1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) tác động của vốn xã hội và sự hạnh phúc lên đóng góp cho hàng hóa công

73 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thêm vào đó, dù chưa có nghiên cứu thực nghiệm minh chứng tác động của của sự hạnh phúc lên đóng góp cho hàng hóa công nhưng theo Lyubomirsky và cộng sự 1999, 2005, sự hạnh phúc làm gia

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-oOo -

NGUYỄN HỮU ĐỨC

TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI VÀ SỰ HẠNH PHÚC

LÊN ĐÓNG GÓP CHO HÀNG HÓA CÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-oOo -

NGUYỄN HỮU ĐỨC

TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI VÀ SỰ HẠNH PHÚC

LÊN ĐÓNG GÓP CHO HÀNG HÓA CÔNG

Chuyên ngành : Kinh tế phát triển

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRƯƠNG ĐĂNG THỤY

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung chi tiết của bài luận văn này được trình bày theo kết cấu và dàn ý của tôi với sự dày công nghiên cứu, thu thập và phân tích các tài liệu có liên quan, đồng thời được sự góp ý hướng dẫn của Tiến sĩ Trương Đăng Thụy để hoàn tất luận văn

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với cam kết trên

Học viên: Nguyễn Hữu Đức

Lớp: Kinh tế phát triển, K24

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng biểu

Danh mục hình vẽ

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

1.6 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5

2.1 Lược khảo những lý thuyết liên quan 5

2.2 Lược khảo những nghiên cứu thực nghiệm liên quan 9

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Khung phân tích 12

3.2 Mô hình kinh tế lượng 14

3.3 Thiết kế trò chơi và phương pháp thu thập dữ liệu 19

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ 23

4.1 Kết quả từ trò chơi 23

4.2 Thống kê mô tả 23

4.3 Phân tích phi tham số 27

4.4 Kết quả 30

4.5 Kiểm tra tính vững của nghiên cứu 37

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 42

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Danh mục bảng

Bảng 3.1 Biến số và phương pháp đo lường 15

Bảng 4.1 Kết quả từ trò chơi 23

Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 24

Bảng 4.3 Thống kê mô tả thang đo biến lòng tin 26

Bảng 4.4 Thống kê mô tả thang đo sự hạnh phúc 27

Bảng 4.5 Hệ số tương quan giữa đóng góp và các biến mô tả sự hạnh phúc 27

Bảng 4.6 Hệ số tương quan giữa đóng góp và các biến mô tả lòng tin 29

Bảng 4.7 Hệ số tương quan giữa đóng góp và các biến mô tả sự tham gia 29

Bảng 4.8 Kết quả hồi quy mô hình với biến kiểm soát và biến hạnh phúc 31

Bảng 4.9 Kết quả hồi quy mô hình với biến kiểm soát và lòng tin 32

Bảng 4.10 Kết quả hồi quy mô hình với biến kiểm soát và sự tham gia 34

Bảng 4.11 Kết quả hồi quy mô hình với tất cả các biến giải thích 36

Bảng 4.12 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha cho thang đo sự hạnh phúc 37

Bảng 4.13 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha cho thang đo lòng tin 38

Bảng 4.14 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha cho thang đo lòng tin 38

Bảng 4.15 Phân tích nhân tố sự hạnh phúc 39

Bảng 4.16 Trọng số các biến trong nhân tố sự hạnh phúc 39

Bảng 4.17 Phân tích nhân tố lòng tin 40

Bảng 4.18 Trọng số các biến trong nhân tố lòng tin 40

Bảng 4.19 Hệ số tương quan giữa đóng góp, lòng tin và sự hạnh phúc 40

Bảng 4.20 Kết quả hồi quy mô hình với tất cả các biến giải thích 41

Danh mục biểu đồ Biểu đồ 4.1 Tương quan đóng góp và hạnh phúc cá nhân 28

Biểu đồ 4.2 Tương quan đóng góp và hạnh phúc so với bạn bè 28

Biểu đồ 4.3 Tương quan đóng góp và sự lạc quan 28

Biểu đồ 4.4 Tương quan đóng góp và sự bi quan 28

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1 Khung phân tích nghiên cứu 13 Hình 3.2 Các bước thực hiện trò chơi và lấy mẫu 22

Trang 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Hàng hóa công, dịch vụ công là hàng hóa, dịch vụ mang hai tính chất: không cạnh tranh và không thể loại trừ Chính hai tính chất trên đã dẫn đến vấn đề kẻ ăn theo, nguyên nhân thất bại thị trường của hàng hóa công Để gia tăng đóng góp cho hàng hóa công và giảm bớt vấn đề kẻ ăn theo, theo Putnam (1995a, 1995b, 2000) cần thiết phải gia tăng vốn xã hội trong cộng đồng (thông qua mạng lưới chính thức, lòng tin và khả năng hợp tác) Những nghiên cứu thực nghiệm của Glaeser và cộng

sự (2000) và Mellor và cộng sự (2004) cũng chỉ ra tác động tích cực của vốn xã hội, đặc biệt là lòng tin, lên sự gia tăng đóng góp của các cá nhân

Ở các nước đang phát triển, do các khoản đóng góp bắt buộc cho hàng hóa công (như thuế) thường thấp do cơ sở thuế thấp và thực thi pháp luật thuế không tốt, nên đóng góp tự nguyện cho hàng hóa công trở nên có vai trò quan trọng Tại Việt Nam, một trong những mô hình có sự đóng góp tự nguyện cho hàng hóa công nổi bật nhất

là chương trình Nhà nước và nhân dân cùng làm đường nhựa, bê-tông tại nông thôn Theo đó người dân sống trên cùng một con đường sẽ đóng góp một phần kinh phí, Nhà nước sẽ hỗ trợ phần còn lại để xây dựng đường Khi con đường được hình thành (hàng hóa công được cung cấp), mọi người dân sẽ được tự do sử dụng Về mặt chính sách, những con đường này giúp nâng cấp hệ thống giao thông nông thôn lạc hậu, qua đó thúc đẩy kinh tế, văn hóa-xã hội tại chính địa phương mà những người dân đó đang sinh sống Ngoài chương trình Nhà nước và nhân dân cùng làm nêu trên, ở quy mô đóng góp tự nguyện nhỏ hơn là việc người dân trong cùng một xóm, làng, hợp tác xã… tự nguyện đóng góp, hiến tặng tài sản để xây dựng các công trình phục vụ cho lợi ích của chính họ như đóng góp xây nhà văn hóa, sân chơi thể thao, làm công trình thủy lợi, bảo trì đê điều Vậy bên cạnh tính cấp thiết của các hàng hóa công đối với cộng đồng và các thuộc tính riêng có của mỗi người dân (như khả năng kinh tế, trình độ học vấn…) yếu tố vốn xã hội có giúp làm gia tăng đóng góp tự nguyện của người dân, qua đó giúp những chương trình nêu trên thành

Trang 9

công? Thêm vào đó, dù chưa có nghiên cứu thực nghiệm minh chứng tác động của của sự hạnh phúc lên đóng góp cho hàng hóa công nhưng theo Lyubomirsky và cộng sự (1999, 2005), sự hạnh phúc làm gia tăng đáng kể sự hợp tác, nhân tố quan trọng làm gia tăng vốn xã hội Hàm ý rằng sự hạnh phúc cũng có khả năng làm gia tăng đóng góp cho hàng hóa công

Với những lý thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm nêu trên, bài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tác động của vốn xã hội và sự hạnh phúc lên đóng góp cho hàng hóa công Nghiên cứu được thực hiện dựa trên việc thí nghiệm đóng góp cho một hàng hóa công có thật, máy lọc nước, trong khu ký túc xá của một trường đại học, mà bất kỳ sinh viên nào đang lưu trú tại ký túc xá trường cũng có thể tiếp cận và sử dụng

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đo lường mức độ đóng góp cho hàng hóa công thông qua thực hiện thí nghiệm hàng hóa công (public good experiment) với ngưỡng đóng góp (threshold) và quy luật hoàn trả tỷ lệ (proportional rebate rule)

Đánh giá tác động của vốn xã hội (thể hiện mạng lưới chính thức và lòng tin) và sự hạnh phúc lên giá trị đóng góp cho hàng hóa công

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Việc tham gia đoàn thể, hội, nhóm, câu lạc bộ, tình nguyện của sinh viên tại trường

có làm tăng đóng góp cá nhân cho hàng hóa công hay không?

Liệu có phải tham gia càng nhiều vào các đoàn thể, hội, nhóm, câu lạc bộ, tình nguyện thì người ta càng đóng góp nhiều hơn cho hàng hóa công?

Lòng tin, bao gồm cả lòng tin thái độ (attitudinal trust) và lòng tin hành vi (behavioral trust), có tác động lên đóng góp cho hàng hóa công hay không?

Sự hạnh phúc có làm gia tăng đóng góp cho hàng hóa công hay không?

Trang 10

1.3 Phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tác động của vốn xã hội (thể hiện qua mạng lưới chính

thức và lòng tin) và sự hạnh phúc lên đóng góp cho hàng hóa công

Khách thể nghiên cứu là các sinh viên chính quy đang theo học và lưu trú tại ký túc

xá Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam – Cơ sở 2, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

1.3.2 Không gian và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại ký túc xá Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam –

Cơ sở 2 từ 7/2016 đến 10/2016

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu được nghiên cứu thu thập bằng phương pháp tổ chức trò chơi hàng hóa công

có ngưỡng cung cấp, kết hợp với bảng câu hỏi phỏng vấn (xem phụ lục 1 và phụ lục 2)

1.4.2 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập sẽ được làm sạch Căn cứ vào lý thuyết và mục tiêu nghiên cứu để đưa vào mô hình phân tích định lượng Sau đó sử dụng phần mềm thống kê Stata 12 để hồi quy mô hình kinh tế lượng

1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Số liệu thu thập được từ trò chơi hàng hóa công và bảng khảo sát sẽ giúp Trường Đại học Lâm nghiệp – Cơ sở 2 có cơ sở để đánh giá vốn xã hội và sự hạnh phúc của sinh viên hiện đang sống tại ký túc xá của nhà trường

Kết quả phân tích tác động của vốn xã hội và sự hạnh phúc lên đóng góp cho hàng hóa công sẽ giúp nhà trường đánh giá được tầm quan trọng trong việc tạo dựng vốn

xã hội và hạnh phúc cho sinh viên để họ có thể có được lượng vốn xã hội cao hơn

Trang 11

và khả năng hợp tác, hành động chung tay tốt hơn khi ra trường Điều này không chỉ tăng khả năng sản xuất, cơ hội thành công cho sinh viên nói riêng mà còn tăng hiệu quả cho nền kinh tế nói chung

Xét về mặt học thuật, kế thừa những nghiên cứu về tác động của vốn xã hội lên đóng góp cho hàng hóa công trước đây, nghiên cứu đã bổ sung thêm những dẫn chứng thực nghiệm về tác động của sự hạnh phúc Môi trường thực hiện nghiên cứu cũng có sự đặc biệt, người chơi giờ đây có quỹ thời gian sử dụng hàng hóa công khác nhau (ví dụ: sinh viên năm nhất được sử dụng bốn năm trong khi sinh viên năm tư chỉ còn được sử dụng một năm) Điều này sẽ mở ra hướng nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu về đóng góp cho hàng hóa công ở những cộng đồng có tính chất tương tự nói riêng và của con người nói chung để có được phân tích tốt hơn về động

cơ đóng góp của họ

1.6 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm năm chương nội dung được tóm tắt như sau:

Chương 1 trình bày lý do chọn đề tài, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, không gian, thời gian, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết các nhân tố hình thành vốn xã hội, tác động của vốn xã hội và sự hạnh phúc lên đóng góp cho hàng hóa công và lý thuyết trò chơi hàng hóa công (public good game) với ngưỡng đóng góp (threshold) và quy luật hoàn trả tỷ lệ (proportional rebate rule)

Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, đo lường các biến số đưa vào mô hình, cách thức tổ chức trò chơi hàng hóa công và thu thập, xử lý dữ liệu sơ cấp Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu từ mô hình hồi quy kinh tế lượng, nhận xét những điểm giống và khác biệt so với lý thuyết và những nghiên cứu trong chương

2 đồng thời nêu ý kiến thảo luận của người viết

Chương 5 trình bày kết luận, những đóng góp của luận văn, hàm ý chính sách, những hạn chế trong quá trình nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Lược khảo những lý thuyết liên quan

2.1.1 Lý thuyết về hàng hóa công cộng và vấn đề kẻ ăn theo

Hàng hóa công cộng hay dịch vụ công cộng là hàng hóa và dịch vụ mang hai tính chất: không cạnh tranh và không thể loại trừ; theo đó không thể loại trừ một cách hiệu quả các cá nhân khỏi việc sử dụng hàng hóa công cộng và việc một cá nhân sử dụng loại hàng hóa này không làm ảnh hưởng đến giá trị và tính có thể sử dụng của

nó đối với cá nhân khác

Theo Gravelle và Rees (2004), đặc điểm xác định hàng hóa công cộng là việc tiêu dùng của một cá nhân không thực sự hay có khả năng làm giảm giá trị sẵn có để nó được tiêu dùng bởi cá nhân khác Hàng hóa công thường có lợi ích lớn hơn chi phí tạo ra Do vậy về mặt xã hội đó là hàng hóa cần thiết được cung cấp Nhưng hai thuộc tính của hàng hóa công sẽ dẫn đến tình trạng người ăn theo Kết cục là tư nhân không đầu tư, hàng hóa công không tồn tại, do vậy giải pháp thị trường bị thất bại đối với loại hàng hóa này

Kẻ ăn theo (free rider) hay kẻ hưởng thụ miễn phí, chỉ những người thụ hưởng các lợi ích từ hàng hóa công cộng mà không chịu tham gia gánh những chi phí cần thiết

để các hàng hóa đó được cung cấp, hoặc chịu gánh những chi phí nhưng ít hơn so với lợi ích mà họ được hưởng Kẻ ăn theo chỉ ngồi không hưởng lợi, thích thụ hưởng mà không có trách nhiệm với cộng đồng và cũng là vấn đề thảm họa của mọi nền kinh tế và là một thất bại của thị trường

2.1.2 Lý thuyết về sự hạnh phúc

Theo Jefferson (1776), hạnh phúc có có nghĩa là sự thịnh vượng mà bất cứ người dân nào cũng đều mong muốn Theo Anand (2016), hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí

Trang 13

Những nghiên cứu gần đây, như của Lu (1991), Lyubomirsky (2000, 2005) cho thấy hạnh phúc là một khái niệm phức tạp và có thể có ý nghĩa khác nhau với những người khác nhau Một phần của thách thức khi nghiên cứu khoa học hạnh phúc là xác định các khái niệm hạnh phúc khác nhau, và khi thích hợp, chia chúng thành các thành phần của chúng Vì các khái niệm phúc lợi, chất lượng cuộc sống và sự hưng thịnh liên quan chặt chẽ đến sự hạnh phúc nên cần cẩn trọng khi đề cập đến khái niệm hạnh phúc Anand (2016) cũng cho rằng có thể hiểu hạnh phúc là sự thỏa mãn về các mặt khi con người đặt được như mong muốn của mình

Về khía cạnh đo lượng, Văn phòng thống kê Anh Quốc (2015) đã đưa ra thang đo

từ 0-10 để hỏi người dân về tổng thể họ đánh giá mức độ hạnh phúc của mình đạt bao nhiêu điểm Đi kèm với câu hỏi này, Văn phòng thống kê Anh Quốc còn đo lường mức độ hài lòng với cuộc sống, sự lo ngại và phúc lợi của người dân với thang đo tương tự Nhiều nghiên cứu như của Lyubomirsky (2000, 2005) cũng chọn hỏi người tham gia theo một thang đo định trước để đánh giá mức độ hạnh phúc

2.1.2 Lý thuyết về vốn xã hội và những nhân tố hình thành vốn xã hội

Theo Bourdieu (1986) vốn xã hội là toàn bộ nguồn lực (thực tế hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới quen biết trực tiếp hoặc gián tiếp (chẳng hạn thành viên cùng một tôn giáo, hoặc cùng sinh quán hay đồng môn) Những cá nhân, gia đình, hay tập thể nào càng có nhiều móc nối thì càng nhiều ưu thế

Theo Coleman (1988), vốn xã hội có ba đặc tính: thứ nhất, nó phụ thuộc vào mức

độ tin cậy nhau của con người trong xã hội Nói cách khác, nó tùy thuộc vào nghĩa

vụ mà mỗi người tự ý thức, và kỳ vọng của người này ở người khác Thứ hai, nó có giá trị gói ghém các liên hệ xã hội Nghĩa là qua tiếp xúc hàng xóm, bạn bè, mỗi người có thể thu thập nhiều thông tin hữu ích cho cuộc sống, thay thế phần nào những thông tin trong sách, báo, truyền thanh, truyền hình Thứ ba, vốn xã hội càng lớn khi xã hội càng có nhiều quy tắc (norms), nhất là những quy tắc có kèm trừng phạt (norms accompanied by sanctions) Ngoài ra, Coleman cũng cho rằng vốn xã

Trang 14

hội mang tính chất của một loại hàng hóa công, nghĩa là người ta sẽ chẳng bao giờ chịu đầu tư cho nó ở mức tối ưu

Putnam (1995a, 2000) chia vốn xã hội thành hai dạng: liên kết (bonding) và bắc cầu (bridging) Dạng liên kết trong vốn xã hội được hình thành trong một cộng đồng hoặc nhóm người đồng nhất, có chung văn hóa, chủng tộc và hành động vì lợi ích chung; trong khi dạng bắc cầu trong vốn xã hội được hình thành từ sự liên kết nhiều cộng đồng hoặc những nhóm người đa dạng về văn hóa và chủng tộc Vốn xã hội liên kết dễ hình thành và gia tăng hơn bắc cầu do xuất phát từ một cộng đồng đồng nhất Để gia tăng vốn xã hội, cần thiết phải gia tăng lòng tin, khả năng hợp tác và mạng lưới liên kết

Theo Cohen và Prusak (2001), vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng

giữa những con người với nhau, cụ thể là sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau, và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau

Theo World Bank (2005), vốn xã hội là những quy tắc và mạng lưới mà cho phép hành động chung Vốn xã hội được thể hiện qua hai dạng: vốn xã hội hành vi, gồm lòng tin và khả năng hợp tác; và vốn xã hội liên kết, bao gồm mạng lưới và tính chặt chẽ

Tóm lại, trong các học thuyết và định nghĩa thì vốn xã hội của một cá nhân được hình thành và thể hiện thông qua lòng tin, khả năng hợp tác, các mạng lưới liên kết

họ tham gia và tính chặt chẽ trong các mạng lưới liên kết đó

2.1.3 Tác động của vốn xã hội lên đóng góp cho hàng hóa công

Theo Putnam (1995a, 1995b, 2000), vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khả năng hợp tác và lòng tin để cộng đồng có thể chung tay xây dựng những mục tiêu cụ thể, mang lại niềm tin và thúc đẩy sự phát triển chung của cộng đồng mà điển hình nhất là các hàng hóa công cộng và các hoạt động tình nguyện Việc tham gia vào các hội, nhóm, hoạt động hay các câu lạc bộ tình nguyện là yếu

Trang 15

tố quan trọng làm gia tăng vốn xã hội, qua đó cải thiện đóng góp cho hàng hóa công

và giảm thiểu vấn đề kẻ ăn theo

Theo Fukuyama (1995), tin cẩn hay lòng tin (một trong những nhân tố làm gia tăng vốn xã hội) không chỉ giúp một cộng đồng nhỏ hay những các nhân riêng biệt gia tăng hợp tác trong các hành động chung tay vì sự phát triển chung của cộng đồng

mà xa hơn sự tin cẩn còn giúp gầy dựng các tập đoàn, hình thành sức mạnh quốc gia

Theo Nahapiet và cộng sự (1998), tham gia các tổ chức là một chuyện nhưng điều quan trọng là giữa các thành viên có sự tin cẩn để chia sẻ các chiều hướng nhận thức chung Chính môi trường tổ chức và khả năng chia sẻ nhận thức, suy nghĩ đã giúp các thành viên thấu hiểu nhau hơn, tin cẩn nhau hơn Những yếu tố trên, cùng nhau, khiến người ta thuận tiện trong việc cùng nhau thực hiện các hành động vì cộng đồng và sẵn sàng đóng góp công sức cho các mục tiêu chung Đồng quan điểm, Fu (2004) cũng cho rằng lòng tin đóng góp tích cực vào sự hợp tác cho các mục tiêu chung

Theo Coleman (1990) và Burt (1992), chính cơ chế vốn xã hội đã giải quyết vấn đề thiếu tính hợp tác và hành động vì mục tiêu, lợi ích chung tại các công ty, qua đó giúp thúc đẩy năng lực kinh tế của chính các công ty đó

2.1.4 Lý thuyết về trò chơi ngưỡng đóng góp hàng hóa công (threshold public goods game) với chính sách hoàn trả (refund policy) và quy luật hoàn trả theo

tỷ lệ (proportional rebate rule)

Nhiều loại hàng hóa công như: cầu, hầm chui, đê bao… phải được cung cấp toàn vẹn mới có ý nghĩa sử dụng Vì vậy, để có những hàng hóa công này cần thiết phải huy động đủ kinh phí để xây dựng nó (Spencer và cộng sự, 2008) Chi phí cung cấp hàng hóa công như vậy thường được gọi là một ngưỡng (threshold) hoặc điểm cung cấp (provision point) Nếu quỹ huy động đáp ứng hoặc vượt ngưỡng thì hàng hóa công đó sẽ được cung cấp Ngược lại, nếu quỹ huy động không đạt ngưỡng, các khoản đóng góp đều được hoàn trả

Trang 16

Trò chơi ngưỡng đóng góp hàng hóa công (Isaac và cộng sự, 1989) với chính sách hoàn trả và quy luật hoàn trả phần dư theo tỷ lệ đóng góp (Marks và Croson, 1998, 2000) bao gồm N người chơi Người chơi thứ i=1,2,…,N đều có số tiền quyên góp

ban đầu bằng nhau là I Cá nhân mỗi người chơi sẽ quyết định trích số tiền sẽ quyên góp một cách độc lập, C i , từ I để đóng góp cho hàng hóa công được hỏi Hàm thu nhập của cá nhân thứ i, π i, được thể hiện như sau:

Nếu như tổng giá trị quyên góp vượt điểm cung cấp, ∑C j > PP, thì tổng giá trị mà

cá nhân thứ i có được bao gồm: phần tiền giữ lại không đóng góp (I - C i ); lợi ích từ hàng hóa công được cung cấp V i và phần tiền được hoàn trả theo tỷ lệ đóng góp

Trong trường hợp, số tiền quyên góp không đủ đáp ứng điểm cung cấp, ∑C j < PP,

thì phần đóng góp của mỗi người chơi sẽ được hoàn lại và thu nhập của họ khi đó

bằng I

Theo kết quả của Spencer và cộng sự (2008), trong các thí nghiệm về trò chơi hàng hóa công, quy luật hoàn trả theo tỷ lệ cho tỷ lệ đóng góp 99% so với yêu cầu điểm cung cấp

2.2 Lược khảo những nghiên cứu thực nghiệm liên quan

2.2.1 Tác động của mạng lưới chính thức và lòng tin lên sự gia tăng vốn xã hội

Những nghiên cứu thực nghiệm của Dekker và Van den Broek (1998), Whiteley (1999), Torcal & Montero (1999) và Stolle & Rochon (1999) đều cho thấy mối quan hệ cùng chiều của việc trở thành viên tổ chức và vốn xã hội, hàm ý rằng những người là thành viên viên của các tổ chức hay hiệp hội có vốn xã hội cao hơn Wollebæk và Selle (2003) đã chỉ ra rằng việc cá nhân tham gia vào các tổ chức thực

sự làm gia tăng vốn xã hội Thêm vào đó, nghiên cứu cũng tìm ra mối quan hệ nhân

Nếu

Nếu

Trang 17

quả giữa vốn xã hội và số lượng tổ chức một người tham gia, điều này hàm ý rằng khi người ta tham gia càng nhiều vào các vòng liên kết như: hội, nhóm, tổ chức thì vốn xã hội càng tăng

Nghiên cứu thực nghiệm của Glaeser và cộng sự (2000) đã chứng minh rằng lòng tin có làm gia tăng đáng kể vốn xã hội và chính điều này đã làm gia tăng đóng góp cho hàng hóa công và giảm thiểu vấn đề kẻ ăn theo, nghiên cứu cũng cho rằng những câu hỏi lòng tin theo Bảng tổng khảo sát xã hội tại Mỹ (General social survey-GSS) không phản ánh được lòng tin hành vi (trình bày trong phụ lục 3)

2.2.2 Tác động của sự hạnh phúc lên đóng góp cho hàng hóa công

Đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có các nghiên cứu kinh tế chứng minh được sự hạnh phúc có làm gia tăng vốn xã hội hay đóng góp cho hàng hóa công hay không Tuy nhiên, những nghiên cứu tâm lý học cho thấy hạnh phúc của một cá nhân thực

sự làm gia sự hợp tác cộng đồng Cụ thể, nghiên cứu kéo dài trong 6 tháng của Lu

và cộng sự (1991) cho thấy: những người có sự hạnh phúc giảm dần trong 6 tháng nghiên cứu có khuynh hướng hợp tác giảm đi trong khi những người có sự hạnh phúc tăng dần trong 6 tháng lại có khuynh hướng hợp tác tăng lên Nghiên cứu của Lyubomirsky và cộng sự (2000, 2005) cũng chỉ ra rằng những người hạnh phúc hơn

có nhiều khả năng hơn so với các đồng nghiệp ít hạnh phúc của họ trong việc có hôn nhân và các mối quan hệ tốt, thu nhập cao, hiệu suất làm việc cao, sự tham gia vào các hoạt động cộng đồng, sức khỏe và tuổi thọ cao, họ có mức độ hợp tác cao hơn, tham gia nhiều hội nhóm hoạt động hơn

2.2.3 Tác động của vốn xã hội lên đóng góp cho hàng hóa công

Theo Camerer (2003) và Stutzer và cộng sự (2007), sự gia tăng vốn xã hội sẽ làm giảm vấn đề kẻ ăn theo đồng thời dẫn đến việc gia tăng đóng góp của cá nhân cho hàng hóa công và phúc lợi chung của cộng đồng Cùng quan điểm, các nghiên cứu thực nghiệm của Olken (2006), Quillian và Redd (2006), Temple (1998), Sampson

và cộng sự (1997); Helliwell và Putnam (1995) cũng chỉ ra rằng việc tham gia nhiều vào các hội, nhóm, hoạt động hay các câu lạc bộ tình nguyện… sẽ làm gia tăng vốn

Trang 18

xã hội, qua đó cải thiện đóng góp cho hàng hóa công và giảm thiểu vấn đề kẻ ăn theo

Isham và cộng sự (1999), đã chỉ ra rằng tại những cộng đồng mà các hội nhóm hoạt động tích cực, các hộ gia đình có khuynh hướng tham gia vào các hoạt động đóng góp cho tập thể, vấn đề kẻ ăn theo được giảm bớt đáng kể

Mellor và cộng sự (2004) đã tìm ra các bằng chứng để hỗ trợ các khái niệm vốn xã hội bao gồm cả thuộc tính nhóm và thuộc tính cá nhân, nghiên cứu cũng cho thấy lòng tin thực sự làm gia tăng đóng góp cho hàng hóa công, kết quả tương tự cũng được trình bày trong nghiên cứu của Glaeser và cộng sự (2000) Tuy nhiên, khác với Glaeser và cộng sự (2000), Mellor và cộng sự (2004) cho rằng không cần phải quá đề cao lòng tin hành vi so với lòng tin thái độ Trong nội dung nghiên cứu này, người viết cũng sẽ cố gắng tìm ra sự khác biệt trong tác động của lòng tin hành vi

và lòng tin thái độ (nếu có)

Carpenter và cộng sự (2003) xem xét mối quan hệ giữa vốn xã hội và hợp tác trong các thí nghiệm hàng hóa công và có được những kết quả ủng hộ sự tác động dương đúng kỳ vọng Tuy nhiên, nghiên cứu của họ cho phép các đối tượng giao tiếp khi thực hiện đóng góp, điều này làm vấn đề kẻ ăn theo có thể trở nên trầm trọng hơn Hơn nữa, cách khảo sát và phương thức nghiên cứu của Carpenter rất khác biệt so với phương pháp truyền thống Do đó, nghiên cứu này không thể giải quyết hay tranh cải với tác động của vốn xã hội điển hình được

Trang 19

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khung phân tích

Theo sau các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về vốn xã hội và hàng hóa công (đã trình bày trong chương 2), bài nghiên cứu kiểm định lại xem sự tham gia và lòng tin (hai nhân tố quan trọng làm gia tăng vốn xã hội) có thật sự làm gia tăng đóng góp cho hàng hóa công hay không Đồng thời, nghiên cứu cũng muốn kiểm định sự hạnh phúc có làm gia tăng đóng góp cho hàng hóa công không Các giả thuyết được đặt ra:

Giả thuyết 1: Sự hạnh phúc làm gia tăng đóng góp cho hàng hóa công

Giả thuyết 2: Lòng tin làm gia tăng đóng góp cho hàng hóa công

Giả thuyết 3: Tham gia làm gia tăng đóng góp cho hàng hóa công

Khung phân tích được trình bày như tại hình 3.1

Trang 20

Hình 3.1 Khung phân tích nghiên cứu

(Nguồn: theo ý kiến người viết)

Đóng góp cho hàng hóa công

(máy lọc nước)

Giới tính

Tôn giáoChi tiêu không cấp thiết Sinh viên năm thứ mấy tại trường

Có sử dụng máy nước hay không (sau khi được cung cấp)

Tham

gia

Lòng tin

Lòng tin thái độ Lòng tin hành vi

Hạnh phúc tuyệt đối Hạnh phúc tương đối

Trang 21

3.2 Mô hình kinh tế lượng

Nghiên cứu sử dụng mô hình Tobit hai giới hạn do biến phụ thuộc bị giới hạn bởi hai đầu mút với giá trị nhỏ nhất bằng 0 và giá trị lớn nhất bằng ngân sách tối đa (ngân sách tối đa với mỗi người chơi là bằng nhau) Mô hình được trình bày:

Ci = βo + β1*Xi + β2*Yi + β3*Zi + β4*Ti + εi (1) Trong đó, Ci là biến phụ thuộc thể hiện đóng góp của sinh viên thứ i Xi, Yi, Zi, Ti lần lượt là véc-tơ các biến giải thích cho thuộc tính cá nhân, sự hạnh phúc, lòng tin

và sự tham giam gia của sinh viên thứ i Tác động biên của một biến giải thích x lên

biến phụ thuộc C được tính bằng

x

b C a C E

thay đổi bao nhiêu đơn vị Chi tiết phương pháp đo lường được mô tả tại bảng 3.1

Trang 22

Bảng 3.1 Biến số và phương pháp đo lường

Biến

Số quan sát

Phương pháp đo lường Biến phụ thuộc

Đóng góp (đvt: nghìn

đồng)

251 Số tiền đóng góp của một sinh viên, bị giới hạn trong khoảng [0 đồng; 40.000 đồng], các mức đóng góp chênh lệnh nhau tối thiểu 5.000 đồng

Biến giải thích

Thuộc tính cá nhân (Biến kiểm soát)

Tôn giáo 251 0 = Không tôn giáo hoặc chỉ thờ cúng tổ tiên; 1 = Tôn giáo khác

Sinh viên năm (bao

gồm bốn biến giả) 251

Các hệ đào tạo chính quy tại trường có thời gian tối đa là 4 năm học vì vậy nghiên cứu tạo 4 biến giả bao gồm: SV năm nhất, 1 = năm nhất; 0 = năm khác;

SV năm hai, 1 = năm 2; 0 = năm khác

SV năm ba, 1 = năm 3; 0 = năm khác

SV năm tư, 1 = năm 4; 0 = năm khác Chi tiêu không cấp

(hạnh phúc tương đối) 251

Cảm thấy hạnh phúc của bản thân so với bạn bè:

1 = rất không hạnh phúc như họ;…; 10 = hạnh phúc hơn họ rất nhiều

Người lạc quan 251

Nhiều người sống rất lạc quan dù bất kỳ chuyện gì xảy ra, điều này: 1 = khác bản thân hoàn toàn;…; 10 = giống bản thân hoàn toàn

Nhiều người sống rất bi quan dù chuyện không đáng vậy, điều này: 1 = khác bản thân hoàn toàn;…; 10 = giống bản thân hoàn toàn

Lòng tin (đo theo thang điểm 4)

Tin có thiên đường 251 Có tin vào thiên đường và địa ngục không? 1 = Không;…; 4 = Có Bản thân đáng tin 251 Bản thân có phải là người đáng tin không? 1 = Không;…; 4 = Có Con người đáng tin 251 Con người nói chung có đáng tin không? 1 = Không;…; 4 = Có Bạn bè giúp đỡ 251 Tin bạn bè luôn giúp mình khi khó khăn? 1 = Không;…; 4 = Có Cho người lạ vay 251 Bạn có sẵn sàng cho bạn bè mượn tiền? 1 = Không;…; 4 = Có

Trang 23

Các biến mô tả thuộc tính cá nhân bao gồm: dân tộc, giới tính, tôn giáo, sinh viên năm thứ mấy tại trường, chi tiêu không cấp thiết và có sử dụng hàng hóa công (nếu được cung cấp) hay không Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào chứng minh được dân tộc hay tôn giáo có liên quan đến đóng góp cho hàng hóa công Theo sau Potipiti (2012), nghiên cứu chọn chi tiêu không cấp thiết để phản ánh khả năng tài chính của sinh viên, lý do là vì sinh viên chủ yếu dựa vào tài trợ từ gia đình, bản thân họ cũng

có những mục tiêu khác nhau trong việc kiếm thêm thu nhập và học tập nên việc sử dụng biến thu nhập trở nên không hợp lý Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Potipiti (2012), chi tiêu không cấp thiết chỉ bao gồm chi tiêu cho mỹ phẩm và quần áo, điều này có thể làm mất cân bằng giữa các quan sát Vì vậy, nghiên cứu bổ sung thêm chi tiêu cho hoạt động xã hội và thể thao vào biến này Cũng theo Potipiti (2012), nghiên cứu thực nghiệm tại Thái Lan cho thấy: chi tiêu không cấp thiết tương quan

âm với đóng góp cho hàng hóa công trong khi đó nữ giới lại đóng góp nhiều hơn nam giới, nghiên cứu sẽ thực hiện hồi quy để kiểm chứng lại kết luận này Theo sau Carlsson và cộng sự (2011), nghiên cứu kỳ vọng những sinh viên dự tính sẽ dùng hàng hóa công đóng góp nhiều hơn

Các biến mô tả sự hạnh phúc được khảo sát bằng bảng câu hỏi theo nghiên cứu của Lyubomirsky và Lepper (1999) Nghiên cứu kỳ vọng sự hạnh phúc (bao gồm hạnh phúc tương đối, hạnh phúc tuyệt đối và sự lạc quan) có tác động dương (làm tăng) đóng góp lên hàng hóa công trong khi sự bi quan sẽ làm giảm đóng góp cho hàng hóa công Điểm nghiên cứu lo ngại là bốn biến số mô tả hạnh phúc có khả năng gây

Lòng tin (đo theo thang điểm 4)(tiếp theo)

Cho bạn bè vay 251 Bạn có sẵn sàng cho người lạ mượn tiền? 1 = Không;…; 4 = Có

Tham gia

Hội nhóm tại trường 251 1 = Có tham gia hội nhóm tại trường

Số lượng hội nhóm 251 Số lượng hội nhóm tham gia tại trường, tất cả có 10

hội/nhóm/câu lạc bộ, vì vậy giá trị tối đa bằng 10

Tình nguyện 251 1 = Có tham gia tình nguyện (mùa hè xanh, hiến máu, môi

trường…) Đảng viên 251 1 = Đảng viên hoặc đã học đối tượng Đảng

Trang 24

ra hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình vì vậy nghiên cứu dự định sẽ sử dụng phương pháp loại các biến số cộng tuyến cao và thực hiện hồi quy theo ba mô hình như sau:

Các biến mô tả lòng tin được khảo sát bằng bảng câu hỏi của GSS và bảng câu hỏi của Glaeser và cộng sự (2000) Nghiên cứu chọn ra bốn biến lấy từ bảng khảo sát của GSS bao gồm: tin vào thiên đường, bản thân đáng tin, con người đáng tin và tin bạn bè giúp đỡ và hai biến từ nghiên cứu của Glaeser và cộng sự (2000) bao gồm: cho bạn bè mượn tiền và cho người lạ mượn tiền Theo Glaeser và cộng sự (2000), nghiên cứu kỳ vọng lòng tin có tác động dương (làm tăng) đóng góp lên hàng hóa công Theo sau Mellor và cộng sự (2004), nghiên cứu kiểm định lại xem có sự khác biệt giữa lòng tin thái độ và lòng tin hành tin hành vi lên đóng góp hay không Để khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến, nghiên cứu sử dụng ba mô hình như sau:

Mô hình 4: Ci = βdo + βd1*Xi + βd2*tin vào thiên đường + βd3*bản thân đáng tin +

βd4*con người đáng tin + βd5*tin bạn bè giúp đỡ + εdi (5)

Mô hình 5: Ci = βeo + βe1*Xi + βe2*cho bạn vay + βe3*cho người lạ vay + εei (6)

Mô hình 6: Ci = βfo + βf1*Xi + βf2*Zi + εfi (7)

Mô hình 4 đánh giá tác động của lòng tin thái độ trong khi mô hình 5 đánh giá tác động của lòng tin hành vi lên giá trị đóng góp hàng hóa công Mô hình 6 thực hiện hồi quy đầy đủ các biến số mô tả lòng tin

Trang 25

Trong nhóm biến tham gia, tác giả kỳ vọng sự tham gia hội nhóm và tình nguyện sẽ làm tăng đóng góp cho hàng hóa công Theo sau Wollebæk và cộng sự (2003), nghiên cứu cũng kỳ vọng khi tham gia càng nhiều vào các vòng liên kết, vốn xã hội của một cá nhân càng tăng, qua đó làm tăng đóng góp cho hàng hóa công Nghiên cứu thực hiện hồi quy ba mô hình như sau:

Mô hình 7: Ci = βgo + βg1*Xi + βg2*hội nhóm tại trường + βg3* tình nguyện + εgi (8)

Mô hình 8: Ci = βho + βh1*Xi + βh2*số lượng hội nhóm + βh3*tình nguyện + εhi (9)

Mô hình 9: Ci = βjo + βj1*Xi + βj2*Ti + εji (10)

Mô hình 7 đánh giá tác động của việc tham gia hội nhóm tại trường và hoạt động tình nguyện của sinh viên lên đóng góp cho hàng hóa công trong khi mô hình 8 đánh giá tác động của mạng lưới tham gia lên đóng góp cho hàng hóa công Mô hình 9 bao gồm tất cả các biến giải thích cho sự tham gia trong đó có cả biến Đảng viên

Để đánh giá tác động của tất cả các nhân tố: sự hạnh phúc, lòng tin và mạng lưới chính thức cùng lúc lên hàng hóa công, nghiên cứu thực hiện hồi quy mô hình 10 và 11:

Mô hình 10: Ci = βko + βk1*Xi + βk2*tình nguyện + βk3*số lượng hộ nhóm + βk4*con người đáng tin + βk5*cho người lạ vay + βk6*hạnh phúc cá nhân + εki (11)

Trang 26

Mô hình 12: Ci = βno + βn1*Xi + βn2*số lượng hội nhóm + βn3*tình nguyện +

βn4*nhân tố hạnh phúc + βn5*Nhân tố lòng tin+ εni (13)

Mô hình 13: Ci = βpo + βp1*Xi + βp2*Ti + βp4*nhân tố hạnh phúc + βp5*Nhân tố lòng tin+ εpi (14)

Trong đó, nhân tố hạnh phúc và và lòng tin được xử lý bằng phương pháp phân tích nhân tố EFA trước khi đưa vào mô hình hồi quy Kế thừa phương pháp phân tích trong mô hình 7, 8 và 9, nghiên cứu tiếp tục thực hiện hồi quy hai mô hình riêng biệt 12 và 13 để tránh hiện tượng đa cộng tuyến của nhóm biến mạng lưới chính thức

Ngoài ra nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp sai số chuẩn mạnh (robust standard error) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi

3.3 Thiết kế trò chơi và phương pháp thu thập dữ liệu

3.3.1 Ký túc xá và nhu cầu nước uống

Ký túc xá Trường đại học Lâm nghiệp – Cơ sở 2 được thiết kế cho tối đa 300 sinh viên lưu trú cùng một thời điểm Một trong những điểm bất lợi khi ở ký túc xá là sinh viên không có sẵn nước uống và không được nấu nước bằng điện, vì vậy đa số sinh viên phải mua nước thùng để dùng Máy nước được dự định lắp tại ký túc xá là máy Karofi RO 6 lõi hoặc 8 lõi Công suất lọc là từ 20 – 25 lít nước/giờ tương đương 480 – 600lít/ngày Với nhu cầu nước trung bình từ 1,5 lít – 2 lít/người/ngày Máy lọc nước hoàn toàn có khả năng đáp ứng

3.3.2 Thiết kế trò chơi

Vào thời điểm thực hiện trò chơi, ký túc xá có tổng cộng 259 sinh viên đang lưu trú Tuy nhiên, vì các lý do khác nhau (về quê, làm thêm, học thêm, từ chối tham gia…), tất cả sinh viên không thể tham trò chơi cùng lúc Vì vậy, nghiên cứu đã hỏi

ý kiến sinh viên về khung thời gian thực hiện trò chơi thích hợp nhất với họ trong một ngày ấn định thông qua một khảo sát phát ra trước đó Đây cũng là cách nghiên cứu ước tính xem có bao nhiêu sinh viên sẵn sàng tham gia vào trò chơi và dự toán

Trang 27

kinh phí Cụ thể, nghiên cứu nhận được 253 trả lời từ sinh viên Trò chơi được thực hiện vào lúc 8 giờ sáng ngày chủ nhật, 9/10/2016, do có 179 sinh viên chọn khoảng thời gian này 80 sinh viên còn lại (bao gồm 74 sinh viên đã trả lời và 6 sinh viên không trả lời) vẫn được khuyến khích tham gia vào lúc 8 giờ, nếu thật sự không thể,

họ được mời phỏng vấn ngay khi có thời gian rảnh tại phòng y tế ký túc xá (nằm tại lối vào ký túc xá) trong cùng ngày

Số tiền phát ra ban đầu cho mỗi người chơi đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu, vì vậy số tiền này cần phải được cân nhắc kĩ lưỡng Theo Carlsson và cộng sự (2011), số tiền này không thể quá cao so với chi phí lắp đặt hàng hóa công Nếu số tiền quá cao người chơi có thể cảm thấy có nghĩa vụ phải đóng góp một khoản tiền nào đó Nếu số tiền quá thấp, nó trở nên không thực tế đối với người chơi cũng như trong việc xây dựng mô hình Hơn nữa, số tiền thấp có thể sẽ không

có đủ các mức độ đóng góp để người chơi lựa chọn Theo sau nghiên cứu của Spencer và cộng sự (2008) và Carlsson và cộng sự (2011), nghiên cứu quyết định chọn tỷ lệ ngưỡng đóng góp trung bình là 50% số tiền ban đầu, nghĩa là nếu tổng số tiền quyên góp lớn hơn hoặc bằng 50% tổng số tiền phát ra ban đầu thì hàng hóa công sẽ được cung cấp Trên thực tế, giá thành máy lọc nước giao động trong khoảng [4.200.000 đồng; 5.400.000 đồng], vì vậy tổng số tiền phát ra ban đầu sẽ nằm trong khoảng [8.400.000 đồng; 10.800.000 đồng] Như vậy, với dự tính có 253 sinh viên tham gia, số tiền ban đầu cho mỗi sinh viên nằm trong khoảng [33.200 đồng; 42.700 đồng] Để thuận tiện cho việc tính toán, nghiên cứu quyết định chọn

số tiền phát ra ban đầu là 40.000 đồng cho mỗi sinh viên

Có hai vấn đề đối với nghiên cứu: (1) khi tổ chức trò chơi thật, không thể biết chính xác có bao nhiêu sinh viên sẽ tham gia Vì vậy, khi thực hiện, nghiên cứu buộc phải điều chỉnh ngưỡng đóng góp (tỷ lệ vẫn giữ nguyên không đổi) ở từng thời điểm thực hiện trò chơi khác nhau Cụ thể, khi tổ chức trò chơi vào lúc 8 giờ sáng ngày 9/10/2016, có tổng cộng 219 sinh viên tham gia Tổng số tiền phát ra bằng 219*40.000 = 8.760.000 đồng, ngưỡng đóng góp lúc này được thông báo bằng

Trang 28

8.760.000*50% = 4.380.000 đồng, các ví dụ hướng dẫn cũng phải được thay đổi tương ứng để người chơi có thể hiểu được quy luật

Trở lại với hàm thu nhập của một sinh viên (như đã trình bày trong phần 2.1.3) Sinh viên thứ i có số tiền ban đầu I = 40.000 đồng, số sinh viên tham gia N = 219, giả sử sinh viên đó đóng góp số tiền Ci = 20.000 đồng, chi tiêu hằng tháng cho nước uống của sinh viên đó bằng 50.000 đồng (có thể ước tính đơn giản lợi ích từ việc sử dụng máy nước của sinh viên đó Vi = 50.000 đồng*số tháng còn ở tại ký túc xá) Xét trường hợp 1: số tiền quyên góp không đủ ngưỡng PP = 4.380.000 đồng, vì toàn

bộ số tiền quyên góp được trả lại nên sinh viên i vẫn còn đủ số tiền ban đầu I = 40.000 đồng Trường hợp 2: tổng số tiền quyên góp ≥ 4.380.000 đồng (giả sử = 5.380.000 đồng, tương ứng dư 1.000.000 đồng), số tiền được trả lại cho sinh viên này = 20.000/5.380.000*(5.380.000-4.380.000) = 3.717 đồng Như vậy, hàm thu nhập của sinh viên I, πi = 40.000 – 20.000 + 50.000*số tháng còn ở tại ký túc xá + 3.717 đồng

Trong cùng ngày, trò chơi được tổ chức thêm cho 32 người chơi nữa thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp Phương pháp thực hiện như sau: đối với người được phỏng vấn trực tiếp đầu tiên (tức người chơi thứ 220), nghiên cứu phải thông báo với người này rằng có 220 người tham gia, tổng số tiền phát ra bằng 220*40.000 = 8.800.000 đồng, ngưỡng đóng góp lúc này được thông báo bằng 8.800.000*50% = 4.400.000 đồng, tương tự như vậy cho đến người chơi thứ 251 (2) Nếu tổng số tiền đóng góp không đủ ngưỡng cung cấp hàng hóa công, toàn bộ số tiền sẽ được trả lại cho người chơi tương ứng, điều này dễ thực hiện Tuy nhiên, khi số tiền vượt ngưỡng cung cấp hàng hóa công, việc hoàn trả theo tỷ lệ (proportional rebate rule) như trong phần tổng quan lý thuyết có thể sẽ không thực tế, do đơn vị tiền tệ có thể

nếu

nếu

Trang 29

bị chia nhỏ quá mức so với các mệnh giá tiền thật và số tiền cũng không đáng kể Vì vậy, nghiên cứu cho phép sinh viên biểu quyết chọn một trong hai phương án với số tiền dôi dư: (1) gửi về Ban quản lý ký túc xá và sẽ được trừ vào lệ phí ký túc xá cho sinh viên ở những kỳ sau; (2) tặng cho quỹ khuyến học của nhà trường Kết quả 182/251 sinh viên chọn phương án 1 Như vậy, mặc dù không hoàn trả, số tiền này vẫn phục vụ lợi ích của sinh viên, nghĩa là không vi phạm lý thuyết trò chơi đã đề cập trong phần tổng quan lý thuyết Các bước thực hiện được mô tả tóm tắt trong hình 3.2 Chi tiết tổ chức trò chơi và bảng câu hỏi khảo sát được trình bày trong phần phụ lục 1

Hình 3.2 Các bước thực hiện trò chơi và lấy mẫu

(Nguồn: theo ý kiến người viết)

Bước 1: Khảo sát sinh viên về khung thời gian có thể tham gia trò chơi

Bước 2: Chọn giờ thực hiện trò chơi theo đa số đồng thời thuyết phục những sinh viên còn lại

cùng tham gia theo khung giờ đa số đã chọn Nếu vẫn không được, xếp lịch phỏng vấn ngay khi sinh viên có thể tham gia

Bước 3: Thực hiện trò chơi và phỏng vấn

Bước 4: Thu thập dữ liệu kết quả đóng góp và khảo sát

Trang 30

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ 4.1 Kết quả từ trò chơi

Sau khi tổ chức trò chơi, nghiên cứu thu thập được dữ liệu từ 251 quan sát Trái với

kỳ vọng, tổng số tiền đóng góp không đạt ngưỡng cung cấp hàng hóa công Bảng 4.1 cho thấy tổng số tiền đóng góp thu được là 4.810.000 đồng, trong khi ngưỡng đóng góp yêu cầu là 5.020.000 đồng (=251*20.000 đồng)

Có 70%, tương đương 189 sinh viên, có tham gia vào các câu lạc bộ, hội nhóm chính thức tại trường Số lượng hội, nhóm trung bình một sinh viên tham gia là 2,18 Mức độ tham gia của sinh viên (theo thang điểm 3) có giá trị trung bình là 2,14 Hiệu quả hoạt động của các hội nhóm (theo thang điểm 5) có giá trị trung bình

là 3,33 Có 82% sinh viên có tham gia hoạt động tình nguyện (mùa hè xanh, hiến

Trang 31

máu, bảo vệ môi trường…) trong năm vừa qua 14% số sinh viên là Đảng viên hoặc

đã học lớp đối tượng Đảng

Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình

Biến

Số quan sát

Mô tả

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất Biến phụ thuộc

Đóng góp (đvt:

nghìn đồng)

251 Số tiền đóng góp của một người chơi, bị giới hạn trong khoảng [0 đồng; 40.000 đồng], các mức đóng góp chênh lệnh nhau tối thiểu 5.000 đồng

Tôn giáo 251 0 = Không tôn giáo hoặc chỉ thờ

cúng tổ tiên; 1 = Tôn giáo khác 0,40 0,49 0 1

Sinh viên năm (bao

gồm bốn biến giả) 251

SV năm nhất, 1 = năm nhất; 0 = năm khác

SV năm hai, 1 = năm 2; 0 = năm khác

SV năm ba, 1 = năm 3; 0 = năm khác

SV năm tư, 1 = năm 4; 0 = năm khác

Sự hạnh phúc

Hạnh phúc cá nhân 251

Cảm thấy hạnh phúc của bản thân:

1 = rất không hạnh phúc;…; 10 = cực kỳ hạnh phúc

Hạnh phúc so sánh 251

Cảm thấy hạnh phúc của bản thân

so với bạn bè: 1 = rất không hạnh phúc như họ;…; 10 = hạnh phúc hơn họ rất nhiều

Trang 32

Biến giải thích (tiếp theo)

Sự hạnh phúc (tiếp theo)

Người lạc quan 251

Nhiều người sống rất lạc quan dù bất kỳ chuyện gì xảy ra, điều này:

1 = khác bản thân hoàn toàn;…;

10 = giống bản thân hoàn toàn

Người bi quan 251

Nhiều người sống rất bi quan dù chuyện không đáng vậy, điều này:

1 = khác bản thân hoàn toàn;…;

10 = giống bản thân hoàn toàn

Lòng tin

Tin có thiên đường 251

Có tin vào thiên đường và địa ngục không? 1 = Không;…; 4 =

Bản thân đáng tin 251 Bản thân có phải là người đáng tin

không? 1 = Không;…; 4 = Có 3,60 0,49 3 4 Con người đáng tin 251 Con người nói chung có đáng tin không? 1 = Không;…; 4 = Có 1,47 0,80 1 4

Cho bạn bè vay 251 Bạn có sẵn sàng cho người lạ

mượn tiền? 1 = Không;…; 4 = Có

hiệu quả;…; 5 = Rất hiệu quả 3,33 0,75 2 5 Tình nguyện 251 1 = Có tham gia tình nguyện (mùa

hè xanh, hiến máu, môi trường…) 0,82 0,39 0 1 Đảng viên 251 1 = Đảng viên hoặc đã học đối

Trang 33

Các biến số đánh giá lòng tin (theo thang điểm 4) bao gồm: tin có thiên đường, bản thân đáng tin, con người đáng tin, bạn bè luôn giúp mình, cho người lạ vay và cho bạn bè vay lần lượt có giá trị trung bình là: 2,36; 3,60; 1,47; 1,34; 1,41 và 2,10 Các câu hỏi về lòng tin được lấy từ GSS và nghiên cứu của Glaeser và cộng sự (2000) Bảng 4.3 cho thấy số lượng sinh viên và tỷ lệ chọn các bậc trong thang đo của năm biến tương ứng Đáng chú ý là có 100% số sinh viên cho rằng bản thân họ thiên về khả năng là người đáng tin cậy (chọn bậc 3 và 4) trong khi đó lại có đến 94% cho rằng con người có xu hướng không đáng tin và bạn bè sẽ không giúp mình khi gặp khó khăn Chỉ có 8% sinh viên thiên về khả năng sẽ cho người lạ vay trong khi 92%

sẽ không cho hoặc chắc là sẽ không cho vay Có 25% sinh viên thiên về khả năng cho bạn bè vay, 75% không cho vay Tỷ lệ người tin vào có thiên đường và không tin lần lượt là 41% và 59%

Bảng 4.3 Thống kê mô tả thang đo biến lòng tin

Con người đáng tin

Bạn bè giúp đỡ

Cho người

lạ vay

Cho bạn bè vay

Số

lượng

Tỷ

lệ (%)

Số lượng

Tỷ

lệ (%)

Số lượng

Tỷ

lệ (%)

Số lượng

Tỷ

lệ (%)

Số lượng

Tỷ

lệ (%)

Số lượng

Tỷ

lệ (%)

Trang 34

Bảng 4.4 Thống kê mô tả thang đo sự hạnh phúc

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

4.3 Phân tích phi tham số

4.3.1 Tương quan giữa đóng góp và sự hạnh phúc

Bảng 4.5 cho thấy các biến giải thích bao gồm hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc so sánh, người lạc quan và người bi quan có tương quan chặt với đóng góp Hệ số tương quan lần lượt là 0,48; 0,53; 0,53 và -0,55 Các biểu đồ 4.1, 4.2, 4.3 và 4.4 lần lượt cho thấy mức độ hạnh phúc (cả tuyệt đối và tương đối) và sự lạc quan có tương quan dương với đóng góp trong khi mức độ bi quan có tương quan âm với đóng góp Tuy nhiên, bản thân các biến giải thích này cũng tương quan chặt với nhau (thể hiện qua độ lớn hệ số tương quan rất cao, lớn hơn 0,7) Điều này có thể sẽ gây ra hiện tượng đa cộng tuyến khi đưa các biến này vào mô hình phân tích cùng lúc

Bảng 4.5 Hệ số tương quan giữa đóng góp và các biến mô tả sự hạnh phúc

góp

Hạnh phúc cá nhân

Hạnh phúc so với bạn

Người lạc quan

Người bi quan

Trang 35

Biểu đồ 4.1 Tương quan đóng

góp và hạnh phúc cá nhân Biểu đồ 4.2 Tương quan đóng góp và hạnh phúc so với bạn bè

Biểu đồ 4.3 Tương quan đóng góp

và sự lạc quan Biểu đồ 4.4 Tương quan đóng góp và sự bi quan

4.3.2 Tương quan giữa đóng góp và lòng tin

Bảng 4.6 cho thấy các biến giải thích bao gồm: tin có thiên đường, bản thân đáng tin, con người đáng tin, bạn bè giúp đỡ, cho người lạ vay và cho bạn bè vay có tương quan với đóng góp lần lượt là: 0,19; -0,25; 0,20; 0,10; 0,15 và -0,15 Các hệ

số tương quan đều có giá trị tuyệt đối từ 0,10 trở lên Điểm đáng ngạc nhiên là biến

số bản thân đáng tin lại tương quan âm với đóng góp và tất cả các biến giải thích trong GSS Hệ số tương quan giữa biến con người đáng tin và bạn bè giúp đỡ là 0,91 Hệ số tương quan giữa biến con người đáng tin và cho người lạ vay là 0,54

Hệ số tương quan giữa biến bạn bè giúp đỡ và cho người lạ vay là 0,54 Hệ số

Trang 36

tương quan cao giữa những cặp biến giải thích này hàm ý có thể xảy ra đa cộng tuyến khi đưa vào mô hình hồi quy cùng lúc

Bảng 4.6 Hệ số tương quan giữa đóng góp và các biến mô tả lòng tin

Biến số Đóng

góp

Tin có thiên đường

Bản thân đáng tin

Con người đáng tin

Bạn bè giúp đỡ

Cho người lạ vay

Cho bạn vay

4.3.3 Tương quan giữa đóng góp và sự tham gia

Bảng 3.7 cho thấy các biến giải thích bao gồm: hội nhóm tại trường, số lượng hội nhóm, tình nguyện và Đảng viên có tương quan với đóng góp lần lượt là: 0,12; 0,16; 0,34 và 0,43 Hệ số tương quan giữa biến hội nhóm tại trường và số lượng hội nhóm là 0,79 rất cao, hệ số tương quan giữa biến Đảng viên và các biến giải thích còn lại cũng tương đối lớn Vì vậy, khi đưa tất cả các biến vào mô hình cần quan tâm đến hiện tượng đa cộng tuyến

Bảng 4.7 Hệ số tương quan giữa đóng góp và các biến mô tả sự tham gia

Biến số Đóng góp Hội nhóm tại trường Số lượng

hội nhóm Tình nguyện Đảng viên

Ngày đăng: 30/12/2020, 19:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w