Tình hình đó đã đặt Hà nam vào vị trí đối đầu và cạnh tranhgay gắt, đòi hỏi tỉnh phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đểphát triển kinh tế sánh ngang với các tỉnh kh
Trang 1THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH
HÀ NAM GIAI ĐOẠN 1995- 1999
I ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH HÀ NAM ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ.
Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới
cơ cấu nền kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam nói riêng.Chính vì vậy để nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam thì trước hếtphải xem xét những thuận lợi và khó khăn do đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội đemlại
1- Điều kiện tự nhiên.
Về vị trí địa lý, Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ, cách thủ đô Hà
nội gần 60 km về phía nam, tương lai sẽ trở thành thành phố vệ tinh của thủ đô.Tỉnh Hà nam có thuận lợi lớn vì nằm trên tuyến giao thông chính quốc lộ 1A vàđường sắt xuyên Bắc- Nam Trong tương lai khi tuyến hành lang kinh tế đường 21nối Sơn Tây- Hoà Lạc- Xuân Mai hình thành, cầu Yên Lệnh thông sang Hưng Yên,tuyến xa lộ Bắc Nam được xây dựng sẽ càng tạo nhiều khả năng giao lưu hợp tácgiữa Hà nam và các trung tâm kinh tế lớn trong cả nước Không chỉ có lợi thế vềtuyến đường bộ, đường sắt, tỉnh Hà nam còn có một hệ thống đường thuỷ vô cùngtiện lợi Các con sông lớn chảy qua tỉnh bao gồm sông Hồng, sông Đáy, sông Châu
và sông Nhuệ không những tạo thuận lợi cho giao thông đường thuỷ mà còn đắclực phục vụ tưới tiêu thuỷ lợi cho phát triển nông nghiệp
Tỉnh Hà nam nằm giáp với các tỉnh Hà Tây ở phía Bắc, Hưng Yên, Thái Bình
ở phía Đông, Nam Định ỏ phía Đông Nam, Ninh Bình ở phía Nam và Hoà Bình ởphía Tây Nhìn chung các tỉnh này có cầu rất lớn về xi măng, đá, vật liệu xâydựng, mà không có điều kiện sản xuất Hà nam có thể đáp ứng và tận dụng thịtrường rộng lớn này để đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựngcủa tỉnh nhà
Trang 2Hà nam nằm tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Hà Nội- HảiPhòng- Quảng Ninh Tình hình đó đã đặt Hà nam vào vị trí đối đầu và cạnh tranhgay gắt, đòi hỏi tỉnh phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đểphát triển kinh tế sánh ngang với các tỉnh khác trong khu vực.
Về Địa hình, khí hậu, thuỷ văn, Tỉnh Hà nam có quy mô tương đối nhỏ với
diện tích đất tự nhiên là 84.000 ha, có 6 đơn vị hành chính gồm 5 huyện là KimBảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Lý Nhân, Bình Lục và một thị xã Phủ Lý với 114
xã, phường, thị trấn
Về cấu tạo địa hình, tỉnh Hà nam được chia thành hai vùng chính, vùng đồinúi phía Tây có nhiều đá vôi đầy tiềm năng phát triển công nghiệp vật liệu xâydựng và công nghiệp hoá chất, bên cạnh đó vùng đồng bằng ven sông Hồng vàsông Châu có đất đai màu mỡ thích hợp với phát triển nền nông nghiệp đa dạng,phong phú, tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển
Cũng như các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, Hà nam có đặc điểm khí hậunhiệt đới gió mùa Lượng mưa trung bình mỗi năm từ 1.700 đến 2.200 mm Nhiệt
độ trung bình năm là 23 độ C, độ ẩm tương đối là 84% Đây là điều kiện thuận lợicho phát triển các cây lương thực ngắn ngày cũng như dài ngày
Hà nam có một quỹ đất khá đa dạng, là tiềm năng để phát triển sản xuất nôngnghiệp cũng như để mở rộng các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Với
hệ thống bốn con sông chảy qua làm cho đất đai thêm màu mỡ và tạo một nguồnnước dồi dào cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp và phục vụ đời sống dân cư.Như vậy, với nguồn đất có độ phì trung bình, hai loại địa hình là đồng bằng
và đồi núi tạo cho Hà nam có thể bố trí được nhiều loại cây trồng thuộc nhóm câylương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rừng đa tác dụng với
hệ thống canh tác có tưới hoặc không tưới Đây là điều kiện tốt để Hà nam có thểchuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá phục vụ thịtrường trong nước nhất là khu đô thị, khu công nghiệp và xuất khẩu Vùng đồi vàven quốc lộ tương đối thuận lợi cho bố trí phát triển công nghiệp, nhất là côngnghiệp vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, gia công xuất khẩu
Trang 3Về Tài nguyên, tài nguyên khoáng sản đặc biệt là nguồn đá vôi, sét được
phân bố tập trung ở phía Tây sông Đáy thuộc hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêmrất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất vật liệu xây dựng, nhất là xi măng, đá,gạch
Đá vôi có hàm lượng canxi từ 95-100% và đôlômit 0-5% dùng để sản xuất ximăng và sản xuất bột nhẹ, còn đá vôi có hàm lượng ngược lại canxi từ 0-5% vàđôlômit từ 95-100% dùng làm đá xây dựng, vật liệu độn hoặc để sản xuất hoá chấtmanhê Ngoài ra đá vôi còn là nguyên liệu để sản xuất ra đất đèn dùng trong côngnghiệp khí hàn, công nghiệp tổng hợp hữu cơ, sản xuất sợi vinylon
Nguồn sét Hà nam được kiến tạo từ hai nguồn gốc là gốc trầm tích và gốcphong hoá Sét gốc phong hoá là loại sét tốt, được dùng làm phụ liệu cho sản xuất
xi măng trong tỉnh Sét gốc trầm tích dùng làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói.Như vậy, Hà nam có nguồn đá vôi và sét đủ khả năng cho công nghiệp sảnxuất xi măng với trữ lượng 3-5 triệu tấn/ năm trong nhiều năm Chất lượng đá vôi
và sét khá tốt lại phân bố gần trục giao thông, dễ khai thác, gần nơi tiêu thụ lớn.Ngoài ra, Hà nam còn có nguồn than bùn được phát hiện tại Tam Chúc, thuộchuyện Kim Bảng, có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ vi sinh
Về Tài nguyên du lịch, Hà nam là một tỉnh có tài nguyên du lịch khá phong
phú, cả về tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Hà nam
có các di vật khảo cổ như trống đồng, công cụ bằng đồng, các tác phẩm nghệ thuật,điêu khắc mang dấu ấn của thời đại lịch sử Hà nam có đền Trần Thương ở LýNhân thờ Đức Thánh Trần, đình thờ Lê Đại Hành ở Thanh Liêm, đền Lảnh ở DuyTiên, chùa Bà Đanh, Ngũ Động Sơn ở Kim Bảng, chùa Tiên, Kẽm Trống ở ThanhLiêm, đền thờ Nguyễn Khuyến ở Bình Lục, vườn tưởng niệm nhà văn Nam Cao ở
Lý Nhân, Hơn nữa, Hà nam là một vùng quê giàu các lễ hội dân gian tuyền thống,với 56 lễ hội được tổ chức trong năm trong đó có 20 lễ hội mang di tích lịch sử, 16
lễ hội mang tính tín ngưỡng và 20 lễ hội mang tính lễ tục dân gian
Các nguồn tài nguyên du lịch của Hà nam được phân bố tương đối tập trunglại nằm trong khu vực nối với các vùng phụ cận như chùa Hương, Hoa Lư, Tam
Trang 4Cốc Bích Động, rừng quốc gia Cúc Phương, Hải Phòng, Quảng Ninh, đây là mộtđiểm thuận lợi để hình thành những cụm du lịch lớn có sức thu hút khách cao.Tóm lại, Hà nam có một điều kiện khá thuận lợi cả về vị trí địa lý, địa hình,thuỷ văn và tài nguyên để có thể đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2- Đặc điểm kinh tế- xã hội.
Hà nam là một tỉnh mới được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày01/01/1997 Với khoảng thời gian ngắn lại phải trải qua nhiều khó khăn thử thách
do mới chia tách, nhưng tỉnh đã nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi nghị quyết củaĐảng bộ tỉnh về những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, tập trung khắc phục nhữngkhó khăn to lớn của một tỉnh mới chia tách, góp phần làm cho tình hình kinh tế -xãhội của tỉnh có những chuyển biến tiến bộ trên một số mặt và đang đi vào thế ổnđịnh Nền kinh tế tăng trưởng khá, GDP giao thời tách tỉnh 1996-1998 tăng bìnhquân 7,4%/năm ( cả nước tăng 8,5%/ năm trong cùng thời kỳ) Hiện nay, tốc độtăng trưởng GDP của Hà Nam là 14,34% và dự kiến năm 2000 là 10,85%.GDP/người đã đạt 2.685 nghìn đồng/ người và dự kiến đến năm 2000 đạt 3.000nghìn đồng/ người theo giá so sánh năm 1994
Do nền kinh tế tăng trưởng khá, thực hiện tốt các chương trình xoá đói giảmnghèo, khuyến khích cá nhân và gia đình sản xuất kinh doanh giỏi nên đời sốngcủa các tầng lớp dân cư ngày càng được cải thiện Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm chỉ còn11% năm 1999 Các chương trình văn hoá, giáo dục, y tế được triển khai góp phầnquan trọng thúc đẩy các mặt hoạt động xã hội phát triển lành mạnh Hà nam là mộttỉnh dẫn đầu về phổ cập giáo dục tiểu học, các cơ sở y tế được nâng cấp, y tá, bác
sỹ được bổ sung, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững và tăngcường, các tệ nạn xã hội ngày càng giảm
Tuy nhiên nền kinh tế Hà nam vẫn còn mang tính thuần nông, nông nghiệpchiếm 44% GDP, công nghiệp địa phương nhỏ bé, thương mại dịch vụ phát triểnchậm, thu ngân sách mới đáp ứng được 40% chi, chưa có đầu tư nước ngoài Điều
đó đặt ra cho Hà nam một thách thức đòi hỏi tỉnh phải nhanh chóng chuyển dịch cơcấu ngành kinh tế để có thể phát triển ngang với các tỉnh khác trong khu vực
Trang 5Về dân số và nguồn nhân lực, nguồn nhân lực được xem như là một lợi thế
phát triển quan trọng Quy mô và tốc độ tăng của nguồn nhân lực phụ thuộc vàoquy mô và tốc độ tăng dân số Theo số liệu điều tra gần đây nhất, dân số Hà namnăm 1999 đã là 791.614 người, trong đó dân số ở tuổi lao động là 426.673 người,chiếm 53,9% dân số toàn tỉnh Số lao động ở khu vực nông thôn là 380.890 người,chiếm 89,27% và ở thành thị là 45.783 người, chỉ chiếm 10,73% Là một tỉnh màthu nhập còn nặng về nông nghiệp, cơ sở vật chất yếu kém, với nguồn lao độngnhư trên đang gây sức ép về việc làm và cải thiện đời sống Mặt khác, lao độngnông nghiệp có 287.253 người chiếm xấp xỉ 70%, lao động công nghiệp và dịch vụ
có 126.087 người chiếm 30%, trong đó số được đào tạo ngành nghề là 58.008người, chiếm 13,5%, như vậy số lao động ở nông thôn thiếu việc làm đang đi đếncác khu vực khác làm dịch vụ là rất lớn, chiếm gần 20% lao động nông thôn Ởnông thôn, thời gian nhàn rỗi còn nhiều mà cơ hội gia tăng việc làm ở khu vựcnông nghiệp hầu như không đáng kể, có chăng chỉ là rải rác ở những nơi có ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp, với tay nghề gia truyền là chính, không được đào tạo cơbản Hơn nữa, lao động trong nông nghiệp với trình độ trang bị kỹ thuật còn lạchậu, người lao động sử dụng cơ bắp và sức súc vật kéo là chính Tất cả những điều
đã đề cập ở trên cho thấy trình độ lao động của tỉnh nói chung còn thấp, và thực tế
Hà nam có nguồn lao động khá dồi dào nhưng lao động phổ thông chưa được đàotạo nghề là phổ biến và thiếu lao động được đào tạo kỹ thuật, nhất là lao động có
kỹ thuật cao
Trong thời gian tới để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, Hà nam phải nhanh chóng đào tạo đồng bộ, nâng caochất lượng nguồn nhân lực
Về cơ sở vật chất, trình độ khoa học công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật nhìn
chung còn yếu kém, các trang thiết bị cũ và lạc hậu do đó khả năng áp dụng kỹthuật tiên tiến vào sản xuất công nghiệp, nông nghiệp là rất hạn chế
Kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, hệ thống đường giao thông, đường sắt, đường
bộ được xây dựng từ lâu đến nay qua sử dụng lâu dài chưa được đầu tư nâng cấpkịp thời nên chất lượng thấp, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
Trang 6Hiện nay, hệ thống thuỷ lợi, đường giao thông liên huyện liên xã đang được đầu tưnâng cấp, quá trình điện khí hoá nông thôn đang được đẩy mạnh.
II THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 1995-1999.
1- Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Hà nam giai đoạn 1995-1999.
Kinh tế Hà nam sau 3 năm tái lập đã có sự chuyển biến rõ nét Tốc độ tăngtrưởng kinh tế bình quân mỗi năm thời kỳ 1995-1999 là 10,71%, cao hơn tốc độtăng bình quân của cả nước(7,74%) Các số liệu dưới đây chứng tỏ điều đó
Biểu 1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà nam so với cả nước Đơn vị : %
Tốc độ tăng GDP 1995 1996 1997 1998 1999
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Như vậy trong 3 năm 1997, 1998, 1999 tốc độ tăng trưởng GDP của Hà namđều vượt cao hơn so với cả nước, nhất là vào năm 1999
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế thì GDP bình quân đầu người cũng tăngkhá: 2,77% năm 1996 7,97% năm 1997, 7,82% năm 1998 và 10,02% năm 1999, bìnhquân thời kỳ 1996-1999 mỗi năm tăng 7,1%, nếu tính giá thực tế thì GDP bình quânđầu người thời kỳ 1995-1999 là 2223 nghìn đồng VN/ năm tương đương 158,8 USD.Tuy GDP bình quân đầu người của Hà nam tăng qua các năm nhưng còn ởmức thấp, chỉ bằng 60% so với cả nước và 57,7% so với vùng đồng bằng sôngHồng Hơn nữa tốc độ tăng trưởng kinh tế những năm qua cao, chủ yếu là do nhànước tập trung xây dựng khu trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh mới, đồng thời từquý III năm 1998, công ty xi măng Bút Sơn đã đi vào sản xuất, giá trị tăng thêmcủa công ty năm 1998 khoảng 24 tỷ đồng, năm 1999 khoảng 139 tỷ đồng Nếukhông tính đến phần giá trị tăng thêm này thì tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1998
và 1999 cuả tỉnh chỉ đạt khoảng 7% và 3,9%
Trang 7Trong thời gian qua, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà namtheo các hướng sau:
Đối với công nghiệp, đầu tư vào những ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao,
tạo giá trị lớn, có thị trường tiêu thụ và đặc biệt là thị trường xuất khẩu Ưu tiênnhững ngành nghề khai thác được tiềm năng tài nguyên, tạo ra nguyên liệu và sảnphẩm phong phú, giải quyết được nhiều việc làm cho dân
Đối với nông nghiệp, phát triển nông nghiệp trong khả năng cho phép đảm
bảo an toàn lương thực và tạo cơ sở nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến,phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Đối với dịch vụ, phát triển mạnh ngành thương mại, đẩy nhanh hoạt động xuất
khẩu của tỉnh, phát triển du lịch trên cơ sở khai thác đồng thời phát triển những loạihình dịch vụ khác như tài chính ngân hàng, thông tin viễn thông, giao thông vận tải,
Cải tạo và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, điện khí hoá nông thôn, thực
hiện kiên cố hoá kênh mương, nâng cấp hệ thống đường giao thông nông thôn,những tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh, xây dựng các trụ sở làm việc cho tỉnhmới tách, nâng cấp hệ thống thông tin bưu điện, nhằm thu hút đầu tư nước ngoàivào phát triển kinh tế của tỉnh
Xuất phát từ định hướng trên, trong thời gian qua cơ cấu ngành kinh tế củatỉnh Hà nam cũng có những chuyển biến tích cực và tiến bộ
Thứ nhất trong cơ cấu ngành kinh tế theo GDP:
Biểu2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo GDP
Trang 8Tỷ trọng ngành công nghiệp tăng đáng kể qua các năm từ 16,26% năm 1995lên 25,54% năm 1999 và dự kiến đạt khoảng 26,7% vào năm 2000 Như vậy có thểthấy rằng ngành công nghiệp ngày càng phát huy hơn nữa vai trò đầu tàu của mình
để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá của tỉnh, nổi bật lên trong công nghiệp là sựtăng nhanh của công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến lương thực,thực phẩm Tuy nhiên, với tỷ trọng 25,54% trong cơ cấu GDP thì công nghiệp vẫnchiếm một tỷ trọng nhỏ và cần phải được nâng lên trong thời gian tới để giữ vị tríchủ đạo trong nền kinh tế của tỉnh
Tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm tương đối trong giai đoạn 1995-1999 từ52,64% vào năm 1995 xuống còn 44,03% vào năm 1999, đây cũng là xu thế tấtyếu của quá trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá, tạo tiền đề cho việc phát triển cácngành công nghiệp và dịch vụ Tuy vậy, với tỷ trọng 44,03% thì nông nghiệp vẫnchiếm tỷ trọng khá cao, gây trở ngại cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoánền kinh tế của tỉnh
Tỷ trọng các ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP giai đoạn 1995-1999 có sự thayđổi không đáng kể từ 31,1% năm 1995 xuống còn 30,43% năm 1999 Điều nàykhông có nghĩa là ngành này không tăng trưởng, trái lại GDP của ngành này liêntục tăng mạnh qua các năm nhất là hoạt động thương mại và các dịch vụ vận tải,khách sạn nhà hàng, bưu chính viễn thông, Bởi vì cùng với sự đi lên của cácngành công nghiệp thì các ngành thuộc khối dịch vụ cũng có bước phát triển theo
và nó sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh
Tóm lại, cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh thời kỳ 1995-1999 có sự chuyểndịch theo xu hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nôngnghiệp Sau 5 năm tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng 8,61% Đây là
xu hướng tích cực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy vậy, cơ cấungành kinh tế của tỉnh Hà nam năm 1999 vẫn là cơ cấu Nông nghiệp- Côngnghiệp- Dịch vụ
Thứ hai, trong cơ cấu ngành kinh tế theo vốn đầu tư.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện trên lãnh thổ tỉnh phần lớn là nguồnvốn tín dụng, bình quân thời kỳ 1995-1999 là 59,2% tổng vốn đầu tư Số vốn đầu
Trang 9tư từ ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng rất nhỏ, bình quân cả thời kỳ 1995-1999khoảng 20,8% tổng vốn đầu tư Phần vốn do dân đóng góp chiếm 15,7%.
Việc huy động và sử dụng vốn qua các năm tương đối phù hợp với tình hìnhphát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nguồn vốn từ ngân sách và nhân dân đóng gópchủ yếu sử dụng vào việc cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng, nhất
là giao thông vận tải, bưu điện thông tin, thuỷ lợi, các công trình phúc lợi côngcộng, trụ sở làm việc, các sở ban ngành Nguồn vốn tín dụng chủ yếu đầu tư vàokhu vực sản xuất công nghiệp, xây dựng
Vốn đầu tư là yếu tố hàng đầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nó đảm bảo chokhai thác lợi thế áp dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới thiết bị công nghệ Đi liền với
sự chuyển dịch cơ cấu ngành thì cơ cấu vốn đầu tư cũng có sự thay đổi tương ứng
Biểu 3 Thực trạng cơ cấu vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Hà nam
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam
Như vậy có thể thấy rằng trong giai đoạn 1995- 1999 vốn đầu tư chủ yếu tậptrung vào lĩnh vực công nghiệp, chiếm 63,76% tổng vốn đầu tư Đó là vì Đảng bộ
và nhân dân trong tỉnh nhận thức rõ vai trò của công nghiệp đối với sự phát triểnkinh tế xã hội của toàn tỉnh Trong công nghiệp, ngành công nghiệp chế biến nôngsản thực phẩm và công nghiệp vật liệu xây dựng được ưu tiên đầu tư lớn nhất rồiđến các ngành công nghiệp khác
Tỷ trọng vốn đầu tư cho nông nghiệp có tăng qua các năm, năm 1995 là4,95%, năm 1999 tỷ trọng này tăng lên đến 21,33% điều đó cho thấy ngành nông
Trang 10nghiệp cũng được quan tâm thoả đáng vì đại bộ phận người dân Hà nam có cuộcsống gắn bó với sản xuất nông nghiệp Trong nông nghiệp, phần lớn vốn đầu tư tậptrung cho việc kiên cố hoá kênh mương, đầu tư cho máy móc, cây con giống.
Tỷ trọng đầu tư cho dịch vụ bình quân giai đoạn 1995-1999 chỉ đạt 26,59%,qua các năm tỷ trọng này dao động không nhiều và trong ngành dịch vụ, vốn đầu
tư chủ yếu tập trung cho ngành vận tải và thông tin liên lạc, tiếp đến là các lĩnh vựcvăn hoá giáo dục, tài chính tín dụng, khách sạn nhà hàng,
Tóm lại, trong những năm qua , đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷtrọng cao trong cơ cấu vốn đầu tư, nó cho thấy cơ cấu vốn đầu tư có sự thay đổiđúng hướng phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, làm cho bộ mặtkinh tế xã hội của tỉnh từ trung tâm thị xã Phủ Lý đến các địa phương ngày mộtkhang trang, đổi mới
Thứ ba, trong cơ cấu ngành kinh tế theo lao động.
Biểu 4 Chuyển dịch cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế Đơn vị: %.
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Theo các số liệu trên đây cho thấy trong mấy năm qua số lao động làm việctrong khu vực công nghiệp của Hà nam không được ổn định Tỷ lệ lao động trongcông nghiệp giảm thấp nhất vào những năm 1997-1998 và năm 1999 tiếp tục tănglên đạt 11,2% Như vậy có thể khẳng định là công nghiệp Hà nam chưa thực sựphát triển, tỷ lệ lao động trong công nghiệp còn rất thấp so với toàn bộ lao độnglàm việc trong nền kinh tế của tỉnh
Lao động trong ngành dịch vụ có tăng nhưng không đáng kể, từ 7,6% năm
1995 lên 8,0% vào năm 1999 Lao động trong ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ
Trang 11cao là 80,8% Điều đó cho thấy hai ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển chưamạnh để có thể thu hút được lực lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp sanghoạt động trong hai ngành này Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động diễn rachậm và lao động trong các ngành kinh tế chưa ổn định.
Tóm lại, trong giai đoạn 1995-1999 nền kinh tế Hà nam đã có bước chuyểnbiến đáng kể, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đềutăng qua các năm Mặc dù tỷ trọng của nông nghiệp vẫn còn cao trong cơ cấu kinh
tế nhưng về cơ bản cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam đã có bước chuyển dịchđúng hướng Trong nội bộ các ngành thì vị trí của ngành công nghiệp và dịch vụngày càng được khẳng định, tuy nhiên ngành nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọnglớn vì trước mắt nó là ngành nuôi sống phần lớn dân cư Cùng với sự chuyển dịch
cơ cấu chung, từng ngành cũng có sự chuyển dịch trong nội bộ Để nghiên cứu rõhơn về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam có thể xem xétthực trạng chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụgiai đoạn 1995-1999
2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu một số ngành Công nghiệp, Nông nghiệp, Dịch vụ giai đoạn 1995-1999.
a Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành Công nghiệp.
Trong giai đoạn 1995-1999, cùng với sự phát triển kinh tế chung của tỉnh,công nghiệp Hà nam đã có bước phát triển đáng mừng Xét từ khía cạnh phânngành công nghiệp thì thấy cơ cấu sản xuất công nghiệp đã có sự chuyển đổi nhấtđịnh
Biểu 5 Cơ cấu phân ngành trong công nghiệp.