1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG VÀ KẾ TOÁN CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

21 328 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lí luận cơ bản về nghiệp vụ tín dụng và kế toán cho vay của ngân hàng thương mại
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tín dụng ngân hàng
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 36,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong các hoạt động quan trọng của NH là tập trung mọi hoạt động nguồnvốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng nằm ngoài quá trình sản xuất kinhdoanh phân tán ở mọi thành phần kinh

Trang 1

LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG VÀ KẾ TOÁN

CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM

1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Từ tín dụng xuất phát từ tiếng La-tinh "credo" có nghĩa là "sự giao phó" hay

"tôi đặt niềm tin vào đó", hoặc từ tiếng La-tinh "credittum" có nghĩa là "sự tínnhiệm"

TD NH là một phạm trù kinh tế tồn tại qua nhiều hình thức xã hội khác nhau.Tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau ta có những cách biểu hiện khác nhau.Theo quan niệm truyền thống TD là mối quan hệ kinh tế trong đó một ngườichuyển giao cho người khác, tổ chức kinh tế khác quyền sử dụng một lượng giá trịhoặc một lượng hiện vật nào đó với những điều kiện được hai bên thoả thuậntrước, những điều kiện đó thường về số lượng, chất lượng, thời gian hoàn trả vàlượng giá trị tăng thêm Hay nói cách khác TD là sự chuyển nhượng tạm thời mộtlượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồiđược một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu

Theo Luật các tổ chức TD: Cấp TD là việc tổ chức TD thoả thuận để KH sửdụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiếtkhấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ khác

Hoạt động TD có từ rất xa xưa và phát triển qua các chế độ xã hội khác nhau

TD nặng lãi tồn tại phổ biến trong xã hội phong kiến và hiện nay vẫn còn tồn tại ởmột số nơi, một đặc điểm của hình thức TD này là lãi suất cho vay rất cao từ vàichục cho đến hàng trăm % TD nặng lãi không thúc đẩy nền sản xuất mà nó chỉnhằm mục đích phục vụ những nhu cầu tối thiểu của con người

Nền sản xuất kinh doanh hàng hoá ngày càng phát triển, các nhà kinh doanh

tư bản hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu, họ phải xem xét tới chi phí vay

Trang 2

vốn của mình, để có lãi trong kinh doanh nhà tư bản không vay vốn với lãi suất caohơn tỷ suất lợi nhuận Do đó, xuất hiện một hình thức TD phù hợp hơn đó là tíndụng thương mại.

Tín dụng thương mại là hình thức mua bán chịu lẫn nhau giữa các nhà sảnxuất hàng hoá, giữa các thương nhân với nhau, giữa các nhà sản xuất với cácthương nhân Theo C.Mác "Tín dụng thương mại không phải cho vay bằng hànghoá mà cho vay bằng tiền của hàng hoá đem bán chịu" Quan hệ mua bán chịu nàychỉ diễn ra trong một phạm vi nhỏ của nền kinh tế, chỉ giữa các đơn vị có liên quantrực tiếp với nhau, có thông tin đầy đủ về nhau Vì vậy hình thức TD này cũngkhông đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển của nền sản xuất hàng hoá

Từ những hạn chế của tín dụng thương mại, TD NH ra đời Hoạt động tíndụng này có liên quan đến chủ thể rất quan trọng đó là NH Khi nói về vấn đề nàyC.Mác nhận xét "NH ra đời với vai trò môi giới tài chính trung gian và tập trungcác khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế đem cho các nhà DN và công chúng vay.Bằng cách đó tạo ra sức mua cho họ mà không làm giảm sức mua của bất cứ ai Đóchính là nét nổi bật trong vai trò của NH, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tếhàng hoá phát triển mạnh mẽ"

Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất đối với bản thân các NHTM, chiếm tỷtrọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt độngmang lại rủi ro cao nhất TD là hoạt động tài trợ của NH cho khách hàng (còn đượcgọi là TDNH)

1.1.2 Sự cần thiết và vai trò của tín dụng ngân hàng.

1.1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động tín dụng ngân hàng.

Là một phạm trù kinh tế xuất hiện trong nền sản xuất hàng hoá, TD ra đờikhông chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu cần điều hoà vốn trong xã hội mà còn là độnglực thúc đẩy sự tăng trưởng của một nước Về nội dung kinh tế, TD thực chất là

Trang 3

một quan hệ phân phối hình thái vận động đặc biệt của nguồn tài chính, sự vậnđộng này được thực hiện theo một chu kỳ khép kín mang tính quy luật Nói một

cách khác "tín dụng là quan hệ kinh tế về sử dụng vốn tạm thời giữa người cho vay

và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả dựa trên sự tín nhiệm ", nhờ có tín

dụng mà nguồn tài chính đã luân chuyển trong nền kinh tế quốc dân từ chủ thể nàysang chủ thể khác nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế xã hội

1.1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng

1.1.2.2.1 Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và phục vụ sản xuất kinh doanh.

Hoạt động TD của NH làm nhiệm vụ "thông dòng" để vốn chảy từ nơi thừađến nơi thiếu thông qua việc thực hiện hoạt động đi vay và cho vay Điều này đượcthể hiện qua việc thu hút các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trong quá trình luânchuyển vốn của các DN, các khoản thu nhập khác bằng tiền của các tổ chức và cánhân chưa sử dụng, từ đó đáp ứng nhu cầu thiếu vốn của các đối tượng vay

Tuy nhiên, trong quá trình đầu tư tín dụng không rải đều cho mọi chủ thể cónhu cầu mà việc đầu tư được tập trung cho DN lớn kinh doanh có hiệu quả Đầu tưtập trung là tất yếu trên cơ sở đảm bảo các điều kiện TD sẽ tránh được rủi ro vàthúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1.1.2.2.2 Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy, củng cố chế độ hạch toán kinh

tế

Đặc trưng cơ bản của TD là vận động trên cơ sở hoàn trả và có lãi theo đúng kỳhạn cả vốn và lãi Do đó, các DN phải sử dụng vốn vay vào sản xuất, kinh doanh saocho được đảm bảo an toàn cho NH cũng như chính bản thân DN

Thông qua cho vay, vốn TD được cung cấp kịp thời tạo điều kiện thuận lợicho sản xuất kinh doanh, đồng thời kiểm soát được hoạt động kinh tế đối với DN

Trang 4

vay vốn Làm cho người vay vốn ngày càng hoàn thiện hơn việc quản lý đồng vốnthông qua quá trình hạch toán kinh tế, góp phần củng cố chế độ hạch toán.

1.1.2.2.3 Tín dụng ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Với hình thức đa dạng hoá các thành phần kinh tế thì các loại hình DN ngàycàng phát triển phong phú hơn Điều này đã đòi hỏi sức vươn lên của từng DN bởikhi đã có nhiều các DN cùng tham gia vào một thị trường thì cạnh tranh là quy luậttất yếu xẩy ra Do vậy, nguồn vốn dồi dào sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các DN

mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật hiệnđại, giúp các DN đứng vững trong cạnh tranh Các DN phải cạnh tranh nhau nên sẽtạo ra những sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao hợp thị hiếu mọi người và cuốicùng là tạo cho người tiêu dùng tâm lý yên tâm, tin tưởng vào chất lượng hàng hoátạo ra sự công bằng giữa người tiêu dùng và người sản xuất

1.1.2.2.4 Tín dụng Ngân hàng là công cụ tài trợ nền kinh tế chiến lược, mũi nhọn.

Một trong các hoạt động quan trọng của NH là tập trung mọi hoạt động nguồnvốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng nằm ngoài quá trình sản xuất kinhdoanh phân tán ở mọi thành phần kinh tế như nằm trong tay dân cư, các DN, các tổchức, cơ quan Nhà nước để từ đó phân phối lại vốn vay đối với các thành phầnkinh tế, giải đều cho mọi chủ thể kinh tế có nhu cầu Tuy nhiên, quá trình đầu tư

TD chỉ được thực hiện một cách tập trung có mục đích chủ yếu cho các DN lớn,các DN kinh doanh có hiệu quả Đầu tư tập trung là một quá trình tất yếu đảm bảothúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hạn chế rủi ro

Trong điều kiện nước ta, là một nước nông nghiệp có trình độ còn thấp, sảnxuất trong nước đang cố gắng đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết cho xã hội Do đó,nông nghiệp được coi như là mặt trận hàng đầu làm cơ sở để phát triển côngnghiệp Vì thế trong giai đoạn trước mắt Nhà nước cần phải tập trung đầu tư phát

Trang 5

triển nhưng để giải quyết nhu cầu tối thiểu của xã hội đồng thời tạo điều kiện đểphát triển các ngành kinh tế khác Bên cạnh đó Nhà nước cần phải tập trung tíndụng đầu tư cho các ngành kinh tế mũi nhọn, vì phát triển các ngành này sẽ tạođiều kiện để tăng nguồn thu ngoại tệ cho Nhà nước, lôi cuốn các ngành khác pháttriển theo như sản xuất hàng xuất khẩu

1.1.2.2.5 Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ kinh tế với nước ngoài.

TDNH đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế giữa cácnước với vai trò của TDNH đã ngày càng tạo điều kiện cho các DN trong nước có

cơ hội mở rộng hoạt động của mình ra nước ngoài một cách có hiệu quả hơn Qua

đó TDNH đóng vai trò trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá trên thị trường quốc

tế, góp phần tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước

1.1.3 Các phương thức cho vay.

Hiện nay, các tổ chức TD áp dụng các phương pháp cho vay theo Quyết định

số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NH Nhà nước ViệtNam Theo đó, các tổ chức tín dụng thoả thuận với KH về việc lựa chọn phương áncho vay theo một trong các phương thức cho vay sau:

Cho vay có thời hạn: là những khoản cho vay trong một thời gian nhất định.

Nhất quán với thông lệ quốc tế, ở Việt Nam các khoản vay này được định nghĩanhư sau:

- Vay ngắn hạn là khoản vay được thanh toán trong vòng một năm kể từngày giải ngân;

- Vay trung hạn là khoản vay được thanh toán trong thời hạn lớn hơn 1năm đến 5 năm;

- Vay dài hạn là khoản vay được thanh toán sau 5 năm trở lên

Trang 6

Cho vay dự án đầu tư: Tổ chức TD cho khách hàng vay vốn để thực hiện

các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục

vụ đời sống Chúng thường là các khoản vay trung hạn hoặc dài hạn và thường cần

có sự hợp vốn của nhiều NH

Cho vay hợp vốn (cho vay đồng tài trợ): là một nhóm các tổ chức TD cùng cho

vay đối với một dự án vay vốn của KH, trong đó có một tổ chức TD làm đầu mối (gọi

là NH đầu mối), dàn xếp phối hợp với các tổ chức TD khác (các NH đồng tài trợ).Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy chế này và quy chế đồng tài trợ của các tổchức TD do Thống đốc NH Nhà nước ban hành

Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, KH và tổ chức TD thực hiện thủ tục cho

vay vốn cần thiết và kí kết HĐTD

thuận một hạn mức TD duy trì trong một khoảng thời gian nhất định

Cho vay trả góp: Khi vay vốn tổ chức TD và KH xác định, thoả thuận số lãi

vốn vay phải trả với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thờihạn cho vay

Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức TD cam kết sẵn sàng cho

KH vay vốn trong phạm vi hạn mức TD nhất định Tổ chức TD và KH thoả thuậnthời hạn hiệu lực của hạn mức TD dự phòng, mức phí trả cho hạn mức TD dựphòng

Cho vay qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng:Tổ chức TD chấp

nhận cho KH được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức TD để thanh toántiền mua hàng hoá dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứngtiền mặt là đại lý của tổ chức TD Khi cho vay, phát hành và sử dụng thẻ TD, KHphải tuân theo các quy định của Chính phủ và NH Nhà nước Việt Nam về pháthành và sử dụng thẻ TD

Trang 7

Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức TD thoả thuận

bằng văn bản chấp thuận cho KH chi vượt số tiền có trên TK thanh toán của KHphù hợp với các quy định của Chính phủ NH Nhà nước Việt Nam về hoạt độngthanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

Phương thức cho vay là một nội dung quan trọng của kỹ thuật cung ứngvốn TD đối với các tổ chức kinh tế, việc xác định được phương thức cho vay thíchhợp với một tổ chức kinh tế sẽ tạo ra điều kiện tốt để thực hiện các nghiệp vụ TD,gắn sự vận động của tổ chức TD với sự vận động của đối tượng vay vốn

1.1.4 Chỉ tiêu đánh chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng.

Chất lượng TD là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều nội dung, trong đó cónội dung quan trọng thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ Do vậy, trong một

số trường hợp khi nói đến chất lượng TD theo nghĩa hẹp người ta có thể chỉ nêulên tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

Trong hoạt động kinh doanh của các NHTM hiện nay, chất lượng TD vẫn làmột nội dung được đặc biệt quan tâm không chỉ của các nhà quản lý, điều hànhtrong NH mà còn là mối quan tâm lo ngại của nhiều cấp, nhiều ngành từ Trungương đến địa phương Mặc dù vậy, cho đến nay cũng chưa có quy định cụ thể về

hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng TD của các NHTM Đây là yêu cầu cầnthiết không chỉ đối với đội ngũ thanh tra trong quá trình thực hiện thanh tra, kiểmsoát các NHTM mà còn là cơ sở để các NHTM tự đánh giá độ an toàn và chấtlượng của đồng vốn mà họ cho vay đối với mỗi KH

Chỉ tiêu đánh giá chất lượng TD vừa có chỉ tiêu mang tính định tính, vừa cóchỉ tiêu mang tính định lượng Nhưng hiện nay ở nước ta việc quy định cho các chỉtiêu mang tính định tính rất khó do nó chỉ mang tính tương đối Vì vậy, nếu xét vềbản chất và yêu cầu đối với một NHTM, theo tôi, trước mắt NHNN Việt Nam cần

Trang 8

quy định hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng TD của các NHTM theo các chỉ tiêusau:

- Tỷ lệ nợ quá hạn:

Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của NHTM

ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm

Tỷ lệ nợ quá hạn được tính không chỉ mang tính tổng quát mà phải cụ thể theocấp độ của từng khoản vay Ví dụ:

Tỷ lệ nợ quá hạn =

Nî khã thu håi Tæng d nî tÝn dông

Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong hoạt động kinh doanh là khách quan,

do đó nợ quá hạn của NHTM là tất yếu, không thể tránh khỏi Song, nếu mộtNHTM có nhiều khoản nợ quá hạn sẽ gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh vì sẽ

có nguy cơ mất vốn, mà đây là điều tệ hại dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán vàgiảm thu nhập NHTM nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng

TD thấp Đây là chỉ tiêu hiện nay thường được sử dụng khi phân tích đánh giá chấtlượng TD của NHTM

- Cơ cấu vốn đầu tư:

Một trong các chỉ tiêu trong khi xem xét và đánh giá chất lượng TD củaNHTM là chỉ tiêu cơ cấu vốn đầu tư tín dụng Việc phân tích cơ cấu vốn đầu tư TDchính là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứngcủa bản thân NH cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa Trên cơ sở đó, cácNHTM có thể quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý

để vừa đảm bảo an toàn vốn cho vay vừa có thể thu lại lợi nhuận cao nhất

- Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay:

Nếu xét về bản chất TD, thì nguồn trả nợ cho NH của người vay về nguyêntắc là được trích ra từ phần thu nhập do hoạt động sản xuất kinh doanh của KH, nóbao gồm các chi phí lao động vật hoá (chi phí nguyên, nhiên vật liệu, khấu hao tài

Trang 9

sản cố định) và phần giá trị mới sáng tạo ra Tuy vậy, có nhiều trường hợp do sửdụng vốn kém hiệu quả, bị mất vốn (sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản ) nênngười vay phải bán tài sản (có thể do tự nguyện hoặc bắt buộc) để trả nợ NH Sốtiền do bán tài sản có thể đủ để trả hết nợ món vay, nhưng cũng có thể chỉ trả đượcmột phần nợ vay, song trong trường hợp nào đi chăng nữa thì vẫn có thể đánh giá

là chất lượng TD thấp Công thức tính tỷ lệ này có thể được xác định như sau:

Tỷ lệ này được các NHTM tính theo định kỳ (tháng, quý, năm), số dư nợ dobán tài sản có thể thống kê theo báo cáo của TD

Ở Việt Nam, từ khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì hoạt động

TD của các NHTM đã được đổi mới một bước, các khoản TD cấp ra về nguyên tắcđều yêu cầu phải có tài sản đảm bảo cho khoản vay (trừ các trường hợp cho vaytheo chỉ định của Chính phủ) Tuy nhiên, nội dung này vẫn là vấn đề nan giải đốivới các NHTM Theo thống kê của NHNN Việt Nam thì trong số hơn 10.000 tỷđồng giá trị tài sản bắt nợ, xiết nợ mà các NHTM đang quản lý thì có tới hơn mộtnửa là loại tài sản khó bán

1.2 VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN CHO VAY.

1.2.1.Vai trò, nhiệm vụ của kế toán ngân hàng.

Kế toán NH, thực hiện nhiệm vụ ghi chép, phản ánh toàn bộ đầy đủ, chính xáccác mặt nghiệp vụ, hoạt động tài chính ở mỗi hệ thống NH để hình thành hệ thốngchỉ tiêu thông tin kinh tế, tài chính phục vụ công tác quản lý, kiểm tra và bảo vệ antoàn tài sản

Hạch toán kế toán là kế hoạch quản lý, nghiên cứu quá trình tái sản xuất xãhội thông qua sự hình thành và vận động tài sản (vốn) trong nền kinh tế xã hội Do

Trang 10

vậy, để quản lý tốt nền kinh tế đưa đất nước phát triển theo đúng mục tiêu củaĐảng và Nhà nước thì phải tổ chức tốt công tác kế toán.

Trong " Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước " ban hành kèm Nghị định

25/HĐBT ngày 18/3/1989 của Hội đồng bộ trưởng có nêu: " Kế toán là công cụ

quan trọng để tính toán xây dựng kiểm tra việc chấp hành Ngân sách Nhà nước để điều hành và quản lý nền kinh tế quốc dân Đối với các tổ chức xí nghiệp kế toán

là công cụ quan trọng để điều hành quản lý các hoạt động tính toán kinh tế và kiểm tra bảo vệ tài sản, vật tư tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và tự chủ của DN".

Nghiên cứu hoạt động NH chúng ta sẽ thấy được vai trò, ý nghĩa của kế toán

NH nói chung và kế toán cho vay nói riêng

1.2.1.1.Nhiệm vụ của kế toán ngân hàng:

Để có thể phát huy đầy đủ vai trò của mình, kế toán NH phải thực hiện cácnhiệm vụ sau:

- Ghi nhận phản ánh đầy đủ tạm thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thuộchoạt động nguồn vốn và sử dụng vốn của NH theo đúng pháp lệnh kế toán thống

kê của Nhà nước và các chế độ thể lệ kế toán NH Trên cơ sở đó để bảo vệ an toàntài sản của bản thân NH cũng như tài sản của toàn xã hội đang được bảo quản tại

NH

- Phân loại nghiệp vụ tổng hợp với số liệu theo đúng phương pháp kế toán

và theo những chỉ tiêu nhất định nhằm cung cấp thông tin một cách đầy đủ, chínhxác, kịp thời để phục vụ công tác lãnh đạo thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, đồngthời quản lý chỉ đạo hoạt động kinh doanh của NH

- Giám sát quá trình sử dụng tài sản (vốn) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngcác loại tài sản thông qua kiểm soát trước (tiền kiểm) các nghiệp vụ bên Nợ và bên

Ngày đăng: 26/10/2013, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w