Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Phân tích các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của người nộp thuế trực tiếp quyết toán thuế: Trường hợp Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp” là công
Trang 1HUỲNH THỊ QUỲNH NGA
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TRỰC TIẾP QUYẾT TOÁN TRƯỜNG HỢP CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2HUỲNH THỊ QUỲNH NGA
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TRỰC TIẾP QUYẾT TOÁN TRƯỜNG HỢP CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành: Tài chính công
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ QUANG CƯỜNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Phân tích các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của người nộp thuế trực tiếp quyết toán thuế: Trường hợp Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp” là công trình của việc học tập và nghiên cứu nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện luận văn
Huỳnh Thị Quỳnh Nga
Trang 4Trong quá trình theo học chương trình cao học ngành Tài chính công của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và nghiên cứu viết luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, động viên từ phía nhà trường, cơ quan, gia đình
và bạn bè
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự đầu tư nghiêm túc của bản thân, tôi còn được sự hỗ trợ và động viên của nhiều người Nhân đây, tôi chân thành cảm ơn: Quý thầy, cô trường Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức bổ ích cho tôi; Ban Lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp đã cung cấp những tài liệu cần thiết liên quan đến luận văn; Gia đình
và bạn bè đã hỗ trợ và động viên tinh thần cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn đến Tiến sĩ Lê Quang Cường đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp của tôi;
Mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, nhưng do hạn chế về mặt thời gian cùng với việc thiếu kinh nghiệm trong nghiên cứu nên đề tài luận văn không tránh khỏi có hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Thầy Cô để luận văn được hoàn thiện hơn nữa
Xin trân trọng cảm ơn
Học viên thực hiện luận văn: Huỳnh Thị Quỳnh Nga
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1_GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT LUẬN VĂN……… 1
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI……… 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……… 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU……… 3
1.4 KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHÊN CỨU……… 3
1.4.1 Khung phân tích……… ……… 3
1.4.2 Dữ liệu nghiên cứu……… ……… 3
1.4.3 Phương pháp nghiên cứu……… ………… 4
1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU……… 5
1.6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN…… ……… 5
1.7 KẾT CẤU LUẬN VĂN……… … 5
CHƯƠNG 2_CƠ SỞ LÝ THUYẾT……….……….……… 6
2.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6
2.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân……… 6
2.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân……… 7
2.1.3 Cơ sở pháp lý về thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công đối với người nộp thuế trực tiếp quyết toán……… 8
2.1.3.1 Đối tượng nộp thuế……….……… 8
2.1.3.2 Đối tượng quyết toán thuế……… ……… 8
2.1.2.3 Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân……… 9
Trang 62.2.1 Khái niệm về sự tuân thủ thuế……… 10
2.2.2 Hành vi không tuân thủ thuế……… 11
2.2.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân……… 12
2.2.3.1 Tuân thủ về đăng ký thuế……… 12
2.2.3.2 Tuân thủ về kê khai thuế……… 12
2.3.3.3 Tuân thủ về nộp thuế……… 13
2.2.3.4 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế……… 13
2.2.4 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm……… 13
2.2.4.1 Các nghiên cứu trong nước……… 13
2.2.4.2 Các nghiên cứu nước ngoài……… 15
2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN…… 18
TÓM TẮT CHƯƠNG 2……… 22
CHƯƠNG 3_ PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ TNCN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TRỰC TIẾP QUYẾT TOÁN TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP……… 24
3.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP……… 24
3.1.1 Cơ cấu tổ chức của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp……… 24
3.1.2 Tình hình Quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp……… 25
3.1.2.1 Tình hình thu ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương tiền công năm 2015-2018:……… 25
3.1.2.2 Thực trạng tuân thủ về thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế……… 28
3.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ TNCN CỦA CÁ NHÂN TRỰC TIẾP QUYẾT TOÁN THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP……… 32
Trang 7thi hành……….… 34
3.2.1.2 Quy trình thủ tục quyết toán thuế……… 37 3.2.2 Nhóm nhân tố xuất phát từ bản thân người nộp thuế………… 38 3.2.2.1 Chi phí tuân thủ thuế……… 38 3.2.2.2 Hiểu biết về thuế……… 40 3.2.2.3 Nhận thức về sự công bằng……… 42 3.2.2.4 Cảm nhận về rủi ro tối thiểu và chấp nhận rủi ro……… 44 3.2.3 Nhóm nhân tố về hoạt động quản lý của cơ quan thuế……… 46 3.2.3.1 Thông tin của cơ quan thuế và hoạt động tuyên truyền
hỗ trợ người nộp thuế……… 46
3.2.3.2 Công tác giám sát tuân thủ thuế của cơ quan thuế…… 49 3.3 NHỮNG TỒN TẠI LÀM ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC ĐẾN HÀNH
VI TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN……… 53
3.3.1 Sự phức tạp của Luật Thuế thu nhập cá nhân, quy trình quyết toán thuế chưa được hướng dẫn phù hợp và nhất quán……… 53
3.3.1.1 Sự phức tạp của Luật Thuế thu nhập cá nhân và sự đa dạng của các văn bản hướng dẫn thi hành……… 53
3.3.1.2 Quy trình quyết toán thuế thu nhập cá nhân chưa được hướng dẫn phù hợp và nhất quán……… 55
3.3.2 Sự hiểu biết về chính sách pháp luật thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế và chi phí tuân thủ thuế……… 56
3.3.2.1 Sự hiểu biết về thuế của người nộp thuế……… 56 3.3.2.2 Chi phí tuân thủ thuế……… 56 3.3.3 Nhân lực quản lý thuế thu nhập cá nhân và dữ liệu quản lý thuế của cơ quan thuế……… 57
3.3.3.1 Thiếu nhân lực cho công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân……… ……… 57
3.3.3.2 Dữ liệu của cơ quan thuế chưa đáp ứng cho công tác quản
lý thuế thu nhập cá nhân……… 61
Trang 84.1 KẾT LUẬN……… 65 4.2 KIẾN NGHỊ……… …… 65 4.2.1 Kiến nghị hệ thống chính sách pháp luật thuế và quy trình kê khai thuế thu nhập cá nhân……… 65
4.2.1.1 Kiến nghị về những quy định chính sách pháp luật thuế 65 4.2.1.2 Hoàn thiện quy trình quyết toán thuế thu nhập cá nhân
và tuyên truyền hiệu quả, nhất quán đến người nộp thuế……… 66
4.2.2 Nâng cao sự hiểu biết về thuế của người nộp thuế và giảm chi phí tuân thủ thuế……… 67
4.2.2.1 Nâng cao sự hiểu biết của người nộp thuế……… 67 4.2.2.2 Giảm chi phí tuân thủ thuế……… 68 4.3.1 Nhân lực quản lý thuế thu nhập cá nhân và dữ liệu quản lý thuế của cơ quan thuế……… 68
4.3.1.1 Nhân lực cho công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân… 68 4.3.1.2 Phối hợp các cơ quan liên quan chuẩn hóa thông tin quản
lý thuế……… 69 4.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 70
TÓM TẮT CHƯƠNG 4……… 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA
PHỤ LỤC 3: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT
PHỤ LỤC 4: BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHẢO SÁT
Trang 10Bảng 2.1 Biểu thuế lũy tiến từng phần……… 9 Bảng 3.1 Kết quả thu NSNN của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp từ 2015 đến 2018 26 Bảng 3.2 Tình hình thu ngân sách nhà nước về thuế TNCN và số thu thuế TNCN từ tiền lương tiền công năm 2015-2018 27 Bảng 3.3 Số lượng NNT là cá nhân trực tiếp quyết toán năm 2015-2018 28 Bảng 3.4 Tình hình tuân thủ kê khai thuế TNCN quyết toán năm 2015-2018 29 Bảng 3.5 Tình hình tuân thủ nộp thuế TNCN quyết toán năm 2015-2018 30 Bảng 3.6 Kết quả thống kê mô tả về độ tuổi của NNT tham gia khảo sát 33 Bảng 3.7 : Kết quả thống kê mô tả về trình độ của NNT tham gia khảo sát…… 33 Bảng 3.8 : Kết quả thống kê mô tả về nghề nghiệp của NNT tham gia khảo sát 34 Bảng 3.9 Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách Thuế TNCN đến NNT từ năm 2017 đến 2019……… 47 Bảng 3.10 Nhân sự tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp năm 2019 58 Bảng 3.11 Thống kê tình hình cấp mã số thuế người phụ thuộc không thành công do bảng kê của đơn vị chi trả thu nhập gửi CQT, giảm trừ cho năm 2018 63
Trang 11Hình 3.1: Sơ đồ Cơ cấu tổ chức của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 24 Hình 3.2 Biểu đồ kết quả khảo sát về đánh giá nhân tố Luật thuế TNCN và
các văn bản hướng dẫn thi hành……….… 34 Hình 3.3 Biểu đồ kết quả khảo sát về đánh giá nhân tố quy trình thủ tục
quyết toán thuế……… 37 Hình 3.4 Biểu đồ kết quả khảo sát về đánh giá nhân tố quy trình thủ tục
quyết toán thuế……… 39 Hình 3.5 Biểu đồ kết quả khảo sát về đánh giá nhân tố hiểu biết về thuế của
NNT……… 41 Hình 3.6 Biểu đồ kết quả khảo sát về đánh giá nhân tố nhận thức về sự công
bằng về thuế của NNT……… 42 Hình 3.7 Biểu đồ kết quả khảo sát về đánh giá nhân tố cảm nhận về rủi ro
tối thiểu và chấp nhận rủi ro của NNT……… 44 Hình 3.8 Biểu đồ kết quả khảo sát về đánh giá nhóm nhân tố hoạt động của
CQT - công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT……….… 48 Hình 3.9 Biểu đồ kết quả khảo sát về đánh giá nhóm nhân tố hoạt động của
CQT - Kiểm tra phát hiện không tuân thủ và xử phạt đối với hành vi không
tuân thủ……… 49
Trang 12Nghiên cứu tập trung vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ về thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế trực tiếp quyết toán thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp Dù số thu về thuế thu nhập cá nhân đều tăng lên hàng năm Tuy nhiên, phân tích tình hình thực tế cho thấy tính tuân thủ thuế trong đăng ký, kê khai và nộp thuế của người nộp thuế trực tiếp quyết toán thuế (giai đoạn năm 2015-2018) còn rất thấp Việc tuân thủ thuế thu người nộp thuế nhập cá nhân của trực tiếp quyết toán: tuân thủ thuế trong đăng ký, kê khai và nộp thuế vẫn còn nhiều tồn tại nhiều khó khăn, bất cập
Do đó, luận văn tìm hiểu cơ sở lý thuyết về tuân thủ thuế và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế trực tiếp quyết toán thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp Từ cơ sở này, luận văn phân tích thực trạng tuân thủ thuế thu người nộp thuế nhập cá nhân của trực tiếp quyết toán từ năm 2015 đến năm 2018 Dựa trên những phân tích này, tác giả chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong thực tiễn
Từ đó, tác giả đưa ra các khuyến nghị và giải pháp phù hợp đối với người nộp thuế
và cơ quan thuế quản lý, góp phần nâng cao sự tuân thủ thuế thu nhập cá nhân, hiệu quả của công tác quản lý và thu thuế thu nhập cá nhân tại địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Từ khóa: tuân thủ thuế, thuế thu nhập cá nhân
Trang 13tax compliance of direct taxpayers with tax finalization at Dong Thap Tax Department Although personal income tax revenue at Dong Thap Tax Department has increased every year Nevertheless, the factual situation indicates the status of tax compliance in the registration, declaration and payment of tax by direct taxpayers with tax finalization (period: 2015-2018) is still very low Consequently, the thesis establishes a theoretical basis and analyzes the status of tax compliance and the factors affecting personal income tax compliance of direct taxpayers with tax finalization Furthermore, based on the problems that still exist, many solutions are proposed to improve the compliance of individual income tax and enhance the efficiency of tax administration in Dong Thap
Keywords: personal income, taxpayer, tax compliance, individual taxpayer
Trang 14CHƯƠNG 1_GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT LUẬN VĂN
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thuế là nguồn thu chủ yếu và bền vững của ngân sách nhà nước (NSNN) Trong
hệ thống thuế của nhiều quốc gia, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một trong những sắc thuế quan trọng, đóng góp lớn vào tổng thu NSNN Thuế TNCN đánh trên các khoản thu nhập của cá nhân, được xem là một công cụ kinh tế vĩ mô hiệu quả để Nhà nước (NN) sử dụng nhằm điều tiết, quản lý thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm của người dân Qua đó, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã hội
Ở Việt Nam, Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 được Quốc hội thông qua
ngày 21/11/2007, chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Từ đó, số thu
từ thuế TNCN tăng dần qua các năm Riêng tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp (CTĐT), nếu như năm 2009, tổng số thu NSNN từ thuế TNCN chỉ chiếm 1,5% thì đến năm
2018 tăng lên 3,98% (274.136 triệu đồng) Tuy nhiên, do tính chất tạm khấu trừ, tạm nộp theo kỳ tính thuế hàng tháng hoặc quý, sau đó thực hiện quyết toán theo năm nên trường hợp cá nhân có nhiều nguồn thu nhập, phát sinh thêm số thuế phải nộp thì phải thực hiện quyết toán trực tiếp với cơ quan thuế (CQT), không ủy quyền qua tổ chức chi trả Mặt khác, theo quy định hiện nay, nếu không phát sinh nghĩa vụ thuế TNCN, người nộp thuế (NNT) không phải thực hiện quyết toán Việc quản lý cư trú của cá nhân hiện nay theo luật cư trú còn quá lỏng lẻo, nhiều trường hợp cá nhân đăng ký địa chỉ thường trú, cư trú chưa quản lý chặt chẽ dẫn đến khi cần thực hiện các biện pháp chế tài để buộc cá nhân quyết toán thuế (QTT) TNCN không đạt hiệu quả Do
đó, ý thức tuân thủ chính sách, pháp luật về thuế của cá nhân NNT đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ, kịp thời Luật thuế TNCN Thực tế công tác quản lý thời gian qua tại CTĐT cho thấy, trường hợp cá nhân chủ động tự quyết toán với CQT đạt tỉ lệ thấp Tính đến năm 2017, CTĐT đã cấp và quản lý hơn 46.000 mã số thuế của cá nhân làm công ăn lương Cũng trong năm 2017,
số cá nhân phải kê khai trực tiếp với CQT là 651 trường hợp Tuy nhiên, chỉ có 277
cá nhân thực hiện quyết toán (bao gồm cả trường hợp chủ động quyết toán và quyết
Trang 15toán theo yêu cầu của CQT) Nếu như năm 2016, CQT thực hiện đôn đốc và thu bổ sung NSNN hơn 100 triệu đồng thì đến năm 2017 đã tăng lên hơn 400 triệu đồng Theo cơ chế tự khai, tự nộp, các tổ chức, cá nhân tự lập tờ khai trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh, thu nhập của mình và các chính sách, pháp luật về thuế mà không
có sự xác nhận của CQT NNT phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả của việc tính toán và kê khai thuế, CQT không can thiệp vào quá trình kê khai, nộp thuế của tổ chức, cá nhân kinh doanh Đây được xem là một cơ chế ưu việt trong quản lý thuế Tuy nhiên, như đã phân tích, ý thức tuân thủ thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hiện nay chưa cao, nhiều cá nhân lợi dụng chính sách thông thoáng của Luật thuế TNCN để chiếm dụng tiền thuế, cố tình không kê khai hoặc kê khai sai, trốn thuế, gây thất thu lớn cho NSNN
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn đó, đề tài “Phân tích các nhân tố tác động
đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của người nộp thuế trực tiếp quyết toán thuế: Trường hợp Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp” là hết sức cần thiết Trên cơ sở phân tích
thực trạng công tác quản lý thuế TNCN tại CTĐT, đề tài phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ pháp luật thuế TNCN của NNT, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao ý thức tuân thủ chính sách, pháp luật về thuế của NNT Đồng thời, đề xuất các biện pháp quản lý thuế TNCN hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu NSNN được giao
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của luận văn là xác định các nhân tố tác động và phân tích mức
độ tác động của nó đến hành vi tuân thủ thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của NNT
là cá nhân thuộc trường hợp trực tiếp QTT ở CTĐT
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung nêu trên, luận văn có các mục tiêu cụ thể như sau:
- Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN ở CTĐT, đánh giá những thuận lợi, khó khăn
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT
Trang 16trực tiếp QTT ở CTĐT
- Đề xuất giải pháp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thuế TNCN của NNT trực tiếp QTT ở CTĐT
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Cụ thể hóa những mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn có các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT có thu nhập chịu thuế trực tiếp QTT ở CTĐT?
- Giải pháp nào để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thuế TNCN của NNT?
1.4 KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHÊN CỨU
1.4.1 Khung phân tích
- Lý thuyết về hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT có thu nhập chịu thuế trực tiếp quyết toán với CQT Thông qua lược khảo các nghiên cứu có liên quan, tác giả xác định các biến giải thích hành vi tuân thủ thuế TNCN để lựa chọn kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã được kiểm chứng nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT trực tiếp QTT ở CTĐT
- Lý thuyết về hiệu quả quản lý thuế TNCN làm nền tảng phân tích, đánh giá các nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN đối với NNT trực tiếp quết toán
1.4.2 Dữ liệu nghiên cứu
- Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các báo cáo về thuế TNCN (giai đoạn 2015
- 2018) của CTĐT Đồng thời, khai thác số liệu từ hệ thống quản lý thuế tập trung TMS của ngành thuế Ngoài ra, tác giả thu nhập số liệu từ các văn bản về thuế TNCN
và các tài liệu liên quan trên các báo, tạp chí thuế, giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo về thuế và thuế TNCN,
- Dữ liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua phát phiếu khảo sát các cá nhân trực tiếp quết toán với CQT và phỏng vấn chuyên sâu, thảo luận trực tiếp với các cán bộ
Trang 17thuế có kinh nghiệm trực tiếp làm việc tại bộ phận quản lý thuế TNCN và bộ phận hướng dẫn chính sách thuế TNCN Ngoài ra, đề tài sử dụng phương pháp tham khảo
ý kiến chuyên gia là những nhà khoa học, lãnh đạo tại các phòng thuộc Cục Thuế,
để thu thập dữ liệu sơ cấp
1.4.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp có liên quan đến việc thu thập
số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán các đặc trưng khác nhau để phán ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu Phương pháp này sử dụng nhằm phân tích thông tin
về đối tượng được phỏng vấn, tính tần số, trị số trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất,
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Thông qua nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để đánh giá thực trạng công tác quản
lý thuế TNCN của cá nhân có thu nhập chịu thuế ở CTĐT
- Phương pháp so sánh định tính và bằng phương pháp phỏng vấn qua bảng câu hỏi: Trên cơ sở các số liệu đã phân tích, thực hiện so sánh, đánh giá và đưa ra các nhận xét
1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Về không gian: NNT TNCN tại tỉnh Đồng Tháp do CTĐT quản lý
- Về thời gian: Dữ liệu sơ cấp của luận văn trong năm 2019 được thu thập từ phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan Thời gian thu thập dữ liệu trong khoảng từ tháng 3/2019 - 5/2019 Số liệu thứ cấp sử dụng trong luận văn từ năm 2015 đến năm 2018
1.6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Rút ra được những bài học kinh nghiệm trong quá trình quản lý thuế TNCN
- Đánh giá thực trạng tuân thủ thuế của NNT và nguồn thu NSNN từ thuế TNCN đối với trường hợp cá nhân tự QTT trong giai đoạn 2015 - 2018 Qua đó, chỉ ra những khía cạnh mà quy trình quản lý và chính sách thuế TNCN cần thay đổi trong thời gian tới
Trang 18- Đề xuất các giải pháp khả thi giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến quản lý thuế TNCN như những quy định của pháp luật về thuế TNCN, công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN, gia tăng sự hiểu biết của NNT,
- Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cán bộ thuế quản lý thuế TNCN ở tỉnh Đồng Tháp nói riêng và cán bộ quản lý thuế TNCN của các địa phương khác nói chung
1.7 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Cấu trúc của luận văn gồm 4 chương với những nội dung chính sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quát luận văn Chương này giới thiệu vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi về không gian, thời gian và đối tượng nghiên cứu,…
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này nêu lên các khái niệm, vai trò của thuế TNCN, lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để xây dựng khung lý thuyết
về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN,
Chương 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT trực tiếp quết toán tại CTĐT Chương này giới thiệu các đặc điểm kinh tế -
xã hội của địa phương tác động đến hành vi tuân thủ thuế; thực trạng công tác quản
lý thuế TNCN; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT trực tiếp quết toán tại CTĐT và đề xuất các giải pháp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thuế TNCN của NNT
Chương 4: Kết luận và kiến nghị Chương này rút ra kết luận trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận văn và đề xuất kiến nghị với các bên hữu quan nhằm đảm
bảo cho việc thực hiện các giải pháp một cách hiệu quả
Trang 19CHƯƠNG 2_CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Thuế TNCN ra đời đầu tiên ở Hà Lan năm 1797, sau đó nhanh chóng áp dụng tại các nước công nghiệp như ở Anh năm 1799 với ý nghĩa như một hình thức tạm thu nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức
áp dụng vào năm 1942 Sau đó nhiều nước khác cũng áp dụng thuế này như: Nhật Bản (1887), Mỹ (1913), Pháp (1914), Thái Lan (1939), Philippines (1915), Hàn Quốc (1948), Indonesia (1949), Trung Quốc (1984), Đến nay, thuế TNCN đã được áp dụng và trở thành một sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế tại nhiều quốc trên thế giới
Ở Việt Nam, thuế TNCN được ban hành lần đầu ngày 27/12/1990 dưới hình thức Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/1991, nhằm động viên những cá nhân có thu nhập cao đóng góp của cho NSNN Để phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và thực kiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, ngày 27/11/2007 Quốc hội ban hành Luật thuế TNCN thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Luật thuế TNCN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009
2.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 2.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định Thuế TNCN có các đặc điểm sau:
- Thuế TNCN là loại thuế trực thể hiện ở sự đồng nhất giữa NNT và người chịu thuế Do đó, thuế TNCN luôn tạo cảm giác gánh nặng về thuế đối với người chịu thuế Người chịu thuế khó có thể chuyển gánh nặng về thuế cho người khác Đây là loại thuế liên quan trực tiếp đến lợi ích của người chịu thuế, do đó rất nhạy cảm và
dễ bị phản ứng
- Thuế TNCN đánh thuế theo nguyên tắc có xem xét đến khả năng trả thuế hay hoàn cảnh cá nhân của NNT bằng việc quy định một số khoản được giảm trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế
Trang 20- Thuế TNCN thường mang tính chất lũy tiến cao, thuế suất được thiết kế theo biểu lũy tiến từng phần nhằm đảo bảo tính công bằng giữa các cá nhân phải nộp thuế
- Thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ bởi thuế TNCN không phải là yếu tố cấu thành trong giá bán hàng hóa, dịch vụ
2.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
- Thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội
Không một loại thuế nào khấu trừ gia cảnh của người nộp thuế như thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân dựa trên thu nhập và gia cảnh của mỗi cá nhân
cụ thể, nên nó không chung chung như các loại thuế tiêu dùng hay thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào thu nhập của thực thể pháp lý phi con người Hai cá nhân có cùng một mức thu nhập chịu thuế, nhưng thu nhập tính thuế có thể khác nhau và nghĩa vụ thuế của từng cá nhân được xác định cụ thể tùy theo gia cảnh của cá nhân
đó, nên mức thuế phản ánh được công bằng xã hội
- Thuế TNCN là công cụ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu ổn định cho NSNN
Thuế TNCN có phạm vi điều chỉnh rộng, nên khả năng tạo được nguồn tài chính cho Nhà nước là rất lớn Mặc khác, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, do yêu cầu tự do hóa thương mại phải thực hiện giảm dần các loại thuế xuất nhập khẩu, dẫn đến cơ cấu thu NSNN cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích luỹ trong nước được tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN Hội nhập kinh
tế quốc tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của cá nhân ngày càng tăng thu nhập, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì thuế TNCN sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho NSNN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Thuế TNCN là công cụ được NN sử dụng nhằm điều tiết thu nhập, tiêu dùng
và tiết kiệm
Mặc dù thuế thu nhập cá nhân chưa mang lại số thu lớn cho ngân sách Nhà
Trang 21nước, song xét trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý
vĩ mô của Nhà nước thì thuế thu nhập cá nhân có vị trí cực kỳ quan trọng Thông qua thuế suất thuế TNCN và các quy định về miễn, giảm thuế có thể khuyến khích tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư… Thuế TNCN tác động trực tiếp lên thu nhập của cá nhân, nếu thuế suất cao sẽ làm giảm thu nhập thực tế từ đó giảm tiêu dùng, đầu tư và ngược lại việc áp dụng chính sách thuế TNCN phù hợp sẽ khuyến khích tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư Bên cạnh đó, thực thi thuế TNCN còn góp phần đảm bảo công bằng, hợp lý
và hiệu quả của hệ thống chính sách pháp luật thuế; hạn chế sự gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư; đồng thời NN sẽ giám sát được thông tin về thu nhập của cá nhân Thông qua đó, bên cạnh việc thực hiện động viên nguồn lực còn góp phần phòng chống tham nhũng và lãng phí
2.1.3 Cơ sở pháp lý về thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công đối với người nộp thuế trực tiếp quyết toán
2.1.3.1 Đối tượng nộp thuế
Theo điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân (2007), đối tượng nộp thuế TNCN là
cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam Cá nhân cư trú là là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: Có mặt tại Việt Nam
từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục
kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn
2.1.3.2 Đối tượng quyết toán thuế
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 21 Thông tư 92/2015/TT-BTC ngày 16/5/2015 của Bộ Tài chính (BTC) và do đề tài xem xét ở phạm vi thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của cá nhân trực tiếp quết toán, nên ở đây tác giả xác định đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh thu nhập chịu thuế trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, thuộc trường hợp không được ủy quyền qua tổ chức chi trả do:
Trang 22- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ
03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các đơn vị chi trả đã khấu trừ thuế 10% tuy nhiên thu nhập bình quân tháng trong năm của thu nhập vãng lai quá 10 triệu đồng, có phát sinh nghĩa vụ phải nộp thuế TNCN hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp
- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ
03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai chưa khấu trừ, có phát sinh nghĩa vụ phải nộp thuế TNCN hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp
2.1.2.3 Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân
Căn cứ tính thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là: Thu nhập tính thuế, thuế suất và được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần:
Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất
Trong đó:
Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế - Các khoản giảm trừ
Thuế suất áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công theo biểu thuế lũy tiến từng phần như bảng sau:
Bảng 2.1 Biểu thuế lũy tiến từng phần
Bậc thuế thuế/năm (triệu đồng) Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng) Phần thu nhập tính Thuế suất (%)
Trang 23Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công: được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao, các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà NNT nhận được trong kỳ tính thuế
Các khoản được giảm trừ: có 2 khoản giảm trừ là GTGC và giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học (GTGC đối với bản thân là 9 triệu đồng/tháng và đối với mỗi người phụ thuộc (NPT) là 3,6 triệu đồng/tháng)
2.2 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH
VI TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
2.2.1 Khái niệm về sự tuân thủ thuế
Tuân thủ thuế đề cập đến sự sẵn lòng của NNT tuân theo pháp luật thuế bằng cách thực hiện các nghĩa vụ thuế (Peter và Dijke, 2007) Theo Alm (1991), phạm vi tuân thủ thuế bao gồm: báo cáo thu nhập và thanh toán các nghĩa vụ thuế theo quy định của luật pháp và các quyết định của tòa án tuân thủ thuế có nghĩa là kê khai đúng thu nhập tính thuế, làm đúng nghĩa vụ pháp lý (sự chính xác), kê khai thu nhập đúng hạn, và thanh toán số tiền khi tới hạn (tính chất kịp thời) (Franzoni, 1999)
Ủy ban các vấn đề về thuế, OECD (09/2004) định nghĩa: “Tuân thủ thuế là khung khổ mà NNT phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình”; “Nghĩa vụ cụ thể của NNT có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các CQT khác nhau, nhưng
có bốn loại nghĩa vụ mà NTT chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào Bốn
loại nghĩa vụ của NNT là: Đăng ký thuế; Nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn; Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp
với việc lưu giữ sổ sách) và nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn”
Tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009): sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (DN)
là hành vi chấpihành nghĩaivụ thuế theo đúngimụciđích của luật mộticách đầyiđủ, tự nguyện và đúng thờiigian
Nguyễn Thị Thanh Hoài và các thành viên (2011): Tuân thủ là việc chấpihành nghĩaivụ của NNT theoiđúng luậtiđịnh, baoigồm các hoạtiđộng đăngiký, kêikhai, báo cáo, nộpithuế Bất kỳ sự viiphạm nào xuấtihiện ở mộtitrong cácikhâuitrên đều dẫn đến sựikhông tuânithủ ở các mứciđộ khácinhau
Trang 24Như vậy, theo các định nghĩa trên, có thể hiểu sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT về cơ bản là thể hiện ở việc NNT hiểu biết về thuế, chấp hành đầyiđủ, kịpithời các quyiđịnh của phápiluật vềithuế, cụ thểilà việc chấpihành các tiêuichí thờiigian, mức độ chínhixác trungithực và đầyiđủ của các hoạtiđộng đăngikýithuế, khai thuế, nộpithuế và cácinghĩaivụikhác vềithuế củaiNNT Khi tuân thủ pháp luật thuế của NNT được nâng cao, rõ ràng, chính sách pháp luật thuế đã được ban hành và thực thi có hiệu quả, đạt được các mục tiêu mong muốn Suy cho cùng, tính đúng đắn hay tiên tiến của chính sách thuế, tính hiệu quả của công tác quản lý thuế thể hiện rất rõ
ở thực trạng chấp hành pháp luật thuế và của NNT
Theo tác giả thì sự tuân thủ thuế là việc NNT chấpihành đầyiđủ nghĩa vụ về thuế theo luật định, bao gồm các hoạtiđộng: đăngiký, kêikhai, báoicáo và nộpithuế Phân loại theo nội dung tuân thủ thì tuân thủ thuế bao gồm: tuânithủ trong đăngikýithuế, tuân thủ trong việc nộp hồisơ khaiithuế, tuânithủ trong việc báoicáo các thôngitin đầyiđủ và chính xác, tuânithủ trongiviệc nộpithuế
2.2.2 Hành vi không tuân thủ thuế
Hành vi không tuân thủ thuế của NNT được hiểu là việc NNT không thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung: thực hiện đăng ký thuế, nộp tờ khai thuế đúng hạn; kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế; và nộp nghĩa vụ thuế kịp thời Tuy nhiên, tùy thuộc vào đánh giá nhiều yếu tố chủ quan, khách quan chẳng hạn: sự hiểu biết về thuế của NNT, quy trình thủ tục kê khai thuế, mà mức độ không tuân thủ của NNT được xác định khác nhau
Khi phân tích hành vi không tuân thủ thuế cần phải xem xét sự không tuân thủ không dự tính và sự không tuân thủ có dự tính
Hành vi không tuân thủ không dự tính: Nhiều NNT sẵn lòng hợp tác tuân thủ toàn diện nhưng lại không thực hiện được vì họ không biết cách hoàn thành các tờ khai thuế chính xác hoặc không hiểu hết phạm vi nghĩa vụ thuế của họ hoặc họ hiểu sai luật Những nỗ lực nhiều hơn của CQT trong việc hỗ trợ NNT trong các trường hợp như vậy, chẳng hạn như việc cải thiện số lượng và chất lượng thông tin tuyên truyền hoặc giúp họ không rơi vào tình trạng không tuân thủ không dự tính, có thể sẽ
Trang 25thu được kết quả nhiều hơn là việc tăng cường các hoạt động cưỡng chế
Hành vi không tuân thủ thuế có dự tính bao gồm tránh thuế (avoidance) và trốn thuế (evasion): Những hành vi này bao gồm việc tạo ra các giao dịch giả tạo để trốn thuế, tìm kiếm mọi kẽ hở hợp pháp để giảm thuế, dùng những thủ đoạn và chống chế
ở mọi lúc để trì hoãn và để giảm số tiền thuế phải nộp
Theo tác giả thì hành vi không tuân thủ thuế là việc NNT có các hành vi sau đây: nộp chậm hoặc không nộp hồ sơ khai thuế với CQT, kê khai không chính xác thu nhập chịu thuế, kê khai khống các khoản giảm trừ, không nộp thuế đầy đủ và đúng hạn
2.2.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân
Tại Điều 7 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/12/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, các nghĩa vụ liên quan đến NNT TNCN được quy định như: “Đăng ký thuế, sử dụng
mã số thuế theo quy định của pháp luật”; “Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế”; “Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm”; “Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật”,
2.2.3.1 Tuân thủ về đăng ký thuế
NNT sau khi được cung cấp mã số thuế cá nhân từ thời điểm đăng ký thuế lần đầu, xác nhận thông tin của NNT Thực hiện kê khai thuế, QTT theo quy định tại điều 22 và điều 27 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 Cụ thể: NNT là cá nhân phải đăng ký thuế trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế TNCN hoặc phát sinh yêu cầu được hoàn thuế; Tổ chức chi trả thu nhập có trách nhiệm đăng ký thuế cho cá nhân trong thời hạn 10 ngày làm việc
kể từ khi phát sinh trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp thuế thay;
2.2.3.2 Tuân thủ về kê khai thuế
NNT có trách nhiệm phải kê khai đầy đủ, chính xác và trung thực các chỉ tiêu trên tờ khai và gửi tờ khai đúng hạn Việc kê khai thuế được thực hiện theo quy định
Trang 26tại điều 30, 32 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006
2.3.3.3 Tuân thủ về nộp thuế
NNT nộp đầy đủ, đúng hạn số thuế đã kê khai bằng cách nộp tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước hoặc thông qua ngân hàng thương mại Tuân thủ về nộp thuế theo quy định tại điều 42 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006
2.2.3.4 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
NNT vi phạm các quy định về Luật Quản lý thuế, Luật thuế sẽ bị xử lý vi phạm pháp luật về thuế quy định từ điều 103 đến điều 110 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, một số nội dung quy định như sau:
- Hành vi vi phạm pháp luật về thuế của NNT gồm: “Vi phạm các thủ tục thuế, chậm nộp tiền thuế, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, trốn thuế, gian lận thuế”
- Nguyên tắc và thủ tục xử phạt vi phạm pháp luật về thuế: “Mọi hành vi vi phạm pháp luật về thuế được phát hiện phải được xử lý kịp thời, công minh, triệt để Mọi hậu quả do vi phạm pháp luật về thuế gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật” “Cá nhân chỉ bị xử phạt hành chính thuế khi có hành vi vi phạm pháp luật về thuế Việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế phải do người có thẩm quyền thực hiện”
- Xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế: “người nộp thuế có một trong các hành vi trốn thuế, gian lận thuế sau đây thì phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định
và bị phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn: Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp
hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp
hồ sơ khai thuế theo quy định” của Luật Quản lý thuế; “Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn”
2.2.4 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm
2.2.4.1 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay, tại Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến hành vi tuân thủ thuế Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào nghiên cứu tính tuân thủ thuế của NNT thu nhập DN, nghiên cứu đối với hành vi tuân thủ thuế TNCN
Trang 27của NNT còn hạn chế, do thuế TNCN ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng thu NSNN
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoàng (2013) thực hiện với đề tài: “Hoàn thiện
quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” Nghiên cứu quá trình
phát triển của hệ thống thuế tại Việt Nam dựa trên việc vận dụng cơ sở lý thuyết thuế
cổ điển và hiện đại và kết hợp với khảo sát đánh giá về ảnh hưởng của chính sách, thái độ chấp hành pháp luật của NNT, CQT, những tồn tại của hệ thống thuế tới việc tuân thủ thuế.Kết quả nghiên cứu đã đưa ra hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của NNT gồm: Nhóm nhân tố xuất phát từ chính CQT (những nhân tố chủ quan) bao gồm việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa thực hiện tốt; việc áp dụng tiêu chuẩn định lượng trong đánh giá hiệu quả công tác quản lý còn chưa được thực hiện; Các
cơ quan chức năng còn chưa phối hợp tốt; Nhóm những tồn tại trong quản lý NN đối với thuế TNCN (nhân tố khách quan) bao gồm: thiếu những quy định pháp lý trong thực hiện minh bạch thu nhập, người dân chưa được tiếp cận để quen với thuế TNCN
Nghiên cứu của Đào Mộng Long (2014) thực hiện với đề tài: “Các nhân tố ảnh
hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh”
Thông qua phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy với số lượng gồm hơn 200 mẫu, nghiên cứu đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm: đặc điểm nghề nghiệp và đặc thù thu nhập của NNT, danh tiếng nơi NNT làm việc, các yếu tố kinh tế - xã hội, hệ thống thuế và nhận thức về thuế của bản thân NNT
Nguyễn Ngọc Minh Sang (2016) đã thực hiện đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng
đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân tại Thành phố Tân An” Đề tài nghiên
cứu những nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế TNCN đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà tại thành phố Tân An, Long An Thông qua khảo sát và phân tích nghiên
cứ hồi quy 207 mẫu xác định 4 nhân tố tác động đến tính tuân thủ thuế TNCN gồm: nhận thức tính công bằng thuế, hiểu biết thu nhập tính thuế, hiểu biết chung về thuế TNCN, hiểu biết về các khoản giảm trừ
Trang 282.2.4.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới, chủ đề tuân thủ thuế đã được quan tâm, nghiên cứu Qua tiếp cận từ nhiều quan điểm khác nhau, từ nhiều lĩnh vực như: tâm lý học hành vi, kinh tế học, từ đó làm sáng tỏ nhiều khía cạnh khác nhau về hành vi tuân thủ thuế của NNT
Một trong những nghiên cứu tổng hợp khá đầy đủ các kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước đó là Nghiên cứu của Jackson và Million (1986) Tại nghiên cứu này, trong mô hình mở rộng các nhân tố ảnh hưởn đến hành vi tuân thủ thuế được tổng hợp thành 4 nhóm bao gồm: quan điểm và nhận thức của NNT; các nhân tố tác động đến cơ hội không tuân thủ; các nhân tố liên quan đến hệ thống thuế và các nhân
tố nhân khẩu học Mô hình này cung cấp cho người đọc một khuôn khổ để hiểu tác động của những nhân tố kinh tế xã hội và tâm lý học đến quyết định tuân thủ thuế của NNT (Fischer và cộng sự, 1986)
Nghiên cứu của Alan H Plumley, phòng nghiên cứu Sở thuế vụ Hoa Kỳ (1996), “The Derterminants of Individual Income Tax Compliance” một nghiên cứu phân tích kinh tế lượng về tác động của một loạt các các yếu tố quyết định tiềm năng của việc tuân thủ tự nguyện với việc nộp và nghĩa vụ báo cáo thuế TNCN Nghiên cứu kéo dài 8 năm để tổng hợp dữ liệu từ các tiểu bang trong 10 năm, từ năm 1982 đến năm 1991, bao gồm dữ liệu về hành vi của NNT, hoạt động của sở thuế vụ và các yếu tố khác Dựa trên kết quả mô hình kinh tế lượng với việc công nhận ba loại tuân thủ tự nguyện gồm: tuân thủ nộp đơn (kịp thời nộp bất kỳ yêu cầu nào của CQT), tuân thủ báo cáo (báo cáo chính xác thu nhập và đúng trách nhiệm theo luật) và tuân thủ thanh toán (thanh toán kịp thời tất cả các nghĩa vu thuế) Xem xét đối với tuân thủ nộp đơn và tuân thủ báo cáo Kết quả nghiên cứu xác định các nhân tố có ảnh hưởng đến tuân thủ thuế TNCN là: chính sách thuế, gánh nặng về thời gian hoàn thành biểu mẫu về thuế và cơ hội khác để hoàn thành mẫu biểu, hoạt động cưỡng chế của CQT, phản hồi của CQT, nhân khẩu học và kinh tế,
Bài viết của Mukhtar M Ali, H Wayne Cecil anh James A Knoblett
(2001):“The Effects of Tax Rates and Enforcement Policies on Taxpayer
Trang 29Compliance: A study of SelfEmployed Taxpayers”, qua việc phân tích thực nghiệm
dữ liệu các hình thức kiểm toán và hình thức xử phạt trích từ báo cáo thường niên của CQT liên bang Sở Thuế Vụ (IRS) và sổ sách dữ liệu kế toán từ năm 1980 đến năm
1995, đã cho thấy hiệu quả của tốc độ kiểm toán, mức thuế suất, và tỷ lệ phạt khi không tuân thủ trong việc ngăn chặn việc không tuân thủ đóng thuế
Đề tài nghiên cứu “Kinh tế và hành vi quyết định đến việc tuân thủ thuế” của Christina M Ritsema (2003), thông qua phương pháp phân tích hồi quy, đề tài đã chứng minh được mối quan hệ giữa tuân thủ thuế với 3 nhóm nhân tố chủ yếu: Nhóm nhân tố liên quan đến thuế, Nhóm nhân tố về xã hội, Nhóm nhân tố về hành vi
Đề tài nghiên cứu “Quản lý rủi ro tuân thủ - Quản lý và nâng cao tuân thủ
thuế”, Ủy ban các vấn đề về thuế, OECD (2004), khi phân tích về hành vi tuân thủ
thuế đã xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên phương pháp tiếp cận tìm hiểu DN và bối cảnh hoạt động của các DN để phân tích động cơ hành vi của NNT đối với tuân thủ thuế Theo nghiên cứu này, về cơ bản, nguyên tắc quản lý tuân thủ được thể hiện trên hai phương diện chủ yếu dựa vào tính chất và mức độ tuân thủ thuế của NNT:
- CQT sẽ tạo điều kiện thuận lợi tối đa để NNT tuân thủ thông qua các cơ chế
hỗ trợ và ưu đãi khác nhau đối với trường hợp NNT sẵn sàng tuân thủ
- Nếu NNT không tuân thủ thì CQT sẽ áp dụng các cơ chế kiểm soát chặt chẽ
và các chế tài khác nhau để buộc NNT phải tuân thủ
Hình 2.1: Sơ đồ mô hình các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế
Đặc điểm của NNT Mức tuân thủ Ứng xử của CQT
Trang 30(Nguồn: Ủy ban các vấn đề về thuế OECD (2004) “Quản lý rủi ro tuân thủ - Quản
lý và nâng cao tuân thủ thuế”)
Hình 2.1: Sơ đồ mô hình các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế thể hiện 4 mức độ thể hiện thái độ tuân thủ thuế của NNT và tương ứng với nó là 4 nguyên tắc xử lý của CQT
Ernc Loo và Jatta (2009) đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Understanding the
compliance behaviour of Malaysian individual taxpayers using a mixed method approach” Đề tài trình bày những phát hiện từ phương pháp nghiên cứu hỗn hợp đã
được tiến hành để điều tra tác động của sự ra đời việc tự đánh giá về hành vi tuân thủ của NNT cá nhân tại Malaysia, dự kiến sẽ cung cấp cho Hội đồng quản trị Doanh thu nội địa Malaysia với một sự hiểu biết sâu sắc hơn về các hành vi tuân thủ của NNT
và xác định chiến lược có thể có hiệu quả trong việc cải thiện mức độ tuân thủ tự nguyện Nghiên cứu này sẽ có liên quan đến các nước khác, đặc biệt là khi sự ra đời của việc tự đánh giá hành vi tuân thủ của NNT được xem xét Phát hiện này cho thấy rằng sự ra đời của việc tự đánh giá có ảnh hưởng tích cực đối với hành vi tuân thủ Đặc biệt, tiếp thu những hiểu biết về thuế có ảnh hưởng đáng kể hành vi tuân thủ NNT đã được tìm thấy là nhạy cảm với kiểm toán thuế và tiền phạt Trong khi đó, khó khăn tài chính đã được tìm thấy có một ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ hơn trên hành vi tuân thủ của NNT tự làm chủ, thái độ đối với nộp thuế dường như chỉ ảnh hưởng đến tiền lương và thu nhập từ tiền lương của đối tượng nộp thuế
Bayu Agatyan (2013) thực hiện nghiên cứu: “Examination factors Affected
The Personal Income Compliance in Aceh province, Indonesia” Mục đích của
nghiên cứu này là thiết lập một phương pháp có thể tiếp cận được để đánh giá mức
độ tuân thủ thuế ở tỉnh Aceh, Indonesia; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế TNCN; tìm ra những cách ảnh hưởng lẫn nhau để tăng hồ sơ thuế gửi lại từ đối tượng nộp thuế trong tỉnh Aceh và cuối cùng là gia tăng lượng thanh toán từ đối tượng nộp thuế Và cuối cùng là xây dựng hệ thống thông tin về thuế tốt nhất cho phù hợp với tình hình khác biệt tại tỉnh Aceh, Indonesia Cuộc nghiên cứu tìm kiếm cách giải quyết những câu dưới đây: CQT phải nên làm thế nào kiểm tra sự tuân thủ thuế
Trang 31TNCN ở Aceh? CQT nên làm thế nào xác định được quyết định yếu tố ảnh hưởng sự tuân thủ thuế cá nhân ở Aceh? Những yếu tố chi phối nào ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế cá nhân ở Aceh? Những giải pháp nào để tang cường sự tuân thủ thuế ở Aceh? Kết quả cho thấy, một số yếu tố đã được xem là quan trọng để giải thích sự tuân thủ thuế: mức thu nhập thực tế, thuế suất, thuế, thanh tra thuế, xác suất kiểm toán, tiền phạt và hình phạt
2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN
Các nghiên cứu nước ngoài về sự tuân thủ thuế đa phần sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến để phân tích và chứng minh được mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế
Dựa trên kết quả của các nghiên cứu trước đó về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế Thông qua phỏng vấn chuyên gia là cán bộ trực tiếp quản lý thuế TNCN, lãnh đạo phòng phụ trách quản lý thuế TNCN, lãnh đạo phòng phụ trách hướng dẫn tuyên truyền chính sách thuế cho NNT, lãnh đạo phòng thanh tra – kiểm tra thuế 1 Tác giả lựa chọn các nhân tố đã được kiểm chứng thực nghiệm, được sự đồng tình của các chuyên gia để tiến hành khảo sát NNT thông qua bảng câu hỏi thu được dựa trên ý kiến góp ý của các chuyên gia thực hiện phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT trực tiếp QTT ở CTĐT
Khái quát những nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ của NNT như sau:
2.2.5.1 Nhân tố về hệ thống chính sách pháp luật thuế
Luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành
Tổ chức OECD (2004) cho rằng pháp luật thuế ở nhiều nước còn chưa chính xác và chưa rõ ràng, và đây chính là mảnh đất màu mỡ cho các công ty tích cực lợi dụng để trốn hoặc tránh thuế Điều này đặc biệt đúng ở các nước đang phát triển với công tác quản lý và trách nhiệm giải trình yếu kém, thiếu văn hóa thuế, và chế độ thuế rất phức tạp Christina M Ritsema (2003) đưa biến sự phức tạp của hệ thống thuế vào mô hình nghiên cứu và có kết luận: sự phức tạp có liên hệ với việc tuân thủ,
sự phức tạp của hệ thống thuế sẽ ngăn cản sự tuân thủ của NNT
Trang 32Việc tuân thủ tốt thường bắt nguồn từ chính sách thuế rõ ràng Luật càng rõ và
dễ hiểu và giải thích rõ được nội dung luật sẽ là căn cứ vững chắc để xây dựng các chương trình quản lý tuân thủ Cơ quan thu thuế nội địa Hoa Kỳ (IRS, 1994) đã tuyên
bố rằng hành vi không tuân thủ vô ý chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số NNT không tuân thủ Luật phức tạp và không rõ ràng sẽ làm tăng cơ hội cho NNT có những hành
vi lợi dụng kẽ hở của luật Mặt khác, khi chính sách rõ ràng thì CQT có nhiều cách
để thực hiện quy trình quản lý công bằng Khi cộng đồng nhận thấy luật không phù hợp với thực tế thì hiển nhiên các hành vi không tuân thủ sẽ ngày càng tăng thêm Hoặc những sự thay đổi của pháp luật về thuế sẽ gây ra những sự hiểu lầm về luật hoặc vẫn thực hiện theo luật cũ
Quy trình thủ tục quyết toán thuế
Tính đơn giản, dễ hiểu, minh bạch của quy trình, thủ tục QTT như: các quy trình đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế vào NSNN với sự ổn định và mức
độ minh bạch cao sẽ làm sự phiền hà cho DN, từ đó giúp NNT nâng cao sự tuân thủ thuế
Như vậy, việc không tuân thủ thuế có thể là bắt nguồn từ sự phức tạp của hệ thống thuế Kiến thức bao gồm kiến thức giáo dục chung và kiến thức cụ thể về thuế Kiến thức chung dường như được sử dụng để thực hiện trốn thuế hơn là tuân thủ Ngược lại, kiến thức cụ thể về thuế có xu hướng dẫn họ đến việc gia tăng tính tuân thủ, bởi vì việc tìm hiểu kiến thức cụ thể về thuế cũng có nghĩa là tìm hiểu về sự cần thiết, tầm quan trọng của luật thuế trong xã hội cũng như biết cách làm thế nào để không vi phạm
2.2.5.2 Nhóm nhân tố xuất phát từ bản thân NNT
Chi phí tuân thủ
Chi phí tuân thủ thuế là những một trong những nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến tuân thủ thuế NNT phải đối diện một số chi phí để tuân thủ quy định luật thuế ngoài số tiền thuế thực sự mà họ phải nộp
Chi phí tuân thủ thuế thông qua hiệu ứng thu nhập tác động đến sự tuân thủ, nghĩa là chi phí tuân thủ tăng sẽ làm cản trở quyết định tuân thủ thuế và ngược lại
Trang 33Các chi phí này bao gồm thời gian bỏ ra để hoàn tất thủ tục thuế, chi phí giao dịch ngân hàng, chi phí thuê người kê khai và có thể bao gồm cả chi phí về mặt tâm lý (như căng thẳng thần kinh do NNT không biết họ có đáp ứng được các quy định của pháp luật thuế hay không) Các chi phí tuân thủ trên phát sinh sẽ làm chi phí thực tế
mà NNT phải bỏ ra để tuân thủ thuế cao hơn cao hơn số thuế NNT thực nộp
Christina M.Ritsema (2003): chi phí tuân thủ thuế là một trong những yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế của NNT, chi phí tuân thủ thấp sẽ dẫn đến mức độ tự nguyện tuân thủ thuế của NNT tăng lên và ngược lại Alan H Plumley (1996): gánh nặng về thời gian hoàn thành biểu mẫu về thuế và cơ hội khác để hoàn thành mẫu biểu ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của NNT
Hiểu biết về thuế
Theo Chen Loo và cộng sự (2009), những hiểu biết về thuế đặc biệt là sự hiểu biết của họ trong việc xử lý các vấn đề về thuế ảnh hưởng đến việc tự kê khai thuế của NNT, cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của họ Theo Ali và cộng
sự (2013), hiểu biết thuế tác động tích cực đến hành vi tuân thủ thuế của NNT
Sự hiểu biết chức năng thuế là khả năng NNT tự nộp tờ khai và tính toán nghĩa
vụ thuế của mình bao gồm việc tìm hiểu một số thuật ngữ thuế và có kiến thức cơ bản về thu nhập chịu thuế, các khoản giảm trừ, các khoản không chịu thuế
Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm từ nghiên cứu về thái độ, nhận thức, kiến thức về thuế và các chính sách thuế của người dân ở Mỹ và Anh, Steinmo (1998)
đã phát hiện ra rằng người dân thực sự tiếp cận thông tin sai lệch hoặc thông tin bị lẫn lộn
Trang 34chiều ngang và chiều dọc giữa những NNT) Các NNT có ấn tượng hệ thống không công bằng và những NNT đã từng bị đối xử không công bằng có thể sẽ ít tuân thủ hơn;
Theo như Harris và Associates (1988), có một nhóm NNT nhưng việc kê khai thuế của họ bị tác động chủ yếu do nhận thức về sự công bằng của hệ thống thuế; Christina M.Titsema (2003) nghiên cứu kết luận: “những người trốn thuế ở mức độ lớn phát biểu rằng việc không tuân thủ thuế của họ là do hệ thống thuế không công bằng”
Cảm nhận về rủi ro tối thiểu và chấp nhận rủi ro
Hindriks and Myles (2006) có viết, nếu NNT kê khai thu nhập thấp hơn so với thu nhập thực sự của họ (hoặc phóng đại các khoản khấu trừ), thì họ cũng có một cơ hội trốn thuế mà không bị phát hiện Điều này mang đến một lợi ích rõ ràng hơn là
kê khai một cách trung thực Nếu 1 NNT có cơ hội để không tuân thủ và NNT này nghĩ rằng chỉ có rủi ro rất thấp, không đáng kể sẽ bị phát hiện thì NNT có thể đánh đổi việc chấp nhận rủi ro này với khả năng bị phát hiện Điều này có thể dẫn đến việc
kê khai không đầy đủ một số loại thu nhập nào đó
Bao nhiêu thì đáng để trốn thuế là một quyết định mà NNT phải cân nhắc giữa lợi ích và thiệt hại, trong đó phải tính đến cả các nguy cơ bị bắt và mức độ của hình phạt Các nghiên cứu kinh tế của Fischer, Wartick và Mark (1992) đã tìm thấy rằng khi xác suất bị phát hiện gian lận gia tăng thì sẽ có tác động tích cực đối với việc tuân thủ thuế
2.2.5.3 Nhóm nhân tố về hoạt động quản lý của cơ quan thuế
Thông tin phản hồi của cơ quan thuế và hoạt động tuyên truyền hỗ trợ NNT
Tuyên truyền hỗ trợ là nhân tố tác động rất lớn đến hành vi tâm lý xã hội của NNT, nâng cao đạo đức, tinh thần thuế và kiến thức về thuế cho NNT từ đó tăng cường sự tuân thủ thuế tự nguyện và đầy đủ
Tính sẵn có, phù hợp, đơn giản và dễ tiếp cận về thông tin cũng như các dịch
vụ hỗ trợ, tư vấn về thuế sẽ giúp NNT giảm gánh nặng khi phải tìm kiếm thông tin
về quy định của pháp luật thuế cũng như tìm kiếm thông tin về quy trình tuân thủ
Trang 35Những dịch vụ nghèo nàn, khó tiếp cận thường làm cho chi phí tuân thủ thuế cao, nhất là đối với NNT là các cá nhân và đây là một trong nhữnginguyêninhân cơ bảnicủa trốn thuế
Theo Alan H Plumley (1996) thông tin phản hồi của CQT có hiệu quả sẽ có tác động tích cực đến hành vi tuân thủ thuế của NNT Hiệu quả của sự phản hồi thông tin được tính bằng thời gian CQT hồi đáp lại thông tin tiếp nhận từ NNT
Thông tin phản hồi từ CQT đối với các trường hợp NNT kê khai sai, kê khai không phù hợp, để NNT thực hiện điều chỉnh kịp thời cũng góp phần nâng cao tính tuân thủ của NNT
Công tác giám sát tuân thủ thuế của cơ quan thuế:
Mức độ ngăn chặn được dựa trên khái niệm cho rằng nguy cơ phát hiện việc gian lận và các biện pháp trừng phạt sẽ làm tăng mức độ tuân thủ thuế của DN Mục đích của việc ngăn ngừa chủ yếu là để ngăn chặn việc trốn thuế, nhưng khái niệm này cũng bao hàm ý tưởng rằng các hình phạt cũng làm giảm nạn trốn thuế trong tương lai
Mối quan hệ giữa ngăn ngừa và tuân thủ thuế cũng đã được kiểm chứng trong các nghiên cứu trong vài thập kỷ qua Các nghiên cứu kinh tế của Fischer, Wartick
và Mark (1992) đã tìm thấy rằng khi xác suất bị phát hiện gian lận gia tăng thì sẽ có tác động tích cực đối với việc tuân thủ thuế
Công tác giám sát tuân thủ của CQT bao gồm: giám sát kê khai QTT, đôn đốc nộp đúng hạn, kiểm tra phát hiện không tuân thủ và xử phạt đối với hành vi không tuân thủ
Tóm tắt Chương 2
Trong chương 2 đã thể hiện khái quát khái niệm Trong phần này đề tài cũng đề cập đến lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT, các mô hình nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan Từ đó, Chương 2 đề tài cũng đã đề xuất các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT Gồm 03 nhóm nhân tố tác động chủ yếu:
Trang 361 Các nhân tố về hệ thống chính sách pháp luật thuế: luật thuế, quy trình, thủ tục QTT
2 Các nhân tố xuất phát từ bản thân NNT: chi phí tuân thủ, hiểu biết về thuế, Nhận thức về sự công bằng, cảm nhận về rủi ro tối thiểu và chấp nhận rủi ro của NNT
3 Các nhân tố về hoạt động quản lý của CQT: Thông tin của CQT và hoạt động tuyên truyền hỗ trợ NNT, công tác giám sát tuân thủ của CQT
Trang 37CHƯƠNG 3_ PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ TNCN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TRỰC TIẾP QUYẾT
TOÁN TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP 3.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP
3.1.1 Cơ cấu tổ chức của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp
Cơ cấu tổ chức của CTĐT được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng Đứng đầu CTĐT là Cục trưởng và các Phó Cục trưởng tham mưu giúp việc cho Cục trưởng Thực hiện Quyết định số 320/QĐ-BTC ngày 28/02/2019 của BTC quy định số lượng phòng thực hiện chức năng tham mưu, quản lý thuế và Phòng Thanh tra - Kiểm tra thuộc Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Hình 3.1: Sơ đồ Cơ cấu tổ chức của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp
Chú thích:
Chỉ đạo trực tiếp cấp Cục thuế
Chỉ đạo trực tiếp cấp Chi cục thuế
Nguồn: Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp
Trang 38Hình 3.1 Sơ đồ Cơ cấu tổ chức của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp mô tả mối liên
hệ giữa các phòng chức năng và các Chi cục Thuế huyện, thị xã, thành phố trực thuộc CTĐT
Tổ chức bộ máy hành chính của ngành thuế được quy định thống nhất từ Trung ương đến địa phương trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, tùy điều kiện cụ thể của từng địa phương cũng như nhiệm vụ được giao mà mỗi cơ quan lại có quy mô và cơ cấu
tổ chức, bố trí nhân sự và phân công chức năng, nhiệm vụ khác nhau
Căn cứ vào tình hình thực tế của Đồng Tháp, Cục Thuế xây dựng mô hình tổ chức quản lý theo chức năng gồm 10 phòng thuộc và các chi cục thuế huyện thị, thành phố và chi cục thuế khu vực Tuy nhiên, việc thực hiện sáp nhập các chi cục Thuế thành chi cục thuế khu vực vẫn chưa thực hiện Hiện tại Cục Thuế có 10 phòng chức năng trực thuộc và 12 Chi cục Thuế trực thuộc đặt tại địa bàn 12 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Đồng Tháp
Tổng số CBCC toàn ngành thuế tỉnh Đồng Tháp hiện nay là 528 người, trong
đó, 474 công chức và 54 hợp đồng lao động làm công tác lái xe, bảo vệ, tạp vụ tại Văn phòng, các Phòng thuộc Cục Thuế và các Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế Trong đó biên chế tại Văn phòng Cục Thuế - CTĐT hiện nay là là 90 người (83 công chức và 07 người được cơ quan hợp đồng lao động, tạp vụ, lái xe, bảo vệ) Trong đó: trình độ cao học 9 người chiếm 10%; đại học 69 người chiếm 69.31%; Cao đẳng
và trung cấp 5 người chiếm 5.49%; hợp đồng lao động 07 người chiếm 7.69%
3.1.2 Tình hình Quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp
3.1.2.1 Tình hình thu ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương tiền công năm 2015-2018:
Tình hình thực hiện thu NSNN từ năm 2015 đến năm 2018 của CTĐT qua các năm đều đạt so với dự toán BTC giao, chi tiết:
Trang 39Bảng 3.1 Kết quả thu NSNN của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp từ 2015 đến 2018
Đơn vị tính: triệu đồng
STT Năm Dự toán Bộ Tài
chính giao Thực hiện % so với
dự toán
% so với năm trước
1 2015 2.845.000 3.669.573 128,98 121,96
2 2016 4.500.000 4.858.185 110 132,39
3 2017 6.480.000 6.675.042 103,01 137,36
4 2018 6.585.000 6.881.325 104,5 102,33
Nguồn: Phòng kê khai và kế toán thuế - CTĐT
Theo đánh giá tại báo cáo tổng kết hàng năm từ 2015-2018 tại CTĐT Tổng
số thu NSNN trên địa bàn ước thực hiện năm 2016 là 4.952.390 triệu đồng (chưa kể
số thu XSKT là 1.299.532 triệu đồng), so với dự toán UBND tỉnh giao đạt 109,99%, bằng 128,30% so với thực hiện cùng kỳ năm 2015 Tổng số thu NSNN tính cân đối ước thực hiện năm 2016 là 4.858.185 triệu đồng, so với dự toán BTC giao đạt 110%,
so với dự toán phấn đấu đạt 100,38% và bằng 132,39% so với thực hiện cùng kỳ năm
2015
Tổng số thu NSNN trên địa bàn ước thực hiện năm 2017 là 6.675.042 triệu đồng (kể cả số thu XSKT là 1.474.712 triệu đồng), so với dự toán UBND tỉnh giao đạt 102,46%, bằng 106,33% so với thực hiện cùng kỳ năm 2016 Nếu so với dự toán BTC giao đạt 103,01%, so với dự toán phấn đấu đạt 96,65% và bằng 108,14% so với thực hiện cùng kỳ năm 2016 Nếu trừ tiền sử dụng đất, XSKT số thu còn lại là 4.653.033 triệu đồng, so với dự toán BTC giao đạt 96,34% và bằng 105,66% so với thực hiện cùng kỳ năm 2016
Tổng số thu NSNN trên địa bàn ước thực hiện năm 2018 là 6.855.144 triệu đồng (kể cả số thu XSKT là 1.383.645 triệu đồng), so với dự toán UBND tỉnh giao đạt 103,47%, bằng 103,33% so với thực hiện cùng kỳ năm 2017 Nếu so với dự toán BTC giao đạt 104,10%, so với dự toán phấn đấu đạt 95,50% và bằng 102,33% so với thực hiện cùng kỳ năm 2017 Nếu trừ tiền sử dụng đất, XSKT số thu còn lại là 4.656.769 triệu đồng, so với dự toán BTC giao đạt 95,72% và bằng 101,64% so với thực hiện cùng kỳ năm 2017
Trang 40Tình hình thu NSNN về thuế TNCN nói chung và thuế TNCN từ tiền lương, tiền công nói riêng từ 2015 đến 2018 tại CTĐT như sau:
Bảng 3.2 Tình hình thu ngân sách nhà nước về thuế TNCN và số thu thuế TNCN từ tiền lương tiền công năm 2015-2018
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu
Tổng thu NSNN về thuế TNCN
Tỷ trọng số thu NSNN về thuế TNCN/tổng thực thu NSNN (Bảng 3.1)
Số thu về thuế TNCN
từ tiền lương tiền công
Tỷ trọng TNCN
từ tiền lương tiền công trong tổng thu NSNN về thuế TNCN
Năm 2015 181.342 4,94% 49.308 27,19% Năm 2016 194.960 4,01% 65.637 33,67% Năm 2017 221.659 3,32% 79.997 36,09% Năm 2018 274.136 3,98% 83.269 30,37%
Nguồn: Phòng kê khai và kế toán thuế - CTĐT
Qua bảng 3.2 về số liệu tuyệt đối, số thu về thuế TNCN tại CTĐT tăng lên hàng năm Số thu năm 2016 tăng 13.618 triệu đồng so với năm 2015 (tỷ lệ tăng 7,51%), năm 2017 tăng 26.699 triệu đồng so với năm 2016 (tỷ lệ tăng 13,69%) và năm 2018 tăng 52.477 triệu đồng so với năm 2017 (tỷ lệ tăng 23,67%)
Số liệu thu thực tế về thuế TNCN từ tiền lương, tiền công tăng qua các năm, năm 2016 tăng 16.329 triệu đồng so với năm 2015, năm 2017 tăng 14.360 triệu đồng
so với năm 2016 và năm 2018 tăng 3.272 triệu đồng so với năm 2017 Số thu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công chiếm tỷ cao trong tổng thu NSNN về thuế TNCN, trung bình từ 27,19% - 36,09%
Số thu về thuế TNCN từ tiền lương, tiền công tăng lên một phần do từ quyết toán thuế năm 2015 với mức quy định về GTGC (giảm trừ cho bản thân NNT là 9 triệu đồng/tháng và giảm trừ cho NPT là 3,6 triệu đồng tháng) trong khi đó theo quy định mức lương tối thiểu vùng tăng lên hàng năm cũng như lương cơ bản từ năm
2015 đến năm 2018 cũng đã tăng (Mức lương cơ bản năm 2015 áp dụng là 1.150.000 đồng tháng, từ 01/5/2016 mức lương này là 1.210.000 đồng/tháng, từ 01/7/2017 là 1.300.000 đồng tháng, và từ 01/7/2018 đến nay là 1.390.000 đồng/tháng).Bên cạnh
đó, từ tháng 10/2015 CTĐT được triển khai hệ thống quản lý thuế tập trung TMS,