1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc vai trò của sự hợp lý trong dự toán, sự cam kết với mục tiêu dự toán và sự phản hồi dự toán

102 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Tóm tắt: Nghiên cứu này kiểm định tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự hợp lý trong dự toán và sự cam kết với mục tiêu dự toán; sự tác độn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH



PHAN MỸ DUYÊN ĐÌNH HÙNG

TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAM GIA VÀO DỰ TOÁN

NGÂN SÁCH ĐẾN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC: VAI TRÒ CỦA

SỰ HỢP LÝ TRONG DỰ TOÁN, SỰ CAM KẾT VỚI MỤC

TIÊU DỰ TOÁN VÀ SỰ PHẢN HỒI DỰ TOÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh, Năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH



PHAN MỸ DUYÊN

TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAM GIA VÀO DỰ TOÁN

NGÂN SÁCH ĐẾN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC: VAI TRÒ CỦA

SỰ HỢP LÝ TRONG DỰ TOÁN, SỰ CAM KẾT VỚI MỤC

TIÊU DỰ TOÁN VÀ SỰ PHẢN HỒI DỰ TOÁN

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN PHONG NGUYÊN

Tp Hồ Chí Minh, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Quá trình thực hiện luận văn với đề tài: “Tác động của sự tham gia vào dự toán

ngân sách đến kết quả công việc: Vai trò của sự hợp lý trong dự toán, sự cam kết với mục tiêu dự toán và sự phản hồi dự toán” tôi thực hiện dựa trên kiến thức

đã tích lũy được trong quá trình học tập, cùng với sự trao đổi, hướng dẫn và góp ý của giáo viên hướng dẫn

Tôi xin cam đoan rằng nội dung luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi Các

số liệu kết quả có đề cập đến trong luận văn đều có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng Các kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

Luận văn này được thực hiện dưới sự hướng dẫn và góp ý của TS Nguyễn Phong Nguyên

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng… năm 2018

Phan Mỹ Duyên

Trang 4

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục Lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các hình vẽ

Tóm tắt: 1

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 2

2 Mục tiêu nghiên cứu 6

3 Câu hỏi nghiên cứu 7

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 7

5 Tóm tắt phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9

7 Kết cấu luận văn 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 11

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài 11

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu tại Việt Nam 13

1.3 Khe hổng nghiên cứu 15

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 17

2.1 Khái niệm 17

2.1.1 Dự toán ngân sách 17

2.1.2 Mô hình dự toán 20

2.1.2.1 Mô hình ấn định thông tin từ trên xuống 20

2.1.2.2 Mô hình thông tin phản hồi 21

Trang 5

2.1.2.3 Mô hình thông tin từ dưới lên 22

2.1.3 Sự tham gia vào dự toán ngân sách 23

2.1.4 Sự hợp lý trong dự toán 25

2.1.5 Sự cam kết với mục tiêu dự toán 26

2.1.6 Kết quả công việc 27

2.1.7 Phản hồi dự toán 27

2.2 Lý thuyết nền 28

2.2.1 Lý thuyết về hiệu suất công việc 28

2.2.2 Lý thuyết dự phòng (Contingency Theory) 29

2.2.3 Lý thuyết đại diện (Agency Theory) 30

2.2.4 Lý thuyết công bằng trong tổ chức (Organizational Justice Theory) 31

2.3 Giả thuyết nghiên cứu 33

2.3.1Mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán và sự hợp lý trong dự toán 33

2.3.2Mối quan hệ giữa sự hợp lý trong dự toán và sự cam kết với mục tiêu dự toán 35 2.3.3Mối quan hệ giữa sự cam kết với mục tiêu dự toán và kết quả công việc 36

2.3.4Mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự phản hồi dự toán 37 2.3.5Mối quan hệ giữa sự phản hồi dự toán đến kết quả công việc 37

2.4 Mô hình nghiên cứu 39

Kết luận chương 2 40

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

3.1 Quy trình nghiên cứu 41

3.2 Mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu 42

3.2.1Nghiên cứu sơ bộ 43

3.2.2Nghiên cứu chính thức 44

3.2.3Thiết kế mẫu nghiên cứu 44

3.3 Thang đo 45

3.3.1 Quá trình xây dựng thang đo 45

3.3.2 Thang đo sự tham gia vào dự toán ngân sách 45

Trang 6

3.3.3 Thang đo sự hợp lý trong dự toán 46

3.3.4 Thang đo sự cam kết với mục tiêu dự toán 47

3.3.5 Thang đo sự phản hồi dự toán 48

3.3.6 Thang đo kết quả công việc 49

3.4 Kỹ thuật sử dụng trong phân tích dữ liệu 49

Kết luận chương 3 50

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51

4.1 Thống kê mô tả 51

4.2 Đo lường thang đo và độ tin cậy 55

4.3 Kết quả kiểm định các giả thuyết 63

4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 67

4.4.1 So sánh kết quả nghiên cứu với đề tài trong nước 67

4.4.2 So sánh kết quả nghiên cứu với đề tài nước ngoài 67

Kết luận chương 4 69

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 70

5.1 Những nội dung chính của nghiên cứu 70

5.2 Kết luận nghiên cứu 70

5.3 Hàm ý lý thuyết 71

5.4 Hàm ý thực tiễn 72

5.5 Hạn chế của đề tài 74

Kết luận chương 5 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

kiểm soát

19

Trang 8

1

Tóm tắt:

Nghiên cứu này kiểm định tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự hợp lý trong dự toán và sự cam kết với mục tiêu dự toán;

sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua

sự phản hồi dự toán của các nhà quản trị ở các doanh nghiệp tại Việt Nam Mô hình

và các giả thuyết nghiên cứu đã được kiểm định bằng phần mềm Smart PLS3 với 270 phản hồi phù hợp từ các nhà quản trị cấp cơ sở và nhà quản trị cấp trung có ít nhất 2 năm kinh nghiệm trong lập dự toán ngân sách và đang làm việc trong các doanh nghiệp tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) sự tham gia vào dự toán ngân sách có tác động dương đến sự hợp lý trong dự toán; (2) sự hợp lý trong dự toán có tác động dương đến sự cam kết với mục tiêu dự toán; (3) sự cam kết với mục tiêu dự toán có tác động dương đến kết quả công việc; (4) sự tham gia vào dự toán ngân sách

có tác động dương đến sự phản hồi dự toán; (5) sự phản hồi dự toán hầu như không

có tác động đến kết quả công việc Kết quả nghiên cứu đem lại một số hàm ý lý thuyết

và hàm ý thực tiễn cho các nhà quản trị của các doanh nghiệp tại Việt Nam với mục tiêu chung là nâng cao kết quả công việc và hiệu suất quản lý của nhà quản trị trong điều kiện môi trường kinh doanh khắc nghiệt

Key terms:

Budgeting; Budgetary participation; Budget fairness; Budget goal commitment; Budgetary feedback; Work performance

Trang 9

2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày được

mở rộng như việc Việt Nam hiện là thành viên của các hiệp hội trong khu vực cũng như quốc tế: ASEAN, WTO, TPP, APEC, ASEM… Với dòng chảy hội nhập kinh tế quốc tế này Việt Nam có được nhiều cơ hội để phát triển cũng như phải đối mặt với nhiều thách thức, để có thể trụ vững trên thị trường đầy cạnh tranh gay gắt hiện tại đòi hỏi các doanh nghiệp phải chuẩn bị đầy đủ cả về nhân lực và vật lực Với sự phát triển này đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện công tác tổ chức hoạt động trong kinh doanh của mình để hòa nhập vào dòng chảy chung Doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi không dự đoán và kiểm soát đúng hướng đi của đơn vị mình, điều này dẫn đến việc doanh nghiệp phát triển lệch hướng và mất cân bằng trong tương lai Dự toán ngân sách là một công cụ hữu hiệu để hỗ trợ các doanh nghiệp trong công tác hoạch định và kiểm soát các chỉ tiêu định hướng mà doanh nghiệp cần đạt được

Từ giữa thế kỷ 19, các nhà quản trị trên thế giới bắt đầu có sự chú trọng đến quá trình lập và thực hiện dự toán ngân sách tại doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp theo nghiên cứu của tác giả Shields và Shields (1998) Nhờ

sự quan tâm của các nhà quản trị đến dự toán ngân sách nên các nhà nghiên cứu cũng bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này và chủ yếu tập trung sâu vào các tác động của các yếu tố có mối quan hệ đến chủ đề dự toán ngân sách đến sự gia tăng trong kết quả công việc Theo tác giả Murray (1990) cho thấy rằng sự tham gia vào dự toán ngân sách gia tăng dẫn đến kết quả công việc được cải thiện thông qua hiệu quả của

nó dựa trên sự cam kết với mục tiêu dự toán Tác giả Brownell có nhiều nghiên cứu

về sự tham gia vào dự toán ngân sách như trong nghiên cứu Brownell (1980) nghiên cứu về sự tác động sự tham gia vào dự toán ngân sách đến hiệu quả của tổ chức thông qua các yếu tố điều kiện trung gian (các yếu tố điều kiện trung gian như các biến về văn hóa, các biến về tổ chức, các biến về cá nhân, các biến về năng lực lãnh đạo);

Trang 10

3

trong nghiên cứu của tác giả Brownell (1982) tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự hiệu quả của tổ chức dưới sự tác động của dữ liệu kế toán để đánh giá hiệu suất chung của tổ chức; trong nghiên cứu của hai tác giả Brownell và McInnes (1986) nghiên cứu về tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc và tác động này thông qua sự tác động của động lực cá nhân

Trong nghiên cứu của tác giả Wentzel (2002) nghiên cứu đường dẫn sự tham gia vào dự toán ngân sách tác động đến kết quả công việc thông qua sự cam kết với mục tiêu dự toán và bổ sung thêm sự tác động của sự hợp lý trong dự toán vào đường dẫn làm biến trung gian giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự cam kết với mục tiêu dự toán; trong nghiên cứu của tác giả Maiga (2005) nghiên cứu đường dẫn

từ sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự cam kết với mục tiêu dự toán Trong nghiên cứu của tác giả Maiga và Jacobs (2007) nghiên cứu

sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách lên khả năng thiếu hụt ngân sách trong quá trình xây dựng dự toán thông qua sự hợp lý trong dự toán và sự cam kết với mục tiêu dự toán Bên cạnh đó, một số bài nghiên cứu về lĩnh vực hành vi tổ chức chứng minh một mối quan hệ tích cực giữa sự hợp lý trong phân phối và kết quả công việc trong nghiên cứu của tác giả Lind và Tyler (1988) Trong nghiên cứu còn tìm ra còn cho thấy sự hợp lý trong quy trình dẫn đến hiệu suất công việc được cải thiện thông qua hiệu quả của sự hợp lý khi cá nhân chấp nhận các mục tiêu được giao và mối quan hệ giữa sự tham gia và sự hợp lý được giải thích tại sao nhận thức về sự hợp lý có thể được tăng cường bởi sự tham gia đi kèm theo mô hình tự quan tâm và

mô hình giá trị nhóm Trong một số nghiên cứu tại Việt Nam về lĩnh vực hành vi tổ chức cũng có nghiên cứu của Trần Thị Kim Dung (2005) nghiên cứu về Nhu cầu, sự thỏa mãn của nhân viên về mức độ gắn kết đối với tổ chức và Trần Thị Kim Dung (2008) nghiên cứu về Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức và phong cách lãnh đạo đến kết quả làm việc của nhân viên và lòng trung thành của họ đối với tổ chức

Trong một số nghiên cứu đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự hợp lý (sự hợp lý trong quy trình và sự hợp lý trong phân phối) và sự cam kết với mục tiêu trong

Trang 11

4

nghiên cứu của các tác giả Lind, Kanfer, và Earley (1990) Trong nghiên cứu của tác giả T Libby (1999) cho thấy sự ảnh hưởng của sự tham gia đóng góp và giải thích đến hiệu suất công việc trong quá trình xây dựng thiết lập ngân sách Trong nghiên cứu của các tác giả Korsgaard, Schweiger, và Sapienza (1995) cho thấy vai trò của

sự hợp lý trong quá trình thiết lập ngân sách trong mối quan hệ với việc xây dựng cam kết với mục tiêu dự toán và niềm tin vào quyết định chiến lược của tổ chức Ngoài ra, kết quả công việc của cá nhân sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi họ có sự cam kết với mục tiêu dự toán được đưa ra trong nghiên cứu của các tác giả Locke, Latham,

và Erez (1988) Trong nghiên cứu này tác giả còn đưa ra lý thuyết thiết lập mục tiêu cũng là một trong các lý thuyết nền quan trọng trong xây dựng dự toán Bài nghiên cứu của tác giả còn đưa ra tác động của sự hợp lý trong phân phối với kết quả công việc của cá nhân có thể không tác động trực tiếp mà tác động gián tiếp thông qua sự cam kết với mục tiêu dự toán Trong nghiên cứu của hai tác giả Carroll Jr và Tosi (1970) nghiên cứu về các đặc điểm của mục tiêu và các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình quản lý mục tiêu; bài nghiên cứu này còn đưa ra mối tương quan giữa sự phản hồi dự toán tích cực với việc đạt được mục tiêu và thông qua đó làm tăng kết quả công việc Theo nghiên cứu của tác giả Kenis (1979) cũng nghiên cứu về sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc, trong nghiên cứu tác giả còn nghiên cứu thêm về sự phản hồi dự toán trong quá trình thiết lập ngân sách và sự tác động của sự phản hồi dự toán đến sự cam kết với mục tiêu dự toán và kết quả công việc

Hiện nay có rất nhiều bài nghiên cứu nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả công việc của nhân viên Những khía cạnh, đặc điểm của những công việc khác nhau của công việc và nhiệm vụ của từng cá nhân nhận ra vai trò cụ thể của mình trong tổ chức Theo lý thuyết mục tiêu của các tác giả Locke và cộng sự (1988) cho thấy rằng các mục tiêu cụ thể và khó đạt được dẫn đến kết quả công việc cao hơn các mục tiêu có xu hướng khó hiểu hoặc mơ hồ Một sự hợp lý trong quy trình dự toán và làm tăng niềm tin cá nhân rằng mục tiêu có thể đạt được Trong nhiều năm gần đây dự toán ngân sách được các nhà quản trị trong các doanh nghiệp tại Việt Nam quan tâm và thực hiện Việc thực hiện công tác xây dựng dự toán ngân sách tại đơn

Trang 12

5

vị giúp cho các nhà quản trị có định hướng cụ thể trong kế hoạch kinh doanh và sản xuất thực tế của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp sẽ có cách xây dựng dự toán ngân sách riêng phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi doanh nghiệp, tuy nhiên công tác thiết lập dự toán có được thực hiện hiệu quả và mang lại sự gia tăng trong kết quả công việc chung của nhân viên và của toàn doanh nghiệp hay không còn phụ thuộc cách thức triển khai và hướng đi của mỗi doanh nghiệp

Trong các nghiên cứu về quá trình xây dựng dự toán ngân sách đã có tài liệu nghiên cứu đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả làm việc trong việc xây dựng dự toán ngân sách như trong nghiên cứu của tác giả Wentzel (2002) đã khám phá đường dẫn từ sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua

sự hợp lý trong dự toán và sự cam kết với mục tiêu dự toán Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam hầu như các đề tài nghiên cứu về dự toán ngân sách đều đi theo hướng ứng dụng liên quan đến việc xây dựng hoặc hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách tại một doanh nghiệp cụ thể như Lê Thu Hằng (2016) nghiên cứu về Xây dựng dự toán ngân sách tại công ty cổ phần thủy sản và XNK Côn Đảo, Nguyễn Trí Minh (2013) nghiên cứu về Hoàn thiện dự toán ngân sách tại Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam, Trần Thị Hiền (2016) nghiên cứu về Hoàn thiện dự toán ngân sách tại Công ty Cổ phần Beton

6 Các đề tài đều đi theo hướng thể hiện quá trình xây dựng dự toán tại một doanh nghiệp, các doanh nghiệp chỉ tập trung đơn thuần vào kế hoạch mà chưa chú trọng lập dự toán ngân sách, từ thực trạng thực tế nêu lên biện pháp khắc phục

Hiện nay tại Việt Nam chỉ có vài nghiên cứu về chủ đề dự toán ngân sách cụ thể là nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Định (2017) có nghiên cứu liên quan đến

sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc dưới sự tác động của phong cách lãnh đạo và sự không rõ ràng trong công việc; nghiên cứu thứ 2 là của tác giả Đinh Nguyễn Trần Quang (2018) nghiên cứu về tác động của sự hợp lý trong dự toán ngân sách đến kết quả công việc của các nhà quản trị ở các doanh nghiệp tại Việt Nam Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có bài nghiên cứu nào nghiên cứu về chủ đề dự toán trong đó nghiên cứu về sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự hợp lý trong dự toán và sự cam kết với mục tiêu dự

Trang 13

6

toán; bên cạnh đó cũng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự phản hồi dự toán

Vì vậy tác giả đã chọn đề tài “Tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách

đến kết quả công việc: Vai trò của sự hợp lý trong dự toán, sự cam kết với mục tiêu dự toán và sự phản hồi dự toán” Nhằm nghiên cứu rõ hơn về những tác động

trên để giúp các nhà quản trị có cách nhìn rõ hơn về cách quản lý của mình, chính sách, quy trình hoạt động của doanh nghiệp, cách làm việc với nhân viên, sự tham gia của nhân viên các cấp vào quá trình xây dựng dự toán ngân sách

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của bài nghiên cứu này là xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu nhằm giải thích các biến trong mô hình nghiên cứu đến biến kết quả công việc của nhà quản trị trong thiết lập dự toán ngân sách đồng thời đưa ra bằng chứng thực nghiệm giúp làm rõ vai trò của các đối tượng tham gia vào quá trình thiết lập ngân sách nhằm mang lại kết quả công việc cao Bài nghiên cứu còn kiểm định đường dẫn

từ sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự hợp lý của

dự toán và sự cam kết với mục tiêu dự toán trong nghiên cứu của Wentzel (2002) trong điều kiện nghiên cứu ở Việt Nam có đúng hay không Ngoài ra, bài nghiên cứu còn xem xét đến sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự phản hồi dự toán trong điều kiện nghiên cứu ở Việt Nam Để thực hiện được mục tiêu chung của bài nghiên cứu thực hiện các mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

Kiểm định mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách đến sự hợp lý trong dự toán ngân sách tại Việt Nam;

Kiểm định mối quan hệ giữa sự hợp lý trong dự toán ngân sách đến sự cam kết với mục tiêu dự toán tại Việt Nam;

Kiểm định mối quan hệ giữa sự cam kết với mục tiêu dự toán đến kết quả công việc tại Việt Nam;

Trang 14

3 Câu hỏi nghiên cứu

Với mục tiêu làm rõ tác động giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách đến sự hợp lý trong dự toán, sự hợp lý trong dự toán đến sự cam kết với mục tiêu dự toán,

sự cam kết với mục tiêu dự toán đến kết quả công việc, sự tham gia vào dự toán ngân sách đến sự phản hồi dự toán và sự phản hồi dự toán đến kết quả công việc của nhà quản trị trong môi trường các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, để làm đầy khe hổng nghiên cứu cũng như đưa ra những kiến nghị của đề tài thì tác giả đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, mức độ ảnh hưởng của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến sự hợp lý trong dự toán ngân sách tại Việt Nam như thế nào?

Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của sự hợp lý trong dự toán ngân sách đến sự cam kết với mục tiêu dự toán tại Việt Nam như thế nào?

Thứ ba, mức độ ảnh hưởng của sự cam kết với mục tiêu dự toán đến kết quả công việc tại Việt Nam như thế nào?

Thứ tư, mức độ ảnh hưởng của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến sự phản hồi dự toán như thế nào?

Thứ năm, mức độ ảnh hưởng của sự phản hồi dự toán đến kết quả công việc tại Việt Nam như thế nào?

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện thông qua việc thu thập các phản hồi từ các nhà quản trị có kinh nghiệm làm việc và có kinh nghiệm trong lập dự toán tại các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam

Trang 15

Đối tượng khảo sát: các nhà quản trị cấp trung (trưởng/ phó các bộ phận, phòng ban) và cấp cơ sở (tổ trưởng, nhóm trưởng…) có kinh nghiệm làm việc và kinh nghiệm trong thiết lập dự toán ngân sách từ trên 2 năm tại các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam

5 Tóm tắt phương pháp nghiên cứu

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng và đi theo trường phái nghiên cứu thực chứng Đề tài dựa vào một số nghiên cứu trước và các lý thuyết nền như lý thuyết lãnh đạo, lý thuyết đại diện, lý thuyết tâm lý, lý thuyết công bằng trong tổ chức, lý thuyết thiết lập mục tiêu để biện luận mô hình và giải thích mối quan hệ giữa các biến Thang đo được sử dụng trong đề tài tác giả kế thừa từ các nghiên cứu của các tác giả cụ thể là: tác giả Nouri và Parker (1998) với thang đo của sự tham gia vào

dự toán ngân sách, sự hợp lý trong dự toán được dựa trên nghiên cứu của tác giả Wentzel (2002), sự cam kết với mục tiêu dự toán của tác giả Nouri và Parker (1998),

sự phản hồi dự toán được kế thừa từ thang đo của tác giả Kenis (1979) và kết quả công việc được dựa trên thang đo của tác giả Adler và Reid (2008) Nghiên cứu chính thức được thực hiện để thu thập dữ liệu bằng cách tác giả đã gửi email và quản lý kết quả thu thập bằng phần mềm Surveymonkey Đối tượng gửi bảng khảo sát chủ yếu là các nhà quản trị cấp cơ sở và các nhà quản trị cấp trung như trưởng nhóm, trưởng/ phó bộ phận, trưởng/ phó phòng đang làm việc tại Việt Nam và đã có kinh nghiệm trong lập dự toán ngân sách Để đánh giá thang đo, mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu được thu thập cũng như kiểm định các giả thuyết trong

mô hình nghiên cứu, tác giả sử dụng công cụ Smart PLS3 Kết quả kiểm định thang

đo và kết quả nghiên cứu được trình bày trong chương 4 của luận văn này

Trang 16

9

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Đây là nghiên cứu đầu tiên khám phá đường dẫn sự tham gia vào dự toán ngân sáchđến kết quả công việc thông qua sự hợp lý trong dự toán và

sự cam kết với mục tiêu dự toán được kiểm chứng bởi nghiên cứu của tác giả Wentzel (2002) trong điều kiện ở Việt Nam Nghiên cứu này còn là lần đầu nghiên cứu thêm tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự phản hồi dự toán tại môi trường các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam Nghiên cứu này đưa ra bằng chứng thực nghiệm ủng hộ các lý thuyết: lý thuyết thiết lập mục tiêu, lý thuyết về hiệu suất công việc, lý thuyết về lãnh đạo, lý thuyết dự phòng, lý thuyết đại diện, lý thuyết công bằng trong tổ chức

Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản trị công ty nắm được các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả làm việc của nhà quản trị, từ đó xem xét điều chỉnh hành vi lãnh đạo của mình Nghiên cứu của tác giả giúp các nhà quản trị có những bước điều chỉnh trong chính sách phù hợp cho công ty Khi môi trường làm việc, chính sách làm việc, sự rõ ràng, sự hợp lý trong công việc được cụ thể thì sẽ giúp cho nhà quản trị có động lực hoàn thành tốt công việc, làm tăng sự tham gia vào quá trình xây dựng dự toán của công ty Khi nhà quản trị nắm bắt được rõ ràng mục tiêu cần đạt được thì sẽ thúc đẩy sự cam kết của nhà quản trị với mục tiêu dự toán và thực hiện mục tiêu đó Nghiên cứu của tác giả còn giúp các nhà quản trị có thêm góc nhìn đánh giá mức độ của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc cuối cùng thông qua sự phản hồi dự toán từ từng hoạt động trong quá trình xây dựng

dự toán

7 Kết cấu luận văn

Đề tài có cấu trúc như sau:

Phần mở đầu: Trình bày tổng quan nghiên cứu gồm tính cấp thiết và lý do chọn

đề tài, khe hổng nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, tầm quan trọng của nghiên cứu và tóm tắt về đề tài

Trang 17

Chương 3: Trình bày về phương pháp nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo, thiết kế mẫu mà phương pháp chọn mẫu, cách thức thu thập dữ liệu

và phân tích dữ liệu;

Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và bàn luận về các thống kê mô tả,

đo lường và kiểm định độ tin cậy của thang đo, kết quả kiểm định các giả thuyết đã được đưa ra Thảo luận kết quả nghiên cứu này so với các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây;

Chương 5: Trình bày tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đưa ra kết luận, giải pháp, kiến nghị của đề tài áp dụng cho các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam Trình bày đóng góp của nghiên cứu về hàm ý lý thuyết, hàm ý thực tiễn, và những hạn chế của đề tài để định hướng cho những nghiên cứu tiếp sau

Trang 18

11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài

Với tầm quan trọng của dự toán ngân sách trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp thì việc các nhà quản trị tìm hiểu các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc xây dựng dự toán trong doanh nghiệp là một điều thiết yếu và từ đó tìm ra được nguyên nhân của các vấn đề còn tồn tại để có hướng khắc phục phù hợp Các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề dự toán ngân sách trong đó các nghiên cứu về tác động của sự tham gia vào dự toán đến kết quả công việc được nghiên cứu đến nhiều nhất điển hình như các nghiên cứu: Kenis (1979) cũng nghiên cứu về sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc; theo Murray (1990) cho thấy rằng sự tham gia vào dự toán ngân sách gia tăng dẫn đến kết quả công việc được cải thiện thông qua hiệu quả của nó dựa trên sự cam kết với mục tiêu dự toán; Brownell (1980) nghiên cứu về sự tác động sự tham gia vào dự toán ngân sách đến hiệu quả của tổ chức thông qua các yếu tố điều kiện trung gian (các yếu tố điều kiện trung gian như các biến về văn hóa, các biến về tổ chức, các biến về cá nhân, các biến về năng lực lãnh đạo); Brownell (1982) tiếp tục nghiên cứu

về mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự hiệu quả của tổ chức dưới sự tác động của dữ liệu kế toán để đánh giá hiệu suất chung của tổ chức; trong nghiên cứu của Brownell và McInnes (1986) nghiên cứu về tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc và tác động này thông qua sự tác động của động lực cá nhân

Bên cạnh các nghiên cứu liên quan đến tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc cho thấy sự tác động này thông qua nhiều đường dẫn khác nhau và được rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện Một trong số các đường dẫn đó như: trong các nghiên cứu của tác giả Brownell thông qua các yếu

tố điều kiện trung gian (các yếu tố điều kiện trung gian như các biến về văn hóa, các biến về tổ chức, các biến về cá nhân, các biến về năng lực lãnh đạo) và dữ liệu kế toán; theo T Libby (1999) cho thấy sự ảnh hưởng của sự tham gia vào dự toán ngân

Trang 19

dự toán ngân sách tác động đến kết quả công việc thông qua sự cam kết với mục tiêu

dự toán và bổ sung thêm sự tác động của sự hợp lý trong dự toán vào đường dẫn làm biến trung gian giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự cam kết với mục tiêu

dự toán

Bên cạnh các nghiên cứu về chủ đề dự toán thể hiện các yếu tố tác động đến kết quả công việc có điểm bắt đầu hoặc biến trung gian là sự tham gia vào dự toán ngân sách thì có các nghiên cứu khác liên quan đến sự tham gia vào dự toán ngân sách đến các thành phần khác trong việc xây dựng dự toán ngân sách trong đơn vị như trong nghiên cứu của tác giả Maiga và Jacobs (2007) nghiên cứu sự tác động của

sự tham gia vào dự toán ngân sách lên khả năng thiếu hụt ngân sách trong quá trình xây dựng dự toán thông qua sự hợp lý trong dự toán và sự cam kết với mục tiêu dự toán

Ngoài ra, một số bài nghiên cứu về lĩnh vực hành vi tổ chức chứng minh có một mối quan hệ tích cực giữa sự hợp lý trong phân phối và kết quả công việc trong nghiên cứu của tác giả Lind và Tyler (1988) trong nghiên cứu này còn tìm ra còn cho thấy sự hợp lý trong quy trình dẫn đến hiệu suất công việc được cải thiện thông qua hiệu quả của sự hợp lý khi cá nhân chấp nhận các mục tiêu được giao và mối quan hệ giữa sự tham gia và sự hợp lý được giải thích tại sao nhận thức về sự hợp lý có thể được tăng cường bởi sự tham gia đi kèm theo mô hình tự quan tâm và mô hình giá trị nhóm

Xét về mối tương quan của sự hợp lý trong dự toán đến sự cam kết với mục tiêu dự toán có một số nghiên cứu như trong nghiên cứu của Korsgaard và cộng sự (1995) cho thấy vai trò của sự hợp lý trong quá trình thiết lập ngân sách trong mối quan hệ với việc xây dựng cam kết với mục tiêu dự toán và niềm tin vào quyết định chiến lược của tổ chức; kết quả công việc của cá nhân sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi họ

Trang 20

13

có sự cam kết với mục tiêu dự toán được đưa ra trong nghiên cứu của các tác giả Locke và cộng sự (1988), trong nghiên cứu này tác giả còn đưa ra lý thuyết thiết lập mục tiêu cũng là một trong các lý thuyết nền quan trọng trong xây dựng dự toán, đưa

ra tác động của sự hợp lý trong phân phối với kết quả công việc của cá nhân có thể không tác động trực tiếp mà tác động gián tiếp thông qua sự cam kết với mục tiêu dự toán

Trong các nghiên cứu liên quan đến chủ đề dự toán trong đó có nghiên cứu đến biến sự phản hồi dự toán có các nghiên cứu như: nghiên cứu của Carroll Jr và Tosi (1970) nghiên cứu về các đặc điểm của mục tiêu và các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình quản lý mục tiêu; bài nghiên cứu này còn đưa ra mối tương quan giữa sự phản hồi dự toán tích cực với việc đạt được mục tiêu và thông qua đó làm tăng kết quả công việc; Theo tác giả Kenis (1979) cũng nghiên cứu về sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc, trong nghiên cứu tác giả còn nghiên cứu thêm về sự phản hồi dự toán trong quá trình thiết lập ngân sách và sự tác động của sự phản hồi

dự toán đến sự cam kết với mục tiêu dự toán và kết quả công việc

Hiện nay, có rất nhiều bài nghiên cứu nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả công việc của nhân viên Những khía cạnh, đặc điểm của những công việc khác nhau của công việc và nhiệm vụ của từng cá nhân nhận ra vai trò cụ thể của mình trong tổ chức Theo lý thuyết mục tiêu của các tác giả Locke và cộng sự (1988) cho thấy rằng các mục tiêu cụ thể và khó đạt được dẫn đến kết quả công việc cao hơn các mục tiêu có xu hướng khó hiểu hoặc mơ hồ Một sự hợp lý trong quy trình dự toán và làm tăng niềm tin cá nhân rằng mục tiêu có thể đạt được

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam còn có các nghiên cứu về chủ đề dự toán ngân sách với tác động của biến sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc trong mô hình nghiên cứu như của tác giả Đinh Nguyễn Trần Quang (2017) nghiên cứu về ảnh hưởng của sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách và sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách đến kết quả công việc của nhân viên thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách – bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam; nghiên cứu của tác

Trang 21

14

giả Nguyễn Thị Thanh Định (2017) về tác động của phong cách lãnh đạo, sự không

rõ ràng trong công việc đến kết quả công việc thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách: bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

Trong một số nghiên cứu về lĩnh vực hành vi tổ chức tại Việt Nam như của Trần Thị Kim Dung (2005) nghiên cứu về Nhu cầu, sự thỏa mãn của nhân viên về mức độ gắn kết đối với tổ chức và Trần Thị Kim Dung (2008) nghiên cứu về Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức và phong cách lãnh đạo đến kết quả làm việc của nhân viên và lòng trung thành của họ đối với tổ chức; nghiên cứu về chủ đề dự toán có liên quan đến sự hợp lý trong dự toán có nghiên cứu của tác giả Đinh Nguyễn Trần Quang

có nghiên cứu tác động của sự hợp lý trong dự toán (sự hợp lý trong quy trình dự toán

và sự hợp lý trong phân phối dự toán) đến kết quả công việc thông qua biến sự tham gia vào dự toán ngân sách

Trong nhiều năm gần đây dự toán ngân sách được các nhà quản trị trong các doanh nghiệp tại Việt Nam quan tâm và thực hiện Việc thực hiện công tác xây dựng

dự toán ngân sách tại đơn vị giúp cho các nhà quản trị có định hướng cụ thể trong kế hoạch kinh doanh và sản xuất thực tế của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp sẽ có cách xây dựng dự toán ngân sách riêng phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi doanh nghiệp, tuy nhiên công tác thiết lập dự toán có được thực hiện hiệu quả và mang lại

sự gia tăng trong kết quả công việc chung của nhân viên và của toàn doanh nghiệp hay không còn phụ thuộc cách thức triển khai và hướng đi của mỗi doanh nghiệp

Hiện nay ở Việt Nam hầu hết các đề tài nghiên cứu về dự toán ngân sách đều

đi theo hướng ứng dụng liên quan đến việc xây dựng hoặc hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách tại một doanh nghiệp cụ thể như Lê Thu Hằng (2016) nghiên cứu về Xây dựng dự toán ngân sách tại công ty cổ phần thủy sản và XNK Côn Đảo, Nguyễn Trí Minh (2013) nghiên cứu về Hoàn thiện dự toán ngân sách tại Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam, Trần Thị Hiền (2016) nghiên cứu về Hoàn thiện dự toán ngân sách tại Công ty Cổ phần Beton 6 Các đề tài đều đi theo hướng thể hiện quá trình xây dựng

dự toán tại một doanh nghiệp, các doanh nghiệp chỉ tập trung đơn thuần vào kế hoạch

Trang 22

dự toán ngân sách đến kết quả công việc dưới sự tác động của phong cách lãnh đạo

và sự không rõ ràng trong công việc; nghiên cứu thứ 2 là của tác giả Đinh Nguyễn Trần Quang (2018) nghiên cứu về tác động của sự hợp lý trong dự toán ngân sách đến kết quả công việc của các nhà quản trị ở các doanh nghiệp tại Việt Nam

1.3 Khe hổng nghiên cứu

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đo lường và đánh giá sự tác động của mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách đến sự hợp lý trong dự toán, mối quan hệ giữa sự hợp lý trong dự toán ngân sách đến sự cam kết với mục tiêu dự toán, mối quan hệ giữa sự cam kết với mục tiêu dự toán đến kết quả công việc, mối quan

hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách đến sự phản hồi dự toán, mối quan hệ giữa

sự phản hồi dự toán đến kết quả công việc được nhắc đến trong các nghiên cứu như

đã trình bày ở mục bối cảnh nghiên cứu tuy nhiên các nghiên cứu này lại được thực hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, điều này khiến cho việc áp dụng những kết quả này đối với các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam vẫn chưa đủ tính thuyết phục; các nghiên cứu về chủ đề dự toán được thực hiện ở Việt Nam hầu hết được thực hiện theo hướng ứng dụng là đi theo hướng thể hiện quá trình xây dựng dự toán tại một doanh nghiệp, các doanh nghiệp chỉ tập trung đơn thuần vào kế hoạch mà chưa chú trọng lập dự toán ngân sách, từ thực trạng thực tế nêu lên biện pháp khắc phục

và có ít nghiên cứu được thực hiện theo hướng nghiên cứu hàn lâm về chủ đề dự toán ngân sách này

Hiện nay tại Việt Nam chưa có bài nghiên cứu nào nghiên cứu về chủ đề dự toán trong đó nghiên cứu về sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự hợp lý trong dự toán và sự cam kết với mục tiêu dự

Trang 23

16

toán; bên cạnh đó cũng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự phản hồi dự toán

Vì vậy tác giả đã chọn đề tài “Tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách

đến kết quả công việc: Vai trò của sự hợp lý trong dự toán, sự cam kết với mục tiêu dự toán và sự phản hồi dự toán” Nhằm nghiên cứu rõ hơn về những tác động

trên để giúp các nhà quản trị có cách nhìn rõ hơn về cách quản lý của mình, chính sách, quy trình hoạt động của doanh nghiệp, cách làm việc với nhân viên, sự tham gia của nhân viên các cấp vào quá trình xây dựng dự toán ngân sách

Kết luận chương 1

Trong chương này, tác giả đã trình bày về bối cảnh nghiên cứu về chủ đề dự toán ngân sách đã được nghiên cứu trong nước và ngoài nước của từng biến nghiên cứu từ đó tìm ra căn cứ để xác định khe hổng nghiên cứu cũng như thể hiện rõ hơn tính cấp thiết của đề tài Thông qua đó, tác giả xác định được khe hổng để tiến hành thực hiện trong nghiên cứu của tác giả và cũng như làm tiêu chuẩn đánh giá kết quả đạt được của nghiên cứu trong chương 4 của đề tài

Trang 24

17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

“Chương 2: Cơ sở lý thuyết” trình bày các khái niệm liên quan đến nghiên cứu

và các lý thuyết nền tảng liên quan đến đề tài từ đó đưa ra giả thuyết nghiên cứu được thực hiện trong luận văn

2.1 Khái niệm

2.1.1 Dự toán ngân sách

Dự toán là những tính toán, dự kiến một cách toán diện mục tiêu mà tổ chức cần phải đạt được đồng thời chỉ rõ cách thức huy động các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu mà tổ chức đặt ra Dự toán được xác định bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tương lai

Theo Huỳnh Lợi (2012) thì dự toán là tính toán, dự kiến một cách chi tiết, tỉ

mỉ về nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện những hoạt động sản xuất kinh doanh nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định và được thể hiện dưới hình thức hệ thống các chỉ tiêu lượng, giá Dự toán ngân sách là một phần của dự toán với mục đích hướng đến thể hiện rõ ràng, chi tiết nguồn tài chính, nguồn tiền

Dự toán ngân sách là những tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục tiêu kinh tế, tài chính mà doanh nghiệp cần đạt được trong kỳ hoạt động, đồng thời chỉ rõ cách thức, biện pháp huy động các nguồn lực để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đó

Dự toán ngân sách là một hệ thống các dự toán bao gồm: dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí nguyên vật liệu, dự toán chi phí nhân công, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp, dự toán giá vốn hàng bán, dự toán vốn đầu tư, dự toán tiền, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, dự toán bảng cân đối kế toán Dự toán ngân sách là cơ sở để đánh giá thành quả hoạt động của từng bộ phận, ở mỗi cá nhân phụ trách từng bộ phận, từ

đó xác định trách nhiệm của từng bộ phận nhằm phục vụ tốt cho quá trình tổ chức và hoạch định

Trang 25

18

Mục đích của dự toán ngân sách: giúp các nhà quản trị cụ thể hóa các mục tiêu của doanh nghiệp bằng các số liệu, liên kết các đơn vị trong tổ chức để cùng thực hiện các mục tiêu của nhà quản trị, cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp toàn bộ thông tin và kế hoạch ngân sách sản xuất, kinh doanh trong từng thời gian cụ thể và

cả trong quá trình sản xuất kinh doanh, là căn cứ đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu đã dự kiến từ đó thấy được những mặt cần phát huy và những tồn tại để có giải pháp hữu hiệu để khắc phục và là cơ sở cho các quyết định kinh doanh tối ưu, giúp nhà quản trị kiểm soát quá trình hoạt động của doanh nghiệp và đánh giá trách nhiệm quản lý của từng bộ phận trong doanh nghiệp, là căn cứ để khai thác các khả năng tiềm tang về nguồn lực tài chính nhằm phát huy nội lực và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Chức năng của dự toán ngân sách bao gồm:

Chức năng hoạch định thể hiện ở việc hoạch định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể như hoạch định về sản lượng tiêu thụ, sản xuất, chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng … dự toán ngân sách được xem là công cụ để lượng hóa các kế hoạch của nhà quản trị;

Chức năng điều phối thể hiện ở việc huy động và phân phối các nguồn lực để thể hiện các mục tiêu của nhà quản trị, nhà quản trị kết hợp giữa hoạch định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và việc đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh thực tế của từng

bộ phận để điều phối các nguồn lực của doanh nghiệp tới các bộ phận sao cho việc

sử dụng đạt hiệu quả cao nhất;

Chức năng thông tin thể hiện ở chỗ dự toán ngân sách là văn bản cụ thể, xúc tích, truyền đạt các mục tiêu, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đến các nhà quản trị các bộ phận, phòng ban, thông qua các con số trong báo cáo dự toán nhà quản trị đã truyền thông điệp hoạt động cho các bộ phận và các bộ phận dựa vào cơ sở số liệu đó làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động hàng ngày;

Trang 26

19

Chức năng kiểm soát thể hiện ở việc dự toán ngân sách được xem là cơ sở, thước đo chuẩn để so sánh, đối chiếu với số liệu thực tế đạt được của công ty thông qua các báo cáo kế toán quản trị Lúc này thì dự toán ngân sách đóng vai trò kiểm tra, kiểm soát Khi đóng vai trò kiểm soát, dự toán ngân sách quan sát việc thực hiện các

kế hoạch chiến lược, đánh giá mức độ thành công và trong trường hợp cần thiết có thể có phương án sửa chữa, khắc phục yếu điểm;

Chức năng đo lường, đánh giá thể hiện ở việc dự toán ngân sách cung cấp một thước đo chuẩn, một khuôn khổ chuẩn để đánh giá hiệu quả của nhà quản trị trong việc đạt được các mục tiêu đã đề ra

Qua đây cho thấy dự toán ngân sách là một công cụ quản lý đa chức năng Tuy nhiên, chức năng nổi bật nhất của dự toán ngân sách vẫn là hoạch định và kiểm soát Hoạch định xác định những hành động cần làm để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Kiểm soát liên quan đến việc xem xét lại những gì đã xảy ra và so sánh nó với dự toán ngân sách để kịp thời phát hiện những sai sót và có hướng giải quyết Mối quan hệ này còn được thể hiện qua sơ đồ sau:

Hình 2.1: Hoạch định, kiểm soát và mối quan hệ giữa hoạch định và kiểm soát

(Nguồn: Kaplan, Atkinson, và Young (2011))

Xác định định hướng của tổ chức và mục tiêu ngắn hạn

Đánh giá lại định hướng, các mục tiêu, chiến lược và

kế hoạch

Xây dựng chiến lược dài hạn và các kế hoạch ngắn hạn

Xây dựng dự toán ngân sách chính

Đo lường và đánh giá hiệu quả so với dự toán

Hoạch định

Kiểm soát

Trang 27

20

2.1.2 Mô hình dự toán

Dựa vào đặc điểm, cơ chế hoạt động riêng của mỗi doanh nghiệp mà dự toán ngân sách có thể được lập theo một trong ba mô hình sau: Mô hình ấn định thông tin

từ trên xuống, mô hình thông tin phản hồi, mô hình thông tin từ dưới lên

2.1.2.1 Mô hình ấn định thông tin từ trên xuống

Trong mô hình này, các chỉ tiêu dự toán được định ra từ nhà quản trị cấp cao của doanh nghiệp và truyền xuống cho nhà quản trị cấp trung Trên cơ sở đó, nhà quản trị cấp trung tiếp nhận thông tin và chuyển xuống nhà quản trị cấp cơ sở để thực hiện mục tiêu, kế hoạch trong việc tổ chức hoạt động tại từng bộ phận trong doanh nghiệp Nếu lập dự toán theo mô hình này, các dự toán chỉ lập theo một chiều mà không có sự phản hồi, thảo luận từ cấp dưới

Hình 2.2 Mô hình ấn định thông tin từ trên xuống

(Nguồn: Huỳnh Lợi (2012))

Mô hình này cho phép kiểm soát việc ra quyết định tốt hơn Các mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp được các nhà quản trị cấp cao xác định rất rõ ràng nên khi lập dự toán sẽ thúc đẩy sự nỗ lực của nhà quản trị cấp dưới đạt được các mục tiêu đề ra Tuy nhiên vì đây là thông tin một chiều từ trên xuống nên còn mang tính áp đặt, dễ gây

sự bất bình ở các bộ phận riêng lẻ trong doanh nghiệp Các chỉ tiêu dự toán do nhà quản trị cấp cao chủ quan ấn định xuống có thể không phù hợp hoặc khác xa so với

Quản trị cấp cao

Trang 28

21

tình hình kinh doanh thực tế hay với quy trình sản xuất của một số bộ phận riêng lẻ

do những thông tin mà nhà quản trị cấp cao thường không đầy đủ và chi tiết, có thể đánh giá không đúng mức độ hoạt động, năng lực của các bộ phận Bên cạnh đó, trong mô hình có thể thấy nhà quản trị cấp trung có khả năng bị bỏ rơi trong quy trình

ra quyết định Điều này hạn chế sự khuyến khích việc chung sức hợp tác để đạt được các mục tiêu của các bộ phận trong doanh nghiệp Do vậy, khi lập dự toán theo mô hình này đòi hỏi nhà quản trị cấp cao phải có tầm nhìn tổng quan, toàn diện về mọi mặt của doanh nghiệp, đồng thời phải nắm vững chi tiết hoạt động của các bộ phận

về cả mặt định tính và định lượng Điều này chỉ có thể thực hiện trong các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và có ít sự phân cấp về quản lý

2.1.2.2 Mô hình thông tin phản hồi

Trong mô hình này, các nhà quản trị cấp cao sẽ ước tính các chỉ tiêu dự toán đầu tiên, sau đó truyền xuống cho các nhà quản trị cấp trung và từ đó các nhà quản trị cấp trung sẽ phân bổ xuống cấp cơ sở Các nhà quản trị cấp cơ sở sẽ dựa vào các chỉ tiêu ước tính, khả năng và điều kiện thực tế của bộ phận mình để xác định các chỉ tiêu dự toán nào có thể thực hiện được và những chỉ tiêu nào cần giảm bớt hoặc tăng lên Sau đó các nhà quản trị cấp cơ sở sẽ thông tin với các nhà quản trị cấp trung về các chỉ tiêu, các nhà quản trị cấp trung sẽ tổng hợp các chỉ tiêu dự toán từ các cấp cơ

sở kết hợp với kinh nghiệm và tầm nhìn bao quát tình hình hoạt động của các bộ phận

cơ sở phụ trách, từ đó xác định các chỉ tiêu có thể thực hiện được và báo lên các nhà quản trị cấp cao hơn Các nhà quản trị cấp cao trên cơ sở số liệu tổng hợp được các nhà quản trị trung gian gửi lên kết hợp tầm nhìn toàn diện về doanh nghiệp sẽ hướng các bộ phận khác nhau cùng nhau thực hiện các chỉ tiêu có thể thực hiện được để cùng đi đến mục tiêu chung Các nhà quản trị cấp cao sẽ duyệt thông qua các chỉ tiêu

dự toán cho các nhà quản trị cấp trung, các nhà quản trị cấp trung sẽ duyệt thông qua các chỉ tiêu dự toán cho các nhà quản trị cấp cơ sở Dự toán ngân sách sau khi được xét duyệt sẽ trở thành dự toán ngân sách chính thức và được sử dụng như định hướng hoạt động trong kỳ của doanh nghiệp

Trang 29

22

Hình 2.3 Mô hình thông tin phản hồi

(Nguồn: Huỳnh Lợi (2012))

Lập dự toán theo mô hình này dựa trên sự tổng hợp về khả năng và điều kiện

cụ thể của các cấp quản lý sẽ làm cho dự toán có tính chính xác và độ tin cậy cao Dự toán được xây dựng đều có sự thỏa thuận và thông qua việc tham khảo ý kiến từ các nhà quản trị cấp cơ sở đến các nhà quản trị cấp cao đã thể hiện được sự liên kết, chung sức để cùng thực hiện dự toán dễ dàng hơn Nhược điểm của mô hình này là tốn khá nhiều thời gian, chi phí cho cả quá trình dự thảo, phản hồi, phê duyệt và chấp nhận

dự toán Vì vậy để dự toán theo mô hình phản hồi được thành công thì nhân tố con người đóng một vai trò quan trọng, các thành viên và các bộ phận trong doanh nghiệp phải đoàn kết và đồng lòng thực hiện mục tiêu cung của doanh nghiệp

2.1.2.3 Mô hình thông tin từ dưới lên

Trong mô hình này, dự toán được lập từ các nhà quản trị cấp cơ sở đến các nhà quản trị cấp cao Các nhà quản trị cấp cơ sở sẽ dựa trên điều kiện thực tế và năng lực của mình để lập dự toán sau đó trình lên các nhà quản trị cấp trung, các nhà quản trị cấp trung sẽ tổng hợp số liệu và trình bày lên các nhà quản trị cấp cao Các nhà quản trị cấp cao sẽ dựa trên tầm nhìn bao quát về doanh nghiệp trên góc nhìn toàn

Quản trị cấp cao

Trang 30

23

diện về mục tiêu, chiến lược, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mà xét duyệt có thông qua dự toán hay không

Hình 2.4 Mô hình thông tin từ dưới lên

(Nguồn: Huỳnh Lợi (2012))

Dự toán đi theo mô hình này ngược lại với mô hình ấn định thông tin từ trên xuống nên sẽ không gây ra áp lực nặng nề cho cấp dưới, tạo được sự thoải mái và chủ động trong công việc Mọi bộ phận, mọi cấp quản trị trong doanh nghiệp đều tham gia vào quá trình xây dựng dự toán Tuy nhiên, có thể dẫn đến việc thiết lập mục tiêu không phù hợp hoặc mục tiêu quá thấp so với khả năng và tình hình thực tế dẫn đến chiến lược tổng thể của tổ chức bị ảnh hưởng

Trong ba mô hình thì mỗi mô hình có mỗi điểm mạnh và hạn chế riêng biệt, mỗi doanh nghiệp dựa vào tình hình thực tế cùng với khả năng của đơn vị để lựa chọn

mô hình phù hợp nhất với điều kiện của đơn vị mình Trong nghiên cứu này của tác giả có nghiên cứu đến sự phản hồi dự toán và sự hợp lý trong dự toán (sự hợp lý trong quy trình dự toán và sự hợp lý trong phân phối dự toán)

2.1.3 Sự tham gia vào dự toán ngân sách

Việc tham gia ngân sách được định nghĩa là một quá trình theo đó cấp dưới được cho một cơ hội để tham gia và có ảnh hưởng đến quá trình thiết lập ngân sách

Quản trị cấp cao

Trang 31

24

trong nghiên cứu của tác giả Brownell (1980) Sự tham gia vào dự toán ngân sách giúp tạo ra một phương thức để cấp dưới có thể truyền đạt thông tin của họ cho các nhà ra quyết định của tổ chức và cơ hội để có được thông tin liên quan đến công việc

để hỗ trợ việc đưa ra quyết định của họ (Locke và cộng sự, 1988; Locke & Schweiger, 1979; Shields & Shields, 1998) Sự tham gia vào dự toán ngân sách là việc các thành viên tham gia cùng tham gia một quá trình mà các thành viên tham gia đồng ý thiết lập mục tiêu ngân sách chung và cùng nhau thực hiện quá trình đó trong sách của tác giả Kaplan và cộng sự (2011)

Sự tham gia của ngân sách sẽ không phải lúc nào cũng đóng góp cho hiệu suất cao hơn Trong thực tế, các nghiên cứu về sự tham gia ngân sách và kết quả công việc

đã độc lập nhau Một số nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ tích cực mạnh mẽ như trong nghiên cứu của tác giả Brownell (1980) và trong nghiên cứu của hai tác giả Brownell và McInnes (1986), mối quan hệ tiêu cực được nghiên cứu trong nghiên cứu của tác giả Bryan và Locke (1967) và mối quan hệ không đáng kể được thể hiện trong nghiên cứu của tác giả Kenis (1979) và của tác giả Milani (1975) Những phát hiện không thống nhất trên đã thúc đẩy tác giả Brownell (1980) nghiên cứu và cho rằng nỗ lực nghiên cứu cho đến nay có xu hướng tập trung vào câu hỏi chung hơn là nếu gia tăng sự tham gia vào dự toán ngân sách có kết quả công việc cao hơn hay không, thay vì chỉ định các điều kiện có hiệu lực Sự tham gia ngân sách một cách độc lập không phải là điều kiện đủ để cải thiện kết quả công việc

Sự tham gia vào dự toán ngân sách là một quá trình để theo đó các cấp dưới được tạo cơ hội để tham gia và thiết lập ngân sách (Brownell, 1982) Trong quá trình xây dựng dự toán ngân sách cần có sự tham gia của các thành viên Dự toán ngân sách có hai dạng bao gồm: Ngân sách được xác định theo hai dạng sau: ngân sách được áp dụng và ngân sách tham gia trong nghiên cứu của tác giả Brownell và McInnes (1986) và của các tác giả Poon, Pike, và Tjosvold (2001) Việc phân loại này cũng được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu đến Bên cạnh đó để xây dựng được dự toán ngân sách thì điều trước tiên phải xác định được đó là xác định mục tiêu ngân sách, nếu mục tiêu ngân sách chỉ được thiết lập bởi các nhà quản trị cấp cao

Trang 32

25

có thể quá khó hoặc quá lỏng lẻo, ngược lại, nếu mục tiêu ngân sách chỉ được thiết lập bởi cấp dưới, sự thiếu hụt ngân sách có thể sẽ xảy ra tổ chức có thể bị mất phương hướng như trong nghiên cứu của tác giả Chaney, Copley, và Stone (2002) Vì vậy nên, quá trình xây dựng dự toán ngân sách cần có sự tham gia của tất cả các thành viên có liên quan trong đó các nhà quản trị cấp trên đề xuất phương hướng phù hợp với mục tiêu của tổ chức, các nhà quản trị cấp dưới và các thành viên khác cung cấp

về thông tin và cách thực thực hiện thực tế về các hoạt động hàng ngày mà họ tham gia (V K Chong & Johnson, 2007)

Như vậy, sự tham gia vào dự toán ngân sách là việc các nhà quản trị phối hợp với các nhân viên của các phòng ban, các bộ phận trong một doanh nghiệp cùng nhau phối hợp, hợp tác, trao đổi thông tin và hỗ trợ nhau để đưa ra một dự toán ngân sách thích hợp với mục tiêu, chiến lược và tình hình kinh doanh để thực hiện các kế hoạch tài chính, mục tiêu mà doanh nghiệp đang theo đuổi một cách hiệu quả

2.1.4 Sự hợp lý trong dự toán

Sự hợp lý trong dự toán bao gồm sự hợp lý trong quy trình dự toán và sự hợp

lý trong phân phối dự toán

Sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý tài chính của đơn vị cụ thể: đánh giá được khả năng và nhu cầu tài chính của đơn vị trong những năm đã qua và năm tiếp theo; thể hiện được nhu cầu thu chi của đơn vị, là công cụ quan trọng cho sự điều hành và quản lý của đơn vị; đánh giá được hiệu quả của việc lập dự toán trong đơn vị Quy trình dự toán ngân sách phải thể hiện đầy đủ các nội dung sau: làm rõ các khoản thu, chi dự kiến; dự toán theo từng lĩnh vực, bộ phận; ngân sách luôn được cân đối và rõ nguồn; dự toán được thiết lập trên các tài liệu có liên quan

Sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách là xác định được các khoản thu chi của đơn vị sẽ phải thực hiện trong năm kế hoạch và các biện pháp đảm bảo cho kế hoạch năm sẽ được hoàn thành Các nghiệp vụ liên quan đến phân phối ngân sách bị giới hạn bởi nguồn lực tài chính của đơn vị Phân phối ngân sách thể hiện đầy

Trang 33

26

đủ các nội dung sau: phân phối dưới hình thức giá trị tiền; phân phối và tái phân phối được thực hiện dựa do nguồn lực tài chính của đơn vị; thực hiện phân phối các nguồn lực dựa trên các dự toán bộ phận dựa trên nguồn lực mà đơn vị có được; nhà quản trị

là chủ thể quyết định sau cùng trong việc thực hiện chức năng phân phối nhằm đảm bảo tính đúng đắn, chính xác và hợp lý của dự toán ngân sách từ đó điều tiết để thực hiện các mục tiêu chung của đơn vị

Trong nghiên cứu của tác giả Lind và Tyler (1988) đã tìm ra sự hợp lý trong quy trình dẫn đến hiệu suất công việc được cải thiện thông qua hiệu quả của sự hợp

lý khi cá nhân chấp nhận các mục tiêu được giao và mối quan hệ giữa sự tham gia và

sự hợp lý được giải thích tại sao nhận thức về sự hợp lý có thể được tăng cường bởi

sự tham gia đi kèm theo mô hình tự quan tâm và mô hình giá trị nhóm Cũng trong nghiên cứu của tác giả Lind và Tyler (1988) còn cho thấy sự hợp lý trong quy trình

đề cập đến nhận thức của cá nhân rằng một hoạt động cụ thể mà họ là một người tham gia được tiến hành hợp lý và các yếu tố góp phần vào nhận thức về tính hợp lý của thủ tục bao gồm cung cấp cho người tiêu dùng bằng giọng nói và kiểm soát các kết quả thực tế

2.1.5 Sự cam kết với mục tiêu dự toán

Theo nghiên cứu của tác giả Kenis (1979) cho thấy sự tham gia vào quá trình lập ngân sách đóng vai trò như một chức năng bằng cách khiến các cấp dưới chấp nhận và cam kết với các mục tiêu ngân sách của họ Sự hợp lý trong dự toán là trung gian trong mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự cam kết với mục tiêu dự toán, trong khi sự cam kết dự toán là trung gian của mối quan hệ giữa sự hợp lý trong dự toán và kết quả công việc theo nghiên cứu của tác giả Wentzel (2002) Trong một số trường hợp, việc thiết lập ngân sách không được xây dựng theo hướng

từ dưới lên mà được áp đặt trừ cấp trên xuống Những trường hợp áp đặt ngân sách

từ cấp trên xuống dễ dẫn đến việc thông tin về quy trình lập dự toán sẽ ít hơn và các mục tiêu mà cấp dưới có khả năng dẫn đến sự thất vọng của họ vì có thể mục tiêu áp cao hơn khả năng của họ Nhân viên sẽ bị thiếu động lực và sự cam kết với các mục

Trang 34

27

tiêu dự toán ngân sách vì thiếu sự tham gia của mình trong việc thiết lập ngân sách của đơn vị hay cả trong chính công việc hằng ngày của họ trong sách của tác giả Kaplan và cộng sự (2011) Trường hợp khó khăn hơn là cấp trên áp đặt mục tiêu quá cao trong khi mức ngân sách cấp cho cấp dưới quá thấp không đủ để thực hiện thì động lực làm việc của nhân viên sẽ bị giảm từ đó làm giảm hiệu suất làm việc của từng cá nhân và hiệu quả chung của toàn bộ đơn vị đó

2.1.6 Kết quả công việc

Kết quả công việc của các cá nhân được thể hiện thông qua khối lượng và chất lượng công việc hoàn thành, có ảnh hưởng quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp Theo nghiên cứu của tác giả Borman (1991) cho thấy việc đo lường kết quả công việc được coi là có vai trò tiên quyết với việc cải tiến hoạt động của doanh nghiệp Trong một nghiên cứu tại Việt Nam của tác giả Trần Thị Kim Dung (2008) cho thấy kết quả công việc còn được đánh giá theo cách so sánh, xếp hạng giữa các nhân viên, đánh giá theo tiêu chuẩn công việc hoặc dựa trên hành vi làm việc của cá nhân Trong doanh nghiệp có nhiều cấp độ quản lý tương ứng với nhiều cấp độ đánh giá kết quả công việc trong đó theo nghiên cứu của tác giả Borman (1991) còn đánh giá của cán bộ quản lý trực tiếp là hình thức đánh giá phổ biến nhất Theo nghiên cứu của tác giả Campbell (1968) mô tả kết quả công việc như là một biến cấp độ cá nhân hoặc một công việc mà một người duy nhất thực hiện Nó thể hiện kết quả thực hiện công việc của một cá nhân Tác giả Campbell (1968) đã xác định kết quả làm việc là các hành vi và nó là một công việc được thực hiện bởi nhân viên Kết quả làm việc còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác

2.1.7 Phản hồi dự toán

Sự phản hồi dự toán đề cập đến mức độ như thế nào một người quản lý bộ phận nhận được thông tin về việc hoàn thành các mục tiêu ngân sách trong nghiên cứu của tác giả Hirst và Lowy (1990) Theo tác giả Kenis (1979) sự phản hồi ngân sách là phản hồi về mức độ mà các nhà quản trị của bộ đã đạt được mục tiêu ngân sách của họ và mức độ mà các nhà quản trị cung cấp phản hồi cho trưởng bộ phận về

Trang 35

2.2 Lý thuyết nền

2.2.1 Lý thuyết về hiệu suất công việc

Agbejule và Saarikoski (2006) đã áp dụng mô hình được phát triển bởi Blumberg và Pringle (1982) làm cơ sở để thảo luận về mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách, kiến thức quản trị chi phí và kết quả công việc Tác giả Blumberg và Pringle (1982) cho rằng hiệu suất của một cá nhân bị ảnh hưởng bởi năng lực cá nhân, sự sẵn lòng và cơ hội của họ để thực hiện Ba yếu tố này được thể hiện thông qua công thức sau:

Hiệu suất công việc = f (năng lực cá nhân*sự sẵn lòng*cơ hội)

Từ mối quan hệ trên cho thấy khi có bất kỳ sự giảm sút trong bất kỳ một thành phần nào trong công thức trên đều dẫn đến sự suy giảm trong hiệu suất công việc Thành phần đầu tiên là năng lượng cá nhân (khả năng cá nhân) thường được thể hiện thông qua kiến thức tích lũy, trí thông minh vốn có, kỹ năng đã được rèn luyện trong quá trình làm việc của mỗi người và một số khả năng riêng biệt khác ở mỗi người khác nhau; thành phần thứ hai là sự sẵn lòng (sự sẵn sàng làm việc) thể hiện đặc điểm

Trang 36

29

về cảm xúc và tâm lý, trạng thái của cá nhân sẵn sàng nhận nhiệm vụ và thực hiện nhiệm vụ, khi cá nhân trong trạng thái sẵn sàng thực hiện một công việc với sự hứng thú và nhiệt huyết thì công việc không mang lại sự nhàm chán không đáng có mà thay vào đó là tiến độ công việc được đẩy nhanh và chất lượng công việc được nâng cao; thành phần thứ ba là cơ hội, thành phần này thường bị bỏ qua và không được quan tâm nhiều, những cá nhân có năng lực tốt và đang ở trạng thái sẵn sàng tham gia vào một nhiệm vụ cụ thể nhưng họ không có cơ hội để tiếp cận nhiệm vụ thì khả năng gia tăng hiệu suất công việc không thể gia tăng Theo tác giả Blumberg và Pringle (1982) bên cạnh những yếu tố trên thì một nguyên nhân hỗ trợ gia tăng hiệu suất công việc

là sự đầu tư vào thiết bị, kỹ thuật, công nghệ hỗ trợ Trong nghiên cứu này của tác giả thì tác giả tập trung nghiên cứu về yếu tố cơ hội, khi cá nhân có cơ hội tham gia vào một công việc cụ thể như sự tham gia vào công tác lập dự toán ngân sách của đơn

vị, khi có sự gia tăng sự tham gia vào công tác lập dự toán sẽ giúp gia tăng hiệu suất công việc

2.2.2 Lý thuyết dự phòng (Contingency Theory)

Trong quá trình xây dựng hệ thống kế toán quản trị tại đơn vị thường được dựa trên nhiều nền tảng lý thuyết trong đó có lý thuyết dự phòng Mỗi tổ chức khác nhau sẽ có cơ cấu và tính chất hoạt động riêng vì vậy lý thuyết dự phòng giúp cho nhà quản trị có sự điều chỉnh phù hợp giữa kế toán quản trị và điều kiện riêng của từng tổ chức Các thành phần trong một tổ chức ảnh hưởng đến kế toán quản trị trong một tổ chức là môi trường bên ngoài, công nghệ, cơ cấu tổ chức và quy mô, văn hóa như trong nghiên cứu của Otley và Berry (1980), Waterhouse và Tiessen (1978) và của Nguyễn Thị Đức Loan (2017) Như vậy những lý thuyết phù hợp giữa cơ cấu tổ chức đơn vị và thực tế đơn vị được gọi chung là lý thuyết dự phòng Lý thuyết dự phòng đã được nghiên cứu, phát triển và được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu kế toán quản trị vào những năm 1960 và tiếp tục được nghiên cứu tiếp trong khoảng từ

1970 đến những năm 1980 Lý thuyết dự phòng có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu kế toán quản trị vì nó đã thống trị kế toán hành vi từ năm 1975 Ngoài ra,

lý thuyết dự phòng được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về Kế toán quản trị

Trang 37

30

của Otley và Berry (1980) Bên cạnh đó tác giả Haldma và Lääts (2002) đã có bài nghiên cứu thực nghiệm về lý thuyết dự phòng được ứng dụng và công tác kế toán quản trị tại các Doanh nghiệp ở Estonia, trong đó cho thấy có sự ảnh hưởng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị về môi trường làm việc, sự hài lòng trong công việc, quá trình lập dự toán ngân sách

Theo nghiên cứu của tác giả Chenhall và Langfield-Smith (2007) nhận định rằng khi một doanh nghiệp có quy mô doanh nghiệp lớn và có nhu cầu mở rộng sản xuất có sử dụng công nghệ sản xuất hàng loạt thì nhà quản trị có nhu cầu quản trị hệ thống ngân sách hàng ngày để phục vụ các hoạt động thường xuyên tại đơn vị, bên cạnh đó các tổ chức có công nghệ sản xuất phức tạp với yêu cầu cao về quản lý và kiểm soát thì nhu cầu quản trị doanh nghiệp theo hướng giải quyết linh hoạt và không nhất thiết phải theo một khuôn khổ cố định

2.2.3 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

Theo tác giả Jensen và Meckling (1976) xác định mối quan hệ đại diện (hoặc

ủy thác) giữa người chủ và người quản lý trong một tổ chức để thực hiện công tác quản lý trong đơn vị kể cả quyết định về tài sản của công ty Theo lý thuyết đại diện, khi cả hai bên trong mối quan hệ đại diện đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình thì hành vi của nhà quản trị có thể không làm tăng tối đa lợi ích cho chủ sở hữu (hoặc cổ đông) của công ty Lý thuyết này còn cho thấy mối quan hệ giữa các cấp quản lý cụ thể giữa nhà quản trị cấp cao với nhà quản trị cấp thấp hơn thông qua công tác phân quyền và phân bổ nguồn lực trong tổ chức

Lý thuyết đại diện còn cho thấy nguyên nhân gây nên xung đột giữa chủ sở hữu và nhà quản trị của tổ chức là vì sự thiếu thông tin (thông tin không đầy đủ) và bất cân xứng giữa hai chủ thể này Mỗi bên đều có mục tiêu về lợi ích khác nhau, cả hai bên chủ thể đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình Để giảm thiểu sự xung đột lợi ích giữa hai bên thì phải hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản trị của công ty cụ thể là tổ chức phải có những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà

Trang 38

về chi phí doanh nghiệp, báo cáo phân bổ các nguồn lực trong doanh nghiệp Thông qua những báo cáo trách nhiệm này chủ sở hữu sẽ đánh giá được sự tuân thủ cũng như sự cam kết của nhà quản trị với các nguồn lực vốn có và lợi ích chung của doanh nghiệp

2.2.4 Lý thuyết công bằng trong tổ chức (Organizational Justice Theory)

Sự công bằng của tổ chức đã hơn là tất cả những gì tại nơi làm việc được thể hiện qua những quyết định quản lý được người lao động cảm nhận là hợp lý, bình đẳng, rõ ràng, không thiên vị theo nghiên cứu của các tác giả Greenberg (1990) Nhận thức về công bằng giúp củng cố sự tin tưởng, giảm bớt nỗi sợ bị lợi dụng và tăng sự hợp tác giữa mọi người trong công ty được trình bày trong nghiên cứu của tác giả Lind và Tyler (1988) Đối với cá nhân, sự công bằng thỏa mãn nhu cầu của cá nhân

về việc kiểm soát tự tin, cảm giác an toàn và giảm khả năng gian lận, tăng sự tin tưởng với nhà quản trị theo nghiên cứu của tác giả Thibaut và Walker (1975) Sự công bằng được thể hiện thông qua sự công bằng trong quy trình, sự công bằng trong phân phối

và sự công bằng trong tương tác

Cấp dưới quan tâm về công bằng trong phân bổ nguồn lực như lương, thưởng, thăng chức và lợi ích thu được sau khi giải quyết tranh chấp đây được gọi là sự công bằng trong phân phối (Cohen, 1987) Mọi người cũng thường tham gia vào sự công

Trang 39

Công bằng trong phân phối (Budget distributive fairness)

Sự công bằng trong phân phối được thể hiện thông qua việc con người có nhu cầu được đối xử (như lương, thưởng, lợi ích nhận được) như nhau trong việc phân phối lợi ích thu được từ kết quả công việc mà họ hoàn thành Sự công bằng trong phân phối được căn cứ dựa trên các giá trị trong nghiên cứu của tác giả Cohen (1987), các giá trị này còn được xem là các thước đo (sự hợp lý, sự bình đẳng và nhu cầu) hoặc các mẫu mực để phán xét sự công bằng Người lao động có xu hướng đánh giá những gì họ bỏ ra như nỗ lực, kinh nghiệm, kiến thức của họ với những gì họ nhận lại được từ công việc như lương, thưởng, sự ghi nhận của công ty với sự đóng góp của họ và sau đó sẽ so sánh tử số giữa thành quả đầu ra và các yếu tố đầu vào với người khác theo nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng (2017)

Công bằng trong quy trình (procedural fairness)

Theo tác giả Lind và Tyler (1988) cho rằng sự hợp lý trong quy trình bao gồm một hoạt động cụ thể được tiến hành hợp lý và các yếu tố góp phần tạo nên nhận thức

về tính hợp lý của thủ tục Quy trình là các nguyên tắc, chính sách, trình tự, phương pháp tiến hành công việc Công bằng trong quy trình là thực hiện công khai, minh bạch rõ ràng khách quan, không thiên vị và phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức xã hội trong việc thực hiện một quy trình công việc (ví dụ quy trình đánh giá kết quả công việc quy trình bổ nhiệm, trả lương ) Hai yếu tố quan trọng của sự công bằng trong qui trình là sự kiểm soát qui trình và giải thích qui trình Sự kiểm soát quy trình (process control) là cơ hội để người lao động có thể bày tỏ quan điểm về kết quả mà mình mong đợi với người ra quyết định và giải thích quy trình (explainations) là những lý do rõ ràng mà nhà quản trị đưa ra cho kết quả mà người lao động nhận được (Lind và cộng sự, 1990) Để nhân viên cảm nhận được quy trình là công bằng, hợp lý

Trang 40

33

thì họ cần có kiểm soát với những kết quả và họ được giải thích đầy đủ vì sao kết quả

đó xảy ra Nguyễn Thế Hùng (2017) Theo tác giả Lind và cộng sự (1990) nhận định rằng mọi người hầu như không nhạy cảm cao với công tác kiểm soát quy trình ra quyết định của họ Sự công bằng trong quy trình được thể hiện thông qua (1): là quy trình cho phép người lao động có tiếng nói và được tham gia đóng góp vào quy trình đó; (2) quy trình có giải thích lý do, cung cấp đầy đủ thông tin tới những người có liên quan; (3) quy trình thể hiện sự tôn trọng đối với những người có liên quan

Phần còn lại của sự cân bằng là sự công bằng trong tổ chức (sự công bằng trong giao tiếp, ứng xử) Công bằng này liên quan đến việc ứng xử của quản lý cấp trên đối với cấp dưới của mình trong việc thực thi các chính sách quy trình của tổ chức Bốn nguyên tắc liên quan đến việc công bằng trong ứng xử đã được xác định

và phát triển là: (1) tính trung thực, (2) sự biện minh, (3) sự tôn trọng, và (4) tính đúng mực Nguyễn Thị Thanh Định (2017) Khi một nhân viên quyết định làm việc

và gắn bó với công ty là lúc họ nhận thấy rằng cống hiến của họ được công nhận và tôn trọng cùng với sự khen ngợi từ lãnh đạo công ty Yêu cầu quan trọng nhất của hoạt động đánh giá thành tích là phải đối xử công bằng và tránh thiên vị với bất kỳ ai trong tổ chức Nhà quản trị chú trọng đến sự công bằng sẽ hiệu quả hơn cũng như cấp dưới của họ có dễ dàng chấp nhận kế hoạch của cấp trên so với nhà quản trị không quan tâm đến tính công bằng được trình bày trong nghiên cứu của tác giả Blodgett, Hill, và Tax (1997) Khi những nhân viên có thành tích xuất sắc và có đóng góp vì mục tiêu chung của công ty thì nên có chính sách tuyên dương, khen thưởng tương ứng với đóng góp của họ cho công ty Ngược lại, công ty cũng nên có những chính sách, quy định cụ thể để xử lý và trừng phạt các trường hợp các nhân viên không hoàn thành tốt công việc được giao cũng như có hành vi gây tổn hại đến lợi ích chung của đơn vị

2.3 Giả thuyết nghiên cứu

2.3.1 Mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán và sự hợp lý trong dự toán

Ngày đăng: 30/12/2020, 19:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w