1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) tác động của phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế và chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng

102 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT ĐỀ TÀI Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm tác động của phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng của c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

-

HỒ LÂM THANH THẢO

TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH, TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHI TIÊU CHÍNH PHỦ LÊN TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

-

HỒ LÂM THANH THẢO

TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH, TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHI TIÊU

CHÍNH PHỦ LÊN TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ HUYỀN

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 3

từ Cô hướng dẫn là Ts Nguyễn Thị Huyền Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào Các thông tin, số liệu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

TP.Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2016 Người thực hiện

Hồ Lâm Thanh Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 3

1.1 Lý do chọn đề tài 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3 Vấn đề nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Ý nghĩa của đề tài 5

1.6 Bố cục luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI 7

2.1 Cơ sở lý thuyết 7

2.1.1 Tiêu thụ năng lượng 7

2.1.2 Tăng trưởng kinh tế 8

2.1.3 Phát triển tài chính 10

2.1.4 Chi tiêu chính phủ 16

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 18

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng 18

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng 25

2.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng 31

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 32

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

3.1 Giới thiệu 34

Trang 5

3.2.2 Mô hình phi tuyến với một hạn chéo 36

3.3 Ưu điểm của phương pháp nghiên cứu 33

3.4 Dữ liệu và mẫu quan sát 39

3.4.1 Thu thập và xử lý dữ liệu 39

3.4.2 Sự phù hợp của kích thước mẫu 41

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 41

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

4.1 Phân tích thống kê mô tả 42

4.2 Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến 44

4.2.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến 44

4.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến 45

4.3 Kiểm định phụ thuộc chéo (Cross-section dependence) và kiểm định tính dừng dữ liệu bảng 46

4.3.1 Kiểm định phụ thuộc chéo (Cross-section dependence) 46

4.3.2 Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng 47

4.4 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư– Greene (2000) 48

4.5 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư – Wooldridge (2002) và Drukker (2003) 49

4.6 Phân tích kết quả hồi quy 49

4.6.1 Kết quả hồi quy tuyến tính 52

4.6.2 Kết quả thực nghiệm của hồi quy phi tuyến với một hạn chéo 53

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 56

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Hạn chế của đề tài 58

5.3 Gợi ý chính sách 58

5.4 Hướng mở rộng đề tài 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

năng lượng 12

Bảng 2.2: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng 19

Bảng 2.3: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng 17

Bảng 3.1: Tổng hợp các biến dùng trong mô hình thực nghiệm 37

Bảng 3.2: Tổng quan mẫu nghiên cứu 40

Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 42

Bảng 4.2: Kết quả ma trận tự tương quan 44

Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai 45

Bảng 4.4: Kiểm định phụ thuộc chéo (cross-section dependence) 46

Bảng 4.5: Kiểm định tính dừng 47

Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình 48

Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình 49

Bảng 4.8: Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính 52

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy phi tuyến với một hạn chéo 53

Trang 7

phân bậc 1 tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người 51 Hình 4.2: Sai phân bậc 1 các chỉ tiêu phát triển tài chính và sai phân bậc 1 tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người 51

Trang 8

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm tác động của phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng của các nước thuộc khu vực Apec-Châu Á Thái Bình Dương Bài nghiên cứu

sử dụng mô hình tuyến tính (Linear model), mô hình phi tuyến với một hạn chéo (Nonlinear regression with a cross-term) cho bộ dữ liệu bảng cân bằng (Balanced data) từ các 18 nước Apec-Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn 25 năm từ

1990 – 2014, với kỳ quan sát tính theo năm Bài nghiên cứu rút ra được các phát hiện quan trọng sau đây:

Thứ nhất, sử dụng năng lượng bình quân đầu người tiếp tục tăng trưởng khi thu nhập tăng Những lời giải thích dường như là cải tiến kỹ thuật cho phép số lượng thiết bị sử dụng năng lượng được đưa vào các hộ gia đình và các ngành công nghiệp (gây tiêu thụ năng lượng nhiều hơn), như tiền tiết kiệm được chi cho hàng hóa và dịch vụ khác

Thứ hai, các chính sách chỉ dựa trên nhu cầu năng lượng và thu nhập sẽ không đúng khi thị trường chứng khoán phát triển Các kết quả trong bài nghiên cứu cho thấy khi phát triển tài chính được đo bằng biến thị trường chứng khoán, cụ thể

là biến giá trị cổ phiếu giao dịch sẽ trực tiếp làm tăng nhu cầu năng lượng nhưng bên cạnh đó lại có tác động gián tiếp lên GDP từ đó gây ra tác động tiêu cực lên tiêu thụ năng lượng Trong khi các chỉ số khác dùng để đo phát triển tài chính không có

kê trong bài được thu thập và tổng hợp để tính toán các biến độc lập và biến phụ thuộc trong các mô hình thực nghiệm được lấy từ các chỉ số World Development Indicators (WDI) cơ sở dữ liệu trực tuyến của World Bank Dữ liệu trong bài nghiên

Trang 9

cứu là dạng dữ liệu bảng (panel data) Và Việt Nam là đại diện quốc gia có thu nhập trung bình trong mẫu, vì thế các kết quả bài nghiên cứu gợi ý các chính sách liên quan đến chi tiêu chính phủ, tăng trưởng kinh tế, phát triển tài chính sao cho phù hợp chính sách và cải thiện môi trường cũng như hiệu quả năng lượng

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1 Lý do chọn đề tài

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 sự chú ý trong các chính sách và các chủ đề nghiên cứu về các khái niệm của "Tăng trưởng kinh tế xanh", "Nền kinh tế ít Carbon", và "Nền kinh tế xanh mới" đã tăng lên Cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế tiếp theo - điều tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ - cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến nhiều cam kết kinh tế nhằm mục tiêu cải cách kinh tế theo một con đường ít nhiều gây tổn hại đến môi trường, xã hội, và các

Trong khi đó các nghiên cứu khác nghi ngờ rằng việc mở rộng chi tiêu chính phủ kể từ cuộc khủng hoảng tài chính đã gây ra ảnh hưởng đáng kể đến tiêu thụ năng lượng Chẳng hạn như Yuxiang và Chen (2009) đã chỉ ra rằng sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ ở Trung Quốc dẫn đến sự gia tăng tiêu thụ năng lượng

Bên cạnh đó, các biến tiềm năng quan trọng như phát triển tài chính cũng được chỉ ra là có khả năng tác động đến nhu cầu về năng lượng Phát triển tài chính tương quan với mức độ của các dòng vốn trong các tổ chức tài chính, thị trường vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Phát triển tài chính cũng ảnh hưởng đến chất lượng môi trường thông qua các ba cơ chế (Zhang, 2011) Một nghiên cứu trước đó cho thấy rằng những thiếu sót nghiêm trọng của các biến số phát triển tài chính trong mô hình tiêu thụ năng lượng có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa GDP và tiêu thụ năng lượng Ngoài ra, phát triển tài chính tăng cường đầu tư trong nhiều sản phẩm tiêu thụ năng lượng và công nghệ tiến bộ trong hiệu quả năng lượng

Trang 11

Mặc dù, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức tiêu thụ năng lượng xem xét đồng thời các tác động của phát triển tài chính, thu nhập, chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng Để làm rõ thêm

về vấn đề này, tác giả chọn đề tài “Tác động của phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế và chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng” để làm luận văn thạc sĩ của mình Đồng thời cung cấp một số gợi ý chính sách cụ thể để duy trì phát triển kinh

tế và chính sách phát triển năng lượng hiệu quả

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tác giả đặt ra mục tiêu của nghiên cứu sau đây: bài viết sử dụng hồi quy tuyến tính và phi tuyến với 1 hạn chéo để để kiểm tra tác động của biến phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng

1.3 Vấn đề nghiên cứu

Từ mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau: Một là, đúc kết và tổng hợp cơ sở lý thuyết, các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng và mối quan hệ giữa các biến

Hai là, dùng mô hình thực nghiệm để kiểm định tác động của phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế và chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu được thu thập từ năm 1990 đến 2014 để tạo

ra một dữ liệu bảng (Panel data) theo dạng cân bằng (Balanced data) Dữ liệu được thu thập và tổng hợp từ 18 quốc gia Apec-Châu Á Thái Bình Dương Dữ liệu thống

kê trong bài được thu thập và tổng hợp để tính toán các biến độc lập và biến phụ thuộc trong các mô hình thực nghiệm được lấy từ các chỉ số World Development Indicators (WDI) cơ sở dữ liệu trực tuyến của World Bank Dữ liệu trong bài nghiên cứu là dạng dữ liệu bảng (panel data)

Bài nghiên cứu áp dụng mô hình tuyến tính và mô hình phi tuyến với một hạn chéo trên nền tảng sử dụng phương pháp GMM được giới thiệu bởi Arellano Bond (1991) kiểm soát hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan và nội sinh

Trang 12

cho kết quả ước lượng vững và hiệu quả Các mô hình trong bài nghiên cứu và các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu sẽ được mô tả rõ hơn trong chương 3

Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata 14 để thực hiện định lượng phục vụ cho việc kiểm định các tác động của phát triển tài chính, thu nhập và chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng ở các nước Apec

1.5 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài luận văn được thực hiện để trả lời các câu hỏi nghiên cứu về ảnh hưởng của phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế và chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng ở 18 quốc gia Apec với không gian nghiên cứu khác nhau Thông qua

đó đáp ứng ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

- Đánh giá tác động của phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng ở các không gian của 18 quốc gia Apec

- Đóng góp cơ sở lý thuyết về phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng

- Đóng góp các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng, phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng, giữa chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng ở các vùng, quốc gia, các quốc gia trên thế giới

- Gợi ý chính sách trong tiêu thụ năng lượng ở quốc gia thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương nói chung, các nền kinh tế khác nhau trong khu vực nói

Apec-riêng từ kết quả thực nghiệm của đề tài

1.6 Bố cục luận văn

Nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương được trình bày cụ thể theo trình tự sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài

Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương

Trang 13

pháp nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu, tổng quan về phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới

Trong chương này, tác giả sẽ trình bày ngắn gọn về cơ sở lý thuyết về phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng và các nghiên cứu trước đây liên quan đến các cặp biến: phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng, tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng, chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trong chương này, tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập, biến phụ thuộc và biến kiểm soát trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu

của nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các kết quả thực nghiệm

Trang 14

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

TRÊN THẾ GIỚI

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Tiêu thụ năng lượng

Tiêu thụ năng lượng đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế ở bất cứ nước nào Là một trong những yếu tố quyết định hoạt động kinh tế vì nó ảnh hưởng đến cả số lượng và hiệu quả của nền kinh tế Sự phát triển của các nền kinh

tế mới nổi đòi hỏi nhiều nhu cầu năng lượng Nó cải tiến hiệu quả và năng xuất và

có một vai trò quan trọng đối với cá nhân và hộ gia đình

Tuy nhiên, trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển, năng lượng là chỉ đơn giản coi như một đầu vào trung gian sản xuất Tsani (2010) Theo Bartleet và Gounder (2010), những người ủng hộ quan điểm này cho rằng có một số cơ chế theo đó tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể vẫn bất chấp một nguồn tài nguyên giới hạn năng lượng Những lời giải thích tiềm ẩn này được xây dựng dựa trên khả năng thay đổi công nghệ và thay thế các đầu vào vật chất khác cho năng lượng để có thể

sử dụng các nguồn năng lượng hiện hiệu quả, và để tạo ra nguồn năng lượng tái tạo không phải chịu ràng buộc hạn chế nguồn cung (Solow, 1974, 1997; Stiglitz, 1997) Theo đó, năng lượng chỉ đơn thuần là một trong những yếu tố đầu vào không cần thiết trong quá trình sản xuất Nói cách khác, những người ủng hộ lý thuyết này

hỗ trợ “giả thuyết trung lập” và “giả thuyết bảo tồn” Những giả thuyết ngụ ý rằng hạn chế nguồn cung cấp năng lượng có thể không có bất kỳ tác động có hại đối với tăng trưởng kinh tế Như vậy, Chính phủ có thể đồng thời áp dụng các chính sách bảo tồn năng lượng và tăng trưởng kinh tế (Bartleet và Gounder, 2010)

Trong khi đó, các lý thuyết kinh tế sinh thái nói rằng tiêu thụ năng lượng là một yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế hiện đại Các nhà kinh tế sinh thái phán xét rằng tiến bộ công nghệ và đầu vào vật chất khác không thể nào thay thế vai trò quan trọng của năng lượng trong quá trình sản xuất (Stern, 1993, 2000) Họ thậm chí xem xét năng lượng như là nguồn chính bởi

Trang 15

vì các yếu tố khác của sản xuất như lao động và tư bản không thể thực hiện mà không cần năng lượng (Belloumi, 2009)

Stern & Cleveland (2004) thấy rằng do trọng tâm chính của lý thuyết tăng trưởng truyền thống là lao động và yếu tố sản xuất tư bản lớn trong khi đó nó bỏ qua tầm quan trọng của năng lượng trong quá trình tăng trưởng Vì thế trong nghiên cứu của mình Stern & Cleveland xem năng lượng là một yếu tố thiết yếu của sản xuất và do đó cho rằng năng lượng là cần thiết cho sự tăng trưởng, và tạo thành một quan hệ nhân quả chạy từ tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế Việc sử dụng năng lượng và đầu ra kết chặt chẽ với đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho tăng trưởng

Nổi lên từ các cuộc tranh luận đó là các nghiên cứu của Ehrlich và Holdren (1971, 1974), Ehrlich và các đồng sự (1977), Ehrlich (1990) và Holdren (1991) về các tác động của con người lên môi trường Theo Holdren (1991) các kết nối rõ ràng nhất giữa dân số, năng lượng, môi trường được xác định bằng quan hệ đại số

2.1.2 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian Thước đo phổ biến là mức tăng

Trang 16

tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định mức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng) (Các chỉ số trên thường được tính trong một năm và đều có thể sử dụng theo tiêu chí bình quân trên đầu người) Trong luận văn này tác giả sử dụng GDP bình quân đầu người là đại lượng để đo lường tăng trưởng kinh tế

Ozturk và Acaravci (2010) phân loại quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế theo hướng dựa trên bốn giả thuyết quan trọng Đầu tiên được gọi là "giả thuyết bảo tồn" Giả thuyết này cho rằng tăng trưởng kinh tế gây ra tiêu thụ năng lượng Một kết quả có lợi cho hướng quan hệ nhân quả này có thể ngụ ý rằng một quốc gia không phụ thuộc về năng lượng cho sự tăng trưởng kinh tế của mình Như vậy, thực hiện chính sách bảo tồn năng lượng không có ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng Giả thuyết thứ hai được gọi là “giả thuyết tăng trưởng” và nó lập luận rằng mức tiêu thụ năng lượng gây ra sự tăng trưởng kinh tế Điều này ngụ ý rằng sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào mức tiêu thụ năng lượng và do đó năng lượng là một kích thích tăng trưởng Điều này có nghĩa rằng thiếu hụt năng lượng

có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế hoặc có thể gây ra hiệu quả kinh

tế kém, dẫn đến giảm thu nhập Giả thuyết thứ ba được gọi là "giả thuyết phản hồi”,

nó ngụ ý rằng cả tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế gây ra cho nhau Cuối cùng, các "giả thuyết trung lập" ngụ ý rằng không có quan hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế

Meadows và các đồng sự (1992) lập luận ngoài mối đe dọa đối với môi trường trong dài hạn, tăng trưởng kinh tế là cần thiết để duy trì và cải thiện chất lượng môi trường Đồng thời, các mối quan tâm ngày càng tăng về tác dụng phụ của tăng trưởng kinh tế lên môi trường đã thúc đẩy rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cho một khái niệm về phát triển kinh tế bền vững với môi trường giữa

sự đánh đổi tăng trưởng kinh tế với chất lượng môi trường (Anderson, 1992)

Trang 17

Các giả thuyết đường cong môi trường Kuznets (EKC), dựa trên giả thuyết mối quan hệ chữ U ngược giữa sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người và thước đo của chất lượng môi trường Trong đó mối quan hệ giữa thu nhập và môi trường bị suy thoái chỉ ra một sự gia tăng thu nhập dẫn đến tăng ô nhiễm môi trường nhưng khi đạt đến một điểm nào đó sẽ bị suy giảm, có thể được kiểm tra thực nghiệm bằng cách sử dụng các biện pháp khác nhau của các tiêu chuẩn về môi trường Tiến xa hơn một khuôn khổ EKC truyền thống, trong đó thu nhập là các biến giải thích duy nhất, Selden và Song (1994) cho thấy lập phương và cao hơn của GDP bình quân đầu người là không dừng Các nghiên cứu trước, bằng cách sử dụng khung EKC đã bỏ qua những vấn đề các khác biệt đầu tiên của bình phương của quá trình tích hợp là không cố định

Ở trang 412 Wagner (2008) đã chỉ ra " đến nay không có kỹ thuật ước lượng cho các bảng bao gồm biến đổi phi tuyến của các quá trình tích hợp có sẵn"

Do đó, không thích hợp khi các mô hình bao gồm GDP bình quân đầu người và bình phương của nó khi GDP bình quân đầu người là một quá trình tích hợp và ở trang 394 của bài nghiên cứu Wagner đề nghị-nhiều nhất là một trong GDP bình quân đầu người và bình phương của nó có thể là mộtquá trình tích hợp khi GDP bình quân đầu người là một quá trình tích hợp, bài viết này không sử dụng bình phương của GDP bình quân đầu người

2.1 3 Phát triển tài chính

Mặc dù công nghệ, i trong phương trình (3), rất khó để đo lường rõ ràng, các nghiên cứu trước đó chỉ ra rằng phát triển tài chính có thể nâng cao sự tiến bộ của công nghệ, việc giảm chi phí thông tin, và lợi nhuận của đầu tư Các tổ chức phát triển tài chính tốt có thể thúc đẩy đổi mới công nghệ và do đó cải thiện hiệu suất môi trường (Kumbaroglu, Karali, & Arıkan, 2008; Tadesse, 2005)

Javorcik & Spatareanu (2008) và Keller (2004) chỉ ra rằng tăng trưởng FDI không chỉ cung cấp đầu tư vốn cho các doanh nghiệp mà còn là một tác động lây lan trên công nghệ Ngoài ra, Hübler và Keller (2010) xem xét các bằng chứng hiện

có, và nhận xét rằng "nhiều công nghệ hiệu quả của các công ty nước ngoài có thể

Trang 18

thực sự đóng góp cho một hiệu ứng kỹ thuật năng lượng giảm thông qua chuyển giao công nghệ” Vì vậy, trình độ công nghệ có thể được thu nạp bởi các mức độ phát triển tài chính, giống như FDI, và đại diện bởi sự phát triển tài chính Tuy nhiên, vài nghiên cứu đã xem xét tác động của phát triển tài chính hoặc đã sử dụng

nó như là một yếu tố quyết định quan trọng của hoạt động môi trường (Shahbaz, Islam & Butt, 2011; Shahbaz, Tiwari, & Nasir, 2011)

Theo Shu-Chen Chang (2015) phát triển tài chính bao gồm sự gia tăng dòng chảy của FDI, cải thiện thị trường chứng khoán, hoạt động ngân hàng, cải cách thuận lợi; và tín dụng tư nhân Cơ sở hạ tầng tài chính có thể nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng đến nhu cầu về năng lượng (Sadorsky, 2010; Sadorsky, 2011; và Shahbaz và Lean, 2012) Phát triển tài chính làm giảm khí thải CO2 (Tamazian và các đồng sự, 2009)

Christopoulos, D K., & Tsionas, E G (2004) đưa ra quan điểm rằng đối với phát triển tài chính, hệ thống tài chính nghiêm ngặt (kết hợp các tính năng như trần lãi suất, dự trữ bắt buộc, và một chương trình tín dụng chỉ định) có thể làm suy giảm sự phát triển tài chính bởi vì một một hệ thống chặt chẽ (hoặc kém phát triển như vậy) có thể bị thiếu dòng vốn Đồng thời kết luận rằng có bằng chứng khá mạnh mẽ ủng hộ của giả thuyết rằng quan hệ nhân quả dài hạn từ phát triển tài chính đến tăng trưởng Ngược lại, một hệ thống phát triển tài chính có thể cung cấp các chức năng thiết yếu chuyển tiền cho các công ty và gia tăng sự đổi mới trong dịch vụ tài chính

Barth, J R., Caprio, G J., & Nolle, D E (2004) đã đưa ra quan điểm rằng sự phát triển tài chính có thể cung cấp dịch vụ tài chính hiệu quả trong thị trường ngân hàng nước ngoài, và cải thiện khả năng tiếp cận của cả công ty nước ngoài và trong nước với hàng hóa và dịch vụ tài chính

Sadorsky (2011) chỉ ra rằng sự phát triển tài chính cải thiện việc tiếp cận nguồn lực tài chính làm tăng nhu cầu đối với các mặt hàng lớn và tiêu thụ năng lượng cũng có tác động tích cực gián tiếp để thúc đẩy hoạt động kinh doanh Hiệu quả tổng thể là nâng cao nhu cầu năng lượng

Trang 19

Fung, H K (2009) đã phát hiện thấy một hệ thống tài chính hiệu quả tạo ra nhiều sản phẩm hơn, và các yếu tố đầu vào cho các sản phẩm này tăng nhu cầu năng lượng Những hạn chế về tài chính ngăn các nước nghèo nhận được lợi ích đầy đủ các chuyển giao công nghệ và làm cho tốc độ tăng trưởng phân kì ở các vùng biên giới trên thế giới Đặc biệt, hạn chế tài chính tạo ra bởi một thị trường tài chính kém phát triển có thể ngăn chặn các nước nghèo áp dụng mới công nghệ vì R & D, hoặc đầu tư vào các công nghệ nói chung

Tamazian và các đồng sự (2009) chỉ ra rằng phát triển tài chính đóng một vai trò quan trọng trong cải thiện môi trường Các khu vực tài chính phát triển có thể hỗ trợ tài chính với chi phí thấp, bao gồm cả các chi phí đầu tư để cải thiện môi trường hoặc gây ra thay đổi công nghệ và những thay đổi trong cơ cấu nguồn năng lượng Các hỗ trợ tài chính cho đầu tư vào công nghệ và các mục tiêu chính sách của chính phủ là không thể tránh khỏi để duy trì sự phát triển của lĩnh vực năng lượng Dasgupta và các đồng sự (2001) chỉ ra rằng hệ thống tài chính phát triển có thể cung cấp đủ động lực cho các doanh nghiệp giảm phát thải CO2 ra môi trường

Tuy nhiên, phát triển tài chính có thể làm tăng sự mong manh của thu nhập

và thậm chí phá hủy thu nhập; Ví dụ, các cuộc khủng hoảng tài chính những năm

1980, 1990, và 2000 kết quả trong giảm thu nhập, đặc biệt đối với các nền kinh tế đang phát triển, và các cuộc khủng hoảng tài chính đã được truyền từ một nước này sang một nước khác bởi toàn cầu hóa tài chính

Mối quan hệ lý thuyết giữa phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng đã được chỉ ra bởi Sadorsky (2010) và sau đó được phân loại theo Coban và Topcu (2013) Theo quan điểm này, phát triển tài chính sẽ ảnh hưởng đến tiêu thụ năng lượng qua kênh ảnh hưởng trực tiếp, hiệu ứng kinh doanh, hiệu ứng tài sản:

Bảng 2.1: Khung lý thuyết phản ánh các tác động của phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng

Hiệu ứng trực tiếp Khi có sự cải thiện phát triển tài chính, người tiêu dùng

có thể vay dễ dàng hơn và rẻ hơn để mua hàng tiêu dùng và sử dụng nhiều năng lượng

Trang 20

Hiệu ứng kinh doanh Cải thiện phát triển tài chính giúp các doanh nghiệp tiếp

cận nguồn vốn tài chính dễ dàng và ít tốn kém Ngoài ra thị trường chứng khoán phát triển cũng có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp bằng cách cung cấp cho họ nguồn kinh phí bổ sung, có thể cho phép doanh nghiệp

mở rộng tiềm năng kinh doanh hiện tại của họ và tăng nhu cầu năng lượng

Hiệu ứng tài sản Hoạt động thị trường chứng khoán tăng thường ảnh

hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng và các doanh nghiệp bằng cách tạo ra hiệu ứng tài sản Tăng niềm tin kinh tế có thể mở rộng nền kinh tế và thúc đẩy nhu cầu năng lượng

Nguồn: Coban và Topcu (2013)

- Các chỉ số phát triển tài chính

Theo cán cân thanh toán số liệu công bố của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, mức

độ phát triển tài chính tương quan với các tài khoản tài chính, trong đó có liên quan đến các dòng tài chính quốc tế ngắn hạn và dài hạn của khu vực tư nhân và công cộng Dựa vào loại của các dòng tài chính, phát triển tài chính có thể nói là bao gồm các tổ chức tài chính (ví dụ, ngân hàng công và tư nhân), các thị trường chứng khoán (tức là, thị trường chứng khoán), và FDI

De Gregorio, Jose, & Guidotti, P E (1995), Hasanov, F., & Huseynov, F (2013) và Tamazian, A., Chousa, J P., & Vadlamannati, K C (2009) chỉ ra hai chỉ

số có thể được sử dụng để đánh giá sự phát triển của các tổ chức tài chính: tín dụng

tư nhân và tín dụng trong nước được cung cấp bởi các ngân hàng là một phần của GDP (đại diện cho độ sâu về kích thước của khu vực ngân hàng và khu vực phát triển tài chính)

Ang (2008); Demetriades & Hussein (1996); Jalil và các đồng sự (2010); Levine (2002); Oluitan (2009) thấy rằng tín dụng tín dụng nhân là một chất kích thích cho tăng trưởng kinh tế tốt hơn so với các hình thức khác của khoản vay Đây

Trang 21

là một thước đo toàn diện của trung gian tài chính, kết hợp tín dụng ngân hàng và phi ngân hàng Ngoài ra, Beck (2011) cho thấy rằng tín dụng cho các doanh nghiệp

và hộ gia đình phải được xem xét một cách riêng biệt Tín dụng tư nhân (FD1it) là tín dụng cho các khu vực tư nhân như một phần của GDP Tín dụng tư nhân gồm nguồn tài chính mà các tập đoàn tài chính cung cấp cho khu vực tư nhân, thông qua các khoản vay, mua các chứng khoán không góp vốn, các khoản tín dụng thương mại và các khoản khác phải thu, các khoản phải trả, Một số quốc gia bao gồm tín dụng cho các doanh nghiệp công Các tập đoàn tài chính bao gồm các cơ quan tiền

tệ và ngân hàng gửi tiền, cũng như các tập đoàn tài chính khác Ví dụ: các công ty tài chính và cho thuê, bên cho vay tiền, các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, và các công ty ngoại hối; Tín dụng trong nước (FD2it) là tín dụng được cung cấp bởi các khu vực ngân hàng như là một phần của GDP Tín dụng trong nước của ngân hàng

đề cập đến nguồn tài chính cung cấp cho khu vực tư nhân của các công ty lưu ký khác (công ty nhận tiền gửi, ngoại trừ các ngân hàng trung ương), chẳng hạn như thông qua các khoản vay, mua các chứng khoán không góp vốn, và các khoản tín dụng thương mại và các khoản khác phải thu, trong đó thiết lập một yêu cầu bồi thường để trả nợ Đối với một số quốc gia bao gồm tín dụng cho các doanh nghiệp công

Một số quan điểm cho rằng hiệu quả ngày càng tăng của các trung gian tài chính (ngoài việc tăng cơ hội để đầu tư) có thể hỗ trợ tăng cho vay đối với hộ gia đình và các công ty, do đó khuyến khích người tiêu dùng mua nhiều mặt hàng, do

đó làm tăng mức tiêu thụ năng lượng (gồm các đồ vật như xe ô tô và máy móc) Việc tiêu thụ ngày càng tăng của năng lượng, lần lượt, khí thải CO2 vào không khí

và các chất ô nhiễm hữu cơ vào trong nước Ngược lại với quan điểm đầu tiên, các

tổ chức phát triển tài chính và thị trường vốn có thể cung cấp vốn vay đến lĩnh vực năng lượng tái tạo, tài trợ các dự án năng lượng tái tạo xanh (Dasgupta, Hong, Laplante, & Mamingi, 2004) Phát triển tài chính tốt làm cho nó có thể cung cấp các khoản tín dụng cho các dự án thân thiện với môi trường ở chi phí tài chính thấp Hơn nữa, FDI có thể dẫn đến sự đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp địa

Trang 22

phương, trong đó có thể giúp giảm bớt tiêu thụ năng lượng (Alfaro, Chanda, Kalemli-Özcan, & Sayek, 2004, 2006; Bailliu, 2000; Hermes & Lensink, 2003)

Theo Sadorky (2010) có hai lý thuyết chính giải thích tại sao tăng trưởng trong hoạt động thị trường chứng khoán lại tăng cường đầu tư và hoạt động kinh tế Minier (2009) Tác động đầu tiên khi thị trường chứng khoán phát triển làm tăng số lượng các quỹ đầu tư phục vụ cho các dự án đầu tư Khi thị trường chứng khoán phát triển như vậy làm cho các quy tắc (tiêu chuẩn kế toán và báo cáo) liên kết với nhau và làm tăng niềm tin đầu tư, đặc biệt quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu

tư nước ngoài Tác động thứ hai là hiệu ứng hiệu quả, khi thị trường chứng khoán phát triển làm tăng sự đa dạng hóa và tính thanh khoản của thị trường Kể từ khi thị trường chứng khoán phát triển làm tăng số tiền của các quỹ cho các dự án đầu tư các nhà nghiên cữu đã hi vọng là phát triển thị trường chứng khoán dẫn đến nhiều đầu tư, tăng trưởng kinh tế và nhu cầu năng lượng

Levine, R., & Zervos, S (1998) chỉ ra rằng hai chỉ số có thể được sử dụng để đánh giá sự phát triển thị trường chứng khoán: giá trị cổ phiếu giao dịch; và vòng quay thị trường chứng khoán

- Giá trị cổ phiếu được giao dịch đại diện cho tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán bao gồm tổng giá trị cổ phiếu được giao dịch trên thị trường như là một phần của GDP Cổ phiếu được giao dịch đề cập đến tổng giá trị cổ phiếu được giao dịch trong giai đoạn này Chỉ số này bổ sung cho tỷ lệ vốn hóa thị trường bằng cách hiển thị cho dù quy mô thị trường là phù hợp bởi giao dịch; tính thanh khoản của thị trường chứng khoán là một yếu tố dự báo mạnh mẽ cho tăng trưởng GDP bình quân đầu người thực, vốn và tăng năng suất và cường độ năng lượng khi môi trường kinh tế vĩ mô ổn định

- Vòng quay thị trường chứng khoán đại diện quy mô thị trường chứng khoán

là tổng giá trị cổ phiếu được giao dịch như một phần của vốn hóa thị trường chứng khoán Tỷ suất vòng quay chứng khoán là tổng giá trị của cổ phiếu được giao dịch trong khoảng thời gian chia cho vốn hóa thị trường trung bình cho giai đoạn này Vốn hóa thị trường trung bình được tính bằng trung bình của các giá trị cuối kỳ cho

Trang 23

giai đoạn hiện nay và các thời kỳ trước đó; Ernst Worrell và Gijs Biermans (2005)

đã chỉ ra rằng trong phần lớn các nền kinh tế cải thiện hiệu quả năng lượng gần như phụ thuộc vào vòng quay thị trường chứng khoán Khi các thiết bị cũ thường xuyên được thay thế bằng thiết bị mới tiết kiệm năng lượng do sự đổi mới liên tục trong công nghệ (De Beer, 1998)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những chỉ số phát triển tài chính được sử dụng trong đề tài này Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua chuyển giao công nghệ, khuyết tán và hiệu ứng lan tỏa, tăng năng suất cùng với sự ra đời của các quy trình mới cũng như các kỹ năng quản

lý hiệu quả (Batten và Vo, 2009) Các nghiên cứu của Grossman và Helpman (1991), Barro và Salai- Martin (1995) và Hermes và Lensink (2003) cho rằng FDI đóng một vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển Mielnik, O., & Goldemberg, J (2002) đã chỉ ra rằng khi dòng vốn FDI chảy vào tăng, cường độ năng lượng giảm

2.1.4 Chi tiêu chính phủ

Chi tiêu của chính phủ bao gồm chi tiêu của chính phủ để sản xuất và cung cấp dịch vụ cho công chúng, chẳng hạn như trường giáo dục công lập Chi tiêu chính phủ bao gồm nhiều hạng mục với các chức năng khác nhau như chi tiêu cho tiêu dùng của chính phủ cung cấp hàng hóa và dịch vụ thị trường hoặc phi thị trường, chi tiêu cho sản xuất của chính phủ cung cấp hàng hóa và dịch vụ thị trường; và chi tiêu cho đầu tư phản ánh đầu tư công cho cơ sở hạ tầng, đường xá, trường học, bệnh viện Chính phủ cung cấp những các lợi ích xã hội xã hội như an ninh quốc phòng, thực thi pháp luật, y tế cộng đồng, phổ cập giáo dục tiểu học, nghiên cứu khoa học cơ bản hay dịch vụ hỗ trợ thị trường,….Hoạt động của chính phủ ở các cấp từ trung ương đến địa phương ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nhiều cách Như đã nói ở trên, chính phủ các nước đóng góp vào sản lượng kinh tế khi họ cung cấp dịch vụ cho công chúng và khi họ đầu tư vốn Chính phủ cũng có ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua thuế và bằng cách cung cấp ưu đãi đối với hoạt động kinh doanh khác nhau

Trang 24

Một số học giả đã lập luận rằng tăng chi tiêu chính phủ có thể là một công

cụ hiệu quả để kích thích tổng cầu của nền kinh tế trì trệ và mang lại hiệu quả trên khu vực tư nhân Theo quan điểm của Keynes, chính phủ có thể đảo ngược suy thoái kinh tế bằng cách vay tiền từ khu vực tư nhân và sau đó trả lại tiền cho các ngành thông qua các chương trình chi tiêu khác nhau Cùng với mức chi tiêu đó có thể tăng việc làm, lợi nhuận và đầu tư thông qua các hiệu ứng số nhân trên tổng cầu Như vậy, chi tiêu chính phủ có thể đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế Mặt khác, mô hình tăng trưởng nội sinh như Barro (1990) dự đoán rằng chỉ có những khoản chi tiêu sản xuất của chính phủ sẽ ảnh hưởng tích cực lâu dài đến tỉ lệ tăng trưởng kinh tế

Các nhà kinh tế đã thống nhất với nhau rằng trong một số trường hợp sự cắt giảm quy mô chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và trong một số trường hợp khác sự gia tăng chi tiêu chính phủ lại có lợi cho tăng trưởng kinh tế

(Wieland, 2008) chỉ ra rằng để giảm bớt các tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế và sau đó là khủng hoảng tài chính, các nước có thể thực hiện chính sách kích cầu Chính sách tài khóa khi thực hiện đúng, kịp thời sẽ có tác động nhanh, mạnh hơn đặc biệt thông qua chi tiêu chính phủ vì nó tác động trực tiếp đến tổng cầu còn chính sác tiền tệ phải phụ thuộc vào độ nhảy cảm của đầu tư, tiết kiệm, tiêu dụng đối vơi lãi suất

Chính phủ cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng để đảm bảo một xã hội bình đẳng Tăng trưởng kinh tế trở thành một mục tiêu mà chính phủ theo đuổi để tích luỹ nguồn lực cần thiết cho cung cấp hàng hoá công cộng và dịch vụ Mặc khác

sự tham gia của chính phủ trong nền kinh tế thông qua chi tiêu chính phủ có thể tác động tiêu cực cho nền kinh tế chẳng hạn như gánh nặng nợ của ngân sách quốc gia, lạm phát, thuế cao, không có lợi cho đầu tư hoặc tới môi trường

Chi tiêu chính phủ đã mở rộng ở nhiều nước như một cố gắng để làm giảm bớt các tác động bất lợi từ khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế Chi tiêu chính phủ đã gây ra một tác động trực tiếp vào các lĩnh vực của nền kinh tế và xã hội Những tác động của chi tiêu chính phủ về môi trường có thể được phân loại là

Trang 25

trực tiếp và gián tiếp Đặc biệt, các tác động gián tiếp thông qua các tác động của chi tiêu chính phủ lên tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa GDP và ô nhiễm môi trường được gọi là giả thuyết đường cong Kuznets (EKC) Các nhà kinh tế sinh thái nhấn mạnh rằng môi trường tự nhiên có năng lực thực hiện tổng hợp và đặc một ràng buộc tối đa đối với mức độ hoạt động kinh tế Mức sản lượng tối đa hiện tại của một nền kinh tế trong mối quan hệ với mức độ bền vững của môi trường và các hiệu ứng xảy ra khi thực hiện chính sách tài khóa mở rộng là yếu tố quan trọng để xem xét khi kiểm tra hiệu quả của chi tiêu chính phủ lên tình trạng ô nhiễm môi trường Chính vì thế Yuxiang và Chen (2009) đã chỉ ra sự lo lắng ngày càng tăng về tác động tiềm năng của các chính sách mở rộng chi tiêu ở Trung Quốc đối với nhu cầu, hiệu quả sử dụng năng lượng và các tác động đối với môi trường, và đến mức

độ nào thì chi tiêu chính phủ sẽ tác động đến cường độ sử dụng năng lượng?

Một số khả năng khi chi tiêu chính phủ mở rộng, sự gia tăng chi tiêu vào cơ

sở hạ tầng và nhà ở kích thích sự sản xuất các sản phẩm năng lượng cao (như thép

và xi măng) Kết quả là, cường độ năng lượng tăng lên vì sự tăng trưởng trong ngành công nghiệp nặng Mặc khác, chính phủ có thể cung cấp hỗ trợ tài chính và khuyến khích việc cấp giấy phép công nghệ năng lượng bền vững và dịch vụ Chính phủ có thể cung cấp các chi phí bảo vệ môi trường, giảm khí thải CO2, chi tiêu công cho R&D để phát triển công nghệ mới tiết kiệm năng lượng, các loại thuế và ưu đãi thuế quan cho xuất nhập khẩu các sản phẩm năng lượng tái tạo Chẳng hạn, ở 1 số quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ,… đã chính phủ áp dụng các chính trong việc phát triển năng lượng tái tạo gần đây Việc mở rộng chính sách can thiệp của chính phủ để giảm chi phí và do đó, tạo ra tiềm năng đổi mới công nghệ Mặc dù năng lượng vẫn quan trọng, tiến bộ kỹ thuật trong ngành công nghiệp sản xuất đã cho phép tiết kiệm năng lượng được sử dụng trên một đơn vị sản lượng và làm giảm các hạn chế nguồn năng lượng

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng:

Trang 26

Năng lượng là một đầu vào trong quá trình sản xuất, kể từ khi nó được sử dụng trong các hoạt động kinh tế Nhiều quốc gia thiếu nguồn năng lượng như Nhật Bản thường phụ thuộc vào nhập khẩu dầu thô, khí thiên nhiên và than cho công nghiệp và tiêu dùng trong dân cư Đồng thời, phục vụ nhu cầu năng lượng, giao thông vận tải, và phát điện Trong những trường hợp này, có thể sẽ là một mối quan

hệ tích cực giữa việc tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế Trong những thập

kỷ gần đây, giá năng lượng, an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu đã trở thành mối quan tâm chính Với sự thay đổi trong chính sách năng lượng để đáp ứng với các vấn đề, các mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh

tế đã trở thành một khu vực hấp dẫn của cuộc điều tra

Bảng 2.2 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng:

STT Tác giả Quốc gia Biến Giai

đoạn

Phương pháp

và Armenia

- GDP bình quân đầu người

- Tiêu thụ năng lượng

1995

-

2009

- Kiểm định Engle-Granger và quan hệ nhân quả Granger

Quan hệ nhân quả 1 chiều từ GDP bình quân đầu người đến tiêu thụ năng ở Armenia

2 Eggoh và

các đồng

sự (2011)

21 quốc gia châu Phi

- Tiêu thụ năng lượng

- GDP thực

- Giá, lao động, vốn

1970

-

2006

- Kiểm định PMG

và quan hệ nhân quả

- Kiểm định OLS

- Cân bằng dài hạn giữa tiêu thụ năng lượng, GDP thực, giá, lao động và vốn

- Giảm tiêu thụ năng lượng

Trang 27

giảm tăng trưởng và ngược lại

1970

-

2009

- Kiểm định VECM

- Kiểm định ADF

- Kiểm định Phillips và Perron (PP)

- Kiểm định Johansen

- Quan hệ nhân quả ngắn hạn

và dài hạn từ tăng trưởng kinh tế tới mức tiêu thụ năng lượng

- Kiểm định ADF

- Kiểm định quan

hệ nhân quả Granger

- Quan hệ hai chiều giữa các biến trong ngắn hạn

- Quan hệ nhân quả dài hạn quả chạy từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng

5 Öztürk, 51 quốc - Khí thải 1971 - Phân tích - Quan hệ

Trang 28

Aslan, &

Kalyoncu

(2010)

gia thu nhập trung bình và thu nhập thấp

CO2 Tiêu thụ năng lượng

- Tăng trưởng kinh

tế

-

2005

quan hệ nhân quả

- Kiểm định bảng FMOLS và DOLS

nhân quả dài hạn từ GDP đến tiêu thụ năng lượng ở các nước có thu nhập thấp

- Quan hệ nhân quả hai chiều giữa mức tiêu thụ năng lượng

và GDP cho các nước có thu nhập trung bình

- GDP bình quân đầu người thực

- Giá năng lượng thực

- Cường độ năng lượng

- Tỷ lệ hình thành vốn gộp vào GDP

1978

-

2004

Mô hình hồi quy bảng chuyển đổi suôn với hạn sửa lỗi PSECM

Tồn tại mối quan hệ phi tuyến cho nhu cầu năng lượng khi cường độ năng lượng và

tỷ lệ hình thành vốn gộp vào GDP dùng làm biến ngưỡng

7 Kais Saidi,

Sami

58 quốc gia

- Tăng trưởng kinh

1990

-

Kiểm định GMM

- Tăng trưởng kinh tế tác

Trang 29

Hammami

(2015)

tế

- Khí thải CO2

- Tiêu thụ năng lượng

lên tiêu thụ năng lượng

- CO2 tác động tích cực lên mức tiêu thụ năng lượng

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Những nghiên cứu đã sử dụng một loạt các kỹ thuật chuỗi thời gian kinh

tế Các nghiên cứu về năng lượng và tăng trưởng được quan tâm bắt nguồn từ khủng hoảng dầu mỏ vào những năm 1970 đến những mối quan tâm gần đây về giá năng lượng, an ninh năng lượng và các tác động của các chính sách môi trường để bảo tồn năng lượng và giảm khí thải khí nhà kính Nhưng cho dù tốc độ tăng trưởng kinh tế thúc đẩy tiêu thụ năng lượng hay chính nó là một tác nhân cho tăng trưởng kinh tế thì nó đã thúc đẩy sự quan tâm của các nhà kinh tế và hoạch định chính sách Trong hai thập kỷ qua, đã có một số lượng lớn các nghiên cứu điều tra công

bố các quan hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế Điều này là do hướng của quan hệ nhân quả có ý nghĩa chính sách quan trọng

Kalyoncu, H., Gürsoy, Göcen (2013) đã xem xét các mối quan hệ giữa việc tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế Các tác giả sử dụng các bài kiểm tra

Engle-Granger và quan hệ nhân quả Granger để phân tích các mối quan hệ nhân quả

giữa mức tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế Đồng thời bài nghiên cứu xác định ba quan điểm về vấn đề này Quan điểm quốc gia đầu tiên là có một quan hệ nhân quả chạy từ tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế Một quan điểm thứ hai nói rằng quan hệ nhân quả chạy theo hướng ngược lại: tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến mức tiêu thụ năng lượng Quan điểm thứ ba là các mối quan hệ là hai chiều: phát triển kinh tế ảnh hưởng tiêu thụ năng lượng, và ngược lại

Altinay và các đồng sự (2004) đã kiểm tra quan hệ nhân quả giữa GDP và tiêu thụ năng lượng của Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 1950-2000, sử dụng các bài

Trang 30

kiểm tra đơn vị gốc Tuy nhiên, tác giả không tìm thấy quan hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ năng lượng và GDP của Thổ Nhĩ Kỳ cho giai đoạn kiểm tra

Ghosh (2009) điều tra các mối quan hệ giữa lượng điện được cung cấp, GDP thực và việc làm cho Ấn Độ trong khoảng thời gian 1970-2006 sử dụng một khuôn khổ đa biến sử dụng mô hình phân phối trể tự hồi quy (ARDL) Các kết quả cho thấy các mối quan hệ nhân quả giữa GDP thực và lượng điện được cung cấp

Sami (2011) điều tra mối quan hệ giữa xuất khẩu, tiêu thụ năng lượng và GDP thực cho Nhật Bản trong khoảng thời gian 1960-2007 Các phân tích đồng tích hợp giữa các biến và quan hệ nhân quả VECM được xác nhận có mối quan hệ nhân quả đơn hướng từ xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng

Eggoh và các đồng sự (2011) điều tra mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế

và tiêu thụ năng lượng với dữ liệu 21 quốc gia Châu Phi trong giai đoạn 1970-2006,

sử dụng các bảng và kiểm tra quan hệ nhân quả chỉ ra rằng nếu mức tiêu thụ năng lượng là tác nhân trong tăng trưởng kinh tế, chính sách bảo tồn làm giảm tiêu thụ năng lượng có thể ảnh hưởng xấu đến GDP thực tế Tuy nhiên, hướng quan hệ nhân quả chạy từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng báo hiệu một nền kinh tế ít phụ thuộc năng lượng như vậy chính sách bảo tồn năng lượng có thể được thực hiện

với rất ít hoặc không có tác dụng lên tăng trưởng kinh tế

Theo quan điểm quốc gia thứ hai, Aziz, A A (2011) xem xét các mối quan

hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ năng lượng, giá cả năng lượng và tăng trưởng kinh tế

ở Malaysia bằng cách sử dụng một mô hình vector điều chỉnh sai số Kết quả thực nghiệm cho Malaysia trong thời gian qua 1970-2009, kết quả xét nghiệm quan hệ nhân quả tiết lộ rằng có quan hệ nhân quả Granger ngắn hạn và dài hạn chạy từ tăng trưởng kinh tế với mức tiêu thụ năng lượng cho Malaysia

Toman, M.A., & Jemelkova (2003) chỉ ra rằng phát triển năng lượng là một thành phần quan trọng của phát triển kinh tế rộng lớn cùng một số cách thức mà năng lượng ảnh hưởng đến quá trình phát triển Các ảnh hưởng có thể đặc biệt quan trọng ở các nước phát triển thấp, nơi mà các chi phí cơ hội chung của các dạng năng

Trang 31

lượng kém hiệu quả và phần thưởng tương đối việc sử dụng các hình thức hiệu quả hơn có vẻ đặc biệt cao

Theo quan điểm thứ ba, Hye, Q M A., & Riaz, S (2008) sử dụng dữ liệu Pakistan và kiểm tra các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng trong giai đoạn 1971-2007 dựa trên mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) Bài kiểm tra quan hệ nhân quả cho thấy mối quan hệ hai chiều giữa các biến trong ngắn hạn, và trong dài hạn quan hệ nhân quả chạy từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng Tiêu thụ năng lượng không ảnh hưởng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn vì giá năng lượng cao có thể làm các chi phí kinh doanh đột ngột tăng gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế

Hầu hết các nghiên cứu trước đây đã tập trung vào các mối quan hệ nhân quả trong chuỗi thời gian hai biến Những nghiên cứu này bỏ qua một số yếu tố quan trọng của tiêu thụ năng lượng (chẳng hạn như phát triển tài chính và các cấp độ trước đó của tiêu thụ năng lượng), cũng như các đặc điểm cụ thể giữa các quốc gia,

và do đó đã không thành công để xác định bất kỳ sự đồng thuận trong tương quan năng lượng tăng trưởng

Baltagi, B (2005) đã chỉ ra rằng những lợi thế của dữ liệu bảng là "Dữ liệu thông tin mới hơn, thay đổi nhiều hơn, ít cộng tuyến giữa các biến, nhiều bậc tự do

và hiệu quả hơn, nghiên cứu chính xác hơn Chính vì thế, Öztürk, Aslan, và Kalyoncu (2010) đã xem xét các đặc điểm cụ thể giữa các quốc gia, phân chia các nước thành ba nhóm: thu nhập thấp, thu nhập dưới trung bình, và thu nhập trên trung bình Đã xác định chắc chắn rằng quan hệ nhân quả Granger dài hạn từ GDP đến tiêu thụ năng lượng ở các nước có thu nhập thấp, và nhân quả hai chiều giữa mức tiêu thụ năng lượng và GDP cho các nước có thu nhập trung bình Mặc dù nghiên cứu của Öztürk và các đồng sự năm 2010 được sử dụng một bộ dữ liệu bảng, nhưng họ chỉ tập trung vào một quan hệ nhân quả hai biến tương quan, mà không bao gồm các yếu tố khác ảnh hưởng đến mức tiêu thụ năng lượng như phát triển tài chính, với mức trước đây của tiêu thụ năng lượng, và giá cả năng lượng

Trang 32

Vì vậy, Lee, Chien-Chiang, & Chiu, Yi-Bin (2013) sử dụng 24 nước OECD

và xây dựng một mô hình phi tuyến tính của nhu cầu năng lượng bằng cách sử dụng một mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn với một hạn sửa sai Để lấp đầy khoảng trống trong nghiên cứu về đề tài này, hiện tại bài viết thêm biến giải thích, và sử dụng một tập dữ liệu bảng cũng như mô hình kinh tế thích hợp nhất để xác định liệu tiêu thụ năng lượng có bị ảnh hưởng bởi GDP bình quân đầu người

Kais Saidi, Sami Hammami (2014) nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh

tế, khí thải CO2 lên tiêu thụ năng lượng bằng cách sử dụng một khuôn khổ tăng trưởng và mô hình phương trình đồng thời Tác giả đã tìm hiểu tác động của lượng khí thải CO2 và tăng trưởng kinh tế tiêu thụ năng lượng cho một dữ bảng của 58 quốc gia, mô hình dữ liệu bảng ước tính bằng phương pháp hồi qui GMM cho giai đoạn 1990-2012 cho ba khu vực châu Âu và Bắc Á, Mỹ Latin và Caribbean, và SubSaharan, Bắc Phi và Trung Đông Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy tác động tích cực đáng kể lượng khí thải CO2 trên mức tiêu thụ năng lượng cho các khu vực

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng:

Hiện nay, có hai quan điểm về ảnh hưởng của phát triển tài chính lên tiêu thụ năng lượng Phát triển tài chính có thể phục vụ như là một động lực để làm giảm tiêu thụ năng lượng, trong khi tại cùng một thời điểm lại làm tăng tiêu thụ năng lượng

Trong các nghiên cứu thực nghiệm, hầu hết các nghiên cứu điều tra nhu cầu năng lượng trong các nền kinh tế mới nổi đã tập trung vào các mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế Mặc dù không có sự đồng thuận mạnh mẽ cho sự định hướng của các mối quan hệ, Karanfil (2009) cho thấy thêm các biến tiềm năng quan trọng như phát triển tài chính, bởi vì điều này có khả năng tác động đến nhu cầu về năng lượng

Các mối quan hệ giữa thu nhập và phát triển tài chính đã được thảo luận rộng rãi trong vài thập kỷ quá khứ Trong tài liệu, các mối quan hệ giữa việc tiêu thụ

Trang 33

năng lượng và phát triển tài chính là kiểm tra bằng một số phương pháp như nhân quả Granger, mô hình GMM và quan hệ nhân quả bảng,v.v

Đến nay kiến thức về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và nhu cầu năng lượng có thể thu được từ nhiều nghiên cứu thực nghiệm, chẳng hạn như:

Bảng 2.3 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng

S

T

T

Tác giả Quốc gia Biến Giai

đoạn Phương pháp Kết quả

1 Sadorsky

(2010)

22 quốc gia đang phát triển

- Phát triển tài chính

- Tiêu thụ năng lượng

- Tăng trưởng kinh tế

- Giá năng lượng

1990

-

2006

- Kiểm định Bond

- Kiểm định GMM

- Tài chính, tiêu thụ năng lượng có mối quan hệ tích cực

2 Sadorsky

(2011)

9 quốc gia Trung

và Đông

Âu

- Phát triển tài chính

- Tiêu thụ năng lượng

- Tăng trưởng kinh tế

- Giá năng lượng

1996

-

2006

- Kiểm định Bond

- Kiểm định GMM

- Tài chính, tiêu thụ năng lượng có mối quan hệ tích cực

3 Islam và Malaysia - Phát triển 1971 - Kiểm định NP - Quan hệ nhân quả

Trang 34

- Dân số

-

2009

- Kiểm định ARDL

- Kiểm định Granger

- Kiểm định VECM

hai chiều giữa tài chính và tiêu thụ năng luợng

- Phát triển tài chính

- Tiêu thụ năng lượng

- Tăng trưởng kinh tế

- Độ mở thương mại

1971

-

2011

- Kiểm định ADF

DF Kiểm định PP

- Kiểm định KPSS

- Kiểm định NP

- Kiểm định ARDL và Johansen

- Kiểm định nhân quả Granger

- Không có mối quan hệ giữa tài chính và tiêu thụ năng lượng

- Tăng trưởng kinh tế

- Độ mở thương mại

1975 Q1

-

2011 Q4

- Kiểm định Zivot-Andrews,

- Kiểm định ARDL

- Kiểm định nhân quả Granger

- Không có mối quan hệ giữa tài chính và tiêu thụ năng lượng

Trang 35

6 Dan

&Lijun

(2009)

Tỉnh Quảng Đông Trung Quốc

- Tiêu thụ năng lượng

- Phát triển tài chính

1985

-

2006

- Kiểm định ADF

- Kiểm định nhân quả Granger

- Kiểm định đồng hội nhập hai bước EG và Johansen

- Không có mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng

- Đầu tư nước ngoài

1980

-

2012

- Kiểm định nhân quả bảng Dumitrescu-Hurlin

- Kiểm định nhiễu Ljung-Box Q-test

- Quan hệ cân bằng dài hạn giữa tài chính và tiêu thụ năng lượng

- Quan hệ nhân quả một chiều từ tiêu thụ năng lượng đến phát triển tài chính

- Thương mại

- Khí thải CO2

1971

-

2008

- Kiểm định nhân quả Granger

- Kiểm định Bond

- Kiểm định ARDL Johansen

- Quan hệ nhân quả giữa khí thải CO2, phát triển tài chính, thu nhập, tiêu thụ năng lượng và mở cửa thương mại

- Quan hệ nhân quả một chiều dài hạn từ phát triển tài chính đến khí thải CO2 và năng lượng sử dụng

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Trang 36

Sadorsky (2010) bằng cách sử dụng kiểm định nhân quả GMM đã nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng cho 22 nước đang phát triển và ông xác định mối quan hệ dương tính có ý nghĩa định hướng trong vòng hai biến Thấy rằng sự gia tăng phát triển tài chính, đo bằng cách sử dụng biến thị trường chứng khoán, giá trị thị trường chứng khoán được giao dịch với GDP, vòng quay thị trường chứng khoán, làm tăng nhu cầu năng lượng trong các nền kinh

tế mới nổi Ngoài ra, Sadorsky đã chứng minh rằng biến trể của biến tiêu thụ năng lượng có tác động mạnh mẽ và tích cực đến nhu cầu năng lượng hiện tại Mặc dù nghiên cứu của trong bài nghiên cứu Sadorsky (2010) sử dụng một mô hình dữ liệu bảng để xem xét sự không đồng nhất giữa các quốc gia, sự tồn tại của vấn đề phi tuyến bị bỏ qua (có thiên vị dự toán nếu mô hình bỏ qua sự tồn tại của các vấn đề phi tuyến) Tiếp sau đó, Sadorsky (2011) xem xét tác động của phát triển tài chính

về tiêu thụ năng lượng trong một mẫu 9 nước Trung và các nền kinh tế biên giới Đông châu Âu và gặp phải với cùng một kết quả tương tự nghiên cứu năm 2010

Al-Mulali và Sab (2012b) đã tiến hành điều tra tác động của tiêu thụ năng lượng lên tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính trên một mẫu gồm 19 quốc gia cho giai đoạn 1980-2008 Phát hiện cho thấy tiêu thụ năng lượng ảnh hưởng sự phát triển của thị trường tài chính cũng như tổng thể hiệu suất của nền kinh tế Tuy nhiên

nó ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng môi trường, làm tăng phát thải CO2

Islam, F., Shahbaz, M., Ahmed, A U., & Alam, M M (2013) nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển thị trường tài chính, dân số và hiệu quả kinh tế về tiêu thụ năng lượng ở Malaysia Bằng chứng cho thấy rằng sự phát triển tài chính có thể giảm năng lượng sử dụng bằng cách tăng hiệu quả năng lượng Tìm hiểu sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài trong việc sử dụng năng lượng, sản xuất tổng hợp, phát triển tài chính và dân số ở Malaysia; và quan hệ nhân quả bằng cách sử dụng mô hình vector hiệu chỉnh sai số (VECM) Kết quả cho thấy mức tiêu thụ năng lượng bị ảnh hưởng bởi sự tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính, cả trong ngắn hạn và dài hạn

Trang 37

Shahbaz, M., Hye, Q.M.A., Tiwari, A.K., Leitão, N.C (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế bằng cách kết hợp biến phát triển tài chính và thương mại cho giai đoạn năm 1971-2011 tại Trung Quốc sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL Phát hiện thực nghiệm cho thấy rằng tiêu thụ năng lượng, phát triển tài chính và thương mại có mối quan hệ tích cực với tốc độ tăng trưởng kinh tế

Dan, Y., & Lijun, Z (2009) đã áp dụng quan hệ nhân quả Granger để kiểm tra các mối quan hệ giữa mức tiêu thụ năng lượng và phát triển tài chính ở tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc trong giai đoạn năm 1985-2006 Họ đã chỉ ra rằng sự phát triển tài chính không làm tăng mức tiêu thụ năng lượng

Fumitaka Furuoka (2015) xem xét mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng ở châu Á trong giai đoạn năm 1980-2012 Tác giả thực hiện các bài kiểm tra quan hệ nhân quả không đồng nhất được đề xuất bởi Dumitrescu và Hurlin [Trong bài nghiên cứu “Testing for Granger non-causality in heterogeneous panels”] Các kết quả của bài kiểm tra chỉ ra rằng có cùng mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa tài chính và tiêu thụ năng lượng trong khu vực Hơn nữa, việc kiểm tra bảng quan hệ nhân quả không đồng nhất phát hiện một quan hệ nhân quả một chiều

từ tiêu thụ năng lượng đến phát triển tài chính nhưng không phải ngược lại Những kết quả này chỉ ra rằng việc mở rộng sử dụng năng lượng có thể là một động lực thúc đẩy phát triển tài chính ở châu Á

Trong những năm gần đây, việc biến đổi khí hậu ngày càng trở thành một thách thức lớn đối với các nước đang phát triển Các mối quan tâm của biến đổi khí hậu dẫn đến việc hình thành các kế hoạch hành động quốc qia về biến đổi khí hậu

và là một khu vực nghiên cứu được nhiều quan tâm Chính vì thế không những phát triển tài chính mà các biến khác cũng được thêm vào khi kiểm định mối quan hệ với tiêu thụ năng lượng, chẳng hạn:

Shahbaz, M., Khan, S., Tahir, M.I (2013) kiểm tra các kết nối giữa tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng, phát triển tài chính, mở cửa thương mại và khí thải CO2 ở Indonesia trong giai đoạn từ quý 1 năm 1975 đến quý 2 năm 2011 và mô

Trang 38

hình ARDL Kết quả cho thấy tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) và năng lượng

sử dụng dẫn đến sự gia tăng khí thải CO2, trong khi phát triển tài chính và tự do hóa kìm hãm nó Tuy nhiên, các quan hệ nhân quả phân tích VECM chỉ ra giả thuyết phản hồi trong sử dụng năng lượng và khí thải CO2, quan hệ nhân quả hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và khí thải CO2 tồn tại và nguyên nhân tồn tại một chiều chạy từ sự phát triển tài chính đến khí thải CO2

Sau đó, Boutabba (2014) xem xét cân bằng dài hạn và sự tồn tại và mối quan

hệ nhân quả giữa lượng khí thải carbon, phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và mở cửa thương mại ở Ấn Độ Kết quả cho thấy rằng có bằng chứng về lâu dài và mối quan hệ nhân quả giữa khí thải CO2, phát triển tài chính, thu nhập, tiêu thụ năng lượng và mở cửa thương mại Phát triển tài chính có tác động tích cực dài hạn lên khí thải CO2, ngụ ý rằng sự phát triển tài chính cải thiện suy thoái môi trường Hơn nữa, kiểm định quan hệ nhân quả Granger cho thấy mối quan hệ nhân quả một chiều dài hạn chạy từ phát triển tài chính đến khí thải CO2 và năng lượng sử dụng Các bằng chứng cho thấy rằng hệ thống tài chính cần xem xét đến các khía cạnh môi trường trong các hoạt động hiện tại của họ Các kết quả của nghiên cứu này có thể có tầm quan trọng rất lớn đối với chính sách và ra quyết định

để phát triển các chính sách năng lượng của Ấn Độ góp phần vào việc kiềm chế lượng khí thải CO2 và duy trì tăng trưởng kinh tế

2.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng:

Các nghiên cứu trước đây đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của công nghệ, tăng trưởng kinh tế, giá năng lượng, hệ thống quy định và giám sát, và thay đổi cơ cấu ở cấp ngành công nghiệp lên tiêu thụ năng lượng như: Gallagher (2006); Liao

và các đồng sự (2007); Zhang (2008); Wei và các đồng sự (2009); Ma và Stern (2008)

Tuy nhiên, Andrews-Speed (2009) với dữ liệu ở Trung Quốc đã chứng minh

dự báo nhu cầu năng lượng ở nước này là không chính xác Andrews-Speed (2009)

Trang 39

nghĩ rằng đó là vì chính phủ có quyền kích thích tăng trưởng kinh tế, và những quyết định bên ngoài đó xuất hiện một cách bất ngờ

Chính vì thế, Karl Yuxiang, Zhongchang Chen (2009) sử dụng số liệu của các tỉnh ở Trung Quốc để phân tích và cung cấp bằng chứng thuyết phục về một liên kết tích cực giữa chi tiêu chính phủ và cường độ năng lượng (tiêu thụ năng lượng), các kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng việc mở rộng chi tiêu chính phủ Trung Quốc kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cũng gây ra ảnh hưởng lớn đến tiêu thụ năng lượng Phân tích sâu hơn cho thấy rằng chi tiêu của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp nhiều hơn và lớn hơn đến tiêu thụ năng lượng trong thời kì cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu so với sau khi phục hồi kinh tế Phân tích cũng giải thích lý do tại sao đi xuống xu hướng cường độ năng lượng đã bị đảo ngược ở Trung Quốc kể từ năm 2002 Và sự thiếu đồng thuận rõ ràng trong mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng cũng có thể được một phần là do sự không đồng nhất trong chi tiêu chính phủ, vì các chính sách tài chính đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng cả tăng trưởng kinh tế và hiệu quả năng lượng Vì vậy, các phân tích cần thiết để xác minh các kết nối trên

Mielnik, O., & Goldemberg, J (2002) thảo luận về tác động của FDI lên cường độ năng lượng tại 20 quốc gia đang phát triển Họ nhận thấy rằng dòng vốn FDI chảy vào tăng, cường độ năng lượng giảm, vì các chính phủ có thể cung cấp hỗ trợ tài chính và khuyến khích việc cấp giấy phép công nghệ năng lượng bền vững và dịch vụ Đây là một điều tốt cho các nước nhập khẩu ròng năng lượng, FDI góp phần làm suy yếu nhu cầu năng lượng trong nước

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 đã phân tích cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, phát triển tài chính, chi tiêu chính phủ và các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế, phát triển tài chính, chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng

Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng dữ liệu ở các vùng, quốc gia, các quốc gia khác nhau, khoảng thời gian khác nhau, phương pháp kinh tế lượng và đại diện

Trang 40

khác nhau, để kiểm tra mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng, tăng trưởng kinh tế và và tiêu thụ năng lượng, chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng chẳng hạn như là một mô hình tuyến tính động, mô hình phối trễ tự hồi quy,

và phân tích nhân quả Granger, mô hình vector hiệu chỉnh sai số, mô hình GMM, v.v.và đạt được các kết quả nghiên cứu khác nhau

Các nghiên cứu trước đây đã có đóng góp lớn về mặt lý thuyết, đồng thời thông qua đó, giúp nhận dạng những điểm cần tiếp tục tập trung nghiên cứu Từ đó, định vị những khoảng trống cần nghiên cứu, góp phần khẳng định tính cấp thiết của

đề tài

Ngày đăng: 30/12/2020, 19:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm