1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp để sinh viên kế toán ra trường xin việc thành công

31 299 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp để sinh viên kế toán ra trường xin việc thành công
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 186,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIểu luận môn quản trị nhân sự:Giải pháp để sinh viên kế toán ra trường xin việc thành công

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện đang diễn biến phức tạp với nhữngđánh giá dự báo rất khác nhau Cuộc khủng hoảng lần này sẽ kéo dài không chỉ4-5 năm mà có thể tới 10-20 năm với nhiều tác động tiêu cực Việt Nam cũng bịảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng này Mọi mặt của nền kinh tế Việt Nam bịtác động, các vấn đề kinh tế-xã hội trở nên búc xúc hơn Các chủ doanh nghiệp,công ty đang đứng trước bờ vực phá sản nếu như không khôn khéo, linh hoạt xử

lý kịp thời Cùng với đó là vấn đề tài chính của công ty, doanh nghiệp rơi vào tìnhtrạng khó khăn hơn Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tuyển dụngnguồn nhân lực của công ty, doanh nghiệp cũng như cơ hội xin được việc củasinh viên kế toán sau khi ra trường

Hơn nữa, hiện nay, nguồn nhân lực của ngành kế toán đang “dư thừa” Chính

vì thế, một cuộc họp về công tác thực hiện quy hoạch nguồn nhân lực và đào tạotheo nhu cầu xã hội đã được diễn ra chiều ngay 18/12 dưới sự chủ trì của Phó Thủtướng Nguyễn Thiện Nhân Theo đó, từ năm 2013, Bộ quyết định tạm dừng cácngành đào tạo đang dư thừa “đầu ra” như tài chính-ngân hàng, quản trị kinhdoanh, kế toán, đồng thời kiến nghị Thủ tướng Chính phủ không cho phép mở cáctrường đại học đào tạo các ngành này Điều này cho thấy sinh viên kế toán đangphải đối mặt với tình trạng thất nghiệp kéo dài

Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề việc làm và thực tế thất nghiệp hiệnnay, nhóm tác giả lựa chọn đề tài : ”Giải pháp để sinh viên kế toán ra trường xinviệc thành công” làm đề tài nghiên cứu Bài tiểu luận chủ yếu xoáy sâu vào quytrình xin việc của ứng viên

Đề tài nghiên cứu gồm những nội dung chính sau đây: nêu cơ sở lý luận, phântích thực trạng và nguyên nhân chưa kiếm được việc làm của sinh viên mới ra

Trang 2

trường, đề ra một số giải pháp giúp sinh viên tránh mắc phải những lỗi thườnggặp trong quá trình đi xin việc.

1.Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học, đề tài hướng đến những mục đích

cụ thể như sau:

- Làm rõ nguyên nhân vì sao sinh viên kế toán ra trường không xin được việc

- Phân tích thực trạng thất nghiệp của sinh viên ra trường nói chung và của sinhviên kế toán nói riêng

- Từ đó đề xuất thêm những phương hướng và giải pháp khắc phục, giúp sinhviên có cơ hội kiếm được việc làm nhiều hơn, dễ dàng hơn

2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là quy trình xin việc của ứng viên, baogồm các bước: tìm kiếm thông tin việc làm từ nhà tuyển dụng, làm và nộp hồ sơ,

đi phỏng vấn

- Phạm vi nghiên cứu:

Sinh viên kế toán của các trường đại học, cao đẳng tại thành phố Hà Nội

3.Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu: Định tính

- Nguồn dữ liệu :

 Thông tin thứ cấp từ các số liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng( trangTai liêu.vn, báo Dân trí, báo Pháp luật,…)

Trang 3

 Nghiên cứu cụ thể.

 Số liệu sơ cấp: thông tin từ bản (cuộc) điều tra sinh viên kế toán đã đi xin việcnhưng vẫn chưa có việc làm và một số nhà tuyển dụng của các công ty, doanhnghiệp tại thành phố Hà Nội

4.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Trên phương diện lý luận: nhóm đưa ra cơ sở lý luận về quá trình tìm việc làm

và tầm quan trọng của nó

- Trên phương diện thực tiễn: tìm ra nguyên nhân lý giải vì sao sinh viên kế toán

ra trường không xin được việc, từ đó đưa ra một số giải pháp giúp sinh viên tránhmắc phải những lỗi thường gặp, tăng cơ hội có được việc làm cho sinh viên

Trang 4

Chương I: Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm việc làm

Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau có rất nhiều định nghĩa về việc làm Và

ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố nhưđiều kiện kinh tế, chính

trị,văn hóa….) người ta cũng có quan niệm về việc làm khác nhau.Chính vì thế không

có định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm

Theo Bộ luât lao động_điều 13: “ mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm ”

Theo quan điểm của Mac : Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết ( vốn, tư liệu, công nghệ… )

1.2 Quá trình xin việc

1.2.1 Tìm kiếm thông tin việc làm

Tìm kiếm thông tin việc làm là công việc tìm kiếm các địa chỉ việc làm trên báo chí,đài truyền hình, các trung tâm giới thiệu việc làm,quảng cáo, rồi sau đó phân tích xem công việc đó có phù hợp với mình không Việc tìm kiếm thông tin giúp các bạn sinh viên và người tìm việc cập nhật được thông tin tuyển dụng từ đó tìm được công việc và nơi làm việc phù hợp để nộp hồ sơ

1.2.2 Làm hồ sơ, nộp hồ sơ

Đối với người xin việc bộ hồ sơ được coi như tấm giấy thông hành vào thế giới việc làm và cũng là công cụ marketing bản than, một bộ hồ sơ xin việc gồm :

- Đơn xin việc có dán ảnh;

- Sơ yếu lý lịch có dán ảnh và xác nhận của chính quyền địa phương quản lý, CV bằng tiếng anh hoặc tiếng việt

- Các văn bằng, chứng chỉ có công chứng của nhà nước;

- Giấy khám sức khoẻ;

- Bản sao sổ hộ khẩu;

- Thư giới thiệu đảm bảo của người có uy tín hoặc xác nhận của đơn vị bạn đã làm trước

Trang 5

đó ( nếu có ).

- Bì thư, tem thư có ghi địa chỉ liên lạc

Đơn xin việc chính là cầu nối để người xin việc tỏ ý mong muốn được làm việc ở

cơ quan có nhu cầu tuyển dụng, tiếng Anh gọi tắt là Cover Letter Mẫu đơn xin việc haynày cũng bao gồm cả lý lịch tóm tắt cá nhân nên mới có tên gọi như vậy Tác dụng của đơn xin việc cũng giống như lý lịch cá nhân, nhưng về nội dung nó sẽ hỗ trợ cho lý lịch tóm tắt cá nhân

Một sơ yếu lý lịch, còn có tên thông dụng trong ngôn ngữ phương Tây là

curriculum vitae hay CV, là một văn bản tóm tắt hay liệt kê các kinh nghiệm làm việc

và quá trình giáo dục của một cá nhân, thường là một phần quan trọng trong hồ sơ xin việc làm Tờ sơ yếu lý lịch thường được xem xét đầu tiên bởi nhà tuyển dụng khi nhận

hồ sơ của một người xin việc; nó đóng vai trò cung cấp thông tin quan trọng cho người thuê nhân công và nên được chuẩn bị cẩn thận bởi ứng viên Có ba dạng CV cơ bản :

CV theo thời gian: tập trung vào kinh nghiệm nghề nghiệp, liệt kê lại theo một trình tự thời gian

CV theo chức năng: tập trung vào những kĩ năng Các kỹ năng có liên quan đến công việc: khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp - kỹ năng thuyết trình, khả năng trình bà y, khả năng quản lý thời gian, khả năng quản lý dự án

CV tổng hợp: thích hợp nhất cho sinh viên mới ra trường, vì kĩ năng và kinh

nghiệm chưa có nhiều Viết theo dạng này, người viết vừa có thể nhấn mạnh vào các kỹ năng vừa có thể gây ấn tượng bằng một số kinh nghiệm mình có Nói chung có thể chia

CV ra làm ba phần: Kinh nghiệm ử nghề nghiệp, kinh nghiệm học tập, các hoạt động cộng đồng, ngoại khóa

Sau khi tìm kiếm được vị trí bạn muốn dự tuyển nộp hồ sơ tới nhà tuyển dụng đúngthời hạn quy định Bạn đang rất cần một việc làm, hầu hết mọi người có khuynh hướng gởi càng nhiều hồ sơ xin việc đến các nhà tuyển dụng càng tốt

1.2.3 Chuẩn bị phỏng vấn

Có được một cuộc phỏng vấn với nhà tuyển dụng là điều vô cùng quan trọng Vì vậy ứng viên phải chuẩn bị thật kỹ như thu thập thông tin về doanh nghiệp, tập phỏng vấn

Trang 6

trước Một cuộc phỏng vấn xin việc thành công là tổng hòa của rất nhiều yếu tố, từ hình thức đến nội dung Nhiều người trước khi tìm được một công việc phù hợp đã phải trải qua nhiều lần phỏng vấn xin việc, và không ít lần thất bại Câu hỏi “tại sao mình thất bại trong buổi phỏng vấn đó” dường như chưa được các ứng viên lưu tâm Vì vậy để lãng phí thời gian và công sức cho những cuộc phỏng vấn “ra về tay không”, hãy trang bị cho mình những kỹ năng trả lời phỏng vấn xin việc cần thiết

- Nghiên cứu trước về công ty Tìm hiểu về công ty là bước đầu tiên ứng viên cần

thực hiện Ứng viên cần thu thập các thông tin cơ bản về nhà tuyển dụng là một trong cácyếu tố quan trọng để có một cuộc phỏng vấn thành công Nắm được càng nhiều thông tin như tình hình hoạt động, kế hoạch, định hướng hoạt động của công ty sẽ giúp ứng viên tương tác nhiều hơn với nhà tuyển dụng

-Thực hành trước: Tự thực hành trước nếu muốn cuộc phỏng vấn diễn ra hoàn

hảo Có thể nhờ sự hỗ trợ của bạn bè, ghi âm hoặc ghi hình cuộc phỏng vấn thử để xem mình làm được những gì Trên cơ sở đó, ứng viên phân tích được điểm mạnh, điểm yếu

và có những thay đổi hợp lý

-Chuẩn bị kiến thức tốt: Về kiến thức sẽ có 2 mảng kiến thức cần chuẩn bị là kiếnthức chuyên môn và kiến thức tổng quát Nhà tuyển dụng sẽ cho các ứng viên làm trắcnghiệm hoặc phỏng vấn trực tiếp Đọc kỹ hồ sơ xin việc, các văn bằng , thư giới thiệu

Dự kiến câu hỏi và trả lời, chuẩn bị cho những tình huống bất ngờ có thể gặp

-Ứng viên xem lịch phỏng vấn hoặc gọi điện xác nhận, phải biết mình gặp ai (tên chức vụ của họ), tốt nhất, từ hôm trước nên ghé qua địa chỉ tuyển dụng để hôm sau khỏi phải tìm

-Trang phục: Một trong những kỹ năng phỏng vấn xin việc quan trọng và cơ bản nhất chính là vấn đề trang phục Mặc trang phục nghiêm túc chứng tỏ mình hiểu biết về văn hóa doanh nghiệp và tôn trọng nhà tuyển dụng Dù cho mình có là người yêu thích sựthoải mái và tiện lợi thì cũng đừng nên diện quần jeans và áo pull để tham dự một buổi phỏng vấn xin việc Ấn tượng đầu tiên không phải là tất cả nhưng sẽ quyết định thiện cảm của người phỏng vấn Nếu không lưu tâm đến vấn đề trang phục, nhà tuyển dụng sẽ nhận xét mình là một người xuề xòa và dễ dãi Không một công ty nào lại muốn thu nhậnmột nhân viên tương lai xuề xòa và dễ dãi như vậy cả

-Tâm lý: Nghĩ mình là người tốt nhất cho vị trí ấy và công ty sẽ may mắn khi chọn

được một người như mình Sự tự tin sẽ thể hiện qua suy nghĩ đó Sự tự tin này có đượcthông qua sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc phỏng vấn Không có gì làm cho nhà tuyểndụng phát cáu hơn là việc không có khả năng trả lời những điều mà nhà tuyển dụng cầnnghe

1.2.4 Phỏng vấn

Phỏng vấn là một phương pháp thông dụng nhất trong nghiệp vụ tuyển chọn của bất cứ một xí nghiệp hay tổ chức nào Khác với phương pháp trắc nghiệm, phỏng vấn làmột quá trình giúp nhà tuyển dụng chọn lựa một ứng viên thích hợp, dù ứng viên này sẽ đảm nhiệm một chức vụ hoặc một công việc nào từ cấp thấp nhất trong xí nghiệp( ví dụ:

Trang 7

tài xế, lao công ) cho đến cấp chỉ huy(giám đốc )Có hai loại phỏng vấn là: phỏng vấn theo mẫu và phỏng vấn không theo mẫu.

Quá trình phỏng vấn gồm 2 phần: làm bài thi trắc nghiệm và tham gia phỏng vấn

- Trắc nghiệm bằng máy móc, hình vẽ, đồ chơi và những dụng cụ liên lạc khác

Hiện nay, có nhiều loại trắc nghiệm đang được ấp dụng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Áp dụng trong tuyển dụng những chuyên ngành kinh tế thì có 6 trắc nhiệm sau đây :

- Trắc nghiệm kiến thức tổng quát

Trang 8

sự nhanh nhẹn giải quyết các tình huống báo hiệu một con người linh hoạt, có thể

đương đầu với mọi tình huống xảy ra vì thế không còn ai thích hợp để giữ vị trí họ đangthiếu nữa

nhanh nhẹn giải quyết các tình huống báo hiệu một con người linh hoạt, có thể đương đầuvới mọi tình huống xảy ra vì thế không còn ai thích hợp để giữ vị trí họ đang thiếu nữa

Chương II Thực trạng xin việc của sinh viên kế toán

2.1 Thực trạng chung của sinh viên mới tốt nghiệp

Hiện nay sinh viên ra trường đều mong muốn tìm cho mình một công việc yêu thích với một mức lương cao, song phần lớn sinh viên sau khi tốt nghiệp đều không tìm được việc làm mong muốn hoặc chưa phù hợp Thiếu kinh nghiệm, chuyên

môn… những tân cử nhân, kỹ sư đã bị các nhà tuyển dụng từ chối Khó xin làm

Trang 9

đúng nghề, nhiều người đã buộc phải lựa chọn làm trái nghề hoặc thất nghiệp Đến mức nhiều sinh viên sau khi ra trường đã truyền tai nhau câu cửa miệng là: “Sau tốt nghiệp là thất nghiệp” Không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp đã phải chấp nhận làm trái nghề, thậm chí xe ôm, bán trà đá, bán hàng thuê

Thực trạng là tân cử nhân, kỹ sư đại học, cao đẳng làm trái ngành, thất nghiệp

ngày càng nhiều, lượng lao động dư thừa trong xã hội không ngừng tăng lên Theo

số liệu mới nhất của Trung tâm Nghiên cứu và phân tích chính sách (Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại hoc Quốc gia Hà Nội) vừa công bố về kết quả khảo sát với 3.000 cử nhân về việc làm sau khi ra trường Thì có đến 26,2% cử nhân ra

trường chưa có việc làm, trong số này 58,2% là không biết xin việc ở đâu, 42% bị

nhà tuyển dụng từ chối do kém chuyên môn và khoảng 80% sinh viên kinh tế khi ra trường thất nghiệp hoặc làm việc trái ngành nghề Trong những sinh viên có được

việc làm thì có đến 70,8% muốn thay đổi chỗ làm, 61% nói mình thiếu kỹ năng làm việc, 42% thiếu kinh nghiệm và 32% cho biết thiếu kiến thức chuyên môn TS.Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Trung tâm đánh giá: "Những sinh viên đã đi làm

cũng gặp không ít thách thức khi phần lớn các em thiếu kỹ năng làm việc, thiếu kinhnghiệm và kiến thức chuyên môn Đây là một "lỗ hổng" đáng buồn trong chất lượng đào tạo Đại học Dưới đây là bểu đồ thể hiện

Trang 10

Biểu đồ thể hiện thực trạng xin việc của xin việc của sinh viên

Bên cạnh đó, việc làm mới ít hơn khiến sức cạnh tranh về nguồn nhân lực

càng mạnh Nếu như trước đây các doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển sẵn sàng tuyển sinh viên có tiềm năng tốt rồi đào tạo thì hiện nay hầu hết đều cần kinh

nghiệm làm việc Nguyễn Hà Thanh Thủy, một sinh viên ngành Kinh tế mới ra

trường năm 2012 cho biết: "Em đã nộp đơn xin việc nhiều nơi nhưng nơi nào cũng đòi hỏi kinh nghiệm làm việc vì em mới ra trường nên không được chấp nhận Hiện tại em vẫn phải làm những công việc không ổn định để chờ cơ hội.”

Theo Tổng cục Thống kê, đã có khoảng 30% doanh nghiệp Việt Nam phá sản hoặc có nguy cơ phá sản trong nửa đầu năm 2012 Hệ lụy là hàng nghìn người lao

động mất việc Trong khi số tân sinh viên ra trường chưa được giải quyết việc làm,

xã hội còn phải gánh thêm một lượng không nhỏ lực lượng lao động thất nghiệp

2.2 Thực trạng quá trình xin việc của sinh viên kế toán

2.2.1 Thực trạng về tìm kiếm thông tin

Sinh viên khi ra trường thường ỷ lại vào internet, cho rằng “có Internet là có tất cả” và chỉ dựa vào nó để tìm việc Đây là một điểm trừ lớn trong quá trình tìm

kiếm thông tin vì sinh viên đã bỏ qua nhiều nguồn tin hữu ích, có giá trị như báo chí,truyền thông hay những nguồn tự do( bạn bè, người thân, trung tâm việc làm…)

Không chỉ thế những thông tin trên Internet không phải lúc nào cũng chính xác, hiệntượng lừa đảo diễn ra ngày càng nhiều với thủ đoạn tinh vi để lại những bài học đắt giá cho các bạn sinh viên chuẩn bị sơ sài, ỷ lại

2.2.2 Thực trạng làm và nộp hồ sơ

Hiện nay có rất nhiều bộ hồ sơ xin việc không đạt yêu cầu thường là thiếu

thông tin, cẩu thả và nội dung hồ sơ sơ sài, nhiều hồ sơ in theo mẫu, in nhiều hồ sơ

Trang 11

cùng lúc thể hiện sự thiếu tôn trọng và nhiệt tình Hầu hết mọi người có khuynh

hướng gởi càng nhiều hồ sơ xin việc đến các nhà tuyển dụng càng tốt Họ biện mình cho việc làm này bằng cách tự nhủ: “Mình muốn các nhà tuyển dụng biết đến mình bằng bất cứ cách nào Làm việc gì cũng được” Nhưng thật sự là hầu hết các nhà

tuyển dụng chỉ lướt sơ qua hồ sơ xin việc của bạn dựa vào một số chỗ quan trọng

thôi chứ không đọc hết Ngày nào họ cũng bị chìm ngập trong một đống hồ sơ xin việc, vì vậy có những bộ hồ sơ họ có thể quyết định gạt qua một bên mà không thèmliếc qua nội dung Vì vậy hãy bắt đầu với những mục tiêu xác định và giữ vững lập trường

2.2.3 Thực trạng về thi trắc nghiệm

Hiện nay, để tuyển dụng các nhân sự quan trọng, nhiều công ty lớn áp dụng

hình thức kiểm tra bằng phương pháp làm bài trắc nghiệm Tuy vậy phần lớn các

cuộc kiểm tra đều có rất ít sinh viên đạt yêu cầu Ngay cả sinh viên kế toán thường xuyên tiếp xúc với dạng bài trắc nghiệm cũng không đạt được kết quả khả quan hơn.Điều tra cho thấy các ứng viên chủ yếu thiếu khả năng tổ chức kết cấu bài làm, xử lýyêu cầu, nhận diện đề bài, phân bố thời gian… Riêng sinh viên kế toán – tài chính

chủ yếu mắc phải tình trạng quá chủ quan vào khả năng xử lý bài trắc nghiệm từ đó khiến cho công tác chuẩn bị không được tốt dẫn đến kết quả không cao

2.2.3 Thực trạng về phỏng vấn

Một thực tế đáng buồn nữa mà các bạn sau khi ra trường không biết hoặc

không để ý là công việc không hề thiếu, thậm chí hiện nay các nhà tuyển dụng còn đang than thở rằng họ thiếu nguồn nhân lực mà không biết bổ sung ở đâu Việc phân

bổ lượng lao động giữa các ngành nghề không đều cũng dễ dẫn đến tình trạng khó xin việc Với nền kinh tế thị trường cùng lối sống thực dụng ngày càng phổ biến

trong bộ phận giới trẻ, số lượng sinh viên kinh tế chúng ta ngày càng tăng Khi đi

phỏng vấn, dù bạn đã chuẩn bị hệ thống câu hỏi phỏng vấn xin việc mà các nhà

Trang 12

tuyển dụng có thể hỏi bạn nhưng khi bước vào cuộc phỏng vấn thực sự đôi lúc sinh viên lại hay lúng túng trước những câu hỏi rất thông thường và không quá khó chỉ vìthiếu sự chuẩn bị Vì vậy, muốn có được việc làm, vị trí trong một công ty mơ ước chúng ta phải chuẩn bị một cách kĩ lưỡng để quá trình phỏng vấn diễn ra thuận lợi.

2.3 Nguyên nhân của thực trạng trên

2.3.1 Nguyên nhân khách quan

Nhìn vào thực trạng chung thì thấy rõ có đến 53% sinh viên kinh tế thiếu các

kĩ năng cần thiết Các doanh nghiệp hiện nay khi tuyển người thường đòi hỏi ứng

viên phải có kinh nghiệm làm việc chuyên môn trong khi các sinh viên mới ra

trường chỉ có trong tay mình toàn những lý thuyết sách vở Không làm thêm các

công việc, trau dồi kiến thức thực tế khiến các bạn sinh viên không thể được công

việc như ý

Bên cạnh đó hệ thống giáo dục lạc hậu, đào tạo sinh viên không theo nhu cầu

tuyển dụng của doanh nghiệp thì bản thân sinh viên hiện nay đang có những sự trì

trệ Thiếu kỹ năng mềm: thuyết trình, thuyết phục người đối diện, vi tính, ngoại

ngữ… làm doanh nghiệp không thể lựa chọn ứn viên vào vị trí tuyển dụng

Theo xu hướng thời đại, kế toán đang là ngành hot nhất nên trường nào cũng mở thêm khoa kinh tế nhằm thu hút sinh viên vào trường Đào tạo một cách ồ ạt trong khi kinh tế đang khủng hoảng việc dư thừa nguồn nhân lực là không thể tránh khỏi

Tình trạng sinh viên làm trong các doanh nghiệp nhưng lại không gắn bó làm mất đi nhiều cơ hội cho chính bản thân Thông thường, sinh viên mới tốt nghiệp thì doanh nghiệp phải mất khoảng 6 tháng để đào tạo mới có thể làm được công việc được giao Nhưng có một thực tế là sinh viên hay chuyển việc từ công ty này đến công ty khác trong một thời gian ngắn Việc này làm các doanh nghiệp và công ty gặp nhiều khó khăn trong công tác đào tạo nhân sự

Trang 13

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan

2.3.2.1 Thụ động trong quá trình xin việc

Trong thời buổi kinh tế khó khăn, sinh viên mới ra trường kinh nghiệm chưa nhiềunên tìm được một công việc là điều không đơn giản Nhiều sinh viên mới ra trường còn thụ động trong quá trình tìm việc cho bản thân Họ chỉ gửi một bộ hồ sơ cho một công ty yêu thích và chờ đợi nhà tuyển dụng liên lạc Thậm chí, một số người không làm gì mà mong chờ bố mẹ hay người quen tìm việc hộ Sự thụ động này sẽ khiến sinh viên mới ra trường mất tính cạnh tranh và bỏ lỡ những cơ hội tốt

Với sự phát triển của internet hiện nay, nhiều người cho rằng “có Internet là có tất cả” và chỉ dựa vào nó để tìm việc Tuy nhiên, đó không phải là cách duy nhất cũng như hiệu quả nhất

Chính sự thụ động khiến các bạn trì trệ trong mọi công việc Không sử dụng tối đa cácmối quan hệ có thể của ông bà, bố mẹ, bạn bè Nhờ cậy không bao giờ là sai hay thể hiện mình là người kém cỏi cả Chính các mối quan hệ mới giúp sinh viên tìm được công việc phù hợp và địa chỉ đáng tin cậy

2.3.2.2 Hồ sơ xin việc không phù hợp

Hồ sơ xin việc không chuẩn bị cẩn thận là nguyên nhân khiến các bạn sinh viên bị loại Khi lần đầu tiên làm hồ sơ xin việc do lúng túng chưa có kinh nghiệm nên sinh viên thường mắc phải những lỗi sau:

Lỗi chính tả, in ấn Những lỗi chính tả thường rất dễ nhìn thấy và có thể chỉ vì những lỗi chính tả hoặc lỗi in này, nhà tuyển dụng có thể kết luận bạn không hề đọc hồ sơtrước khi gửi đi, thậm chí không quan tâm nó ra sao

Viết một hồ sơ gửi “n công ty” Có nhiều bạn do lười biếng cố tình sử dụng một

bộ hồ sơ gửi đến nhiều công ty khác nhau, hệ quả luôn luôn là bộ hồ sơ của bạn sẽ bị némvào thùng rác không thương tiếc

Thiếu chú trọng tới các thành tựu đạt được

Một bộ hồ sơ chỉ liệt kê các thành tựu của bạn kiểu như:

Tham dự các cuộc họp và làm vai trò thư kí

Trang 14

Cập nhật công văn cho văn phòng

Tham gia rất nhiều các phong trào sinh viên

Các nhà tuyển dụng chẳng muốn quan tâm xem bạn đã tham gia bao nhiêu công việc và hoàn thành nó như thế nào đâu Và với kiểu liệt kê một list dài và vô vị như thế họ sẽ chán ngấy dẫn đến bạn bị mất điểm ngay lập tức

CV quá dài hoặc quá ngắn Chẳng có một quy định nào dành cho độ ngắn dài của

CV ra sao hơn nữa mỗi người có những kinh nghiệm và chuyên môn khác nhau thậm chí người đọc hồ sơ cũng khác nhau nhưng lan man dài hơn 5 trang giấy hoặc giới thiệu bản thân mình chỉ vỏn vẹn 2 trang cũng là một lỗi của sinh viên khi viết hồ sơ xin việc

Một mục tiêu không tốt.Mạnh dạn tuyên bố mục tiêu của bản thân khi xin vào công ty với một câu slogan rất chung chung như:” Tôi muốn tìm một vị trí thử thách và đúng khả năng chuyên môn của mình.” Mục tiêu của bạn đấy sao các nhà tuyển dụng sẽ nghĩ: “ Anh/chị ta còn chẳng biết rõ mục tiêu của mình ra sao? “ Thế là hồ sơ của bạn bịloại

Quên những thông tin quan trọng.Có thể bạn nghĩ việc mình đi làm thêm ngoài giờ học chẳng có gì quan trọng và công việc làm thêm đó cũng chẳng giúp gì để nâng cao khả năng chuyên môn nên loại bỏ chi tiết đó ra khỏi hồ sơ Nhà tuyển dụng không biết bạn đãđược trải nghiệm với cuộc sống và họ sẽ chọn những người tích cực hơn

Thông tin rối Một bộ hồ sơ dầy đặc chữ và không được sắp xếp cẩn thận là cho nhà tuyển dụng “ điên cả đầu” đương nhiên sẽ bị loại

Ghi thông tin liên hệ sai Không soát lại kĩ càng các thông tin liên lạc quan trọng, làm cho nhà tuyển dụng không thể liên lạc nghĩa là bị mất cơ hội

2.3.2.3Chuẩn bị và làm bài trắc nghiệm không tốt

Sau khi có một bộ hồ sơ ấn tượng, hài lòng nhà tuyển dụng bạn sẽ bước tiếp đến công việc chuẩn bị làm bài trắc nghiệm xin việc Hiện nay, bài trắc nghiệm xin việc ngày càng trở thành công cụ phổ biến để đánh giá khả năng của các ứng viên của công ty Rất nhiều công ty lớn áp dụng hình thức này nhưng phần lớn các cuộc kiểm tra chỉ đạt

khoảng 30% yêu cầu Theo các chuyên viên tư vấn nhân sự, hình thức làm bài trắc

nghiệm chỉ ra nhiều ứng viên còn thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức làm bài, xử lý yêu

Trang 15

cầu, nhận diện đề bài, phân bố thời gian… Lí do là các ứng viên chưa chuẩn bị kĩ lưỡng các kĩ năng cần thiết để làm bài trắc nhiệm tốt.

Chưa chuẩn bị kĩ lưỡng cho buổi phỏng vấn Sau cuộc phỏng vấn, nhiều ứng viên

đã thấ vọng vì chắc chắn sẽ không nhận được câu trả lời của nhà tuyển dụng Sở dic biết trước kết quả là ví trong cuộc phỏng vấn, sinh viên thường mắc phải một số lỗi khiến nhàtuyển dụng không hài lòng Sau đây là một số lỗi mà người đi phỏng vấn thường mắc phải :

2.3.2.4 Khi tham gia phỏng vấn:

Trang phục không phù hợp: Khi đi phỏng vấn, bạn mặc một bộ đồ quá lòe loẹt hoặc quá gợi cảm sẽ gây ấn tượng không tốt với nhà tuyển dụng

Mang theo đồ uống vào phòng phỏng vấn Một số bạn mang đồ uống khi vào phòng phỏng vấn như thế làm mình mất đi tính chuyên nghiệp và một số trường hợp không may có thể xảy ra những tai nạn không hay như đổ đồ uống lên bàn, lên quàn áo

Sử dụng điện thoại khi phỏng vấn: Gọi điện, nhắn tin hay trả lời các cuộc gọi khi đang trả lời phỏng vấn không chỉ gây mất lịch sự mà còn chứng tỏ bạn không chú tâm tớicuộc phỏng vấn hoặc sẽ khiiesn nhà tuyển dụng nghĩ công việc này cũng chẳng quan trọng bằng một cuộc gọi của ai đó Các nhà tuyển dụng sẽ nghĩ bạn không phải đối tượng

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP

3.1.Về phía sinh viên

Ngày đăng: 26/10/2013, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w