BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM NGUYỄN THỊ MAI TRÚC TRUYỀN DẪN TỪ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐẾN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM NGUYỄN THỊ MAI TRÚC
TRUYỀN DẪN TỪ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐẾN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
NGUYỄN THỊ MAI TRÚC
TRUYỀN DẪN TỪ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐẾN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Thân Thị Thu Thủy
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Thị Mai Trúc, là học viên cao học chuyên ngành Tài chính Ngân hàng, khóa 23, trường Đại học Kinh tế TPHCM Tôi xin cam đoan luận văn Truyền dẫn từ chính sách lãi suất của Ngân hàng nhà nước đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là bài nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Thân Thị Thu Thủy Các
số liệu trong luận văn sử dụng trung thực, được lấy từ nhiều tài liệu tham khảo và ghi chú chi tiết về nguồn lấy thông tin Luận văn không sao chép từ các công trình nghiên cứu khoa học nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Mai Trúc
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN DẪN TỪ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐẾN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
Giới thiệu chương 2 5
2.1 Lãi suất huy động và lãi suất cho vay 5
2.1.1 Khái niệm lãi suất 5
2.1.2 Các loại lãi suất 7
2.1.3 Lãi suất huy động 9
2.1.4 Lãi suất cho vay 10
2.2 Chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương 12
2.3 Truyền dẫn từ chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại ngân hàng thương mại 12
2.3.1 Khái niệm truyền dẫn lãi suất 12
2.3.2 Truyền dẫn từ chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay 13
2.3.3 Các yếu tố tác động đến sự truyền dẫn lãi suất 13
Trang 52.4 Các nghiên cứu trước về truyền dẫn từ chính sách lãi suất của ngân hàng trung
ương đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại ngân hàng thương mại 16
2.4.1 Nghiên cứu của Hannan và Berger (1991) và Neumark và Sharpe (1992) 16
2.4.2 Nghiên cứu của Scholnick (1996) 16
2.4.3 Nghiên cứu của Bondt (2002) 17
2.4.4 Nghiên cứu của Beng Soon Chong, Ming-Hua Liu, Keshab Shrestha (2005) 17 2.4.5 Nghiên cứu của Ming-Hua Liu, Dimitri Margaritis, Alireza Tourani-Rad (2007) 18
2.4.6 Nghiên cứu của Jamilov và cộng sự (2014) 19
2.4.7 Nghiên cứu của Đinh Thị Thu Hồng và Phan Đình Mạnh (2013) 19
2.4.1.8 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Hữu Tuấn (2014) 20
2.5 Đóng góp mới của đề tài 22
Kết luận chương 2 23
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG SỰ TRUYỀN DẪN TỪ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐẾN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 24
Giới thiệu chương 3 24
3.1 Giới thiệu về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 24
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 24
3.1.2 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu 25
3.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 26
3.2 Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 28
3.3 Thực trạng lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 32
3.3.1 Thực trạng lãi suất huy động 32
3.3.2 Thực trạng lãi suất cho vay 34
3.4 Truyền dẫn từ chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 36
3.4.1 Truyền dẫn từ lãi suất tái cấp vốn đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay 36
Trang 63.4.2 Truyền dẫn từ lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay39
Kết luận chương 3 41
CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
Giới thiệu chương 4 42
4.1 Mô hình tự hồi quy phân phối trễ ARDL 42
4.2 Phương pháp nghiên cứu 43
4.3 Thu thập và xử lý dữ liệu 46
4.4 Thống kê mô tả dữ liệu 47
4.5 Kiểm định mô hình tự hồi quy phân phối trễ ARDL 49
4.5.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu qua phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị 49
4.5.2 Kiểm định đồng liên kết 51
4.5.3 Kiểm định chẩn đoán và kiểm định phần dư 51
4.5.4 Chọn độ trễ tối ưu cho các biến trong mô hình 53
4.6 Kết quả nghiên cứu 54
4.6.1 Truyền dẫn từ lãi suất tái cấp vốn đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam 54
4.6.2 Truyền dẫn từ lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam 55
4.6.3 Sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất 57
4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu thực trạng truyền dẫn từ chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam 58
Kết luận chương 4 61
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP VỀ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 62
Giới thiệu chương 5 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Chính sách điều hành lãi suất của Ngân hàng nhà nước 63
5.3 Giải pháp về điều hành lãi suất của Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 64
Trang 75.3.1 Luôn theo dõi và dự báo các động thái về chính sách lãi suất của NHNN 64
5.3.2 Tính toán chính xác độ trễ của sự điều chỉnh lãi suất điều hành của NHNN 64
5.3.3 Tận dụng được kênh huy động từ việc tái chiết khấu các giấy tờ có giá 64
5.3.4 Đa dạng cơ cấu nguồn vốn huy động ngắn hạn 65
5.3.5 Xây dựng chính sách lãi suất cho vay trung dài hạn hợp lý và linh hoạt 65
5.3.6 Mở rộng khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế 65
5.4 Giải pháp hỗ trợ 66
5.4.1 Giải pháp từ Ngân hàng Nhà nước 66
5.4.2 Giải pháp từ Chính Phủ 67
5.5 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 68
Kết luận chương 5 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐ12M Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng
HĐ18M Lãi suất huy động kỳ hạn 18 tháng
HĐ1M Lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng
HĐ24M Lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng
HĐ6M Lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam ARDL Auto Regressive distributed lag, mô hình tự hồi quy phân phối trễ CSTT Chính sách tiền tệ
CVNH Cho vay ngắn hạn
CVTDH Cho vay trung dài hạn
ECM Error-Correction model, mô hình hiệu chỉnh sai số
LSCB Lãi suất cơ bản
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTƯ Ngân hàng trung ương
TCK Lãi suất tái chiết khấu
TCV Lãi suất tái cấp vốn
TTTC Thị trường tài chính
TTCK Thị trường chứng khoán
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước đây 21
Bảng 3.1: Kết quả huy động vốn tại Agribank giai đoạn 2008-2015 26
Bảng 3.2: Kết quả hoạt động tín dụng tại Agribank giai đoạn 2008-2015 27
Bảng 3.3: Kết quả hoạt động dịch vụ tại Agribank giai đoạn 2008-2015 27
Bảng 3.4: Lợi nhuận sau thuế tại Agribank giai đoạn 2008-2015 28
Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Agribank giai đoạn 2008-2015 47
Bảng 4.2: Kết quả thống kê mô tả lãi suất tái cấp vốn , lãi suất tái chiết khấu của NHNN Việt Nam giai đoạn 2008-2015 47
Bảng 4.3: Ma trận tương quan giữa lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu với lãi suất huy động, lãi suất cho vay tại Agribank giai đoạn 2008-2015 48
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi gốc lãi suất huy động, lãi suất cho vay bằng phương pháp ADF 50
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi sai phân lãi suất huy động, lãi suất cho vay bằng phương pháp ADF 50
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định đường bao 51
Bảng 4.7: Kiểm định chẩn đoán và kiểm định phần dư 52
Bảng 4.8: Kiểm định độ trễ tối ưu 53
Bảng 4.9: Kết quả truyền dẫn lãi suất trong dài hạn từ lãi suất tái cấp vốn đến lãi suất huy động, lãi suất cho vay tại Agribank giai đoạn 2008- 2015 54
Bảng 4.10: Kết quả truyền dẫn trong ngắn hạn từ lãi suất tái cấp vốn đến lãi suất huy động, lãi suất cho vay tại Agribank giai đoạn 2008-2015 55
Bảng 4.11: Kết quả truyền dẫn trong dài hạn từ lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất huy động, lãi suất cho vay tại Agribank giai đoạn 2008-2015 55
Bảng 4.12: Kết quả truyền dẫn trong ngắn hạn từ lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất huy động, lãi suất cho vay tại Agribank giai đoạn 2008-2015 56
Bảng 4.13: Kiểm định sự bất cân xứng trong truyền dẫn 57
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Biểu đồ 3.1: Biến động lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu của ngân hàng nhà nước Việt Nam giai đoạn 2008-2015 29 Biểu đồ 3.2: Diễn biến lãi suất huy động tại Agribank trong mối tương quan với lãi suất cơ bản giai đoạn 2008-2015 32 Biểu đồ 3.3: Diễn biến lãi suất cho vay tại Agribank trong mối tương quan với lãi suất cơ bản giai đoạn 2008-2015 34 Biểu đồ 3.4: Mối tương quan giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất huy động tại Agribank giai đoạn 2008-2015 37 Biểu đồ 3.5: Mối tương quan giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay tại Agribank giai đoạn 2008-2015 38 Biểu đồ 3.6: Mối tương quan giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất huy động tại Agribank giai đoạn 2008-2015 39 Biểu đồ 3.7: Mối tương quan giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cho vay tại Agribank giai đoạn 2008-2015 40
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
là yếu tố phát tín hiệu định hướng thị trường Lãi suất là một chỉ báo kinh tế quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách cũng như cộng đồng cá nhân, doanh nghiệp quan tâm đến diễn biến nền kinh tế và thị trường tiền tệ Hiện nay tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ nói chung tuy nhiên vấn đề truyền dẫn từ lãi suất của NHNN sang lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại một ngân hàng cụ thể thì có ít nghiên cứu Dựa trên bài nghiên cứu của nhóm 3 tác giả Ming Hua Liu, Dimitri Margaritis và Alireza Tourani Rad (2005) về tính minh bạch của CSTT và mức độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách sang lãi suất bán lẻ tại Newzeland giai đoạn 1994-2004 khi Newzeland thực hiện chế độ lạm phát mục tiêu OCR, bài nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn từ chính sách lãi suất đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về cơ chế truyền dẫn qua kênh lãi suất tại Việt Nam- một nền kinh tế đang phát triển nói chung và tại một
Trang 12ngân hàng có vốn chủ sở hữu nhà nước nói riêng- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
Đề tài xem xét sự truyền dẫn từ chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, cụ thể xem xét mức độ truyền dẫn lãi suất trong dài hạn và trong ngắn hạn, xem xét tốc độ điều chỉnh về mức cân bằng dài hạn của lãi suất, xem xét
có hay không sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất từ đó gợi ý một số chính sách Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cần thay đổi để linh hoạt hơn với chính sách của Ngân hàng nhà nước nhằm tăng mức độ và tốc độ truyền dẫn
+ Xem xét có hay không sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
+ Góp ý một số giải pháp về điều hành lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài hướng đến trả lời các câu hỏi sau:
(1) Mức độ truyền dẫn từ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam như thế nào?
Trang 13(2) Tốc độ điều chỉnh của lãi suất huy động và lãi suất cho vay trong mối tương quan với lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu khi ở trên mức cân bằng và dưới mức cân bằng có giống nhau không tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam?
(3) Có hay không sự bất cân xứng trong truyền dẫn từ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam?
(4) Điều hành lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cần phải như thế nào để tăng mức độ truyền dẫn từ chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay?
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sự truyền dẫn từ chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn
Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2008 đến tháng 12/2015
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Dữ liệu nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sử dụng lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gồm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu Lãi suất cơ bản không được sử dụng vì mục đích của lãi suất cơ bản là cơ sở để Ngân hàng Nhà nước định hướng chính sách tiền tệ, vì vậy thường được công bố ở mức thấp và chỉ điều chỉnh tăng, giảm với biên độ nhỏ nhằm ổn định lãi suất thị trường và kiểm soát lạm phát Đồng thời, lãi suất cơ bản không được chia thành các mức lãi suất khác nhau để áp dụng cho các thời hạn khác nhau, hình thức vay khác nhau nên lãi suất cơ bản không mang tính thị trường
+ Lãi suất huy động các kỳ hạn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam gồm lãi suất huy động 1 tháng ( 1M), 6 tháng (6M), 12 tháng (12M),
18 tháng (18M), 24 tháng (24M)
Trang 14+ Lãi suất cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam gồm lãi suất cho vay ngắn hạn, lãi suất cho vay trung dài hạn
- Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu gồm phân tích định tính và định lượng
+ Trong phân tích định tính, sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp, so sánh, phân tích để nghiên cứu lãi suất huy động, lãi suất cho vay, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu và sự truyền dẫn lãi suất
+ Trong phân tích định lượng, sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL để nghiên cứu truyền dẫn từ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn
1.6 Kết cấu luận văn
Luận văn được kết cấu thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về truyền dẫn từ chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại ngân hàng thương mại
Chương 3: Thực trạng sự truyền dẫn từ chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và giải pháp về điều hành lãi suất tại Ngân hàng nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN DẪN TỪ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐẾN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Giới thiệu chương 2
Để làm cơ sở cho việc chọn lọc, xây dựng mô hình nghiên cứu sẽ được nêu ở chương 4 thì ở chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về lãi suất, cơ chế điều hành chính sách lãi suất của NHTƯ, các nhân tố tác động đến việc truyền dẫn lãi suất nhằm làm tiền đề để nghiên cứu thực nghiệm cơ chế truyền dẫn từ chính sách lãi suất của NHNN đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay Đồng thời lược khảo một
số nghiên cứu trước về truyền dẫn lãi suất để làm bằng chứng cụ thể cho bài nghiên cứu
2.1 Lãi suất huy động và lãi suất cho vay
2.1.1 Khái niệm lãi suất
Theo Karl Marx: “Lãi suất là một phần của giá trị thặng dư mà nhà tư bản sản xuất phải trả cho nhà tư bản tiền tệ vì việc đã sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định.”
Theo Keynes:” Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho sở thích chi tiêu tư bản” Sự phân tích bản chất lãi suất trên cho thấy nếu lãi suất thấp thì tổng số nhu cầu về tiền mặt của dân cư vượt quá số cung tiền và nếu lãi suất cao thì sẽ có một lượng tiền mặt dư khi đó không ai muốn giữ tiền
Theo các nhà kinh tế học về lượng cầu tài sản: “Lãi suất là cơ sở để xác định chi phí
cơ hội của việc nắm giữ tiền”
Theo Ngân hàng thế giới: “Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của tiền lãi so với tiền vốn.” Theo các nhà kinh tế học hiện đại: “Lãi suất là giá cả cho vay, là chi phí về việc sử dụng vốn và những dịch vụ tài chính khác.”
Xét ở góc độ lãi suất là chi phí vốn: Nếu doanh nghiệp là người đi vay (cầu vốn) thì chi phí sử dụng vốn chính là lãi suất Chi phí sử dụng vốn là giá phải trả cho việc huy động và sử dụng vốn, bao gồm chi phí phải trả cho việc sử dụng nợ vay và
Trang 16nguồn vốn chủ sở hữu Đối với nhà tài trợ (cung vốn) thì chi phí sử dụng vốn là tỷ suất sinh lợi cần thiết mà các nhà đầu tư trên thị trường yêu cầu khi đầu tư vào các chứng khoán của công ty Đối với nhà quản lý doanh nghiệp thì chi phí sử dụng vốn
là tỷ suất sinh lợi tối thiểu mà doanh nghiệp sẽ đòi hỏi khi thực hiện một dự án đầu
tư mới
Xét ở góc độ lãi suất là công cụ của chính sách tiền tệ: Lãi suất là một trong những công cụ gián tiếp để điều hành CSTT NHTƯ thông qua công cụ này để điều khiển mức cung tiền cho nền kinh tế, nhằm đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền Lãi suất là công cụ linh hoạt, được cân nhắc để sử dụng nhiều nhất Mặc dù mỗi công cụ có những đặc tính, khả năng tác động đến thị trường theo những cách khác nhau, với mức độ cũng không giống nhau, song cho dù công cụ nào thì tín hiệu cuối cùng của nó sau khi phát ra cũng dẫn đến sự thay đổi về giá dù
đó là việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay mua hoặc bán tín phiếu bắt buộc…Có thể nói, trong các loại lãi suất thì lãi suất thị trường liên ngân hàng phát ra tín hiệu phù hợp nhất vì lãi suất này không chỉ chịu sự chi phối của cung cầu vốn mà còn chịu ảnh hưởng của lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu của NHTƯ Lãi suất thị trường liên ngân hàng đặc biệt phát huy tác dụng trong điều kiện khó khăn về thanh khoản của các NHTM John Taylor- nhà kinh tế Mỹ nổi tiếng đã đưa ra cách tính lãi suất danh nghĩa phù hợp trong mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát, được gọi là quy tắc Taylor Quy tắc này sẽ giúp cho NHTƯ xác định được tỷ lệ lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được hai mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn Để áp dụng quy tắc Taylor, NHTƯ phải xác định một mức lãi suất thực ngắn hạn dựa trên ba yếu tố: lạm phát thực so với lạm phát mục tiêu, chênh lệch giữa sản lượng thực so với sản lượng tiềm năng, mức lãi suất ngắn hạn tại đó nền kinh tế đạt mức toàn dụng Quy tắc Taylor khuyến nghị một mức lãi suất tương đối cao (CSTT thắt chặt) để giảm áp lực lạm phát khi lạm phát cao hơn lạm phát mục tiêu và ngược lại Quy định tỷ lệ a lớn hơn 0, quy tắc Taylor nói rằng lạm phát tăng 1% đòi hỏi NHTƯ tăng lãi suất danh nghĩa lên hơn 1% ( cụ thế bằng 1+aπ), điều này hàm ý rằng khi lạm phát cao
Trang 17thì lãi suất thực phải tăng cao hơn lạm phát để làm giảm bớt tình trạng nền kinh tế đang tăng trưởng nóng
Như vậy, khi sử dụng bất kỳ khoản tín dụng nào, người vay cũng phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu Tỷ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay
có được đối với việc trì hoãn chi tiêu
2.1.2 Các loại lãi suất
Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại lãi suất khác nhau tùy theo mục đích, tiêu chí phân loại Trong phạm vi của bài nghiên cứu thì lãi suất được phân loại theo 2 cách
là theo giá trị thực của tiền lãi thu được và theo tính chất khoản vay
Căn cứ vào giá trị thực của tiền lãi thu được:
- Lãi suất danh nghĩa là lãi suất được sử dụng trong quan hệ vay mượn, là lãi suất đã bao gồm cả những tổn thất do lạm phát gây ra do sự gia tăng của mức giá chung Vì vậy, lãi suất danh nghĩa= lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
- Lãi suất thực tế là chi phí thực tế mà người đi vay phải bỏ ra để có được vốn vay, được dùng cho các nhà đầu tư tính toán lượng thu nhập hoặc các lợi ích thực tế của một quyết định kinh tế
Căn cứ vào tính chất khoản vay:
- Lãi suất huy động là lãi suất ngân hàng phải trả cho các khoản tiền gửi của khách hàng vào ngân hàng Lãi suất huy động có nhiều mức khác nhau phụ thuộc vào loại tiền gửi và thời gian gửi
- Lãi suất cho vay là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng Lãi suất cho vay cũng tùy thuộc vào loại hình vay, mức độ tín nhiệm giữa khách hàng với ngân hàng, quy mô vay và thỏa thuận giữa hai bên
- Lãi suất chiết khấu là lãi suất áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá cùa tờ thương phiếu, và được khấu trừ ngay khi ngân hàng đưa tiền vay cho khách hàng Như vậy, lãi suất
Trang 18chiết khấu được trả trước cho ngân hàng chứ không phải trả sau như lãi suất tín dụng thông thường
- Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng cho vay lẫn nhau trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Lãi suất này luôn biến động lên xuống tùy thuộc vào từng thời điểm trong ngày và khả năng của mỗi ngân hàng NHTƯ sẽ tập hợp số liệu của các ngân hàng, tính toán và đưa ra một con số bình quân vào buổi sáng
- Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất mà NHTƯ cho các tổ chức tín dụng vay tiền thông qua việc tái cấp vốn các hợp đồng tín dụng đã ký kết Khi tái cấp vốn cho NHTM, NHTƯ đã tăng lượng tiền cung ứng, đồng thời tạo cơ sở cho NHTM tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ NHTƯ điều chỉnh tăng hay giảm lãi suất tái cấp vốn phù hợp với mục tiêu thắt chặt hay mở rộng tiền tệ, từ đó làm giảm hay tăng lượng tiền trong lưu thông NHTƯ cũng sử dụng hạn mức tái cấp vốn để tác động trực tiếp về mặt lượng đối với dự trữ của hệ thống NHTM
- Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà NHTƯ áp dụng cho các NHTM khi họ vay từ chiết khấu các giấy tờ có giá chưa đến hạn Hoạt động tái chiết khấu cung ứng nguồn vốn cho các NHTM nên lãi suất tái chiết khấu thường thấp hơn lãi suất chiết khấu Tuy nhiên trong trường hợp NHTƯ muốn hạn chế khả năng mở rộng tín dụng
để đối phó với lạm phát thì lãi suất tái chiết khấu có thể lớn hơn lãi suất chiết khấu của các NHTM
- Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất khác hình thành trong nền kinh tế thị trường Đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng trong
cơ chế thị trường LSCB do NHTƯ xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực tế của thị trường và mục tiêu của CSTT quốc gia LSCB là công cụ để điều hành CSTT quốc gia Qua LSCB, NHTƯ tác động vào thị trường tiền tệ, thúc đẩy, mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mức tương quan cần thiết giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ Mặt khác, LSCB là giá cả sử dụng vốn trong hoạt động tín dụng, là cơ sở hình thành lãi suất thị trường, tức là lãi suất kinh doanh tiền tệ Nó là điểm dung hoà một cách tự nhiên lợi ích của người gửi tiền, của người vay tiền và của các NHTM LSCB được xác định một cách trực tiếp dưới nhiều góc độ Nếu đứng trên giác độ
Trang 19bảo vệ lợi ích của khách hàng ( người gửi tiền và người vay vốn) người ta quy định lãi suất huy động tối thiểu và lãi suất cho vay tối đa Điều này có nghĩa là, vì lợi ích của người gửi tiền, các NHTM không được hạ lãi suất một cách tuỳ tiện và vì yêu cầu phát triển sản xuất, các NHTM không được tăng lãi suất cho vay quá mức Nếu đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của các NHTM, tạo khuôn khổ cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn hệ thống các NHTM, người ta quy định LSCB theo chiều hướng ngược lại đó là quy định lãi suất huy động tối đa và lãi suất cho vay tối thiểu Điều này làm cho các NHTM không vì muốn tạo lợi thế trong cạnh tranh mà nâng lãi suất huy động quá cao hoặc lãi suất cho vay quá thấp, gây thiệt hại chung cho toàn hệ thống Khi xác định LSCB phải tính đến tổng thể quan hệ cung cầu vốn thông qua một loạt các yếu tố trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thông thường Đó
là tỷ suất lợi nhuận bình quân, mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số lạm phát dự báo hàng quý, hàng năm, lãi suất thực dương cho người gửi tiền, bù đắp chi phí và có lãi cho các NHTM, yêu cầu điều hành CSTT từng thời kỳ, rủi ro trong hoạt động tín dụng, mức độ dự trữ bắt buộc, lãi suất hình thành trên thị trường tiền tệ nói chung, mối tương quan giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ, mối tương quan giữa lãi suất và
tỷ giá hối đoái
2.1.3 Lãi suất huy động
2.1.3.1 Khái niệm
Lãi suất huy động là lãi suất đầu vào, áp dụng đối với tiền lãi mà định chế tài chính phải trả cho các khoản tiền gửi của khách hàng
2.1.3.2 Cơ cấu hình thành lãi suất huy động
Ngoài các yếu tố hình thành lãi suất huy động như cung cầu vốn, việc đưa ra chính sách lãi suất huy động của mỗi ngân hàng còn phụ thuộc vào tầm vi mô của ngân hàng Lãi suất huy động phụ thuộc vào các yếu tố như là tính chất của các nguồn tiền huy động bao gồm sự khác nhau về thời gian, quy mô, đối tượng gửi và mục đích gửi Khách hàng thường dựa trên uy tín của ngân hàng để lựa chọn việc gửi tiền Vì vậy những ngân hàng lớn có độ tín nhiệm cao sẽ thường huy động được nguồn vốn lớn với chi phí thấp hơn so với những ngân hàng nhỏ Bên cạnh đó, căn
Trang 20cứ vào tình hình hoạt động kinh doanh thì ngân hàng phải tự cân đối giữa chi phí huy động vốn với doanh thu đạt được khi dùng nguồn huy động đó để đầu tư sao cho đem lại lợi nhuận tối đa cho ngân hàng
Vậy cơ cấu hình thành lãi suất huy động:
- Theo nguyên lý chung, các ngân hàng huy động với lãi suất thị trường, phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ Lãi suất huy động = tỷ lệ lạm phát bình quân + tỷ lệ thu nhập kỳ vọng của người gửi tiền Tỷ lệ thu nhập người gửi tiền phụ thuộc vào rủi ro của mỗi ngân hàng, tỷ lệ sinh lời của hoạt động đầu tư khác và những tiện ích mà người gửi tiền hy vọng nhận được từ ngân hàng
- Trong quá trình phát triển của thị trường tài chính, nguồn cung ứng tiền từ NHTƯ,
từ các tổ chức tài chính khác ngày càng có ý nghĩa hơn đối với NHTM Vì vậy, lãi suất huy động = lãi suất gốc ( lãi suất tái chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất trái phiếu chính phủ ) + tỷ lệ thu nhập kỳ vọng của người gửi tiền
- Trong điều kiện cạnh tranh để tìm kiếm nguồn vốn, nhiều ngân hàng nỗ lực tiết kiệm chi phí khác (như chi phí quản lý) và chấp nhận tỷ lệ thu nhập ròng thấp để gia tăng lãi suất huy động Vậy, lãi suất huy động = tỷ lệ sinh lời dự tính từ tài sản được tài trợ bằng nguồn vốn– tỷ lệ chi phí khác ròng phân bổ cho nguồn vốn – tỷ lệ thuế thu nhập và thu nhập ròng tính trên nguồn vốn
- Một số ngân hàng nhỏ dựa trên cơ sở lãi suất của ngân hàng lớn Tùy trường hợp
cụ thể mà lãi suất này có thể cộng thêm phần bù rủi ro của ngân hàng nhỏ Trong điều kiện người gửi khó tiếp cận với ngân hàng lớn, ngân hàng nhỏ đặt lãi suất huy động tương quan với lãi suất sinh lời
2.1.4 Lãi suất cho vay
2.1.4.1 Khái niệm
Lãi suất cho vay là lãi suất mà khách hàng phải trả khi vay tiền của định chế tài chính nhận gửi
2.1.4.2 Cơ cấu hình thành lãi suất cho vay
Mặc dù chịu tác động của nhiều yếu tố nhưng khi xác định lãi suất cho vay phải dựa vào việc chi trả được chi phí huy động vốn, bù đắp các chi phí quản lý và thực hiện
Trang 21khoản vay, trang trải được các rủi ro trong hoạt động cho vay, mang lại phần lợi nhuận hợp lý cho NHTM Bên cạnh đó lãi suất cho vay còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như sự cạnh tranh của các ngân hàng khác, mối quan hệ, uy tín giữa ngân hàng và người đi vay, mục đích sử dụng tiền vay, kỳ hạn cho vay, tình hình diển biến của nền kinh tế Thực tế ở các nước cho thấy lãi suất cho vay thường chịu
sự chi phối của thị trường tài chính ngắn hạn và các NHTM lớn, sự can thiệp của NHTƯ, CSTT là thắt chặt hay mở rộng Khi thực hiện CSTT thắt chặt, NHTƯ sẽ có biện pháp điều tiết để gián tiếp tăng lãi suất thị trường nhằm hạn chế tín dụng, tăng lượng tiền gửi tiết kiệm; và ngược lại khi muốn mở rộng tiền tệ, NHTƯ sẽ điều tiết
để gián tiếp giảm lãi suất thị trường nhằm thu hút người vay, giảm lượng tiền gửi tiết kiệm
Các NHTM khi cho vay luôn muốn nhận được lãi suất cao để bù đắp hoàn toàn rủi
ro liên quan đến khoản vay và đảm bảo mức lợi nhuận mong muốn Tuy nhiên lãi suất cần phải ở mức hợp lý để tạo điều kiện bên vay có thể thanh toán nợ gốc, lãi vay mà không phải tìm đến nguồn vốn khác trên thị trường Khi cạnh tranh trên thị trường tín dụng ngày càng cao, NHTM cần phải duy trì lãi vay phù hợp với mặt bằng chung và NHTM chỉ có thể đóng vai trò là người chấp nhận giá mà không thể
là người đặt giá Như vậy, việc đưa ra một mức lãi suất cho vay hợp lý đảm bảo cạnh tranh được, bù đắp được rủi ro và có lợi nhuận là cần thiết và quan trọng Vậy,
cơ cấu hình thành lãi suất cho vay :
- Dựa trên tổng hợp chi phí: Lãi suất cho vay = chi phí huy động vốn + chi phí hoạt động + phần bù rủi ro tín dụng + mức lợi nhuận mục tiêu
- Dựa trên lãi suất cơ sở: Lãi suất cơ sở được xem là lãi suất thấp nhất mà ngân hàng áp dụng trên các khoản cho vay ngắn hạn đối với các khách hàng có chất lượng tín dụng cao nhất
Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ sở ( chi phí huy động, chi phí hoạt động và lợi nhuận mong đợi) + chi phí cộng thêm ( phần bù rủi ro tín dụng + phần bù rủi ro kỳ hạn)
- Dựa theo chi phí – lợi ích: cách này phân tích khả năng sinh lời mà khách hàng mang lại cho ngân hàng
Trang 22Tỷ lệ thu nhập (trước thuế) = ( Thu từ khách hàng – chi phí phục vụ khách hàng ) / giá trị cho vay ròng
Nếu tỷ lệ thu nhập >0: chấp nhận cho vay vì ngân hàng có lãi
Nếu tỷ lệ thu nhập <=0: yêu cầu vay bị từ chối hoặc ngân hàng sẽ đề nghị một mức lãi suất cho vay cao hơn
2.2 Chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương
Chính sách lãi suất là một bộ phận của CSTT, là cách thức quản lý và điều tiết lãi suất thị trường của NHTƯ nhằm kiểm soát lượng tiền cung ứng, kiểm soát lạm phát
để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, tạo việc làm và ổn định tỷ giá Căn cứ vào trình độ phát triển và cơ chế quản lý của nền kinh tế, NHTƯ
sẽ xây dựng và ban hành chính sách lãi suất thích hợp theo hai hướng là chính sách can thiệp trực tiếp và chính sách tự do hóa lãi suất Chính sách can thiệp trực tiếp là việc NHTƯ quy định lãi suất trần, lãi suất sàn, LSCB, lãi suất tái chiết khấu để áp dụng cho các hoạt động trên thị trường tiền tệ Chính sách tự do hóa lãi suất là chính sách mà lãi suất hình thành trên cơ sở cung cầu vốn trên thị trường nhưng NHTƯ vẫn điều tiết gián tiếp thông qua sử dụng công cụ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở Khi các nước đã theo đuổi chính sách tự do hóa hoàn toàn thì NHTƯ vẫn tìm cách can thiệp nhưng sự can thiệp mang tính thị trường nhằm quản lý nền kinh tế theo mục tiêu của CSTT
2.3 Truyền dẫn từ chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại ngân hàng thương mại
2.3.1 Khái niệm truyền dẫn lãi suất
Sự truyền dẫn của lãi suất được định nghĩa là mức độ và tốc độ thay đổi của lãi suất chính sách chuyển vào lãi suất bán lẻ của ngân hàng (Rehman 2009) Sự truyền dẫn của lãi suất sẽ xác định mức độ cạnh tranh của thị trường và sự phản hồi của hệ thống tài chính (Aydin, 2007; Hofmann, 2002) Một sự truyền dẫn nhanh hơn, cân xứng và hoàn chỉnh sẽ dẫn đến một hệ thống tài chính cạnh tranh, hiệu quả và hoàn chỉnh
Truyền dẫn lãi suất có thể tách biệt thành hai giai đoạn (Rehman, 2009) Giai đoạn
Trang 23một đo lường sự thay đổi của lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường tiền tệ trong ngắn hạn và dài hạn, trong khi giai đoạn hai cho thấy lãi suất thị trường tiền tệ tác động đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các ngân hàng
Theo Wang và Lee (2009), truyền dẫn lãi suất là khi NHTƯ điều chỉnh chính sách tiền tệ khi đó lãi suất thị trường sẽ bị ảnh hưởng Theo đó, NHTM sẽ chuyển chi phí gia tăng do thay đổi lãi suất thị trường sang lãi suất bán lẻ
Như vậy, truyền dẫn lãi suất là quá trình mà sự điều chỉnh của lãi suất chính sách ảnh hưởng vào lãi suất thị trường hay lãi suất bán lẻ
2.3.2 Truyền dẫn từ chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay
Truyền dẫn từ chính sách lãi suất đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay là quá trình mà sự điều chỉnh của lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu ảnh hưởng đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay của NHTM Có hai mức độ trong truyền dẫn lãi suất bao gồm truyền dẫn hoàn toàn và truyền dẫn không hoàn toàn
- Truyền dẫn hoàn toàn hàm ý rằng khi lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu tăng lên (hoặc giảm đi) bao nhiêu phần trăm thì lãi suất huy động và lãi suất cho vay cũng tăng lên (hoặc giảm đi) bấy nhiêu phần trăm
- Truyền dẫn không hoàn toàn hàm ý rằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay điều chỉnh một lượng ít hơn so với sự điều chỉnh của lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu Tuy nhiên vẫn có khả năng xảy ra trường hợp đặc biệt là lãi suất huy động và lãi suất cho vay thay đổi một lượng lớn hơn so với thay đổi của lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu
2.3.3 Các yếu tố tác động đến sự truyền dẫn lãi suất
Không phải tất cả các nền kinh tế đều phản ứng giống nhau với những thay đổi trong chính sách lãi suất Nhà điều hành sẽ lựa chọn cơ chế truyền dẫn phù hợp với đặc điểm nền kinh tế để điều hành chính sách lãi suất có hiệu quả Cơ chế truyền dẫn lãi suất sẽ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau như:
- Quy mô và độ mở của nền kinh tế: Nếu hệ thống tài chính có đa dạng các định chế
tài chính cũng như các loại sản phẩm tài chính thì lãi suất thị trường và giá cả các
Trang 24sản phẩm tài chính sẽ phải tuân theo quy luật cung cầu và chịu kiểm soát bởi hoạt động của NHNN mà không có tình trạng độc quyền
-Sự phát triển của thị trường tài chính: Khi thị trường tài chính phát triển cao, lãi suất thị trường và giá cả được thị trường quyết định, vì vậy người tiêu dùng và doanh nghiệp đầu tư thoải mái lựa chọn bất kỳ hàng hóa và dịch vụ ở bất kỳ thời điểm nào.( Loayza & Hebbel, 2002)
- Đôla hóa: Khi đôla hóa cao, NHTƯ bị giới hạn khả năng kiểm soát lãi suất của
đồng nội tệ và ngoại tệ, vì vậy làm giảm mức độ truyền dẫn lãi suất từ NHTƯ đến các NHTM khi thực hiện các chính sách mục tiêu Nguyên nhân là do các chi phí liên quan đến đồng ngoại tệ mà NHTƯ không thể can thiệp và người dân có thể chuyển đổi từ đồng nội tệ sang ngoại tệ dễ dàng khi gặp bất lợi về lãi suất đồng nội
tệ tăng cao hoặc thấp
- Chất lượng khung pháp lý: Chất lượng khung pháp lý kém gây ra vấn đề thông tin
bất cân xứng và những ràng buộc về hợp đồng làm tăng chi phí của trung gian tài chính Điều này làm giảm nhu cầu với các khoản cho vay và làm lãi suất ít nhạy cảm hơn với sự thay đổi trong CSTT Một môi trường pháp lý ổn định giúp thị trường tài chính và thị trường vốn phát triển mạnh, mức độ truyền dẫn tiền tệ cũng tốt hơn
- Chất lượng tài sản của hệ thống tài chính: Những ngân hàng có tình hình tài chính
yếu kém sẽ phản ứng chậm chạp hơn trước những thay đổi như gia tăng thanh khoản hay hạ thấp lãi suất của NHTƯ bằng những hành động rủi ro hơn như tăng biên độ lãi suất, bổ sung thanh khoản
- Sự độc quyền của các ngân hàng: Sự độc quyền làm giảm khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng và làm xói mòn cơ chế truyền dẫn lãi suất Khi các ngân hàng
có quyền lực đáng kể, việc thay đổi trong chính sách lãi suất của NHTƯ sẽ tác động đến biên độ lợi nhuận của các ngân hàng độc quyền hơn là làm biến động lãi suất thị trường Để thu được lợi nhuận tối đa thì các ngân hàng độc quyền sẽ tăng biên
độ lãi suất cho vay, giảm biên độ lãi suất huy động
- Sự phát triển của hệ thống tài chính: Hệ thống tài chính phát triển làm gia tăng
Trang 25mức độ truyền dẫn tiền tệ vì nguồn vốn đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau, thị trường liên ngân hàng phát triển làm giảm xu hướng dùng tiền mặt quá nhiều của người dân giúp tăng cường tính truyền dẫn
- Sự linh hoạt của tỷ giá: NHTƯ điều hành lãi suất có hiệu quả khi những mục tiêu
của NHTƯ độc lập với sự biến động của tỷ giá Việc NHTƯ cho phép tỷ giá thả nổi
sẽ đưa lãi suất điều hành của NHNN thành công cụ CSTT chính, thể hiện sự độc lập của CSTT ( Cas et al, 2011 và Saborowski & Weber, 2013)
- Chi phí dịch vụ: Dutta et al, 1999 cho rằng các NHTM không muốn thay đổi lãi suất của họ nếu như những thay đổi trong lãi suất điều hành của NHTƯ là nhỏ hoặc tạm thời Nguyên nhân là do xuất hiện các chi phí điều chỉnh liên quan đến việc thay đổi lãi suất như chi phí quảng cáo, in ấn, thông báo Do đó ngân hàng sẽ phản ứng chậm chạp trước những thay đổi tạm thời trong CSTT và phản ứng nhanh trước những thay đổi lâu dài trong CSTT
- Chi phí chuyển đổi: Heffernan, 1997 cho rằng khách hàng không thích chuyển đổi
các sản phẩm tài chính vì họ mất nhiều thời gian, công sức và bất tiện cho việc tìm kiếm các sản phẩm tài chính khác tốt hơn Vì vậy các ngân hàng có thể điều chỉnh tăng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay chậm hơn dẫn đến sự bất cân xứng trong tốc độ truyền dẫn lãi suất
- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Hanna & Berger, 1991 cho rằng không có
sự thống nhất giữa các ngân hàng nên việc điều chỉnh lãi suất ở các thị trường không cạnh tranh có thể bất cân xứng
- Thông tin bất cân xứng: Stiglitz & Weis,1981 cho rằng các ngân hàng phải đối mặt với lựa chọn đối nghịch và vấn đề rủi ro đạo đức khi nâng lãi suất cho vay và
hạ lãi suất huy động chậm chạp để gia tăng lợi nhuận cho chính ngân hàng trong thời gian ngắn
Bondt [2002] cho rằng chính chi phí chuyển đổi và chi phí dịch vụ sẽ ảnh hưởng chính đến tốc độ điều chỉnh lãi suất trong ngắn hạn còn thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và thông tin bất cân xứng tác động trong dài hạn
Trang 262.4 Các nghiên cứu trước về truyền dẫn từ chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại ngân hàng thương mại 2.4.1 Nghiên cứu của Hannan và Berger (1991) và Neumark và Sharpe (1992)
Hannan và Berger, Neumark và Sharpe là những người đầu tiên nghiên cứu về tính cứng nhắc của lãi suất tiền gửi trong khi giả định sự dẫn truyền là hoàn toàn và lập tức cho lãi suất tiền vay Dữ liệu được lấy từ 398 ngân hàng ở Mỹ giai đoạn tháng 09/1983 đến tháng 12/1986 để kiểm tra hiệu ứng bất đối xứng do sự thay đổi trong lãi suất liên ngân hàng bằng phương pháp hợp lý cực đại (Maximum likelihood) Kết quả cho thấy là có sự điều chỉnh bất cân xứng trong lãi suất huy động, tức là các ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động chậm hơn so với điều chỉnh giảm và họ cho rằng là do sức mạnh thị trường của các ngân hàng lớn có thể chi phối được lãi suất
2.4.2 Nghiên cứu của Scholnick (1996)
Scholnick xem xét việc điều chỉnh đối xứng của lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay
để đáp ứng với những cú sốc từ lãi suất bán buôn, được giả định là ngoại sinh, tại Singapore và Malaysia bằng cách sử dụng mô hình ECM Phương trình động có điều chỉnh của mô hình là: ∆it= δ0 + δ1∆wt + δ2R+t-1 + δ3R-t-1 +ε trong đó i là lãi suất bán lẻ gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay, w là lãi suất bán buôn, δ là tốc độ điều chỉnh đối xứng của lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay, R là số dư của các vectơ điều chỉnh giữa lãi suất bán lẻ và lãi suất bán buôn Dữ liệu được lấy theo tháng và nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 01/1983 đến 11/1992 cho Malaysia
và 01/1983 đến 04/1994 cho Singapore Lãi suất tiền gửi và cho vay là lãi suất ngắn hạn, lãi suất bán buôn là lãi suất thị trường liên ngân hàng do IFS công bố Kết quả của ông là phù hợp với kết quả của Hannan và Berger (1991) và Neumark và Sharpe (1992) cho rằng các ngân hàng ở cả Singapore và Malaysia có xu hướng điều chỉnh lãi suất tiền gửi giảm nhanh hơn (khoảng 3-4 tháng) là điều chỉnh tăng lên (khoảng 7 tháng) Điều này cung cấp các bằng chứng chống lại giả thuyết rằng ngân hàng sẽ hành động là tăng lãi suất tiền gửi nhanh hơn nhằm thu hút người gửi tiền nhiều hơn Nghiên cứu còn chỉ ra việc các ngân hàng ở hai nước này điều chỉnh
Trang 27độ trễ trung bình là chậm hơn đáng kể khi lãi suất cho vay là trên mức trung bình so với khi lãi suất cho vay ở dưới mức trung bình Tức là khi có sự thay đổi lãi suất bán buôn thì lãi suất cho vay sẽ điều chỉnh tăng nhanh hơn là giảm xuống Những kết quả này gợi ý rằng độ cứng nhắc trong giá cả là kết quả của thị trường tập trung, chưa mở rộng tự do hóa tài chính
2.4.3 Nghiên cứu của Bondt (2002)
Bondt xem xét mối quan hệ giữa sự truyền dẫn từ lãi suất trái phiếu chính phủ đến lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay ở khu vực châu Âu bằng việc so sánh giữa 2 mô hình VAR và ECM Phương trình mô hình ECM có dạng là ∆brt= α1 + α2∆mrt –
β1(brt-1 – β2mrt-1)+ εt trong đó α2 chỉ tốc độ truyền dẫn trong ngắn hạn, β2 chỉ tốc độ truyền dẫn trong dài hạn, ( 1- α2)/ β1 chỉ độ trễ điều chỉnh trung bình của lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay để về vị trí cân bằng trong dài hạn, br là biến phụ thuộc gồm lãi suất huy động hoặc lãi suất cho vay, mr là biến độc lập gồm lãi suất trái phiếu chính phủ Mô hình xung VAR có dạng là Yt= c + ƩAiYt-1+ εt trong đó
Dữ liệu từ tháng 01/1996 đến tháng 01/2001 theo dữ liệu công bố hàng tháng của ECB Kết quả ở cả hai mô hình cho thấy cho thấy tỉ lệ truyền dẫn thông qua các thay đổi của lãi suất trái phiếu chính phủ đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay của ngân hàng trong vòng một tháng mức cao nhất là 50% Truyền dẫn lãi suất là hoàn toàn đối với lãi suất cho vay trong thời gian dài Đặc biệt ở mô hình VAR cho thấy mức độ truyền dẫn nhanh hơn kể từ khi ra đời của đồng Euro
2.4.4 Nghiên cứu của Beng Soon Chong, Ming-Hua Liu, Keshab Shrestha (2005)
Ba tác giả Beng Soon Chong, Ming-Hua Liu, Keshab Shrestha nghiên cứu tốc độ thay đổi lãi suất để đáp ứng với những thay đổi trong tỷ giá thị trường qua các tổ chức tài chính khác nhau (cụ thể, các ngân hàng thương mại và công ty tài chính) và trên các sản phẩm tài chính (cụ thể là tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn khác nhau, cho vay thuê mua, thế chấp và vay thương mại) Tác giả sử dụng mô hình
Trang 28ECM trong khoảng thời gian 01/1983-12/2002 tại Singapore Kết quả cho thấy, (i) tốc độ điều chỉnh khác nhau giữa các tổ chức tài chính Lãi suất huy động của các công ty tài chính ít cứng nhắc hơn so với các ngân hàng thương mại, nhưng lãi suất cho vay của họ cứng nhắc hơn (ii) Tốc độ điều chỉnh khác nhau giữa các sản phẩm tài chính Lãi suất cho vay có xu hướng điều chỉnh chậm hơn so với lãi suất tiền gửi (iii) Giá cả cho vay và tiền gửi cứng hơn khi ở dưới mức cân bằng hơn là khi ở trên mức cân bằng Do đó, có nghĩa là tốc độ truyền dẫn tiền tệ không đồng đều trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và CSTT thắt chặt mất một khoảng thời gian dài tác động đến nền kinh tế hơn là CSTT mở rộng (iv) Các tổ chức tài chính có sự lựa chọn ứng phó thông qua các kênh giá trị và kênh cho vay Trong thị trường cho vay, các tổ chức tài chính lớn hơn có nhiều khả năng đáp ứng với sự thay đổi trong CSTT thông qua các kênh giá trị, trong khi các tổ chức tài chính nhỏ hơn (công ty tài chính) đáp ứng thông qua kênh cho vay ngân hàng
2.4.5 Nghiên cứu của Ming-Hua Liu, Dimitri Margaritis, Alireza Tourani-Rad (2007)
Ba tác giả Ming-Hua Liu, Dimitri Margaritis, Alireza Tourani-Rad nghiên cứu mức
độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh của lãi suất NHTM từ những thay đổi của lãi suất cơ bản ở New Zealand trong suốt thời kỳ từ năm 1994-2004 thông qua mô hình OLS-VECM Đồng thời, bài viết cũng xem xét ảnh hưởng của tính minh bạch chính sách và cấu trúc tài chính trong cơ chế lan truyền New Zealand là quốc gia đầu tiên trong khối tổ chức OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu rõ ràng với những điều khoản có trách nhiệm pháp lý và tính minh bạch cao Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự truyền dẫn dài hạn hoàn toàn cho tất cả các loại lãi suất ngân hàng Mức lãi suất đáp ứng lạm phát mục tiêu-OCR đã làm gia tăng mức độ truyền dẫn lên lãi suất tiền gửi, lãi suất vay thế chấp
có điều chỉnh ngoại trừ lãi suất vay thế chấp cố định Do đó, tác động của CSTT có thể suy yếu đi trong một nền kinh tế mở nhỏ có lượng tiền đáng kể vay mượn từ nước ngoài Nghiên cứu khẳng định mức lãi suất theo CSTT qui định có ảnh hưởng
Trang 29nhiều hơn đối với lãi suất ngắn hạn và chính sự gia tăng tính minh bạch của CSTT
đã làm giảm sự biến động tài chính và tăng hiệu quả điều hành của chính sách
2.4.6 Nghiên cứu của Jamilov và cộng sự (2014)
Jamilov và cộng sự (2014) nghiên cứu truyền dẫn lãi suất cho năm nền kinh tế của
vùng Causasus gồm Armenia, Azerbaijan, Gruzia, Kazakhstan và Nga thông qua
mô hình ARDL: ir=α0 + Ʃp
j=1αjir t-j+Ʃq k=0βkip t-k+εt trong đó ir là lãi suất thị trường liên ngân hàng hay lãi suất bán lẻ( lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền vay), ip
t là lãi suất chính sách Sử dụng kiểm tra Quandt-Andrews để phát hiện phá vỡ cấu trúc lãi suất bằng F-test để xác định chính xác thời gian xảy ra sự phá vỡ Thực hiện kiểm định ADF để kiểm tra chuỗi dữ liệu gốc có dừng hay không trên ba bộ mẫu dữ liệu là trước phá vỡ, sau phá vỡ và toàn bộ mẫu Dữ liệu được sử dụng là lãi suất cấp quốc gia với chuỗi dữ liệu ở tần suất hàng tháng Quốc gia Armenia sử dụng dữ liệu từ tháng 01/2004 đến tháng 12/2011, Azerbaijan sử dụng dữ liệu từ tháng 01/2006 đến tháng 12/2010, Kazakhstan sử dụng dữ liệu từ tháng 01/2000 đến tháng 12/2011, Gruzia sử dụng dữ liệu từ tháng 09/2006 đến tháng 12/2011 và Nga sử dụng dữ liệu
từ tháng 01/2004 đến tháng 12/2011 Biến độc lập là lãi suất chính sách chính thức của các ngân hàng trung ương và biến phụ thuộc là lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay của các ngân hàng thương mại Kết quả là
sự truyền dẫn lãi suất không hoàn toàn được giải thích là do sự bất ổn kinh tế vĩ mô trong khu vực, lãi suất và lạm phát biến động, thiếu cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Thứ hai là tốc độ điều chỉnh lãi suất về vị trí cân bằng dài hạn rất chậm cho thấy chi phí chuyển đổi cao Thứ ba là việc không có sự truyền dẫn bất đối xứng ở Armenia, Azerbaijan và Nga Thứ tư là mức độ truyền dẫn khác nhau cho các loại lãi suất khác nhau, các quốc gia khác nhau và tốc độ điều chỉnh về mức cân bằng chậm chạp Thứ năm là khủng hoảng tài chính năm 2008 là nguyên nhân gây ra phá
vỡ cấu trúc lãi suất ở hầu hết các nước chứ không riêng gì khu vực vùng Caucasus
2.4.7 Nghiên cứu của Đinh Thị Thu Hồng và Phan Đình Mạnh (2013)
Theo Đinh Thị Thu Hồng và Phan Đình Mạnh nghiên cứu cơ chế truyền dẫn lãi suất
từ lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ ở Việt Nam và một
Trang 30số nền kinh tế mới nổi khác ở châu Á thông qua kiểm tra tính đối xứng và bất đối xứng trong truyền dẫn bằng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM; kiểm tra tác động của
độ bất ổn lãi suất, tính cứng nhắc trong quá trình điều chỉnh và hiệu ứng đòn bẩy lên truyền - dẫn bằng mô hình ECM-EGARCH Dữ liệu gồm 9 quốc gia: VN, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kong, Thái Lan trong khoảng thời gian 1/1997-12/2009 với 156 quan sát, riêng VN là 192 quan sát Kết quả thực nghiệm cho thấy truyền dẫn lãi suất ở VN xảy ra không hoàn toàn với cơ chế truyền dẫn đối xứng Tuy nhiên tốc độ điều chỉnh về mức cân bằng dài hạn của lãi suất tiền gửi và cho vay có sự chênh lệch trong trường hợp lãi suất cao hơn hoặc thấp hơn mức cân bằng Điều này hàm ý rằng có tính cứng nhắc trong điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi và giảm lãi suất cho vay Bên cạnh đó, quá trình truyền dẫn đối với lãi suất tiền gửi còn chịu tác động âm trong độ biến động của lãi suất, nghĩa là khi lãi suất càng biến động, hàm ý rủi ro càng cao thì mức độ truyền dẫn càng giảm Nguyên nhân là trong trường hợp này các NHTM e ngại trong việc điều chỉnh lãi suất bán lẻ theo những thay đổi của lãi suất chính sách do những lo ngại về rủi ro và những bất lợi của chính sách lãi suất mang lại Mặt khác, hiệu ứng đòn bẩy tồn tại đối với cả lãi suất tiền gửi và cho vay, giúp cho các loại lãi suất này duy trì ở mức cân bằng dài hạn
2.4.1.8 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Hữu Tuấn (2014)
Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Hữu Tuấn nghiên cứu sự truyền dẫn từ lãi suất chính sách (lãi suất tái cấp vốn và lãi suất liên ngân hàng) đến lãi suất bán lẻ (lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay) ở Việt Nam bằng phương pháp hồi quy đồng liên kết đề xuất bởi Phillips & Loretan (1991) và mô hình tự hồi quy phân phối trễ ARDL để xác định mối quan hệ cân bằng dài hạn của các chuỗi lãi suất Ngoài ra,
để phân tích phản ứng tức thời của lãi suất, tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng,
độ trễ điều chỉnh trung bình thì tác giả sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM Dữ liệu nghiên cứu gồm lãi suất liên ngân hàng trong nước kỳ hạn 3 tháng, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng, lãi suất cho vay kỳ hạn dưới 12 tháng của trung bình 4 NHTM lớn ở Việt Nam có cổ phần chi phối của nhà nước trong
Trang 31khoảng thời gian từ tháng 01/1997 đến tháng 12/2012 Kết quả cho thấy mức độ truyền dẫn không hoàn toàn từ lãi suất liên ngân hàng và lãi suất chính sách đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay Nghiên cứu cũng nhấn mạnh ảnh hưởng của minh bạch chính sách tiền tệ đến truyền dẫn lãi suất bán lẻ giai đoạn 1999-2012
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước đây
2 Scholnick (1996)
Điều chỉnh đối xứng của lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay để đáp ứng với những cú sốc từ lãi suất bán buôn ở Singapore và Malaysia
tổ chức tài chính khác và trên các sản phẩm tài chính ở Singapore
4 Bondt (2002)
Mối quan hệ giữa sự truyền dẫn từ lãi suất trái phiếu chính phủ đến lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay ở khu vực châu
Âu
Mức độ truyền dẫn không hoàn toàn
Trang 32lãi suất cho vay) ở Việt Nam
Mức độ truyền dẫn không hoàn toàn Sự điều chỉnh bất cân xứng về vị trí cân bằng của lãi suất bán lẻ
8 Jamilov và cộng sự
(2014)
Nghiên cứu mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường ở vùng Causasus
Mức độ truyền dẫn không hoàn toàn Sự điều chỉnh bất cân xứng về vị trí cân bằng của lãi suất bán lẻ Không có bằng chứng
rõ ràng rằng truyền dẫn lãi suất được cải thiện sau điểm gãy cấu trúc
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
2.5 Đóng góp mới của đề tài
Cottarelli và Kourelis (1994) lập luận rằng cấu trúc kinh tế và sự phát triển của hệ thống tài chính sẽ quyết định sự khác biệt trong cơ chế truyền dẫn Trinidad và Tobago (2007) cho rằng kênh tín dụng là kênh truyền dẫn quan trọng hơn các kênh khác ở những quốc gia có thị trường tài chính kém phát triển Các quốc gia có thị trường tài chính phát triển mạnh và cạnh tranh cao như Anh và Mỹ thì kênh lãi suất
là kênh truyền dẫn chính (Enger và cộng sự, 1999) Theo Romer và Rommer (1990), có hai điều kiện quan trọng để chính sách tiền tệ truyền dẫn thông qua kênh
Trang 33lãi suất đó là (i) các NHTM không có khả năng phòng vệ trước sự thay đổi vốn dự trữ của mình khi CSTT thay đổi (ii) Không có loại tài sản nào khác có thể thay thế tiền trong chức năng làm phương tiện thanh toán trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay là một quốc gia đang phát triển với thị trường chứng khoán chưa phát triển, mức độ đóng góp vốn cho nền kinh tế còn thấp, hệ thống NHTM đóng vai trò lớn trong nhiệm vụ chu chuyển vốn cho nền kinh tế Có nhiều nghiên cứu của các tác giả nghiên cứu về sự truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ của hệ thống NHTM hoặc một nhóm các NHTM, nhưng ở bài nghiên cứu này muốn phân tích sự truyền dẫn từ chính sách lãi suất của NHNN đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại ngân hàng cụ thể là Agribank để đánh giá thực nghiệm cơ chế truyền dẫn lãi suất có đúng với lý thuyết hay không bằng mô hình ARDL
Kết luận chương 2
Chương 2 trình bày tổng quan về lãi suất huy động, lãi suất cho vay tại NHTM và truyền dẫn lãi suất nhằm làm rõ các khái niệm liên quan đến việc truyền dẫn từ chính sách lãi suất của NHTƯ đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại NHTM, đồng thời lược khảo các nghiên cứu trước đây về truyền dẫn lãi suất để làm cơ sở cho việc kiểm chứng kết quả thực nghiệm trong chương 4
Trang 34CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG SỰ TRUYỀN DẪN TỪ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐẾN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
Giới thiệu chương 3
Chương 3 trình bày lịch sử hình thành và phát triển, các hoạt động kinh doanh chủ yếu và kết quả kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam giai đoạn 2008-2015 Phân tích thực trạng lãi suất huy động, lãi suất cho vay
và truyền dẫn từ chính sách lãi suất đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam để thảo luận với kết quả nghiên cứu theo phương pháp định lượng ở chương 4
3.1 Giới thiệu về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngày 26/03/1988, Ngân hàng chuyên doanh phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam
Ngày 15/11/1996, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ký quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, tên viết tắt là Agribank
Hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là ngân hàng thương mại hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong phát triển kinh tế Việt Nam, đặt biệt là đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn Agribank là ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng Tính đến 31/12/2015, vị thế dẫn đầu của Agribank vẫn được khẳng định trên nhiều phương diện với tổng tài sản: trên 833.000 tỷ đồng, tổng nguồn vốn: trên 804.000 tỷ đồng, tổng dư nợ: 614.561 tỷ
Trang 35đồng, mạng lưới hoạt động: gần 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc, nhân sự gần 40.000 nhân viên
Agribank luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến Agribank là một trong số các ngân hàng có quan hệ ngân hàng đại lý lớn nhất Việt Nam với trên 1.000 ngân hàng đại lý tại gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ Agribank là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam tiếp nhận và triển khai các dự án nước ngoài với tổng số vốn tiếp nhận đạt trên 5,8 tỷ USD như Dự án tài chính nông thôn III (WB), dự án Biogas ( ADB), dự án phát triển cao su tiểu điền (AFD) Bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh, Agribank còn thể hiện trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp lớn với sự nghiệp An sinh xã hội của đất nước Với vị thế là NHTM- định chế tài chính lớn nhất Việt Nam, Agribank đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển của đất nước
3.1.2 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu
- Huy động vốn:
+ Khai thác và nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước
+ Tiếp cận các nguồn vốn tài trợ, vốn ủy thác của Chính phủ, chính quyền địa phương và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước
- Cho vay: Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn và các loại cho vay khác
- Kinh doanh ngoại hối: Huy động vốn và cho vay, mua, bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, tái bảo lãnh, tái chiết khấu bộ chứng từ và các dịch vụ khác về ngoại hối theo chính sách quản lý ngoại hối của Chính phủ, của NHNN
- Cung ứng dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
+ Cung ứng các phương tiện thanh toán
Trang 36+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
+ Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ
+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
- Dịch vụ thẻ, dịch vụ kiều hối và các dịch vụ gia tăng khác
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh Agribank 2008-2015) Nguồn vốn huy động của Agribank giai đoạn 2008-2015 không ngừng tăng trưởng, góp phần đáp ứng nhu cầu cho vay để phát triển kinh tế, nhất là trong lĩnh vực tín dụng nông nghiệp, nông thôn Năm 2010, nguồn vốn huy động đạt 474.941 tỷ đồng, chiếm 9,4% tổng nguồn vốn huy động Năm 2011, nguồn vốn tăng hơn so với năm
2010 là 31.375 tỷ đồng, tăng 6,6% Nguồn vốn tăng mạnh vào năm 2013, so với năm 2012 tăng khoảng 77.477 tỷ đồng, tỷ lệ tăng là 13,9% Đến hết năm 2014, nguồn vốn huy động đạt 690.191 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn từ các tổ chức và dân
cư chiếm khoảng 78,4% tổng nguồn vốn huy động, tăng 10,2% so với năm 2013 Năm 2015, nguồn vốn tăng mạnh khoảng 16,5% so với năm 2014, đạt 804.529 tỷ đồng Agribank luôn thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm, hình thức huy động, giảm nguồn vốn không ổn định để qua đó chủ động trong quản lý và đảm bảo an toàn thanh khoản trong bối cảnh thị trường vốn biến động
Trang 373.1.3.2 Hoạt động tín dụng
Bảng 3.2: Kết quả hoạt động tín dụng tại Agribank giai đoạn 2008-2015
Đơn vị tính: tỷ đồng Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Giá trị 294.697 354.112 414.755 443.877 480.453 548.774 605.324 673.435 +/- 22,75% 20,16% 17,13% 7% 8,20% 12,16% 8,80% 16%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh Agribank 2008-2015) Trong giai đoạn 2008-2010, tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng của Agribank có xu hướng giảm mạnh, từ 18,45% năm 2009 giảm xuống 7,02% năm
2010, đến năm 2013 tăng 10,44% và năm 2014 tăng 11,02% Đến ngày 31/12/2015, tổng dư nợ của Agribank là 673.435 tỷ đồng, trong đó tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn, nông dân chiếm 74,8% Đặc biệt, dư nợ cho vay hộ sản xuất và
cá nhân tiếp tục có sự tăng trưởng khi triển khai cho vay theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP của Chính Phủ; Chú trọng cho vay đối với các chương trình, các gói tín dụng thuộc lĩnh vực ưu tiên, áp dụng lãi suất ưu đãi nhằm khuyến khích việc
mở rộng tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu; tiếp tục đẩy mạnh cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP, cho vay tái canh cà phê, cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg
3.1.3.3 Hoạt động dịch vụ
Bảng 3.3: Kết quả hoạt động dịch vụ tại Agribank giai đoạn 2008-2015
Đơn vị tính: tỷ đồng Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Giá trị 1.026 1.083 1.639 2.092 2.141 2.405 2.877 3.297 +/- 53,1% 5,24% 5,13% 29% 2,4% 10,9% 19,6% 14,6%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh Agribank 2008-2015) Kết quả kinh doanh dịch vụ tăng trưởng ổn định qua các năm Năm 2013, tổng doanh thu dịch vụ của Agribank là 2.405 tỷ đồng, tăng 10,96% so với năm 2012 Năm 2014, tổng thu dịch vụ của Agribank đạt 2.877 tỷ đồng, tăng 19,6% so với năm 2013 Trong đó: Nhóm dịch vụ thanh toán trong nước tăng 10%, nhóm dịch vụ thanh toán quốc tế tăng 11,2%, nhóm dịch vụ thẻ tăng 47%, các dịch vụ khác tăng
Trang 388,2% Doanh thu dịch vụ năm 2015 đạt 3.297 tỷ đồng, tăng 14,6 % so với năm
2014 Agribank trở thành một trong những ngân hàng thương mại đi đầu trong cung cấp dịch vụ thu ngân sách nhà nước, thẻ, mobile banking
3.1.3.4 Lợi nhuận
Bảng 3.4: Lợi nhuận sau thuế tại Agribank giai đoạn 2008-2015
Đơn vị tính: tỷ đồng Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Giá trị 2.128 1.829 1.300 4.851 956 1.651 2.454 2.960
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh Agribank 2008-2015)
Từ năm 2010 đến 2015, lợi nhuận bình quân hàng năm của Agribank tăng 2,36% Trong giai đọạn 2009-2014, lợi nhuận sau thuế của Agribank có sự biến động khá lớn Nếu như năm 2010, lợi nhuận sau thuế đạt 1.300 tỷ đồng thì năm 2014, lợi nhuận sau thuế đạt 2.454 tỷ đồng Trong vòng 5 năm từ 2009-2014, thì năm 2012 lợi nhuận toàn ngành nói chung và Agribank nói riêng giảm mạnh do đây là giai đoạn tăng trưởng tín dụng khá thấp, lãi suất cho vay giảm và NHNN thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát
3.2 Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
LSCB là công cụ để thực hiện CSTT của NHNN trong ngắn hạn LSCB được xác định dựa trên lãi suất liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở, lãi suất huy động của các TCTD và xu hướng biến động cung cầu thị trường làm cơ sở ấn định lãi suất kinh doanh Theo Luật dân sự, các TCTD không được cho vay với lãi suất cao gấp 1,5 lần LSCB LSCB được công bố lần đầu vào ngày 02/08/2010 theo Quyết định
số 242/2000/QĐ-NHNN và áp dụng ngày 05/08/2000 Lần đầu công bố, LSCB ở mức 9%/năm Các TCTD ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng tại thời điểm
ký kết hợp đồng tín dụng theo lãi suất cho vay cố định hoặc lãi suất cho vay có điều chỉnh nhưng không vượt quá mức LSCB cộng các biên độ sau: đối với cho vay ngắn hạn: 0,3%/tháng, đối với vay trung dài hạn: 0,5%/tháng Đến cuối tháng 5/2002, NHNN thay đổi cơ chế cho vay theo hướng không áp dụng LSCB cộng với biên độ mà cho phép các NHTM áp dụng lãi suất thỏa thuận với khách hàng LSCB
Trang 39vẫn tiếp tục được duy trì nhưng chỉ để tham khảo và định hướng đối với lãi suất thị trường Vào thời điểm tháng 06/2008, LSCB là 14%/năm (QĐ 1317/QĐ-NHNN ngày 10/6/2008) NHNN thực hiện điều hành theo LSCB, đồng thời thiết lập một hàng lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường Lãi suất trần gần như là lãi suất tái cấp vốn, lãi suất sàn được xem là lãi suất tái chiết khấu (5%-7%/năm) LSCB và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này
Biểu đồ 3.1: Biến động lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2008-2015
(Nguồn : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2008-2015)
Năm 2008: NHNN đã 3 lần tăng và 5 lần giảm LSCB cũng như lãi suất tái cấp vốn,
lãi suất tái chiết khấu Ngày 1/2/2008, LSCB được tăng từ 8,25% lên 8,75% Ngày 19/5, NHNN quy định LSCB là cơ sở xác định lãi suất cho vay của các NHTM (lãi suất trần không quá 150% LSCB), cùng ngày LSCB được điều chỉnh tăng lên 12% LSCB được điều chỉnh tăng cao nhất vào ngày 11/6 (14%) Ngày 21/10/2008, LSCB giảm còn 13% Kết thúc năm 2008, LSCB là 8,5%
Có thể nói năm 2009 là năm đầy thách thức đối với điều hành CSTT của NHNN trong bối cảnh chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu, kinh tế trong nước suy giảm Xét về tần suất điều chỉnh thì năm 2009 CSTT có sự
Trang 40ổn định hơn Cụ thể, đầu tháng 02/2009, LSCB giảm từ 8,5%/năm xuống 7%/năm Ngày 25/11/2009, NHNN thông báo điều chỉnh tăng LSCB lên 1% Theo đó, từ ngày 01/12/2009, mức LSCB là 8%/năm thay vì 7% như trước đây Lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu lần lượt điều chỉnh tăng lên mức 6% và 8%/ năm Trong quý IV/2009, lãi suất liên ngân hàng qua đêm thường xuyên cao hơn LSCB Nguyên nhân là do các NHTM đang gặp khó khăn trong việc huy động vốn đặc biệt là các
kỳ hạn dài do lãi suất bị khống chế tại mức thấp trong khi đây là giai đoạn nhu cầu vốn của nền kinh tế lớn, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu thanh toán nhiều, đột biến để mua sắm cá nhân dịp tết và chi trả các khoản lương thưởng
Năm 2010, diễn biến lãi suất theo kịch bản của năm 2009 là lãi suất điều hành ổn định trong một thời gian dài, tăng lên vào cuối năm nhằm kiềm chế lạm phát, còn lãi suất thị trường có xu hướng giảm vào giữa năm và tăng cao trở lại những tháng cuối năm Ngày 05/11/2010, NHNN chính thức nâng mức LSCB lên 9%, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu cũng điều chỉnh tăng lần lượt là 7% và 9%/năm Mặc dù vậy, CSTT trong năm 2010 khó có thể nói là đã thắt chặt khi NHNN tăng tổng phương tiện thanh toán 25,3%, và tăng trưởng tín dụng của cả hệ thống ngân hàng
là 29,81% so với năm 2009 Việc điều hành thiếu nhất quán và ổn định trong chính sách đã làm giảm hiệu quả của CSTT Hệ quả là một trong những rủi ro được nhận diện trong năm 2010 là rủi ro về chính sách đồng thời cũng khiến Việt Nam không đạt được mục tiêu về ổn định vĩ mô và giá trị đồng tiền
Năm 2011, trước áp lực lạm phát tăng cao, thực hiện theo Nghị quyết 11/NQ-CP về kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, CSTT thắt chặt được NHNN thực hiện nhất quán suốt năm 2011 Về lãi suất điều hành, LSCB tuy vẫn được giữ ở mức 9% nhưng lãi suất tái chiết khấu điều chỉnh tăng từ 7% lên 12% trong quý I/2011 và 13% cho quý III/2011 và quý IV/2011 còn lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh tăng
từ 9% lên 15% nhằm làm tăng chi phí vốn của các ngân hàng khi đi vay từ NHNN,
từ đó hạn chế việc các NHTM ỷ lại vào NHNN và khiến các NHTM cẩn trọng hơn trong xét duyệt cho vay