Cơ sở lý luận và phân tích tác động của một số chính sách cụ thể mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong vài năm trở lại đây để giải quyết vấn đề việc làm.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
MÔN: KINH TẾ VI MÔ 1.3
ĐỀ TÀI: Cơ sở lý luận và phân tích tác động của một số chính sách cụ thể
mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong vài năm trở lại đây để
giải quyết vấn đề việc làm.
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay, vấn đề thất nghiệp và các chính sách giải quyết việc làm đang là vấn đề nóng bỏng “và không kém phần bức bách” đang được toàn xã hội đặc biệt quan tâm Thập niên đầu của thế kỷ 21
là một thập niên đầy biến động về kinh tế, chính trị, xã hội Bắt đầu là vụ khủng bố ngày 11/9/2001, rồi chiến tranh tại I- rắc, vấn đề hạt nhân ở bán đảoTriều Tiên, dịch cúm gà H5N1, và đỉnh cao là cuộc khủng hoảng kinh tế năm
2007 kéo dài cho đến tận bây giờ Cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu ở Mỹ rồilan rộng ra toàn thế giới khiến nền kinh tế thế giới phải đối mặt với rất nhiều khó khăn: tốc độ tăng trưởng giảm, lạm phát, và đặc biệt là tình trạng thất nghiệp tăng cao Nhưng ở Việt Nam, tỉ lệ thất nghiệp hằng năm giảm hoặc tăng rất chậm Nguyên nhân do đâu? Một phần là do nền kinh tế của nước ta
là nền kinh tế nhỏ, còn non trẻ nên chưa bị tác động mạnh của cuộc khủng hoảng, nhưng phần lớn là do Chính phủ Việt Nam đã kịp thời ban hành nhữngchính sách đúng đắn nhằm hạn chế ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, kìm hãm sự gia tăng của lạm phát và giảm tình trạng thất nghiệp,… Những chính sách đó là gì? Tác động của nó như thế nào đến tình trạng thất nghiệp của
nước ta? Để tìm hiểu rõ hơn vấn đề này chúng ta cùng: “ Phân tích tác động của một số chính sách cụ thể mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong vài năm trở lại đây để giải quyết vấn đề việc làm”.
Trang 3NỘI DUNG Chương I: Một vài khái niệm và phân loại thất nghiệp.
1 Thất nghiệp.
- Là khái niệm chỉ những người trong lực lượng lao động xã hội không
có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm
- Lực lượng lao động xã hội(LLLĐXH): là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động (15-55 tuổi với nữ, 15-60 tuổi với nam) có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi nhưng trên thực tế
có tham gia lao động
- Độ tuổi lao động là khoảng tuổi do pháp luật của mỗi quốc gia quy định và những người trong độ tuổi ấy có nghĩa vị phải tham gia lao động
- Ngoài những người đang có việc làm và thất nghiệp, những người cònlại trong độ tuổi lao động được coi là những người không nằm trong lực lượng lao động bao gồm: người đi học, nội trợ gia đình, những người không
có khả năng lao động do đau ốm, bệnh tật và một bộ phận không muốn tìm việc làm với nhiều lý do khác nhau
- Tỷ lệ thất nghiệp: là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia, là tỷ số giữa người thất nghiệp so với LLLĐXH
Số người thất nghiệpU% = x 100%
LLLĐXH
Lực lượng lao động
Tỷ lệ tham gia lao động = x 100%
tổng số dân trong độ tuổi lao động
2 Các dạng thất nghiệp.
2.1 Theo lý do thất nghiệp.
Trang 4- Mất việc, người lao động không có việc làm do các đơn vị sản xuất kinh doanh cho thôi việc vì một lý do nào đó.
- Bỏ việc, là những người tự ý xin thôi việc vì những lý do chủ quan của người lao động
- Nhập mới, là những người lần đầu tiên bổ sung vào lực lượng lao động, nhưng chưa tìm được việc làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm
- Tái nhập, là những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay trở lại làm việc nhưng chưa tìm được việc làm
2.2 Theo nguồn gốc thất nghiệp.
- Thất nghiệp tạm thời, xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời gian tìm kiếm việc làm hoặc công việc làm khác tốt hơn, phù hợp với nhucầu riêng của mình
- Thất nghiệp cơ cấu, xảy ra khi có sự thay đổi cơ cấu kinh tế, có sự chuyển đổi động thái sản xuất, chỉ xảy ra ở một bộ phận thị trường lao động
- Thất nghiệp chu kỳ (thiếu cầu), xảy ra bởi sự suy giảm tổng cầu trong nền kinh tế, thất nghiệp này xảy ra trên toàn bộ thị trường lao động
2.3 Theo lý thuyết về cung cầu lao động.
- Thất nghiệp tự nguyện: chỉ những người không muốn đi làm ở mức lương hiện hành, muốn đi làm ở mức lương cao hơn
- Thất nghiệp không tự nguyện: chỉ những người muốn đi làm ở mức lương hiện hành nhưng không được thuê
Trang 5- Thất nghiệp tự nhiên: là thất nghiệp ở mức sản lượng tiềm năng Về bản chất thất nghiệp tự nhiên chính là thất nghiệp tự nguyện khi thị trường laođộng ở trạng thái cân bằng.
- Thất nghiệp trá hình (vô hình): chỉ những người đi làm thực sự nhưngthu nhập quá ít
Trang 6Chương II: Vấn đề việc làm của Việt Nam trong vài năm trở lại đây.
1 Thực trạng vấn đề việc làm của Việt Nam.
Việt nam là một trong những nước kinh tế đang phát triển, quy mô dân
số và mật độ dân cư tương đối lớn so với các nước trên thế giới và tốc độ pháttriển nhanh, trong lúc đó việc mở rộng và phát triển kinh tế, giải quyết việc làm gặp nhiều hạn chế, như thiếu vốn sản xuất, lao động phân bổ chưa hợp lý,tài nguyên khác chưa được khai thác hợp lý Càng làm cho chênh lệch giữa cung và cầu về lao động rất lớn, gây ra sức ép về vấn đề giải quyết việc làm trong toàn quốc
1.1 Vấn đề thất nghiệp.
Thất nghiệp luôn là mối quan tâm nóng bỏng toàn cầu Trong những năm 2005 – 2007, nền kinh tế thế giới ổn định, nền kinh tế ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vấn đề thất nghiệp cũng dịu đi Nhưng đến cuối năm 2007, cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế đã khiến vấn đề này lại trở nên nhức nhối Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ giảm sút; tiêu thụ sản phẩm chậm, hàng hóa ứ đọng, kể cả các vật tư quan trọng, lương thực và nhiều nông sản xuất khẩu có khối lượng lớn; số người mất việc làm năm 2008 khoảng 667.000 người, 3.000 lao động từ nước ngoài phải về nước trước thời hạn Theo Bộ Lao Động, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vào khoảng 4,65% Tức là khoảng hơn 2 triệu lao động không có việc làm Danh sách các doanh nghiệp giải thể, tạm ngưng hoạt động, thu hẹp sản xuất ngày càng dài thêm trong các báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TPHCM Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và làn sóng thất nghiệp đã lan đến Việt Nam - khi hàng ngàn lao động ở các thành phố đã bị mất việc làm trong những tháng cuối năm này
Trang 7Chung Thành
thị
Nôngthôn Chung
Thành thị
Nông thôn
Đồng bằng sông Hồng 2,29 5,35 1,29 6,85 2,13 8,23Trung du và miền núi phía Bắc 1,13 4,17 0,61 2,55 2,47 2,56Bắc Trung Bộ và duyên hải
Đồng bằng sông Cửu Long 2,71 4,12 2,35 6,39 3,59 7,11
* Tỷ lệ thất nghiệp theo nhóm tuổi.
Năm 2009, trong số hơn 1,3 triệu lao động thất nghiệp, số người thất nghiệp trẻ tuổi từ 15 đến 29 đã chiếm tới gần hai phần ba (64,9%), trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là nhóm tuổi 20-24 (26,6%), tiếp theo là nhóm tuổi 25-29 (20,9%) Nhóm tuổi lao động trẻ nhất (15-19) vẫn có tới 17,4% bị thất nghiệp Đây là một trong những nhóm lao động được xem là dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các biến động trên thị trường lao động
* Tỷ lệ thất nghiệp theo tình trạng hôn nhân.
Theo kết quả Điều tra lao động và việc làm 1/9/2009, số thất nghiệp chưa vợ/chồng chiếm tỷ trọng lớn nhất (48,7%), tiếp đến là những người có vợ/chồng; nhóm “Ly hôn/ly thân” và “Góa” chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ
Điểm đáng chú ý khi nghiên cứu tình trạng hôn nhân của dân số thất nghiệp
Trang 8theo giới tính là số thất nghiệp nam đông nhất ở nhóm chưa vợ/chồng (58,4%)trong khi số thất nghiệp nữ ở nhóm có vợ/chồng lại chiếm tỷ trọng lớn nhất (52,3%) Đặc biệt ở nhóm “Goá” và “Ly hôn/ly thân”, phần lớn người thất nghiệp là nữ Điều này cho thấy, nam giới có vợ có lợi thế việc làm hơn nữ giới có chồng và lại càng có nhiều lợi thế hơn nếu so sánh với phụ nữ góa hoặc ly hôn, ly thân.
* Xuất khẩu lao động gặp khó khăn.
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, năm 2008, cả nước giải quyết việc làm cho 1,35 triệu lao động, trong đó thông qua các chương trình kinh tế xã hội là 1,1 triệu, xuất khẩu lao động 85.000 4 thị trường xuất khẩu lao động trọng điểm của Việt Nam là: Đài Loan (33.000), Hàn Quốc (16.000),Malaysia (7.800) và Nhật Bản (5.800).Malaysia là thị trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất Trong các năm 2005-2007, mỗi năm quốc gia này tiếp nhận khoảng 30.000 lao động Việt Nam Năm 2008, do lo ngại nhiều rủi
ro cũng như khan hiếm nguồn lao động, số người Việt sang Malaysia giảm hẳn, chưa tới 10.000
* Dân số không hoạt động kinh tế.
Tại thời điểm 1/9/2009, cả nước có hơn 15,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế (tức bao gồm những người mà trong thời kỳ quansát không làm việc nhưng không đi tìm việc hoặc không sẵn sàng làm việc)
Số lượng này chiếm 17,5% tổng dân số
Trong số người từ 15 tuổi trở lên không tham gia hoạt động kinh tế, nữ nhiều hơn nam Chênh lệch về giới nhiều nhất tập trung ở khoảng tuổi từ 25 đến 49 Đây chủ yếu là do nhiều phụ nữ khoảng tuổi này đang làm các công việc nội trợ gia đình
Trong các phân tổ theo lý do không làm việc, số người không hoạt động kinh tế do đang là học sinh/sinh viên chiếm tỷ trọng cao nhất (33,8%)
Trang 9Nhóm nội trợ chiếm khoảng 14,1% , trong đó gần như toàn bộ là nữ (96,0%) Mất khả năng lao động chiếm khoảng 9,2% trong khi không muốn đi làm là 12,5% “Khác” bao gồm những người không được xếp vào các phân tổ trên như: ốm đau tạm thời, bận việc gia đình (tang ma, hiếu hỉ, con ốm), đang đi học/đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, đang nghỉ thời vụ…
Trong tổng dân số không tham gia hoạt động kinh tế, nữ chiếm 60,7% Đáng chú ý là tỷ trọng những người không tham gia hoạt động kinh tế do “là sinh viên/học sinh” của nam là 44,6% còn của nữ giới chỉ có 26,9% Đây lại
là một bằng chứng nữa cho thấy nữ giới bị thiệt thòi hơn trong cơ hội học hành Gần chín mươi phần trăm số người không tham gia hoạt động kinh tế không có trình độ chuyên môn kỹ thuật Điều này cho thấy đào tạo nghề sẽ là một biện pháp tăng cơ hội việc làm cho người lao động
có thể tham gia sản xuất các mặt hàng truyền thống Tuy nhiên không phải ở vùng nào của Việt Nam cũng như vậy, bên cạnh đó, các làng nghề truyền thống đang bị mai một dần nên tình trạng thất nghiệp theo mùa vụ ở nông
Trang 10thôn hiện nay là vô cùng phổ biến Tình trạng thất nghiệp mùa vụ kéo theo hiện tượng di chuyển lao động – một vấn đề việc làm khá cấp thiết
Chúng ta có thể thấy rõ hơn tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam qua các bảng số liệu sau:
Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Hiện tượng di chuyển lao động là biểu hiện tất yếu của quan hệ cung vàcầu lao động trên thị trường lao động Các dòng di chuyển lao động trong
Trang 11nước chủ yếu là di chuyển từ Bắc vào Nam, di chuyển lao động giữa các ngành hoặc khu vực kinh tế và từ nông thôn ra thành thị Tuy nhiên dòng di chuyển lao động mạnh nhất hiện nay vẫn là từ nông thôn ra các vùng đô thị Người lao động ở khắp mọi nơi và làm mọi công việc, từ những công việc có
kỹ thuật như thợ nề, thợ mộc đến những công việc đòi hỏi có vốn như xích lô,
xe ôm và đặc biệt phần lớn người lao động nông thôn là người lao động giản đơn, không có vốn, không có kỹ thuật chủ yếu là bốc xếp, vận chuyển hàng hóa, giúp việc cho các gia đình,…
Ở Việt Nam còn tồn tại một vấn đề việc làm là vấn đề thiếu lao động chất lượng cao Trong khi hàng triệu người không tìm được việc làm, thì ở một số ngành nghề và rất nhiều cơ sở kinh doanh đang thiếu lao động kỹ thuật, lao động có chuyên môn nghề nghiệp và trình độ phù hợp với yêu cầu sản xuất Theo thống kê, hiện nay tỷ lệ lao động được đào tạo của nước ta tuy vẫn tăng đều qua các năm nhưng đến nay vẫn chỉ đạt 24% tổng lao động (tỷ lệtương ứng của các nước trong khu vực là 50%) Tỷ lệ đào tạo lao động có bằng cấp còn thấp (tăng khoảng 7,3%/năm) và chưa tương ứng với nhu cầu lao động có đào tạo cho phát triển kinh tế
Chảy máu chất xám không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà còn là vấn
đề của rất nhiều nước đang phát triển khác Theo số liệu mới nhất của Sở Giáo dục - Đào tạo, hiện số lượng du học sinh của ta đã vào khoảng 60.000 người và ngày càng tăng Cho dù có học bổng hay tự túc, thậm chí du học bằng ngân sách nhà nước… số học xong quay trở về là rất ít Chất xám của Việt Nam bị thất thoát đến giật mình Với 70% du học sinh “một đi không trở lại” như hiện nay, số chất xám thất thoát lên đến hơn 40.000 người
Từ năm 2000 đến 2006, Bộ GD-ĐT đã tổ chức cho 2.684 nghiên cứu sinh ra nước ngoài du học, trong đó có 871 tiến sĩ, 793 thạc sĩ và 814 cử nhân.Chi phí bình quân cho mỗi du học sinh theo đề án 322 là khoảng 22.000 USD/năm, tức khoảng 100.000 USD/4 năm, tức trên 1,5 tỷ đồng Một vị giáo sư đã
so sánh: Chỉ riêng tại Úc và Đức, mỗi năm nhà nước ta phải chi đến 5.000 tỷ
Trang 12đồng cho du học sinh Và, một khi nguồn chất xám khổng lồ này không được khai thác đúng, số tiền mấy ngàn tỷ đồng kia phải gọi tên chính xác là chảy máu ngoại tệ Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT trình Quốc hội năm 2004, trong
số vài ngàn DHS du học bằng tiền nhà nước, chỉ có 120 trường hợp quay về
2 Nguyên nhân
- Sự hạn chế khả năng giải quyết việc làm cho người lao động ở nước
ta những nguyên nhân cơ bản sau đây:
- Dân số đông và gia tăng quá nhanh trong những năm gần đấy dẫn đếntình trạng thiếu việc làm
- Thất nghiệp gia tăng do suy giảm kinh tế toàn cầu: Nguyên nhân khiến người lao động bị mất việc chủ yếu do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu Nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, có doanh nghiệp phải đóng cửa hoàn toàn do sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, nhất là những doanh nghiệp xuất khẩu Chính vì vậy, họ phải sa thải bớt lao động dẫn đến lao động mất việc làm
- Nếp nghĩ đề cao việc học để “làm thầy” của người Việt Nam đặc biệt
là ở giới trẻ mặc dù nếu bản thân học “làm thợ” sẽ tốt hơn hay “thích làm Nhànước, không thích làm cho tư nhân”; như vậy là thiếu thực tế bởi không dựa trên khả năng của bản thân và nhu cầu xã hội Một bộ phận LĐ trẻ có biểu hiện ngộ nhận khả năng bản thân; một bộ phận khác lại tự ti, không đánh giá hết năng lực thực sự của mình Chọn nghề theo “nếp nghĩ” sẽ dễ mắc những
sai lầm Rất nhiều lao động trẻ "nhảy việc" để tìm kiếm thu nhập cao nên dẫn
đến tình trạng dễ bị mất việc
- Lao động Việt Nam có trình độ tay nghề thấp, chưa đáp ứng được yêucầu mới, tính chuyên nghiệp chưa cao Việc kỹ năng không đáp ứng yêu cầu
và sự thiếu phối hợp giữa hệ thống đào tạo và giáo dục, các nhu cầu thị
trường LĐ và quan niệm lạc hậu về vai trò và trách nhiệm giới Tỷ lệ lao động
Trang 13được đào tạo nghề rất thấp, chỉ khoảng 26% Lao động của chúng ta đúng là dồi dào thật nhưng vẫn không tìm được việc làm, hoặc có việc làm nhưng không ổn định một phần do trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu Do đó, lao động vẫn trong tình trạng bán chuyên nghiệp, công việc chắp vá, không ổn định.
- Chính phủ thu hồi đất canh tác để xây dựng các khu công nghiệp nhưng chưa có chính sách đào tạo việc làm cho người dân dẫn đến tình trạng người dân mất đất không có công ăn việc làm, kéo nhau lên các thành phố lớntìm việc
Trang 14Chương III: Các chính sách của chính phủ và tác động của nó tới vấn đề việc làm ở nước ta trong vài năm trở lại đây.
1 Chính sách về kinh tế
1.1 Gói kích cầu của Chính phủ.
Từ năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các giải pháp, chính sách quan trọng nhằm ngăn ngừa lạm phát và ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩysản xuất kinh doanh phát triển và tăng cường thực thi các chính sách bảo đảm
an sinh xã hội, trong đó có việc triển khai gói kích thích kinh tế 8 tỷ USD (khoảng 9% GDP)
Kết quả của việc thực hiện gói kích cầu lần thứ nhất của chính phủ đã
hỗ trợ cho 1.110 dự án, giúp ngăn chặn suy thoái kinh tế cho 76.000 doanh nghiệp mới thành lập
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10, diễn ra trong hai ngày 29
- 30/10, Chính phủ đã quyết định sẽ triển khai gói chính sách hỗ trợ thứ hai đối với doanh nghiệp Trong gói kích cầu này, Chính phủ đặt mục tiêu là hỗ trợ để có thể giảm bớt gánh nặng về chi phí, giúp doanh nghiệp duy trì được công ăn việc làm
Chính sách kích cầu của chính Chính phủ tác động tới mọi mặt của xã hội đặc biệt là tới vấn đề việc làm Nhưng trong bài này, chúng tôi sẽ phân tích tác động của chính sách kích cầu tới vấn đề việc làm ở khu vực nông thôn Việc chính phủ kích cầu nông thôn sẽ tạo điều kiện giảm bớt gánh nặng việc làm ở khu vực này Gói kích cầu tập trung vào việc tạo thu nhập cho dân
cư nông thôn, tăng số công ăn việc làm, cải thiện các dịch vụ y tế, giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, nước…) và cung cấp các tiện nghi khác cho nông thôn Thực hiện gói kích cầu trong đó có kích cầu vào khu vực nông thôn, một mặt sẽ tác động làm giảm cung lao động về lâu dài, mặt khác sẽ tăng cầu lao động tại chỗ, hạn chế di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, dần nâng cao chất lượng nguồn lực nông thôn