Hiện nay, Công ty có trụ sở chính tại 35 Hai Bà Trưng – Hà Nội và có 124đơn vị thành viên, trong đó 60 Công ty BHNT, 61 Công ty BHPNT, 1 trung tâmđào tạo, 1 Công ty đại lý ở Anh Quốc, 1
Trang 1Tình hình ký kết và hủy hợp đồng tại Công ty
BVNT Hà Nội
I Khái quát về Công ty BVNT Hà Nội
1 Quá trình ra đời và phát triển của Công ty BVNT Hà Nội
Tháng 1/1965, Công ty BHTM đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam đi vào hoạt động với tên gọi : Công ty bảo hiểm Việt Nam , sau nàyđổi tên thành Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam ( Bảo Việt )
Ngày đầu tiên, Bảo Việt có trụ sở chính ở số 11 phố Lý Thường Kiệt – quậnHoàn Kiếm – Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng Công ty hoạt động chủ yếutrong lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển, làm giámđịnh bảo hiểm cho các công trình bảo hiểm nước ngoài về hang hóa xuất nhậpkhẩu
Hiện nay, Công ty có trụ sở chính tại 35 Hai Bà Trưng – Hà Nội và có 124đơn vị thành viên, trong đó 60 Công ty BHNT, 61 Công ty BHPNT, 1 trung tâmđào tạo, 1 Công ty đại lý ở Anh Quốc, 1 Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt và
có gần 1000 phòng bảo hiểm khu vực, Bảo Việt có mạng lưới hoạt động ở tất cảcác tỉnh, thành phố trong cả nước, Bảo Việt có số vốn nhiều gấp 2 lần tổng số vốncủa tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm khác ở Việt Nam cộng lại, số quỹ dự phòngbảo hiểm trên 1600 tỷ đồng, với số nhân viêm chiếm 70% số lao động toàn ngành.Đây thực sự là con số thể hiện sức mạnh và sự thành công của Bảo Việt, Bảo Việtluôn là doanh nghiệp dẫn đầu thị trường, với thị phần toàn quốc chiếm tới 60, 49% BVNT Hà Nội là một trong những Công ty kinh doanh BHNT của TổngCông ty bảo hiểm Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 568/QĐ -TCCTcủa Bộ Tài chính
BVNT Hà Nội chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/08/1996 với số vốnpháp định là 20 tỷ đồng Trụ sở chính được đặt tại 94 Bà Triệu – Hoàn Kiếm – HàNội Công ty có nhiệm vụ kinh doanh bảo hiểm đối với các nghiệp vụ BHNT,BHYT tự nguyện và bảo hiểm tai nạn con người Các sản phẩm Công ty kinhdoanh đều được sự chỉ đạo của Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam
Trang 22 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Công ty BVNT Hà Nội là một trong 60 Công ty BHNT được phân bố rộngrãi trong cả nước Cơ cấu tổ chức của Công ty được chia làm hai khối : Khối quản
lý và khối văn phòng khai thác
- Khối quản lý : Gồm các cán bộ công nhân viên chia làm 6 phòng và một tổtin học dưới sự điều chỉnh trực tiếp của ban giám đốc
- Khối khai thác : Gồm 18 phòng khai thác đại lý BHNT ( còn gọi là phòngđại lý BHNT khu vực) ở các quận huyện Ngoài ra văn phòng Công ty còn quản lýhai tổ đại lý chuyên nghiệp và một tổ đại lý bán chuyên nghiệp Có thể khái quát cơcấu tổ chức của Công ty BVNT Hà Nội qua sơ đồ sau :
Trang 3PH
Tổn
g
Hợp
PH Phát
Hàn
h Hợp
Đồn
g
PH Quả
n lý Đại lý
PH Quản
lý Hợp Đồng
PH Tài Chính
Kế Toán
PH Dịch vụ khách hàng và Marketing Tổ Tin Học 18 phòng khai thác BHNT ở các Quận, Huyện Các tổ đại lý BHNT Các đại lý BHNT Sơ đồ cơ cấu tổ chức Công ty BVNT Hà Nội
Ban giám đốc
Trang 43 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng thuộc BVNT Hà Nội
* Phó giám đốc
Công ty có một Phó giám đốc là người giúp giám đốc điều hành một số lĩnhvực hoạt động của Công ty theo phân công của Giám đốc và chịu trách nhiệmtrước Giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được Giám đốc phân công thực hiện
* Các phòng ban
- Phòng Tổng hợp : Gồm 4 chức năng chính như sau :
+ Thực hiện các nhiệm vụ Tổng hợp;
+ Công tác quản trị, hành chính văn thư;
+ Công tác pháp chế doanh nghiệp;
+ Công tác thi đua chung;
- Phòng Tài chính – Kế toán : Gồm 3 chức năng chính như sau :
+ Công tác hoạch toán kế toán;
+ Công tác quản lý tài chính;
+ Công tác thống kê, kế hoạch;
- Phòng Quản lý đại lý : Gồm 5 chức năng chính như sau :
+ Tổ chức quản lý hệ thống đại lý, cộng tác viên khai thác bảo hiểm ;
+ Quản lý nhân sự đại lý;
+ Đào tạo đại lý;
+ Phát triển đại lý;
Trang 5+ Công tác tổ chức cán bộ, đào tạo cán bộ và lao động tiền lương;
- Phòng phát hành hợp đồng : Gồm 3 chức năng chính;
+ Tổ chức thực hiện đánh giá rủi ro để chấp nhận hoặc từ chối bảo hiểm ; + Phát hành hợp đồng bảo hiểm ;
+ Giám định bảo hiểm ;
- Phòng quản lý hợp đồng bảo hiểm : Có 4 chức năng chính :
+ Quản lý tình trạng hiệu lực của hợp đồng như quá trình nộp phí, thay đổingười thu phí, thay đổi điều kiện thời gian nộp phí;
+ Giải quyết yêu cầu của khách hàng liên quan đến quyền lợi bảo hiểm ; + Quản lý công tác tin học;
+ Quản lý hệ thống các trương trình phầm mềm máy tính;
+ Quản lý và vận hành hệ thống mạng máy tính hoạt động bình thường, đápứng yêu cầu quản lý và hoạt động kinh doanh của Công ty;
+ Quản lý hệ thống phần cứng máy tính, lắp đặt, bảo dưỡng các thiết bị tinhọc của Công ty;
ĐBH chết hoặc TTTBVV do tai nạn;
4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty BVNT Hà Nội
4.1 Thuận lợi và khó khăn
Qua hơn 5 năm hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực BHNT, Công ty BVNT
Hà Nội đã từng bước khẳng định mình trên thị trường BHNT Việt Nam Được sựchỉ đạo của Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam ( Bảo Việt ) và đội ngũ cán bộ công
Trang 6nhân viên trẻ, năng động, Công ty BVNT Hà Nội có đủ khả năng và tự tin để bước
đi những bước đi vững chắc nhằm mở rộng quy mô, tăng cường khả năng quả lýhoạt động kinh doanh và đạt được những kết quả đáng khích lệ Có được kết quảnày phải kể đến những điều kiện thuận lợi sau :
4.1.1 Thuận lợi
- Kinh tế thủ đô Hà Nội vẫn tiếp tục ổn định và tăng trưởng khá cao Đặcbiệt trong năm 2001, tổng sản phẩm quốc nội ( GDP ) của thành phố tăng 10,3%( cả nước 6,8% ), nâng thu nhập bình quân đầu người của người dân thành phố lênmột bước đồng thời tạo thêm được nhiều công ăn việc làm cho người lao động
- Tình hình chính trị – xã hội nước ta tiếp tục ổn định, văn hóa xã hội tiếptục được giữ vững tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển BHNT
- Chỉ số giá năm 2001 tiếp tục duy trì ở mức thấp hơn dự kiến, 0,8% so với3,5%, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động tài chính, ngân hàng Hơn nữa,giá cả các mặt hàng lương thực tăng khá cao,6%, giúp cải thiện mức thu nhập củangười nông dân vốn chiếm tới gần 50% dân số Hà Nội
- Lãi suất ngân hàng có su hướng giảm năm 2001, với mức giảm trung bình
từ 1 – 1,5%, làm cho việc gửi tiền ngân hàng trở lên kém hẫp dẫn, thuận lợi choviệc triển khai các sản phẩm BHNT
- Được sự quan tâm giúp đỡ của Tổng Công ty về mọi mặt, Công ty BVNT
Hà Nội không ngừng được đổi mới, được áp dụng một số dự án tăng cường côngnghệ quản lý tiên tiến nhất
- Luật kinh doanh bảo hiểm ra đời và chính thức phát huy hiệu lực vào ngày1/4/2001 tạo ra một hành lang pháp lý đồng thời góp phần khẳng định vị trí củangành kinh doanh bảo hiểm trong xã hội
- Năm 2001 cũng là năm Bảo Việt triển khai nhiều sản phẩm mới, được cảitiến trên cơ sở các sản phẩm cũ cho phù hợp hơn với nhu cầu về BHNT của ngườidân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng duy trì hợp đồng, tăng khảnăng tham gia của khách hàng và mở rộng khách hàng tiềm năng cho Công ty
- Là doanh nghiệp Nhà nước được xếp hạng đặc biệt, được Nhà nước quantâm, đã tạo một lợi thế trên thị trường So với Công ty nước ngoài Công ty có một
Trang 7lợi thể hơn hẳn đó là sự am hiểu về thị trường, con người Việt Nam và kinhnghiệm hoạt động trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.
- Uy tín của Bảo Việt tiếp tục được củng cố và nâng cao Mặt khác, do sựgia tăng tuyên truyền quản cáo của Công ty BHNT đang hoạt động trên thị trường
đã làm cho sự hiểu biết của người dân về BHNT tăng dần và làm cho nhu cầu thamgia BHNT được mở rộng
Cho đến nay, Bảo Việt vẫn là đơn vị có thị phần BHNT cao nhất trong thịtrường BHNT Việt Nam, có mạng lưới khai thác rộng khắp trên các tỉnh thành Bên cạnh những yếu tố thuận lợi thì Công ty cũng phải đối mặt với không ítkhó khăn
4.1.2 Những khó khăn
- Mặc dù tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá cao, xong do điểm xuấtphát thấp, thu nhập của đại bộ phận dân cư trên địa bàn thành phố là chưa cao vàcòn có sự chênh lệch lớn Mức thu nhập cao chủ yếu tập chung vào khoảng 30%dân cư ở khu vực thành thị trong khi thành thị cũng là thị trường đã được khai thácnhiều trong suốt 5 năm qua Tính trung bình tỷ lệ tham gia BHNT của dân cư khuvực các quận nội thành của Hà Nội hiện nay vào khoảng 10%
- Sự tham gia thị trường của các Công ty BHNT của nước ngoài ngày càngsâu hơn dẫn đến sự chia sẻ thị trường BHNT cũng như nguồn tuyển viên Mặtkhác, sự có mặt ngày càng đông hơn của đội ngũ tư vấn BHNT trên thị trườngcũng làm cho khách hàng khó tính hơn, việc tiếp cận và thuyết phục trở lên khókhăn hơn
- Sự am hiểu của người dân về bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng vẫncòn hạn chế Hơn nữa, người dân Việt Nam chưa có thói quen đầu tư dài hạn nhưBHNT
- Dư luận xã hội về một số trương hợp từ chối giải quyết quyền lợi bảo hiểmcủa Công ty BHNT nước ngoài đã gây mất lòng tin, ảnh hưởng bất lợi đến thịtrường BHNT
- Năm 2001 là năm chuyển đổi chương trình máy tính từ Foxpro sang BVlfe,cho phép quản trị dữ liệu và các dịch vụ tốt hơn nhưng hiện nay còn thiếu ổn định
Trang 8và đồng bộ, chưa đỏp ứng được nhu cầu của cụng tỏc quản lý Thờm vào đú là việctriển khai sản phẩm mới, những thay đổi trong quy trỡnh khai thỏc trong một thờigian ngắn Cũng gõy ra những khú khăn nhất định cho hoạt động của Cụng ty Tuy vậy,với sự nỗ lực và cố gắng của ban lónh đạo và toàn thể nhõn viờn,Cụng ty tiếp tục phỏt huy được lợi thế của Bảo Việt nờn đó đạt được kết quả khảquan đỏnh đấu một bước trưởng thành trong hoạt động kinh doanh của Cụng ty.
4.2 Tỡnh hỡnh phỏt triển thị trường BHNT Việt Nam
BHNT ra đời từ năm 1996, sau một vài năm hoạt động của Cụng ty BHNTtrờn thị trường chưa thực sự đạt kết quả cao, nhưng đến đầu năm 2000 là bước khởiđầu đỏnh dấu sự cạnh tranh thực sự trong cỏc hoạt động về kinh doanh BHNT trờnthị trường Việt Nam
Hiện nay đó cú 5 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực BHNT bao gồm :Bảo Việt, Prudential, Mannulife, Bảo Minh – CMG và Cụng ty TNHH bảo hiểmquốc tế Mỹ ( AIA ) đang hoạt động tại Việt Nam Sự cú mặt của cỏc Cụng ty nướcngoài vào thị trườn BHNT Việt Nam đó gúp phần tạo lờn một thị trường BHNT sụiđộng, doanh thu phớ bảo hiểm qua cỏc năm khụng ngừng ra tăng, điều đú thể hiệnqua bảng số liệu sau :
0 500
Năm
Tỷ đồng
Trang 9Căn cứ vào số liệu trên chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét : Qua 6 nămtriển khai BHNT doanh thu phí bảo hiểm ngày một tăng, năm 1996 khi mới bắtđầu triển khai doanh thu phí chỉ đạt 0.9 tỷ VNĐ thì đến năm 2001 con số này là
2778 tỷ VNĐ tăng 277,1 tỷ VNĐ đây là kết quả rất khả quan khẳng định tương laiphát triển của BHNT Tình hình doanh thu cũng biến động theo từng năm Năm
1997 so với năm 1996 tăng 10,1 tỷ VNĐ tốc độ phát triển liên hoàn đạt khoảng1222,22 % Trong những năm này, do mới ra đời và Bảo Việt là Công ty duy nhấttrên thị trường BHNT do vậy doanh thu phí rất nhỏ
Từ sau năm 1999, do các chính sách mở cửa của Nhà nước, thị trườngBHNT đã thực sự trở lên sội động với sự ra nhập của một số Công ty BHNT nướcngoài tại Việt Nam Doanh thu phí bảo hiểm không ngừng ra tăng, năm 2000 lượngtăng tuyệt đối liên hoàn là 610 tỷ so với năm 1999, năm 2001 lượng tăng tuyệt đốiliên hoàn là 1678 tỷ VNĐ so với năm 2000 Đây là con số đáng mừng, nói lên sựthành công bước đầu của BHNT tại Việt Nam Có được kết quả đó là sự nỗ lực củacác Công ty, mạng lưới đại lý hoạt động rất hiệu quả và sự thúc đẩy tất yếu của cơchế cạnh tranh trong BHNT
Một khía cạnh nữa chúng ta cần xem xét khi nghiên cứu sự phát triển của thịtrường BHNT Việt Nam Đó là thị trường BHNT có những chuyển dịch mạnh,điều này thể hiện qua bảng số liệu sau :
Bảng 2 : Hoạt động khai thác của 5 Công ty trên thị trương BHNT Việt Nam năm
Trang 10Qua biểu đồ ta nhận thấy : hiện nay Bảo Việt vẫn là Công ty có thị phần bảohiểm lớn nhất, nhiều hơn thị phần của 4 Công ty Prudential, Mannulife, AIA,CMG cộng lại Với lợi thế đó là có mạng lưới ở khắp các tỉnh thành và là doanhnghiệp hoạt động lâu đời nhất tại thị trường BHNT Việt Nam Bảo Việt luôn làCông ty dẫn đầu thị trường BHNT Việt Nam Tuy nhiên sự độc quyền trong lĩnhvực kinh doanh BHNT tại thị trường BHNT Việt Nam không còn nữa Sự cạnhtranh đã trở lên gay gắt với sự xuất hiện của các Công ty bảo hiểm nước ngoài đặcbiệt là Prudential chiếm 29,84% thị phần BHNT và Mannulife chiếm 10,80% thịphần BHNT Đặc biệt với sự tham gia của Công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ AIA đãđang dần khẳng định được vị trí của mình từ chỗ năm 2000 doanh thu phí chỉ đạt2,8 tỷ VNĐ thì đến năm 2001 đạt 99 tỷ đồng chiếm 3,56 % thị phần BHNT Đây làmột thách thức rất lớn đối với Bảo Việt trong việc giữ vững vị trí kinh doanh sốmột của mình.
Về sản phẩm, hiện nay trên thị trường hệ thống sản phẩm rất đa dạng,phong phú: Sản phẩm chính, sản phẩm phụ, điều khoản bổ sung tạo nên sựphong phú và tăng khả năng lựa chọn của khách hàng khi tham gia BHNT
Tuy vậy, khi mà thị trường ngày càng phát triển thì càng có nhiều vấn đề cầngiải quyết : Vấn đề đại lý BHNT, đầu tư, quản lý hợp đồng BHNT,vấn đề tái bảohiểm
Cũng trong vòng quay đó, Công ty BVNT Hà Nội chịu sự tác động rất lớncủa thị trường BHNT Nhưng với sự nỗ lực cố gắng không ngừng của ban lãnh đạocũng như sự năng động sáng tạo của các nhân viên trong Công ty, cùng với một hệ
Trang 11thống mạng lưới đại lý được quản lý tốt đã và đang tạo ra những kết quả đángkhích lệ.
4.3 Một số thành tựu Công ty BVNT Hà Nội đã đạt được trong những năm
qua
Sự ra đời của Công ty BVNT Hà Nội là một tất yếu khách quan, đáp ứngđược sự đòi hỏi của thị trường bảo hiểm cũng như nhu cầu của người dân phát sinhkhi mà đời sống kinh tế được nâng cao Thực tế cho thấy sau thời gian hơn 5 năm,Công ty đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ và không ngừng phát triển cả
về bề rộng và bề sâu Ở đây để có thể xem xét kết quả hoạt động của Công ty quanhững năm qua ta cần phân tích trên ba phương diện : Số hợp đông khai thác mớiqua từng năm, doanh thu và chi phí
Trước tiên ta xem xét tình hình khai thác của Công ty BVNT Hà Nộiđược thể hiện qua bảng sau :
Bảng 3 : Số hợp đồng khai thác mới qua các năm
Số hợp đồng khai thác mới qua các năm
Ngừng KT
Ngừng KT
Ngừng KT
Ngừng KT
Chưa có
Chưa có
Chưa có
Chưa có
Ngừng KT
Ngừng KT
Ngừng KT
Ngừng KT
có
Chưa có
Chưa có
Chưa có
Chưa có
Chưa có
Ngừng KT
Ngừng KT
Ngừng KT
Ngừng KT
có
Chưa có
Chưa có
Chưa có
Chưa có
Chưa có
4 BH sinh mạng có
thời hạn (NB)
Chưa có
5 BH An khang
thịnh vượng(NC)
Chưa có
Chưa có
Trang 126 BH An hởng hưu
trí (ND)
Chưa có
Chưa có
NA5,NA8NC
NA6, NA9ND
Công tác khai thác có tầm quan trọng rất lớn quyết định kết quả kinh doanhcủa nghiệp vụ bảo hiểm Do vậy Công ty đã luôn tổ chức các lơp bồi dững nângcao nghiệp vụ cho cán bộ khai thác trên địa bàn quận, huyện của Hà Nội Hiện nayCông ty đã có 1200 cán bộ khai thác nhờ vậy hàng năm Công ty khai thác đượcmột số lượng lớn hợp đồng qua các năm
Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy : Hoạt động khai thác của Công ty 2 năm
1998 và 2000 đạt kết quả tốt Công ty đã hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra,đặc biệt năm 1998 Công ty đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 70% Tuy nhiêntrong năm 1999, năm 2001 Công ty đã không hoàn thành kế hoạch đặt ra, năm
1999 Công ty chỉ đạt 95,3% so vơi kế hoạch, năm 2001 Công ty chỉ đạt 96,2% sovới kế hoạch đặt ra
Một điều đặc biệt mà chúng ta phải quan tâm đó là kể từ sau năm 1999 thịsức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, điều này thể hiện trong năm 2001 Công ty đãđưa ra kế hoạch khai thác thấp hơn kế hoạch của năm trước Điều này cho chúng tathấy rằng Công ty đã dần cảm nhận được sự cạnh tranh đang diễn ra gay gắt Ngoài
Trang 13ra năm 2001 Công ty chưa hoàn thành kế hoạch đặt ra Điều này có thể do một sốnguyên nhân sau đây :
- Về phía Công ty :
+ Việc điều hành công tác kế hoạch của Công ty chưa tốt vì chưa xây dựngđược tiến độ thực hiện kế hoạch cả năm theo từng quý, tháng và tổ chức thực hiện
kế hoạch chưa kiên quyết
+ Công tác hỗ trợ của Công ty chưa đạt được hiệu quả cao vì mới dừng lại ởmức hỗ trợ kinh phí mà chưa có sự can thiệp vào các phòng đại lý
- Về phía phòng khai thác :
+ Một số trưởng phòng khai thác chưa quyết tâm cao trong việc tổ chức thựchiện kế hoạch Việc định hướng và tổ chức khâu khai thác thị trường chưa khoahọc nên hiệu quả thấp, công tác giám sát từ cấp phòng tổ đại lý còn thiếu chặtchẽ, đồng thời không phát huy được vai trò của tổ trưởng trong việc hướng dẫn vàkèm đại lý mới Cá biệt, còn có trưởng phòng khai thác chưa thực sự gương mẫutrong hoạt động, sinh hoạt của phòng
+ Chất lượng của các đại lý chưa cao do việc mở rộng khâu tuyển dụng,nhiều đại lý còn thiếu tự tin khi tiếp xúc khách hàng, kỹ năng giao tiếp còn hạnchế, không khí làm việc tại một số phòng chưa sôi nổi
Qua biểu đồ trên ta nhận thấy các loại hình bảo hiểm tiết kiệm 5 năm và Ansinh giáo dục chiếm tỷ trọng nhiều nhất, chiếm 86,9% Điều này chứng tỏ mụcđích của người tham gia BHNT là tiết kiệm và chăm lo cho việc học hành của concái là rất lớn, cần có chính sách khuyến khích đoạn thị trường này
Cơ cấu sản phẩm đã có sự thay đổi : Năm 2001 sản phẩm An sinh giáo dục (NA6, NA9 ) chiếm tỷ trọng cao nhất, 44%, tương đương với tỷ lệ năm 2000( 43,4% ) Các sản phẩm tiết kiệm có thời hạn 5 năm có xu hướng giảm từ 54,1%của năm 2000 xuống còn 42,9% năm 2001
Cũng là loại hình tiết kiệm nhưng với thời hạn 10 năm, tỷ trọng hợp đồngchỉ chiếm 9% số hợp đồng khai thác mới Điều này chứng tỏ khách hàng ưachuộng các sản phẩm có thời hạn ngắn vì nhang được nhận STBH Tuy nhiên năm
Trang 142001 tỷ trọng hợp đồng này tăng 4% so với năm 2000 Điều này chứng tỏ đã có sựthay đổi trong nhận thức của khách hàng, họ yên tâm hơn về BHNT.
Các sản phẩm niên kim, bảo hiểm trọn đời, các sản phẩm nhóm B chỉ chiếm
tỷ trọng rất nhỏ Đây là môt thị trường cần đươc khai thác vì với tốc độ phát triểnnhư hiện tại, lại thêm sự cạnh tranh của các Công ty khác, các sản phẩm đang được
ưa chuộng đã đến lúc bão hòa hoặc trở lên khó khai thác do các Công ty đều tậpchung vào khu vực đó
Đánh số hợp đồng khai thác được của Công ty qua một số năm, điều nàymới chỉ phản ánh được bề nổi đó là số lượng hợp đông Để xác định hiệu quả củatừng sản phẩm ta phải xem xét doanh thu phí các sản phẩm bảo hiểm Điều này thểhiện qua bảng sau :
Bảng 4: Doanh thu phí bảo hiểm qua các năm
Trang 15Nhìn vào bảng trên ta nhận thấy : Trong năm 1998 Công ty đã hoàn thànhtốt kế hoạch đặt ra Năm 1998 Công ty đã vượt mức kế hoạch 53%, tương ứng với
số phí thu được tăng 10,56 tỷ đồng điều này dễ hiểu bởi như phần trên đã giảithích nhờ chú trọng đên khâu khai thác như : Tuyển dụng thêm cán bộ mới, tăngcường tập huấn cán bộ đại lý làm cho số lượng hợp đồng trong hai năm tăng lênlên tục kéo theo doanh thu tăng lên đáng kể
Năm 1999 Công ty chỉ đạt 98,25% kế hoạch đặt ra, có thể giải thích là do: + Năm 1998 Công ty đã đạt được kết quả xuất sắc và nó là nền tảng để Công
ty xây dựng kế hoạch năm 1999 tương đối cao đối với Công ty BVNT Hà Nội
+ Do cạnh tranh giữa các Công ty nên có sự san sẻ thị trường
Năm 2000 Công ty đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 2,3% tương ứng với
số phí thu được tăng 2,1 tỷ đồng so với kế hoạch Trong đó phí bảo hiểm đầu tiên
là 13171 triệu đồng bằng 254 % so với phí bảo hiểm đầu tiên năm1999 là 5190triệu đồng
Bước sang năm 2001 Công ty đã cảm nhận được sức ép cạnh tranh càng gaygắt Công ty đã tăng cương hỗ trợ khâu khai thác, tạo điều kiện để hoàn thành tốt
kế hoạch đặt ra Tuy vậy, trong năm 2001 Công ty chỉ đạt 95,7% kế hoạch đặt ra.Điều này có thể giải thích là do Công ty đã không hoàn thành tốt kế hoạch khaithác Tuy nhiên, trong năm 2001 đã có một số chuyển biến cần lưu ý; Mặc dù sốlượng hợp đồng khai thác mới năm 2001 thấp hơn năm 2000 nhưng doanh thu phíbảo hiểm đầu tiên của năm 2001 cao hơn năm 2000 năm 2001 doanh thu phí bảo
Trang 16hiểm đầu tiên là 15420 triệu đồng tăng 17,07% so với năm 2000 điều này có thểgiải thích là STBH bình quân của toàn bộ hợp đồng khai thác mới trong năm tăng11,6% so với năm 2000, tương đương với tăng gần 2 triệu/HĐ; số lượng hợp đồng
có STBH từ 100 triệu trở lên đạt 271 hợp đồng, tăng 51% ( năm 2000 : 179 hợpđồng ), với doanh thu tăng 2,51 tỷ đồng, điều này cho thấy chất lượng khai thácnăm 2001 đã được cải thiện một bước
Thông qua bảng số liệu ta cũng nhận thấy doanh thu phí bảo hiểm hàng nămkhông ngừng ra tăng Năm 1999 doanh thu phí bảo hiểm tăng so với năm 1998 về
số tương đối là 76%, tương đương với số phí thu được tăng 23,39 tỷ đồng, năm
2000 doanh thu phí bảo hiểm tăng so với năm 1999 về số tương đối là 70,4%tương ứng với số phí thu được tăng 38,06 tỷ đồn, năm 2001 doanh thu phí bảohiểm tăng so với năm 2000 về số tương đối là 40,3% tương đương với số phí thuđược tăng 37,1 tỷ đồng điều này có thể giải thích là do số lượng hợp đồng đang cóhiệu lực của Công ty không ngừng tăng, mặt khác các hợp đồng bảo hiểm đều thuphí theo định kỳ trong thời gian hiệu lực hợp đồng
Thông qua biểu đồ tỷ trọng doanh thu của mỗi loại sản phẩm ta nhận thấysản phẩm tiết kiệm có thời hạn 5 năm chiếm tỷ trọng cao nhất 52,45%, thứ hai làsản phẩm bảo hiểm An sinh giáo dục, 39,87% Đây là hai loại hình sản phẩm đangđược ưa chuộng nhất tại Công ty Nguyên nhân chủ yếu là hai loại hình bảo hiểmnày chiếm tỷ trọng lớn nhất tại Công ty Tuy nhiên tỷ trọng doanh thu năm 2001 đã
có sự thay đổi : tỷ trọng doanh thu của sản phẩm bảo hiểm tiết kiệm có thời hạn 10năm có su hướng tăng từ 2,82% năm 2000 đã tăng lên 5,59% năm 2001 Đây làmột dấu hiệu tốt để Công ty tiếp tục triển khai và cải tiến sản phẩm để đáp ứng nhucầu của khách hàng
Khi xem xét kết quả hoạt động kinh doanh thì một khía cạnh quan trọngchúng ta cần xem xét đó là tình hình chi của Công ty Điều này thể hiện qua bảngsau :
Bảng 5 : Tình hình chi của Công ty BVNT Hà Nội
Đơn vị ( triệu đồng )
Trang 17< Nguồn : Báo cáo tổng kết kinh doanh>
Qua bảng số liệu ta nhận thấy chi quản lý và chi hoa hồng là hai khoản chilớn nhât của Công ty Số tiền chi quản lý và chi hoa hồng tăng lên theo sự pháttriển của Công ty Tuy nhiên tỷ lệ chi quản lý trên tổng doanh thu có su hướnggiảm; năm 1998 chi quản lý chiếm tỷ trọng khá lớn 9,15% so với tổng doanh thu,đến năm 2001 tỷ lệ chi quản lý trên tổng doanh thu xuống chỉ còn 5,19% Điều nàycũng dễ hiểu bởi vì Công ty mới thành lập nên các khoản chi trả liên quan đến việc
tổ chức và quản lý sẽ cao, ngoài ra số lượng hợp đồng tăng lên làm cho chi phítăng Khoản chi quản lý kinh doanh là khoản chi khá đa dạng trong đó có nhiềukhoản mục chi khác nhau như chi giao dịch, mua sắm tài sản, công cụ, thuê vănphòng địa điểm
Chi hoa hồng đại lý của Công ty có su hướng tăng do Công ty mở rộngmạng lưới khai thác, việc tăng cường chi phí đào tạo Do sức ép cạnh tranh của cácCông ty khác do vậy Công ty đã thay đổi chế độ đối với đại lý theo chiều hướngkhuyến khích và động viên họ làm việc theo khả năng Các chế độ khen thưởng,hoa hồng thay đổi ở mức cao hơn, có nhiều chế độ hơn cho đại lý Năm 2000 chihoa hồng đại lý của Công ty là 9211,2 ( triệu ), tỷ lệ chi hoa hồng đại lý trên tổngdoanh thu là 10,06%
Trang 18Chi trả quyền lợi của Công ty có su hướng tăng : Năm 1998 chi trả quyền lợibảo hiểm mới chỉ là 102,7 triệu đồng, năm 1999 là 2172,27 triệu đồng, năm 2000
là 6767,29 triệu đồng, năm 2001 là 10400 triệu đồng Ngoài ra tỷ lệ chi trả quyềnlợi bảo hiểm trên tổng doanh thu cũng có xu hướng tăng, năm 1998 chỉ chiếm3,35%, năm 1999 chiếm 4,39%, năm 2000 chiếm 7,46%, năm 2001 chiếm 8,2%
Để giải thích điều này là do số lượng hợp đồng mà Công ty quản lý không ngừng
ra tăng Ngoài ra chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng là do tình trạng hủy bỏ hợp đồngsau 2 năm lớn để nhận giá trị giải ước, năm 1998 chi trả GTGƯ chỉ là 65,6 triệuđồng, năm 1999 là 1860 triệu đồng, năm 2000 là 6154 triệu đồng, năm 2001 là
7160 triệu đồng
Năm 2001 là năm có một ý nghĩa quan trọng, năm đầu tiên Công ty BVNT
Hà Nội đã có những hợp đồng đáo hạn Đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng,tạo điều kiện cho Công ty tạo lập uy tín với khach hàng Trong năm 2001 Công ty
đã chi trả STBH cho 148 hợp đồng bảo hiểm đáo hạn đầu tiên với tổng số tiền là
2400 triệu đồng đến tận tay từng khách hàng
II Tình hình ký kết và hủy hợp đồng tại Công ty BVNT Hà Nội
1 Giải quyết hủy hợp đồng tại Công ty BVNT Hà Nội.
Như chúng ta đã biết khi hai bên giao kết hợp đồng bằng văn bản mà tất cả cacnội dung hợp đồng đều đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng Theo quy định vềpháp luật hợp đồng thì một bên đơn phương phá vỡ hợp đồng thì bên đó hoàn toànchựu trách nhiệm, hợp đồng bảo hiểm cũng như vậy Tuy nhiên do cơ chế mở, nềnkinh tế thị trường không cho phép các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh áp dụngnhững quy định một cách cứng nhắc như vậy mà đòi hỏi phải có một sự linh hoạttrong kinh doanh mới tạo được thuận lợi cho Công ty
Chính vì vậy mà BVNT Hà Nội có những quy định riêng cho những trườnghợp phá hủy hợp đồng
1.1 Hủy hợp đồng trong vòng 14 ngày
Theo quy định của Bảo Việt thì tất cả những khách hàng tham gia mua sảnphẩm của Bảo Việt họ luôn có một khoảng thời gian cân nhắc cụ thể như sau :Trong vòng 14 ngày kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, NTGBH có thểyêu cầu hủy bỏ hợp đồng, đại lý hướng dẫn khách hàng giấy đề nghị hoàn phí bảo
Trang 19hiểm đầu tiên, đồng thời nộp lại hợp đồng gốc và liên hóa đơn đỏ ( của khách hàng) Công ty sẽ làm thủ tục hủy hợp đồng nói trên và trả lại số phí bảo hiểm đầu tiêncho khách hàng.
Đây là một quy định để tạo điều kiện và thời gian để khách hàng có thể cânnhắc, lựa chọn những sản phẩm tốt nhất để khách hàng tham gia, đảm bảo lợi íchcho khách hàng Ngoài ra đây còn là một biên pháp làm giảm đi tình trạng hủy hợpđồng sau này, tạo ra cho khách hàng sự thoải mái khi tham gia mua sản phẩm củaBảo Việt
1.2 Hủy hợp đồng có hiệu lực trong vòng 2 năm.
- Hủy theo yêu cầu của khách hàng :
+ Trường hợp khách hàng vì lý do nào đó không muốn tiếp tục duy trì hợpđồng hoặc không thể nộp phí được nữa, đại lý hướng dẫn khách hàng kê khai vàogiấy đề nghị hủy bỏ hợp đồng và nộp về Công ty
+ Sau khi nhận được đề nghị của khách hàng, Công ty sẽ làm thông báochấp nhận hủy bỏ hợp đồn;
- Hủy do khách hàng vi phạm quy định nộp phí ( nợ phí quá hạn );
+ Trường hợp khách hàng không tiếp tục nộp phí và cũng không có giấy đềnghị hủy bỏ hợp đồng Công ty sẽ chủ động làm thủ tục hủy bỏ hợp đồng khi quáthời hạn được phép nợ phí ( 60 ) ngày;
+ Thông báo trên sẽ được lập thành văn bản, đại lý chuyển cho khách hàngmột bản và đề nghị khách hàng ký vào bản còn lại và nộp về Công ty Tất cả nhữngtrường hợp khách hàng không chịu ký nhận, đại lý cần ghi vào tờ thông báo và nộp
về Công ty cụ thể ngày giờ và địa điểm chuyển thông báo cho khách hàng
Khi hợp đồng bị hủy bỏ trong thời hạn có hiệu lực trong vòng hai năm thìkhách hàng sẽ không nhận được số phí mình đã nộp
Quy định này hầu như được tất cả các Công ty kinh doanh BHNT trên thịtrường Việt Nam áp dụng Điều này thật dễ hiểu bởi vì :
- Do Công ty phải mất chi phí nhất định cho việc khai thác hợp đồng đó.Nếu như bên tham gia đơn phương hủy bỏ mà Công ty bảo hiểm trả lại toàn bộ số
Trang 20phí đã nộp thì coi như Công ty đã bị mất một khoản chi không đáng có từ đó sẽ dẫnđến lợi nhuận giảm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty.
- Nếu như không quy định như vậy thì từ phía người tham gia lại quá chủđộng mà Công ty lại phụ thuộc quá nhiều vào những quyết định của NTGBH hoạt động kinh doanh của Công ty sẽ không ổn định
- Dự phòng phí của Công ty phục vụ cho những trường hợp này quá lớn vốn ứ đọng không đem đi đầu tư được do đó khó có thể giảm phí của các sản phẩm
không hấp dẫn được khách hàng
- Ngoài ra, quy định này còn góp phần giáo dục ý thức của NTGBH, tránhtrường hợp khách hàng thích thì tham gia không thích thì hủy Điều này sẽ ảnhhưởng đến uy tín của Công ty
1.3 Hủy hợp đồng có hiệu lực 2 năm trở lên
Khi khách hàng có yêu cầu hủy bỏ hợp đồng theo quy định của Công ty đại
lý tiếp xúc khách hàng để tìm hiểu nguyên nhân của việc yêu cầu hủy hợp đồng,hướng dẫn khách hàng những giải pháp khác có thể thực hiện được trong trườnghợp hủy vì lý do khó khăn về tài chính như : Dừng nộp phí chuyển sang hợp đồng
có STBH giảm, hoặc yêu cầu giảm STBH, hoặc đề nghị Công ty cho vay theo hợpđồng
Trong trường hợp khách hàng vẫn có ý định hủy hợp đồng, đại lý giải thíchcho khách hàng về số tiền giá trị giải ước ( theo phụ lục của hợp đồng ) và hướngdẫn khách hàng nộp giấy yêu cầu hủy hợp đồng cùng bộ hợp đồng gốc để chuyển
về Công ty
Khi hợp đồng bị hủy bỏ trong trường hợp này thì khách hàng sẽ được nhậnGTGƯ của hợp đồng ( giá trị hoàn lại cho khách hàng hủy hợp đồng có hiệu lựctrên hai năm ) Để tìm hiểu thực tế giá trị giải ước ta xem bảng mô tả quyền lợi bảohiểm với phí bảo hiểm đóng theo tháng của hợp đồng bảo hiểm An gia thịnh vượng
5 năm, với người tham gia là nam giới, ở độ tuổi 20, STBH gốc 50000000
Bảng 6 : Mô tả quyền lợi bảo hiểm với phí bảo hiểm đóng theo tháng
GTGƯ(VNĐ )
Tỷ lệ GTGƯ/
phí đã nộp (%)
2 23080800 52500000 13794200 59,76
Trang 21Đối với hợp đồng có giá trị giải ước, việc thanh toán giá trị giải ước thườngđược quy định với một số điều kiện nhất định Thông thường giá trị tiền mặt đượchoàn lại do Công ty xác định ( thường không bằng toàn bộ quỹ dự phòng ) Sở dĩkhi nhận GTGƯ Công ty phải quy định một số điều kiện là do :
- Hoạt động bảo hiểm được tiến hành theo nguyên tắc số đông bù số ít, mộtphần phí của mỗi hợp đồng được đóng góp vào quỹ bồi thường chung cho toàn bộtập hợp hợp đồng của Công ty bảo hiểm
- Một số lý do mà trong phần hủy hợp đồng tôi đã nêu ở phần trước;
Giá trị giải ước của hợp đồng bảo hiểm sẽ khác nhau giữa các năm của hợpđồng khác nhau, giữa các sản phẩm bảo hiểm khác nhau Chúng ta xem ở ví dụtrên thì từ sau năm thứ hai trở đi hợp đồng bắt đầu có GTGƯ, lúc này tỷ lệ giữaGTGƯ và số phí khách hàng đã nộp là 59,76 % và con số này liên tục tăng quanhững năm tiếp theo Đến khi hợp đồng đáo hạn thì tỷ lệ này là :103,95%
2 Tình hình hủy bỏ hợp đồng
Qua hơn 5 năm hoạt động và triển khai BHNT trên địa bàn Hà Nội kết quảkinh doanh của Công ty đã đạt được khá tốt, khẳng định được uy tín của Công tytrên thị trường Tuy nhiên trong quá trình hoạt động kinh doanh thì một vấn đềCông ty rất quan tâm đó là tình trạng hủy hợp đồng Để phân tích đánh giá tìnhhình hủy hợp đồng tại Công ty BVNT Hà Nội chúng ta có thể xem xét trên nhữngkhía cạnh sau :
2.1 Tình hình ký kết và hủy hợp đồng
Bảng 7 : Tình hình ký kết và hủy hợp đồng
Năm
Trang 221998 1999 2000 2001Chỉ tiêu Đơn vị
8 TĐ - HBHĐKTM Lần - 0,674 1,404 0,96 < Nguồn : Công ty BVNT Hà Nội >
Giải thích : HĐKTM :Số hợp đồng khai thác mới
TĐ - HĐHB : Tốc độ phát triển liên hoàn số hợp đồng hủy bỏ trong năm
TĐ - HBHĐKTM : Tốc độ phát triển liên hoàn HĐKTM bị hủy bỏ
* Đánh giá theo tiêu thức tỷ lệ hợp đồng bị hủy bỏ ta nhận thấy qua 4 năm tỷ
lệ hợp đồng bị hủy bỏ đã có những biến động không ngừng
Năm 1999, tỷ lệ hợp đồng hủy bỏ giảm từ 9,67% xuống còn 5,5% Điều này
có thể giải thích là uy tín của Công ty qua 3 năm hoạt động, Công ty đã thu hút