1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP ngoại thương việt nam – chi nhánh TP hồ chí minh

108 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp của đề tài Đề tài nghiên cứu góp phần đánh giá thực trạng QTRRTD đối với KHCN tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - CN TP.HCM và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QT

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGÔ QUANG HUÂN

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 5

hoặc từ các tài liệu được nêu ở mục tài liệu tham khảo, các ý kiến và đề xuất của các tác giả chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2019

Tác giả

Trần Y Minh

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

ABSTRACT SUMMARY

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 5 1.1 Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng trong ngân hàng TMCP 5

1.1.1 Hoạt động tín dụng 5

1.1.2 Rủi ro tín dụng trong NHTM 6

1.2 Quản trị rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II trong ngân hàng thương mại cổ phần 9

1.2.1 Tổng quan về hiệp ước Basel II 9

1.2.2 Khái niệm về quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II của ngân hàng thương mại 11

1.2.3 Sự cần thiết quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II của ngân hàng thương mại 12

1.2.4 Các nội dung của Basel II về quản lý rủi ro tín dụng 14

1.2.4.1 Yêu cầu vốn tối thiểu cho rủi ro tín dụng 14

1.2.4.2 Phương pháp tiếp cận 15

1.2.4.3 Hệ thống xếp hạng nội bộ 20

1.2.5 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II 21

1.2.5.1 Các chỉ tiêu về chất lượng tín dụng 21

Trang 7

1.3.1 Đặc trưng của tín dụng khách hàng cá nhân 27

1.3.2 Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân 29

1.3.2.1 Đặc điểm của rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân 29

1.3.2.2 Quản trị rủi ro khách hàng cá nhân 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CN TP.HCM 32

2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh TP.HCM 32

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh TP.HCM 32

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - CN TP.HCM 34

2.1.3 Thực trạng hoạt động cấp tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - CN TP.HCM giai đoạn 2016-2018 34

2.2 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương - Chi nhánh TP.HCM 45

2.2.1 Tình hình dư nợ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh TP.HCM 45

2.2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh TP.HCM 48

2.2.3 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh TP.HCM 49

Trang 8

2.2.4.2 Công tác chuẩn bị thực hiện quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II 53

2.2.4.3 Hệ thống xếp hạng nội bộ 54

2.2.4.4 Tình hình thực hiện các phương pháp tiếp cận theo Basel II 58

2.3 Đánh giá công tác quản trị RRTD đối với KHCN tại Ngân hàng 60

2.3.1 Kết quả đạt được 60

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 61

2.4 Kết quả khảo sát công tác quản trị RRTD KHCN tại Vietcombank Chi nhánh TP.HCM 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RRTD KHCN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG - CN TP.HCM 67

3.1 Định hướng hoạt động tín dụng đối với KHCN trong thời gian tới 67

3.1.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng 67

3.1.2 Định hướng công tác quản trị RRTD đối với KHCN theo Basell II 68

3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị RRTD đối với KHCN tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương - CN TP.HCM 69

3.2.1 Hoàn thiện chính sách tín dụng KHCN 69

3.2.1.1 Hoàn thiện sản phẩm dịch vụ cung ứng cả về chất lượng, số lượng 69 3.2.1.2 Áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt 70

3.2.2 Hoàn thiện bộ máy 71

3.2.3 Về công cụ quản lý 71

3.2.3.1 Hệ thống xếp hạng tín dụng KHCN 71

3.2.3.2 Kiểm tra, kiểm soát nội bộ 72

3.2.4 Thực hiện tốt quy trình quản lý 73

Trang 9

3.2.8 Áp dụng hiệp ước Basel II để quản trị rủi ro tín dụng 77

3.2.8.1 Áp dụng mô hình đánh giá để lượng hóa rủi ro tín dụng theo quy định của Hiệp ước Basel II 77

3.2.8.2 Cải tiến công tác quản trị rủi ro tín dụng phù hợp với các tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel II 78

3.2.8.3 Thực hiện tốt việc phân loại nợ và sử dụng quỹ dự phòng để tài trợ rủi ro 79

3.3 Kiến nghị 79

3.3.1 Kiến nghị với NHNN 79

3.3.2 Kiến nghị với Vietcombank 81

3.3.3 Kiến nghị đối với các Bộ, Ngành địa phương và Chính phủ 82

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83

PHẦN KẾT LUẬN 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 11

Bảng 1.1 Thang xếp hạng các khoản tín dụng 16 Bảng 1.2 Trọng số rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II 17

Bảng 2.1 Cơ cấu dư nợ theo nhóm nợ của Vietcombank - chi nhánh

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Vietcombank - Chi nhánh TP.HCM 34

Trang 12

Biểu đồ 2.4 Diễn biến tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lê nợ xấu và tỷ lệ trích lập dự

phòng RRTD đối với KHCN giai đoạn 2016-2019 49

Trang 13

quy trình quản trị rủi ro tín dụng và đang hướng tới đáp ứng chuẩn mực Basel II theo phương pháp nâng cao

Tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - chi nhánh TP.HCM” để làm đề tài nghiên cứu Với mục tiêu là đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Vietcombank Chi nhánh TP.HCM

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để thu thập thông tin, phân tích, phỏng vấn nhóm khách hàng cá nhân, phân tích được các rủi ro từ hoạt động tín dụng cá nhân

Kết quả đạt được tại Vietcombank chi nhánh TP.HCM như: Chính sách QTRRTD tương đối hiệu quả; Quy trình tổ chức QTRRTD khoa học; Chất lượng thẩm định được cải thiện; Hoàn thiện các biện pháp bảo đảm tiền vay và xử lý TSĐB nợ vay

Luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QTRRTD đối với KHCN tại Vietcombank chi nhánh TP.HCM như: Hoàn thiện chính sách tín dụng; Hoàn thiện bộ máy, công cụ quản lý; Thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng; Đào tạo và sử dụng cán bộ tín dụng; Ứng dụng công nghệ thông tin; Xây dựng hệ thống thông tin khách hàng

Từ khóa: Quản trị rủi ro tín dụng

Trang 14

an advanced method

The author has chosen the topic "Credit risk management of individual customers at Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam - Ho Chi Minh City branch" to be the research topic The goal is to propose practical solutions to manage credit risk for individual customers at Vietcombank Ho Chi Minh City Branch

The thesis uses qualitative and quantitative research methods to collect information, analyze and interview individual customer groups, analyze risks from personal credit activities

The results achieved at Vietcombank Ho Chi Minh City Branch such as: Credit risk management policy is relatively effective; The process of organizing and managing scientific credit risks; Evaluation quality improved; Complete loan security measures and handle loan security assets

The dissertation has proposed a number of solutions to improve the credit risk management for individual customers at Vietcombank branch in Ho Chi Minh City such as: Completing the credit policy; Improve the management apparatus and tools; Implementing the credit management process; Training and employing credit officers; Information technology applications; Building customer information system

Key word: Credit risk management

Trang 15

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng khách hàng cá nhân luôn là hoạt động phong phú và là một trong những kênh phân phối, sử dụng nguồn vốn có hiệu quả nhất bởi nó giúp cho nguồn vốn của ngân hàng luôn vận động, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng

Những năm gần đây, trong bối cảnh nền kinh tế trong và ngoài nước nhiều bất ổn, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, việc hấp thụ vốn chậm thì tín dụng cá nhân được nhiều ngân hàng đẩy mạnh, thậm chí được xem là mũi nhọn tăng trưởng Với sản phẩm phong phú và chính sách phù hợp, tín dụng cá nhân là một trong những tiêu chí đánh giá được chính xác nhất sự thành công của mô hình ngân hàng bán lẻ

Tuy nhiên, hoạt động tín dụng là hoạt động chứa đựng nhiều tổn thất và rủi ro lớn nhất đối với hoạt động của ngân hàng Rủi ro tín dụng luôn đi đôi với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải biết cách quản trị rủi ro tín dụng một cách toàn diện, khoa học và có hệ thống nhằm nhận diện, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất tín dụng Vì vậy, việc quản trị rủi ro tín dụng nói chung và quản trị rủi ro tín dụng đối với KHCN nói riêng là việc làm hết sức cần thiết và liên tục đối với các ngân hàng thương mại

Là chi nhánh thuộc hệ thống ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Vietcombank chi nhánh TP.HCM trong những năm qua, vốn tín dụng cá nhân tại chi nhánh ngân hàng đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của thành phố, nhưng quy mô tín dụng cá nhân còn hạn chế Tín dụng cá nhân năm 2016 chỉ chiếm 25,3% so với tổng dư nợ, năm 2017 tăng lên chiếm 32,7% so với tổng dư nợ, đến năm 2018 tổng dư nợ tín dụng cá nhân chiếm 37,3% so với tổng dư nợ của năm Đặc biệt là trong cơ cấu tín dụng cá nhân của chi nhánh thì phần lớn là tín dụng cá nhân ngắn hạn, chất lượng tín dụng cá nhân của chi nhánh đạt được chưa tích cực so với nguồn lực và vị thế của ngân hàng tại TP.HCM Tỷ lệ nợ xấu tín dụng cá nhân trên tổng nợ xấu năm 2016 là 5,9% tổng dư nợ tín dụng cá nhân, năm 2017 đã giảm

Trang 16

xuống còn 3,5%, năm 2018 giảm xuống mức 2,6% so với tổng dư nợ tín dụng cá nhân Vietcombank chi nhánh TP.HCM thực hiện rất tốt quy trình QTRRTD theo chuẩn mực Basel II và đang hướng tới đáp ứng chuẩn mực Basel II theo phương pháp nâng cao

Nhận thức được mối nguy hiểm và hậu quả không lường trước được do các rủi ro tín dụng ngân hàng gây ra, tôi đã lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - CN thành phố

Hồ Chí Minh” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ kinh tế của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục những mặt tồn tại trong hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam -

CN thành phố Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả QTRRTD đối với KHCN tại chi nhánh trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng KHCN tại Ngân hàng TMCP

Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh TP.HCM

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về mặt thời gian: Nghiên cứu phân tích chất lượng tín dụng KHCN tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - CN thành phố Hồ Chí Minh trong giai

Trang 17

a) Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu và thông tin

Là luồng thông tin được lấy từ các con số có sẵn được công bố trên các báo cáo kết quả hàng năm tại Vietcombank Chi nhánh TP.HCM

Số liệu về kết quả kinh doanh, hoạt động tín dụng và công tác QTRRTD từ năm 2016 đến năm 2018 làm nguồn tài liệu cho đề tài

b) Phương pháp xử lý thông tin

Thông tin được thu thập, tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel

c) Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả nhằm thấy được đặc điểm chung của Vietcombank CN TP.HCM về kết quả hoạt động kinh doanh và công tác QTRRTD

- Phương pháp thống kê so sánh, đối chiếu giữa thực tế so với kế hoạch, so sánh qua các năm theo tỷ lệ

4.2 Phương pháp định tính

a) Phương pháp chuyên gia

Là phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhận định, đánh giá kết quả đạt được trong công tác QTRRTD dựa trên cơ sở lý luận của tác giá

- Áp dụng nguyên tắc tổng hợp tư liệu trong tiếp cận lịch sử để sắp xếp, phân tích và tổng hợp tư liệu theo trình tự thời gian và nhân quả

- Kết quả điều tra công tác QTRRTD tại chi nhánh được xử lý dựa trên cơ sở thống kê toán

Trang 18

- Kết quả phỏng vấn nhóm có thể giúp giải thích được các câu trả lời thu thập được trong một cuộc khảo sát

- Phỏng vấn nhóm có thể cung cấp cho tác giả có một cái nhìn sâu sắc và có giá trị vào việc đánh giá xem công tác QTRRTD của chi nhánh đã đạt được mục tiêu mong muốn chưa

c) Phương pháp phân tích tình huống

- Bằng cách vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống, sự việc cụ thể xảy ra tại ngân hàng Vietcombank chi nhánh TP.HCM

- Từ đó có thể đánh giá được công tác QTRRTD và đưa ra được các biện pháp nhằm hạn chế được rủi ro

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài nghiên cứu góp phần đánh giá thực trạng QTRRTD đối với KHCN tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - CN TP.HCM và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QTRRTD KHCN tại chi nhánh, đề tài làm cơ sở ứng dụng cho Ban lãnh đạo có những chính sách phù hợp nhằm phát triển hoạt động tín dụng

cá nhân của chi nhánh trong thời gian tới, góp phần thu hút thêm nhiều khách hàng đến với chi nhánh và sử dụng các dịch vụ khác Ngoài ra, kết quả của đề tài nghiên cứu có thể ứng dụng trong thực tế để nâng cao hiệu quả QTRRTD đối với KHCN của hệ thống ngân hàng đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực phụ cận

6 Bố cục của luận văn

Ngoài Lời cam đoan, Mục lục, Danh mục bảng biểu, Danh mục các từ viết tắt, Lời mở đầu, Phần kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh TP.HCM

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng

cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh TP.HCM

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG

CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

1.1 Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng trong ngân hàng TMCP

1.1.1 Hoạt động tín dụng

a) Khái niệm tín dụng

“Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan nhằm phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên chủ thể sở hữu giao một lượng giá trị bằng tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng và chủ thể sử dụng có nhiệm vụ hoàn trả với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu sau một thời gian xác định

Tín dụng ngân hàng là một giao dịch vay mượn tài sản giữa ngân hàng (bên cho vay) và khách hàng (bên đi vay), trong đó bên đi vay được sử dụng tài sản của bên cho vay trong một khoảng thời gian được thoả thuận trước và phải hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán Nói một cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn giữa ngân hàng và khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.”

b) Chức năng của tín dụng:

- Chức năng tập trung và phân phối lại tài nguyên theo nguyên tắc có hoàn trả

“Tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay nhờ đó điều hòa vốn tín dụng từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Sự điều hòa mang tính chất tạm thời và phải trả lãi

Việc phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức tín dụng được thực hiện bằng hai cách là phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp

- Chức năng giám đốc các hoạt động của nền kinh tế

Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế Do đó, tín dụng còn được coi là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế

Trang 20

- Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí trong lưu thông

Tín dụng cũng gắn liền với việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, tín dụng có thể phản ánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế.”

1.1.2 Rủi ro tín dụng trong NHTM

a) Khái niệm rủi ro tín dụng

“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết - theo Quyết định số 22/VBHH-NHNN ngày 04/6/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết - theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách hàng nợ không còn khả năng chi trả Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay nợ có thể bị mất khả năng trả nợ một khoản vay, khi ngân hàng mới chỉ thực hiện nghiệp

vụ cấp tín dụng thì đó là một giao dịch chưa hoàn thành Giao dịch tín dụng được xem là hoàn thành khi mà ngân hàng thu hồi về được khoản tín dụng bao gồm cả gốc và lãi

Khi thực hiện giao dịch ngân hàng, từ lúc bắt đầu giải ngân và đến khi thu hồi vốn về cả gốc và lãi, ngân hàng không biết chắc được giao dịch đó có hoàn thành hay không, nó có khả năng hoàn thành cũng có khả năng không hoàn thành

Do đó, rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng Tất cả các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn, cho thuê tài chính, chiết khấu chứng từ có giá, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, bao thanh toán và bảo lãnh ngân hàng đều chứa

Trang 21

đựng rủi ro tín dụng Khi quyết định cấp tín dụng ngân hàng không biết chắc được khả năng có thu hồi được khoản tín dụng hay sẽ gặp phải rủi ro tín dụng

Rủi ro trong ngân hàng thương mại có xu hướng tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra, có thể khiến ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn và nghiêm trọng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.”

b) Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng

“Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng đối với ngân hàng, có thể phân thành hai nhóm nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Rủi ro do nguyên nhân khách quan là rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh Rủi ro do nguyên nhân chủ quan là rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay

* Các nguyên nhân chủ quan

- Nguyên nhân từ phía ngân hàng

+ Do trình độ chuyên môn và phẩm chất, đạo đức cán bộ yếu kém Trình độ của cán bộ tín dụng kém hoặc cán bộ có trình độ nhưng cố tình làm sai sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của khoản vay, từ đó dẫn đến rủi ro tín dụng

+ Do chính sách tín dụng của ngân hàng chưa rõ ràng Chính sách tín dụng khoa học là chính sách được đề ra dựa trên mục tiêu, chiến lược của ngân hàng, quy chế cho vay của NHNN Chính sách tín dụng không rõ ràng cũng như không phù hợp với mục tiêu, chiến lược của ngân hàng sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng

+ Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ lỏng lẻo, chưa phát huy đúng tác dụng

Hệ thống kiểm soát nội bộ có vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại của một ngân hàng, tuy nhiên công tác này lại chưa được coi trọng đúng mức, tại nhiều ngân hàng việc kiểm tra kiểm soát nội bộ chỉ mang tính hình thức

+ Công tác quản lý sau khi cho vay, kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay chưa được coi trọng Điều đó dẫn đến nhiều trường hợp vốn vay bị sử dụng sai mục đích, gây ra rủi ro cho khoản vay.”

Trang 22

+ “Ngân hàng buông lỏng quy trình quản trị rủi ro để chạy theo doanh thu Để

mở rộng tín dụng, tăng doanh thu nhiều ngân hàng đã nới lỏng các quy định về cho vay dẫn đến rủi ro tín dụng

+ Các NHTM chưa có được sự hợp tác chặt chẽ, vai trò của CIC chưa phát huy hiệu quả Do thiếu sự trao đổi thông tin dẫn đến nhiều ngân hàng cùng sử dụng một tài sản làm tài sản đảm bảo để cho vay, cho khách hàng vay vượt quá giới hạn cho phép

- Nguyên nhân từ phía khách hàng vay

+ Do khả năng quản lý, tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh bạch Do sự cạnh tranh của các doanh nghiệp cùng ngành, nếu các doanh nghiệp không có khả năng thích ứng kịp thời, dẫn đến kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán trả nợ

sẽ dẫn đến nợ quá hạn đối với ngân hàng Những doanh nghiệp năng lực tài chính yếu kém, vốn tự có ít, nguồn vốn bên ngoài, vốn vay là chủ yếu sẽ phải chịu lãi suất cao, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và dễ dẫn đến việc mất khả năng thanh toán khi đến kỳ trả nợ

+ Sử dụng vốn sai mục đích: Khách hàng sử dụng vốn khác với mục đích đã đưa ra trong hợp đồng tín dụng, dẫn đến nguồn trả nợ không được đảm bảo, có khả năng gây ra nợ quá hạn, lãi treo

+ Khách hàng không chủ động trả nợ vay: Có trường hợp khách hàng cố tình không thanh toán cho ngân hàng khi nguồn tiền để trả nợ về mà sử dụng vốn để quay vòng vào mục đích khác Đây cũng là nguyên nhân khiến rủi ro tín dụng xuất hiện

* Các nguyên nhân khách quan

- Do tác động của môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế xã hội là tổng hoà các mối quan hệ về nền kinh tế và xã hội tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế Khi nền kinh tế bị suy thoái, sản xuất đình trệ khiến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn, không đủ khả năng trả

nợ ngân hàng khi đến hạn

- Do môi trường pháp lý: Những sự thay đổi về cơ chế, chính sách có thể đặt doanh nghiệp vào tình huống khó khăn trong hoạt động kinh doanh, kéo theo hoạt

Trang 23

động tín dụng của ngân hàng có nguy cơ thiệt hại

- Do điều kiện tự nhiên: Khi gặp các biến cố bất thường của tự nhiên như động đất, bão lũ,… sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng và ngân hàng, ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợ của khách hàng

- Do sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các NHTM, vai trò quản lý của NHNN còn hạn chế Việc giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng còn thiếu kiên quyết, không phát huy được tác dụng trong quá trình kiểm soát rủi ro.”

“Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Đối với các nguyên nhân từ phía ngân hàng thì cần tìm biện pháp khắc phục để hạn chế rủi ro Đồng thời ngân hàng cần phải nắm bắt sát sao tình hình hoạt động của khách hàng để giảm thiểu rủi ro từ phía khách hàng Đối với những nguyên nhân bất khả kháng thì ngân hàng cần dự phòng bù đắp rủi ro đầy đủ để phòng ngừa, giảm thiểu tổn thất do rủi ro mang lại Các ngân hàng cần phải có biện pháp để hạn chế rủi ro ở một tỷ lệ thấp có thể chấp nhận, kiểm soát được.”

1.2 Quản trị rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II trong ngân hàng thương mại cổ phần

1.2.1 Tổng quan về hiệp ước Basel II

Để đối phó với các khủng hoảng và sự gián đoạn trong thị trường tài chính quốc tế, các thống đốc ngân hàng trung ương của các nước G10 đã thành lập một

Ủy ban về các quy định ngân hàng và thực tiễn kiểm soát vào cuối năm 1974 Sau

đó đổi tên thành Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, Ủy ban như một diễn đàn cho

sự hợp tác thường xuyên giữa các nước thành viên về các vấn đề giám sát ngân hàng Mục đích của Ủy ban Basel để tăng cường sự ổn định tài chính bằng cách cải thiện bí quyết giám sát và chất lượng giám sát ngân hàng trên toàn thế giới

“Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà

nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I

Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8% Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được

Trang 24

phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế Đến năm

1996, Basel I được sửa đổi với rất nhiều điểm mới Song, Hiệp ước vẫn có khá nhiều điểm hạn chế

Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đã đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (ii) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; (iii) sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm làm lành mạnh kỷ luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel II đã chính thức được ban hành

Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân

hàng quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro

Hai mục tiêu đầu của Basel II là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn Basel I Mục tiêu cuối cùng là mới, đó là dấu hiệu của việc bắt đầu chuyển dần từ

cơ chế điều tiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự điều tiết mà sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình Basel II bổ sung thêm hiểu biết về rủi ro liên quan đến quy mô vốn điều lệ; xây dựng một hệ thống quản lý rủi ro tốt hơn cho các tổ chức tài chính - một cái nhìn mang tính doanh nghiệp hơn về rủi ro và tham gia nhiều hơn vào công tác đánh giá và quản lý rủi ro; khuyến khích các ngân hàng áp dụng hệ thống quản lý rủi ro khoa học hơn để có thể làm giảm chi phí vốn.”

Nội dụng của Basel II: Để đạt được những mục tiêu trên, Basel II gồm các

nội dung: yêu cầu vốn tối thiểu; quy trình giám sát; công bố cho thị trường và những điều đó sẽ mang lại lợi ích cho ngân hàng, khách hàng, nhà đầu tư và trên tất

cả là cho cơ quan quản lý

- “Yêu cầu vốn tối thiểu: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ

lệ yêu cầu vốn bắt buộc tối thiểu là 8% Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu

tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt

Trang 25

động) và rủi ro thị trường Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 150% hoặc hơn) và nhạy cảm hơn các tài sản có của ngân hàng

0% Quy trình giám sát: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những nguyên tắc rà soát, giám sát các ngân hàng

Theo nội dung này các ngân hàng được yêu cầu phải nộp cho ngân hàng trung ương một hồ sơ về quy trình đánh giá an toàn vốn nội bộ (ICAAP) Hồ sơ này không chỉ xem xét tình trạng an toàn vốn trong tương lai trong điều kiện kinh doanh bình thường mà còn trong kịch bản hoạt động khó khăn Ban quản lý cấp cao của ngân hàng cần đánh giá các rủi ro khác ngoài rủi ro tín dụng, thị trường và rủi ro hoạt động Do đó, nó giúp các hoạt động ngân hàng trở nên an toàn hơn vì khung quản lý không chỉ dừng lại ở rủi ro tín dụng mà còn được mở rộng ra rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và tất cả các rủi ro tiềm ẩn khác, không chỉ đối với hoàn cảnh hiện tại mà còn cho tương lai

- Yêu cầu công khai thông tin: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường

Như vậy, quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro.”

1.2.2 Khái niệm về quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II của ngân hàng thương mại

Quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II là việc các ngân hàng thương mại sử dụng các tiêu chuẩn, khung quản lý rủi ro tín dụng, các quy định khác được quy định cụ thể trong Basel II để thực hiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng của mình Quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II vừa là yêu cầu của NHNN vừa

là nhu cầu tự cân đối với các ngân hàng thương mại

Basel II là phiên bản thứ hai của Hiệp ước Basel, trong đó đưa ra các nguyên tắc chung và các luật ngân hàng của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng Ngoài

Trang 26

việc kế thừa một khung quản lý rủi ro tín dụng từ Basel I, hiệp ước về vốn Basel II được trình bày như một tập hợp các quy định được đề xuất mà có thể sẽ mang đến một loạt các thách thức về tuân thủ cho các ngân hàng trên thế giới về riêng lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi to tín dụng theo Basel II giúp cho các ngân hàng thực hiện đánh giá tài sản có trọng số rủi ro một cách cụ thể, chặt chẽ, đáp ứng vốn tự có theo rủi

ro của bản thân mỗi ngân hàng Bên cạnh đó, Basel II cũng đưa ra mô hình tính toán để ngân hàng tính toán mức độ rủi ro, xác suất vỡ nợ của mỗi ngân hàng

Trong quá trình quản lý rủi ro tín dụng, Basel II khuyến khích các ngân hàng đánh giá rủi ro, sử dụng các biện pháp giảm nhẹ rủi ro tín dụng (CRM) Ngoài việc quy định lớp vốn yêu cầu cho rủi ro tín dụng, Basel II còn hướng tới ngân hàng sử dụng các đánh giá của tổ chức đánh giá bên ngoài hoặc đánh giá của bản thân ngân hàng về rủi ro của các khách hàng, tổ chức đi vay từ đó có thể đánh giá tài sản có rủi ro của ngân hàng một cách chính xác nhất Điều này mang lại cho ngân hàng các lợi ích, hiệu quả, an toàn trong hoạt động

1.2.3 Sự cần thiết quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II của ngân hàng thương mại

Đối với các NHTM, việc áp dụng Chuẩn mực vốn Basel II sẽ nâng cao sự an toàn, ổn định, hạn chế nguy cơ nợ xấu, phát triển lành mạnh, nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong xu hướng hội nhập kinh

tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay

a) Quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II thiết lập sự an toàn cho hệ thống ngân hàng

Basel II làm tăng sự chú trọng quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro tín dụng nói riêng tại mỗi ngân hàng, nhờ đó nâng cao năng lực quản lý rủi ro của các ngân hàng này Basel II đi sâu vào các khoản tài chính, các khoản cho vay, hay tài sản của ngân hàng hiện tại một cách tiếp cận tổng thể Basel II cũng đòi hỏi ngân hàng có hệ thống đánh giá nội bộ hiệu quả, đánh giá rủi ro khác nhau mà ngân hàng phải đối mặt Áp dụng quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II chắc chắn sẽ tạo ra sự an

Trang 27

toàn trong mảng tín dụng, giảm thiểu rủi ro, giảm thiếu nợ xấu từ đó gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng

Việc áp dụng quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II theo ba trụ cột thúc đẩy các ngân hàng đầu tư và cải thiện năng lực quản lý rủi ro Phương pháp tiếp cận nâng cao đối với quản lý rủi ro tín dụng đòi hỏi các ngân hàng phải phân tích rủi ro một cách chính thức và có hệ thống, thông qua phân tích khả năng vỡ nợ và rủi ro

vỡ nợ

Tóm lại, quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II sẽ làm giảm thiểu rủi ro, tăng cường an toàn trong hoạt động của mỗi ngân hàng Từ đó, tăng cường sự an toàn trong hoạt động của toàn bộ hệ thống tổ chức tín dụng Quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II sẽ giảm rủi ro tín dụng tới mức thấp nhất có thể xảy ra, điều này làm giảm thiệt hại cho nền kinh tế, các chuẩn mực cho vay chặt chẽ hơn sẽ làm cho hệ thống

tổ chức tín dụng ổn định, an toàn

b) Basel II khích lệ tính chủ động, giám sát và minh bạch thông tin

Basel II khuyến khích các ngân hàng nâng cao tính chủ động của mình, giám sát và minh bạch thông tin Trong thời kỳ hội nhập, nền kinh tế ngày càng mang tính chất thị trường, điều này rất có lợi cho các nhà đầu tư, các nhà giám sát ngân hàng Theo đó, các ngân hàng tự chọn cách thức tính toán, đo lường RRTD cho mình, thiết lập hệ thống xếp hạng nội bộ, lựa chọn mô hình quản lý rủi ro tín dụng riêng cho mình dựa trên khả năng ứng dụng và tài chính của mỗi ngân hàng

Mặt khác, các ngân hàng thương mại muốn tham gia thực hiện hiệp ước Basel II phải gia tăng tính minh bạch trong các báo cáo tài chính của mình, trình bày, giải thích rõ hơn về các khoản mục tài sản và nợ, những rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận, cách thức quản lý RRTD, mức độ dự phòng hay các biện pháp giảm thiểu rủi ro Chính điều này sẽ tạo ra một kỷ luật thị trường cho các ngân hàng

c) Quản lý RRTD theo Basel II làm tăng hiệu quả hệ thống ngân hàng

Sự bình đẳng trên phạm vi quốc gia và quốc tế là một tôn chỉ đề ra khi thực hiện Basel II Tất cả các ngân hàng với quy mô khác nhau, năng lực tài

Trang 28

chính khác nhau đều tiếp cận như nhau đối với các quy định về quản lý rủi ro tín dụng, đều phải đáp ứng các chuẩn chung đã đề ra Từ đó, quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II tạo nên sự sàng lọc tự nhiên tất yếu để cải tổ ngân hàng Nếu ngân hàng hoạt động quá rủi ro thì các nhà đầu tư sẽ ít tín nhiệm vào các chứng khoán của ngân hàng, hạn mức tín nhiệm ngân hàng thấp và ngân hàng khác sẽ tìm cách thâu tóm ngân hàng, hay các cơ quan giám sát sẽ tiến hành hợp nhất, sáp nhập các ngân hàng này với các ngân hàng làm ăn hiệu quả Ngoài ra, ngân hàng luôn

có mối quan hệ cộng tác tương hỗ, nên sự sụp đổ bất cứ ngân hàng nào cũng gây

ra phản ứng dây chuyền gây thiệt hại cho các ngân hàng khác Cũng theo Cơ quan thanh tra giám sát thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam, việc thực hiện Basel II nói chung và quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II nói riêng là nội dung quan trọng trong đề án cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được chính phủ phê duyệt và Thống đốc NHNN chỉ đạo lộ trình thực hiện cho toàn hệ thống

tổ chức tín dụng

1.2.4 Các nội dung của Basel II về quản lý rủi ro tín dụng

1.2.4.1 Yêu cầu vốn tối thiểu cho rủi ro tín dụng

Sự ra đời của Basel II phản ánh sự phát triển của quản lý rủi ro tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng Trong đó, cụ thể trụ cột I cung cấp phương pháp tính toán để xác định mức vốn tối thiểu mà ngân hàng nắm giữ để đối mặt với rủi ro

“Với Basel II, ủy ban Basel đã từ bỏ phương pháp luận một kích thước phù hợp với tất cả của hiệp ước về vốn năm 1988 về việc tính toán yêu cầu vốn pháp định nhỏ nhất và giới thiệu khái niệm 3 cột trụ để kết hợp các yêu cầu pháp định với các nguyên tắc kinh tế của quản lý rủi ro

Trụ cột I của Basel II nhắc đến việc duy trì một lượng vốn pháp định được tính toán cho ba thành phần rủi ro mà ngân hàng đối mặt: rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro vận hành Với thành phần rủi ro tín dụng có thể được tính toán theo hai cách khác nhau của thay đổi độ phức tạp, cụ thể là phương pháp tiếp cận chuẩn hóa, phương pháp xếp hạng nội bộ cơ bản

Với trụ cột I, tỷ lệ vốn tối thiểu bằng 8% là không thay đổi Tỷ lệ này thể

Trang 29

hiện mối quan hệ giữa các quy định về quỹ (vốn) của riêng ngân hàng và tài sản được điều chỉnh theo trọng số rủi ro, một cách tính toán khả năng gánh chịu rủi ro Tài sản được điều chỉnh theo trọng số rủi ro là giá trị tài sản nhân lên với trọng số rủi ro - đại diện cho cho rủi ro tín dụng liên quan tới các tài sản này.”

1.2.4.2 Phương pháp tiếp cận

“Trong lĩnh vực RRTD, có hai phương pháp được tiếp cận, đó là tiếp cận chuẩn hóa và tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ (IRB) Phương pháp tiếp cận chuẩn hóa ràng buộc trọng số rủi ro với xếp hạng cung cấp bởi các cơ quan xếp hạng được công nhận Phương pháp xếp hạng tín dụng nội bộ sử dụng các ước tính của chính ngân hàng về các yếu tố rủi ro nhất định, dựa trên các yếu tố rủi ro được phép tính toán, khoảng cách được tạo ra giữa cách tiếp cận cơ bản và cách tiếp cận nâng cao

a) Phương pháp tiếp cận chuẩn hóa

- Đây là phương pháp tiếp cận để tính yêu cầu vốn cho rủi ro tín dụng của ngân hàng Phương pháp này đo lường rủi ro tín dụng theo phương pháp tiếp cận chuẩn hóa được hỗ trợ bởi các đánh giá bên ngoài (tổ chức xếp hạng độc lập)

- Một số các định chế đánh giá tín dụng bên ngoài (ECAI)- các công ty cung cấp đánh giá rủi ro công ty của bên vay thông qua xếp hạng sẽ được thừa nhận nếu

họ đáp ứng được tiêu chí chuẩn mực về tính khách quan, tính độc lập, nguồn lực, tính minh bạch và độ tin cậy

- Các nhà quản lý khi đó sẽ sắp xếp các xếp hạng bên ngoài đó theo tiêu chuẩn xếp hạng quốc tế Standard & Poors (S&P) Xếp hạng S&P cuối cùng được chuyển đổi thành các trọng số rủi ro.”

Trang 30

Ít có xác suất là khả năng thực hiện các nghĩa vụ và cam kết tài chính sẽ

bị tác động tiêu cực bởi những sự kiện có thể dự đoán được

BBB

Chất lượng tín dụng tương đối phản ánh một mức rủi ro tín dụng trung bình Trong khi khả năng thanh toán các cam kết tài chính được đánh giá là đủ, những thay đổi bất lợi và các điều kiện kinh tế bất lợi có thể làm suy yếu hơn và làm suy giảm khả năng thanh toán Đây là mức xếp hạng thấp nhất trong nhóm xếp hạng đầu tư

Nguồn : Hiệp ước Basel II - Bank For International Settlements

Trang 31

Bảng 1.2 Trọng số rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II

Không được

vay quá hạn 50%, 100%, 150% phụ thuộc vào mức độ dự phòng

Nguồn : Hiệp ước Basel II - Bank For International Settlements

“Khi định tỷ lệ loại rủi ro trong phương pháp tiếp cận chuẩn hoá, các ngân hàng có thể sử dụng các đánh giá của các định chế đánh giá tín dụng bên ngoài với những tiêu chí được định nghĩa cụ thể trong Basel II

Tài sản có rủi ro được tính toán theo phương pháp chuẩn hóa:

RWA (Phương pháp tiếp cận chuẩn hóa) = ∑(Tài sản được xếp hạng rủi ro * Trọng số rủi ro)

b) Phương pháp xếp hạng nội bộ (IRB)

Phương pháp tiếp cận xếp hạng nội bộ dựa trên đánh giá của một ngân hàng của các đối tác về khoản rủi ro tiềm ẩn để tính toán nhu cầu vốn cho rủi ro tín dụng

Phương pháp xếp hạng nội bộ đối với rủi ro tín dụng bao gồm 2 dạng: dạng

cơ bản và dạng nâng cao Phương pháp xếp hạng nội bộ khác về cơ bản so với phương pháp chuẩn hoá ở chỗ những đánh giá nội bộ của một ngân hàng về những yếu tố rủi ro chủ yếu là những số liệu đầu vào quan trọng cho việc tính toán vốn Vì

Trang 32

phương pháp này dựa vào những đánh giá nội bộ của ngân hàng, cần có những yêu cầu cao hơn nữa về vốn nhạy cảm với rủi ro Tuy nhiên, phương pháp xếp hạng nội

bộ không cho phép các ngân hàng tự quyết định tất cả những thành phần cần thiết

để tính toán yêu cầu về vốn của mình Thay vào đó, các tỷ lệ rủi ro và các số liệu đầu vào định lượng do các ngân hàng cung cấp kết hợp với những công thức do Basel II quy định để tính ra số vốn theo yêu cầu.”

“Những công thức hoặc những hàm số tỷ lệ rủi ro sẽ chuyển hoá các số liệu đầu vào thành một yêu cầu về vốn cụ thể Chúng dựa trên những kỹ thuật quản lý rủi ro hiện đại gắn liền với đánh giá thống kê định lượng của rủi ro Các bộ phận rủi

ro gồm xác suất không trả nợ (PD), tổn thất khi không trả nợ (LGD), khoản rủi ro tiềm năng do không trả nợ (EAD), và thời hạn thực tế (M) Trong một số trường hợp, các ngân hàng có thể phải sử dụng một giá trị giám sát thay cho các ước tính nội bộ cho một hoặc nhiều bộ phận của rủi ro

Tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ cho rủi ro tín dụng (IRB) là một trong những yếu tố đổi mới nhất của khung Basel II mới bởi vì nó cho phép chính các ngân hàng quyết định các yếu tố căn bản khi tính toán các yêu cầu về vốn của họ Với cách tiếp cận IRB, vốn yêu cầu tối thiểu dựa trên phân bố xác suất thua lỗ dựa vào rủi ro mặc định trong danh mục các khoản vay hay các công cụ tài chính khác Nhận thức về đánh giá rủi ro được thiết lập trong một năm Mô hình IRB tiếp tục giả định một mức độ 99.9% độ tin cậy, (nghĩa là một lần trong một nghìn năm), các tổn thất thực tế dự kiến sẽ vượt quá ước tính của mô hình.”

Nội dung:

- Theo như cách tiếp cận này cần phải thực hiện:

+ Ước lượng các thông số rủi ro như: PD, LGD, rủi ro tiềm ẩn khi vỡ nợ (EAD), kỳ hạn (M) Đây là những đầu vào cho các hàm đánh trọng số rủi ro được thiết kế cho mỗi loại tài sản để đi đến tổng tài sản có rủi ro (RWA)

+ Các yêu cầu về vốn cho rủi ro tín dụng được đo lường bằng 8% của tổng tài sản có rủi ro (RWA) theo Basel II

- Để đo lường yêu cầu vốn tối thiểu cho tất cả các khoản rủi ro của NH, cần 3

Trang 33

yếu tố chính:

+ Các tham số rủi ro: PD, EAD, LGD, M

+ Các hàm theo trọng số rủi ro - Hàm được cung cấp bởi khung các quy tắc theo hiệp ước Basel II, được liên kết với các tham số rủi ro đối với tài sản có rủi ro

+ Yêu cầu thối thiểu - Tiêu chuẩn tối thiểu cốt lõi mà 1 ngân hàng phải đáp ứng để sử dụng phương pháp tiếp cận xếp hạng nội bộ

- Có 2 phương pháp thực hiện: phương pháp xếp hạng tín dụng cơ bản và phương pháp xếp hạng tín dụng nâng cao

+ Trong các cách tiếp cận IRB, yêu cầu vốn không còn là các trọng số rủi ro dựa trên các xếp hạng bên ngoài, mà được tính bằng cách sử dụng các công thức xuất phát từ mô hình rủi ro tín dụng nâng cao sử dụng các tham số rủi ro được bản thân ngân hàng ước tính

+ Các phương pháp IRB cơ sở và nâng cao khác nhau trước hết bởi các điều kiện của số liệu đầu vào do các ngân hàng cung cấp dựa trên những ước tính của mình cùng những số liệu do các nhà kiểm tra xác định Sự khác biệt qua bảng sau

Thời hạn (M) Các giá trị thuộc diện kiểm

tra, giám sát được ấn định bởi

Uỷ ban hoặc tuỳ theo quyết định của quốc gia, số liệu do

NH cung cấp dựa trên ước tính của mình (cho phép loại trừ một số rủi ro nhất định)

Do ngân hàng cung cấp dựa trên ước tính của mình (cho phép loại trừ một số rủi ro nhất định)

Trang 34

Bảng trên chỉ rõ rằng đối với các rủi ro công ty, rủi ro quốc gia và rủi ro giữa các ngân hàng, tất cả các ngân hàng áp dụng phương pháp IRB phải đưa ra số liệu ước tính PD Ngoài ra, các ngân hàng áp dụng phương pháp IRB nâng cao phải cung cấp số liệu ước tính của mình về LGD và EAD, trong khi các ngân hàng áp dụng phương pháp IRB cơ sở có thể tận dụng các giá trị kiểm tra có trong Basel II tuỳ theo bản chất của loại rủi ro

1.2.4.3 Hệ thống xếp hạng nội bộ

Hiệp ước Basel II có lẽ đã không đạt được sự công nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới nếu nó không đánh dấu sự ra đời của phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ IRB, với linh hồn là việc giới thiệu 03 cấu phần rủi ro: xác suất không trả được nợ (PD), tổn thất dự kiến tại thời điểm không trả được nợ (LGD) và dư nợ

dự kiến tại thời điểm không trả được nợ (EAD); và ứng dụng của các cấu phần này vào công tác quản lý rủi ro tín dụng

Do đó, một trong những điều kiện căn bản để một ngân hàng được công nhận tuân thủ Basel II theo IRB là ngân hàng phải chuẩn bị và tuân thủ các quy định hết sức khắt khe về việc xây dựng hệ thống xếp hạng nội bộ, tính toán các giá trị ước lượng rủi ro tín dụng PD, LGD, EAD dựa trên chính thực trạng hoạt động của ngân hàng, từ đó tính toán chuẩn xác khối lượng vốn tối thiểu bù đắp rủi ro cần nắm giữ

Bên cạnh đó, việc ngân hàng ứng dụng kết quả các mô hình đo lường rủi ro tín dụng từ hệ thống xếp hạng nội bộ vào phê duyệt tín dụng, quản lý rủi ro, phân bổ vốn nội bộ và quản trị doanh nghiệp cũng là một trong những yếu tố mang tính chất quyết định trong quá trình đánh giá của cơ quan quản lý và giám sát để cấp chứng nhận tuân thủ phương pháp tiếp cận IRB cho một ngân hàng (Hiệp ước Basel II, Đoạn 444)

Với quy định khắt khe về hệ thống xếp hạng nội bộ và việc ứng dụng các cấu phần IRB (PD/LGD/EAD) vừa làm đầu vào tính toán yêu cầu vốn an toàn tối thiểu, vừa phục vụ các quyết định quản lý nội bộ khác

Trang 35

1.2.5 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II

1.2.5.1 Các chỉ tiêu về chất lượng tín dụng

Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng

Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng = Số dư bình quân tín dụng 12 tháng năm nay/ Số dư bình quân tín dụng 12 tháng năm sau

“Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng

Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của NHTM càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại NHTM đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng

và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả

Tuy nhiên, tốc độ tín dụng càng cao thì đi kèm rủi ro càng lớn NHTM cần kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn, đảm bảo cân đối đủ nguồn vốn để thực hiện cấp tín dụng; chấp hành các quy định của pháp luật về tỷ lệ bảo đảm an toàn, ngoại hối, quản lý rủi ro và giới hạn cấp tín dụng đối với khách hàng; kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng và hạn chế phát sinh nợ xấu.”

để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng một cách chính xác hơn người ta thường đánh giá trên tỷ lệ nợ quá hạn có thể thu hồi được

Tỷ lệ nợ xấu

Bên cạnh chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, người ta còn dùng chỉ tiêu tỷ lện nợ xấu

để phân tích thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu

Trang 36

càng thấp thì mức độ rủi ro tín dụng càng thấp

- Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5

- Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5

- Tỷ lệ cấp tín dụng xấu là tỷ lệ giữa tổng nợ và cam kết ngoại bảng từ nhóm

3 đến nhóm 5 so với tổng nợ và các cam kết ngoại bảng từ nhóm 1 đến nhóm 5.”

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng

Tỷ lệ Dự phòng rủi ro tín dụng = Dự phòng rủi ro tín dụng/Tổng dư nợ

“Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính khi chất lượng các khoản nợ suy giảm

Chỉ số này cho biết bao nhiêu % dư nợ được trích lập dự phòng Chỉ số này càng cao cho thấy chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng đang tiêu cực và khả năng thu hồi nợ thấp Nếu chỉ số này thấp thì có thể phản ánh chất lượng cải thiện của các khoản nợ, hoặc có thể do các khoản dự phòng chưa được trích lập đủ theo quy định

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu = Vốn tự có / Tổng tài sản có rủi ro

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức đủ vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thường xuyên duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định.”

Theo Basel quy định tỷ lệ an toàn vốn tổi thiểu >= 8%

1.2.5.2 Các nội dung thực hiện quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II

Hệ thống xếp hạng nội bộ

Xếp hạng tín dụng là một trong những công cụ quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả mà các NHTM đã và đang áp dụng khi cấp tín dụng cho khách hàng Xếp hạng tín dụng cũng là căn cứ quan trọng để quản lý rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn quy định tại hiệp ước Basel II

Trang 37

“Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các NHTM cần được xây dựng để quản lý chất lượng tín dụng trong suốt quá trình từ khi thẩm định, xét duyệt, cấp tín dụng đến khâu kiểm tra, kiểm soát trong quá trình giải ngân, sau khi cấp tín dụng cũng như việc quản lý tài sản bảo đảm; chính sách dự phòng rủi ro để quản lý quá trình phân loại nợ, trích lập, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro và việc phát mại tài sản bảo đảm; việc phân cấp, ủy quyền và xác định quyền hạn, trách nhiệm của từng

bộ phận, cá nhân có liên quan trong suốt các quá trình này

Đồng thời, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cũng cần theo định hướng đảm bảo ở mức tối đa khách hàng giống nhau phải được quản lý giống nhau (từ thẩm định, xét duyệt, cấp tín dụng, hồ sơ tín dụng đến quy trình đánh giá, xếp hạng, phân loại nợ, trích lập dự phòng, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro); và giữa các NHTM cần thống nhất việc đánh giá, xếp hạng, phân loại nợ, trích dự phòng, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.”

Theo nội dung quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II, phương pháp tiếp cận xếp hạng nội bộ thì các NHTM sẽ dùng kết quả xếp hạng tín dụng khách hàng từ hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để tính toán, ước lượng xác suất vỡ nợ (Probability of Default

- PD) cho mỗi mức xếp hạng tín dụng của khách hàng, các tham số tổn thất vỡ nợ (Loss Given at Default - LGD), rủi ro vỡ nợ (Exposure at Default - EAD)

Một hệ thống xếp hạng nội bộ tin cậy phải phân biệt rõ khách hàng/khoản vay theo từng hạng, dựa trên các đặc điểm rủi ro tín dụng của khách hàng/khoản vay Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải sử dụng phương pháp xếp hạng hợp lý, đánh giá được toàn diện đối tượng khách hàng được xếp hạng

Kết quả đo lường rủi ro tín dụng theo các phương pháp tiếp cận

Để đánh giá được mức độ hiệu quả trong quá trình quản lý rủi ro tín dụng theo Basel II, các NHTM cần đạt được những kết quả đo lường rủi ro tín dụng theo các quy định theo Basel II một các chính xác Cụ thể:

- Tính toán tổng tài sản có rủi ro dựa theo Basel II (RWA)

+ Phương pháp tiếp cận chuẩn hóa

RWA (Phương pháp chuẩn hóa của Basel II) = ∑ (Tài sản có rủi ro * trọng

số rủi ro)

Trang 38

NHTM cần sử dụng các kết quả xếp hạng tín dụng khách hàng của tổ chức xếp hạng độc lập và bảng trọng số rủi ro quy định trong Basel II để tính toán ra Tổng tài sản có rủi ro của ngân hàng

+ Phương pháp xếp hạng nội bộ

RWA (Phương pháp IRB của Basel II) = 12.5 * EAD * K

EAD: Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ EAD = PD x LGD x M

K: Tỷ lệ vốn cần thiết để dự phòng những trường hợp rủi ro tín dụng không lường trước nhưng lại xảy ra

NHTM sẽ sử dụng các kết quả xếp hạng tín dụng từ hệ thống xếp hạng nội

bộ của ngân hàng để tiến hành tính toán RWA

Kết quả tính toán RWA tin cậy khi các kết quả xếp hạng tín dụng là đáng tin cậy và dữ liệu tính toán phải từ 3-5 năm

1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng

a) Các nhân tố chủ quan

“Các nhân tố chủ quan là các nhân tố xuất phát từ chính bản thân ngân hàng là những nhân tố quan trọng nhất quyết định đến mức độ quản trị rủi ro tín dụng Các nhân tố này bao gồm:

- Cơ cấu tổ chức của ngân hàng: Ngân hàng có cơ cấu tổ chức khoa học hợp lý sẽ tạo ra cách thức quản trị rủi ro đạt hiệu quả cao nhất Cơ cấu tổ chức là yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động quản trị ngân hàng Cơ cấu tổ chức của ngân hàng phải có sự phân tách chức năng phù hợp giữa chức năng kinh doanh; quản lý rủi ro (thẩm định); tác nghiệp (quản lý nợ)

- Chính sách tín dụng và quy trình cấp tín dụng của ngân hàng: Chính sách

và quy trình cho vay lỏng lẻo, định hướng tín dụng chưa đạt được tầm chiến lược, chưa triệt để nguyên tắc của thị trường là lợi nhuận và mức rủi ro có thể chấp nhận được, bị cuốn theo hội chứng kinh tế, theo phong trào, theo khẩu hiệu phát triển kinh tế, tìm mọi cách cạnh tranh, giành giật thị trường ở các ngành hàng, các nhóm khách hàng mà không hề nhận thấy rằng ngân hàng mình không có sở trường trong lĩnh vực này hoặc chưa chuẩn bị đủ tiềm lực đối với ngành hàng này Kỹ thuật cấp

Trang 39

tín dụng còn nghèo nàn, chưa hiện đại và đa dạng như việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp Công tác QTRRTD

và kiểm soát sau cho vay chưa được chú trọng, chỉ mang tính hình thức.”

- “Đội ngũ cán bộ ngân hàng: Yếu tố con người luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành bại của bất cứ một hoạt động nào trên mọi lĩnh vực Đối với hoạt động tín dụng thì yếu tố con người lại càng đóng vai trò quan trọng, nó quyết định đến chất lượng tín dụng, chất lượng dịch vụ và hình ảnh của NHTM Cán bộ tín dụng giỏi còn tư vấn cho khách hàng có phương án kinh doanh hiệu quả, đem lại lợi nhuận cho cả khách hàng và ngân hàng Một ngân hàng có đội ngũ cán

bộ, nhân viên có chất lượng tốt thì công tác quản trị rủi ro diễn ra hiệu quả hơn vì

họ nắm bắt được công việc, phân tích, đánh giá các sự vật, sự việc một cách toàn diện, vận dụng linh hoạt trước những thay đổi của môi trường Ngược lại, sẽ dẫn đến việc đưa ra các quyết định cho vay không đúng, mang lại nhiều rủi ro cho cả khách hàng và ngân hàng

- Hệ thống thông tin, báo cáo của ngân hàng chưa giúp được các nhà quản trị

có thể theo dõi, phân tích, đánh giá được những giao dịch đáng ngờ, cập nhật được tình hình nợ xấu, phân loại nợ hàng ngày, đánh giá và phân tích nguyên nhân nợ xấu để có thể phát hiện và xử lý sớm các sai phạm xảy ra, giúp cho việc quản trị tín dụng hiệu quả hơn Ngân hàng chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu về khách hàng một cách đầy đủ, chưa có các kênh kiểm tra chéo thông tin Việc phân tích tín dụng

và quyết định cho vay hầu như chỉ dựa trên các thông tin từ phía khách hàng cung cấp, các mối quan hệ cá nhân.”

- “Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Việc thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ nghiêm túc, sát sao sẽ góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng, từ đó hạn chế rủi ro tín dụng

b) Nhân tố khách quan

Nhân tố khách quan ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro tín dụng có thể kể đến là: nhân tố khách hàng, môi trường thông tin, môi trường pháp lý, môi trường

tự nhiên và kinh tế xã hội

- Nhân tố khách hàng: Hoạt động tín dụng của ngân hàng đưa ra nhằm phục

Trang 40

vụ khách hàng, bởi vậy bản thân ngân hàng không thể tự hạn chế tín dụng được mà cần có sự hợp tác từ phía khách hàng Khách hàng là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng Các nhân tố chủ yếu thuộc về khách hàng có thể ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng như:

+ Năng lực chuyên môn và uy tín của người lãnh đạo: Nếu người lãnh đạo không có uy tín và nhân cách, năng lực quản lý yếu kém, trình độ học vấn chưa cao

và không có nhiều kinh nghiệm quản lý thì dễ dẫn đến tình trạng công ty bị thua lỗ, không có khả năng trả nợ cho ngân hàng Điều này làm ảnh hưởng đến việc thu lãi

và nợ của ngân hàng, cũng như gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng.”

+ “Năng lực quản lý, tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng

+ Khách hàng cung cấp số liệu không trung thực: Thực tế hiện nay các khách hàng vay vốn có tình trạng đối phó với ngân hàng thông qua việc cung cấp các số liệu không trung thực, mặc dù các số liệu này được các cơ quan chức năng kiểm duyệt

+ Ngành nghề sản xuất kinh doanh của khách hàng: Một số ngành kinh doanh có thể ổn định trong một khoảng thời gian trong quá khứ, nhưng trong tương lai, do ảnh hưởng của các yếu tố khác như nhu cầu thị trường thay đổi, các quy định của nhà nước… doanh thu của ngành đó sẽ có xu hướng giảm đi đáng kể

+ Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ: Đa số các khách hàng khi vay vốn đều có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, khả thi Tuy nhiên vẫn có những trường hợp khách hàng làm đẹp các thông tin tài chính, thu nhập, các phương án, số liệu của công ty để cố ý chiếm dụng vốn của ngân hàng dùng vào những việc khác Nếu cán bộ ngân hàng không có đủ trình độ chuyên môn để thẩm định thì khả năng gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng

là rất cao, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.”

- “Môi trường thông tin: Do sự chính xác, minh bạch của các thông tin và độ tin cậy của các cơ quan cung cấp thông tin còn nhiều hạn chế, việc tìm kiếm thông tin còn nhiều khó khăn gây ra cản trở đối với công tác quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng

Ngày đăng: 30/12/2020, 19:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w