Nhà nước đã tổ chức ra một bộ máy thống nhất từ Trung ương đến tận các huyện về quản lý và cung ứng các loại vật tư nông nghiệp nói chung, phân bón nói riêng cho các hợp tác sản xuất và
Trang 1NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LƯU THÔNG PHÂN BÓN
VÔ CƠ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
1-/ TỔ CHỨC LƯU THÔNG PHÂN BÓN VÔ CƠ Ở VIỆT NAM-CÁC
GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
1.1-/ Tổ chức lưu thông phân bón vô cơ thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch
hoá tập trung
1.1.1 Lưu thông phân bón vô cơ- một bộ phân của hệ thống cung ứng vật
tư kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân
Thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch tập trung ở Việt Nam có thể tính từ năm
1988 trở về trước Đặc trưng cơ bản của cơ chế này là những vấn đề kinh tế trung tâm của sản xuất: sản xuất mặt hàng gì, số lượng bao nhiêu, cách thức sản xuất và sản xuất với giá cả nào, bán cho ai đều do nhà nước chỉ định Do đó các chính sách
về lưu thông nói chung dược khái quát cô đọng là: thời kỳ độc quyền Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự tập trung cao độ trong cung ứn vật tư- kỹ thuật Việc cung ứng vật tư kỹ thuật được tổ chức theo nguyên tắc ngành Có nghĩa là:
- Các cơ quan cung ứng và cơ sở vật tư kỹ thụât gắn liền với từng Bộ từng ngành
- Việc phân phối sản phẩm có công dụng sản suất-kỹ thuật do các Bộ sản xuất ra tiến hành
- Việc cung ứng vật tư- kỹ thuật, tức là loĩnh vực lưu thông của các tư liệu dản xuất, tồn tại chỉ như là quá trình vật chất chứ không phải là lĩnh vực hoạt động
- Chức năng phối hợp liên ngành do uỷ ban kế hoạch nhà nước đảm nhận
Ưu điểm cơ bản và duy nhất của hệ thống này là khả năng phối hợp chính xác giữa kế hoạch sản xuất với kế hoạch tiêu thụ, tức là giữa cung ứng sản phẩm ở cùng một cấp, tập trung ở một Bộ Tuy nhiên nhược điểm của hệ thống này là : Do mỗi bộ đều có cơ quan cung ứng riêng của mình, cho nên trên phạm vi cả nước xảy
Trang 2ra tình trạng vận chuyển ngược chiều nhau, trùng lặp rất nhiều- các bộ đều vận chuyển vật tư đến các cơ sở của mình trên khắp đất nước, và ngược lại
Thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp được tổ chức dưới hai hình thức: Hợp tác
xã sản xất nông nghiệp (thuộc sở hữu tập thể của nông dân); Nông trường quốc doanh (thuộc sở hữu Nhà nước) Tuy có hai hình thức sở hữu và hai hình thức tổ chức khác nhau song cả hai đều phải chịu sự quản lý và chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất của Nhà nước thông qua hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh và chỉ tiêu hướng dẫn Các cơ sở sản xuất nông nghiệp muốn sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào, phân phối các sản phẩm làm ra theo tỷ lệ thế nào, các sản phẩm thừa tiêu thụ ở đâu, với giá bao nhiêu, tất cả đều phải theo sự chỉ đạo của Nhà nước Trong thời kỳ này kinh tế hộ nông dân dường như không được quan tâm, người nông dân làm việc hoàn toàn thụ động theo sự chỉ đạo của ban quản lý hợp tác xã Với chủ trương từng huyện phải phấn đấu tự trang trải lấy nhu cầu lương thực trên địa bàn của huyện mình và kiểm soát hết sức chặt chẽ việc giao lưu các loại nông sản phẩm từ vùng này sang vùng khác, nên sản xuất nông nghiệp của Việt Nam trong thời kỳ này chủ yếu là sản xuất lương thực và mang nặng tính tự cấp, tự túc
Vì có chế như vậy, nên gần như nông dân không gắn bó với đồng ruộng, không quan tâm đến công việc sản xuất nông nghiệp - các ban quản trị hợp tác xã thì phần lớn trình độ chuyên môn và quản lý đều yếu kém, tham ô, lãng phí của tập thể, ít quan tâm đến sản xuất Nhu cầu phân hoá học trong thời kỳ này (chủ yếu là phân Urê và phân lân) theo sự tính toán của các cơ quan có trách nhiệm của Nhà nước là khoảng 1 triệu tấn một năm (trong đó phân ure khoảng 800.000 tấn, phân lân khoảng 200.000 tấn) Trong thời kỳ này Chính phủ Việt Nam cũng đã nhờ Chính phủ Liên xô xây cho nhà máy Supe phốt phát Lâm thao - Phú Thọ chuyên sản xuất phân lân (100.000 tấn/năm) và Chính phủ Trung quốc xây cho nhà máy phân đạm
Hà Bắc (60.000 tấn/năm), chuyên sản xuất ure và nhà máy phân lân Văn điển Để
có phân hoá học cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, buộc Nhà nước Việt Nam phải tiến hành nhập phân của nước ngoài Việc nhập khẩu phân bón trong thời kỳ
Trang 3này là từ Liên Xô cũ và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông âu, thông qua các nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước Theo phương thức này,
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ kế hoạch và Đầu tư ) và Bộ tài chính, thay mặt Chính phủ Việt Nam nhận nợ và thanh toán nợ với nước bạn, sau mỗi kỳ kế hoạch mà hai bên đã thoả thuận Việc nhập phân bón theo nghị định thư có điểm tốt là rất chắc chắn, song lại có nhược điểm rất lớn là phía bạn hàng lúc nào họ giao lúc đó Buộc phía Việt Nam cứ phải nhận vì thế thường diễn ra hiện tượng; lúc sản xuất nông nghiệp cần phân thì không có phân, lúc không cần thì phân lại
về Phân bón ở Việt Nam được nhập theo Nghị định thư và chủ yếu là của Liên Xô, với giá thấp hơn giá thị trường Quốc tế Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam ở thời
kỳ này đang gặp khủng hoảng nặng, kinh tế không phát triển, giá trị đồng tiền Việt Nam liên tục giảm Trước tình hình này Chính phủ chỉ đạo không bán phân bón bình thường mà áp dụng cơ chế bán đối lưu, gọi là bán theo hợp đồng kinh tế hai chiều Điều này có nghĩa là, Nhà nước bán phân bón cho nông dân theo số lượng tương ứng với số lượng hàng nông sản mà nông dân bán cho Nhà nước (về mặt giá trị), ở đây lấy tỷ lệ giữa urê và lúa làm tiêu chuẩn Cơ chế bán phân bón theo hợp đồng kinh tế hai chiều được chấp nhận là cơ chế có hiệu quả phù hợp với giai đoạn
kế hoạch tập trung bao cấp, vì để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng Nhà nước cần thiết phải nắm được hàng hoá nông sản trong tay nhằm kìm hãm bớt
sự mất giá đồng tiền trong nước Nhà nước đã tổ chức ra một bộ máy thống nhất từ Trung ương đến tận các huyện về quản lý và cung ứng các loại vật tư nông nghiệp nói chung, phân bón nói riêng cho các hợp tác sản xuất và nông trường quốc doanh
- đó là hệ thống các Công ty vật tư nông nghiệp Tất nhiên, cũng có một số Công ty như Công ty chè, cà phê, cao su được phép nhận phân bón trực tiếp từ Trung ương, không phải thông qua hệ thống Công ty vật tư nông nghiệp các cấp (số này không nhiều, chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng số phân bón được nhập về).Số 90% phân bón còn lại Nhà nước trực tiếp giao cho Tổng Công ty vật tư nông nghiệp Việt Nam tiếp nhận và phân phối cho các địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) qua các Công ty vật tư nông nghiệp tỉnh, thành phố, theo chỉ tiêu (từng tỉnh)
Trang 4đã được Bộ nông nghiệp thoả thuận với Uỷ ban kế hoạch nhà nước và đã được ghi vào chỉ tiêu kế hoạch của Chính phủ để giao cho các Bộ, các tỉnh và thành phố Sau khi nhận được phân bón do Tổng Công ty vật tư nông nghiệp theo chỉ tiêu kế hoạch - Công ty vật tư nông nghiệp các tỉnh tiến hành phân phối cho các Công ty vật tư nông nghiệp theo chỉ tiêu Uỷ ban nhân dân tỉnh đã duyệt và uỷ ban kế hoạch tỉnh đã giao xuống từng huyện trọng tỉnh Công ty vật tư nông nghiệp huyện (nơi nào không có Công ty thì phòng nông nghiệp huyện đảm nhận), thực hiện việc phân phối phân bón xuống cho các xã và các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo chỉ tiêu mà Uỷ ban nhân dân huyện đã duyệt
1.1.2 Màng lưới cung ứng phân bón vô cơ trong thời kỳ kế hoạch hoá tập
trung
Thời kỳ này: hệ thống cung ứng phân bón do Quốc doanh độc quyền được tổ chức thành 2 cấp: cấp I (Tổng công ty vật tư nông nghiệp Trung Ương) cung ứng đến kho cấp II (Tỉnh), Cấp II cung ứng cho cấp III (Cấp III thuộc cấp II quản lý); Quốc doanh địa phương thực hiện cung ứng 90% nhu cầu phân bón trên địa bàn
SƠ ĐỒ 1 - MÔ HÌNH CUNG ỨNG PHÂN BÓN VÔ CƠ THỜI KỲ KẾ HOẠCH
HÓA TẬP TRUNG NƯỚC B N PH N HO H Á Â Á ỌC TRÊ N THẾ GIỚI
QUỐC DOANH CẤP I
NH N À ƯỚ C VIỆT NAM X Y D Â ỰNG KẾ HOẠCH
QUỐC DOANH VIỆT NAM CẤP II QUỐC DOANH VẬT TƯ VIỆT NAM CẤP III HỢP TÁC XÃ, TẬP ĐOÀN SẢN XUẤT
Nhập khẩu
Trang 5Giao chỉ tiêu nhập khẩu
SƠ ĐỒ 2 - HỆ THỐNG TỔ CHỨC LƯU THÔNG PHÂN BÓN VÔ CƠ THỜI KỲ
KẾ HOẠCH HOÁ TẬP TRUNG
NHẬP KHẨU
Nh máy phân bón à Tổng Công ty vật tư Nông nghiệp Công ty vật tư Nông nghiệp tỉnh Công ty vật tư Nông nghiệp huyện Hợp tác xã Nông nghiệp
Nông dân
Trang 61.1.3 Vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức lưu thông phân bón vô cơ
thời kỳ kế hoạch hoá tập trung
Nhà nước quản lý tập trung, toàn diện và chặt chẽ Số lượng và giá cả các loại vật tư, cung ứng cho ai đều do Nhà nước quy định và giao kế hoạch pháp lệnh Nhà nước như là chủ thể sản sản xuất lại như vừa là chủ thể của kinh doanh, “nhà nước mua, nhà nước bán, lãi Nhà nước thu, lỗ Nhà nước chịu bù” Trong đó từ năm 1981 về trước Nhà nước bán vật tư cho nông dân và thu lại bằng tiền Các công ty cung ứng phân bón của nhà nước được tổ chức thành một hệ thống với nhiều tầng nấc, cấp
nọ phải bán cho cấp kia theo chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh bắt buộc Thực chất là độc quyền cung ứng phân bón; thực hiện một chế độ nghiêm ngặt về cung ứng phân bón cho người tiêu dùng theo định lượng, định xuất thông qua chế độ tem phiếu Tuy nhiên nhìn chung trong thời kỳ này, quan hệ trao đổi được hình thành theo hướng có lợi cho người sản xuất, Nhà nước chủ trương khuyến khích người nông dân sử dụng phân bón để nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng, Nhà nước không thực hiện việc tích luỹ trong khâu kinh doanh phân bón.Tỷ giá trao đổi giữa phân bón và lúa trong giai đoạn này là :
Giá thu mua Giá bán urê Tỷ lệ Thóc trong HĐ Trong HĐ Thóc/urê
Trang 7+ ĐB Bắc bộ 31 đ/kg 62,5 đ/kg 2,0
Với chủ trương thống nhất quản lý phân bón, vì thế các trạm kiểm soát mang tính “ngăn sông cấm chợ” mọc lên như nấm ở khắp nơi, thị trường bị chia cắt theo ranh giới hành chính; những người kinh doanh, buôn bán phân bón ngoài quốc doanh bị coi là vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt cả hành chính và kinh tế Từ năm 1982 đến 1989 Nhà nước cung ứng vật tư cho nông dân để thu lại nông sản, gọi là “đối lưu nông sản” Tỷ lệ trao đổi được quy định tuỳ theo loại vật tư và theo thời kỳ khác nhau: 1 kg Urea năm 1982-1984 tương ứng với 3 kg lúa, 1 kg phân lân suppe quy định đổi 0,5-1 kg thóc, 1 kg kali đổi 0,3 kg thóc
Hạn chế của tổ chức lưu thông phân bón vô cơ thời kỳ là:
Vật tư của Nhà nước bị thất thoát ở nhiều khâu.
Nhà nước không thu lại lượng nông sản tương ứng với số vật tư ứng ra
- Theo báo cáo của Đoàn thanh tra thu mua nông sản (Quyết định số ngày 7/11/1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) cho thấy:
315-+ Chỉ trong 2 năm 89-87, 9 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long còn nợ vật tư theo hợp đồng là 782.046 tấn thóc, tỷ lệ thất thu là 37%
+ 5 tỉnh miền Bắc là Hải Hưng, Thái Bình, Hà Nam Ninh (cũ), Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh (cũ) còn nợ 213.725 tấn thóc, tỷ lệ thất thu 35,44%
- Báo Nhân dân số 12.078 ngày 5/8/1987 đăng lại kết quả của các đoàn thanh tra vật tư cho biết: trong 3 năm 1983-1985, riêng 9 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như sau:
+ Vật tư tính ra quy thóc: 3.699.410 tấn
Trang 8+ Đã thu được quy thóc: 2.593.218 tấn.
+ Còn lại chưa thu được: 1.106.192 tấn
Theo báo cáo của Uỷ ban Thanh tra tỉnh An Giang từ 1983-1986 thì 5% số
nợ là do cán bộ chiếm dụng, trong đó chủ yếu là cán bộ hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, cán bộ xã Nhiều cán bộ chiếm dụng vật tư quy ra hàng chục, vài chục tấn thóc
b Do dân nghèo, do thiên tai:
- Uỷ ban Thanh tra tỉnh An Giang cho biết: 50% số nợ là do dân nghèo hoặc thiên tai nên không có khả năng trả nợ
- Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình trong công văn số 19/TT-UB ngày 19/4/1988 xin Nhà nước xoá nợ 2 năm 1986, 1987 là 24.691 tấn thóc với lý do vụ chiêm xuân 86 sâu bệnh, rét kéo dài, năng suất giảm (chỉ bằng 70% so với năm 1985), vụ mùa 86 bị cơn bão số 5 gây thiệt hại nặng nền Vụ chiêm xuân 87 do thời tiết nóng ấm, sâu bệnh nhiều làm giảm năng suất, sản lượng
c Dùng vật tư vào mục đích khác:
Dùng vật tư vào mục đích khác xảy ra phổ biến ở các địa phương Tình Hà Sơn Bình (cũ) năm 1986 nhận 38.952 tấn phân đạm tiêu chuẩn của Nhà nước để thu mua nông sản nhưng đến tỉnh, tỉnh đã giữ lại 3.499 tấn (8.9%); về đến huyện huyện giữ lại 3.740 tấn (10%) (Báo cáo của đoàn thanh tra vật tư)
Trang 9d Tỷ lệ trao đổi có loại, có lúc không phù hợp:
Nhà nước quy định 1kg kali đổi 1,2 kg thóc nhưng nông dân nhiều nơi đề nghị 0,3-0,4 kg thóc, có nơi đề nghị không thu thóc (chỉ bán thu tiền) Một kg supe lân quy định đổi 1kg thóc: ở miền Nam nông dân chấp nhận nhưng ở miền Bắc nông dân đề nghị 0,4-0,5 kg thóc; một số địa phương đề nghị không thu thóc
e Tổn thất do hao hụt:
Tổn thất do hao hụt xẩy ra rất lớn Tổng kết của Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước về hao hụt phân đạm từ 1984-1986 cho loại phân urea rời như sau:
- Sang mạn tại vùng neo hao 3,4%
- Vận chuyển đường thuỷ với cự li trên 50 km hao 7,0%
- Bốc xếp, vận chuyển bằng ô tô với cự li trên 50 km hao 1,9%
- Bảo quản, bốc xếp tại kho từ 10-25 ngày hao 0,4%
- Đóng gói hao 2%
Chỉ riêng 5 công đoạn trên đã hao 14,7%; chưa kể hao hụt trong khâu bảo quản tại kho hợp tác xã và các khâu khác cho đến khi vật tư đến tay nông dân
g Gây căng thẳng về thiếu vật tư, điều hành của Nhà nước trở nên bận rộn:
Do giá vật tư quy định của Nhà nước thấp nên vật tư bị lợi dụng mua đi bán lại để kiếm chênh lệch Cũng do giá thấp nên địa phương và các ngành không dám nhập vật tư ngoài kế hoạch vì nhập theo giá thị trường thế giới, bán theo giá quy định của Nhà nước, sẽ lỗ vốn lớn Vật tư lúc nào cũng ở trong tình trạng thiếu nghiêm trọng, nhiều lúc gây thành “cơn sốt” giá
Các cuộc họp để xử lý vật tư thiếu thường xuyên diễn ra ở các cấp, các ngành, từ các cơ quan điều hành cao nhất của Chính phủ như Văn phòng Chính phủ, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Bộ Nông nghiệp - Công nghiệp thực phẩm, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính đến các tỉnh, huyện Chính phủ luôn bị chỉ trích là điều
Trang 10hành kém, nhiều lần bị Quốc hội chất vấn vì để thiếu vật tư nông nghiệp Tình hình trên đã không có lợi cho cả Nhà nước và nông dân.
1.2-/ Tổ chức lưu thông phân bón vô cơ trong giai đoạn chuyển sang cơ chế
thị trường(1990-1999)
1.2.1 Quan điểm của nhà nước về tổ chức quản lý lưu thông phân bón vô
cơ trên thị trường ở Việt nam
Cùng với sự đổi mới chung của cơ chế kinh tế, từ tháng 5-1989 đến nay sự vô
lý trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung trên đã được Đảng và nhà nước ta chủ trương bãi bỏ và thay vào đó là một chính sách thương mại đã được thay đổi căn bản: Từ độc quyền chuyển sang tự do hoá lưu thông với nhiều thành phần kinh tế cìng tham gia mua bán, kinh doanh phân bón đã làm sôi động thị trường phân bón
vô cơ Tự do lưu thông với đặc trưng cơ bản của nó là thị trường không còn bị chia cắt theo địa giới hành chính, tình trạng ngăn sông cấm chợ bị xoá bỏ, thị trường phân bón thông suốt, các thành phần kinh tế cạnh tranh nhau trong kinh doanh; người nông dân được tự do tìm kiếm nơi nào, tổ chức nào bán phân bón vô cơ rẻ nhất để mua Sự giải phóng cơ chế mua bán theo nghĩa vụ, đổi chác, phân phối đã tạo thuận lợi cho hạch toán kinh doanh, lấy mục tiêu hiệu quả làm động lực đã giúp cho việc điều hoà cung cầu phân bón tốt hơn, ngưòi nông dân phấn khởi đẩy mạnh sản xuất Trong các thành phần kinh tế tham gia tổ chức lưu thông phân bón hiện nay các doanh nghiệp quốc doanh không còn được bao cấp, không còn độc quyền, bản thân họ cũng bình đẳng như các thành phần kinh tế khác trong cơ chế mới với
những đặc trưng là: Thị trường bình đẳng thông suốt+ cạnh tranh+ Giá cả thoả
thuận+ Nghĩa vụ với ngân sách nhà nước Đi đôi với hệ thống cung ứng phân bón
theo hướng tự do lưu thông Nhà nước cũng thực hiện tự do hoá giá cả- có nghĩa là
về cơ bản giá phân bón do thị trường quyết định Tuy vậy, nhưng để nông dân được hưởng mức giá bình ổn nhất là khi thời vụ cần có phân bón chăm sóc cây trồng Nhà nước đang sử dụng quỹ bình ổn giá để hỗ trợ cho kinh doanh phân bón dự trữ lưu thông một số lượng phân ure nhất định để chủ động bán ra ở thời điểm bình thường cũng khi thời vụ hoặc ở thời điểm giá cả tăng cao, bảo đảm để nông dân
Trang 11mua được đạm ure xoay quanh định hướng 1 ure tương đương 2 lúa mà nông dân đồng bằng Sông Cửu Long và khoảng 1,5 lúa ở đồng bằng sông Hồng đã chấp nhận.
Bước sang năm 1994, 1995 và đặc biệt là từ năm 1997 với Quyết định 140/TTg(07/3/1997) và quyết định 141/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đánh dấu một bước đổi mới quan trọng về cơ chế quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực lưu thông, nhập khẩu phân bón Với việc chỉ định các đầu mối nhập khẩu phân bón, tuy nhiên các đầu mối nhập khẩu được sàng lọc, giảm bớt số lượng, coi trọng tiêu chuẩn chất lượng và năng lực thực sự về tài chính, tiếp thị Đã tạo điều kiện cho các đơn vị kinh doanh phân bón chủ động giao dịch, ký kết hợp đồng Nhập khẩu
và cung ứng kinh doanh phân bón trên thị trường Bên cạnh việc quản Nhập khẩu phân bón vô cơ bằng đầu mối và hạn ngạch (Quyết định 336/CP ngày 06/4/1999 xác định hạn ngạch chỉ là định hướng), Nhà nước còn sử dụng các biện pháp hạn chế nhập mạnh như tăng thuế suất, áp dụng chế độ phụ thu, cấm các đơn vị không
có đủ các điều kiện về tài chính, mạng lưới cung ứng nhập khẩu phân bón Đây chính là các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng lãi nhập lỗ bỏ của các đơn vị kinh doanh cung ứng phân bón vô cơ trên thị trường
1.2.2 Hệ thống các cơ quan quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực lưu
thông phân bón vô cơ
Như trên đã phân tích, trong tổng khối lượng nhiều triệu tấn phân hoá học tiêu dùng hàng năm thì sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 65% nhu cầu về lân, chưa tới 10% nhu cầu về đạm, còn nhiều loại khác thì trong nước vẫn chưa sản xuất được Do vậy hàng năm nước ta vẫn phải bỏ ra hàng triệu USD
để nhập khẩu phân bón Từ nhiều năm nay nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp quản lý khác nhau, quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch, chỉ định các đơn vị đầu mối được kinh doanh nhập khẩu; hỗ trợ giá cước vận chuyển phân bón Bắc-Nam lên Miền núi, cho vay vốn sản xuất, dự trữ thời vụ phân bón với lãi suất ưu đãi Tuy nhiên, những năm gần đây, hệ thống cung ứng phân bón phải đối mặt với những thử thách to lớn và trải qua mấy nấc thăng trầm tương ứng với những phương sách
Trang 12quản lý khác nhau của nhà nước Có thể khẳng định trong cơ chế thị trường, không thể thiếu vai trò quản lý vĩ mô, kế hoạch định hướng của nhà nước và sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành với vấn đề quản lý và điều tiết phân bón vô cơ ở nước ta Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực nhập khẩu và kinh doanh phân bón vô cơ phải nhằm mục tiêu đưa việc nhập khẩu và kinh doanh phân bón vào nề nếp, nhằm cung ứng đủ và kịp thời phân bón vô cơ trực tiếp đến hộ nông dân phục
vụ sản xuất với giá cả hợp lý, gắn việc cung ứng vật tư, dịch vụ (trước hết là phân bón ) với việc thu mua lúa hàng hoá của nông dân thành một hệ thống bảo đảm sự quản lý và điều hành của Nhà nước Cụ thể là:
* Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm xây dựng kế
hoạch cân đối Cung- cầu phân bón trong từng vụ, của từng miền trong cả nước, cùng Bộ thương mại theo dõi và kiểm tra tiến độ hàng về, tình hình Cung ứng và giá cả phân bón trong cả nước, đề xuất ý kiến điều chuyển kịp thời lượng phân bón cần nhập khẩu hàng năm phục vụ sản xuất nông nghiệp trình Chính phủ quyết định
* Bộ Công nghiệp thông báo việc sản xuất phân bón vô cơ trong nước hàng năm và quy hoạch tổng thể chiến lược phát triển ngành sản xuất phân bón đến năm
2000 và 2010 theo hướng tăng nhanh sản xuất trong nước thay thế dần nhập khẩu với hình thức tự vay vốn hoặc liên doanh để sản xuất phân bón
* Bộ Thương mại chịu trách nhiệm, điều hành nhập khẩu phân bón theo kế hoạch chung và cân đối của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ định doanh nghiệp nhập khẩu phân bón, thông báo chỉ tiêu nhập khẩu cho từng doanh nghiệp
Từ đó Chủ tịch UBND tỉnh thành phố thông báo doanh nghiệp cho Bộ Thương mại, Cục Hải quan, Bộ Tài chính, Bộ kế hoạch đầu tư, các doanh nghiệp được thông báo làm thủ tục nhập khẩu tại cơ quan Hải Quan
* Ngân hàng Nhà nước Việt nam cùng Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc quản lý, sử dụng tiền bán hàng
Trang 13của các doanh nghiệp nhập khẩu để đảm bảo thanh toán với nước ngoài khi đến hạn Khi được Chính phủ phê duyệt hạn ngạch nhập khẩu phân bón, Ngân hàng Nhà nước Việt nam chỉ đạo các ngân hàng Thương mại bảo lãnh cho các doanh nghiệp được chỉ định nhập khẩu phân bón vay trả chậm nước ngoài và được lấy giá trị hàng hoá phân bón nhập khẩu làm bảo đảm và ký quỹ với mức thấp nhất theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt nam Đối với một số doanh nghiệp được giao nhập khẩu số lượng phân bón lớn để điều hoà cung cầu, bình ổn giá trong nước, ngoài quy định chung, Ngân hàng cho vay và bảo lãnh theo số lượng phân bón nhập cụ thể của từng doanh nghiệp để các doanh nghiệp thực hiện được chỉ tiêu đã giao Trường hợp có khó khăn về vốn, Bộ kế hoạch đẩu tư, Bộ Tài chính cân đối trình Thủ tướng chính phủ cho phép sử dụng từ nguồn quỹ dự trữ ngoại tập trung của Nhà nước để cho vay nhập phân bón.
*Ban vật giá Chính phủ, tuỳ từng trường hợp là cơ quan xác định mức trọ giá cho từng mặt hàng, từng địa phương, xác định mức giá bán tối đa “giá trần” cho từng mặt hàng
*Tổng công ty Vật tư nông nghiệp chịu trách nhiệm: ngoài việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm như các doanh nghiệp khác còn phải từng bước tổ chức lại mạng lưới bán buôn, đại lý bán phân bón trực tiếp đến nông dân, quản lý chặt chẽ quỹ dự trữ lưu thông tư liệu sản xuất phân bón được nhà nước giao, chịu trách nhiệm đảm bảo dự trữ lưu thông tư liệu sản xuất bằng ngoại tệ và bằng hiện vật cho 3 miền Bắc, Trung, Nam, theo quy định; khi xảy ra đột biến giá và mất cân đối quan hệ Cung- cầu phải kịp thời đưa lực lượng dự trữ lưu thông tư liệu sản xuất can thiệp thị trường theo chỉ đạo của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và Bộ Thương mại nhằm ổn định Cung- cầu và giá phân bón trong cả nước
*Đối với các loại phân hoá học là nguyên liệu sản xuất phân bón tổng hợp,
Bộ Thương mại thống nhất với Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ công nghiệp, cho phép một số doanh nghiệp bảo đảm nhập đủ nguồn nguyên liệu cung ứng cho các cơ sở sản xuất phân bón trong nước đã được Bộ công nghiệp cấp giấy
Trang 14phép sản xuất và Bộ khoa học công nghệ và môi trường cấp giấy chứng nhận chất lượng hàng hoá Bộ công nghiệp rà soát, chấn chỉnh lại các doanh nghiệp sản xuất phân bón tổng hợp, nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hàng hoá và cân đối Cung- cầu về phân bón tổng hợp.
*Ban chỉ đạo để điều hành hoạt động xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón
do một thứ trưởng Bộ Thương mại làm trưởng ban, bao gồm đại diện của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ tài chính, Ngân hàng nhà nước, Tổng cục Hải quan, một số tỉnh có sản lượng lúa hàng hoá lớn và hiệp hội XNK lương thực Việt Nam
SƠ ĐỒ 3 - CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU TIẾT PHÂN BÓN VÔ CƠ THỜI
KỲ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KINH TẾ.
Nước bán phân bón trên thế giới Các đầu mối nhập khẩu được chỉ định
TỈNH TP
HẢI QUAN VẬT GIÁ
BỘ KHĐT
Bộ KHCN-MT
Trang 151.2.3 Hệ thống cung ứng phân bón vô cơ thời kỳ đổi mới cơ chế kinh tế
Từ năm 1992 cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế kinh doanh phân bón mang tính độc quyền, nhiều tầng nấc, giá cả áp đặt được xoá bỏ Hệ thống phân phối theo ngành dọc từ cấp I tới cấp III đã mất tác dụng Thay vào đó
là nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia kinh doanh phân bón trên thị trường nội địa để cung ứng cho người sản xuất Quốc doanh địa phương chỉ cung ứng 20-30% Có thể nói hệ thống cung ứng được mở rộng, tư nhân tham gia cung ứng phân bón ngày càng nhiều, phân bón không còn “chạy” vòng vèo như trước đây mới tới được tay người sản xuất
SƠ ĐỒ 4 - MÔ HÌNH CUNG ỨNG PHÂN BÓN HOÁ HỌC THỜI KỲ ĐỔI
MỚICƠ CHẾ KINH TẾ.
NƯỚC B N PH N HO H Á Â Á ỌC TRÊN THẾ GIỚI
C C Á ĐẦU MỐI NHẬP KHẨU
BỘ NÔNG NGHIỆP V PH T TRI À Á ỂN NÔNG THÔN
CÁC TỔ CHỨC TRUNG GIAN CUNG ỨNG PHÂN
Trang 16Cửa h ng đ à ại lý bán lẻ
NÔNG D N Â
1.2.4 Các chính sách và công cụ quản lý, điều tiết lưu thông phân bón vô
cơ của Nhà nước (1990-1999) 1.2.4.1 Phân phối, giá cả, kế hoạch hoá
Từ năm 1990 đến nay, đã có những thay đổi cơ bản và chính điều này đã tạo nên một bước ngoặt mới trong hoạt động lưu thông phân bón vô cơ Sự thay đổi này biểu hiện trên các mặt sau:
- Điều hành giá bán hợp lý hơn: Trước kia giá bán do Nhà nước quy định và thường là rất thấp so với giá thị trường tự do, thì nay:
+ Phân bón nhập từ các nước xã hội chủ nghĩa được bán theo giá không
bị lỗ
+ Phân bón nhập từ các nước khác được phép bán với giá nông dân chấp nhận được
Trang 17- Bỏ việc dùng phân bón để trao đổi nông sản và thay vào đó là bán thu bằng tiền.
- Cải tiến cách giao kế hoạch: chỉ tiêu kế hoạch nhập khẩu, cung ứng chỉ có tính chất hướng dẫn, không phải là kế hoạch pháp lệnh như trước
Đó là 3 vấn đề có tính chất quyết định đến tổ chức lưu thông phân bón Có thể nói rằng năm 1990 là năm bắt đầu có bước ngoặt trong cơ chế quản lý vụ phân bón
1.2.4.2./ Các chính sách khác:
1.2.4.2 1 Trợ giá phân bón vô cơ
Chủ trương: trước kia khi phân bón vô cơ được cung ứng theo kế hoạch, giá bán được thống nhất trong cả nước Từ năm 1989-1990 phân bón vô cơ được bán theo cơ chế thị trường nên có sự chênh lệch về giá giữa các vùng xa và vùng gần trong đó chủ yếu là các vùng miền núi do đường xa, lại xấu nên chi phí vận tải lớn, giá phân bón bán đến nông dân cao hơn vùng xuôi Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo cho giá các vùng tương đối thống nhất Nhà nước đã có chính sách bù giá cho các vùng này
Trong các năm 1991,1992,1993 Nhà nước cũng đã có trợ giá cước phân bón cho các tỉnh miền núi, thể hiện trong các văn bản sau:
a Ngày 9 tháng 8 năm 1991, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng đã có thông báo số 2598/PPLT về việc trợ cấp cước phí vận chuyển phân đạm lên các tỉnh miền núi với nội dung chủ yếu là:
- Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đồng ý trợ cấp cước phí vận chuyển phâm đạm từ cảng nhập khẩu đến kho trung tâm của các tỉnh miền núi để đảm bảo giá bán phân đạm tại tỉnh miền núi bằng giá bán tại các tỉnh đồng bằng và trung du
Trang 18- Bộ Tài chính trợ cấp trực tiếp cho Tổng công ty vật tư nông nghiệp thuộc
Bộ nông nghiệp - CNTP theo quyết toán vận chuyển thực tế
- Việc trợ cấp này được thực hiện từ vụ đông xuân 1991-1992
b Ngày 10-7-1992, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng lại có công văn về việc trợ cấp cước phí vận chuyển lên các tỉnh miền núi
c Ngày 7-12-1993, Uỷ ban vật giá Nhà nước đã có quyết định số VGCP/NTS về mức trợ cước vận chuyển phân lân hữu cơ vi sinh từ kho doanh nghiệp sản xuất đến kho trung tâm các tỉnh miền núi
38-d Ngày 25-3-1994, Văn phòng Chính phủ có văn bản số 1497/KTTH thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cước vận chuyển phân lân vào phía Nam như sau:
+ Năm 1994 tiếp tục thực hiện việc trợ cấp một phần cước vận chuyển phân lân do các xí nghiệp sản xuất ở phía Bắc đưa vào phía Nam theo nguyên tắc Nhà nước sẽ bù phần chênh lệch giữa giá vốn phân lân vận chuyển vào đến ga trung chuyển ở phía Nam và giá thị trường hình thành ở trong đó Ban Vật giá Chính phủ
và Bộ Tài chính chính xác định một số trạm trung chuyển cho phù hợp ở phía Nam
Việc trợ cước các năm này chủ yếu chỉ cho 15 tỉnh miền núi trong đó có 11 tỉnh miền núi phía Bắc và 4 tỉnh Tây Nguyên Chi phí trợ cước được giao cho ngành hàng (Tổng công ty Vật tư nông nghiệp hoặc Tổng công ty phân bón và hoá chất cơ bản)
d Ngày 15-4-1994 Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 1960/KTTH về một số chính sách đối với việc đưa hàng hoá lên miền núi phục vụ đồng bào các dân tộc trong đó ghi rõ:
Trang 19- “Nhà nước thực hiện trợ giá và trợ cước vận chuyển đối với 7 mặt hàng: muối i ốt, thuốc chữa bệnh, dầu hảo thắp sáng, giấy viết học sinh, vải mặc phục vụ đồng bào dân tộc và phân bón, thuốc trừ sâu”.
- Cự ly trợ cước được áp dụng như sau: Đối với vải mặc phục vụ đồng bào dân tộc và phân bón, thuốc trừ sâu tính từ kho giao hàng của các doanh nghiệp thuộc trung ương quản lý đến trung tâm các huyện
- Từ nay kinh phí trợ cước từng mặt hàng được cấp trực tiếp cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh theo chế độ “kinh phí uỷ quyền” (trừ muối iốt, việc trợ giá thông qua chương trình quốc gia về chống bướu cổ do Bộ Y tế chủ trì)
- Giao cho Uỷ ban dân tộc và miền núi chủ trì cùng các ngành liên quan thực hiện
Đây là chủ trương toàn diện về trợ cước (kể cả cho không) nhiều mặt hàng cho đồng bào miền núi
e Ngày 17-5-1994, Uỷ ban dân tộc và miền núi có văn bản số 290/UB-TH
về việc thực hiện đưa hàng lên miền núi theo Quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ
+ Uỷ ban dân tộc và miền núi là cơ quan phối hợp chung, chịu trách nhiệm
về việc tổ chức thực hiện, xác định vùng cao, miền núi, dân số, cự li, để làm căn cứ tính toán
+ Uỷ ban kế hoạch Nhà nước cân đối, xác định lượng hàng hoá đưa lên miền núi
+ Ban vật giá Chính phủ xác định mức trợ giá cho từng mặt hàng, từng địa phương, xác định mức giá bán tối đa “giá trần” cho từng mặt hàng
+ Bộ Tài chính xác định phương án cấp phát kinh phí uỷ quyền
Trang 20+ Uỷ ban Nhân dân các tỉnh miền núi và các tỉnh có miền núi tổ chức lưu thông, cung ứng đủ hàng thiết yếu đến tận tay đồng bào theo giá quy định, chịu trách nhiệm triển khai đầy đủ chính sách trợ giá, cấp phát không thu tiền cho đồng bào theo quy định của Chính phủ.
f Ngày 16/7/1994, Ban vật giá Chính phủ đã có quyết định số KHCS về mức trợ cước vận chuyển muối i ốt, thuốc chữa bệnh, giấy viết học sinh, vải, dầu hoả, phân bón, thuốc trừ sâu đến trung tâm tỉnh, huyện, cụm xã thuộc các tỉnh miền núi, trong đó ghi rõ:
18/VGCP-Căn cứ tình hình cung cầu, giá cả thị trường tại địa phương và tiền hỗ trợ về cước vận chuyển Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định hoặc hướng dẫn các doanh nghiệp quy định giá bán lẻ các mặt hàng được trợ giá nhưng không vượt mức giá bán lẻ tối
đa tại địa phương do Nhà nước quy định hoặc hướng dẫn
Tại văn bản này Ban vật giá Chính phủ cũng đã quy định 1202 mức trợ cước khác nhau cho 39 tỉnh, thành phố Mức trợ cước cao nhất là 1.025.000 đồng/tấn cho vận chuyển thuốc bảo vệ thực vật lên huyện Mèo Vạc của tỉnh Hà Giang và mức thấp nhất là 28.500 đồng/tấn cho việc vận chuyển phân bón từ tỉnh đến trung tâm huyện Ninh Hải thuộc tỉnh Ninh Thuận
g Ngày 27-7-1994, Ban vật giá Chính phủ đã có văn bản số 21/VGCP-NTS
về việc trợ cước vận chuyển phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
h Ngày 25-8-1994, Ban vật giá Chính phủ đã có văn bản số 02/VGCP-NTS
về việc hướng dẫn thực hiện quyết định số 18/VGCP-KHCS
i Ban vật giá Chính phủ đã có các văn bản số 41 và 42/VGCP-NTS ngày 10-1994 về việc trợ cước vận chuyển phân vi sinh từ kho Nhà máy phân lân vi sinh Thanh Ba (Vĩnh Phú) đến trung tâm các huyện miền núi Vĩnh Phú và các huyện của một số tỉnh miền núi; văn bản số 46, 47, 48/VGCP-NTS ngày 13/10/1994 về việc trợ cước vận chuyển phân vi sinh từ kho Nhà máy phân vi sinh Quảng Trị và
Trang 215-Quảng Ngãi và các tỉnh Tây Nguyên; văn bản số 66/VGCP-NTS ngày 30/11/1994
về việc trợ cước vận chuyển phân bón nhập khẩu tại kho bán hàng của Công ty vật
tư kỹ thuật nông nghiệp tỉnh Phú Yên đến trung tâm các huyện miền núi vùng Tây Nguyên
Kinh phí:
+ Năm 1994 đã trợ cước kế hoạch khoảng 60 tỷ đồng, trong đó:
- Trợ cước 200 nghìn tấn phân bón cho các tỉnh miền núi khoảng 30 tỷ đồng
- Trợ cước vận chuyển 300 nghìn tấn phân lân đi vào Nam khoảng 29,2
Tuy vậy việc thực hiện trong 2 năm 1994-1995 có những tồn tại sau:
- Định mức phân bón sử dụng: hiện nay chỉ tính bình quân khoảng 72-100 kg phân bón các loại cho một ha gieo trồng và cây lâu năm Với cách tính này thì các tỉnh
có các cây trồng yêu cầu thâm canh cao như cao su, chè, cà phê sẽ không đủ phân bón Các tỉnh khác có mức độ thâm canh thấp thì tạm đủ
Trang 22Do vậy các tỉnh ở Tây Nguyên thường có nhu cầu rất lớn, chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu.
Về cấp kinh phí: Tuy chủ trương của Nhà nước cấp theo “kinh phí uỷ quyền” nhưng theo cách cân đối ngân sách hiện nay trên địa bàn tỉnh nên nhiều địa phương vì không thu đủ nên đã không chỉ đủ theo yêu cầu kế hoạch cho trợ cước
Do vậy đề nghị Nhà nước nên bán giá vật tư bình thường còn phần kinh phí này nên trợ cấp cho vùng khó khăn
1.2.4.2 2 Vấn đề dự trữ
Năm 1991, Chính phủ đã quyết định cho dự trự 7 vạn tấn urêa Năm 1994 Chính phủ đã nâng mức dự trự lưu thông lên 10% tổng số phân bón sử dụng trong năm Với mức dự trữ nhu vậy có thể ổn định được phân bón khi thị trường có đột biến Ngoài ra, năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn lập quỹ dự trữ lưu thông phân bón với số lượng 100.000 tấn ure theo cơ chế nhà nước cấp vốn lưu động hoặc doanh nghiệp làm nhiệm vụ dự trữ vay vốn ngân hàng để thực hiện, Ngân sách Nhà nước cấp bù lãi suất Số lượng phân ure dự trữ này đã có tác dụng rất lớn trong việc cân đối Cung- cầu , bình ổn giá cả phân bón trong cả nước
2-/ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LƯU THÔNG PHÂN BÓN VÔ CƠ Ở VIỆT
NAM TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN SANG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG (1990-1999)
2.1-/ Cầu phân bón vô cơ trên thị trường Việt nam và xu hướng vận động
2.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu phân bón vô cơ
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển hoàn hảo, có nền nông nghiệp phát triển cao, cơ cấu các loại cây trồng tương đối ổn định thì nhu cầu phân
vô cơ của người nông dân chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập của người nông dân, song ở Việt Nam nhu cầu phân vô cơ hiện tại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố đó là:
Trang 23Thứ nhất, phụ thuộc vào sự phát triển của diện tích gieo trồng.
Việt Nam chỉ có khoảng 7 triệu ha đất nông nghiệp, song do Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, nắng cũng nhiều, thời tiết nóng ẩm quanh năm Các loại cây ngắn ngày, nếu giải quyết vấn đề tưới tiêu nước, vấn đề phòng trừ sâu bệnh thì có thể làm cho diện tích gieo trồng của đất nước tăng lên qua từng năm Việt Nam còn 3 triệu ha đất có khả năng nông nghiệp có thể khai hoang để chuyển thành đất nông nghiệp, song thực ra diện tích đất khai hoang chỉ
đủ cho diện tích đất nông nghiệp bị mất đi hàng năm do chuyển sang đất xây dựng
cơ bản, vì thế diện tích gieo trồng tăng chủ yếu là do tăng vụ mà có
Theo con số thống kê thì năm 1999 so với năm 1989 diện tích gieo trồng của Việt Nam đã tăng lên 2.932.800 ha, bình quân mỗi năm tăng lên khoảng 276.114ha Trong đó cây hàng năm tăng 1.415.000 ha Bình quân mỗi năm tăng 201.142ha, diện tích tăng này chủ yếu là do tăng vụ mà có, cây lâu năm tăng 518.200ha Trong số này cây công nghiệp lâu năm tăng 402.900ha (chủ yếu là do khai hoang trồng mới) và cây ăn quả tăng 63.000 ha (chủ yếu là do cải tạo các vườn tạp mà có)
Giả thiết rằng, các điều kiện khác không có gì thay đổi thì chính việc tăng diện tích gieo trồng đã làm cho nhu cầu phân vô cơ tăng lên, 1ha một năm cần khoảng 200 kg các loại phân vô cơ Riêng việc tăng diện tích mỗi năm cũng làm cho nhu cầu phân bón vô cơ tăng thêm 55.228 tấn
Thứ hai, phụ thuộc vào loại cây trồng.
Tập đoàn cây trồng của Việt Nam hết sức phong phú đa dạng: có cây lương thực, cây công nghiệp, cây rau đậu, cây ăn quả, cây dược liệu, cây thức ăn cho gia súc Song trong từng loại cây có hàng chục, hàng trăm loại cây cụ thể Ví dụ, riêng cây lương thực ở Việt Nam đã có các loại: lúa , ngô, khoai, sắn, đỗ (trừ đỗ tương), đồng thời cũng có thể tính cả cây khoai tây nữa
Trang 24Trong tập đoàn cây trồng đó, không phải cây nào người nông dân Việt Nam cũng dùng phân bón vô cơ để bón trong quá trình sản xuất Thực tiễn sự phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam mấy chục năm vừa qua đã cho thấy, phân bón vô cơ hầu như 80% là dùng bón cho cây lúa, các loại cây trồng khác, chỉ bón có 20% mà thôi (các cây này chủ yếu là caphê, chè, mía, rau, hoa) Các loại cây còn lại người
ta thường dùng phân xanh, phân chuồng, phân rác.Tất nhiên, như thế không có nghĩa là các loại cây trồng khác không cần dùng phân vô cơ, rất cần song vì khả năng có hạn, nên trước hết người ta phải ưu tiên cho các loại cây trồng giữ vai trò chủ yếu (bảo đảm an ninh lương thực Quốc gia, tạo ra hàng hoá lớn phục vụ cho xuất khẩu )
Bởi vậy, khi khả năng đầu tư của người nông dân ngày một tăng thì các loại cấy trồng được bón phân vô cơ cũng sẽ được mở rộng thêm và như vậy nhu cầu phân vô cơ sẽ tăng
Thứ ba, phụ thuộc vào thu nhập của người nông dân
Về mặt lý thuyết thì dường như người nông dân nào của Việt Nam cũng hiểu được rằng, muốn nâng cao năng suất cây trồng phải có sự đầu tư thoả đáng, đặc biệt là đầu tư phân bón Song với một đất nước 80% dân số sống ở nông thôn, trên 70% lực lượng lao động của toàn xã hội làm việc trong nông nghiệp nhưng đất nông nghiệp lại quá ít (tính bình quân đầu người vào loại ít nhất thế giới) Đã thế lại chịu sự tàn phá nặng nề của 2 cuộc chiến tranh trong suốt 30 năm, do đó người dân, nhất là nông dân nghèo cho đến nay GDP bình quân ở nông thôn mới đạt khoảng 200 USD/năm /người, thì nông dân khó có thể đem nhiều tiền để mua phân bón, bởi lẽ họ còn nhiều nhu cầu khác cần thiết hơn Theo đánh giá của một số chuyên gia, người dân nước ta chưa đủ khả năng để dùng phân bón vừa đủ So với định mức của Hội phân bón Quốc tế(IFA), mức phân bón cho cây lúa, cam, chè ở Việt nam chỉ đạt 50%, cho cây cà phê chỉ đạt 70%, khoai sắn chỉ đạt 6- 7% Mấy
Trang 25năm gần đây, nhờ thu nhập của người nông dân có tăng lên, do đó việc đầu tư mua phân bón có khá hơn.
Thứ tư, phụ thuộc vào tập quán sản xuất và trình độ thâm canh của từng vùng trong nước
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên- kinh tế - xã hội cụ thể, lãnh thổ Việt Nam được chia thành, vùng kinh tế và sinh thái khác nhau:
- Vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ
- Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Dưới đây là diện tích cây trồng mỗi vùng
BIỂU SỐ 3: DIỆN TÍCH CÂY TRỒNG PHÂN THEO VÙNG Ở VIỆT NAM
Trang 26ĐB Sông Cửu Long 2963 3097,1 3321,2 3444,2 3535,9 3819,9 3781
Nguồn: Tổng cục thống kê
Biểu trên cho ta thấy, trừ đồng bằng Sông Cửu Long có diện tích trên 4 triệu
ha, lớn nhất cả nước Còn các vùng khác có diện tích gần bằng nhau (riêng Tây Nguyên là ít nhất song vùng này cũng có khả năng mở rộng ra trong tương lai) Tuy nhiên, không phải nông dân ở 7 vùng đều có nhu cầu sử dụng phân bón vô cơ như nhau Đồng bào thuộc các dân tộc ít người ở miền núi phía bắc, khu 4 cũ, Duyên hải miền trung và ở Tây Nguyên với phương thức canh tác rất lạc hậu , đốt nương làm rẫy (chọc lỗ, gieo hạt, sau đó là trăm sự nhờ trời ) nên ít sử dụng phân bón Một bộ phận đồng bào các dân tộc sống định canh ở các cánh đồng lúa nước ven các thung lũng, hoặc những vùng cây nguyên liệu tập trung như Chè, Cà phê, Cao su.v.v đã biết sử dụng phân vô cơ, nhưng do thu nhập của họ còn quá thấp nên số lượng sử dụng cũng không nhiều
Nông dân các vùng đồng bằng đều có sử dụng phân vô cơ vào sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên mức độ cũng có khác nhau, ở đồng bằng Sông Cửu Long do sản xuất lúa gạo hàng hoá là chính và người dân ở đây cũng quen với việc dùng phân
vô cơ hơn nên số lượng họ dùng để bón cho 1 ha cây trồng thường cao hơn ở đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng khu 4 cũ và đồng bằng Duyên hải miền trung Chẳng hạn, tổng số phân bón NPK bón cho 1ha lúa ở đồng bằng sông Hồng những năm qua bình quân từ 150- 200 kg/vụ, thì ở đồng bằng Sông Cửu Long con số đó là 200- 250kg Thêm vào đó là việc không hiểu biết của người nông dân, nhiều khi do một ý thích nẩy sinh không có cơ sở khoa học có thể thích loại phân này hơn loại khác Có thời kỳ nông dân thích sử dụng loại phân đạm hạt nhỏ làm cho loại hạt to
bị ứ đọng, mặc dù nó có tác dụng đến cây trồng là như nhau
Trang 27Như vậy, để nâng cao hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh phân bón vô cơ thì phải nắm bắt đựơc các tính chất này, để từ đó đảm bảo được cân bằng cung cầu trên thị trường Có như vậy mới bảo đảm được chi phí lưu kho, tăng được vòng quay vốn, nâng cao được kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.2 Dự báo nhu cầu thị trường về phân bón vô cơ
2.1.2.1 Căn cứ vào mức tiêu hao phân bón cho một đơn vị sản phẩm cây trồng.
Cách tính này dựa trên quyết định số 18- UB/ĐM của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước ngày 14/2/1987 về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật Trong đó có các quy định về mức phân bón cho 1 đơn vị sản phẩm để làm căn cứ cho việc tính nhu cầu phân bón
+ Cơ sở phương pháp
Dựa trên 2 yếu tố:
* Sản lượng cây trồng dự kiến trong một thời kỳ nhất định
* Mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị sản phẩm của cây trồng cần xác định
Để xác định nhu cầu một loại vật tư cho một cây trồng trong một thời kỳ kế hoạch, ta lấy sản lượng dự kiến của cây trồng đó nhân với mức tiêu hao vật tư của loại cây đó
Công thức : Q = S.M
Q: Nhu cầu một loại vật tư cần xác định cho một loại cây trồng nào đó
S: Sản lượng cây trồng đó
M: Mức tiêu hao vật tư cho 1 đơn vị sản phẩm của cây trồng đó
VD: Sản lượng Ngô năm 1991là 672 ngàn tấn
Trang 28- Mức tiêu hao phâm đạm theo định mức là 100 kg đạm tiêu chuẩn/ tấn ngô.
Nhu cầu phâm đạm cho cây Ngô năm 1991 là:
672 tấn x 100 = 67.200 tấn (đạm tiêu chuẩn)Tổng nhu cầu của một loại vật tư nào đó cho một thời kỳ được xác định theo công thức sau: Q = S.M
Q: là tổng nhu cầu của một loại vật tư
Si: sản lượng của các loại cây trồng từ 1 đến n
Mi: là mức tiêu hao vật tư cho các cây trồng từ năm 1- n
* Phân đạm tiêu chuẩn: là loại phân có chứa lượng đạm (N) là 20- 21% Tính trung bình 20,5%
* Phân lân quy Suppe phốt phát Lâm Thao: chứa lượng lân P2O5 - Lân chuẩn 10% P2O5
- Lượng vật tư tính theo lý thuyết: Sử dụng công thức trên
+ Ưu điểm của phương pháp:
- Trên cùng một đơn vị diện tích nhưng năng suất càng cao, yêu cầu phân bón càng lớn
2.1.2.2 Phương pháp dự tính nhu cầu phân bón căn cứ vào tiêu hao cho một đơn vị diện tích gieo trồng.
+ Cơ sở phương pháp, dựa vào:
Trang 29- Diện tích gieo trồng
- Tiêu hao vật tư cho 1ha gieo trồng
Định mức này do viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp thuộc Bộ nông nghiệp- CNTP ban hành năm 1990 với mục đích làm căn cứ cho việc tính toán các qui hoạch, kế hoạch về vật tư nông nghiệp
Theo phương pháp này, muốn dự tính nhu cầu của một loại phân bón vô cơ nào cho một cây trồng trong một thời kỳ kế hoạch ta lấy diện tích gieo trồng dự kiến của cây trồng đó nhân với mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị diện tích gieo trồng của loại cây đó, theo công thức:
Q= D.M
Q: Nhu cầu dự tính cho một loại cây trồng
D: Diện tích gieo trồng của cây đó
M: Mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị diện tích của cây trồng đó
VD:- Diện tích đay bẹ năm 1995 là 7.000ha
- Tiêu hao phâm đạm cho 1ha đay bẹ là 750kg phân đạm tiêu chuẩn
- Nhu cầu phân đạm cho sản phẩm đay bẹ là 5250tấn
Tổng nhu cầu một loại vật tư cho các loại cây trồng trong một thời kỳ nào đó được xác định theo công thức sau: Q= D.M
Q: Tổng nhu cầu của các loại vật tư cần tính
D: là diện tích các loại cây trồng từ 1- n
M: là mức tiêu hao vật tư trên một đơn vị diện tích cây trồng từ 1- n
Trong định mức này lưu ý:
Cùng 1 ha gieo trồng nhưng mức bón phân là khác nhau phụ thuộc vào năng xuất cây trồng
Trang 30VD: 1ha gieo trồng lúa đông xuân nếu:
Năng suất từ 30- 40tạ/ha, mức bón từ 60- 80N
Năng suất từ 50- 60tạ/ha - 100- 120N/ha
+ Ưu điểm phương pháp:
- Căn cứ vào diện tích gieo trồng là diện tích thực sự cần phân bón
- Trong định mức có tính đến năng suất cây trồng khác nhau mức tiêu hao vật tư khác nhau
* Một số ảnh hưởng khi áp dụng cách tính nhu cầu phân bón (nhờ việc nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón)
+ Sử dụng công thức QUEFTS hay máy đo diệp lục tố đã giảm bón lượng đạm từ 15- 20% mà năng suất lúa không đổi
+ Nâng cao hàm lượng chất dinh dưỡng trong phân bằng cách loại bỏ các tạp chất hay những yếu tố không cần thiết cho cây trồng, như sản xuất ure (40%N) thay dần cho Bicacbonatamon hay sunphatAmôn, Clorua amôn, sản xuất DAP, TSP có hàm lượng lân cao (46% P2O5) thay dần cho supephôtphát đơn hay Tecmophotphat Thông qua sản xuất phân hoá hợp, phana trộn chứa từ 2- 3, nguyên tố trở lên như MAP, DAP, Phân NPK các loại
2.2-/ Cung phân bón vô cơ trên thị trường và xu hướng vận động
2.2.1 Các doanh nghiệp sản xuất phân bón vô cơ trong nước và xu hướng
phát triển
Hiện tại nền công nghiệp hoá chất, nhất là công nghiệp sản xuất phân bón vô
cơ của chúng ta chưa có khả năng sản xuất và cung ứng đủ lượng phân bón vô cơ các loại cần thiết cho nông dân theo yêu cầu Theo các phương pháp tính toán, thu thập được cho thấy, nhu cầu về phân bón ure của toàn quốc là khoảng 1,4 triệu tấn /năm đến 1,5 triệu tấn/năm; nhu cầu về phân DAP là từ khoảng 450.000 tấn/năm đến 500.000tấn/năm; nhu cầu phân NPK là từ khoảng 500.000-
Trang 31600.000tấn/năm; nhu cầu về phân Kali (K) khoảng 300.000tấn/năm Trong khi nhu cầu về phân bón vô cơ lớn như vậy nhưng tình hình sản xuất trong nước hết sức hạn chế, nhà máy sản xuất phân ure Hà Bắc sản xuất được 100.000 tấn/năm, hai nhà máy phân lân Long Thành- TPHCM và nhà máy phân bón Lâm Thao cũng chỉ sản xuất được khoảng từ 600.000- 700.000tấn/ năm Nhà máy sản xuất phân lân nung chảy Văn Điển và Ninh Bình sản xuất được khoảng từ 100.000- 200.000 tấn/ năm Đối với phân NPK, năm 1999 mới có nhà máy liên doanh với Nhật để sản xuất, còn trước đây ta phải nhập phân bón vô cơ hoàn toàn từ các nước khác Tổng kết lại, so với nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, phân đạm mới đảm bảo khoảng 7% nhu cầu trong tổng nhu cầu phân bón hoá học cả nước, phân lân khoảng 40- 50% Như vậy hơn 90% phân đạm, khoảng 50% phân Lân, 100% Kali và các loại phân bón vô cơ khác cần phải nhập khẩu.
Có thể ví dụ về sản lượng năm 1998 của một số công ty sản xuất phân bón
vô cơ lớn như sau:
BIỂU SỐ 4 : TÌNH HÌNH SẢN LƯỢNG PHÂN BÓN VÔ CƠ Ở MỘT SỐ DOANH
NGHIỆP NĂM 1998
ĐVT:( tấn)
Các loại khác 379.925
Trang 32Supe Lâm Thao Su pe phối phát 565.000
Trang 33BIỂU SỐ 5: TỔNG KẾT - SẢN LƯỢNG SẢN XUẤT PHÂN BÓN VÔ CƠ TỪ
Nguồn tính từ số liệu của tổng cục Thông kê
Trước tình hình nhu cầu phân hoá học ngày một tăng, các đơn vị sản xuất phân bón vô cơ ở Việt Nam cũng đã tìm cách khôi phục và mở rộng các hoạt động
Trang 34sản xuất của mình Có thể nhận định tình hình sản xuất phân bón qua những DN chủ yếu sau:
2.2.1.1 Nhà máy phân đạm Hà Bắc:
Từ sản lượng 45.000 tấn urê năm 1992, do việc đầu tư chiều sâu khôi phục
và cải tạo và đổi mới thiết bị đã mang lại hiệu quả rõ rệt, đến năm 1999 đã được nâng lên 130.000 tấn và vượt công suất thiết kế (Công suất tối đa 120.000 tấn/năm dây chuyền công nghệ của Trung Quốc) Đồng thời do nông nghiệp càng phát triển thì việc gia tăng sản lượng phân đạm cung cấp cho sản xuất nông nghiệp là tất yếu Gần đây sản lượng lương thực của đất nước ngày càng gia tăng (Từ 21 triệu tấn năm 1991 lên 29 triệu tấn năm 1999) Bên cạnh đó là mối lo về tốc độ nhập khẩu phân urê ngày càng gia tăng (từ 781 ngàn tấn năm 1991 lên đến 1,9 triệu tấn năm 1999)
BIỂU SỐ 7 - BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY PHÂN
Trang 35Như vậy với mức sản lượng ngày một tăng theo công suất thiết kế thì nhà máy
đã có thể đáp ứng tốt từ 5- 8% nhu cầu về phân urê cho cả nước Tuy nhiên tình hình thực tế cho việc sản xuất phân bón ở đây tồn tại mấy vấn đề lớn:
- Do dây chuyền công nghệ sản xuất lạc hậu nên chất lượng của sản phẩm do nhà máy sản xuất ra chưa thuyết phục được người tiêu dùng
- Chi phí cho các nguồn nguyên, nhiên liệu đầu vào sản xuất lớn đồng thời hiệu suất của dây chuyền công nghệ thấp dẫn đến chi phí sản xuất lớn (giá điện tăng) do đó tất yếu giá xuất bán sản phẩm phân đạm urê của nhà máy khó có khả năng cạnh tranh với phân urê nhập khẩu
Theo dự đoán của Bộ nông nghiệp và PTNT, nhu cầu phân urê từ nay đến năm 2000 sẽ tăng khoảng 10% năm Năm 2000 sẽ là 2,5 triệu tấn và năm 2005 sẽ
là 3 triệu tấn Do đó kế hoạch phát triển sản xuất phân urê những năm sắp tới là từng bước triển khai dây chuyền công nghệ 140.000 tấn đạm ở nhà máy phân đạm
Hà Bắc, như vậy sản lượng hàng năm sẽ tăng 20 - 30 ngàn tấn/năm so với năm 1995
2.2.1.2 Một số nhà máy sản xuất phân lân:
Từ sau năm 1989, khi chuyển sang cơ chế thị trường, phân lân tiêu thụ có khó khăn hơn Vì dân quen dùng giá thấp do Nhà nước bù lỗ như ở thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp
Trước tình hình đó, các DN đã tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới kỹ thuật
và công nghệ sản xuất, đổi mới mẫu mã bao bì, đóng gói - Phân lân từ chỗ bán phân rời đã chuyển sang đóng bao bì như phân đạm Chất lượng phân cũng được nâng cao, công tác tuyên truyền khuyến mại cũng được thực hiện tốt hơn Do vậy
từ năm 1995 đến nay, số lượng phân lân sản xuất cũng như tiêu thụ đã tăng lên khá nhanh, giá bán tương đối ổn định, sản xuất phân lân đã từ hoà vốn tới có lãi và lãi
Trang 36năm sau cao hơn năm trước Ta có thể thấy điều này qua số liệu so sánh giá bán và chi phí sản xuất phân lân một số năm:
Năm Giá vốn Giá bán tại DN sản xuất
- Nhà máy supe phốt phát Lâm Thao, nhà máy phân Lân Văn Điển, đã đầu
tư vốn cho việc đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất, mở rộng thêm năng lực sản xuất của mình, nhờ đó số lượng cũng như chất lượng của phân lân do các nhà máy sản xuất ra đã được nâng lên hết sức nhanh chóng Đặc biệt trong những năm gần đây, khi các tỉnh phía Nam sử dụng phân lân cho lúa, cho cà phê, cao su, cho hiệu quả tốt, thì nhu cầu phân lân (kể cả phân lân nung chảy) đã tăng lên rất nhanh Tuy nhiên do nguồn nguyên liệu phân bổ không đồng đều, nên đại bộ phận các nhà máy sản xuất phân lân tập trung ở Miền Bắc và sản xuất ra khoảng 90% lượng lân của cả nước Ở phía Nam chỉ có một nhà máy sản xuất được khoảng 10% lượng lân Sản xuất phân lân trong nước năm 1999 so với 1989 đã tăng gần 5 lần, lượng phân làm ra đã đáp ứng được khoảng 60- 65% nhu cầu của nền nông nghiệp Trong
cơ cấu phân lân, thì supe lân chiếm khoảng 70%, loại phân này được sử dụng rộng rãi trên nhiều loại đất và nhiều cây trồng; lân nung chảy chiếm khoảng 30% - loại
Trang 37phân này chủ yếu dùng cho cây lúa và cây công nghiệp trên đất phèn Nghiên cứu khả năng nâng công suất phân lân nung chảy Văn Điển 180.000 tấn/năm và Lâm Thao supe phốt phát từ 30.000 tấn/năm lên 50.000 tấn/năm phát huy thế mạnh nguồn nguyên liệu từ cây lúa, cây công nghiệp, đặc biệt là đất chua.
Nhà máy supe Long Thành dự kiến mở rộng gấp đôi công suất lên 200.000 tấn năm, đồng thời đầu tư một nhà máy sản xuất DAP công suất 330.000tấn/năm (bước đầu nhập Amoniac) dự án đang được trình Chính phủ xin đưa vào kế hoạch, tìm nguồn đầu tư, địa điểm tại khu vực Quảng Ninh
Phân lân nung chảy Ninh Bình từ 100.000 tấn/năm sẽ nâng công suất lên đến 200.000tấn/năm
BIỂU SỐ 8 : SẢN LƯỢNG PHÂN PHÂN LÂN Ở TRONG NƯỚC TỪ
Trang 382.2.1.3 Tình hình một số nhà máy sản xuất phân NPK.
Nước ta có kế hoạch sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước hàng năm ước tính khoảng 800 - 950 ngàn tấn Hiện nay Vinachem đã sản xuất với sản lượng khoảng 350.000tấn/năm Các DN nhỏ khác có khả năng sản xuất khoảng 50 tấn/năm Theo kế hoạch thì các liên doanh sản xuất phân bón Japan - Việt Nam Fertizers có thể đạt sản lượng 350.000 tấn/năm Baconcò có sản lượng 150.000tấn/năm và Hydro có sản lượng 200.000 tấn/năm
Như vậy ước tính tổng sản lượng NPK có để đạt đến khoảng 1,25 triệu tấn
đủ đáp ứng nhu cầu trong nước Tuy nhiên có thể thấy giá phân NPK sản xuất trong nước cao hơn giá của thị trường quốc tế do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Nhà nước có chủ trương bảo hộ, giúp đỡ cho sản phẩm nội địa nên mặc dù giá có thể cao hơn giá thị trường quốc tế nhưng vẫn có thể tiêu thụ tốt tại thị trường nội địa
(Sản lượng sản xuất phân urê trong nước năm 2.000 tăng vọt do nhà máy phân đạm Bà Rịa - Vũng Tàu đi vào sản xuất với công suất 600.000 tấn/năm)
2.2.1.4 Tổng công ty hoá chất việt nam
Trong những năm qua, công nghiệp sản xuất phân bón nước ta đang đi dần vào ổn định Các cơ sở sản xuất phân bón đã chú trọng đến việc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất giảm tiêu hao vật tư, hạ giá thành sản phẩm, cải tiến mẫu mã bao bì để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam là doanh nghiệp lớn sản xuất các loại phân bón phục vụ nông nghiệp trong cả nước Hiện nay, Tổng Công ty có 4 cơ sở sản xuất phân lân chế biến với Tổng công suất 820.000 tấn/năm, một cơ sở sản xuất phân đạm urê công suất 110.000 tấn/năm và 12 cơ sở sản xuất phân tổng hợp NPK
2.2.1.5 Khả năng phát triển nguồn phân bón sản xuất trong nước
Trang 39Như trên đã phân tích, việc sử dụng phân bón vô cơ là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất cây trồng Nhưng ở việt nam ta mức sử dụng chất dinh dưỡng cho cây trông còn thấp và không cân đối Mức sử dụng lân và ka li quá ít so với tỷ
lệ dinh dưỡng trung bình của thế giới hiện nay là : N : P2O5: K2O là 1: 0,47: 0,35 Đối với các nước phát triển tỷ lệ này là 1: 0,37: 0,17 Còn của Việt Nam mới đạt 1: 0,23: 0,04 Do mức độ sử dụng phân bón khác nhau như vậy, nên năng suất cây trồng của Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực, năng suất lúa của Việt Nam năm 1999 là 36,3tạ/ ha Trong khi của Hàn Quốc là 67,5 tạ/ha, Nhật Bản là 61,7tạ/ ha, Inđônêxia 42,3tạ/ha
Vì vậy vấn đề sản xuất phân bón vô cơ phải được coi là một ngành công nghiệp nặng có nhiệm vụ phục vụ trực tiếp cho chương trình phát triển nông nghiệp, chương trình lương thực quốc gia Trong dự báo phát triển kinh tế- xã hội đất nước thì đến năm 2000 dân số nước ta khoảng trên dưới 80 triệu dân Mục tiêu của chương trình phát triển lương thực là trong nước phải giải quyết được căn bản vấn đề ăn của xã hội, có dự trữ Nhà nước ở mức cần thiết, xuất khẩu mỗi năm 1- 1,5 triệu tấn lương thực sau năm 2000 phải đạt trên 30 triệu tấn Với mục tiêu ấy, diện tích trồng trọt sau năm 2000 phải đạt trên 10 triệu ha Tốc độ tăng diện tích trồng trọt trong giai đoạn 1990- 2000 trung bình là 1,2% năm, trong đó với cây lương thực diện tích tăng với tốc độ bình quân 1,37% năm và sản lượng tăng với tốc độ bình quân 3,39%/năm Đặc biệt diện tích gieo trồng đối với cây thực phẩm tốc độ tăng bình quân 5%/năm và cây công nghiệp 8,2%/năm Hệ số sử dụng ruộng đất năm 2000 là 1,71lần Bình quân hiện nay là 1,25 lần
Dự báo năm 2000 nhu cầu phân bón sẽ là 3,4 triệu tấn đạm tiêu chuẩn hay 1,552.000T/ure Về phân lân (Quy về Supephôt phát đơn 16,5% P2O5) sẽ là 1,2 triệu tấn Để đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sản xuất nông nghiệp, các quan điểm chủ yếu để được thống nhất là:
Trang 40- Cần phát triển một ngành sản xuất phân bón đủ mạnh để làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp.
- Phát triển nền công nghiệp phân bón Việt Nam là cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nước
- Phát triển công nghiệp phân bón gắn liền với phát triển công nghiệp hoá chất
- Chọn chủng loại sản phẩm phân bón và bước đi thích hợp
- Có cách nhìn nhận đánh giá hiệu quả của công nghiệp phân bón
- Cần phải có một tổ chức hợp lý cho việc phát triển sản xuất phân bón
Từ các quan điểm trên, phương hướng chung để phát triển ngành sản xuất phân bón là khai thác mọi tiềm năng sẵn có bao gồm các tài nguyên khoáng sản, lực lượng lao động có kỹ thuật, cơ sở vật chất kỹ thuật, theo hướng đầu tư chiều sâu, hiện đại hoá từng bước, nâng cao năng lực sản xuất Đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế đầu tư một số công trình mới, có công nghệ tiên tiến, qui mô vừa và lớn tạo tiền đề vật chất cho phát triển ngành trong giai đoạn tới
2.2.1.5 1 Phương hướng cho từng sản phẩm như sau:
* Phấn đấu sớm hoàn toàn tự túc về phân lân.
Mục tiêu 5- 10 năm tới ta hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu phân lân trong nước
và với các bước đi sau:
+ Sử dụng hợp lý, có hiệu quả công suất các cơ sở sản xuất superphốt phát đơn hiện có, trên cơ sở có đầu tư chiều sâu cải tiến thiết bị, áp dụng kĩ thuật công nghệ mới để hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm
+ Phân lân nung chẩy là loại phân bón có công nghệ đơn giản nguyên liệu hoàn toàn trong nước, thiết bị hoàn toàn tự thiết kế chế tạo được, vốn đầu tư ít, sản lượng tăng nhanh, sản phẩm thích hợp với nhiều loại đất, nhất là đất chua phèn và