Nam với chuẩnmực chung của pháp luật và thông lệ quốc tế
Từ đây, ta có thể rút ra định nghĩa, tranh chấp thương mại quốc tế là những mâuthuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trìnhthực hiện các hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài
1.1.3 Các loại tranh chấp thương mại quốc tế
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều cách phân loại tranh chấp thương mạiquốc tế, mỗi cách người ta đều dựa trên những tiêu chí khác nhau để phân loại,như: dựa vào chủ thể tham gia, dựa vào tính chất nội dung vụ việc tranh chấp,dựa vào nội dung của hợp đồng… trong khuôn khổ khóa luận này, tác giả khóaluận sẽ phân loại tranh chấp thương mại quốc tế dựa nội dung của hợp đồngthương mại quốc tế qua một số loại hợp đồng điển hình
1.1.3.1 Tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Đây là loại hợp đồng phổ biến nhất hiện nay đối với hoạt động thương mạiquốc tế Vì vậy, việc phát sinh tranh chấp từ loại hợp đồng này cũng rất phổbiến
Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh khi bên bán giao hàngkhông đúng đối tượng và chất lượng, không giao hàng đúng thời gian và địađiểm, không bảo hành hàng hóa, bảo hành không đúng như đã cam kết tronghợp đồng Và bên mua không nhận hàng khi bên bán đã chuyển hàng cho bênmua theo yêu cầu, không thanh toán tiền mua hàng khi đến hạn …
Trang 61.1.3.2 Tranh chấp trong hợp đồng xây dựng
Trong nền kinh tế hiện nay, các nước có nền công nghiệp xây dựng pháttriển không chỉ đầu tư xây dựng trong nước, mà họ còn mở rộng việc tìm kiếmkhách hàng vượt ra khỏi biên giới quốc gia Tranh chấp trong hoạt động xâydựng quốc tế phát sinh khi một trong hai bên có các hành động như, bên nhậnthầu xây dựng không đúng, không đầy đủ, sai với thiết kế ban đầu,…và bên mờithầu không giải ngân như đã thỏa thuận, không giải phóng mặt bằng kịp thờilàm chậm tiến độ thi công của bên nhận thầu …
1.1.3.3.Tranh chấp trong hợp đồng đại lý
Trong thời đại ngày ngày nay, bất kì một vị trí nào trong nền kinh tế cũngphải được chuyên môn hóa Và hoạt động đại lý thương mại cũng không làngoại lệ, bởi nhu cầu về hoạt động này trong nền kinh tế hiện nay là rất lớn bởicác ý nghĩa thiết thực mà nó mang lại Tranh chấp trong loại hoạt động này sẽphát sinh ngay khi một trong hai bên nhận đại lý và bên sản xuất hàng hóa chođại lý làm trái với các quy định của hợp đồng mà họ đã ký với nhau như: bênnhận đại lý bán không đúng sản phẩm mà nhà sản xuất hàng hóa cung cấp, nhàsản xuất hàng hóa không giao hàng đúng thời hạn cho bên nhận đại lý như đãcam kết…
Ngoài ra, còn rất nhiều tranh chấp phát sinh từ các loại hoạt động thươngmại quốc tế khác như: Cung ứng dịch vụ, bảo hiểm, thăm dò, khai thác; tài chínhngân hàng…
1.2 Trọng tài thương mại quốc tế - Một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, Trọng tài thương mại quốc tế đượccoi là một phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và hiệu quả nhất hiệnnay Nó đem lại cho các thương nhân rất nhiều tiện ích khi tham gia vào đờisống thương mại quốc tế Vậy, Trọng tài thương mại quốc tế là gì?
Trang 7Theo giáo trình Tư Pháp quốc tế - Trường đại học Luật Hà Nội, xuất bảnnăm 2006, thì “ Trọng tài quốc tế là một phương pháp giải quyết tranh chấp cóyếu tố nước ngoài, mà trong đó các bên tranh chấp, thỏa thuận, lập ra hoặc chỉđịnh ra một bên thứ ba và giao cho bên thứ ba đó quyền được phán xét tranhchấp của họ, phán xét này buộc các bên phải thực hiện.
Theo Từ điển Luật học, Nxb Tư Pháp năm 2006, định nghĩa, “Trọng tàiquốc tế là cơ quan hoặc phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan
hệ pháp luật thuộc lĩnh vực điều chỉnh của tư pháp quốc tế mà pháp luật chophép giải quyết bằng trọng tài.”
Theo Điều 1492 của Bộ luật tố tụng dân sự mới của Pháp, thì trọng tàiquốc tế được hiểu đơn giản là trọng tài giải quyết tranh chấp quyền lợi trongthương mại quốc tế
Hơn nữa, theo mục 1.1.1 của khóa luận này, thì thương mại quốc tế đượchiểu là hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài Các yếu tố nước ngoài trongthương mại quốc tế được xác định qua ba dấu hiệu: chủ thể trong quan hệthương mại là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở ở các nước khácnhau; sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ thương mại xảy ra
ở nước ngoài; và đối tượng của quan hệ thương mại như hàng hóa, dịch vụ, hoặccác đối tượng khác ở nước ngoài
Về tính thương mại của trọng tài quốc tế, Luật mẫu về trọng tài củaUNCITRAL tuy không đưa ra định nghĩa chính thức về khái niệm “thương mại”nhưng đã nêu khái niệm này ở chú giải điều I như sau: Các quan hệ mang tínhchất thương mại bao gồm các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuậnphân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, thuê mua xây dựng công trình; tưvấn kỹ thuật; lixăng, đầu tư; tài chính ngân hàng, bảo hiểm; hợp đồng thăm dò,khai thác; liên doanh và các hình thức hợp tác kinh doanh; vận tải hành khách,hàng hóa bằng đường hàng không, đường sắt,đường bộ hoặc đường biển
Theo Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế ngày 21/6/1985 củaUNCITRAL, thì Trọng tài sẽ mang tính chất quốc tế khi:
Trang 8- Vào thời điểm giao kết thỏa thuận trọng tài, các bên có trụ sở kinh doanh
ở các nước khác nhau, nếu các bên có nhiều trụ sở kinh doanh thì tính đếntrụ sở kinh doanh có quan hệ mật thiết nhất đối với thỏa thuận trọng tài,còn nếu các bên không có trụ sở kinh doanh thì sẽ căn cứ theo nơi cư trúthường xuyên của các bên; hoặc:
- Một trong các yếu tố sau đây ở ngoài lãnh thổ nơi các bên có trụ sở kinhdoanh: Nơi xét xử của trọng tài và nơi thực hiện phần chủ yếu của nghĩa
vụ trong quan hệ thương mại hoặc nơi có quan hệ mật thiết nhất với nộidung tranh chấp hoặc :
- Các bên đã thỏa thuận rõ ràng là nội dung chủ yếu của thỏa thuận trọngtài liên quan đến nhiều nước
Trọng tài quốc tế chính là một phương thức giải quyết tranh chấp do cácbên thỏa thuận lập ra hoạt động với tư cách là bên thứ ba độc lập, khách quan,
vô tư, đứng ra phân xử cho các bên khi xảy ra tranh chấp có yếu tố nước ngoài
Và phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm
Từ những khái niệm nêu trên chúng ta có thể nhận thấy trọng tài thương mạiquốc tế có một số đặc điểm chính sau:
- Là một cơ quan tài phán tư;
- Là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên tham gia tranh chấp;
- Nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế;
- Quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm
Qua những phân tích đó, chúng ta đi đến kết luận rằng: Trọng tài thương mạiquốc tế là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thươngmại quốc tế do các bên thỏa thuận lập ra để giải quyết tranh chấp
Trang 91.3 Các nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc
tế bằng trọng tài
1.3.1 Nguyên tắc thỏa thuận.
Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằngtrọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt độngthương mại Như vậy các bên có thể có thỏa thuận trọng tài trước khi có tranhchấp hoặc sau khi có tranh chấp Khác với việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án,khi có tranh chấp phát sinh, bên có quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm cóquyền đệ đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết mà không cần có sự thỏathuận trước, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đòi hỏi phải có sự thỏathuận của các bên Nguyên tắc chung là “không có thỏa thuận giải quyết bằngphương thức trọng tài không có tố tụng trọng tài” Điều đó có nghĩa rằng, trọngtài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi được các bên chọn bằng mộtthỏa thuận trọng tài Nói cách khác thỏa thuận trọng tài là căn cứ để áp dụngphương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài Nguyên tắc nàyxuất phát từ quyền tự do kinh doanh với tư các là quyền cơ bản của công dântrong nền kinh tế thị trường, trong đó bao gồm cả quyền lựa chọn phương thứcgiải quyết khi tranh chấp phát sinh
Nguyên tắc này còn được thể hiện rõ nhất trong quá trình tố tụng trọngtài, đó là việc các bên thỏa thuận chọn địa điểm trọng tài, ngôn ngữ trọng tài,thời gian trọng tài…
1.3.2 Nguyên tắc trọng tài viên phải độc lập khách quan vô tư khi giải quyết tranh chấp
Sự độc lập của trọng tài viên thể hiện ở việc trọng tài viên không có lợiích trực tiếp hoặc lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp, không chịu sự chi phốicủa bất kì cơ quan, tổ chức cá nhân nào khi giải quyết tranh chấp Sự kháchquan được đảm bảo khi trọng tài viên thực hiện đúng vai trò của người thứ baphân xử đúng sai dựa trên những chứng cứ tài liệu, tình tiết của vụ việc và ra
Trang 10quyết định theo quy định của pháp luật Không thể coi trọng tài viên đã vô tưtrong khi làm nhiệm vụ nếu họ có quyền lợi liên quan đến vụ tranh chấp, hayngười thân thích của họ là một trong các bên tranh chấp…
Nếu có căn cứ cho rằng trọng tài viên có thể hoặc không độc lập, vô tưkhi thực hiện nhiệm vụ thì trọng tài viên đó có thể bị thay thế Thậm chí khiquyết định trọng tài có hiệu lực, nếu có căn cứ chứng tỏ trọng tài viên đã viphạm nguyên tắc này thì quyết định trọng tài sẽ bị tòa án tuyên hủy
Do vị trí quan trọng của các trọng tài viên trong quá trình giải quyết tranhchấp, một số tổ chức trọng tài còn yêu cầu các trọng tài viên xác nhận bằng vănbản rằng họ độc lập với các bên tranh chấp Đây là vấn đề mà tòa án trọng tàiquốc tế thuộc phòng thương mại quốc tế ICC rất quan tâm Tuy nhiên, ngoàiviệc độc lập, khách quan, vô tư, căn cứ vào pháp luật để giải quyết tranh chấpthì trọng tài viên còn cần phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên
1.3.3 Nguyên tắc giữ bí mật nội dung vụ việc tranh chấp
Đây là nghĩa vụ của trọng tài viên khi giải quyết vụ việc vì một trong các
lý do để các bên đương sự lựa chọn trọng tài đó là bảo đảm tính bí mật của tranhchấp Do vậy, các trọng tài viên không được phép tiết lộ nội dung của tranh chấpkhi không được các bên đồng ý Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện ởviệc sẽ không có người ngoài được tham dự vào phiên xét xử trọng tài nếu cácđương sự không cho phép
1.3.4 Nguyên tắc chung thẩm.
Theo đó, nội dung cơ bản của nguyên tắc này là khi Hội đồng trọng tàicông bố quyết định trọng tài, quyết định trọng tài có hiệu lực thi hành ngay, cácbên không có quyền kháng cáo, cũng như không tổ chức nào có quyền khángnghị Khi xem xét yêu cầu hủy quyết định trọng tài, tòa án cũng không có quyềnxét lại Nguyên tắc này có nguồn gốc từ bản chất của tố tụng trọng tài là nhândanh ý chí tối cao và quyền tự định đoạt của các đương sự Các đương sự đã tínnhiệm và lựa chọn người phán quyết, do vậy họ phải thực hiện phán quyết màngười này đưa ra
Trang 11Hơn nữa, bản chất của tố tụng trọng tài là tố tụng một cấp, do vậy, nếumột bên không tự nguyện thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan nhànước có thẩm quyền giúp đỡ.
1.4 Thỏa thuận Trọng tài
1.4.1 Khái niệm thỏa thuận Trọng tài.
Thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận của các bên bằng văn bản, trong đóthể hiện sự thống nhất ý chí của các bên mong muốn đưa tranh chấp của mình ragiải quyết tại một trung tâm trọng tài
1.4.2 Thời điểm lập và giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài
Theo quy định của pháp luật các nước cũng như trong các điều ước quốc
tế thì thỏa thuận Trọng tài có thể được lập vào thời điểm trước hoặc sau khitranh chấp xảy ra
Trong trường hợp thỏa thuận Trọng tài được lập trước khi có tranh chấpthì nó có thể là một điều khoản hợp đồng hoặc cũng có thể là một điều khoảnđộc lập nằm ngoài hợp đồng
Nếu khi tranh chấp xảy ra mà các bên chưa có bất kỳ một thỏa thuận trọng tàinào thì các bên có thể lập một thỏa thuận trọng tài
Giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài không phụ thuộc vào việc nó đượclập trước hay sau khi có tranh chấp cũng như nó là một điều khoản của hợp đồnghay một điều khoản độc lập, mà quan trọng là thỏa thuận đó phải được lập bởinhững chủ thể có thẩm quyền, phải là sự thống nhất ý chí của các bên, phải đápứng được các yêu cầu về hình thức và nội dung của thỏa thuận trọng tài Và đặcbiệt, giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài không phụ thuộc vào giá trị pháp lýcủa hợp đồng
1.4.3 Hình thức của thỏa thuận Trọng tài
Theo ý kiến của Giáo sư Philip Phusa, Trường đại học tổng hợp(Paawngteong Át xát Pari II) thì hình thức thỏa thuận trọng tài có thể tồn tạidưới một trong hai dạng sau:
Trang 12- Hình thức thường dùng là điều khoản thỏa thuận Trọng tài, tức là mộtđiều khoản thể hiện trong hợp đồng và qua các bên của hợp đồng quyđịnh, với nhau nếu có một tranh chấp nảy sinh trong quá trình thực hiệnhợp đồng, nó sẽ được giải quyết bằng con đường trọng tài Tất nhiên,tranh chấp có thể xảy ra, còn vào lúc này, nó không thể được xác định vàđiều khoản đó thông thường không chỉ định các trọng tài viên: như thế làquá sớm, vì các bên không biết trước có một tranh chấp đối lập một ngàynào đó, vào lúc nào, và vấn đề gì Ngược lại sẽ là hợp thời nếu các bên,ngay tại điều khoản thỏa thuận trọng tài thống nhất với nhau về kiểu trọngtài sẽ có thể đưa ra thi hành sau này và những thể thức chỉ định các trọngtài viên Sau đây, ông Đôminích Atse sẽ trình bày với các bạn điều đó
- Hình thức thỏa thuận thứ hai về trọng tài là “thỏa ước Trọng tài” Nóđược thành lập sau khi nảy sinh tranh chấp Các bên do đó, có thể xácđịnh mục tiêu vụ tranh chấp của họ và chỉ định một hay nhiều trọng tàiviên để giải quyết tranh chấp Theo giả thiết, thỏa ước là một thỏa thuậntrọng tài chính xác hơn nhiều so với điều khoản thỏa thuận trọng tài, ítnguy hiểm hơn vì các bên khi giao ước có hiểu biết đầy đủ nguyên nhântranh chấp, nhưng cũng vì lí do đó mà khó thực hiện giao kết hơn: vụtranh chấp đã đối lập, các bên trở lên ít thuận lợi cho một thỏa thuận giữa
họ với nhau
Theo Công ước New York năm 1958, thì thỏa thuận Trọng tài bắt buộcphải bằng văn bản Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ nhưhiện nay, đã tạo nên rất nhiều phương thức liên lạc mới như Telex, Fax, Email
và chính điều này đã làm hạn chế cách hiểu đối với thuật ngữ “bằng văn bản”trong công ước New York
Để khắc phục hạn chế này, trong luật mẫu Trọng tài UNCITRAL tại điều7(2) đã quy định: “một thỏa thuận Trọng tài sẽ được coi là bằng văn bản nếu nóđược chứa đựng trong một tài liệu được ký kết bởi các bên hoặc trong các thư,điện tín, Telex, Fax, Email hoặc các phương tiện liên lạc khác ghi nhận thỏa
Trang 13thuận đó hoặc qua trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ trong đó thể hiện sự tồntại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận Việc dẫn chiếutrong hợp đồng tới một văn bản ghi nhận điều khoản trọng tài lập lên thỏa thuậntrọng tài với điều kiện hợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó là một
sở ràng buộc trách nhiệm của các bên khi phát sinh tranh chấp
1.4.4 Nội dung của thỏa thuận trọng tài
Yêu cầu cơ bản đối với một thỏa thuận trọng tài là phải đơn giản và chínhxác Đơn giản trong việc soạn thảo và chính xác trong việc lựa chọn các yếu tố
để đưa vào trong điều khoản trọng tài
Ở mỗi Trung tâm Trọng tài khác nhau thường có những mẫu về nội dungthỏa thuận trọng tài khác nhau Do vậy các bên khi lựa chọn trung tâm trọng tàinào giải quyết vụ việc thì nên chọn mẫu thỏa thuận trọng tài của Trung tâmTrọng tài đó Nhưng tựu chung lại thì một thỏa thuận trọng tài phải có những nộidung cơ bản sau:
- Tên trung tâm trọng tài mà các bên đã lựa chọn để giải quyết tranh chấp
- Tranh chấp được giải quyết tại trung tâm trọng tài
Trang 14hoặc từ đó có sự vi phạm chấm dứt hay không, có hiệu lực pháp lí sẽ được giảiquyết bằng trọng tài theo các nguyên tắc tố tụng UNCITRAL hiện hành”.
Các bên có thể thêm vào đó:
- Cơ quan có thẩm quyền chỉ định là:… (Tên cơ quan trọng tài)
- Số lượng trọng tài viên là:……
- Địa điểm trọng tài:…
Trên cơ sở tiếp thu các điều khoản mẫu đó, Trung tâm Trọng tài quốc tế ViệtNam (VIAC) đã đưa ra điều khoản mẫu trọng tài như sau:
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải quyết chung thẩm tạiTrung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và côngnghiệp Việt Nam, theo quy tắc tố tụng Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam.”1.4.5 Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài
Việc thiết lập thỏa thuận trọng tài có ý nghĩa quan trọng đối với các bên khi cótranh chấp xảy ra cụ thể như sau:
- Tạo ra hiệu lực ràng buộc các bên: Điều này có nghĩa rằng khi tranh chấp xảy
ra các bên phải giải quyết tranh chấp đó tại trọng tài đã thỏa thuận mà không có
sự thỏa thuận nào khác
- Thỏa thuận trọng tài có thể loại trừ sự can thiệp của tòa án vào quá trình giảiquyết tranh chấp ít nhất là trước khi đưa ra phán quyết Vì khi các bên đã cóthỏa thuận trọng tài mà một bên đưa tranh chấp ra tòa án thì tòa án sẽ từ chối thụ
lý vụ án đó và trả lại đơn kiện
Trang 15- Thỏa thuận trọng tài trao thẩm quyền cho trọng tài viên để giải quyết nhữngtranh chấp có thể có giữa các bên.
- Thỏa thuận trọng tài đã chọn ra địa điểm trọng tài thích hợp nhất để một phánquyết được thi hành đúng luật
1.5 Thẩm quyền của trọng tài
Căn cứ để xác định thẩm quyền trọng tài chính là thỏa thuận trọng tài vàcác quy định của pháp luật về thẩm quyền của trọng tài trong giải quyết cáctranh chấp thương mại quốc tế
+ Thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài là hòn đá tảng của việc trọng tài Thỏa thuận trọng tài thểhiện sự nhất trí của các bên cùng đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết
Khác với thẩm quyền của tòa án, thẩm quyền của trọng tài chỉ là thẩmquyền vụ việc, nếu được các bên có “vụ việc” lựa chọn đích danh Thẩm quyềncủa trọng tài không được phân định theo lãnh thổ, vì các bên có tranh chấp cóquyền thỏa thuận lựa chọn bất kì một tổ chức trọng tài nào để giải quyết tranhchấp cho họ, không phụ thuộc vào nơi ở cũng như nơi đặt trụ sở của các bên,cũng như không phân định theo cấp xét xử, vì chỉ có một cấp trọng tài và lạicàng không phân định theo sự lựa chọn của nguyên đơn, vì trọng tài chỉ có thẩmquyền giải quyết vụ việc nếu các bên có thỏa thuận trọng tài
+ Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại quốc tế Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có tính phổ biến vàđược các thương nhân ưa chuộng Tuy nhiên không phải mọi tranh chấp đềuđược phép giải quyết bằng trọng tài, hay nói cách khác kể cả khi các bên thỏathuận trọng tài trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện để giải quyết tranh chấp phát sinhgiữa họ với nhau thì thỏa thuận trọng tài này cũng bị pháp luật coi là vô hiệu nếunhững loại tranh chấp này không được pháp luật cho phép giải quyết bằng trọngtài
Pháp luật trọng tài hầu hết các nước không liệt kê các tranh chấp đượcphép giải quyết bằng trọng tài mà chỉ quy định những loại quan hệ pháp luật
Trang 16nhất định nếu có tranh chấp phát sinh thì không được giải quyết bằng trọng tài.
Ví dụ: pháp luật của một số nước không cho phép giải quyết bằng trọng tài các
vụ việc hình sự, hành chính…với quan điểm cho rằng đây là những vấn đề thuộcchính sách công cộng của quốc gia nên phải do cơ quan tài phán công giải quyết.Hay các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng đại lý, hợp đồng laođộng…cũng là tranh chấp hạn chế giải quyết bằng trọng tài
1.6 Các loại trọng tài thương mại quốc tế
Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều công nhận trọng tài thươngmại quốc tế có hai loại chủ yếu và thường xuyên được áp dụng nhất, đó chính là:1.6.1 Trọng tài Ad - hoc (trọng tài vụ việc)
Là loại trọng tài được thành lập bởi các bên đương sự, nhằm giải quyếtmột vụ tranh chấp cụ thể nào đó Sau khi giải quyết xong tranh chấp thì tự nógiải thể Hình thức trọng tài này có đặc điểm là:không có trụ sở cố định nhưtrọng tài thường trực, không lệ thuộc vào bất kì quy tắc xét xử nào
Ưu điểm của trọng tài Ad - hoc là rất gọn nhẹ, và linh hoạt, thời gian xét
xử ngắn và hai bên dễ dàng đi đến thỏa thuận chung và chi phí ít
Nhược điểm của trọng tài Ad - hoc là nó phụ thuộc rất nhiều vào sự hợptác của các bên Và vì nó không có quy tắc tố tụng riêng cho nên nó phụ thuộcvào hệ thống pháp luật nơi xét xử của trọng tài, và nó chỉ thích hợp với các tranhchấp có giá trị vật chất nhỏ, ít phức tạp và đặc biệt, các bên tham gia tranh chấpphải là những người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm xử lí tranh chấp và dàydạn trên thương trường
Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật đầu tư năm
2005, luật thương mại năm 2005 và đặc biệt là trong Pháp lệnh Trọng tài năm2003) cũng đã ghi nhận quyền của các bên được lựa chọn trọng tài, kể cả trọngtài Ad - hoc, nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại quốc tế
Trang 171.6.2 Trọng tài thường trực (hay còn gọi là trọng tài quy chế)
Là trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động một cách thườngxuyên, có trụ sở và điều lệ và có quy tắc xét xử riêng Hội đồng trọng tài có thể
là một trọng tài viên duy nhất được chọn trong số trọng tài viên niêm yết tạitrung tâm trọng tài, hoặc có thể là ba trọng tài (mỗi bên chọn ra một trọng tàiviên, còn trọng tài viên thứ ba do hai trọng tài viên được chọn bầu ra hoặc dochủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định)
Hình thức trọng tài này có rất nhiều ưu điểm, nhưng nổi bật là các ưuđiểm sau:
Do có quy tắc tố tụng được quy định một cách chặt chẽ, được công bốcông khai, nên quá trình trọng tài thường trực được thực hiện theo các trình tự,thủ tục rất nghiêm túc Các tổ chức trọng tài thường xuyên sửa đổi quy chế với
sự cố vấn của các chuyên gia giàu kinh nghiệm để phù hợp với các thay đổitrong các hệ thống pháp luật của các nước và cả trong thực tiễn giao dịch thươngmại quốc tế Hầu hết, các tổ chức trọng tài thường trực có đội ngũ trọng tài viên
có trình độ cao, là các chuyên gia giỏi thuộc các lĩnh vực, do vậy có đủ điều kiện
để thiết lập một hội đồng trọng tài công bằng, khách quan, đảm bảo được quyềnlợi chính đáng cho các bên Tiền thù lao của trọng tài thường trực cũng đượctính theo một cơ sở nhất định chứ không tùy tiện như Ad - hoc
Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 100 tổ chức Trọng tài Quốc tế(Trọng tài thường trực) Trong số đó, có một số trung tâm uy tín cao như: Tòa
án Trọng tài Quốc tế của Phòng Thương mại Quốc tế Paris (ICC) thành lập năm
1919, Tòa án Trọng tài Quốc tế London (LCIA) thành lập năm 1917, Hiệp hộiTrọng tài Hoa Kỳ (AAA) thành lập năm 1926, Trung tâm Quốc tế giải quyết cáctranh chấp về đầu tư (ICSID) thành lập năm 1965, Trung tâm trọng tài khu vựcKuala lumpur thành lập năm 1978…Ngày 28 tháng 4 năm 1993 Trung tâmTrọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC đã được thành lập và ngày càng khẳng địnhđược vị trí quan trọng trên thị trường trọng tài quốc tế
Trang 18Như vậy, hầu hết các trọng tài thương mại quốc tế - loại trọng tài thườngtrực - đã được thành lập ở các quốc gia Mặc dù có sự khác nhau về tên gọi, về
tổ chức, về quy tắc xét xử …,nhưng chúng đều có chung một đặc điểm là: vớivai trò là tổ chức phi chính phủ, trọng tài thương mại quốc tế được thành lậpnhằm giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, đặc biệt là tranhchấp trong hợp đồng thương mại quốc tế, có ưu thế nhất định so với tòa án trongviệc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch dân sự quốc tế
1.7 Ưu điểm của trọng tài thương mại quốc tế trong giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế
Trọng tài quốc tế ngày càng được sử dụng rộng rãi nhằm giải quyết cáctranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực như: Dân sự, lao động, đầu tư … có yếu
tố nước ngoài Đặc biệt trọng tài đã trở thành một trong những phương thức chủyếu để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng thương mại quốc tế(hợp đồng mua bán ngoại thương) Vậy trọng tài thương mại quốc tế có những
ưu điểm gì khiến hầu hết các thương nhân đều lựa chọn để giải quyết tranh chấptrong hợp đồng thương mại quốc tế?
- Thứ nhất, do hình thức này có thủ tục tiện lợi, linh hoạt và nhanh chóng.
Khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài các bên được tự do lựa chọn thủtục tố tụng Tính chất đơn giản, linh hoạt, mềm dẻo về mặt tố tụng trọng tài
là điều hấp dẫn đối với các bên trong việc lựa chọn giải quyết tranh chấpbằng trọng tài Thủ tục tố tụng trọng tài thường đơn giản hơn nhiều so vớithủ tục tố tụng tại tòa án Nếu khởi kiện tại tòa án, các bên phải tuân thủ cácnguyên tắc tố tụng rất nghiêm ngặt và phức tạp Trái lại, giải quyết bằngtrọng tài, trong một số trường hợp, các bên có thể định ra cả nguyên tắc, trình
tự, thủ tục trọng tài (ví dụ, trọng tài ad - hoc) Đây là điểm khác biệt lớn vớiphương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án Vì khi giải quyết tranh chấptại tòa án, các bên phải tuân theo các trình tự thủ tục phức tạp tại Tòa án màpháp luật đã có quy định sẵn Điều này ảnh hưởng rất lớn tới các bên tranhchấp, nó không chỉ gây khó khăn cho họ trong việc theo đuổi vụ kiện, mà
Trang 19mặt khác nó còn tạo ra sự không công bằng trong trường hợp tòa án giảiquyết vụ việc đó mà một trong hai bên mang quốc tịch, hoặc tòa án cả haibên không mang quốc tịch Vì lúc đó, nó sẽ tạo ra các lợi thế rất lớn về mặtngôn ngữ, pháp luật cho bên có cùng quốc tịch với tòa án.
- Thứ hai, Phán quyết của trọng tài thường chính xác, khách quan, có độ tin
cậy cao
Vì các bên được quyền tự lựa chọn trọng tài viên cho mình, nên các trọngtài viên thường là những chuyên gia có kinh nghiệm, họ am hiểu sâu sắc vềcác lĩnh vực chuyên môn liên quan đến hợp đồng Họ có thể là các luật sư,hay các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực như thương mại, tàichính ngân hàng…Đồng thời, trọng tài viên được chọn phần lớn là nhữngngười đã quen biết và có tín nhiệm cao với các bên Họ có kinh nghiệm giảiquyết tranh chấp thuộc các lĩnh vực chuyên môn (thương mại, đầu tư, bảohiểm…) hơn hẳn các thẩm phán ở tòa án, do đó, thời gian xét xử sẽ ngắn,quyết định của trọng tài sẽ sát thực, hợp lí và có độ tin cậy cao Đồng thời,quyết định của trọng tài dường như không bị chi phối bởi yếu tố chính trị -điều thường gặp trong các phán quyết của tòa án Vì thế, nó sẽ mang tínhkhách quan hơn các phán quyết của tòa án
- Thứ ba, Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài luôn có khả năng giữ bí
mật rất cao
Đối với các bên tham gia hợp đồng thương mại quốc tế, thì việc giữ bímật các vụ kiện là rất quan trọng Bởi bí mật nghề nghiệp, uy tín trên thươngtrường có ý nghĩa sống còn đối với họ Đặc biệt là những bí mật liên quan đến bíquyết công nghệ, chất lượng sản phẩm, bí quyết kinh doanh…Nếu những bí mậtnày bị tiết lộ, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh trong tươnglai của họ Vì thế các thương nhân không một ai muốn tiết lộ các bí mật đó rabên ngoài Nhưng khi tranh chấp xảy ra, thì họ phải nhờ đến sự phân giải củabên thứ ba, khi đó, mặc nhiên những bí mật đó có thể bị tiết lộ nhất là khi giảiquyết tại tòa án bởi một trong các nguyên tắc xét xử tại tòa án là công khai Bởi
Trang 20vậy, khác với nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án, thì trọng tài lại hoạt độngtheo nguyên tắc xét xử kín, các quyết định của trọng tài không được công khai,nếu không được sự đồng ý của các bên Do đó, xét xử bằng trọng tài vừa giúpcác bên giữ được bí mật kinh doanh, vừa giữ được uy tín trên thương trường.
- Thứ tư, quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm
Sau khi trọng tài đưa ra phán quyết thì phán quyết đó có hiệu lực bắtbuộc thi hành với các bên, các bên không có quyền kháng cáo hay kháng nghị.Đây là điểm khác biệt và cũng là ưu điểm hơn hẳn của phương thức giải quyếttranh chấp bằng trọng tài so với tòa án vì bản án, quyết định của tòa án có thể bịkháng cáo lên tòa án cấp trên Như vậy, có thể dẫn tới tình trạng dây dưa kéo dàigây tốn kém cả về thời gian và tiền bạc lại ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh
Ưu điểm này xuất phát từ quyền định đoạt của các bên, từ việc tự do lựachọn phương thức trọng tài đến lựa chọn trọng tài viên cũng như thủ tục tố tụng
Do vậy khi quyết định trọng tài đã được đưa ra thì các bên có nghĩa vụ thựchiện nếu có khó khăn trong việc thi hành thì có thể nhờ đến sự giúp đỡ của cơquan tư pháp
Trang 21CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI TẠI VIỆT NAM
2.1 Lược sử hình thành và phát triển của Trọng tài Thương mại Quốc tế tại Việt Nam
Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế bằng trọng tài đãđược biết đến từ rất sớm trên thế giới và đang dần phổ biến ở hầu hết các nước
có nền kinh tế phát triển trên thế giới
Lịch sử hình thành của trọng tài thương mại quốc tế có thể khái quátbằng ba từ: tương đối sớm, thậm chí trước cả cơ chế tài phán công là tòa án
Ở Việt Nam, xuất phát từ nhu cầu thực tế, có những nét đặc thù của nềnkinh tế, chính trị, xã hội nên hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài pháttriển muộn hơn nhiều nước trên thế giới Quá trình hình thành và phát triển củatrọng tài thương mại quốc tế ở Việt Nam có thể chia làm hai giai đoạn Giaiđoạn 1 là từ 1960 - 1993, giai đoạn 2 là từ 1993 đến nay
2.1.1 Giai đoạn từ 1960 - 1993.
- Trọng tài kinh tế nhà nước:
Ở nước ta, trọng tài kinh tế Nhà nước xuất hiện và phát triển cùng với chế
độ hợp đồng kinh tế Trọng tài kinh tế xuất hiện khi hợp đồng kinh tế trở thànhcông cụ quan trọng trong quản lí kinh tế
Đến năm 1960, miền Bắc đã cơ bản cải tạo xong nền kinh tế và bắt tayvào việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Nền kinh tế bắt đầu được quản
lí theo kế hoạch tập trung, thống nhất, thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghịđịnh 04 - TTg ngày 04/01/1960 ban hành kèm theo điều lệ tạm thời về chế độhợp đồng kinh tế 10 ngày sau đó, ngày 14/01/1960, thủ tướng chính phủ banhành nghị định số 20 - TTg về việc tổ chức ngành trọng tài kinh tế
Theo nghị định này, trọng tài kinh tế được tổ chức ở cấp trung ương, khu,thành phố, tỉnh và bộ với chức năng chủ yếu là xét xử các tranh chấp hợp đồng
Trang 22kinh tế Cho đến năm 1974, hội đồng trọng tài kinh tế chỉ là một tổ chức gồmcác thành viên kiêm chức ở các ngành: Tài chính, ngân hàng, vật giá, kế hoạch,
và hoạt động theo chế độ họp định kì mỗi quý một lần
Ngày 23/02/1962, chính phủ ban hành NĐ 29/CP quy định các nguyên tắcthủ tục chính thức của hội đồng trọng tài Tiếp đến năm 1965, nhà nước banhành NĐ 94/CP đổi tên gọi các hội đồng trọng tài thành hội đồng trọng tài kinh
tế nhấn mạnh vai trò của cơ quan trọng tài trong công tác quản lí kinh tế vàkhẳng định các chức năng đặc thù của nó là giải quyết các tranh chấp kinh tế Đến năm 1975, chính phủ ban hành nghị định 54/CP/1975 về chế độ hợpđồng kinh tế và ít ngày sau đó, ngày 14/4/1975, chính phủ ban hành nghị định75/CP về điều lệ và tổ chức hoạt động của trọng tài kinh tế nhà nước Theo nghịđịnh này, trọng tài kinh tế được thành lập như một cơ quan nhà nước có chứcnăng quản lí công tác hợp đồng kinh tế với nội dung: giữ vững kỉ luật nhà nước
về công tác hợp đồng kinh tế, giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế về
xử lí vi phạm chế độ hợp đồng kinh tế
Với NĐ 24 - HĐBT ngày 10/8/1981 Hội đồng trọng tài kinh tế đượcthống nhất gọi là trọng tài kinh tế, ngạch trọng tài viên được thành lập Ngày14/4/1984 Hội đồng bộ trưởng đã ban hành NĐ 62 - HĐBT quy định rõ hơnchức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của trọng tài kinh tế Bộ,tỉnh, huyện Trọng tài kinh tế huyện được thành lập theo nghị định này
Như vậy, trong quãng thời gian từ 1960 đến 1981, trên cơ sở các văn bảnpháp luật của nhà nước, về hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế, cơ quan trọngtài kinh tế đã khẳng định được vai trò của mình trong việc đề cao tinh thần tráchnhiệm quản lí, ý thức tổ chức kỉ luật của các xí nghiệp cơ quan nhà nước trongviệc thực hiện nghĩa vụ kí kết hợp đồng kinh tế, góp phần đảm bảo hoàn thànhchỉ tiêu kế hoạch của nhà nước Với tư cách là cơ quan quản lí nhà nước, thẩmquyền của trọng tài kinh tế ở đây đương nhiên là trách nhiệm, do đó không có cơ
sở để đặt ra vấn đề pháp lí về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc
tế trong giai đoạn này
Trang 23Năm 1986, quán triệt đường lối của Đảng về phát triển nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần, cùng với sự thay đổi về chủ trương kế hoạch, pháp luậtcủa nhà nước, pháp luật về trọng tài kinh tế, cũng có sự thay đổi đáng kể, đánhdấu sự ra đời của pháp lệnh trọng tài kinh tế, ngày 10/11/1990.
Với phương châm, vừa đảm bảo tính kế thừa những kinh nghiệm quý báucủa thực tiễn 30 năm hoạt động của trọng tài, vừa quán triệt tư tưởng đổi mớicủa Đảng Pháp lệnh trọng tài đã tạo ra cơ sở pháp lí quan trọng cho cơ quantrọng tài thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần duy trì và phát triểnquan hệ kinh tế, đẩy mạnh sản xuất lưu thông hàng hóa, phòng ngừa và xử lí viphạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc kí kết hợp đồng kinh tếkhông còn là kỉ luật Nhà nước, là nghĩa vụ nữa mà là quyền của các đơn vị kinh
tế, sự tồn tại cơ quan trọng tài với tư cách là cơ quan nhà nước để quản lí côngtác hợp đồng kinh tế là không cần thiết nữa
Kể từ ngày 01/7/1994, ở nước ta sẽ không còn có trọng tài kinh tế nhànước nữa theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức tòa án nhândân, được quốc hội thông qua ngày 28/12/1993 Tòa kinh tế đã được thành lậptrong tòa án nhân dân tối cao và tòa án nhân dân tỉnh để xét xử các vụ án kinh tếtheo pháp luật
Ngiên cứu kinh nghiệm giải quyết tranh chấp - thương mại ở một số nướcthấy rằng, tranh chấp thương mại kinh tế được giải quyết thông qua trọng tàithương mại và tòa án thương mại hay tòa án thường
Ngày 05/9/1994, Chính phủ đã ra NĐ 116/CP về tổ chức và hoạt động củatrọng tài kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh có thể lựa chọn hình thứcgiải quyết tranh chấp cho phù hợp, thuận tiện
- Hội đồng trọng tài ngoại thương và hội đồng trọng tài hàng hải
Trong giai đoạn này, song song với mô hình trọng tài kinh tế nhà nước là
mô hình trọng tài kinh tế có tính chất xã hội nghề nghiệp Đó là: Hội đồng trọng
Trang 24tài ngoại thương và hội đồng trọng tài hàng hải đặt bên cạnh phòng thương mại
và công nghiệp Việt Nam
Hội đồng trọng tài ngoại thương được thành lập ngày 30/4/1963 bởi nghịđịnh 59/CP có chức năng chính là giải quyết các tranh chấp liên quan đếnthương mại hàng hóa mà một bên mang quốc tịch Việt Nam
Hội đồng trọng tài hàng hải được thành lập ngày 05/10/1963 bởi nghịđịnh 153/CP có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hànghải, là một trong số các bên là cá nhân, pháp nhân, nước ngoài hoặc các bêntranh chấp đều là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài
Mặc dù hoạt động với tư cách là tổ chức xã hội nghề nghiệp, song hai tổchức trọng tài này chỉ là sản phẩm của nền kinh tế kế hoạch tập trung cho nêncũng chỉ phù hợp với tình hình thực tế lúc đó mà thôi
2.1.2 Giai đoạn từ 1993 đến nay.
Trước đòi hỏi của thực tế, và sự lạc hậu của pháp luật trọng tài trongnước, ngày 28/04/1993, thủ tướng chính phủ ra quyết định 204/1993/TTg vềviệc thành lập trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam trên cơ sở hợp nhất hai hộiđồng trọng tài ngoại thương và hội đồng trọng tài hàng hải
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam được ghi nhận là tổ chức phi chínhphủ được thành lập bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam có
“Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế quốc tếnhư các hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp đồng đầu tư, du lịch, vận tải
và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công nghệ, tín dụng và thanh toán quốc tế” Ngày 16/02/1996, theo tinh thần của nghị quyết số 114/TTg của thủ tướngchính phủ, thẩm quyền của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam được mở rộng:ngoài thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế quốc tế, trung tâm có thẩmquyền giải quyết tranh chấp nội địa khi các đương sự có yêu cầu
Sự ra đời của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, phần nào thể hiệnđược quan điểm mở cửa, chủ trương khuyến khích việc giải quyết tranh chấpkinh tế bằng trọng tài của Đảng và nhà nước ta, song chỉ mình trung tâm đó
Trang 25chưa thể đáp ứng được nhu cầu giải quyết tranh chấp ngày càng nhiều trong nềnkinh tế nước ta Chính vì lẽ đó, ngày 05/9/1994, chính phủ ban hành nghị định116/CP quy định về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của các trung tâmtrọng tài với tư cách là tổ chức xã hội nghề nghiệp ở các tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương như Trung tâm trọng tài kinh tế Hà Nội, Trung tâm trọng tàikinh tế Thăng Long, Trung tâm trọng tài kinh tế Sài Gòn,…
Tại điều 1 nghị định 116/CP, quy định, các trung tâm có trọng tài có thẩmquyền giải quyết “ Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công
ty với thành viên công ty; giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đếnviệc thành lập và giải thể công ty; các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổphiếu, trái phiếu” Pháp luật quy định các trung tâm có thẩm quyền như vậysong mỗi trung tâm có thể xác định lĩnh vực hoạt động cho mình tùy thuộc vàokhả năng chuyên môn của các trọng tài viên
Sau gần 10 năm hoạt động (từ 1993 đến năm 2002) trung tâm trọng tàiquốc tế Việt Nam (VIAC) và các trung tâm trọng tài khác đã thể hiện được vaitrò nhất định trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại nói chung và tranhchấp hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng Tuy nhiên, trong quá trình hoạtđộng của các trung tâm này, đã bộc lộ nhiều bất cập trong pháp luật trọng tàiViệt Nam như: thiếu các quy định cụ thể; điều chỉnh không toàn diện; một sốnội dung còn lạc hậu không có tính thực tiễn, không phù hợp với trọng tài khuvực cũng như trên thế giới…
Nhằm loại bỏ các rào cản của pháp luật đối với sự phát triển của trọng tàicũng như để đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng phương thức này ngàycàng gia tăng, đồng thời thể hiện sự tôn trọng luật chơi chung trong bối cảnh hộinhập quốc tế Ngày 25/02/2003, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh Trọng tàithương mại mở ra một giai đoạn phát triển mới của trọng tài Việt Nam nóichung và Trọng tài Thương mại Quốc tế nói riêng Đây là văn bản điều chỉnhkhá toàn diện và có tính thực tiễn trong lĩnh vực thương mại Hơn thế nữa nội
Trang 26dung của nó về cơ bản là phù hợp với luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tếcủa UNCITRAL, cũng như những đạo luật trọng tài hiện đại trên thế giới.
Như vậy, có thể thấy quá trình hình thành và phát triển của trọng tài ởViệt Nam, là một quá trình kế thừa và phát triển liên tục phù hợp với từng giaiđoạn phát triển của lịch sử đất nước Thực tế cho thấy, trong những năm gầnđây, ở nước ta việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài được
sử dụng nhiều hơn, đặc biệt là sau khi Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 rađời được coi là xương sống của pháp luật Việt Nam về trọng tài
2.2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp Thương mại Quốc tế bằng Trọng tài tại Việt Nam.
Tại khoản 4 Điều 20 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 quy định:
“Tố tụng trọng tài bắt đầu từ khi trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện củanguyên đơn hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn, nếu vụtranh chấp được giải quyết tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập.”
Quy định này đã xác định rõ thời điểm bắt đầu quá trình trọng tài đối vớimỗi loại trọng tài Đối với trọng tài Ad - hoc là khi bị đơn nhận được đơn kiệncủa nguyên đơn Đối với trọng tài thường trực là từ khi trung tâm trọng tài nhậnđược đơn kiện của nguyên đơn