1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) sự tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam

80 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

-  -

NGUYỄN THỊ HIẾU

SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

-  -

NGUYỄN THỊ HIẾU

SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS VÕ XUÂN VINH

TP Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Võ Xuân Vinh

Các thông tin, số liệu trong luận văn đều được thu thập từ những nguồn gốc trung thực và được phép công bố Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

TP Hồ Chí Minh- Năm 2015

Nguyễn Thị Hiếu

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng và hình vẽ

Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phương pháp nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.6 Tóm tắt nội dung nghiên cứu 3

1.7 Kết cấu bài luận văn 4

Chương 2: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HAI CHÍNH SÁCH NÀY ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 7

2.1 Cơ sở lý thuyết 7

2.1.1 Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ 7

2.1.1.1 Khái niệm CSTT 7

2.1.1.2 Phân loại CSTT 7

2.1.1.3 Mục tiêu của CSTT 8

2.1.1.4 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ 10

2.1.1.5 Các công cụ thực thi CSTT 11

2.1.2 Cơ sở lý thuyết về chính sách tài khóa 13

2.1.2.1 Khái niệm CSTK 13

2.1.2.2 Phân loại chính sách tài khóa 13

2.1.2.3 CSTK và tổng cầu xã hội 14

2.1.2.4 CSTK- công cụ quản lý vĩ mô 15

Trang 6

2.2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa chính sách

tiền tệ, chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế 16

Chương 3: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TẠI VIỆT NAM 25

3.1 Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 25

3.2 Thực trạng CSTT tại Việt Nam 28

3.3 Thực trạng CSTK tại Việt Nam 32

Chương 4: DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM 37

4.1 Dữ liệu nghiên cứu 37

4.2 Các bước thực hiện 38

4.3 Thiết lập mô hình nghiên cứu 39

4.4 Kết quả nghiên cứu 42

4.4.1 Phân tích sơ bộ 42

4.4.2 Kiểm định tính dừng 43

4.4.3 Lựa chọn độ trễ cho mô hình và kiểm định tính phù hợp 44

4.4.4 Phân tích phản ứng xung trong mô hình CSTK 46

4.4.5 Phân tích phản ứng xung trong mô hình CSTT 48

4.4.6 Phản ứng xung cho kết hợp CSTT và CSTK trong MH VAR 50

4.4.7 Phân rã phương sai của GDP 52

Chương 5: KẾT LUẬN TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM 55

5.1 Kết quả nghiên cứu 55

5.2 Khuyến nghị 56

5.3 Hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 59

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

IFM: Qũy tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)

NHNN: Ngân hàng nhà nước

NSNN: Ngân sách nhà nước

OLS: Phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least Square) TCTD: Tổ chức tín dụng

USD: Đơn vị tiền tệ của Mỹ (United State Dollar)

VAR: Mô hình tự hồi quy vecto (Vector Auto Regressive)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

1/ Danh mục các bảng

Bảng 3.1: Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát các năm trong giai đoạn 1986-1995 26 Bảng 3.2: Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát các năm trong giai đoạn 1996-2006 27 Bảng 3.3: Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát các năm trong giai đoạn 2007-2011 27 Bảng 3.4: Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát các năm trong giai đoạn 2012-2014 28

Bảng 3.5: Tình hình ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 1991-1996 33

Bảng 3.6: Tình hình ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 1997-2001 33

Bảng 3.7: Tình hình ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2002-2010 34

Bảng 3.8: Tình hình ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2011-2014 35

Bảng 4.1: Tóm tắt nguồn dữ liệu tìm kiếm 38

Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 43

Bảng 4.3: Kiểm định tính dừng bộ dữ liệu – Kiểm định ADF 43

Bảng 4.4: Lựa chọn độ trễ thích hợp cho mô hình 44

Bảng 4.5: Phân rã phương sai của tăng trưởng GDP 53

2/ Danh mục các hình vẽ Hình 3.1: Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán từ 1990-1996 29

Hình 3.2: Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán từ 1997-2006 30

Hình 3.3: Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán từ 2007-2014 32

Hình 4.1: Kết quả kiểm định AR Roots Graph 45

Hình 4.2: Hàm phản ứng xung của mô hình chính sách tài khóa 47

Hình 4.3: Hàm phản ứng xung của mô hình chính sách tiền tệ 49

Hình 4.4: Phản ứng xung của mô hình chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa 52

Trang 9

SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN

CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài

Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là những công cụ quan trọng để điều hành nền kinh tế Tuy nhiên, hai chính sách này được điều hành bởi hai cơ quan nhà nước khác nhau Mặc dù chính sách tiền tệ và tài khóa sử dụng các công

cụ chính sách khác nhau, nhưng chúng có liên quan chặt chẽ trong việc đạt được các mục tiêu nhất định trong việc tác động đến mức sản lượng của nền kinh tế Trong đó, mục tiêu của CSTT là ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát và góp phần tăng trưởng kinh tế Còn CSTK là thực hiện chi tiêu công và đảm bảo được các khoản chi tiêu này phân bổ hợp lý và đem lại hiệu quả, đó là nhân tố quyết định đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, tạo nền tảng cho CSTT phát huy hiệu lực

Mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế hay chính sách tiền

tệ và tăng trưởng kinh tế đã được nghiên cứu trong nhiều tài liệu Bên cạnh đó, thì đánh giá sự tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế là việc làm cần thiết để có cái nhìn khách quan về sự phát triển kinh tế Trên thế giới đã có những tài liệu nghiên cứu về vấn đề này Nhiều nghiên cứu ủng hộ chủ nghĩa tiền tệ Friedman và Meiselman (1963), Elliot (1975), Rahman (2005) và Senbet (2011) là những người tin rằng chính sách tiền tệ là công cụ mạnh

mẽ để ổn định kinh tế vĩ mô Trái ngược với nhóm chủ nghĩa trên, là các nhà kinh tế thuộc nhóm kinh tế học của Keynes lại tin rằng ổn định kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào sự thay đổi của chi tiêu và thuế của chính phủ Một bộ phận khác lại lập

Trang 10

luận rằng cả hai chính sách đều tác động đến tăng trưởng kinh tế Adefeso và Mobolaji (2010)

Tuy nhiên ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều nghiên cứu thực nghiệm sự tác động qua lại giữa 2 chính sách này đến tăng trưởng kinh tế

Đề tài Sự tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến tăng

trưởng kinh tế Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam được chọn để nghiên cứu

với mục tiêu chính là nghiên cứu sự tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế trong khoảng thời gian từ quý 1/2002 đến quý 4/2014 và đồng thời đánh giá được tầm quan trọng của các chính sách này đến sự ổn định của nền kinh tế Qua đó, góp phần tìm ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả điều hành của hai chính sách này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản và cốt lõi về chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cũng như sự tác động của hai chính sách này đến tăng trưởng kinh tế trên phương diện lý thuyết cũng như trong thực tế ở một số nước trên thế giới

Đánh giá hiệu quả tương đối của CSTT và CSTK đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Nghiên cứu sự tác động của CSTT và CSTK đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam qua đó tìm ra những giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả điều hành CSTT và CSTK hiện nay và trong những năm tiếp theo

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, mô tả, so sánh và phân tích để nghiên cứu các lý thuyết và thực trạng của CSTT, CSTK và sự tác động của 2 chính sách đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Trang 11

Sử dụng các phương pháp định tính để phân tích tác động của CSTT, CSTK và sự tác động của 2 chính sách đến tăng trưởng kinh tế dựa vào những công trình nghiên cứu trước đây

Nghiên cứu thực nghiệm sự tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế ở thị trường Việt Nam bằng mô hình tự hồi quy vecto (VAR) cùng các kiểm định và phân tích

Sử dụng mô hình VAR rút gọn (gọi tắt là VAR) rất hữu dụng trong việc kiểm soát những yếu tố nội sinh và tách những yếu tố ngoại sinh của chúng Mô hình tác giả sử dụng thông tin từ nhiều biến vĩ mô khác nhau Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các kiểm định nhân quả Grange, mô hình xung và phân rã phương sai để kiểm định tính vững của mô hình

1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là sự tác động của Chính sách tiền tệ và Chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam bằng mô hình VAR Trong đó biến cung tiền đại diện cho CSTT và biến chi tiêu chính phủ đại diện cho CSTK Ngoài ra bài nghiên cứu còn có thêm 2 biến là lãi suất tiền gửi và tỷ giá hối đoái danh nghĩa USD/VNĐ để tăng thêm tính chặt chẽ cho mô hình nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là sự tác động của CSTT và CST đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam từ quý 1/2002 đến quý 4/2014

1.5 Câu hỏi nghiên cứu

Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa có tác động đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam?

Hiệu quả tương đối của CSTT và CSTK tác động đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam?

1.6 Tóm tắt nội dung nghiên cứu

Trang 12

Trong phân tích sơ bộ nghiên cứu tính toán thống kê mô tả bao gồm phân phối chuẩn và kiểm tra tính dừng sử dụng kiểm định JB và kiểm tra ADF tương ứng Các biến nghiên cứu thì phân phối chuẩn và dừng ở sai phân bậc 1 ở mức ý nghĩa 5% Hàm phản ứng xung được sử dụng để theo dõi các phản ứng của các giá trị hiện tại và tương lai của tập hợp các biến khi tăng một đơn vị trong mỗi sai số VAR Một

độ lệch chuẩn tăng cú sốc chính sách tiền tệ làm sản lượng thực tăng đáng kể trong thời gian 20 tháng Không có bằng chứng ủng hộ quan điểm nới lỏng chính sách tài khóa chuyển thành tăng sản lượng thực

Sự phân hủy phương sai của GDP được giải thích hầu hết là do cú sốc riêng của mình Bên cạnh đó cú sốc cung tiền cũng giải thích hơn 10% sau 10 quý

1.7 Kết cấu bài luận văn

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu

Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và tóm tắt nội dung nghiên cứu

Chương 2: Lý luận tổng quan về chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và sự tác động của hai chính sách này đến tăng trưởng kinh tế

Trình bày khung lý thuyết về chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa

Nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trên thế giới về mối quan hệ của chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế

Chương 3: Thực trạng tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa tại Việt Nam

Trình bày thực trạng tình hình tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa tại Việt Nam trong thời gian qua

Trang 13

Chương 4: Dữ liệu và kết quả nghiên cứu về tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Trình bày dữ liệu của bài nghiên cứu, kết quả nghiên cứu thực nghiệm và thảo luận kết quả thông qua phần mềm Eview 8

Chương 5: Kết luận tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Kết luận lại vấn đề nghiên cứu, qua đó đưa ra những khuyến nghị và những hạn chế của đề tài nghiên cứu

Trang 14

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả đã giới thiệu những nội dung cơ bản của đề tài nghiên cứu bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tóm tắt nội dung nghiên cứu và kết cấu bài nghiên cứu Trên cơ sở đó, tác giả sẽ hệ thống hóa những vấn đề cơ bản và cốt lõi về chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cũng như sự tác động của hai chính sách này đến tăng trưởng kinh tế trên phương diện lý thuyết cũng như trong thực tế ở một số nước trên thế giới ở chương tiếp theo

Trang 15

Chương 2: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN

TỆ, CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HAI CHÍNH SÁCH NÀY ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

+CSTT thắt chặt: CSTT nhằm mục tiêu chống lạm phát, kiểm soát chặt chẽ mức phát hành vào lưu thông CSTT thắt chặt nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế

CSTT thắt chặt và mở rộng là chủ trương của nhà nước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn nó có ý nghĩa định hướng cho hoạt động của ngân hàng

 CSTT cơ cấu và CSTT chức năng

Căn cứ chức năng và đối tượng tác động có thể chia CSTT thành CSTT cơ cấu và CSTT chức năng

Trang 16

+CSTT cơ cấu: là việc tạo dựng và thay đổi hình thể của hệ thống tiền tệ với những yếu tố có tính hiệu lực lâu dài như: Lựa chọn hệ thống tiền tệ, quy định đơn vị tiền tệ, luật phát hành tiền

+CSTT chức năng: là tổng thể các biện pháp nhằm để điều tiết, chỉ đạo các hoạt động tiền tệ

Như vậy CSTT cơ cấu tạo ra điều kiện khung cho CSTT chức năng Trong khuôn khổ ấy, CSTT chức năng vận dụng những công cụ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc… để đạt được mục tiêu của mình

2.1.1.3 Mục tiêu của CSTT

a) Mục tiêu cuối cùng của CSTT

CSTT có vị trí đặc biệt trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô và tổng thể các chính sách của nhà nước ở từng thời kỳ Tất cả các CSTT ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hướng tới sự ổn định và nâng cao khả năng khai thác, sáng tạo của nền kinh tế Mặc dù, NHTW mỗi nước có cách diễn đạt khác nhau về mục tiêu của CSTT, song nhìn chung CSTT có những mục tiêu chính như sau:

 Ổn định giá trị đối nội của đồng tiền

Giá trị của đồng tiền phụ thuộc vào số lượng hàng hóa mà nó có thể trao đổi được Có nghĩa là một đồng tiền càng trao đổi được nhiều hàng hóa thì nó càng có giá trị hơn và ngược lại số lượng hàng hóa mà tiền tệ trao đổi được ngày càng giảm

đi thì đồng tiền đó ngày càng bị mất giá trị Lạm phát, hay nói cách khác là giá cả hàng hóa ảnh hưởng đến giá trị của đồng tiền Tiền tệ được ổn định thì sức mua của nó đối với hàng hóa, dịch vụ trên thị trường trong nước không bị giảm sút Bên cạnh đó thì ổn định tiền tệ còn ảnh hưởng đến lãi suất, làm cho khả năng thu hút nguồn vốn trong xã hội của tổ chức tín dụng để đầu tư phát triển sản xuất cao hơn Ổn định giá trị đối nội của đồng tiền, chủ động kiềm chế giá cả, kiềm chế lạm phát thường được coi là mục tiêu quan trọng nhất của CSTT

 Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền

Giá trị đối ngoại của đồng tiền được biểu hiện thông qua tỷ giá hối đoái Tỷ giá không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế trong nước mà còn là yếu tố tác động

Trang 17

trực tiếp đến các hoạt động trong lĩnh vực thương mại và thanh toán quốc tế, qua đó ảnh hưởng lên khả năng cạnh tranh của sản xuất trong nước so với nước ngoài Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền là mối quan tâm của NHTW các nước

 Tăng trưởng kinh tế

Trong quá trình điều hành CSTT ngoài mục tiêu ổn định tiền tệ, thì mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng hết sức quan trọng Một sự ổn định trong tăng trưởng sẽ góp phần tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, ổn định trên cơ sở đó các doanh nghiệp có thể đưa ra một kế hoạch đúng đắn và đẩy mạnh đầu tư dài hạn Tăng trưởng kinh tế còn góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp

 Tạo công ăn việc làm càng cao

Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế, CSTT cũng hướng vào mục tiêu tạo công

ăn việc làm cao và duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp Thông qua tác động tích cực của tiền tệ đối với tăng trưởng kinh tế, CSTT góp phần mở ra nhiều cơ hội việc làm, tạo sức thu hút lao động trong xã hội

b) Mục tiêu trung gian

Để đạt được các mục tiêu cuối cùng đã định, NHTW còn phải xác định các mục tiêu trung gian của CSTT, nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng Các mục tiêu trung gian này có thể định lượng, đo lường, kiểm soát và thông qua chúng có thể dự đoán được việc thực hiện các mục tiêu cuối cùng Mục tiêu trung gian thường được các NHTW sử dụng là các khối tiền tệ M1, M2, M3 và lãi suất Các mục tiêu trung gian này lại được chi tiết hóa qua những mục tiêu hoạt động

c) Mục tiêu hoạt động

Mục tiêu hoạt động bao gồm các chỉ tiêu được NHTW lựa chọn để đạt được mục tiêu trung gian của CSTT Là chỉ tiêu phản ánh tức thời với sự điều chỉnh của công cụ CSTT Các chỉ tiêu thường được NHTW lựa chọn làm mục tiêu hoạt động là: cơ số tiền tệ và lãi suất liên ngân hàng Tùy theo tình hình và mục tiêu mà NHTW có thể lựa chọn một trong hai chỉ tiêu trên làm mục tiêu hoạt động của CSTT

Trang 18

2.1.1.4 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ

a) Kênh lãi suất

Kênh truyền dẫn này được Keynes miêu tả như sau: CSTT mở rộng ( M ↑) , lãi suất thực giảm ( i↓), làm giảm giá cả vay vốn Dẫn đến đầu tư tăng ( I↑), tăng cầu và tăng sản lượng ( Y↑) Hiệu quả của kênh truyền dẫn này phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường tài chính Khái quát kênh truyền dẫn này như sau:

M ↑ → i↓ → I↑→ Y↑

b) Kênh giá cả tài sản

Có ba loại giá cả tài sản bên cạnh giá cả công cụ nợ (lãi suất) được xem như là những công cụ quan trọng qua đó CSTT tác động đến nền kinh tế bao gồm: giá cả chứng khoán, giá cả bất động sản và tỷ giá hối đoái

+ Tỷ giá hối đoái

Kênh truyền dẫn tỷ giá hối đoái được khái quát theo sơ đồ như sau:

 Tỷ giá hối đoái tác động đến xuất khẩu thuần: CSTT mở rộng (M↑) dẫn đến lãi suất đồng nội tệ giảm giá, kéo theo đồng nội tệ giảm giá so với đồng ngoại

tệ (E↓) Sự giảm giá đồng nội tệ làm hàng hóa trong nước rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, xuất khẩu ròng gia tăng (NX E↑) và vì thế gia tăng sản lượng Y

M ↑ → E↓ → NX↑→ Y↑

 Tỷ giá hối đoái tác động đến bảng cân đối tài sản: sự biến động của tỷ giá hối đoái tác động đến tổng cầu thông qua các công ty tài chính và phi tài chính khi có một số lượng nợ đáng kể bằng đồng ngoại tệ Khi CSTT mở rộng (M↑) làm giảm giá trị đồng nội tệ, tăng gánh nặng nợ và kéo theo giá trị thuần tài sản giảm (NW↓), vay mượn giảm (L↓), đầu tư giảm (I↓), dẫn đến (Y↓)

M ↑ → NW↓ → L↑→ I↓→Y↓

+ Giá cả chứng khoán

Cơ chế truyền dẫn liên quan đến giá cả chứng khoán tác động đến: đầu tư, bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp và sự giàu có của hộ gia đình

+ Giá cả bất động sản

Trang 19

Kênh truyền dẫn giá cả bất động sản tác động đến tổng cầu thông qua các kênh: ảnh hưởng trực tiếp đến chi tiêu nhà ở, sự giàu có của hộ gia đình và bảng cân đối ngân hàng

2.1.1.5 Các công cụ thực thi CSTT

Để có thể thực hiện được mục tiêu ổn định kinh tế và tăng trưởng thông qua việc cung ứng tiền và điều tiết khối lượng tiền, NHTW ở các nước có thể sử dụng những công cụ như sau:

a) Dự trữ bắt buộc:

Là một phần vốn huy động tiền gửi mà các tổ chức tín dụng bắt buộc phải dự trữ theo luật định Mức dữ trữ bắt buộc phụ thuộc vào tỷ lệ dữ trữ do NHTW quy định Như vậy, thông qua việc tăng hoặc giảm tỷ lệ dữ trữ bắt buộc NHTW có thể làm giảm hoặc tăng hệ số tạo tiền của hệ thống ngân hàng trung gian, nói cách khác điều này ảnh hưởng đến khối tín dụng mà ngân hàng trung gian có thể cung ứng cho nền kinh tế Đây là một công cụ mang tính chất hành chính và có ưu điểm là để kiểm soát cung tiền tệ của nền kinh tế Bên cạnh đó, công cụ này cũng có những mặt trái khi sử dụng Việc thay đổi tỷ lệ dữ trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại, nếu thường xuyên thay đổi tỷ lệ này cũng sẽ gây ra tình trạng mất ổn định của hệ thống ngân hàng và ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của những ngân hàng thương mại

b) Quy định lãi suất:

Bằng cách sử dụng công cụ này, NHTW sẽ điều khiển lãi suất tín dụng cho nền kinh tế bằng các biện pháp hành chính đối với ngân hàng, cùng với khung lãi suất đã được ấn định Để cho lãi suất tín dụng thực sự là công cụ phù hợp của CSTT trong nền kinh tế năng động thì những quy định về lãi suất đã dần được thay đổi Lãi suất quy định cứng nhắc đã dần thay thế bằng cách quy định lãi suất trần cho vay và lãi suất sàn đối với lãi suất tiền gửi hoặc dùng một lãi suất duy nhất để điều tiết thị trường tiền tệ bằng lãi suất tái chiết khấu

c) Nghiệp vụ thị trường mở

Trang 20

Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ để NHTW thực hiện việc cung ứng và điều hòa khối lượng tiền tệ thông qua việc mua hoặc bán các loại công trái, trái phiếu kho bạc, chứng khoán… Đây là công cụ CSTT quan trọng nhất vì nó ảnh hưởng đến

cơ số tiền tệ, thông qua đó ảnh hưởng đến cung tiền

d) Tỷ giá hối đoái

Có hai kênh truyền dẫn cơ bản thông qua tỷ giá hối đoái

+ Tỷ giá hối đoái tác động đến xuất khẩu thuần: khi chính sách tiền tệ mở rộng (M ↑) dẫn đến lãi suất đồng nội tệ giảm, kéo theo đồng nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ (E↑) Sự giảm giá đồng nội tệ làm cho hàng hóa trong nước rẻ hơn hàng hóa nước ngoài, xuất khẩu ròng gia tăng (NX↑) và vì thế gia tăng sản lượng (Y↑)

+ Tỷ giá hối đoái tác động đến bảng cân đối tài sản: sự biến động của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến tổng cầu thông qua bảng cân đối của các công ty tài chính

và phi tài chính khi có một lượng nợ đáng kể bằng đồng ngoại tệ Với những hợp đồng nợ bằng đồng ngoại tê, chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm giảm giá trị đồng nội

tệ, gia tăng gánh nặng nợ; kéo theo là giá trị thuần tài sản giảm (NW↓), dẫn đến vay mượn giảm (L↓), giảm đầu tư (I↓) và giảm sản lượng (Y↓)

e) Hạn mức tín dụng

NHTW sử dụng biện pháp quy định giới hạn khối lượng tín dụng mà các NHTM cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian cố định Biện pháp này được sử dụng trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát cao và được sử dụng khá phổ biến ở những nước trong hệ thống Xã hội chủ nghĩa với cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung Tuy nhiên, biện pháp này cũng bộc lộ một số hạn chế

Trong các công cụ điều hành của CSTT, mỗi công cụ có các đặc điểm riêng, phù hợp với những điều kiện kinh tế khác nhau Để đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý thị trường thì những công cụ linh động, có tính mềm dẻo cao được vận dụng ngày càng nhiều Một số công cụ được sử dụng phổ biến như nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái chiết khấu Dự trữ bắt buộc cũng là một công cụ được áp dụng xong vẫn còn

Trang 21

dè dặt, còn công cụ hạn mức tín dụng, quy định lãi suất ngày càng tỏ ra không phù hợp

2.1.2 Cơ sở lý thuyết về chính sách tài khóa

2.1.2.1 Khái niệm CSTK

CSTK là hệ thống các công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được Chính phủ sử dụng để huy động, phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của quốc gia CSTK trong ngắn hạn điều tiết sản lượng thực tế, lạm phát, thất nghiệp nhằm ổn định kinh tế Trong dài hạn, CSTK điều chỉnh cơ cấu kinh tế và thúc đẩy kinh tế lâu dài Công cụ của CSTK thường

được sử dụng bao gồm: chi tiêu chính phủ, vay nợ chính phủ và thuế khóa

Trạng thái của CSTK thường được đánh giá qua chênh lệch giữa thu và chi ngân sách Khi ngân sách thặng dư thì CSTK thắt chặt hay thu hẹp Ngược lại, khi ngân sách bội chi thì CSTK nới lỏng hay mở rộng Thông thường, chính phủ không chỉ tập trung vào mức độ bội chi mà còn tập trung vào thay đổi bội chi

2.1.2.2 Phân loại chính sách tài khóa

a) Chính sách tài khóa trung lập, mở rộng và thu hẹp

Tùy vào thực trạng của nền kinh tế và mục tiêu điều tiết nền kinh tế, chính phủ

sử dụng các CSTK khác nhau:

+ Chính sách tài khóa trung lập: là chính sách cân bằng ngân sách, chi tiêu

của chính phủ hoàn toàn được tài trợ từ nguồn thu của chính phủ và nhìn chung là có tác động trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế

+ Chính sách tài khóa mở rộng: là chính sách tăng cường chi tiêu của chính

phủ (G > T) thông qua mở rộng chi tiêu và/hoặc giảm bớt nguồn thu thuế

+ Chính sách tài khóa thu hẹp: là chính sách giảm bớt chi tiêu hoặc/và tăng

nguồn thu của chính phủ

Việc điều hành chính sách tài khóa theo hướng nào tùy thuộc vào quan điểm của từng chính phủ gắn với các bối cảnh kinh tế vĩ mô cụ thể Có những chính phủ theo đuổi chính sách tài khóa trung lập, trong khi cũng có những chính phủ theo đuổi các

Trang 22

chính sách tài khóa mở rộng hoặc thu hẹp gắn với từng bối cảnh cụ thể của nền kinh

tế vĩ mô

b) Chính sách tài khóa thuận và nghịch chu kỳ

Căn cứ vào trạng thái nền kinh tế và tình hình điều tiết nền kinh tế của chính phủ:

Thông thường khi nền kinh tế suy thoái thì chính phủ sẽ thực thi chính sách tài khóa mở rộng và ngược lại khi nền kinh tế tăng trưởng thì chính phủ sẽ thực thi chính sách tài khóa thu hẹp Điều hành chính sách tài khóa theo hướng này được gọi

là chính sách tài khóa nghịch chu kỳ (counter-cyclical fiscal policy) Ngược lại cũng có những quốc gia điều hành chính sách tài khóa thuận chu kỳ (pro-cyclical

fiscal policy), tức là khi nền kinh tế suy thoái thì thu hẹp tài khóa, còn khi nền kinh

tế tăng trưởng nóng thì mở rộng tài khóa Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, ở các nước phát triển thường chính sách tài khóa có tính nghịch chu kỳ, ngược lại ở các nước đang phát triển thì chính sách tài khóa lại thường có tính thuận chu kỳ

2.1.2.3 CSTK và tổng cầu xã hội

a) Tổng cầu xã hội và số nhân chi tiêu

Theo lý thuyết Keynes thì tổng cầu xã hội được phản ánh như sau:

AE=C + I + G + (X-M) Trong đó: AE là tổng cầu; C là chi tiêu tiêu dùng của dân cư, I là chi đầu tư của doanh nghiệp, G là chi tiêu của chính phủ, (X–M) là cán cân thanh toán của quốc tế

Theo Keynes phân tách chi tiêu xã hội thành hai loại: chi tiêu tự định và chi tiêu ứng dụ Trong đó, chi tiêu tự định là khoản chi tiêu độc lập với thu nhập, chi tiêu ứng dụ thay đổi khi thu nhập thay đổi

AE = AE0 + mpcY

Trong đó: AE0 là chi tiêu tự định, mpc: thiên hướng tiêu dùng biên, Y là thu nhập, mpcY là chi tiêu ứng dụ

Tỷ số 1

giữa chi tiêu tự định với thu nhập

Trang 23

b) CSTK và tổng cầu xã hội

Ta có thể phân tách tổng cầu thành các thành tố:

Trong nền kinh tế mở, chính sách tài khóa cũng tác động đến tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Khi chính sách tài khóa mở rộng, sự vay vốn của chính phủ sẽ làm tăng lãi suất thị trường trong nước Khi đó, nhà đầu tư nước ngoài sẽ đầu tư ngoại tệ vào trong nước nhằm thu lợi từ chênh lệch lãi suất Điều này dẫn đến đồng ngoại tệ trở nên giảm giá so với đồng nội tệ, và hàng hóa nhập khẩu rẻ, xuất khẩu trở nên đắt hơn ở nước ngoài, làm gia tăng thâm hụt cán cân thương mại

2.1.2.4 CSTK- công cụ quản lý vĩ mô

Với sự tác động đến tổng cầu và các thành phần của nó, CSTK đã trở thành công

cụ quản lý kinh tế vĩ mô Sự ảnh hưởng trước hết của CSTK mở rộng là làm gia tăng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ Nhu cầu càng lớn dẫn đến gia tăng cả sản lượng đầu ra lẫn giá cả, đến lượt làm thay đổi trạng thái chu kỳ kinh tế Nếu như nền kinh

tế đang trong trạng thái suy thoái, thất nghiệp gia tăng thì sự gia tăng tổng cầu sẽ

Trang 24

kích thích gia tăng sản lượng mà không gây ra sự thay đổi giá cả Thế nhưng khi nền kinh tế đạt ở mức toàn dụng lao động thì sự mở rộng chính sách tài khóa lại gây ảnh hưởng mạnh đến giá cả hơn và ít ảnh hưởng đến tổng sản lượng

Với khả năng ảnh hưởng đến sản lượng thông qua ảnh hưởng đến tổng cầu, làm cho CSTK trở thành công cụ tiềm năng để ổn định kinh tế

2.2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế

Ổn định kinh tế vĩ mô là một mối quan tâm chính đối với các nhà hoạch định chính sách và chính phủ ở cả các nước phát triển và đang phát triển Tăng trưởng kinh tế bền vững với mức giá tương đối ổn định và cải thiện phúc lợi xã hội đáng kể

là chiều hướng mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng hướng tới Trong khía cạnh này, cả chính sách tiền tệ và tài khóa được sử dụng như là công cụ chính cho sự ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và quản lý Tuy nhiên, trong năm thập kỷ vừa qua những hiệu quả của hai chính sách này là một mối quan tâm lớn của các nhà hoạch định chính sách và các nhà kinh tế với hàng loạt những lời biện hộ khác nhau từ những người theo chủ nghĩa tiền tệ, các nhà tài chính và cả các nhà điều phối chính sách Những nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa tiền tệ Friedman và Meiselman (1963), Elliot (1975), Rahman (2005) và Senbet (2011) là những nhà kinh tế tin rằng chính sách tiền tệ là một công cụ mạnh mẽ hơn khi được sử dụng để ổn định kinh tế vĩ

Mặt khác thì các nhà kinh tế thuộc thuyết kinh tế của Keynes thì tin tưởng chính sách của họ phụ thuộc nhiều vào sự thay đổi chi tiêu và thuế của chính phủ hơn các chính sách tiền tệ Quan điểm của các chính sách này đã thúc đẩy việc nghiên cứu

mở rộng về hiệu quả tương đối của chính sách tài khóa và tiền tệ của nhà nghiên cứu Ajisafe và Folorunso (2002), Adefeso và Mobolaji (2010), Chowdhury (1986)

và Mohammad (2009)

Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm đã không đạt được một kết luận liên quan đến những hiệu quả tương đối và duy nhất của hai chính sách Những phát

Trang 25

hiện cho kết quả mâu thuẫn nhau do đó đã hạn chế sự tổng quát các kết quả trên các quốc gia khác nhau Điều thú vị là, theo như Senbet (2011) những tranh cãi về kết quả thì chủ yếu được cho là do những lựa chọn hay phương pháp tiếp cận sử dụng trong phân tích hay thay đổi Theo Adefeso và Mobolaji (2010) lập luận rằng cả hai chính sách tiền tệ và tài khóa đều tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế

Cuộc tranh luận về tầm quan trọng tương đối của hai chính sách vẫn tiếp tục diễn

ra giữa những nhà theo đuổi chính sách tiền tệ và những người theo chủ nghĩa Keynes Mặc dù chính sách tiền tệ và tài khóa sử dụng các công cụ chính sách khác nhau, nhưng chúng có liên quan chặt chẽ trong việc đạt được các mục tiêu nhất định trong việc tác động đến mức sản lượng của nền kinh tế Dưới đây là một số nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa đến tăng trưởng theo quan điểm của một số nhà kinh tế học trên thế giới

Một số nghiên cứu cụ thể sự tác động của CSTT, CSTK đến tăng trưởng kinh tế

Friedman và Meiselman (1963) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để kiểm

tra tính hợp lệ của Keynes và trường phái lý thuyết tiền tệ, thực hiện bằng cách đơn giản hóa trong mô hình phương trình duy nhất Các kết quả cho rằng mô hình tiền tệ thì ổn định hơn so với mô hình số nhân của Keynes

Tuy nhiên, kết quả của họ đã không được chấp nhận và bị chỉ trích bởi nhiều nhà kinh tế bởi việc đơn giản hóa mô hình phương trình duy nhất nên không nhận ra vấn đề của nội sinh liên quan đến các biến kinh tế vĩ mô

Tương tự quan điểm trên, Jordan và Anderson (1968) sử dụng một mô hình kinh

tế động và kết luận rằng chính sách tiền tệ có ảnh hưởng hiệu quả hơn và nhanh hơn đến nền kinh tế so với chính sách tài khóa Ngược lại, mô hình kinh tế lượng được xây dựng bởi Hệ thống dự trữ liên bang xác định nhiều kênh thông qua đó chính sách tiền tệ tác động, chỉ ra một chính sách tài khóa tương đối hiệu quả hơn chính sách tiền tệ

Trang 26

Waud (1974) đã sử dụng một mô hình kinh tế lượng tương tự như được sử dụng theo Anderson và Jordan (1968), và tìm thấy cả chính sách tài khóa và tiền tệ đều quan trọng trong ảnh hưởng đến sản lượng kinh tế thực (GDP) Tương tự nhiều nghiên cứu cũng đã được tiến hành ở các nước đang phát triển

Ajayi (1974) trong nghiên cứu của mình, ông ước lượng các biến của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa bằng cách sử dụng kỹ thuật bình phương bé nhất (OLS) và phát hiện ra rằng, các tác động của chính sách tiền tệ là lớn hơn nhiều và

dễ dự đoán hơn những ảnh hưởng chính sách tài khóa Những kết quả này đã khẳng định, với việc sử dụng hệ số beta thay đổi lớn hơn trong chính sách tiền tệ so với các chính sách tài khóa Về bản chất, mức độ tin cậy nhiều hơn nên được dựa trên chính sách tiền tệ

Adefeso và Mobolaji (2010) xem xét lại hiệu quả tương đối của chính sách tài khóa và tiền tệ lên tăng trưởng kinh tế ở Nigeria sử dụng dữ liệu hàng năm từ 1970-

2007 Họ sử dụng các cơ chế hiệu chỉnh sai số và kỹ thuật đồng tích hợp để đưa ra suy luận chính sách Nghiên cứu cho thấy rằng tác động chính sách tiền tệ trên GDP

là mạnh và lớn hơn chính sách tài khóa và bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mở cửa thương mại không làm thay đổi kết quả của bài nghiên cứu Họ kết luận rằng trong trường hợp ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ tương đối hiệu quả hơn chính sách tài khóa

Tuy nhiên, Andersen và Jordan (1986) lại có kết luận ngược lại Họ đã kiểm tra thực nghiệm mối quan hệ giữa các biện pháp của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và tổng chi tiêu ở Hoa Kỳ Những mối quan hệ được làm rõ bởi phân tích hồi quy những thay đổi trong tổng sản phẩm quốc gia (GNP) dựa trên sự thay đổi của cung tiền (MS) và các biện pháp tài chính khác nhau như thặng dư ngân sách việc làm cao (R-E), chi tiêu ngân sách việc làm cao (E) và số thu ngân sách việc làm cao (R) Họ kết luận rằng chính sách tài khóa tác động nhiều hơn và nhanh hơn trên sản lượng kinh tế hơn so với chính sách tiền tệ

Trang 27

Chowdhury (1986) đã sử dụng kỹ thuật bình phương nhỏ nhất (OLS) trong nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả tương đối của hai chính sách ở Bangladesh Ông sử dụng phương trình của St Louis để ước lượng biến tiền tệ và tài khóa Từ những phân tích ông kết luận rằng tác động tài khóa gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế ở Bangladesh hơn tác động của tiền tệ Kết quả này đã được khẳng định với thống kê-t của các hệ số tổng cộng là lớn hơn đáng kể giá trị tương ứng cho các hệ số tổng tiền tệ

Olaloye và Ikhide (1995) sử dụng dữ liệu hàng tháng cho 1986 -1991 tại Nigeria ước lượng theo phương trình của St Louis Việc phân tích các kết quả của họ cho thấy chính sách tài khóa gây sức ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế hơn chính sách tiền tệ

Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu dường như bỏ qua các tính chất của dữ liệu chuỗi thời gian, hướng của quan hệ nhân quả và nội sinh của các biến Hầu hết các các biến kinh tế vĩ mô đều dừng khi lấy sai phân thì có ý nghĩa Bất kỳ một phân tích hồi quy dựa trên các biến không có ý nghĩa đặc biệt là nếu phương trình là không đồng liên kết, Engle và Granger (1987)

Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế khác chỉ trích các giá trị của việc sử dụng các phương trình St Louis, với lý do sử dụng các phương trình rút gọn, các biến số chính sách bao gồm trong phương trình đó như tiền và chi tiêu chính phủ không phải là thống kê ngoại sinh và trên cơ sở là phương trình có lỗi kỹ thuật vì nó bỏ qua các biến khác có liên quan (lãi suất, tỷ giá và giá cả) Chính những điều này, nghiên cứu Raham (2005) cho rằng kết quả dựa trên phương trình St Louis không đáng tin cậy và không phù hợp Bruce và Snyder (2004) sử dụng dữ liệu Mỹ tìm thấy chính sách tài khóa là có ảnh hưởng đến sản lượng Ansari (1996) thấy rằng một cú sốc đối với chi tiêu chính phủ để giải thích gần đến một phần tư của sự thay đổi trong GDP của Ấn Độ

Trang 28

Hassan (2006) sử dụng mô hình SVAR để nghiên cứu hiệu quả của các chính sách tài khóa trong việc ổn định GDP thực tế của Ai Cập bằng cách sử dụng dữ liệu hàng năm bao gồm từ 1981 đến 2005 Bài nghiên cứu kết luận rằng mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và hoạt động kinh tế là thực sự yếu ớt Nghiên cứu cũng đưa ra rằng cần có sự kết hợp mạnh mẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền

tệ Trong kết luận của bài nghiên cứu tiết lộ bằng chứng dựa vào việc sử dụng chính sách tài khóa tác động đến sự biến động ổn định

Suleiman (2009) đã nghiên cứu mối quan hệ dài hạn giữa cung tiền (M2), chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế ở Pakistan bằng cách sử dụng dữ liệu hàng năm cho giai đoạn nghiên cứu 1977-2007 Bài nghiên cứu sử dụng kiểm định đồng liên kết Johnson để xác định liệu có tồn tại một mối quan hệ dài hạn giữa các biến nghiên cứu Kiểm định quan hệ nhân quả được sử dụng để xác định xem hướng của quan hệ nhân quả là song phương hoặc một chiều Đáng ngạc nhiên là kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng có tồn tại một mối quan hệ tiêu cực giữa chi tiêu công và tăng trưởng trong dài hạn, trong khi cung tiền (M2) tác động tích cực vào tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Kết quả đưa ra rằng chính sách tiền tệ có tác động không giới hạn trên tăng trưởng kinh tế

Koimain (2007) sử dụng dữ liệu của Thái Lan từ 1993 lên 2004 để tìm hiểu mối liên hệ nhân quả giữa sản lượng kinh tế (GDP) và chi tiêu chính phủ (đại diện cho chính sách tài khóa) Ông phát hiện thấy rằng không có đồng liên kết giữa chi tiêu công, tăng trưởng kinh tế và nguồn cung tiền (M2) Tuy nhiên quan hệ nhân quả một chiều được thành lập giữa các biến với cả hai chính sách tác động đáng kể vào GDP thực tế Hỗ trợ nghiên cứu này là các kết quả thu được theo Patterson và Sjoberj (2003) sử dụng dữ liệu Thụy Điển 1961-2003 để xác định các mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế Họ chia chi tiêu công thành ba loại lớn là tiêu dùng cá nhân, tổng vốn cố định và trả lãi Họ phát hiện ra rằng tất cả các biến ảnh hưởng đáng kể lên sản lượng kinh tế do đó kết luận rằng chính sách tài khóa tác động đáng kể lên sản lượng kinh tế

Trang 29

Jordan, Roland và Carter (1999) đã nghiên cứu hiệu lực chính sách tiền tệ và tài khóa ở các nước Caribbean bao gồm Trinidad, Barbados và Guyani, sử dụng dữ liệu hàng năm Trong bài nghiên cứu, chi tiêu chính phủ được sử dụng như là biến chính sách tài khóa và tài sản thuần trong nước là một biến của chính sách tiền tệ và GDP là thước đo sản lượng kinh tế Kết quả dựa trên phương pháp VAR cho rằng cả hai chính sách có ảnh hưởng đáng kể vào GDP nhưng các hệ số của chính sách tiền tệ chỉ ra những tác động tiêu cực khi mở rộng chính sách tiền tệ làm cho sản lượng nền kinh tế đi ngược lại trong dài hạn Rõ ràng là sức thuyết phục tương đối của hai chính sách vẫn là một câu đố trong lý thuyết kinh tế Những mâu thuẫn trong các kết quả thực nghiệm hiện đã được quy cho lựa chọn biến, thực hiện và cách tiếp cận phương pháp luận

Senbet (2011) đã nghiên cứu tác động tương đối của chính sách tài khóa và tiền

tệ lên tăng trưởng tại Mỹ bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận VAR Ông chỉ ra rằng hầu hết các nghiên cứu bỏ bê mối quan hệ chính sách - giá Các nghiên cứu sử dụng GDP danh nghĩa là biến phụ thuộc không thể giải quyết các vấn đề cách chính sách gây ra sự thay đổi được phân chia giữa một sự thay đổi trong sản lượng thực

và sự thay đổi trong giá cả Ví dụ nếu giá nhạy cảm với những thay đổi trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa nó có thể trực tiếp phản ánh trong GDP danh nghĩa và có thể dẫn đến kết luận rằng chính sách này có hiệu quả Vì vậy hiệu quả nên được đo trong điều kiện tác động đến các biến thực và biến không đáng kể Để lọc ra các tác động của giá thực tế GDP nên được sử dụng như là đại diện cho hoạt động kinh tế trong khi cung tiền thực và chi tiêu chính phủ thực tế nên được sử dụng như các đại diện cho các chính sách tiền tệ và tài khóa tương ứng Để giải quyết vấn đề nội sinh thì cách tiếp cận VAR cần được thông qua Senbet thấy rằng chính sách tiền tệ tương đối tốt hơn so với chính sách tài khóa trong việc ảnh hưởng sản lượng thực

Trang 30

Nhìn chung, các bài nghiên cứu trên thế giới cho thấy cả hai CSTT, CSTK đều

là những công cụ trong điều hành nền kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, mỗi bài nghiên cứu

sẽ có những kết luận khác nhau về mức độ tác động của mỗi chính sách

Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam

Trong thời gian qua ở Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về tác động của CSTT và CSTK đến tăng trưởng kinh tế Nhưng hầu hết các bài nghiên cứu đều chỉ tập trung vào một chính sách cụ thể mà chưa có sự phối hợp của cả 2 chính sách cùng tác động đến tăng trưởng kinh tế Trong đó, các bài nghiên cứu về sự tác động của CSTT và kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế là nhiều hơn cả Sau đây là một số nghiên cứu ở Việt Nam:

Lê Việt Hùng và Wade D.Pfau (2008) phân tích sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ ở Việt Nam bằng cách sử dụng mô hình VAR để nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ, sản lượng thực, giá, lãi suất thực, tỷ giá hối đoái thực và tín dụng Tác giả thấy rằng chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến sản lượng, trong đó thì kênh truyền dẫn lãi suất kém quan trọng hơn kênh tín dụng và tỷ giá hối đoái

Phạm Thế Anh (2008) nghiên cứu chính sách tiền tệ và ảnh hưởng của nó đến sản lượng, lạm phát và các biến vĩ mô khác Sử dụng mô hình SVAR Tác giả thấy rằng cú sốc của cung tiền M2 và lãi suất đóng góp rất nhỏ vào sự biến động của tăng trưởng

Nguyễn Khắc Quốc Bảo và cộng sự ( 2013) nghiên cứu sự tác động của chính sách tiền tệ lên nền kinh tế ở Việt Nam, tác giả sử dụng mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số VECM gồm 8 biến ( lãi suất FED, giá dầu, sản lượng công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, lãi suất kỳ hạn 3 tháng, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương, chỉ số chứng khoán) để phân tích các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế ở Việt Nam Bài nghiên cứu thấy rằng cung tiền có ảnh hưởng lớn đến sản lượng công nghiệp, lạm phát, thị trường chứng khoán hơn các biến vĩ mô khác

Trang 31

Bài nghiên cứu cho thấy rằng kết quả thu được từ các nghiên cứu của SVAR phụ thuộc rất lớn vào việc thiết lập các điều kiện áp đặt

Trần Thọ Đạt và Hà Huỳnh Hoa (2015) đánh giá sự tác động tương đối đến tăng trưởng kinh tế của CSTT và CSTK Tác giả sử dụng 4 biến GDP, cung tiền thực (M2), tiêu dùng cuối cùng của chính phủ (GO) và lãi suất cho vay thực (ILR) trong thời gian từ 2001-2014 Bài nghiên cứu đều ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, nhưng CSTT thời gian qua có ảnh hưởng tương đối mạnh hơn so với CSTK

Dựa trên những bài nghiên cứu đi trước, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm sự tác động tương đối của hai chính sách CSTT và CSTK đến tăng trưởng kinh tế trong khoảng thời gian từ quý 1/2002 đến quý 4/2014 và đồng thời đánh giá được tầm quan trọng của các chính sách này đến sự ổn định của nền kinh tế

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương 2, bài nghiên cứu đã khái quát những nền tảng lý thuyết về CSTT

và CSTK, các công cụ và cơ chế lan truyền của CSTT và CSTK đến tăng trưởng kinh tế qua các kênh khác nhau trong nền kinh tế Bên cạnh đó, tác giả còn tóm tắt những nghiên cứu về sự tác động của CSTT và CSTK đến tăng trưởng kinh tế của các nước trên thế giới và tại Việt Nam Các trường phái đều có lập luận lý thuyết và thực nghiệm riêng để giải thích cho quan điểm của mình Dựa trên nền tảng lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm ở trên, là cơ sở để chọn lọc và xây dựng

mô hình nghiên cứu đánh giá sự tác động của 2 chính sách này đến tăng trưởng kinh

tế tại Việt Nam

Trang 33

Chương 3: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TẠI

VIỆT NAM

3.1 Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Trải qua hơn

29 năm thay đổi và phát triển nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực

Minh chứng cho các thành quả đạt được một cách rõ nét nhất là tốc độ tăng trưởng kinh tế

Giai đoạn 1986-1995: giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, khủng hoảng kéo

dài nhưng đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng Trong giai đoạn này, do chịu ảnh hưởng của tình hình thế giới, mà cụ thể là hệ thống xã hội chủ nghĩa của Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ, bên cạnh đó nước ta mới chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang thể chế kinh tế thị

trường nên nền kinh tế còn nhiều biến động, tình trạng lạm phát cao

Năm 1986 chúng ta đã rơi vào tình trạng siêu lạm phát với ba chữ số 748% trong khi đó tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 2.33% Đến năm 1987 thì tỉ lệ lạm phát có giảm nhưng vẫn ở mức cao là 223.1%, mức tăng trưởng GDP chỉ là 3.78%

Từ năm 1989 đến năm 1991, lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn còn khá cao với mức tăng 67% liên tiếp trong hai năm 1990 và 1991, phải từ năm 1992 trở đi tình hình mới lắng dịu và tạm ổn định cho đến năm 1995

Như vậy, trong giai đoạn này tăng trưởng kinh tế Việt Nam ngày càng cải thiện, cũng như mức độ lạm phát có giảm đáng kể so với năm 1986

Trang 34

Bảng 3.1: Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát các năm trong giai đoạn

Giai đoạn 1996-2006: mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính

khu vực, thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp nhưng chúng ta vẫn duy trì được tốc

độ tăng GDP bình quân từ năm 1996-2006 GDP tăng 7.3%/năm

Cuộc khủng hoảng kinh tế tiền tệ châu Á năm 1997 làm cho sự phát triển của châu Á bị tụt lùi và ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế Việt Nam GDP bị sụt giảm với mức

độ sâu hơn từ 9.3% năm 1996 xuống 5.8% năm 1998 và 4.8% năm 1999 Các chính sách thúc đẩy tăng trưởng cao từ giữa năm 1999, tăng cường mở rộng đầu tư nhưng hiệu quả không cao

Từ năm 2000, nền kinh tế Việt Nam có dấu hiệu khôi phục Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước trong giai đoạn 2001-2006 đạt 7.5%/năm Trong giai đoạn này, đã có những chuyển biến tích cực, cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước Chất lượng hàng hóa và dịch vụ đã được nâng cao, nhiều ngành nghề mới xuất hiện như dịch vụ tài chính, thị trường chứng khoán… xã hội ổn định, đời sống vật chất và tình thần ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, chúng ta luôn phải đối mặt với thách thức về ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển chưa bền vững, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, hiệu quả sử dụng các nguồn lực chưa cao… Những thách thức trên đẩy lạm phát ở Việt Nam trong những năm gần đây tăng rất cao, nhưng vẫn giữ được lạm phát giai đoạn 2000 – 2006 ở mức một chữ số

Trang 35

Bảng 3.2: Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát các năm trong giai đoạn

Giai đoạn từ 2007-2011: Tăng trưởng GDP trong 5 năm 2007-2011 sau khi

Việt Nam gia nhập WTO chỉ đạt 6.5%/năm, không đạt mục tiêu kế hoạch 7.5-8%, nhưng vẫn tương đối cao so với nhiều nước trên thế giới trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Trong giai đoạn 2007 đến giữa 2008, các chỉ tiêu kinh tế đạt ở mức cao, tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 8.5%, cao nhất

so với 10 năm trước đó Tuy nhiên, từ giữa năm 2008 đến nay tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại và thấp hơn nhiều so với 5 năm trước khi gia nhập WTO (2008-

2011 bình quân 6.1%/năm, năm 2009 chỉ đạt 5.3%)

Giai đoạn từ năm 2009 đến nay, kinh tế toàn cầu suy thoái, kinh tế nước ta đối mặt

với rất nhiều khó khăn Lạm phát Việt Nam trong giai đoạn này ở mức cao, năm

2007, tăng lên đến 12.6%/năm; đến năm 2011 là 18.13%/năm.Với mức lạm phát này thì Việt Nam đang là một trong những nước có mức lạm phát cao nhất thế giới

Bảng 3.3: Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát các năm trong giai đoạn

Trang 36

Giai đoạn 2012-2014 đạt khoảng 6%/năm Tính chung cho cả giai đoạn GDP

tăng bình quân gần 7%, trong đó có tới 20 năm liên tục GDP tăng bình quân 7.43% Thành tích này nếu so sánh thấp hơn Hàn Quốc, Singapore, nhưng cao hơn hầu hết các nước khu vực ASEAN còn lại

Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, ổn định Năm 2012 có tỷ lệ tăng GDP thấp nhất trong vòng nhiều năm nay Tốc độ tăng trưởng năm 2013 tiếp tục thấp dù có tăng hơn đôi chút so với năm 2012 Kinh thế thế giới năm 2013 vẫn còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp, đặc biệt là cuộc khủng hoảng nợ công của các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu Năm 2014 kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế trên đà phục hồi Nền kinh tế Việt Nam đã đạt những kết quả khả quan nhưng vẫn còn nhiều khó khăn và kinh tế thế giới còn bất ổn chính trị

Bảng 3.4: Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát các năm trong giai đoạn

3.2 Thực trạng CSTT tại Việt Nam

Sau gần 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định và từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới CSTT đã được điều chỉnh khá đa dạng và linh hoạt theo diễn biến của nền kinh tế vĩ mô và định hướng phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, việc điều hành CSTT vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế nhất định

Giai đoạn 1986-1995: trước năm 1986, nền kinh tế VN tồn tại nhiều bất ổn

như hàng hóa khan hiếm, thâm hụt ngân sách nặng nề do nguồn thu ngân sách nhà nước hạn chế Trong giai đoạn trước đó (trước 3/1989), chính sách lãi suất thực âm

Trang 37

và lãi suất cho vay có sự phân biệt theo thành phần kinh tế ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các ngân hàng và là nguyên nhân dẫn đến lạm phát phi mã, làm cản trở sự phát triển của các thành phần kinh tế Khi chuyển sang cơ chế thị trường, NHNN đã cải cách mạnh mẽ trong việc xây dựng và điều hành CSTT cho phù hợp với nền kinh tế, đáp ứng đủ cung-cầu vốn trên thị trường, đặc biệt là việc áp dụng tỷ giá hối đoái chính thức cho thị trường tiền tệ được xem là một bước tiến tích cực trong việc chuẩn hóa hoạt động của thị trường Cơ chế điều hành lãi suất khá linh hoạt thông qua việc chuyển cơ chế kiểm soát mức lãi suất trên thị trường sang hình thức tự do hóa lãi suất

ĐVT: %

Hình 3.1: Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán từ 1990-1996

Nguồn: Tổng hợp báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Giai đoạn 1996-2006: đây là giai đoạn chuyển mình của nền kinh tế trong

nước sau đổi mới và thực hiện chính sách mở cửa Trong bối cảnh đó, chính phủ đưa ra chủ trương phát triển không chỉ là kiềm chế lạm phát mà còn là kích cầu thông qua tăng vốn đầu tư toàn xã hội và thực hiện các biện pháp CSTT nới lỏng

Từ 1996-2003 các giải pháp kích cầu được thực hiện nên hầu như công cụ hạn mức tín dụng không sử dụng tới Năm 2000, NHNN đã áp dụng công cụ lãi suất cơ bản kèm biên độ Công cụ lãi suất thỏa thuận cũng từng bước được áp dụng, và đây

Trang 38

được xem là một bước ngoặc trong việc điều hành CSTT tại Việt Nam Kết quả là góp phần thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển theo định hướng kinh tế thị trường Tuy nhiên, thì tốc độ lạm phát trong nước ngày càng tăng

Từ năm 2004, theo chỉ thị số 30/2004/CT-TTg ngày 05/08/2004 của Thủ tướng chính phủ về các biện pháp kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường nên CSTT trong giai đoạn này là thận trọng, linh hoạt, tích cực, chặt chẽ, ổn định lãi suất và tỷ giá Kiểm soát tăng trưởng tín dụng, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời đảm bảo an toàn và hiệu quả tín dụng Trong năm

2005, NHNN đã điều chỉnh tăng một số lãi suất, trong đó 02 lần tăng lãi suất cơ bản

từ 7.5-8.25%/năm, 03 lần tăng lãi suất tái cấp vốn từ 5-6.5%/năm, bên cạnh đó tăng trần lãi suất tiền gửi bằng USD được điều chỉnh tăng Sang năm 2006, mặt bằng lãi suất VND và USD đều tăng so với cuối năm 2005 Nhiều công cụ như nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất, tỷ giá hối đoái được NHNN sử dụng linh hoạt, thận trọng để đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm phát, kiểm soát mức tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng và kinh tế phát triển ổn định

ĐVT: %

Hình 3.2: Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán từ 1997-2006

Nguồn: Tổng hợp báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

40.6

26 23.5 38.14

21.44

22.2 28.41

41.65

31.1 25.44 26.1

23.9

39.3

38.96 25.53

17.7 24.94

30.39

29.65 33.59

Trang 39

Từ năm 2007 đến 2014

Từ tháng 02/2010, CSTT tiếp tục đặt trọng tâm kiềm chế lạm phát, thực hiện trần lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam 14%/năm, cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận Chính phủ đã thực hiện chủ trương thắt chặt tiền tệ và tài khóa, thể hiện qua Nghị Quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 Chủ trương này tiếp tục được khẳng định bởi Nghị Quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2012 Ngay từ đầu năm 2012, với việc thực hiện CSTT chặt chẽ và CSTK thắt chặt, quý 1/2012 mức tăng trưởng thực tế của GDP chỉ đạt vào khoảng 4% ( mức thấp nhất trong nhiều năm qua) Tuy nhiên, bù lại sự tăng trưởng chậm, đã thành công trong kiềm chế lạm phát, hạ thấp mặt bằng lãi suất cả tiền gửi và cho vay, ổn định tỷ giá hối đoái và nhập siêu giảm đáng kể

Giai đoạn 2013-2014 NHNN bám sát chủ trương xuyên suốt trong trung và dài

hạn của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, cơ cấu lại nền kinh tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế NHNN đã xác định và kiên trì theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp để tăng cường hoạt động sản xuất Các công cụ của CSTT được điều hành một cách đồng bộ, linh hoạt, chủ động nhằm giảm mặt bằng lãi suất để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đồng thời điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD, góp phần kiểm soát lạm phát và hỗ trợ ổn định tỷ giá Ngoài ra, NHNN còn sử dụng các công cụ tái cấp vốn, tái chiết khấu để phù hợp với diễn biến thị trường, giữ ổn định

tỷ lệ dữ trữ bắt buộc bằng VNĐ và ngoại tệ để tạo điều kiện cho TCTD mở rộng tín dụng an toàn, hiệu quả, thực hiện chủ trương chống đô la hóa

Trang 40

ĐVT: %

Hình 3.3: Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán từ 2007-2014

Nguồn: Tổng hợp báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3.3 Thực trạng CSTK tại Việt Nam

Giai đoạn 1986-1990: Trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi cơ chế

quản lý kinh tế từ 1986-1990 tình hình tài chính của Việt Nam luôn trong tình trạng thu không đủ chi, thâm hụt ngân sách cao Chi tiêu của NSNN phải trông đợi một phần từ nguồn viện trợ bên ngoài Bên cạnh đó, còn gặp những khó khăn về kinh tế và chính trị khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã cắt giảm dần viện trợ của

họ cho Việt Nam.Với những quy định ban đầu về chính sách tài khóa thắt chặt như xóa bao cấp trong đầu tư của doanh nghiệp, yêu cầu các doanh nghiệp từng bước thực hiện tự chủ tài chính, áp dụng các biện pháp kiểm soát chi tiêu với đầu tư xây dựng cơ bản, chi ngân sách được bố trí lại cho phù hợp với năng lực thu và hạn chế được hiện tượng bao cấp tràn lan qua ngân sách…chính phủ đã có một số tác động tích cực đến tình hình kinh tế, kiểm soát được tình hình lạm phát

Giai đoạn 1991-1996: tình hình trong nước đã có những chuyển biến tích cực,

sản xuất và lưu thông hàng hóa đã có động lực mới, tình trạng thiếu lương thực đã được giải quyết căn bản, lạm phát phi mã được đẩy lùi Điều hành chính sách thu-

46.1

20.3

29 33.3

Ngày đăng: 30/12/2020, 19:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm