Công ty TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh hợp tác với nhau trong việc gia công hàng hoá và đến nay Công ty TNHH Nhật Linh vẫn chưa thanh toán hết tiền cho Công ty TNHH Kim Lân. Căn cứ bản đối chiếu công nợ ngày 25022016 về việc chốt công nợ năm 2015, Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08052016 để xác nhận công nợ tính đến ngày 30042016, số tiền Công ty TNHH Nhật Linh còn nợ 3.270.212.570 đồng;Ngày 09052016 Công ty TNHH Kim Lân, đã gửi công văn số 0506ĐNCN về việc yêu cầu thanh toán tiền hàng đến Công ty TNHH Nhật Linh yêu cầu trả số tiền 3.270.212.570 đồng và yêu cầu Công ty TNHH Nhật Linh thanh toán ngay khi nhận công văn. Đến ngày 17052016 hai bên có buổi làm việc để giải quyết thanh toán tiền mua hàng hoá của Công ty TNHH Kim Lân. Tại công văn 77CVNL, 27052016, Công ty TNHH Nhật Linh đã thông báo về lộ trình và phương thức trả nợ: Mỗi tuần thanh toán một lần số tiền 300.000.000 đồng vào các ngày thứ sáu hàng tuần đến khi kết thúc vào ngày 30072016. Ngày 07062016, Công ty TNHH Nhật Linh có công văn số: 87CVNL đã thể hiện không trả nợ Công ty TNHH Kim Lân như đã nêu trên.Sự chậm trễ việc thanh toán của tiền mua hàng hoá của Công ty TNHH Nhật Linh làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty TNHH Kim Lân. Nay nguyên đơn yêu cầu toà án giải quyết: Buộc Công ty TNHH Nhật Linh phải trả cho Công ty TNHH Kim Lân số tiền nợ gốc là 3.270.212.570 đồng và lãi suất chậm trả theo mức lãi suất 10%tháng tương ứng số tiền là 250.000.000 đồng.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Vụ án dân sự: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ
Môn: DÂN SỰ
Mã Hồ Sơ: LS.DS 13/B5.TH2_DA3/KDTM Diễn Lần: 01
Ngày diễn: ngày 06 tháng 12 năm 2020 Giáo viên hướng dẫn: LS.PGS.TS Phan Hữu Thư
Họ và tên: Nguyễn Văn An Lớp: LS Hậu Giang K22
Số báo danh:
Vai diễn: Luật sư bị đơn
Trang 2Hậu Giang, ngày 06 tháng 12 năm 2020
Trang 3VỤ ÁN DÂN SỰ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ
Trang 4NỘI DUNG
1 TÓM TẮC NỘI DUNG VỤ VIỆC
Theo đơn khởi kiện ngày 10/7/2016 và các lời khai tại Toà án ông Hàn Anh Tuấn người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh hợp tác với nhautrong việc gia công hàng hoá và đến nay Công ty TNHH Nhật Linh vẫn chưathanh toán hết tiền cho Công ty TNHH Kim Lân Căn cứ bản đối chiếu công nợngày 25/02/2016 về việc chốt công nợ năm 2015, Biên bản đối chiếu công nợngày 08/05/2016 để xác nhận công nợ tính đến ngày 30//04/2016, số tiền Công
ty TNHH Nhật Linh còn nợ 3.270.212.570 đồng;
Ngày 09/05/2016 Công ty TNHH Kim Lân, đã gửi công văn số0506/ĐN/CN về việc yêu cầu thanh toán tiền hàng đến Công ty TNHH NhậtLinh yêu cầu trả số tiền 3.270.212.570 đồng và yêu cầu Công ty TNHH NhậtLinh thanh toán ngay khi nhận công văn Đến ngày 17/05/2016 hai bên có buổilàm việc để giải quyết thanh toán tiền mua hàng hoá của Công ty TNHH KimLân Tại công văn 77/CV-NL, 27/05/2016, Công ty TNHH Nhật Linh đã thôngbáo về lộ trình và phương thức trả nợ: Mỗi tuần thanh toán một lần số tiền300.000.000 đồng vào các ngày thứ sáu hàng tuần đến khi kết thúc vào ngày30/07/2016 Ngày 07/06/2016, Công ty TNHH Nhật Linh có công văn số:87/CV-NL đã thể hiện không trả nợ Công ty TNHH Kim Lân như đã nêu trên
Sự chậm trễ việc thanh toán của tiền mua hàng hoá của Công ty TNHHNhật Linh làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp cho Công
ty TNHH Kim Lân Nay nguyên đơn yêu cầu toà án giải quyết: Buộc Công ty
TNHH Nhật Linh phải trả cho Công ty TNHH Kim Lân số tiền nợ gốc là3.270.212.570 đồng và lãi suất chậm trả theo mức lãi suất 10%/tháng tương ứng
Trang 5công trình xây dựng và các thiết bị hóa đơn đứng tên Công ty Kim Lân, việc đầu
tư này có xác nhận của ông Tuấn và ông Tuấn có viết giấy xác nhận ông Linh.Công ty TNHH Kim Lân cam kết sẽ hoàn tiền lại cho bị đơn Tháng 6/2008, để
mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh, Công ty TNHH Kim Lân đã quyết địnhhợp tác với ông Nguyễn Chí Linh và bà Đặng Thuý Phương thành lập CôngTNHH Nhật Linh Bắc Ninh, để xây dựng nhà máy thiết bị Lioa với tư cách làsáng lập viên, Công ty TNHH Kim Lân góp vốn bằng quyền sử dụng đất là11.735,4 m2 với giá trị định giá là 1 tỷ đồng Ngay sau khi thực hiện các thủ tụcgóp vốn để thực hiện dự án giữa hai công ty, thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu
tư, Công ty TNHH Nhật Linh Bắc Ninh đã được tiến hành đầu tư xây dựng nhàxưởng, kho tàng, mua sắm thiết bị và đưa dự án nhà máy thiết bị điện Lioa Đếnnay hai dự án vẫn đang hoạt động song song và Công ty TNHH Nhật Linh tiếptục đầu tư xây dựng một số hạn mục, kho tàng trên diện tích đó;
Trong thời gian gần đây, phía ông Hà Anh Tuấn và Công ty TNHH KimLân có nhiều biểu hiện không hợp tác, chiếm đoạt tài sản nên yêu cầu chúng tôi
di dời toàn bộ hoạt đọng sản xuất, kinh doanh của dự án ra khỏi đất của Công tyTNHH Kim Lân Đặc biệt, là buộc chúng tôi phải khẩn trương chuyển khỏi đất
mà không cho chúng tôi mang tài tài sản của mình đi (kể cả thiết bị như điềuhoà, máy phát điện, dụng cụ nhà bếp….) Chúng tôi đã di dời hoạt động sản xuấtkinh doanh ra khỏi diện tích đất Công ty TNHH Kim Lân và để lại toàn bộ tàisản, nhà xưởng, hạ tầng, thiết bị, máy móc mà chúng tôi đầu tư, xây dựng vớitổng giá trị là 17 tỷ đồng Để chờ hai bên thống nhất phương án xử lý số tài sảntrên cũng như để thể hiện các thủ tục pháp lý thanh lý và chấm dứt hoạt độngcủa dự án, thu hồi giấy chứng nhận đầu tư
Ngày 17/05/2016 đại diện Công ty TNHH Nhật Linh và Công ty TNHHKim Lân tổ chức cuộc họp và hai bên thống nhất các nội dung như sau: (1)Đồng ý để Công ty TNHH Nhật Linh kiểm kê, thống kê toàn bộ tài sản của mìnhchưa di dời đang để trên đất Công ty TNHH Kim Lân; (2) Phía Công ty TNHHKim Lân kê khai công nợ tiền gửi gia công hàng hoá cho Công ty TNHH NhậtLinh để phía Công ty Nhật Linh thanh toán Công ty TNHH Nhật Linh gửi liên
Trang 6tiếp hai công văn số: 76 ngày 23/05/2016 và Công văn số: 77 ngày 27/05/2016cho Công ty TNHH Kim Lân về việc đề xuất phương án xử lý số tài sản củaCông ty Nhật Linh còn tồn đọng trên đất và lộ trình Công ty Nhật Linh thanhtoán tiền gia công cho công ty Kim Lân Nhưng Công ty Kim Lân thiếu thiệnchí, không hợp tác và nhất quyết không ký xác nhận vào danh sách thống kê tàisản của Công ty Nhật Linh Ngoài ra gần đây Công ty Kim Lân tự ý bẻ khoá phániêm phong xâm phạm trái phép và sử dụng tài sản là khu nhà ăn của chúng tôi Đối với khoản nợ mà Công ty TNHH Kim Lân yêu cầu Công ty TNHHNhật Linh trả 3.2770.212.570 đồng thì Công ty TNHH Nhật Linh chỉ chấp nhận
một phần là 3.177.970.970 đồng và đồng ý trả lãi suất chậm trả theo quy
định của pháp luật, không đồng ý trả theo lãi suất 10%/tháng
Ngoài ra, Công ty TNHH Nhật Linh có đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải
quyết: Buộc Công ty TNHH Kim Lân hoàn trả toàn bộ tài sản của Công ty Nhật
Linh đã xây trên đất Công ty TNHH Kim Lân với số tiền 17 tỷ đồng
2. KẾ HOẠCH ĐẶT CÂU HỎI TẠI PHIÊN TOÀ:
2.1 Hỏi nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân, do ông Hàn Anh Tuấn, chức vụ Giám đốc làm đại diện:
* Hỏi làm rõ về số tiền của 02 Bản đối ciếu công nợ ngày 25/2/2016 và Bản đối chiếu công nợ ngày 8/5/2016 bản nào chính xác:
- Ông cho biết trong hồ sơ ông cung cấp cho tòa có 02 Bản đối ciếu công
nợ ngày 25/2/2016 và Bản đối chiếu công nợ ngày 8/5/2016 vậy bản nào chính xác?
- Ông cho biết số tiền trong Bản đối chiếu công nợ ngày 8/5/2016, là chính
xác đúng không? Và ông có chấp nhận số tiền thể hiện trong bản đối chiếu nàykhông?
- Bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 hai bên đã chốt công nợ đến hếtngày 31/12/2015 (BL 27) là: 3.250.219.430 đồng, và Bản đối chiếu công nợngày 8/5/2016 (BL 31) số tiền là 3.177.970.970 đồng, số tiền nào chính xác?
* Hỏi làm rõ về số nguyên đơn yêu cầu phải trả là 3.270.212.570 đồng
và lãi suất trong đơn khởi kiện:
Trang 7- Ông cho biết số tiền mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 3.270.212.570đồng, có cung cấp chứng cứ cho tòa không? Và chứng cứ nào chứng minh việc
nợ này?
- Ông cho biết số tiền mà Công ty Kim Lân yêu cầu 3.270.212.570 đồng,
chứng từ không có chữ ký xác nhận của bị đơn có đúng không?
- Tại Văn bản ý kiến gửi cho toà án ngày 17/11/2016 (BL 74) Công ty KimLân yêu cầu Công Ty Nhật Linh trả tiền mua hàng hoá là bao nhiêu?
- Ông Tuấn cho biết trong đơn khởi kiện ông có yêu cầu bị đơn trả tiền lãisuất, đây là lãi suất gì?
- Ông yêu cầu Công ty Nhật Linh trả tiền lãi là bao nhiêu?
- Tại Văn bản ý kiến gửi cho toà án ngày 17/11/2016 (BL 74) Công ty KimLân yêu cầu Công Ty Nhật Linh trả tiền lãi chậm trả 250.000.000 đồng trên cơ
- Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 với số tiền 3.250.219.430
đồng hai bên thống nhất số nợ chốt đến ngày 31/12/2016 vậy sau thời gian này
Công ty Kim Lân có giao thêm hàng hóa cho bị đơn không?
- Ông cho biết số tiền lãi chậm thanh toán là 250.000.000 đồng là được tínhtrên lãi suất theo quy định của Ngân hàng nhà nước đúng không? (BL 78)
- Ông cho biết hai bên có thỏa thuận trong Hợp đồng nguyên tắc khi nàobên mua thanh toán tiền mua hàng cho cho bên bán?
- Ông cho biết điều kiện trước khi bên mua thanh toán là gì?
- Trong trường hợp ông không cung cấp đầy đủ chứng từ như thỏa thuậngiao cho Công ty Nhật Linh để thanh toán cho Công ty Kim Lân, Vậy Công tynhật Linh có vi phạm hợp đồng không?
- Nếu như Công ty Nhật Linh không vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thoảthuận vậy Công ty Kim Lân phạt lãi suất chậm trả có đúng không?
Trang 8* Hỏi để làm rõ về việc góp vốn của Công ty Nhật Linh là công trình xây dựng trên đất Công ty Kim Lân:
- Ông cho biết đến thời điểm hiện nay ông Linh và Công ty Nhật Linh cóphải thành viên của Công ty Kim Lân theo quy định pháp luật chưa?
- Ông cho biết công trình xây dựng trên diện tích đất 11.735,4 m2 của Công
ty Kim Lân ai đầu tư xây dựng?
- Ông có viết giấy xác nhận ông Linh và Công ty Nhật Linh đầu tư tiền vàtài sản trên đất của Công ty Kim Lân?
- Ông có ký cam kết hoàn trả lại cho ông Linh và Công ty Nhật Linh toàn
bộ số tiền và tài sản trên đất Công ty Kim Lân?
- Ông cho biết Công ty Kim Lân có phải thành viên sáng lập Công ty NhậtLinh Bắc Ninh Không?
- Hợp đồng góp vốn số: 288/HĐ/2008, ngày 03/10/2008 đã được Phòngcông chứng số 8 tỉnh bắc Ninh chứng nhận ông có ký không?
- Hợp đồng góp vốn số: 288/HĐ/2008, ngày 03/10/2008, xác lập giao dịchgì?
- Ông cho biết Công ty Kim Lân góp vốn trong hợp đồng số: 288/HĐ/2008này bằng hình thức tiền mặt hay tài sản?
* Hỏi để làm rõ sự mâu thuẩn về công trình xây dựng trên diện tích đất mà Công ty Nhật Linh Bắc Ninh có phải là thuê không:
- Tại Văn bản ý kiến gửi cho toà án ngày 17/11/2016 (BL 74) Công ty KimLân cho Công Ty Nhật Linh thuê mặt bằng vậy diện tích thuê là bao nhiêu?
- Công ty Kim Lân cho Công Ty Nhật Linh thuê quyền sử đất và có chothuê tài sản trên đât không?
- Tài sản trên đất bao gồm đã có sẵn cái gì trước khi cho thuê?
- Ông cho rằng công ty nhật Linh còn nợ tiền thuê đất 60.000 USD vậy ông
có Hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất không?
- Ông có chứng từ nào thể hiện viêc Công ty Nhật Linh nợ Công ty KimLân tiền thuê đất?
- Ông cho rằng Công ty nhật Linh trả một lần tiên thuê đất ông có chứng từ
Trang 9chứng minh việc trả tiền này không?
- Nhà kho 3 tầng mà Công ty Nhật Linh tự ý xây dựng là bao nhiêu métvuông?
- Nhà kho 3 tầng mà Công ty Nhật Linh theo ông xây dựng tại thời điểmnày là bao nhiêu?
- Nhà kho 3 tầng mà Công ty Nhật Linh tự ý xây dựng Công ty Kim Lân cógóp vốn không?
- Ông cho biết Công ty Nhật Linh xây dựng trên diện tích đất của Công tyKim Lân thời gian nào?
* Hỏi để làm rõ về thoả thuận khi có tranh chấp chọn cơ quan tài phán giải quyết:
- Ông xác định lại tại Điều 5 của Hợp đồng nguyên tắc có thỏa thuận khitranh chấp hai bên được giải tại Trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội hay Trọngtài thương mại Thành Phố Hà Nội?
- Ông có đồng ý chỉnh sửa lại nội dung thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồngnguyên tắc việc lựa chọn khi có tranh chấp ghi là chọn Trọng tài kinh tế Thànhphố Hà Nội giải quyết nay thay đổi thành Trọng tài thương mại không?
2.2 Hỏi bị đơn là Công ty TNHH Nhật Linh, do ông Nguyễn Chí Linh, chức vụ Tổng giám đốc làm đại diện:
* Hỏi làm rõ về số tiền phải trả là 3.270.212.570 đồng và lãi suất trong đơn khởi kiện:
- Ông có chấp nhận trả cho Công ty Kim Lân số tiền 3.270.212.570 đồng,
vì sao?
- Theo cách tính lãi suất của nguyên đơn về việc lãi suất chậm trả nếu cóthì được áp dụng lãi suất theo quy định của Ngân hàng nhà nước ông chịukhông?
* Hỏi để làm rõ về việc Công ty Kim Lân góp vốn thành lập Công ty Nhật Linh Bắc Ninh là quyền sử đất hay tài sản khác:
- Ông cho biết Công ty Kim Lân có phải thành viên sáng lập Công ty NhậtLinh Bắc Ninh Không?
Trang 10- Hợp đồng góp vốn số: 288/HĐ/2008, ngày 03/10/2008 đã được Phòngcông chứng số 8 tỉnh bắc Ninh chứng nhận là cơ sở để đi xin giấy phép đầu tưđúng không?
- Ông cho biết Công ty Kim Lân góp vốn trong Hợp đồng số:288/HĐ/2008, này bằng hình thức nào tiền hay tài sản?
* Hỏi để làm rõ về thoả thuận khi có tranh chấp chọn cơ quan tài phán giải quyết:
- Ông xác định lại tại Điều 5 của Hợp đồng nguyên tắc có thỏa thuận khitranh chấp hai bên được giải tại Trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội hay Trọngtài thương mại Thành Phố Hà Nội?
- Ông có đồng ý chỉnh sửa lại nội dung thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồngnguyên tắc việc lựa chọn khi có tranh chấp ghi là chọn Trọng tài kinh tế Thànhphố Hà Nội giải quyết nay thay đổi thành Trọng tài thương mại không?
* Hỏi để làm rõ về công trình xây dựng trên diện tích đất mà Công ty Nhật Linh Bắc Ninh có phải là thuê không:
- Ông cho biết từ ngày Công ty Nhật Linh xây dựng công trình trên diệntích đất 11.735,4 m2, Công ty Kim Lân có thông báo đòi tiền thuê đất không?
- Ông cho biết Công ty Nhật Linh có ký hơp đồng thuê diện tích 11.735,4
m2với công ty Kim Lân không?
3. KẾ HOẠCH TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TOÀ
Định hướng tranh luận cần làm rõ các vấn đề:
- Tranh luận chứng minh thẩm quyền giải quyết vụ án là Trọng tài thươngmại chứ không phải Tòa án Vì vậy đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án và chuyển đổi
tư cách bị đơn thành nguyên đơn trong vụ án;
- Làm rõ Văn bản chốt công nợ ngày 25/2/2016 hai bên đã chốt công nợ
Trang 11- Tranh luận làm rõ buộc Công ty Kim Lân thanh toán lại toàn bộ số tiềnđầu tư là thiết bị máy móc và công trình xây dựng trên đất mà Công ty Kim Lâncam kết trả lại cho ông Linh và Công ty Nhật Linh;
- Tranh luận làm rõ quyền sử đất 11.735,4 m2 là tài sản góp vốn của Công
ty Kim Lân vào Công ty Nhật Linh Bắc Ninh;
4 LUẬN CỨ
Định hướng bảo vệ quyền và lợi ích cho bị đơn:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
+ Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết vụ án, do không thuộc thẩmquyền giải quyết của tòa án mà là thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tàithương mại
+ Trường hợp Toà án không đình chỉ vụ án thì bảo vệ theo hướng bị đơnchỉ thanh toán nợ cho nguyên đơn số tiền 3.177.970.970 đồng, không chấp nhận
số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả là: 3.270.212.570 đồng
+ Lãi suất chậm trả: không đồng ý trả lãi suất chậm trả vì nguyên đơn chưathực hiện hết nghĩa vụ cung cấp hóa đơn các chứng từ theo thỏa thuận hợp đồng.Trong trường hợp nếu tính lãi suất theo quy định của pháp luật là 1,125%/tháng,không đồng ý trả theo lãi suất 10%/tháng tương ứng với số tiền 250.000.000đồng
- Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận
toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn buộc Công ty TNHH Kim Lân trả giá trị sốtài sản mà bị đơn đã đầu tư trên đất của nguyên đơn với số tiền là 17 tỷ đồng
BÀI LUẬN CỨ
- Kính thưa Hội đồng xét xử;
- Kính thưa vị đại diên viện kiểm sát và Luật sư đồng nghiệp
Tôi là luật sư Nguyễn Văn An, hiện đang công tác tại Văn phòng Luật sưVăn An, thuộc đoàn luật sư Hậu Giang, là Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị
đơn là Công ty TNHH Nhật Linh Nay tôi trình bày quan điểm của mình như
sau:
Trang 12Thứ nhất: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là buộc Công ty
TNHH Nhật Linh trả số tiền mua hàng chưa thanh toán là: 3.270.212.570 đồng và lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật:
Một là, căn cứ vào khoản 5.1 Điều 5 của Hợp đồng nguyên tắc số:
01/2015/NLBN-KL, ngày 02/1/2015, (BL 5-6) nguyên đơn với bị đơn đã ký kếtthì hai bên có thoả thuận nếu việc mua bán hàng hoá giữa nguyên đơn với bị đơn
có phát sinh tranh chấp thì do Trọng tài Thành phố Hà Nội giải quyết thoả thuậnnày phù hợp với quy định của pháp luật trọng tài Theo quy định tại khoản 1Điều 5 và Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2012 quy định: Tranh chấp đượcgiải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài Trong trường hợpcác bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà ánthì Toà án phải từ chối thụ lý Cho nên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơnkhông thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Đề nghị HĐXX căn cứ điểm gkhoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 do vụ việc không thuộcthẩm quyền giải quyết của Toà án
Hai là, trường hợp Toà án không đình chỉ giải quyết vụ án thì căn cứ vào các
tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, các yêu cầu khởi kiện củanguyên đơn chỉ có cơ sở chấp nhận một phần đối với số nợ gốc là 3.177.970.970đồng và không chấp nhận trả lãi suất chậm trả, trong trường hợp tính lãi suấttiền lãi chậm trả của số tiền từ ngày 08/5/2016 theo mức lãi suất trung bình của
03 Ngân hành TMCP trên thị trường tại thời điểm xét xử là 1,125%/tháng, bởivì:
1. Đối với số nợ gốc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền:3.270.212.570 đồng Số nợ này phía bị đơn không thừa nhận, theo quy địnhcủa Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (khoản 5 và khoản 25 Điều 70) thìnguyên đơn phải có trách nhiệm chứng minh Căn cứ vào các tài liệu chứng
cứ có nhưng trong hồ sơ vụ án mà phía nguyên đơn cung cấp không cóchứng cứ nào thể hiện bị đơn nợ số tiền 3.270.212.570 đồng, chỉ có biênbản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 nhưng bản đối chiếu công nợ nàyphía bị đơn không có ký xác nhận nên không có giá trị pháp lý Nguyên
Trang 13đơn chỉ có cung cấp cho Toà án Bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016 (BL35), theo nội dung bản đối chiếu công nợ này bị đơn chỉ thừa nhận có nợcủa nguyên đơn số tiền là 3.177.970.970 đồng đây là sự thừa nhận của bịđơn theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thìnguyên đơn không cần phải chứng minh Do đó, yêu cầu khởi kiện củanguyên đơn chỉ có cơ sở chấp nhận một phần số nợ gốc là 3.177.970.970đồng.
2. Đối với thời hạn và điều kiện thanh toán tiền mua hàng hóa hai bên đãthỏa thuận như sau: Tại khoản 2.2, Điều 2 Hợp đồng nguyên tắc số:
01/2015/NLBN-KL, ngày 02/1/2015 (BL 5-6) “….Bên mua sẽ thanh toán
cho bên bán trong vòng 6 tháng kể từ khi Bên bán cung cấp đầy đủ các giấy tờ, phiếu nhập kho, hóa đơn VAT và giấy đề nghị thanh toán, báo giá chi tiết” và “Bị đơn được quyền chậm thanh toán trong 6 tháng kể từ ngày nhận đầy đủ chứng từ” Trong giao dịch thương mại pháp luật luôn
tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, trong khi đó, tại Khoản 1 Điều 55
quy định thời hạn thanh toán, của Luật thương mại 2005 “Trừ trường hợp
có thỏa thuận khác…” Tại các bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 và
ngày 8/5/2016, đơn khởi kiện ngày 10/7/2016, thời gian chưa đủ 6 tháng
và ngoài ra Nguyên đơn phải cung cấp các chứng từ đã thỏa thuận tronghợp đồng giao cho Bị đơn Vì vậy nguyên đơn vi phạm thỏa thuận đã kýkết;
3. Đối với yêu cầu trả lãi suất, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi do chậmthanh toán với lãi suất theo Ngân hàng nhà nước tạm tính là 250.000.000đồng (BL 78) là chưa có căn cứ, bởi vì: Theo quy định tại Điều 306của Luật thương mại 2005 thì bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toántiền hàng thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên
số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tạithời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả Điều 11 Nghịquyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng vềmột số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm hướng dẫn
Trang 14Điều 306 của Luật thương mại năm 2005 thì khi xác định lãi suất chậmtrả, Toà án phải căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thịtrường của nhất của 03 Ngân hàng thương mại (Vietcombank,Viettinbank và Agribank) có trụ sở tại nơi Toà án giải quyết Hiện nay(tại thời điểm xét xử), thì lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trườngcủa 03 ngân hàng TMCP này chỉ 1,125%/tháng Nhưng nguyên đơn đãxác định yêu cầu tính lãi suất theo Ngân hàng nhà nước (BL 78), như vậyQuyết định 1425/QĐ-NHNN, ngày 7/7/2017 của Ngân hàng nhà nướcquyết định về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Namcủa Tổ chức tín dụng…Theo quy định tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN,ngày 30/12/2016, quy định lãi suất cho vay 6,5%/năm tương đương0,541%/tháng Trong khi đó nguyên đơn yêu cầu trả số tiền lãi chậm trả
là 250.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận toàn bộ, chỉ chấp nhậnmức lãi suất cho vay 0,541%/tháng như vừa phân tích trên
Thứ hai: Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn là Buộc Công ty TNHH Kim
Lân trả toàn bộ tài sản của Công ty Nhật Linh đã đầu tư trên đất Nguyên đơn 17 tỷ đồng là có cơ sở, cụ thể:
Vào năm 2016 ông Nguyễn Chí Linh và Công ty TNHH Nhật Linh vớiCông ty Kim Lân thỏa việc góp vốn mỗi bên 50/50 Công ty Kim Lân góp vốn làquyền sử dụng đất với diện tích 11.735,4 m2 Ông Nguyễn Chí Linh Giám đốcCông ty Nhật Linh góp vốn bằng tiền mặt để mua sẵm các thiết bị và xây dựngcông trình, thỏa thuận này có xác nhận của ông Tuấn cam kết như sau “với tư
cách là giám đốc Công ty Kim Lân đã viết giấy xác nhận cam kết hoàn trả lại
cho ông Linh và Công ty Nhật Linh toàn bộ số tiền và tài sản nêu trên Chứng
minh rằng các thiết bị máy móc đầu tư trên đất là bằng tiền của ông Linh vàCông ty TNHH Nhật Linh Nếu như Công ty Kim Lân sử dụng phải trả tiền đầu
tư lại cho Công ty TNHH Nhật Linh là đúng như thỏa thuận hai Ngày03/10/2008, giữa Công ty TNHH Kim Lân với Công ty TNHH Nhật Linh có ký
kết Hợp đồng góp vốn số: 288/HĐ/2008, hợp đồng đã được Phòng công chứng
số 8 tỉnh bắc Ninh chứng nhận, theo nội dung hợp đồng thì Công ty TNHH Kim