Tín dụng tuần hoàn là một hình thức cho vay, trong đó ngân hàng cam kết chínhthức dành cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong một thời hạn nhất định.Cam kết có thể dài từ 1 đến 3 năm
Trang 1TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng.
1.1 Khái niệm về tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng
Tín dụng credit) xuất phát từ thuật ngữ la tinh là tin tưởng tín nhiệm
( credo) trong thực tế cuộc sống được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và kể cảtrong quan hệ tài chính Tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ này có nộidung khác nhau
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sangchủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ
từ người đi vay sang người cho vay
Trong quan hệ tài chính cụ thể thì tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ
sở có hoàn trả giữa hai chủ thể Phổ biến hơn cả trong quan hệ này là giao dịchgiữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và các cá nhânthể hiện dưới hình thức cho vay tức là ngân hàng cấp tiền cho vay cho bên đi vay
và sau một thời gian nhất định người vay phải thanh toán cả gốc và lãi
Tín dụng còn có nghĩa là số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấpcho khách hàng
Khi xem xét tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì tín dụngđuợc hiểu như sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản(tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay(ngânhàng, các định chế tài chính khác) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản chobên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có
Trang 2trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạnthanh toán.
Từ khái niệm này ta có thể thấy được bản chất của tín dụng là một giao dịch vềtài sản trên cơ sở hoàn trả
Tín dụng trung dài, hạn là khoản cho vay của ngân hàng có thời hạn trên mộtnăm nhưng không dài hơn thời gian khấu hao cần thiết của tài sản hình thành bằngvốn vay Việc phân chia cụ thể tín dụng trung dài hạn tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia,
ở Việt Nam theo quy chế cho vay mới 1267/2001/QĐ của Ngân hàng Nhà nước cóhiệu lực từ 01/02/2002 các khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến năm năm làtín dụng trung hạn và các khoản tín dụng có thời hạn từ năm năm trở lên là tíndụng dài hạn
Tín dụng trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước Việtnam thì cho vay trung hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm
Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định,cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựngcác dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Trong nông nghiệpchủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các thiết bị sau: Máy cày, máy bơm nước,xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định cho vay trung và dài hạn còn là nguồn hìnhthành vốn lưu động thường xuyên cho các doanh nghiệp đặc biệt là những doanhnghiệp mới thành lập
Tín dụng dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa cóthể lên tới 20 đến 30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên tới 40 năm
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dàihạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận tải có quy mô lớn, xâydựng các xí nghiệp mới
Trang 3Nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạnnhưng từ những năm 70 trở lại đây các Ngân hàng thương mại đã chuyển sangkinh doanh tổng hợp và một trong số những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷtrọng cho vay trung, dài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng Muốn được nhưvậy thì ngân hàng cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn.
1.2 Phân loại tín dụng trung, dài hạn.
1.2.1 Tín dụng để mua sắm máy móc- thiết bị trả góp.
Tín dụng để mua sắm máy móc thiết bị trả góp là các khoản cho vay tài trợ nhucầu mua sắm máy móc thiết bị của doanh nghiệp, có thời hạn trên 1 năm, tiền vayđược thanh toán dần dần cho ngân hàng theo từng định kì
1.2.2 Tín dụng theo kỳ hạn.
Tín dụng theo kì hạn thường dùng tài trợ cho các mục đích chung của doanhnghiệp, bao gồm tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên, mua sắm các bất độngsản phục vụ sản xuất kinh doanh, các thiết bị sản xuất, tài trợ cho nhu cầu vốn choviệc liên doanh, liên kết trong kinh doanh và thậm chí còn có cả tài trợ cho việcthanh toán các khoản nợ khác
Đối với hai phương thức tín dụng vừa trên, thường việc thanh toán tiền vay theocác định kì là bằng nhau Nhưng cũng có khi tiền vay được thanh toán ở kì hạncuối cùng nhiều hơn và các kì hạn khác có mức thanh toán bằng nhau Ngân hàngthường yêu cầu khách hàng thanh toán cho mình một số tiền vay ở kì hạn cuối lớnhơn so với số tiền thanh toán ở các kì hạn trước đó trong các trường hợp sau:
Ngân hàng muốn giúp doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt hơn trong thờihạn vay, miễn sao đến khi kết thúc thời hạn vay thì khách hàng phải hoàn trả hếttiền vay, kể cả lãi cho ngân hàng
Khi thời hạn vay theo yêu cầu của khách hàng ngắn hơn thời hạn cho vay màngân hàng mong muốn
Trang 4Đối với các khoản tín dụng theo kì hạn, có nhiều lúc khách hàng được yêu cầuphải duy trì ở ngân hàng một số tiền nhất định, thường dưới dạng tiền gửi có kìhạn, trong tổng số tiền được vay, được gọi là số dư tiền gửi bù trừ Đối với ngânhàng số dư tiền gửi bù trừ mà khách hàng phải duy trì có một số tác dụng sau:Giảm chi phí thu hồi vốn của ngân hàng, là nguồn cho vay đối với các khoản vaymới, có tính chất như một khoản phí cam kết, giúp hạn chế rủi ro cho ngân hàng.
1.1.3 Tín dụng tuần hoàn.
Tín dụng tuần hoàn là một hình thức cho vay, trong đó ngân hàng cam kết chínhthức dành cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong một thời hạn nhất định.Cam kết có thể dài từ 1 đến 3 năm thậm chí 5 năm, song thời hạn của khế ướctrong thời hạn được cam kết thường ngắn khoảng 90 ngày và nếu khách hàng thựchiện tốt các điều khoản của hợp đồng tín dụng thì cam kết hạn mức sẽ được táitục, tức là gia hạn thêm một kì hạn bằng kì hạn gốc
Thông thường, khi được hưởng một hạn mức như trên, phần tiền vay mà người
đi vay thực sự được sử dụng trên hạn mức sẽ được tính lãi còn phần hạn mức cònlại, chưa được sử dụng hết sẽ được tính phí, gọi là phí cam kết
Tín dụng tuần hoàn thường được dùng để tài trợ cho nhu cầu tăng trưởng tài sảnlưu động hoặc thay thế cho các khoản nợ ngắn hạn tới kì thanh toán Thực chất tíndụng tuần hoàn là một hình thức lai tạo giữa tài trợ tài sản lưu động thời vụ và chovay kì hạn
Tín dụng tuần hoàn thường được sử dụng khi ngân hàng chưa thể xác định đượcphần tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp Đến khi bộ phận nàyđãđược xác định thì thường hạn mức của tín dụng tuần hoàn sẽ được điều chỉnh vàchuyển sang cho vay kì hạn
1.3 Vai trò của tín dụng trung, dài hạn trong nền kinh tế thị trường
Vai trò đối với ngân hàng
Trang 5Tín dụng trung, dài hạn là một hoạt động không thể thiếu được đối với sự tồntại và phát triển của ngân hàng Bởi vì lợi nhuận thu được từ các khoản tín dụngtrung, dài hạn chiếm tỷ lệ quan trọng trong tổng lợi nhuận của ngân hàng Thunhập từ tiền cho vay biểu hiện dưới dạng lãi tiền vay và phụ thuộc chủ yếu vào thờihạn của các khoản vay Thời hạn tín dụng càng dài thì lãi suất càng cao và do đóthu nhập của ngân hàng càng lớn vì vậy nếu ngân hàng mở rộng và nâng cao đượcchất lượng tín dụng trung dài hạn thì càng có điều kiện kiếm lời hơn Dư nợ tíndụng trung, dài hạn luôn là con số được quan tâm trong các tài liệu về ngân hàng vì
xu hướng bây giờ các ngân hàng đang chuyển hướng sang kinh doanh tổng hợp vìvậy phải nâng cao trung, dài hạn tỷ trọng tín dụng trung, dài hạn trong tổng số dư
nợ của ngân hàng Không chỉ có vậy, việc đáp ứng tốt nhu cầu tín dụng trung dài,hạn cũng đem lại cho ngân hàng một vũ khí cạnh tranh lợi hại Chất lượng tín dụngtrung dài hạn cao thể hiện năng lực quản lý, năng lực chuyên môn của cán bộ ngânhàng cao Điều đó tạo nên uy tín của ngân hàng
Vai trò đối với khách hàng
Tín dụng trung, dài hạn là loại tín dụng chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cốđịnh của doanh nghiệp để mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất, từ
đó cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng sản xuấtchiếm lĩnh thị trường
Có thể nói tín dụng trung, dài hạn là trợ thủ đắc lực tài trợ cho các doanh nghiệptrong việc khai thác các cơ hội kinh doanh vì trên thực tế các doanh nghiệp thườnggặp phải một căn bệnh kinh niên là thiếu vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh.Nền kinh tế không ngừng vận động, hàng hoá sản xuất ra ngày càng phong phú
đa dạng, có chất lượng cao và nhu cầu con người không ngừng nâng cao Mộtdoanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì phải biếtnắm bắt các nhu cầu và thoả mãn các nhu cầu đó
Trang 6Như vậy doanh nghiệp phải không ngừng mạnh dạn đổi mới đầu tư nâng caochất lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất để tham nhập và duy trì sản phẩm ở thịtrường mới nhiều tiềm năng Do nguồn ngắn hạn chỉ đáp ứng nhu cầu thiếu vốntạm thời trong doanh nghiệp chứ không thể giúp doanh nghiệp mua sắm máy mócthiết bị, đầu tư xây dựng nhà máy mới, thực hiện các hoạt động kinh doanh có thờigian thu hồi vốn lâu dài Chính vì vậy mà các doanh nghiệp lựa chọn hình thức vaytrung, dài hạn vì vay trung, dài hạn ngân hàng thực hiện tốt hơn so với viêc pháthành chứng khoán, đồng thời tránh được một số chi phí như chi phí đăng kí, chiphí bảo hiểm vì vậy tín dụng trung, dài hạn là biện pháp quan trọng để các doanhnghiệp có vốn cho việc thực hiện dự án của mình.
Vai trò đối với toàn bộ nền kinh tế
Nền kinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời kì dù có là một quốc gia chậmphát triển, đang phát triển hay phát triển thì nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu tưphát triển là rất cần thiết Đối với các nước chậm phát triển thì hoạt động đầu tưchủ yếu là theo chiều rộng dưới hình thức xây dựng mới, các nước phát triển chủyếu đầu tư chiều sâu theo hướng hiện đại hoá Còn các nước đang phát triển thìvừa đầu tư theo hướng chiều rộng vừa phải đầu tư theo hướng chiều sâu Tín dụngtrung, dài hạn có tác dụng không nhỏ vào sự phát triển chung của nền kinh tế Vì
nó là công cụ để tích tụ, tập trung vốn và ngân hàng cũng có thể làm nhiệm vụ khơidòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, làm trung gian để điều hoàlượng cung cầu vốn cho nền kinh tế từ đó tín dụng trung, dài hạn góp phần đẩynhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đầu tư nền kinh tế thực hiện công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước
2 Chất lượng tín dụng trung dài hạn và một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng.
2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng trung, dài hạn.
Trang 7Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng là một nghiệp vụ mang lại phần lớndoanh lợi cho ngân hàng nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro nhất Điều nàyđược thể hiện ngay cả với các khoản cho vay có tài sản thế chấp, cầm cố Nâng caochất lượng tín dụng trung, dài hạn là một vấn đề quan trọng hàng đầu trong hoạtđộng tín dụng của ngân hàng do nguồn vốn mà ngân hàng đầu tư cho các khoảncho vay trung, dài hạn là lớn, lại có thời gian thu hồi vốn dài vì vậy mà ngân hàngcần phải có biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn Trước tiên là đểbảo vệ được nguồn vốn của ngân hàng mình sau đó thực hiện được tốt chức năngkinh doanh tổng hợp.
Do hoạt động kinh doanh của ngân hàng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhấtbởi đặc tính của hoạt động cho vay này là việc chuyển giao hàng hoá và tiền tệ cóliên quan đến tất cả các ngành, các thành phần kinh tế Thêm vào đó tiền tệ lại làmột loại hàng hoá đặc biệt nó rất nhạy cảm với các yếu tố của thị trường như lãisuất, thiên tai, chiến tranh, các hoạt động chính trị xã hội khác Do vậy nghiêncứu để nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn là một yêu cầu bức thiết đối vớitoàn hệ thống ngân hàng
Ngân hàng có chức năng đi vay để cho vay, do vậy đồng tiền qua hoạt động củangân hàng là đồng tiền có giá(vì được hưởng lãi suất) Khi đồng vốn tín dụngtrung, dài hạn gặp phải rủi ro dưới dạng nợ khó đòi hay mất vốn thì ngân hàng dễdàng gặp phải tình trạng khả năng thanh toán bị ảnh hưởng Nếu như ngân hàngkhông đáp ứng được yêu cầu chi thanh toán thì nguy cơ phá sản của ngân hàng làđiều tất yếu Vì vậy chất lượng tín dụng trung, dài hạn ảnh hưởng không nhỏ tới sựsống còn của mỗi ngân hàng
Ngoài ra tín dụng trung, dài hạn có tác dụng to lớn đối với khách hàng như: Dotín dụng tín dụng trung, dài hạn là khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở nên chủyếu nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cố định của khách hàng để mua sắm trang thiết bịmáy móc, xây dựng cơ sở vật chất, từ đó cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất
Trang 8lương sản phẩm, mở rộng sản xuất chiếm lĩnh thị trường Có thể nói, tín dụngtrung, dài hạn là trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thoả mãn các cơhội kinh doanh.
Trong điều kiện Việt nam hiện nay, nhu cầu vốn tín dụng trung, dài hạn để phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đang là một đòi hỏi bức xúc.Nhu cầu này được thoả mãn bằng một phần vốn ngân sách cấp phát, vay nướcngoài, một phần huy động từ dân cư và nguồn vốn tín dụng của ngân hàng Trong
đó nguồn vốn tín dụng trung, dài hạn là một nguồn hết sức quan trọng và có tínhkhả thi cao
Cuối cùng tín dụng trung, dài hạn còn có tác dụng đối với toàn bộ nền kinh tếkhi hoạt động tín dụng trung, dài hạn mà hiệu quả sẽ có tác động tốt tới mọi lĩnhvực kinh tế xã hội Phát triển cho vay trung, dài hạn sẽ giảm bớt các khoản bao cấp
từ ngân sách nhà nước cho việc đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần giảm bớt cáckhoản thâm hụt ngân sách
Bên cạnh đó, tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng đóng vai trò tích cực trongviệc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp vàhạn chế các tệ nạn xã hội
Có thể khẳng định từ các lợi ích mà tín dụng trung, dài hạn mang lại, thì việcnâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn là việc làm quan trọng cần thiết củangân hàng Chất lượng tín dụng trung dài hạn là khái niệm phản ánh khả năng mởrộng tín dụng của ngân hàng phù hợp với nhu cầu vay vốn của khách hàng, vớiyêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đồng thời bảo đảm sự tồn tại của ngân hàng.Chất lượng tín dụng trung, dài hạn vừa mang tính cụ thể thông qua các chỉ tiêu
có thể tính toán được như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn vừa mang tính trừutượng thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, quy trình thủ tục và ta phải xemxét chất lượng tín dụng trung, dài hạn qua 3 khía cạnh sau:
Trang 9 Chất lượng tín dụng trung, dài hạn xét từ góc độ của Ngân hàng thương mại:Chất lượng tín dụng trung, dài hạn thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn của tíndụng trung, dài hạn phải phù hợp với khả năng theo hướng tích cực của bản thânngân hàng và phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắchoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn, hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro
có thể xảy ra
Chất lượng tín dụng trung, dài hạn xét từ góc độ của nền kinh tế: Tín dụngtrung, dài hạn của ngân hàng trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự tăngtrưởng, sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang nền kinh tế thị trường
Đặc biệt tín dụng trung, dài hạn khi đầu tư cho nền kinh tế sẽ tạo ra những sảnphẩm cho xã hội, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần tăngtrưởng nền kinh tế và khai thác khả năng tiềm tàng cho nền kinh tế, thu hút tối đanguồn vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vốn vay nước ngoài có lợi cho nền kinh
tế phát triển Chất lượng tín dụng trung, dài hạn đối với nền kinh tế đó là việc vốncho vay trung, dài hạn được an toàn, làm cho tỷ trọng tín dụng trung, dài hạn củangân hàng được nâng cao thu được lợi nhuận lớn khiến cho hoạt động của ngânhàng được an toàn từ đó làm cho hệ thống ngân hàng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầuquản lý vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, hoà nhập với cộng đồng quốc tế
Chất lượng tín dụng trung, dài hạn xuất phát từ góc độ của khách hàng:Tíndụng trung, dài hạn của ngân hàng phải đáp ứng đầy đủ kịp thời yêu cầu hợp lý củakhách hàng với lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản, không gây phiền hà cho kháchhàng Thu hút được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo đủ nguyên tắc, quy định củatín dụng trung, dài hạn và phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế xã hội,đảm bảo được sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, góp phần đẩy mạnh tài chínhcho ngân hàng
Chất lượng tín dụng trung, dài hạn được hiểu theo đúng nghĩa là vốn vay ngân hàng đáp ứng kịp thời đầy đủ cho doanh nghiệp và được doanh nghiệp đưa vào
Trang 10sản xuất kinh doanh để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới trang thiết
bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới một cách
có hiệu quả nhất, nhằm tạo ra một số lượng tiền lớn hơn để hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ cả gốc, lãi , trang trải các chi phí và thu được lợi nhuận
Chất lượng tín dụng là kết quả của một quá trình phối hợp hành động hợp lý vàhiệu quả giữa các thành viên trong từng tổ chức và giữa các tổ chức với nhau vìmột mục đích chung Do đó, muốn đạt được chất lượng tín dung trung dài hạn caođòi hỏi phải có một phương pháp khoa học chặt chẽ
2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn.
Như chúng ta đã biết, chất lượng tín dụng trung, dài hạn khó có thể xác địnhbằng một chỉ tiêu tổng hợp Để đánh giá được chất lượng tín dụng trung, dài hạnngười ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau Ở đây tôi dùng hai loại chỉ tiêu
để đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn đó là chỉ tiêu chung và chỉ tiêu đặcthù
2.2.1.Một số chỉ tiêu chung
Chỉ tiêu chung là những chỉ tiêu mà bất cứ một cá nhân, một tổ chức nào cũng
có thể nhìn vào đó mà nhận xét được hoạt động tín dụng trung, dài hạn của Ngânhàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam như thế nào, nó biểu hiện bằng các con số cụthể như:
Dư nợ tín dụng trung, dài hạn
Chỉ tiêu này cho thấy khi ngân hàng có số dư nợ tín dụng trung, dài hạn caochứng tỏ ngân hàng cho vay trung, dài hạn nhiều, có thể chất lượng tín dụng trung,dài hạn tăng lên, chúng ta không chỉ dựa và chỉ một chỉ tiêu này mà đánh giá chấtlượng tín dụng trung, dài hạn cao hay thấp mà chỉ tiêu này còn kết hợp với nhiềuchỉ tiêu khác nữa
Nguồn vốn huy động trung, dài hạn
Trang 11Đây là chỉ tiêu đánh giá được hoạt động huy động vốn trung, dài hạn của ngânhàng có hiệu quả không, dựa vào chỉ tiêu này mà chúng ta có thể kết hợp với chỉtiêu dư nợ tín dụng trung, dài hạn để đánh giá được chất lượng tín dụng trung, dàihạn của ngân hàng cao hay thấp Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động huyđộng vốn trung, dài hạn của ngân hàng có hiệu quả.
Nợ quá hạn trung, dài hạn
Khi nợ quá hạn của ngân hàng cao chứng tỏ hoạt động tín dụng trung, dài hạncủa ngân hàng không đạt hiệu quả Nợ quá hạn thường chia làm hai loại:
Nợ quá hạn do định kì hạn nợ ngắn hơn chu kì sản xuất kinh doanh hay vì một
lý do nào đó chưa thu được tiền bán hàng nên đến hạn trả nợ khách hàng chưa cótiền trả Ngân hàng buộc phải chuyển khoản cho vay này sang nợ quá hạn, nhưngkhả năng thu nợ của ngân hàng vẫn cao
Nợ quá hạn do khách hàng vay vốn bị phá sản hoặc kinh doanh thua lỗ hoặc bịlừa đảo hay bị chết không còn khả năng trả nợ cho ngân hàng buộc ngân hàng phảichuyển khoản cho vay này sang nợ quá hạn chờ xử lý Loại nợ quá hạn này đượcgọi là nợ khó đòi, khả năng thu hồi được nợ là rất ít
Trang 122.3.2 Một số chỉ tiêu đặc thù
* Về ngân hàng
Hiệu suất sử dụng vốn vay(HS)
Hiệu suất sử dụng vốn vay(HS) là tỷ số giữa tổng dư nợ tín dụng trung, dài hạn
và tổng vốn trung, dài hạn huy động.
Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của ngân hàngvới khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huyđộng Hầu hết ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn trung dài hạn để đầu tưcho 3 loại tài sản là tài sản cố định, tín dụng trung dài hạn và đầu tư trung dài hạn.Như vậy nếu tỷ lệ trên càng gần một thì chứng tỏ hầu hết các khoản tín dụng trungdài hạn của ngân hàng được tài trợ bởi nguồn vốn trung và dài hạn, điều đó đảmbảo cho ngân hàng có một cơ cấu vốn tối ưu xét về mặt phòng ngừa rủi ro
Việt Nam đang có xu hướng trong tương lai phát triển cơ sở hạ tầng vữngmạnh để thu hút vốn đầu tư của nước ngoài nên luật của các tổ chức tín dụng đãcho phép tài trợ 25% vốn trung, dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn do nhu cầu vềvốn tín dụng trung, dài hạn cao mà khả năng huy động nguồn vốn này còn hạn chế.Thêm vào đó, do đặc điểm các nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng có sự gối đầunhất định nên ngân hàng có thể tận dụng nguồn này một cáh hợp lý để cho vaytrung dài hạn
Chính vì vậy mà tỷ lệ này ở các ngân hàng thường cao hơn 1, khi đó ngân hàng
sẽ sử dụng vốn trung, dài hạn có hiệu quả nếu biết kết hợp với chỉ tiêu dư nợ tíndụng trung dài hạn ở trên