1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông trên địa bàn tỉnh bến tre

73 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong các kết quả nghiên cứu cho thấy quản lý khai thác cát lòng sông nói riêng là hoạt động mang tính chất liên ngành, có liên quan đến nhiều lĩnh vực như: khai thác khoáng sản, an

Trang 2

TRẦN THÀNH CÔNG

THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã chuyên ngành: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VIÊN THẾ GIANG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG 8

1.1 BẢN CHẤT, YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG 8

1.1.1 Cát lòng sông là khoáng sản không thể tái tạo, có nhu cầu khai thác lớn, nhưng có tác động trực tiếp đến môi trường 81.1.2 Khai thác cát lòng sông là hoạt động thu gom khoáng sản có sự hỗ trợ của các phương tiện và phải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường 101.1.3 Điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động khai thác cát lòng sông 12

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG 14

1.2.1 Bản chất của thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông là hành vi hợp pháp của chủ thể có liên quan đến hoạt động khai thác cát lòng sông 141.2.2 Cơ chế thực thi pháp luật khai thác cát lòng sông 171.2.2.1 Thực hiện trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác cát lòng sông 171.2.2.2 Thực thi pháp luật của tổ chức, cá nhân được quyền khai thác cát lòng sông theo giấy phép thông qua đấu giá 23

TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 25 CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT KHAI

Trang 4

2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG TẠI TỈNH BẾN TRE 31

2.2.1 Thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông của cơ quan quản lý nhà nước

về môi trường 322.2.1.1 Hoạt động ban hành văn bản pháp luật cụ thể hóa Luật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn thi hành để điều chỉnh việc khai thác cát lòng sông của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tỉnh Bến Tre 322.2.1.2 Thực thi pháp luật về cấp phép khai thác cát lòng sông 352.2.1.3 Xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật khai thác cát lòng sông 402.2.1.4 Việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông của các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền tỉnh Bến Tre 432.2.2 Thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông của tổ chức, cá nhân được cấp phép 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52 CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH NHẰM BẢO ĐẢM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG Ở TỈNH BẾN TRE 53

3.1 BẢO ĐẢM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KẾT HỢP VỚI PHÒNG NGỪA CÁC HÀNH VI LẠM DỤNG TRONG THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG 53 3.2 THỐNG NHẤT THẨM QUYỀN, ĐẦU MỐI TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ THẨM QUYỀN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN 57 3.3 MỞ RỘNG HÌNH THỨC THAM GIA VÀO PHẢN BIỆN CÁC DỰ ÁN KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TỈNH BẾN TRE MỘT CÁCH THỰC CHẤT VÀ ĐƯỢC BẢO ĐẢM BẰNG PHÁP LUẬT 59 3.4 TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN TRONG PHÁT HIỆN, XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG Ở TỈNH BẾN TRE 62

KẾT LUẬN CHUNG 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu

Khoáng sản nói chung và cát lòng sông nói riêng là một trong những tài nguyên thiên nhiên quan trọng của Việt Nam Cát lòng sông được xếp vào loại tài nguyên không tái tạo, việc sử dụng không hợp lý tài nguyên này sẽ làm suy giảm nguồn cung, dẫn tới khai thác quá mức, gây sụt lún bề mặt địa hình, sạt lở bờ sông Trong bối cảnh, Việt Nam đang ở trong giai đoạn phát triển, rất cần đầu tư xây dựng

cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì việc quản lý sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản này càng bức xúc và cấp bách.1 Tuy nhiên, tình trạng khai thác cát sỏi lòng sông nằm ngoài tầm kiểm soát với diễn biến ngày càng phức tạp bất chấp quy định pháp luật cũng như nỗ lực của các lực lượng chức năng Trước thực trạng này, năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị thị số 03/CT-TTg ngày 30/3/2015 để tăng cường hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản Mặt khác là vấn nạn tội phạm trong hoạt động khai thác cát trái phép Theo Bộ Công an

từ năm 2017 đến nay đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 3.282 vụ, làm rõ và xử lý 925 đối tượng vi phạm; xử phạt vi phạm hành chính trị giá 17,2 tỷ đồng; tịch thu 32 tàu, thuyền hút cát và 22.902 m3 cát, xử phạt hành chính trên 13 tỷ đồng.2

Tỉnh Bến Tre thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, điển hình cho một trong những điểm nóng về khai thác cát lòng sông trong thời gian qua Công tác quản lý nhà nước về khoáng sản vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, tình hình khai thác khoáng sản cát lòng sông trái phép còn diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, nhiều loại phương tiện có công suất lớn khai thác trái phép, gần bờ vào ban đêm gây bức xúc trong nhân dân và thời gian gần đây, các xã ven biển thuộc các huyện Bình Đại và Thạnh Phú phát sinh việc khai thác, vận chuyển sa khoáng trái phép làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh - trật tự tại địa phương.3

Từ năm 2013 đến nay, Đoàn

1 Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2017 Báo cáo đánh giá tác động chính sách, đề nghị xây dựng Nghị

định quy định quản lý cát, sỏi lòng sông

2

Lê Sơn, Hội nghị trực tuyến toàn quốc về tăng cường quản lý, khai thác cát sỏi, Nguồn <

soi/310531.vgp> Ngày truy cập [06/07/2017]

http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Hoi-nghi-truc-tuyen-toan-quoc-ve-tang-cuong-quan-ly-khai-thac-cat-3 Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, 2013 Chỉ thị số 02/2013/CT-UBND về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản

Trang 6

kiểm tra liên ngành các cấp đã tổ chức 7.740 cuộc kiểm tra, phát hiện xử phạt vi phạm hành chính 2.967 trường hợp vi phạm khai thác cát trái phép Việc tìm kiếm các giải pháp chính sách nhằm tăng cường biện pháp thực thi hiệu quả pháp luật về khai thác cát lòng sông vừa bảo đảm khai thác hiệu quả, vừa bảo vệ môi trường và chống lại các hành vi khai thác bất hợp pháp cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Do vậy, tác giả lựa chọn chủ đề “Thực thi

pháp luật về khai thác cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre” làm nội dung

nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Khai thác cát lòng sông là nội dung liên quan nhiều đến khía cạnh địa chất, khoáng sản như Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Xuân Quang năm 2017, nghiên cứu công nghệ khai thác cát lòng sông ở Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường và phục vụ công tác quản lý Một trong các kết quả nghiên cứu cho thấy quản lý khai thác cát lòng sông nói riêng là hoạt động mang tính chất liên ngành, có liên quan đến nhiều lĩnh vực như: khai thác khoáng sản, an toàn giao thông, vận tải đường thủy, bảo vệ môi trường, an toàn đê điều, thủy lợi…tuy nhiên, thực trạng quản lý, khai thác cát lòng sông ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, chồng chéo

về quản lý và chưa có những quy định chặt chẽ, hợp lý, chưa phù hợp thực tiễn; Việc nghiên cứu các chính sách pháp luật quản lý phù hợp đối với cát lòng sông cần dựa trên cơ sở khoa học, trong đó cần nghiên cứu các yếu tố là sự thay đổi chế độ thủy văn và bán kính vùng phá hủy, sự thay đổi trữ lượng mỏ và dựa trên cơ sở các tồn tại, bất cập của chính sách hiện hành.4 Các nghiên cứu ở khía cạnh kỹ thuật về khoáng sản giúp nhận diện đánh giá chất lượng, trữ lượng, yêu cầu đối với hoạt động khai thác khoáng sản

Dưới góc độ pháp lý, cũng có nhiều nghiên cứu về khai thác khoáng sản, đặt vấn đề khai thác khoáng sản với vấn đề bảo vệ môi trường; phân tích, đánh giá tính

4 Nguyễn Xuân Quang, Nghiên cứu công nghệ khai thác cát lòng sông ở Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn,

bảo vệ môi trường và phục vụ công tác quản lý, Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Trường Đại học Mỏ địa chất, Hà

Nội, 2017

Trang 7

khả thi, phù hợp của quy định pháp luật về khai thác khoáng sản Có thể kể đến một

số nghiên cứu như:

- Phan Thị Thái và Nguyễn Quốc Định với đề tài “Một số đánh giá về chính sách thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của Việt Nam sau 4 năm thực hiện” đã chỉ ra: Nghị định số 203/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, có hiệu lực từ ngày 20/01/2014 Qua

4 năm triển khai chính sách, đã đạt được những kết quả to lớn, làm thay đổi tích cực công tác quan lý ngành khai thác khoáng sản Tuy nhiên, do lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam, vẫn còn tồn tại một số bất cập, vướng mắc như: Nghị định có hiệu lực còn chậm dẫn đến những khó khăn chao cơ quan quản lý trong công tác thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cũng như các đơn vị khai thác khoáng sản; Các bước xét duyệt rườm rà dẫn đến khó khăn gây ra những tổn thất vô hình về kinh tế cho các đơn vị khi đầu tư vào khai thác khoáng sản; Phương pháp tính và mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cũng còn những bất cập trong thực tế Những bất cập này đều cần có phương án khắc phục nhằm tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản

lý nhà nước, đảm bảo công bằng về lợi ích cho các đầu tư khai thác khoáng sản.5

- Đặng Văn Cương năm 2014, nghiên cứu pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam Nghiên cứu tiếp cận vấn đề phát triển bền vững là một vấn đề liên ngành vì nó liên quan đến bốn loại hình trong sự bền vững: bền vững về con người, bền vững về xã hội, bền vững mặt kinh tế và bền vững môi sinh; nghiên cứu cập nhật các quy định mới về khai thác, chế biến khoáng sản trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014 có khái quát đến Luật khoáng sản năm 2010.6

- Phạm Chung Thủy, năm 2012 thực hiện đề tài “Pháp luật về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam” nghiên cứu làm rõ khái niệm, phân loại

5 Phan Thị Thái, Nguyễn Quốc Định, Một số đánh giá về chính sách thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của Việt Nam sau 4 năm thực hiện, Tạp chí Công thương online, http://www.tapchicongthuong.vn/bai- viet/mot-so-danh-gia-ve-chinh-sach-thu-tien-cap-quyen-khai-thac-khoang-san-cua-viet-nam-sau-4-nam-thuc- hien-29218.htm Ngày truy cập [20/08/2018]

6 Đặng Văn Cương, 2014 Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở

Việt Nam, Tóm tắt luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2014

Trang 8

khoáng sản, một vài nét về vai trò, ảnh hưởng của hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản và điều chỉnh pháp luật về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam; phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, từ đó đánh giá những ưu điểm và nhược điểm, đưa ra một số kiến nghị

để hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản.7

Điểm qua một số công trình nghiên cứu liên quan đến khai thác khoáng sản cho thấy, chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến khai thác cát lòng sông và thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông Đây là “khoảng trống” cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để bảo đảm việc khai thác hiệu quả cát lòng sông gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường

3 3 Mục tiêu của đề tài

3.1 Mục tiêu tổng quát

Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về khai thác cát lòng sông Kết quả nghiên cứu giúp nhận diện những tồn tại, hạn chế trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về khai thác cát lòng sông Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh Bến Tre

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông thông qua việc nhận diện khái niệm, bản chất, cơ chế thực thi pháp luật

về khai thác cát lòng sông

- Phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về quản lý khai thác cát lòng sông

- Đánh giá hiện trạng thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre để tìm ra các ưu điểm và hạn chế

- Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

7 Phan Chung Thủy, Pháp luật về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam, Tóm tắt luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2012

Trang 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Về pháp luật: các đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là văn bản pháp luật, quy định hiện hành; các chiến lược, định hướng của Đảng và Nhà nước ta, kế hoạch đang trong giai đoạn triển khai và các báo cáo trong thời gian từ năm 2010 đến nay

ở cấp Trung ương và trên địa bàn tỉnh Bến Tre về khoáng sản, trong đó tập trung vào lĩnh vực khai thác cát lòng sông

Về thực tế thi hành pháp luật liên quan đến cát lòng sông sẽ tiến hành nghiên cứu các đối tượng các Sở: Tài nguyên và Môi trường, Công thương, Xây dựng, Giao thông Vận tải; Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư; Cảnh sát môi trường; Cục Thuế, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh, Chi cục Quản lý thị trường và chính quyền địa phương có liên quan quản lý cát lòng sông theo quy định pháp luật; các Công ty, Doanh nghiệp, Hợp tác xã khai thác cát; người dân gần khu vực các mỏ cát, khu vực nóng về khai thác cát trái phép

4.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu vấn đề thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông ở tỉnh Bến Tre từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp thống kê, phân tích và phân tích luật viết

Thu thập và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài, bao gồm các văn bản của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở Trung ương và địa phương

Phương pháp phân tích luật viết cho phép sử dụng thứ bậc pháp lý, các nguyên tắc pháp lý và các công cụ phương pháp chuyên biệt để xác định tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, mối quan hệ giữa logic và pháp luật, giữa pháp luật và thực tế

Phương pháp thu thập thông tin liên quan

Trang 10

Tận dụng và khai thác nguồn thông tin đa dạng từ Internet và các tài liệu luận văn, tạp chí, sách tại thư viện trường; các báo cáo, văn bản liên quan từ cơ quan Nhà nước

Tham vấn ý kiến cán bộ quản lý: Cảnh sát môi trường; Thanh tra và Phòng quản lý Tài nguyên và Khí tượng thủy văn thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; Cán

bộ Sở Xây dựng, Sở Giao thông Vận Tải, Sở Công thương, Tài chính; Cục thuế Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện; phụ trách quản lý môi trường, tài nguyên cấp xã

Phương pháp logic

Đây là công cụ sử dụng thường xuyên nhất chi phối nội dung, bố cục, cách xử

lý vấn đề tạo cơ sở lý luận về pháp luật quản lý khai thác cát lòng sông Áp dụng cho một số nội dung như: vai trò quan trọng của thực thi pháp luật trong quản lý khai thác cát lòng sông; đề xuất các giải pháp hiệu quả trên cơ sở hài hoà giữa quy định pháp luật và tình hình thực tế

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Làm rõ được ở khía cạnh lý luận vấn đề thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông

- Phân tích, đánh giá và chỉ ra được một số bất cập, hạn chế trong thực tiễn thực thi pháp luật khai thác cát lòng sông ở tỉnh Bến Tre

- Kiến nghị được một số giải pháp có tỉnh khả thi, phù hợp để tăng cường thực thi pháp luật khai thác cát lòng sông ở tỉnh Bến Tre đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu làm 03 chương như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thực thi pháp luật về khai thác cát

lòng sông

Chương 2 Đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật khai thác cát lòng sông ở tỉnh

Bến Tre

Trang 11

Chương 3 Kết luận và kiến nghị chính sách góp phần nâng cao hiệu quả thực

thi pháp luật khai thác cát lòng ở tỉnh Bến Tre

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ

có thể lấy kim loại, các hợp chất hay các khoáng vật để sử dụng trong nền kinh tế quốc dân.8 Theo quy định của Luật Khoáng sản 2010 thì khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ Là loại tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế lớn, phục vụ trực tiếp cho nhiều nhu cầu khác nhau của con người nên việc quản lý, khai thác thường phức tạp do có liên quan đến nhiều quan hệ xã hội, có tác động đến yếu tố môi trường, văn hóa nơi cư dân sinh sống Tại Việt Nam, khoáng sản là loại tài sản thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là chủ đại diện Việc khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước thông qua hoạt động cấp phép

Cát lòng sông là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, theo quy định tại Khoản 1 Điều 64 Luật khoáng sản thì cát lòng sông là: “Cát các loại (trừ cát trắng silic) có hàm lượng SiO2 nhỏ hơn 85%, không có hoặc có các khoáng vật cansiterit, volframit, monazit, ziricon, ilmenit, vàng đi kèm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường” Cát lòng sông

là sản phẩm tự nhiên được hình thành từ thượng nguồn đến hạ lưu, theo lưu vực sông; sự vận động, biến đổi của cát, sỏi lòng sông, khai thác cát lòng sông liên quan

8 Phan Chung Thủy, Pháp luật về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam, Tóm tắt luận văn

thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2012, tr.8

Trang 13

trực tiếp đến mức độ bền vững của lòng, bờ, bãi sông Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 158/2016/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Khoáng sản thì cát lòng sông nguyên khai là sản phẩm tài nguyên của khoáng sản, đã qua khai thác không còn ở tình trạng tự nhiên nhưng chưa qua đập, nghiền, sàng, phân loại hoặc các hoạt động khác để nâng cao giá trị sau khai thác; Thăm dò cát lòng sông là hoạt động nhằm xác định trữ lượng, chất lượng cát; Khai thác cát lồng sông là hoạt động nhằm thu hồi cát, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan Thông tư 01/2016/TT-BTNMT ngày 13/01/2016, cát lòng sông là sản phẩm tích tụ trong bãi bồi, thềm sông và cửa sông, bao gồm: cuội, sỏi, sạn, cát chỉ

có giá trị sử dụng làm vật liệu xây dựng thông thường

Vai trò của cát lòng sông trong phát triển kinh tế xã hội, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đã kết luận “nhu cầu sử dụng cát, sỏi ngày càng lớn, trong khi nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, mặt khác công tác quản lý nhà nước còn bất cập đã dẫn đến việc khai thác cát, sỏi quá mức, khai thác cát, sỏi trái phép đã tác động tiêu cực đến dòng chảy, hạ thấp lòng sông, gây sạt lở bờ, bãi sông, gây thiệt hại tài sản của nhân dân, tác động xấu đến môi trường Vì vậy, việc quản lý, khai thác cát, sỏi cần phải được quy hoạch trên cơ sở đánh giá trữ lượng, khả năng cung cấp, nhu cầu sử dụng của cả nước, của các địa phương và phải đánh giá đầy đủ tác động đến dòng chảy, môi trường chung theo từng lưu vực sông, bảo đảm tuân thủ các quy định về bảo vệ lòng sông và bảo vệ tài nguyên nước; đồng thời phải quản

lý, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép.”9

Trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu sử dụng cát nói chung, cát lòng sông nói riêng không ngừng tăng lên Điều này đặt ra đòi hỏi phải tăng cường các biện pháp quản lý để chống lại các hiện tượng khai thác cát trái phép, tuân thủ các quy trình, kỹ thuật trong quá trình khai thác cũng như giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trường Tình trạng sạt lở bờ sông do việc khai thác quá mức, thiếu kiểm soát làm ảnh hưởng đến sinh kế của

9 Lê Sơn, Hội nghị trực tuyến toàn quốc về tăng cường quản lý, khai thác cát sỏi, Nguồn <

soi/310531.vgp> Ngày truy cập [06/07/2017]

Trang 14

http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Hoi-nghi-truc-tuyen-toan-quoc-ve-tang-cuong-quan-ly-khai-thac-cat-người dân là vấn đề lớn cần quan tâm giải quyết song song với việc cấp phép khai thác cát lòng sông của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

1.1.2 Khai thác cát lòng sông là hoạt động thu gom khoáng sản có sự hỗ trợ của các phương tiện và phải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường

Về mặt lịch sử, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản có từ khá lâu đời Lúc đầu, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới chỉ là khai thác đá, sắt, đồng… để làm công cụ phục vụ cho chăn nuôi, trồng trọt, luyện vũ khí để chống giặc ngoại xâm Nhưng phải đến thời Pháp thuộc, khai thác khoáng sản mới định hình như một nghề Khi thực dân Pháp

đô hộ nước ta, chúng đã cho thành lập Sở địa chất Đông Dương Nơi đây tập trung nhiều nhà bác học địa chất nổi tiếng của nước Pháp và cả thế giới lúc bấy giờ Rất nhiều mỏ khoáng sản của Việt Nam đã được người Pháp phát hiện ra Thực dân Pháp khai thác khoáng sản để làm nguyên liệu, đáp ứng nhu cầu của chúng Toàn quyền Đông Dương đã bán nhiều mỏ khoáng sản của ta cho các công ty khai khoáng của Pháp Khi đất nước thống nhất chúng ta lại quan tâm đến việc phát triển kinh tế Chỉ đến gần đây, đất nước ta mới chú trọng đến hoạt động khoáng sản, mới nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản trong sự phát triển kinh tế, xã hội.10 Sự phát triển đất nước đã làm cho ngành khai thác, chế biến khoáng sản ngày càng phát triển, có những đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Đồng thời, cùng với những chuyển mình của các ngành kinh tế, ngành khai thác, chế biến khoáng sản cũng đang có những thay đổi theo chiều sâu theo hướng chuyển từ khai thác, xuất khẩu khoáng sản thô sang việc khai thác, chế biến để có sản phẩm tinh (hàng hóa) để làm tăng giá trị của khoáng sản Mặt khác, do khoáng sản chủ yếu là dạng không thể tái tạo nên việc tiết kiệm tài nguyên cũng đặt ra đòi hỏi phải hiện đại hóa công nghệ khai thác

và tìm các nguồn nguyên liệu thay thế tài nguyên hóa thạch

Công nghiệp khai thác cát là một ngành công nghiệp khai khoáng và cát là nguồn tài nguyên không tái tạo được Khai thác cát gây ra những biến đổi môi

10 Phan Chung Thủy, Pháp luật về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam, Tóm tắt luận văn

thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2012, tr.9-10

Trang 15

trường sinh học, vật lý, hóa học và môi trường sống của con người Do đó, luôn luôn tồn tại các mối nguy tác động môi trường do việc khai thác gây ra mà trong đó

ẩn chứa các rủi ro tiềm tàng cho con người và môi trường Do đó, xác định các mối nguy, tức là những tác động xấu đối với môi trường và con người do hành vi khai thác cát là điều kiện để bảo đảm tính bền vững của hoạt động khai thác cát nói chung, khai thác cát lòng sông nói riêng Các loại mối nguy được áp dụng đối với phân tích rủi ro môi trường là: Mối nguy từ sự chối bỏ, mối nguy từ sự không biết, mối nguy từ sự không thống nhất, mối nguy từ ngôn ngữ, mối nguy từ sự thực hiện, mối nguy từ tính không dự đoán được Mối nguy cơ về sự bỏ quên xảy ra bởi vì tiềm năng nguy hiểm và rủi ro chưa được đánh giá Mối nguy cơ do sự thiếu hiểu biết xảy ra bởi vì kiến thức của chúng ta bị hạn chế Mối nguy cơ của bất đồng tồn tại khi các chuyên gia không thể đồng ý hoặc khi các chuyên gia và các cộng đồng dân cư không thống nhất ý kiến Điều xảy ra khi thiếu số liệu, hay có quan niệm sai lầm, hay ngờ vực Mối nguy của ngôn ngữ học tồn tại vì chúng ta thường nói đến các sự kiện mà không chính xác về số lượng, hoặc trong các thuật ngữ chuyên ngành chỉ quen thuộc cho những người trong nghề nghiệp của chúng ta Mối nguy của việc thực hiện xảy ra khi chúng ta thực hiện công việc phạm sai lầm Mối nguy

là các điều bất trắc xảy ra chẳng hạn như thời tiết và động đất, vốn dĩ không thể đoán trước được và bởi vì bản chất của thiên nhiên là trạng thái liên tục thay đổi của

nó Hệ tự nhiên sinh thái xung quanh chúng ta đang ở trong một trạng thái liên tục thay đổi, thay đổi bởi các quá trình tự nhiên hay là thay đổi bởi các hoạt động của con người Những mối nguy từ sự không thể tiên đoán được thường được đánh giá bằng cách sử dụng phương pháp xác suất thống kê hay bằng cách quan sát theo dõi

12 Nguyễn Xuân Quang, Nghiên cứu công nghệ khai thác cát lòng sông ở Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn,

bảo vệ môi trường và phục vụ công tác quản lý, Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Trường Đại học Mỏ địa chất, Hà

Nội, 2017

Trang 16

- Khai thác cát lòng sông bằng máy xúc thuỷ lực gàu ngược: Các máy xúc thủy lực gàu ngược được đặt trên các phà nổi hoặc tại trên boong tầu, xúc bốc trực tiếp cát theo sơ đồ dưới mức máy đứng, quay và chất tải trực tiếp về phía sau tại tầu hoặc chất tải vào sà lan đi bên cạnh Phương pháp này áp dụng chủ yếu tại các mỏ

có sản lượng nhỏ, chiều sâu khai thác không lớn hoặc các mỏ có yêu cầu cao về mức độ khai thác chọn lọc

- Khai thác bằng máy xúc gầu ngoạm hoặc máy xúc gầu treo: Máy xúc gầu ngoạm và máy xúc gầu treo có khả năng xúc đất đá ở khoảng cách và chiều sâu lớn (riêng với máy xúc gàu ngoạm có thể đạt tới chiều sâu (80÷120m) tùy vào kiểu loại

và quy mô của các máy xúc Máy xúc gầu ngoạm và máy xúc gầu treo được sử dụng có hiệu quả để khai thác cát và khoáng sản sa khoáng dưới lòng sông

- Khai thác bằng tàu cuốc: Tàu cuốc được dùng để khai thác các khoáng sản sa khoáng và các mỏ cát bị ngập nước, dưới đáy các sông, ao hồ, đáy biển Ở Việt Nam, tàu cuốc đã từng được áp dụng ở nhiều mỏ cát lòng sông tại các tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Đồng Tháp, Tiền Giang

- Khai thác bằng bơm bùn: Phương pháp khai thác này sử dụng khá phổ biến tại các mỏ khoáng sản cát lòng sông trên thế giới Bơm bùn có thể lắp trên các phà nổi hoặc lắp trên bộ phận công tác của máy xúc thủy lực Bơm bùn làm nhiệm vụ bơm hỗn hợp vữa cát lên sà lan đi bên cạnh

1.1.3 Điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động khai thác cát lòng sông

Hướng tới hoạt động khai thác cát lòng sông có trách nhiệm của doanh nghiệp khai thác cũng như gắn với sinh kế người dân vùng ảnh hưởng và bảo đảm phát triển bền vững

Là một bộ phận của pháp luật khoáng sản, pháp luật về khai thác cát lòng sông được nhìn nhận là tổng thể các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thăm dò, khai thác, chế biến cát lòng sông phục vụ cho các nhu cầu ngày càng đa dạng hướng tới mục tiêu khai thác và sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên gắn với công tác bảo vệ môi trường Xuất phát từ vị trí, vai trò của tài

Trang 17

nguyên thiên trong phát triển kinh tế xã hội việc xây dựng khuôn khổ pháp luật điều chỉnh cát lòng sông cần cân nhắc tới các yếu tố:

Thứ nhất, cần có những quy định về chính sách quản lý và sử dụng nguồn thu

khai thác cát lòng sông minh bạch và hiệu quả Đây là yêu cầu rất quan trọng, bởi lẽ nếu việc quản lý và sử dụng nguồn thu từ khai thác cát lòng không minh bạch, không hiệu quả thì sẽ rất khó thuyết phục người dân sống trong lưu vực sông có hoạt động khai thác, chế biến cát lòng sông Thực chất của yêu cầu này là cân nhắc hài hòa bài toán thúc đẩy hoạt động khai thác (giá trị kinh tế được tính toán, đo lường bằng hiệu quả kinh tế) và những thiệt hại (tác động xấu) đối với môi trường

và xã hội do hoạt động khai thác, chế biến cát lòng sông Nếu việc khai thác (giá trị kinh tế) mang lại không đủ đề bù đắp những tổn hại đối với môi trường và xã hội thì không nên cấp phép cho hoạt động khai thác cát lòng sông

Thứ hai, tôn trọng nguyên tắc phát triển bền vững trong điều chỉnh pháp luật

đối với hoạt động khai thác cát lòng sông, nghĩa là khai thác cát lòng sông không chỉ tập trung vào việc tận dụng nguồn lao động địa phương, tại chỗ đang khai thác

mà còn phải quan tâm đến sinh kế của người dân sau khi hoạt động khai thác chấm dứt Thực tiễn cho thấy, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản nói chung, cát lòng sông nói riêng là hoạt động mang tính chất không bền vững và ổn định Các

mỏ khai thác dù ở quy mô nhỏ hay quy mô lớn có thể thu hút một số lượng lớn lao động trực tiếp và gián tiếp nên có một bộ phận người dân địa phương phụ thuộc vào công nghiệp khai khoáng về vấn đề việc làm và thu nhập Tuy nhiên, khi đóng cửa

mỏ sau khi khai thác cạn kiệt sẽ làm một bộ phận lớn dân cư rơi vào tình trạng thất nghiệp và làm tình trạng đói nghèo trong vùng trở nên tồi tệ hơn.13

Thứ ba, tôn trọng và bảo vệ quyền của người dân trong phạm vi khu vực khai

thác cát lòng sông; gắn hoạt động khai thác, chế biến cát lòng sông với cải thiện cơ

sở hạ tầng, sử dụng lao động địa phương, đảm bảo các vấn đề về bảo vệ và phục hồi môi trường

13 Trần Thanh Thủy, Nguyễn Việt Dũng, Khai thác khoáng sản và giảm nghèo: Mối quan hệ trái chiều và

một số vấn đề chính sách, Trung tâm con người và Thiên nhiên, tháng 10/2010, tr.4

Trang 18

Một trong những quan điểm về khai thác khoáng sản không phù hợp là ngành khai khoáng sẽ giúp tạo thêm việc làm, giúp giảm nghèo và cải thiện đời sống người dân ở các địa phương có mỏ Thực tế, hầu hết những nơi có mỏ đều là các địa bàn nông thôn, miền núi vùng sâu và xa, vùng cư trú lâu năm của nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa còn nghèo khó, dân trí thấp và cuộc sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Khai thác mỏ không chỉ dẫn đến nhiều hệ luỵ và tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội địa phương, mà còn làm cho người dân mất đi các nguồn lực (thiên nhiên, đất đai, nguồn nước, ổn định xã hội) hoặc cản trợ họ tiếp cận các nguồn lực để thực hành sinh kế, sản xuất, tạo thu nhập và giảm nghèo Trong khi đó, khai thác khoáng sản không chỉ làm mất đi vĩnh viễn nguồn tài nguyên không tái tạo, mà còn làm suy thoái và cạn kiệt nhanh chóng các nguồn tài nguyên sinh học (rừng, đa dạng sinh học), nguồn nước và đất đai để người dân có thể dựa vào duy trì cuộc sống lâu dài Sau khi khai thác, môi trường vùng mỏ hầu như không thể hoàn nguyên và phục hồi vì đòi hỏi công nghệ và đầu tư chi phí lớn; trong khi đó luật pháp hiện hành vẫn chưa có các quy định về yêu cầu đền bù thiệt hại môi trường.14 Để làm được điều này cần phát huy vai trò và thực hiện hiệu quả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong khai thác, chế biến cát lòng sông

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG

1.2.1 Bản chất của thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông là hành

vi hợp pháp của chủ thể có liên quan đến hoạt động khai thác cát lòng sông

Xây dựng và thực hiện (thực thi) pháp luật là hai hoạt động không thể thiếu nhằm hình thành, chuyển hóa quy định pháp luật thành các hành vi hợp pháp của các chủ thể có liên quan, từ đó góp phần đạt được mục tiêu quản lý xã hội của nhà nước Hoạt động lập pháp hay hoạt động xây dựng pháp luật là tổng thể các hành vi của các chủ thể khác nhau, bao gồm nhiều bước, nhiều quy trình để hình thành, chỉnh sửa, bổ sung hay bãi bỏ các quy định pháp luật đáp ứng nhu cầu điều chỉnh/điều tiết/quản lý xã hội của nhà nước Xây dựng pháp luật không chỉ “nhằm

14 Trần Thanh Thủy, Nguyễn Việt Dũng, Khai thác khoáng sản và giảm nghèo: Mối quan hệ trái chiều và

một số vấn đề chính sách, Trung tâm con người và Thiên nhiên, tháng 10/2010, tr.6

Trang 19

chuyển hóa ý chí của Nhà nước, của nhân dân Việt Nam thành những quy định pháp luật dựa trên những nguyên tắc nhất định và được thể hiện dưới những hình thức pháp lý nhất định”15 mà còn phải bảo đảm phù hợp với quá trình vận động, phát triển của xã hội cũng như sự tương thích hay phù hợp với các chuẩn mực, cam kết quốc tế với kỳ vọng thiết lập trật tự xã hội theo định hướng của Nhà nước Thực tiễn đã chứng minh, việc ban hành các quy định pháp luật là giai đoạn thiết lập các quy trình, các thủ tục, các điều kiện mà từ đó, tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng và phạm vi áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật phải tuân thủ Chất lượng của hoạt động xây dựng pháp luật được thể hiện qua mức độ tuân thủ, chấp hành pháp luật của người dân trong đời sống kinh tế xã hội Chất lượng của hoạt động xây dựng pháp luật phải là sự phản ánh khách quan diễn tiến của các quá trình xã hội cần có sự điều chỉnh của pháp luật

Khi pháp luật đã được ban hành, các quy phạm pháp luật phải được đi vào cuộc sống thông qua các hành vi hợp pháp, tích cực của tổ chức, cá nhân trong đời sống xã hội Tri thức, tình cảm đối với pháp luật là những nhân tố quyết định cho việc chuyển hóa các quy phạm pháp luật thành các hành vi pháp lý của con người, thông qua đó, trật tự xã hội, quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể được thiết lập, hiện thực hóa, nghĩa là có liên quan trực tiếp đến văn hóa pháp lý của từng quốc gia, cộng đồng dân cư

Thực thi pháp luật là sự phản ánh nhận thức chủ quan của cá nhân đối với quy phạm pháp luật và thực tiễn quan hệ pháp luật mà cá nhân đang là đối tượng tham gia Độ chính xác, khách quan của việc nhận thức và áp dụng quy định pháp luật vào trong từng trường hợp cụ thể hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết của mỗi cá nhân về hiện tượng pháp luật nói chung và từng lĩnh vực pháp luật cụ thể nói riêng.16 Nói cách khác, thực thi pháp luật của cá nhân là sự thể hiện trên thực tế ý

15 Nguyễn Minh Đoan, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.13

Trang 20

thức pháp luật, thể hiện sự nhận thức ở khía cạnh lý luận về pháp luật (như nguồn gốc, các học thuyết về bản chất, chức năng, sự cần thiết của hiện tượng pháp luật trong đời sống xã hội…), thể hiện tâm lý, thái độ của cá nhân đối với pháp luật bao gồm cả những hành vi hợp pháp và hành vi không hợp pháp - vi phạm pháp luật - tức là những vùng sáng, tối trong đời sống pháp luật.17 Nhận thức, hiểu biết đối với

pháp luật không chỉ ở việc đánh giá “tính công bằng hay không công bằng, đúng

đắn hay không đúng đắn của các quy phạm pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá khứ, pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong

việc “lèo lái”, giải thích, vận dụng pháp luật sao cho có lợi nhất, phù hợp nhất với hoàn cảnh, điều kiện của mình Các hành vi lạm dụng pháp luật để trục lợi vừa bao hàm nghĩa chấp hành, tuân thủ pháp luật (nghĩa là tính hợp pháp, tính tích cực của hành vi), vừa bao hàm nghĩa vi phạm pháp luật (nghĩa là hiện tượng tiêu cực, có nguy cơ xâm phạm trật tự kỳ vọng mà Nhà nước mong muốn thiết lập) Do đó, thực

thi pháp luật là sự phản ánh nội hàm của văn hóa pháp luật, thể hiện “một cách nhìn

về luật pháp, đặt pháp luật trong những tương quan đa chiều với khoa học hành vi, cách nghĩ, cách ứng xử, tôn giáo, niềm tin, các đặc tính nhân học của các cộng

Thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông là các hành vi pháp lý cụ thể của các bên có liên quan nhằm triển khai các quy định pháp luật về khai thác cát lòng sông vào trong đời sống thực tiễn Nội dung cốt yếu của thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông là bảo đảm cho các hành vi khai thác cát lòng sông của các chủ thể có liên quan cụ thể hóa các nghĩa vụ, trách nhiệm vào thực tiễn khai thác cát lòng sông, vừa bảo đảm khai thác tối đa tiềm năng cát lòng sông, vừa tuân thủ tiêu chuẩn, kỹ thuật trong khai thác cát lòng sông để nhằm giảm thiểu các tác hại đối với môi trường

17

Hoàng Thị Kim Quế, Đời sống pháp luật, Tạp chí Luật học số 4/2005, tr.25-32

18 Hoàng Thị Kim Quế (Chủ biên), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc

gia Hà Nội, Hà Nội, 2005, tr.430

19 Phạm Duy Nghĩa, Góp phần tìm hiểu văn hóa pháp luật, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh

tế-Luật số 24/2008, tr.1

Trang 21

1.2.2 Cơ chế thực thi pháp luật khai thác cát lòng sông

1.2.2.1 Thực hiện trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác cát lòng sông

Thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác cát lòng sông là một trong những nội dung của quản lý nhà nước về khoáng sản Nội dung chủ yếu của thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác cát lòng sông bao gồm:

Thứ nhất, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về khai thác cát lòng sông

theo phân cấp, phân quyền trong Luật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn thi hành, bao gồm thẩm quyền của Chính phủ (thẩm quyền chung) và thẩm quyền của

Bộ Tài Nguyên và Môi trường (thẩm quyền chuyên môn) và cơ chế phối hợp giữa các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Kế hoạch Đầu tư trong việc ban hành quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ khai thác cát lòng sông, bao gồm:

- Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản;

- Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 04 năm 2017 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản;

- Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2013 quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản;

- Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 quy định xử phạt

vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản

Trang 22

136/2018/NĐ-CP 05 tháng 10 năm 2018 sửa đổi Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường;

- Thông tư số 38/2017//TT-BTNMT ngày 16 tháng 10 năm 2017 quy định phương pháp quy đổi từ giá tính thuế tài nguyên để xác định giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản;

- Thông tư số 51/2015/TT-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2015 hướng dẫn một số nội dung thanh tra chuyên ngành khoáng sản;

- Thông tư số 60/2017/TT-BTNMT ngày 8 tháng 12 năm 2017 quy định về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn

- Thông tư liên tịch số 54/2014/TTLT-BTNMT-BTC ngày 09 tháng 9 năm

2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản

Thứ hai, phân định thẩm quyền của các chủ thể có liên quan đến hoạt động

khai thác cát lòng sông Đây là hoạt động nhằm cụ thể hóa trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác cát lòng sông đã được Luật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm: Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về cát lòng sông; ban hành quy chuẩn kỹ thuật, định mức, đơn giá trong điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, thăm dò khoáng sản; Lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược khoáng sản; Lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch cát lòng sông theo phân công của Chính phủ; Cấp, gia hạn, thu hồi Giấy phép khai thác cát lòng sông; Chấp thuận trả lại Giấy phép khai thác cát lòng sông, trả lại một phần diện tích khu vực thăm dò, khai thác cát lòng sông; Tổ chức đấu giá quyền khai thác cát lòng sông thuộc thẩm quyền; Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về cát lòng sông theo thẩm quyền (Điều 80 Luật khoáng sản 2010) Bộ Công An, Công an tỉnh (Cảnh sát môi trường, Công sát kinh tế) trong phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo quy định đối với các hành vi khai thác cát lòng sông trái phép; buôn lậu, gian lận

Trang 23

thương mại, xuất khẩu cát lòng sông trái phép Bộ Công Thương, Sở Công thương thẩm định công nghệ các dự án khai thác cát lòng sông theo thẩm quyền; kiểm tra,

xử lý theo quy định đối với các cơ sở khai thác cát lòng sông có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Bộ Giao thông vận tải, Sở Giao thông vận tải quản lý các dự án nạo vét, khơi luồng hàng hải, luồng đường thủy nội địa quốc gia thuộc thẩm quyền; thanh tra, kiểm tra các dự án nạo vét, khơi thông luồng hàng hải, luồng đường thủy nội địa quốc gia thuộc thẩm quyền; nghiêm cấm lợi dụng việc nạo vét, khơi thông luồng để khai thác cát trái phép Bộ Tài chính, Sở Tài chính (các cơ quan Thuế, Hải quan) kiểm soát nguồn thu từ cát lòng sông thông qua sản lượng khai thác thực tế của các Tổ chức, cá nhân khai thác cát lòng sông; ngăn chặn gian lận thương mại trong xuất khẩu cát lòng sông; rà soát và ban hành văn bản hướng dẫn việc xử lý và phương tiện vận chuyển bị tạm giữ Bộ Quốc phòng,

Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh (Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển) kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả xuất khẩu lậu cát lòng sông qua biên giới, đặc biệt

là thông qua đường biển Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật về hình sự đối với các hành vi, thăm dò, khai thác, vận chuyển, buôn bán khoáng sản trái phép gây hậu quả nghiêm trọng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với các đơn vị khai thác, nạo vét, khơi thông luồng gây sạt lở bờ sông, đe dọa an toàn đê điều; phòng, chống và khắc phục tình trạng sạt lở bờ sông

Đối với chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: Ban hành theo thẩm quyền văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ và quản lý hoạt động khai thác cát lòng sông tại địa phương; Khoanh định và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khu vực cấm hoạt động cát lòng sông; quyết định khu vực không đấu giá quyền khai thác cát lòng sông theo thẩm quyền; Lập, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng cát lòng sông của địa phương theo quy định của Chính phủ; Công nhận chỉ tiêu tính trữ lượng cát lòng sông; phê duyệt trữ lượng cát lòng sông; Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép khai thác

Trang 24

cát lòng sông, Giấy phép khai thác tận thu cát lòng sông; chấp thuận trả lại Giấy phép khai thác cát lòng sông; Tổ chức đấu giá quyền khai thác cát lòng sông thuộc thẩm quyền; Báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản ở trung ương về tình hình hoạt động khai thác cát lòng sông trên địa bàn; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp

xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, cát lòng sông chưa khai thác, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội tại khu vực có khai thác cát lòng sông; Báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp tình hình hoạt động cát lòng sông trên địa bàn; Thanh tra, kiểm tra, xử

lý vi phạm pháp luật về cát lòng sông theo thẩm quyền

Thứ ba, các hoạt động nhằm triển khai hiệu quả quy định pháp luật về khai

thác cát lòng sông vào trong đời sống thực tiễn Đây là hoạt động cần phát huy vai trò chủ động, tích cực của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, bởi lẽ, đây là các hoạt động có tính chất “xúc tác” thúc đẩy cho các quy định của pháp luật về khai thác cát lòng sông được triển khai hiệu quả trong thực tiễn Các hoạt động này bao gồm:

- Tuyên truyền phổ biến pháp luật về khai thác cát lòng sông cho các chủ thể

có liên quan Hoạt động này cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, với nhiều hình thức đa dạng, dễ hiểu Để hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật khai thác cát lòng sông hiệu quả cần có phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương cũng như sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội Kết quả của tuyên truyền phổ biến pháp luật khai thác cát lòng sông góp phần thay đổi từng bước nhận thức của các chủ thể có liên quan, nhất là tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác cát lòng sông

- Thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác cát lòng sông nhằm phát hiện, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật phát sinh trong quá trình khai thác cát lòng sông Công tác thanh tra về khai thác cát sông được thực hiện trên cơ sở Luật Khoáng sản năm 2010, Luật Thanh Tra năm 2010, Nghị định hướng dẫn Luật Thanh Tra năm 2010 và Thông tư số 51/2015/TT-BTNMT hướng dẫn một số nội

Trang 25

dung thanh tra chuyên ngành khoáng sản Theo đó, công chức thuộc Bộ Tài nguyên

và Môi trường, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thanh tra đối với Tổ chức, cá nhân được phép thăm dò và khai thác cát lòng sông; các tổ chức, cá nhân khác có liên quan Đối với hoạt động kiểm tra việc thực hiện pháp luật khai thác cát lòng sông, Ủy ban nhân dân quyết định thành lập Đoàn Kiểm tra liên ngành thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khai thác cát lòng sông trên địa bàn mình quản lý Thành phần chính của Đoàn kiểm tra liên ngành gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương, Xây dựng, Giao thông vận tải, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công an Đoàn Kiểm tra liên ngành cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã có trách nhiệm xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, xử lý, ngăn chặn, khai thác cát lòng sông trái phép trên địa bàn quản lý Trong kiểm tra về khai thác cát thì Công an giữa vai trò quan trọng, là mũi nhọn tấn công trấn áp tội phạm trong khai thác, kinh doanh cát và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tăng cường kiểm tra, xử lý đối với các hoạt động khai thác cát trái phép theo đúng quy định của pháp luật

- Giám sát việc thực hiện pháp luật khai thác cát lòng sông, pháp luật hiện hành quy định tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép khai thác chịu sự giám sát của người dân địa phương tại khu vực được cấp phép khai thác theo Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 158/ND-CP Tổ chức, cá nhân khai thác cát lòng sông phải thông báo nội dung, khối lượng; kế hoạch, chương trình thực hiện các công việc, các hạng mục công trình hỗ trợ đến Ủy ban nhân dân cấp xã; thông báo công khai đến tổ dân phố/thôn/bản để người dân nơi có khoáng sản cử đại diện tham gia giám sát quá trình thực hiện Ngoài ra, việc khai thác cát lòng sông cũng như quản lý khai thác, thực thi pháp luật về khai thác cát được đặt dưới sự giám sát và phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trên cơ sở Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015; Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị

về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt

Trang 26

Nam về chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường, khai thác tài nguyên; và Hội đồng nhân dân các cấp giám sát công tác quản lý, khai thác cát tại địa phương

- Xử lý vi phạm pháp luật trong khai thác cát lòng sông Xử lý vi phạm là chế tài quan trọng để thực thi pháp luật liên quan đến hoạt động khoáng sản và khai thác cát lòng sông nói riêng Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật trong khai thác cát lòng sông, cụ thể hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, được áp dụng theo Nghị định số 33/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước

và khoáng sản Hành vi vi phạm pháp luật trong khai thác cát lòng bị xử phạt vi phạm hành hành chính một trong các hình thức: Cảnh cáo; Phạt tiền (mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản là 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức); tước quyền sử dụng giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản từ 01 tháng đến 12 tháng Khi áp dụng biện pháp xử lý, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân

vi phạm để áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung sau: tước quyền sử dụng giấy phép thăm dò, khai thác từ 01 tháng đến 24 tháng; đình chỉ hoạt động thăm dò, khai thác từ 01 tháng đến 12 tháng; tịch thu tang vật, mẫu vật là khoáng sản, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính Thêm vào đó, đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc thực hiện đầy đủ biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, các biện pháp bảo vệ cát chưa khai thác, các giải pháp phục hồi môi trường khu vực khai thác; Thực hiện các giải pháp đưa các khu vực đã khai thác vượt ra ngoài phạm vi được phép khai thác về trạng thái an toàn; Buộc phải khai thác đúng phương pháp khai thác; Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường, hư hỏng hạ tầng kỹ thuật do hành vi khai thác vượt công suất gây ra; Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành

vi vi phạm gây ra; Buộc giao nộp mẫu vật, thông tin về khoáng sản cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về khoáng sản; Buộc dỡ bỏ, di dời các vật gây cản

Trang 27

trở dòng chảy; Buộc di chuyển máy móc, thiết bị, tài sản ra khỏi khu vực khai thác cát; Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; Buộc nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ khoản tiền sử dụng thông tin về khai thác cát theo thông báo của cơ quan quản lý

1.2.2.2 Thực thi pháp luật của tổ chức, cá nhân được quyền khai thác cát lòng sông theo giấy phép thông qua đấu giá

Để triển khai quyền khai thác cát lòng sông thông qua đấu giá, nhiều địa phương đã phê duyệt danh mục khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản cũng như kế hoạch đấu giá như: thành phố Hà Nội, Thanh Hóa, Yên Bái, Thái Nguyên, Đăk Nông, Đồng Tháp, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Đồng Nai, Tây Ninh, Tiền Giang, Long An, Lâm Đồng, Bình Thuận, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu Bước đầu đã có một số tỉnh tổ chức đấu giá thành công như: Quảng Bình đấu giá quyền khai thác khoáng sản 03 mỏ cát làm vật liệu xây dựng thông thường với tổng

số tiền là 1.382.290.000 đồng; Kon Tum đấu giá quyền khai thác khoáng sản 09 điểm mỏ cát, sỏi trên lòng sông Đăk Bla, thành phố Kon Tum với tổng số tiền là 2.183.900.000 đồng; Quảng Ngãi đấu giá quyền khai thác khoáng sản một số điểm

mỏ với tổng số tiền là 5,142 tỷ đồng Các tỉnh, thành phố khác đang lập kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản để triển khai trong năm 2015 như: Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, 20

Khi đã được cấp phép, tổ chức, cá nhân được cấp phép bằng hành vi pháp lý chủ động, tích cực của mình, các chủ thể này sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong khai thác cát lòng sông Cơ sở để xác định việc thực thi pháp luật của tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác cát lòng sông là Giấy phép

đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong giấy phép này, cơ quan nhà nước

đã xác định rõ phạm vi, không gian mà tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác cát lòng sông thực hiện hành vi khai thác cát lòng sông Các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác cát lòng sông được xác định

20 Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo về công tác quản lý nhà nước về khoáng sản năm 2014, 6 tháng

đầu năm 2015 và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2015, Hà Nội, ngày 20/07/2015

Trang 28

theo quy định của pháp luật về khai thác cát lòng sông Những vấn đề trọng yếu cần quan tâm trong việc theo dõi, kiểm tra việc thực thi pháp luật khai thác cát lòng sông của tổ chức, cá nhân bao gồm:

- Các khả năng thực hiện hành vi lạm dụng khai thác vượt quá phạm vi giấy phép khai thác cát lòng sông đã được cấp

- Không tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn khai thác cát đã đăng kí với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Không thực hiện cam kết bảo vệ môi trường khi thực hiện việc khai thác cát lòng sông; cản trở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội có thẩm quyền thực hiện việc giám sát việc thực hiện pháp luật về khai thác cát trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao

Trang 29

TỔNG KẾT CHƯƠNG 1

Khoáng sản nói chung, cát lòng sông nói riêng là nguồn nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành nghề, nhất là các ngành công nghiệp Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu sử dụng cát lòng sông để xây dựng hệ thống hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa là rất cần thiết Chính vì thế, hoạt động khai thác khoáng sản là hiện tượng tất yếu trong quá trình phát triển

Có một thực tế là, hoạt động khai thác cát lòng sông có tác động trực tiếp đến môi trường, nhất là khả năng phá vỡ, đảo ngược lòng, bờ, bãi sông, có thể gây ra hiện tượng sạt lở, biến đổi môi trường sinh thái, đa dạng sinh học xung quanh khu vực khai thác cát lòng sông Từ hệ quả biến đổi này, hoạt động khai thác cát lòng sông không chỉ làm biến đổi môi trường mà còn tạo ra nguy cơ đe dọa quyền sở hữu tài sản của người dân ở các lưu vực sông, bãi sông Thực tế này đặt ra đòi hỏi pháp luật điều chỉnh hoạt động khai thác cát lòng sông phải bảo đảm hài hòa quyền lợi toàn dân (do khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là chủ đại diện), quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác cát lòng sông, quyền lợi của tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác cát lòng sông và quyền lợi của người dân xung quanh khu vực được cấp phép khai thác

Thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông là tổng thể các hành vi pháp lý của tổ chức, cá nhân cũng như của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản

lý hoạt động khai thác cát lòng sông nhằm cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong thực tiễn Kết quả thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông hướng tới mục tiêu vừa bảo đảm khai thác hợp lý, tiết kiệm nguồn cát lòng sông phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, vừa góp phần bảo vệ môi trường gắn với

Trang 30

giải quyết việc làm cho người dân vùng khai thác có như vậy việc cho phép khai thác cát lòng sông mới bảo đảm được yêu cầu phát triển bền vững

Trang 31

Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT KHAI THÁC CÁT

LÒNG SÔNG Ở TỈNH BẾN TRE

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀM NĂNG, NHU CẦU KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG Ở TỈNH BẾN TRE

Tỉnh Bến Tre nằm ở hạ lưu và cuối nguồn sông Mê Công thuộc Đồng bằng sông Cửu Long; có 65km bờ biển, cao độ địa hình của Bến Tre trung bình từ 1 - 2m

so với mực nước biển và 10% diện tích đất có cao độ thấp hơn 1m Bến Tre với tổng diện tích tự nhiên 236.062 ha, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang; phía Tây và phía Tây Nam giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp Biển Đông Nội địa của tỉnh xem như vùng đất ngập nước rộng lớn với 04 con sông lớn chảy qua địa phận là Hàm Luông, Ba Lai, Cổ Chiên và Sông Tiền (thuộc hệ thống sông Mê Công) đổ ra Biển Đông và mạng lưới các nhánh sông, kênh, rạch chằn chịt ước tổng khoảng 6.000km Kênh, rạch được nối với một trong những sông chính, và chiều dài trung bình khoảng 1-2km Có hơn 60 kênh, rạch có chiều rộng trên 50m Vận tải đường sông góp phần thông thương hàng hóa trong và ngoài tỉnh Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và chịu ảnh hưởng của biển Hàng năm khí hậu có hai mùa khá rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Tổng dân số năm 2016 khoảng 1.26 triệu người Kinh tế tỉnh Bến Tre tăng trưởng bình quân 7,3%/năm Thế mạnh kinh tế chủ yếu là trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi; dịch vụ, du lịch chưa phát triển so với khu vực Giai đoạn 2010 đến 2016, cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có bước chuyển dịch theo hướng tích cực, tỉ

Trang 32

http://congthuongbentre.gov.vn/home/tong-quan-trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần từ 45% (năm 2011) còn gần 38% (năm 2015) và tỉ trọng công nghiệp tăng từ 14% lên gần 18% Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 gấp 1,66 lần năm 2010 (Cục thống kê tỉnh Bến Tre, 2017) Tuy nhiên, Bến Tre vẫn còn là tỉnh nghèo, trình độ phát triển kinh tế còn thấp Thu nhập bình quân đầu người đạt 34,7 triệu đồng/năm (USD 1.577), đứng thứ 11/13 tỉnh, thành phố trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và bằng 50% so bình quân chung cả nước (Cổng thông tin Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, 2016)

Giai đoạn năm 2016 - 2020, tỉnh Bến Tre đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh

tế (GRDP) bình quân của tỉnh đạt 7,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2020 đạt 48,6 triệu đồng Trong đó tập trung đầu tư phát triển vào các lĩnh vực trọng tâm như:

- Đẩy mạnh xúc tiến và thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp; tập trung hỗ trợ phát triển những doanh nghiệp có quy mô lớn; triển khai thực hiện Đề

án về tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025; Ưu tiên nguồn vốn ngân sách giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng

hạ tầng khu công nghiệp Phú Thuận huyện Bình Đại; rà soát, điều chỉnh quy hoạch ngành, quy hoạch các khu/cụm công nghiệp một cách hợp lý; trước mắt là tiến hành khảo sát và điều chỉnh lại vị trí cụm công nghiệp Phú Hưng thành phố Bến Tre, đồng thời nghiên cứu phương án mở rộng diện tích cụm công nghiệp Phong Nẫm huyện Giồng Trôm

- Phát triển công nghiệp chế biến nông sản của tỉnh, công nghiệp phụ trợ, sản phẩm, hàng hóa có hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng cao; Xây dựng một số chuỗi giá trị sản phẩm công nghiệp chủ lực để tập trung đầu tư trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu của địa phương, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường Nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025”, trong đó chú trọng xây dựng các mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới; khuyến khích nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất; thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

Trang 33

- Tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ làm động lực chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp tục đầu tư để hai thế mạnh là kinh tế vườn và kinh tế thủy sản phát triển đi vào chiều sâu, xây dựng và hoàn chỉnh các kết cấu hạ tầng quan trọng về giao thông, cấp điện, nước, thông tin liên lạc; nâng cao trình độ học vấn, đào tạo lao động để đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tiếp tục cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản lý kinh tế - xã hội, quản

và tài nguyên cấp 333 (tiêu chí phân cấp tài nguyên khoáng sản rắn theo Thông tư số 60/2017/TT-BTNMT) là 181.518.152 m3 Các số liệu về khoáng sản cho thấy chỉ có tài nguyên cát sông là khoáng sản chính có giá trị và tiềm năng lớn, là nguồn vật liệu san lấp phục vụ nhu cầu của tỉnh và khu vực (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre, 2014).22 Năm

2014, Hội đồng nhân dân tỉnh đã thông qua kết quả thăm dò các mỏ và số liệu khoan khảo sát qua công tác lập điều chỉnh quy hoạch khai cát lòng sông tỉnh Bến Tre Kết quả cho thấy tiềm năng thực tế về nguồn cát bồi tụ trong các sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên là rất lớn Tổng trữ lượng 122 còn lại khoảng 58.342.580 m3 Nhu cầu vật liệu san lấp các dự án toàn tỉnh Bến Tre trong giai đoạn

2016 - 2020 (5 năm) là 19.191.000 m3, trung bình mỗi năm khoảng 4 triệu m3 Nhu cầu cát san lấp đối với các lĩnh vực khác (nâng cao ruộng vườn, bán cho các tỉnh kế cận, phục vụ các công trình dân sinh …) lấy theo sản lượng bình quân trong nhiều năm qua khoảng 1 triệu m3/năm và cả giai đoạn 2016 - 2020 dự kiến 5 triệu m3

Dự báo tổng nhu cầu vật liệu san lấp toàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 - 2020 là 25 triệu

22 Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre, Báo cáo Tóm tắt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác

và sử dụng cát lòng sông tỉnh Bến Tre năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Bến Tre, 2014

Trang 34

m3, trung bình 5 triệu m3/năm Các mỏ được cấp phép khai thác với công suất từ nhỏ (250.000 - 300.000 m3/năm) đến lớn (800.000 m3/năm), phổ biến nhất là công suất ở mức trung bình (400.000 - 500.000 m3/năm), khai thác sử dụng phương pháp xáng cạp và bơm hút Nguồn cát khai thác tại tỉnh Bến Tre chủ yếu cung cấp cho nhu cầu làm vật liệu xây dựng nội tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh, Long an, Trà Vinh, Vĩnh Long, 23

Bảng: So sánh nhu cầu tiêu thụ cát và khả năng đáp ứng về trữ lượng

Giải pháp thực hiện

Từ năm 2014

Từ năm 2016

Theo Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 13/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020

và Quyết định số 974/QĐ-UBND ngày 27/04/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2020 thì tỉnh Bến Tre đang đẩy nhanh phát triển tỉnh theo hướng công nghiệp nên nhu cầu sử dụng cát để xây dựng, phát triển hệ thống hạ tầng phục vụ quy hoạch phát triển kinh

tế - xã hội tỉnh theo hướng công nghiệp thì Bến Tre đang chuyển mạnh theo định hướng phát triển công nghiệp Do vậy, nhu cầu phát triển hệ thống hạ tầng, nhất là

hạ tầng khu công nghiệp, khu dân cư ngày càng tăng Để tạo lập hạ tầng cần một lượng lớn cát, sỏi để san lấp, tạo lập mặt bằng cho xây dựng nhà máy, xí nghiệp Điều này có thể dẫn tới việc khai thác quá mức hoặc quá tập trung vào một địa điểm

có thể làm ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái Ngoài ra, Nhu cầu cát san lấp đối với các lĩnh vực khác (nâng cao ruộng vườn, bán cho các tỉnh kế cận, phục vụ các công trình dân sinh …) lấy theo sản lượng bình quân trong nhiều năm qua khoảng 1 triệu m3/năm và cả giai đoạn 2016-2020 dự kiến 5 triệu m3 Dự báo tổng

23 Sở Tài Nguyên và Môi trường, Báo cáo tóm tắt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác và sử

dụng tài nguyên cát lòng sông tỉnh Bến Tre năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Bến Tre, 2014

Trang 35

nhu cầu vật liệu san lấp toàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 - 2020 là 25 triệu m3, trung bình 5 triệu m3/năm Các mỏ được cấp phép khai thác với công suất từ nhỏ (250.000 - 300.000 m3/năm) đến lớn (800.000 m3/năm), phổ biến nhất là công suất

ở mức trung bình (400.000 - 500.000 m3/năm), khai thác sử dụng phương pháp xáng cạp và bơm hút Nguồn cát khai thác tại tỉnh Bến Tre chủ yếu cung cấp cho nhu cầu làm vật liệu xây dựng nội tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh, Long an, Trà Vinh, Vĩnh Long,

Giai đoạn 2016 – 2020 dự báo tổng nhu cầu vật liệu san lấp toàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 - 2020 là 25 triệu m3, trung bình 5 triệu m3/năm Cụ thể là:24

- Nhu cầu vật liệu san lấp các dự án toàn tỉnh Bến Tre trong giai đoạn

2016-2020 (5 năm) là 19.191.000 m3

, trung bình mỗi năm khoảng 4 triệu m3

- Nhu cầu cát san lấp đối với các lĩnh vực khác (nâng cao ruộng vườn, bán cho các tỉnh kế cận, phục vụ các công trình dân sinh …) lấy theo sản lượng bình quân trong nhiều năm qua khoảng 1 triệu m3/năm và cả giai đoạn 2016-2020 dự kiến 5 triệu m3

2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG TẠI TỈNH BẾN TRE

Nhìn chung trong thời gian 05 năm trở lại đây (2013 - 2017) quản lý nhà nước thực thi pháp luật về khai thác cát tỉnh Bến Tre được quan tâm nhiều hơn, cụ thể có thể thấy là: Chỉ thị số 02/2013/CT-UBND ngày 04 tháng 3 năm 2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản; Ban chỉ đạo quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tỉnh Bến Tre được thành lập để chỉ đạo, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc và tình huống phát sinh trong quản lý khai thác cát lòng sông; Kế hoạch 3304/KH-UBND phối hợp thực hiện giữa các sở, ngành và địa phương, nhiệm vụ được triển khai thực hiện rộng khắp trên địa bàn tỉnh Kế hoạch liên tịch số 09/KHPH-LT của Công an 04 tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long xây dựng kế hoạch phối hợp, trao đổi thông tin liên lạc, tuần tra, kiểm tra để đấu

24

Sở Tài Nguyên và Môi trường, Báo cáo tóm tắt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác và sử

dụng tài nguyên cát lòng sông tỉnh Bến Tre năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Bến Tre, 2014.

Trang 36

tranh phòng, chống tội phạm khai thác cát trái phép Trên cơ sở các báo cáo kết quả kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm và các văn bản Nhà nước có liên quan khai thác cát lòng sông, đánh giá kết quả việc thực thi pháp luật trên địa bàn tỉnh Bến Tre

trong thời gian qua như sau:

2.2.1 Thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường

2.2.1.1 Hoạt động ban hành văn bản pháp luật cụ thể hóa Luật Khoáng sản

và các văn bản hướng dẫn thi hành để điều chỉnh việc khai thác cát lòng sông của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tỉnh Bến Tre

Công tác ban hành văn bản pháp luật cụ thể hóa Luật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn thi hành là nhiệm vụ được quan tâm Qua khảo sát thực tiễn ban hành văn bản cho thấy, các cấp chính quyền tỉnh Bến Tre đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh quan hệ pháp luật phát sinh trong hoạt động khai thác cát lòng sông Cụ thể là: Công tác quản lý nhà nước thực thi pháp luật về cát lòng sông được các sở, ngành, địa phương thực hiện; xây dựng được Quy chế phối hợp quản lý khai thác khoáng sản; ban hành quy hoạch khai thác cát, vùng cấm khai thác; một số địa phương như thành phố Bến Tre, huyện Thạnh Phú, huyện Giồng Trôm và huyện Bình Đại có phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; công tác quản lý cát sông chưa khai thác được giao nhiệm vụ chính cho địa phương thuận tiện, kịp thời phát hiện xử lý vi phạm; ban hành được bộ thủ tục hành chính khai thác khoáng sản trong đó có khai thác cát lòng sông; tăng mức độ đấu tranh chống tội phạm khai thác cát: công tác kiểm tra được duy trì thường xuyên, hình thức mật phục, cấp đường dây nóng; phối hợp liên tỉnh của Cảnh sát môi trường tuần tra, xử

lý các trường hợp khu vực giáp ranh giữa các tỉnh

a Ban hành quy định về quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản cát lòng sông tỉnh Bến Tre

Văn bản đầu tiên điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản cát lòng sông là Nghị quyết số 11/2009/NQ-HĐND ngày 22/7/2009 về việc quy

Ngày đăng: 30/12/2020, 19:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w