1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) phân tích tác động của tín dụng chính thức đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn huyện châu thành, tỉnh kiên giang

83 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi nghiên cứu Với mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung trả lời các câu hỏi sau: i Tín dụng chính thức và các yếu tố liên quan có tác động đến việc cải thiện thu nhập của hộ g

Trang 1

NGUYỄN HỒNG ĐẠI

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG CHÍNH THỨC ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 2

NGUYỄN HỒNG ĐẠI

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG CHÍNH THỨC ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS-TS HOÀNG THỊ CHỈNH

TP Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Phân tích tác động của tín dụng chính thức đến thu

nhập hộ gia đình nông thôn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang” là công trình

nghiên cứu độc lập của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Hoàng Thị Chỉnh Dữ liệu điều tra và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực

và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng đều được dẫn nguồn và có độ chính xác trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn còn sử dụng một số đánh giá, nhận xét, cơ sở lý thuyết của các đề tài, dự án nghiên cứu trước đây, các bài báo, website, các báo cáo khoa học đã được công bố… cũng đều được chú thích nguồn gốc trích dẫn

Kiên Giang, tháng 7 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Đại

Trang 4

TÓM TẮT

Nghiên cứu này phân tích tác động của tín dụng chính thức đến thu nhập của

hộ gia đình nông thôn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Phân tích được thực hiện bằng phương pháp thống kê, mô tả và hồi quy đa biến trên cơ sở số liệu được thu thập từ khảo sát trực tiếp 193 nông hộ trong địa bàn huyện năm 2016

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tham gia tín dụng chính thức đã có tác động tích cực đến việc cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống của của hộ gia đình nông thôn Song song đó, các các yếu tố liên quan đến tín dụng như lượng vốn vay,

kỳ hạn vay vốn, số lần vay cũng có mối liên hệ đến thu nhập của nông hộ Bên cạnh tín dụng, các yếu tố khác như: thời gian cư trú ở địa phương, trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô hộ, số lao động nông nghiệp, diện tích đất sản xuất và rủi ro, cũng

có tác động đến thu nhập của nông hộ với các chiều hướng và mức độ khác nhau

Dựa trên những kết quả đó, tác giả đã gợi ý một số chính sách để cải thiện thu nhập cho hộ gia đình nông thôn, bao gồm: (i) Chính sách tín dụng, (ii) chính sách đất đai cho sản xuất, (iii) giáo dục và đào tạo, (iv) chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, (v) chính sách giảm thiểu rủi ro trong sản xuất nông nghiệp và (vi) một số chính sách phát triển sản xuất và cải thiện thu nhập cho nông hộ

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

WTO World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới

GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội

VHLSS Vietnam Household Living Standard Survey - Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam

VARHS Vietnam approaching resources household survey – Điều tra

tiếp cận nguồn lực hộ gia đình Việt Nam

VietGAP Vietnam Good Agricultural Practice - Thực hành sản xuất

nông nghiệp tốt tại Việt Nam

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỀU

Bảng 2.1 Các yếu tố tác động đến thu nhập của nông hộ qua các kết quả

Bảng 3.1 Ý nghĩa của các biến và kỳ vọng về dấu của các hệ số βi 26

Bảng 4.6 Thông tin về tình hình vay vốn của nông hộ trong mẫu khảo sát 38 Bảng 4.7 Thông tin về số nông hộ không tham gia các hình thức tín dụng 39 Bảng 4.8 Thống kê mức độ tham gia tín dụng chính thức của nông hộ 40

Bảng 4.13 Kết quả hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến logarit thu nhập 46

Trang 8

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT 5

2.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu 5

2.1.1 Nông nghiệp 5

2.1.2 Nông thôn 5

2.1.3 Hộ nông dân 5

2.1.4 Thu nhập của nông hộ 6

2.1.5 Vốn trong nông nghiệp 6

2.1.6 Tín dụng 7

2.1.7 Lao động nông nghiệp 8

2.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 8

2.2.1 Vai trò của vốn và tín dụng trong phát triển nông thôn 8

2.2.2 Mối quan hệ giữa vốn và tín dụng trong nông nghiệp 9

2.2.3 Thị trường tín dụng và các tổ chức tài chính nông thôn 10

2.2.4 Tín dụng nông thôn và đặc điểm của thị trường TDNT 11

2.3 Lý thuyết về thu nhập và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập 12

Trang 9

2.4 Vai trò của tín dụng chính thức đối với việc phát triển nông nghiệp và

nâng cao thu nhập hộ gia đình ở nông thôn 14

2.5 Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm 16

2.6 Quan hệ của các yếu tố ngoài tín dụng và thu nhập của nông dân 19

2.6.1 Nhóm yếu tố liên quan đến thuận lợi thị trường 20

2.6.2 Nhóm yếu tố liên quan đến đặc trưng hộ gia đình 20

2.6.3 Nhóm yếu tố liên quan đến năng lực sản xuất 22

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 25

3.1 Phương pháp nghiên cứu 25

3.1.1 Phương pháp thống kê mô tả 25

3.1.2 Phương pháp hồi quy đa biến 25

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 27

3.2.1 Dữ liệu thứ cấp 27

3.2.2 Dữ liệu sơ cấp 27

3.3 Khung phân tích 29

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30

4.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Châu Thành 30

4.1.2 Nguồn cung tín dụng chính thức tại địa bàn nghiên cứu 32

4.2 Mô tả thống kê, phân tích các kết quả trong mẫu khảo sát 34

4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân 44

4.3.1 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy 44

4.3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập theo kết quả hồi quy 47

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Hàm ý chính sách 52

5.2.1 Về chính sách tín dụng 52

5.2.2 chính sách cho các yếu tố ngoài tín dụng có tác động đến thu nhập 54

5.2.3 Các chính sách phát triển sản xuất, cải thiện thu nhập cho nông hộ 56

5.3 Hạn chế của nghiên cứu 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, nông nghiệp đang giữ một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, tạo nên sự ổn định, an toàn cho phát triển của nền kinh tế - xã hội và cũng là ngành cung cấp nguyên liệu đầu vào chủ yếu cho các ngành công nghiệp khác Quá trình hội nhập kinh tế những năm qua cũng đã tác động trực tiếp đến nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn Cụ thể là chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp không ngừng nâng cao; một số mặt hàng nông sản xuất khẩu như gạo, cà phê, cao su, thủy sản, … chiếm vị trí cao trên thị trường thế giới; kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành, nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục được đổi mới; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được củng cố; đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện

Tuy nhiên, bên cạnh những phát triển tiến bộ, nông nghiệp, nông thôn nước ta vẫn là khu vực chậm phát triển, phát triển thiếu bền vững và đang còn không ít khó khăn như: đầu tư cho nông, lâm nghiệp, thủy sản chưa tương xứng với vị trí, vai trò của các ngành kinh tế này; mô hình tổ chức, quản lý sản xuất chưa ổn định; cơ cấu kinh tế còn thuần nông; công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chưa tương xứng, nên sức ép về việc làm ở nông thôn vẫn rất lớn; một số chính sách đang thực hiện lại chưa đủ mạnh để kích thích sản xuất phát triển, do đó, năng suất lao động, sức cạnh tranh của hàng nông sản thấp Tất cả những điều đó làm cho nông nghiệp, nông thôn

có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với công nghiệp, dịch vụ ở thành thị Vì vậy, vấn đề đặt

ra hiện nay là làm sao giữ ổn định và cải thiện thu nhập cho tầng lớp nông dân, vốn đang là tầng lớp có đời sống kinh tế thấp và gánh chịu nhiều rủi ro nhất

Cùng trong bối cảnh đó, kinh tế nông nghiệp tỉnh Kiên Giang nói chung và huyện Châu Thành nói riêng cũng đã có những tiến bộ nhất định, đời sống của người

Trang 11

nông dân ngày càng được cải thiện Tuy nhiên hiện tại người nông dân phải đối mặt

vớ những khó khăn trong quá trình sản xuất như: thiên tai, dịch bệnh, thiếu hụt về vốn… đã ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất và thu nhập của hộ gia đình nông

thôn Từ thực tế nêu trên, tác giả chọn đề tài “Phân tích tác động của tín dụng chính

thức đến thu nhập hộ gia đình nông thôn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang”

làm luận văn tốt nghiệp

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích tác động của tín dụng chính thức đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Qua đó, gợi ý một số chính sách để cải thiện và nâng cao thu nhập của nông hộ

(iii) Đánh giá tác động của những nhân tố thuộc đặc trưng hộ gia đình và năng lực sản xuất đến thu nhập của hộ g ia đình nông thôn huyện Châu Thành

(iv) Gợi ý một số chính sách để cải thiện và nâng cao thu nhập của nông hộ huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Với mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung trả lời các câu hỏi sau:

(i) Tín dụng chính thức và các yếu tố liên quan có tác động đến việc cải thiện thu nhập của hộ gia đình nông thôn huyện Châu Thành?

Trang 12

(ii) Ngoài tín dụng, còn có những yếu tố nào tác động đến thu nhập của nông hộ?

(iii) Nhà nước, các tổ chức tín dụng và bản thân nông hộ cần thực hiện những chính sách, giải pháp gì để cải thiện thu nhập, mức sống của hộ gia đình ở nông thôn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của việc tham gia tín dụng chính thức từ Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và Ngân hàng Chính sách xã hội đến thu nhập của nông hộ trên địa bàn huyện Châu Thành, với chủ thể nghiên cứu

là nông hộ có tham gia tín dụng chính thức hoặc không tham gia tín dụng chính thức

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khu vực nông thôn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, với số liệu thu thập được từ điều tra, phỏng vấn trực tiếp 193 nông hộ ở

4 xã: Vĩnh Hòa Hiệp, Minh Hòa, Mong Thọ, Mong Thọ B

Thời gian nghiên cứu: năm 2014 và năm 2015; thời điểm điều tra, phỏng vấn

từ 9/2016 đến 12/2016

1.4 Kết cấu đề tài

Tổng thể luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1 Giới thiệu chung: Trình bày bối cảnh, sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, xác định mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu đề tài cần phải giải quyết

Chương 2 Tổng quan về lý thuyết: Nêu một số khái niệm có liên quan và các

lý thuyết về vai trò của vốn, tín dụng đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn; tóm lược kết quả của một số nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung đề tài để xác định các nhân tố có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu: Trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu cụ thể mà đề tài sử dụng để phân tích tác động của tín dụng chính thức

Trang 13

và các yếu tố khác đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Tiến hành phân tích, làm rõ kết quả những vấn đề cần nghiên cứu, đánh giá mặt tích cực và hạn chế từng nội dung cụ thể

Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách: Tóm lược những kết quả chính của nghiên cứu và đưa ra những gợi ý chính sách từ vấn đề nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT

2.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu

2.1.1 Nông nghiệp

Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ, Nông nghiệp là phân ngành trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản

Theo Đào Công Tiến (2003), Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân, là một bộ phận trọng yếu của tái sản xuất xã hội Việc tái sản xuất không chỉ gắn liền với các quá trình kinh tế - xã hội, mà còn gắn với các quá trình tự nhiên của sinh vật và môi trường sống của nó Do đó, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế - kỹ thuật như những lĩnh vực kinh tế khác, mà còn

là một hệ thống kinh tế - kỹ thuật, xã hội và môi trường

2.1.2 Nông thôn

Theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ (về chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp nông thôn), “Vùng nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố”

Theo Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT, ngày 04 tháng 10 năm 2013, của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia

về nông thôn mới), “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ

sở là Ủy ban nhân dân xã”

2.1.3 Hộ nông dân

Theo Đào Công Tiến (2003), “hộ” là đơn vị tế bào xã hội nhưng không phải trùng với gia đình Khái niệm hộ tồn tại trong hệ thống hành chính pháp lý, dùng để chỉ những người cùng sống chung một nhà, có quan hệ kinh tế chung

Trang 15

Hộ nông dân (còn gọi là nông hộ), là hộ có phương tiện kiếm sống bằng ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất Nói chung, đó là các hộ sống bằng thu nhập từ nghề nông Ngoài ra, hộ còn cò thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ

Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn Kinh tế nông hộ dựa chủ yếu vào lao động gia đình để khai thác đất đai và các yếu tố sản xuất khác nhằm thu về thu nhập thuần cao nhất

2.1.4 Thu nhập của nông hộ

Là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà nông hộ thu được sau quá trình sản xuất, bao gồm nhiều nguồn thu khác nhau: Thu từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản; thu từ các hoạt động dịch vụ; từ các hoạt động làm thuê; thu từ các hoạt động của ngành nghề phi nông nghiệp Thu nhập là nguồn lực chính để chi tiêu cho mọi nhu cầu cần thiết trong đời sống hằng ngày của mỗi nông hộ, mỗi người, như lương thực, thực phẩm, y tế, giáo dục… Vì vậy, thu nhập có vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống vật chất cho nông

hộ

Để đánh giá chính xác tác động tín dụng đến thu nhập của nông dân thì thu nhập của hộ gia đình trong đề tài chỉ giới hạn là thu nhập thuần túy từ nông nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Do đó, thu nhập bình quân của hộ được tính bằng tổng thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp trong hộ chia cho

số nhân khẩu trong hộ gia đình có tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp

2.1.5 Vốn trong nông nghiệp

Theo Kay và Edwards (Trích từ Đinh Phi Hổ, 2008): Vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp Đó là số tiền dùng để mua hoặc thuê ruộng đất, đầu tư hệ thống thủy nông, vườn cây lâu năm, máy móc, thiết bị nông cụ và tiền mua vật tư

Vốn trong nông nghiệp được phân thành vốn cố định và vốn lưu động

Trang 16

+ Vốn cố định là được biểu hiện bằng tiền giá trị đầu tư vào tài sản cố định + Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền giá trị đầu tư vào tài sản lưu động Vốn sản xuất nông nghiệp có đặc điểm là tính thời vụ do đặc điểm của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp và đầu tư vốn trong nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro vì kết quả sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Do chu kỳ sản xuất của nông nghiệp dài nên vốn dùng trong nông nghiệp có mức lưu chuyển chậm

2.1.6 Tín dụng

Tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, nó phản ánh mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay Mối quan hệ này ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả…

Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn có hoàn trả và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi

Hoạt động tín dụng là việc các tổ chức tín dụng “sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng" Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính Bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp

vụ khác

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động tín dụng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng,

tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân (Luật các tổ chức tín dụng 2010)

Các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động trên cơ sở giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp và chịu sự quản lý, giám sát an toàn của Ngân hàng Nhà nước Vì vậy,

có thể hiểu rằng tín dụng chính thức là quan hệ vay và cho vay thông qua việc cung cấp tín dụng từ các tổ chức tín dụng chính thức

Trang 17

2.1.7 Lao động nông nghiệp

Theo Đinh Phi Hổ (2008), nguồn lao động nông nghiệp bao gồm toàn bộ những người tham gia vào sản xuất nông nghiệp Nguồn lao động nông nghiệp là yếu

tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người lao động mà còn cả chất lượng nguồn lao động

Về mặt số lượng, bao gồm những người hội đủ yếu tố thể chất và tâm lý trong

độ tuổi lao động (từ 15-60 đối với nam và 15-55 đối với nữ) và một bộ phận dân cư ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất nông nghiệp

Về mặt chất lượng, thể hiện khả năng hoàn thành công việc với kết quả đạt được trong một thời gian lao động nhất định Chất lượng tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, trình độ thành thạo của người lao động, mức độ và tính chất trang bị của lao động và tri thức của người lao động

2.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

2.2.1 Vai trò của vốn và tín dụng trong phát triển nông thôn

Trong nghiên cứu của mình, Đinh Phi Hổ (2008) có đề cập ý kiến của Atiena (1997) cho rằng tín dụng nông thôn là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và chuyển đổi sản xuất, áp dụng kỹ thuật mới trong nông nhiệp; đồng thời cũng trích dẫn quan điểm của Diagne & cộng sự (2000), theo

đó giải thích rõ hơn tác động của tín dụng đối với thu nhập hộ gia đình nông nghiệp thông qua hai kênh:

(i) Tín dụng làm giảm bớt những hạn chế vốn vào các hộ gia đình nông nghiệp Trong khi chi tiêu vật tư nông nghiệp phát sinh từ quá trình ban đầu của sản xuất nông nghiệp thì lợi nhuận chỉ đạt được sau khi thu hoạch vài tháng sáu đó Vì vậy, việc tài trợ cho việc mua nguyên liệu đầu vào, các hộ gia đình nông dân phải sự dụng tiền tiết kiệm hoặc vay tín dụng Do đó, tiếp cận tín dụng có thể làm tăng đáng kể khả năng của các nông hộ nghèo để mua vật tư cần thiết

Trang 18

(ii) Tiếp cận tín dụng cũng làm giảm chi phí cơ hội của các tài sản vốn so với lao động gia đình, do đó khuyến khích áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm sức lao động

và nâng cao năng xuất lao động, một yếu tố quan trọng cho sự phát triển nông nghiệp

ở các quốc gia đang phát triển

2.2.2 Mối quan hệ giữa vốn và tín dụng trong nông nghiệp

Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Vốn trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp Để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hoá nông nghiệp thì vấn đề đầu tiên, mang tính chất quyết định là vốn Vốn có vai trò quyết định đến việc

hộ gia đình có khả năng tiếp tục tham gia vào đầu tư sản xuất cũng như trang bị các phương tiện kĩ thuật hiện đại hỗ trợ cho sản xuất

Theo Đinh Phi Hổ (2008), xác định vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:

Thứ nhất, là vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp Đây là vốn tự có,

do nông dân tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng Mức độ tích lũy vốn thường được đánh giá bởi tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập

Thứ hai, là vốn đầu tư của ngân sách - vốn đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách Nhà nước Vốn này được dùng để đầu tư xây dựng trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp, thủy lợi, giao thông, nghiên cứu khoa học, giải quyết việc làm ở nông thôn

Thứ ba, là vốn từ tín dụng nông thôn, vốn đầu tư cho nông nghiệp của nông

hộ, trang trại và các doanh nghiệp nông nghiệp vay từ hệ thống định chế tài chính nông thôn thuộc khu vực chính thức và phi chính thức

Thứ tư, là vốn nước ngoài, bao gồm hai nguồn chủ yếu là vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Như vậy, vốn tín dụng là một trong số các yếu tố cấu thành nguồn vốn quan trọng để phát triển nông nghiệp, chắc chắn có tác động tới thu nhập và mức sống của

Trang 19

các hộ gia đình ở vùng nông thôn Tuy nhiên, vốn tín dụng nông thôn gồm có hai loại

là tín dụng chính thức (tín dụng ngân hàng) và tín dụng phi chính thức, trong đó tín dụng ngân hàng là nguồn tín dụng chủ yếu được sử dụng ở nông thôn hiện nay

2.2.3 Thị trường tín dụng và các tổ chức tài chính nông thôn

Theo Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2011), hiện nay thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam tồn tại hỗn hợp gồm: thị trường chính thức, phi chính thức và bán chính thức Ở Việt Nam, tín dụng chính thức được cung cấp chủ yếu thông qua hai ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước là Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, tỷ trọng cho vay của hai ngân hàng này chiếm đến hơn hai phần ba các khoản vay của hộ gia đình nông thôn Việt Nam Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo nguyên tắc thương mại, còn Ngân hàng Chính sách Xã hội hoạt động trên nguyên tắc tái phân phối, cung ứng những khoản tín dụng rẻ cho các đối tượng người nghèo, người có thu nhập thấp không đủ các tiêu chuẩn vay ở các ngân hàng thương mại

Từ đầu những năm 1990, các chương trình tín dụng ưu đãi cho nông nghiệp

và nông thôn ra đời và phát triển mạnh mẽ Cùng thời điểm này, thị trường tín dụng cũng ghi nhận sự xuất hiện của các tổ chức phi chính phủ tham gia cung cấp vốn dưới hình thức tín dụng vi mô cho khu vực nông thôn Cho đến nay, thị trường tín dụng nông thôn đã có bước phát triển mạnh mẽ với sự tham gia đa dạng của các định chế tài chính Ngoài ra, thời gian gần đây còn có sự tham gia của các ngân hàng cổ phần nhà nước, ngân hàng tư nhân, quỹ tín dụng nhân dân, nhưng hầu hết các tổ chức tín dụng này chiếm tỷ trọng không đáng kể trong cấu trúc vốn thị trường tín dụng ở nông thôn

Mặc dù có sự đồng nhất trong cách hiểu của các nhà hoạt động thực tế đối với tín dụng nông thôn và tín dụng vi mô do các tổ chức tài chính vi mô cung ứng nhưng hai tổ chức này là hoàn toàn độc lập Tổ chức tài chính vi mô hoạt động trên quy mô rộng, bao gồm cả khu vực đô thị và nông thôn, hướng đến nhóm đối tượng khách hàng chủ yếu là người nghèo, giá trị khoản vay nhỏ Quá trình cung ứng các dịch vụ

Trang 20

tài chính vi mô, các tổ chức này còn lồng ghép các hoạt động hỗ trợ như: hình thành

tổ nhóm, phát triển tính tự tin, đào tạo kiến thức tài chính và kỹ năng quản lý chéo giữa các thành viên với nhau Trong khi đó, các tổ chức tài chính nông thôn chỉ hoạt động tại khu vực nông thôn, cung ứng các sản phẩm tài chính cho đối tượng khách hàng mang tính đặc thù của khu vực này

Ở mảng bán chính thức, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank, chuyển đổi từ Quỹ Tín dụng nhân dân từ năm 2013) cùng với hàng loạt các Quỹ Tín dụng, tổ chức tài chính vi mô bán chính thức khác đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển nông nghiệp nông thôn Mảng tín dụng bán chính thức còn được cung ứng thông qua các Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân… hoạt động rộng khắp với những món vay nhỏ, lãi suất thấp, hỗ trợ người vay trong quá trình sử dụng vốn vay

Đối với tín dụng phi chính thức, hiện nay vẫn còn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tín dụng nông thôn, hiện có hơn 51% các khoản tín dụng đang cung ứng cho khu vực nông thôn là tín dụng phi chính thức (Phan Đình Khôi, 2013) Hình thức này chủ yếu là cho vay theo tổ, nhóm tự phát, cá nhân cho vay, cho vay xoay vòng, vay qua các đại lý cung ứng vật tư nông nghiệp đầu vào…

2.2.4 Tín dụng nông thôn và đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn

Tín dụng nông thôn là các khoản vay dành cho tổ chức, cá nhân trên địa bàn nông thôn, phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác liên quan đến nông trại và phi nông trại

Nông nghiệp nông thôn với những đặc điểm như quy mô rộng lớn, các hoạt động liên quan trực tiếp đến yếu tố tự nhiên, giá cả đầu vào và đầu ra thường xuyên biến động… nên thị trường tín dụng nông thôn cũng mang những đặc trưng riêng, khác với các thị trường khác, cụ thể:

Đối tượng khách hàng của thị trường tín dụng nông thôn khá phong phú như

hộ gia đình nông dân, các trang trại, cơ sở kinh doanh nông sản, các doanh nghiệp nông thôn và người lao động không có đất canh tác Do đó, việc thiết kế các sản phẩm

Trang 21

dịch vụ tín dụng phù hợp cho từng đối tượng trở nên rất khó khăn Mặt khác, khách hàng cư trú trên quy mô rộng, mức độ phân tán cao, cơ sở hạ tầng của khu vực nông thôn còn hạn chế, nhất là về giao thông và thông tin liên lạc đã đẩy chi phí giao dịch lên cao Quá trình tiếp thị sản phẩm, thời gian đi lại trước, trong và sau khi cho vay thường phải kéo dài nhưng lại chỉ cho vay được những món vay nhỏ khiến các tổ chức tài chính e ngại khi tham gia vào phân khúc thị trường này

Thị trường tín dụng nông thôn tồn tại nhiều rủi ro Những rủi ro tiềm tàng là

do chính bản chất của hoạt động nông nghiệp mang lại, bởi vì: mọi hoạt động nông nghiệp đều phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, môi trường, sự biến đổi của khí hậu thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất; nguồn trả nợ chủ yếu từ khoản lợi nhuận

ít ỏi của hoạt động sản xuất, trong khi tài sản thế chấp chỉ là đất (các danh mục tài sản khác thường có giá trị thấp và ít được chấp nhận); giá cả các mặt hàng nông sản lại thường xuyên biến động, gây khó khăn cho cả bên đi vay và bên cho vay

2.3 Lý thuyết về thu nhập và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập

Lý thuyết sản xuất của trường phái Kinh tế học cổ điển, cho rằng có ba yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập là đất đai, lao động và vốn vật chất Tuy nhiên, các nhà Kinh tế học tân cổ điển cho rằng những yếu tố này chỉ là điểm đầu của câu chuyện, họ đã đưa ra Lý thuyết vốn nhân lực, Lý thuyết thu nhập và sự phân biệt đối

xử, Lý thuyết phát tín hiệu… để giải thích cho nguồn gốc sâu xa của sự khác biệt về thu nhập giữa các cá nhân Đó là do những yếu tố như: Đặc thù của nghề nghiệp, vốn nhân lực, năng lực tự nhiên, trình độ giáo dục, sự phân biệt đối xử…

Đặc thù của nghề nghiệp: Trong chừng mực nào đó, sự khác nhau về thu nhập

giữa các cá nhân là để đền bù cho những đặc trưng của nghề nghiệp Với những yếu

tố khác không đổi, người lao động thực hiện những công việc nặng nhọc, nguy hiểm

sẽ được trả lương cao hơn những người có công việc dễ dàng, nhẹ nhàng

Vốn nhân lực: Là sự tích lũy các khoản đầu tư vào con người Vốn nhân lực

rất quan trong, nhất là giáo dục Đầu tư vào vốn nhân lực làm tăng năng suất lao động

Trang 22

Vì vậy những người có mức trang bị vốn nhân lực cao hơn sẽ nhận được mức thu nhập cao hơn những người có mức trang bị vốn nhân lực thấp

Năng lực tự nhiên: Mỗi người sinh ra, có thể có những năng lực bẩm sinh khác

nhau và nỗ lực, cơ hội để phát triển năng lực đó của mỗi cá nhân cũng khác nhau Điều này có thể giải thích cho phần lớn sự khác biệt thu nhập giữa mỗi cá nhân mà những nhân tố khác không giải thích được

Lý thuyết về phân biệt đối xử: Cho rằng một sự khác biệt về tiền lương cũng

có thể do phân biệt chủng tộc, giới tính, hoặc một số nhân tố khác Tuy nhiên, xác định mức độ phân biệt là khó khăn vì người ta loại trừ những khác biệt về vốn nhân lực và những đặc trưng của công việc

Lý thuyết phát tín hiệu giáo dục: Cho rằng những người có trình độ cao thường

có thu nhập cao hơn không phải do giáo dục làm tăng năng suất lao động, mà do người lao động sử dụng bằng cấp như một tín hiệu để phân biệt người có năng lực cao với những người có năng lực thấp hơn, người có trình độ cao là những người có năng lực bẩm sinh cao hơn, vì vậy các doanh nghiệp sẽ thuê họ

Vốn xã hội: Được xem là sự tin cẩn giữa các thành viên khác nhau trong cùng

một cộng đồng, sự tuân theo lề thói, hay phong tục tập quán của cộng đồng ấy Vốn

xã hội có thể tạo thành một yếu tố sản xuất độc lập Trên cấp độ vĩ mô, các nghiên cứu thường xem xét vai trò của vốn xã hội đối với tăng trưởng Trên cấp độ vi mô, vốn xã hội được xem như là lời ích của sự hợp tác và có vai trò quan trọng trong thu nhập của từng cá nhân, hộ gia đình Những người có mối quan hệ xã hội tốt, được người khác tin cậy có thể làm việc tốt hơn, dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực hơn,

vì vậy có cơ hội nhận được thu nhập cao hơn những người khác

Như vậy, thu nhập là một hàm đa biến phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau:

Y = β0 + β1X1 + β2X2 + …+ βnXn + εi

Ngoài ra dạng hàm bán logarit Ln(Y) = β0 + β1X1 + β2X2 + …+ βnXn + εi cũng được sử dụng khá rộng rãi để ước lượng thu nhập của cá nhân và hộ gia đình

Trang 23

2.4 Vai trò của tín dụng chính thức đối với việc phát triển nông nghiệp

và nâng cao thu nhập hộ gia đình ở nông thôn

Trong nền kinh tế hàng hoá các chủ thể không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu không có vốn Đặc biệt là trong điều kiện nông thôn nước ta hiện nay, thiếu vốn là vấn đề rất phổ biến đối với hộ sản xuất Vì vậy vốn tín dụng có vai trò hết sức quan trọng, nó trở thành "bà đỡ" trong quá trình phát triển của nền kinh tế Theo Nguyễn Bích Đào (2008), xét dưới hình thức chủ yếu của tín dụng là loại hình cho vay thì tín dụng ngân hàng có những vai trò sau:

Thứ nhất, tín dụng góp phần hình thành và phát triển thị trường tài chính nông thôn Hoạt động tín dụng là “cầu nối” trung gian giữ những người cần vốn và những người cung ứng vốn, để phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Xét trong phạm vi cả nước thì có những vùng, khu vực này cần vốn, nhưng khu vực khác lại có nguồn vốn dư thừa chưa cần dùng đến Vì thế tín dụng ngân hàng còn là công

cụ điều hòa nguồn vốn giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn, đáp ứng nhu vầu phát triển kinh

tế nông thôn Với hệ thống cơ sở rộng khắp xuống từng huyện, xã, hoạt động tín dụng

đã đẩy nhanh sự hình thành và phát triển thị trường tài chính ở nông thôn

Thứ hai, tín dụng góp phần tận dụng mọi tiềm năng to lớn ở nông thôn Tiềm năng về phát triển ở nông thôn nước ta là rất lớn, đây là khu vực tập trung nguồn lao động dồi dào và nguồn tài nguyên, đặc biệt là đất đai Nếu được đầu tư vốn một cách hiệu quả, người dân sẽ có điều kiện khai thác tiềm năng tại chỗ, giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, ngày càng mở rộng và phát triển thị trường ở nông thôn

Thứ ba, tín dụng góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho người nông dân tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng của ngân hàng tham gia vào quá trình sản xuất thông qua hình thức đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn như: đường sá, cầu cống, công trình thủy lợi, công trình giao thông, mạng lưới điện, thông tin, nước sạch, bệnh viện, trường học, chợ,…

Trang 24

Đây là những cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình sản xuất, góp phần nâng cao đời sống của người dân vùng quê và giảm sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn

Thứ tư, tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nông thôn Thông qua hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ sản xuất, một lượng lớn lao động

dư thừa ở nông thôn đã được giải quyết việc làm Phát huy được làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ Và tín dụng ngân hàng sẽ

là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút được số lao động nhàn rỗi giải quyết việc làm cho người lao động Qua đó, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân

Thứ năm, tín dụng chính thức góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp phần giải quyết công

ăn việc làm cho người lao động Có việc làm, người lao động có thu nhập sẽ hạn chế được tiêu cực xã hội Tín dụng ngân hàng thúc đẩy các ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn, hạn chế những luồng di dân vào khu vực thành thị Từ đó, sẽ làm tăng thu nhập cho nông dân, đời sống văn hoá, kinh tế

xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thi càng nhích lại gần nhau, hạn chế bợt sự phân hoá bất hợp lý trong xã hội, giữa vững an ninh trật tự

Ngoài ra, tín dụng ngân hàng khi góp phần thực hiện tốt các chính sách của nhà nước sẽ làm thay đổi bộ mặt nông thôn, các hộ nghèo trở nên khá hơn, hộ khá trở nên hộ giàu Nhờ đó góp phần nâng cao dân trí, hạn chế tệ nạn xã hội Mặt khác, khi nông hộ nghèo tiếp cận được tín dụng ngân hàng sẽ hạn chế đáng kể tình trạng cho vay nặng lãi đã tồn tại khá lâu đời ở nông thôn

Tóm lại, tín dụng chính thức góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển thị trường tài chính ở nông thôn; tăng cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng với lãi suất phù hợp cho người nghèo, người thiếu vốn là thúc đẩy thực hiến tiến bộ

và công bằng xã hội trong phân phối nguồn lực; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Trang 25

phục vụ sản xuất, tạo công ăn việc làm, tận dụng và phát huy hiệu quả mọi tiềm năng

to lớn nơi đây Qua đó, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống không chỉ vật chất

mà còn tinh thần cho người dân vùng nông thôn

2.5 Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Đánh giá tác động của tín dụng, nhất là tác động đến thu nhập, chi tiêu của người dân khu vực nông thôn là vấn đề không mới, nhưng nó được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu vì tính cần thiết của nó đối với việc hoạch định chính sách Nhiều nghiên cứu về tác động của tín dụng, đặc biệt là tín dụng vi mô, tín dụng chính thức tới mức sống của hộ gia đình, với phần lớn là hộ có mức thu nhập thấp được thực hiện trong những năm gần đây ở Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới

Nghiên cứu của Arun và các đ.t.g (2006) ở Ấn Độ cho thấy vai trò tích cực của tài chính vi mô đối với giảm nghèo không chỉ ở nông thôn mà còn ở các đô thị của quốc gia này Các tác giả cho thấy rằng trong khi các hộ gia đình ở nông thôn cần phải vay tín dụng cho mục đích sản xuất để giảm đói nghèo thì các hộ gia đình ở đô thị chỉ cần truy cập tài chính vi mô là đủ giảm bớt đói nghèo Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hàm logit để xác định các nhân tố có tác động tới giảm nghèo hộ gia đình Bên cạnh tín dụng vi mô, kết quả ước lượng đã chỉ ra tuổi, giới tính chủ hộ, quy

mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, khu vực sinh sống đều là những nhân tố quan trọng có ý nghĩa không thể bỏ qua

Kondo và các đ.t.g (2007) đã sử dụng phương pháp hồi quy OLS kết hợp với phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) để đánh giá tác động của tài chính vi

mô tới các hộ gia đình ở nông thôn Philippines Nghiên cứu này tiến hành xem xét tác động của tín dụng tới các nhóm vấn đề của hộ như: phúc lợi, các giao dịch tài chính quan trọng khác của hộ, kinh doanh và việc làm, tài sản của hộ, đầu tư vốn nhân lực (giáo dục và sức khỏe) và tỷ lệ giảm đói trong tiêu dùng thực phẩm với các biến giải thích được sử dụng như: tuổi, giới tính, trình độ của hộ, quy mô hộ, số năm sống tại địa phương, diện tích nhà,…Trong đó, các tác giả đánh giá tác động của tín dụng tới phúc lợi (đại diện cho mức sống của hộ gia đình thông qua các biến: thu

Trang 26

nhập bình quân đầu người, chi tiêu dùng bình quân đầu người, tiết kiệm bình quân đầu người và chi tiêu dùng thực phẩm bình quân đầu người) Kết quả ước lượng cho thấy tín dụng có tác động tích cực tới mức sống của các hộ gia đình ở vùng nông thôn Philippines Cụ thể, phân tích cho thấy ở mức ý nghĩa 10%, những hộ có vay vốn có thu nhập bình quân đầu người cao hơn những hộ không vay là 5.222 Peso; chi tiêu bình quân đầu người của hộ có vay vốn cũng cao hơn những hộ không vay là 4.136 Peso

Bằng phương pháp hồi quy OLS kết hợp DID và sử dụng bộ dữ liệu VHLSS

2004 và VHLSS 2006, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2010) đã tiến hành đánh giá tác động của tín dụng chính thức tới mức sống các hộ gia đình ở đồng bằng sông Cửu Long với 5 biến phụ thuộc là: thu nhập bình quân, chi tiêu bình quân, chi tiêu đời sống bình quân, tiết kiệm bình quân và thu nhập trên một lao động hộ Kết quả nghiên cứu đã không tìm thấy ảnh hưởng tích cực của tín dụng tới mức sống hộ gia đình tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, các tác giả cũng tìm được một số nhân tố khác có ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình như: quy mô hộ, số trẻ em trong gia đình, bằng cấp của chủ hộ, diện tích sản xuất và nhà

ở, tình trạng nghèo của hộ

Với bộ dữ liệu VHLSS 2006 và VHLSS 2008, Ngô Hải Thanh (2011) bằng phương pháp OLS kết hợp DID đã tiến hành đánh giá tác động của tín dụng từ ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy ảnh hưởng tích cực của tín dụng Agribank tới thu nhập cũng như chi tiêu của hộ gia đình trong giai đoạn 2006-2008 Điều này được giải thích bởi đặc điểm rủi ro cao và khả năng thu hồi chậm của đồng vốn sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, đa số các khoản vay đều có giá trị thấp và thời gian vay ngắn, nên mức sống của nông hộ chưa thể cải thiện ngay được Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chứng minh được các yếu tố như: tình trạng nghèo, trình độ giáo dục của chủ hộ, quy mô, tỷ lệ phụ thuộc trong hộ và việc làm phi nông nghiệp là những nhân tố có tác động mạnh tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn

Trang 27

Từ số liệu của cuộc điều tra Tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam qua các năm 2006, 2008, 2010, Nhóm nghiên cứu kinh tế phát triển (DERG) Trường Đại học Copenhagen và đ.t.g, (2012) đã cho thấy, thông qua tín dụng chính thức từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Ngân hàng Chính sách Xã hội “Tín dụng làm tăng thu nhập thông qua cải thiện năng suất lao động” và “cung cấp tiếp cận tín dụng có tiềm năng nâng cao phúc lợi cho nông dân trong dài hạn” Từ bằng chứng thực nghiệm, Nhóm nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số nhân tố khác ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình Việt Nam như cú sốc thu nhập của hộ, thành viên của các hội Tỉ lệ những hộ gặp phải cú sốc thu nhập trong năm có một khoản vay nhất định thường lớn hơn tỉ lệ này ở những hộ không gặp cú sốc nào Tương tự như với các hộ có thành viên tham gia vào hội phụ nữ, hội nông dân, … Điều này cũng nhất quán với những nỗ lực của Hội Phụ nữ trong những năm gần đây nhằm đem lại nguồn vốn và kinh nghiệm phát triển kinh tế cho các thành viên Mặt khác, nguồn tín dụng chảy về nông thôn Việt Nam hiện nay thông qua các kênh hội, nhóm, đoàn thể cũng khá phổ biến và được người dân ưa chuộng

Nguyễn Lan Duyên (2014) đã sử dụng phương pháp hồi quy OLS để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang trên cơ sở hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập từ 598 nông hộ được chọn ngẫu nhiên Kết quả ước lượng cho thấy các yếu tố như trình độ học vấn, diện tích đất, thời gian cư trú tại địa phương, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm, lượng vốn vay, lãi suất và số lao động có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang Trong đó, trình độ học vấn, diện tích đất, thời gian cư trú tại địa phương, lượng vốn vay có tác động tích cực nâng cao thu nhập của nông hộ

Nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh và nguyễn Thị Thùy Phương (2014) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay, bằng phương pháp hồi quy

đa biến với biến phụ thuộc là phần thu nhập từ lượng vốn vay của hộ nghèo với số liệu sơ cấp từ phỏng vấn trực tiếp 200 nông hộ nghèo ở tỉnh Sóc Trăng Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo phụ thuộc vào các yếu tố: lượng vốn vay, kỳ hạn, lãi suất, rủi ro, hướng dẫn sau khi vay, diện tích đất, tỷ

Trang 28

trọng vốn sử dụng cho sản xuất và số lao động Trong đó, có 5 yếu tố có mối tương quan thuận là: lượng vốn vay, hướng dẫn sau khi vay, diện tích đất, tỷ trọng vốn sử dụng cho sản xuất và số lao động Ngược lại, các yếu tố: kỳ hạn, lãi suất và rủi ro có mối tương quan nghịch với hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo

Đinh Phi Hổ & Đông Đức (2015), bằng phương pháp sai biệt kép (DID) kết hợp mô hình hồi quy POOL-OLS và sử dụng bộ dữ liệu VARHS (khảo sát nguồn lực

hộ gia đình VN) từ 2006 đến 2012, đã đánh giá tác động của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò của việc tham gia tín dụng chính thức đối với thu nhập hộ gia đình, chương trình tín dụng nông nghiệp từ khu vực chính thức có tác động tích cực đến thu nhập của nông hộ ở Việt Nam Cụ thể là tham gia tín dụng chính thức giúp cải thiện thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của nông hộ lên mức 9,5% Bên cạnh tín dụng, các yếu tố khác như: Dân tộc kinh (+8,6%), trình độ giáo dục trung bình của hộ (+3,3%), quy mô hộ (-0,8%), tỷ lệ trẻ em (-24,3%), cú sốc trong nông nghiệp (-6,9%), tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (+18,5%), tỷ lệ lao động tham gia sản xuất nông nghiệp (-19,2%), diện tích đất canh tác (+0,1%), tham gia gửi tiết kiệm (+16,7%), cũng có mối tương quan mạnh mẽ với thu nhập hộ gia đình Hiệu quả của chương trình tín dụng chính thức lên tổng thu nhập hộ gia đình là không mạnh, nhưng tác động tích cực lên thu nhập của hộ là rõ ràng Qua đó, có thể thấy vai trò quan trọng của tín dụng đối với các nông

hộ, tín dụng giúp họ gia tăng nguồn lực hộ gia đình, tiếp cận được các yếu tố sản xuất, nhờ đó gia tăng năng suất, cải thiện thu nhập

2.6 Quan hệ của các yếu tố ngoài tín dụng và thu nhập của nông dân

Thay đổi thu nhập của nông hộ không phải duy nhất do tín dụng tác động mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Do đó, xem xét tác động của tín dụng đến thu nhập cần phải đồng thời quan tâm đến các yếu tố khác Trong nghiên cứu về tác động của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ ở Việt Nam, Đinh Phi Hổ và Đông Đức (2015) đã chỉ ra 3 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ, bao

Trang 29

gồm: (1) Thuận lợi thị trường; (2) Đặc trưng hộ gia đình; và (3) Năng lực sản xuất của hộ Trong đó, tín dụng chính thức thuộc nhóm yếu tố Thuận lợi thị trường

2.6.1 Nhóm yếu tố liên quan đến thuận lợi thị trường

Tiếp cận tín dụng: Tiếp cận tín dụng đặc biệt quan trọng trong bối cảnh phát

triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay Ngân hàng phải đóng vai trò bảo đảm tín dụng

để bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn lực tài chính khu vực nông thôn và khắc phục thất bại thị trường trong việc tiếp cận đối với những người thu nhập thấp (Đinh Phi Hổ & Đông Đức, 2015) Việc cung cấp tín dụng dễ dàng giúp nông dân tăng cường đầu tư cho sản xuất, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp, đáp ứng yêu cầu thị trường, góp phần giảm chi phí, tăng thu nhập

Giao thông thuận lợi: Điều kiện địa lý, giao thông, khoảng cách đến khu vực

trung tâm… có tác động đáng kể đến mức sống của các hộ gia đình Báo cáo phát triển Việt Nam, 2004 (trích từ Ngô Hải Thanh, 2011) khẳng định rằng những hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa có mức chi tiêu đầu người thấp hơn những hộ ở đồng bằng

và thành thị, cơ sở hạ tầng là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới năng suất nông nghiệp và phát triển việc làm phi nông nghiệp

Rủi ro: Sản xuất nông nghiệp thường chịu nhiều rủi ro trước những tác động

của thị trường (biến động giá), thiên tai (bão, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn), dịch bệnh… Nếu thiên tai, dịch bệnh xảy ra chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất xấu đến thu nhập của nông dân, thậm chí họ có thể mất cả gia sản

2.6.2 Nhóm yếu tố liên quan đến đặc trưng hộ gia đình

Tuổi của chủ hộ (người quyết định các hoạt động kinh tế của hộ): cho phép

đánh giá kinh nghiệm của người dân trong lao động sản xuất Khi tuổi của chủ hộ càng cao có nghĩa là kinh nghiệm càng nhiều Nghiên cứu của Ngô Hải Thanh (2011)

đã chỉ ra rằng tuổi của chủ hộ có mối quan hệ đồng biến với thu nhập hộ gia đình

Giới tính của chủ hộ: có nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau về ảnh hưởng

tới thu nhập hay mức sống của hộ khi giới tính của chủ hộ là nam, hoặc nữ Nghiên

Trang 30

cứu tại Philippines của Kondo cùng các cộng sự năm (2007) chỉ ra rằng thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình chủ hộ là nam cao hơn khi chủ hộ là nữ Đặng Thị Phương Thảo (2011) với nghiên cứu ảnh hưởng của tín dụng nhỏ đến thu nhập của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang, cho rằng khi lao động chính trong gia đình là nam thì hiệu quả sử dụng vốn vay thấp hơn những hộ gia đình có lao động chính là

nữ

Dân tộc của hộ: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các hộ là dân tộc thiểu số có thu

nhập thấp hơn hộ người Kinh hay người Hoa Trong điều kiện như nhau, người dân tộc thiểu số có mức chi tiêu thấp hơn người Kinh và người Hoa 13% (Ngô Hải Thanh,

2011 trích từ WB, 2004) Vì phần lớn người dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng kém phát triển; họ ít có điều kiện học hành, thường đông con, ít đất đai và tập quán canh tác còn lạc hậu

Quy mô hộ: là số nhân khẩu trong hộ có tác động tiêu cực tới mức sống của

hộ gia đình Trong giới hạn của đề tài, quy mô hộ là số lao động trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Các nghiên cứu đều cho thấy quy mô hộ tỷ lệ nghịch với thu nhập hộ gia đình Có nghĩa là những hộ gia đình càng đông thì tỷ lệ người phụ thuộc, trẻ em càng cao dẫn đến thu nhập bình quân càng thấp Các nghiên cứu đã chỉ ra điều này là: Arun & các cộng sự (2006), Kondo & các cộng sự (2007), Ngô Hải Thanh (2011)

Số người phụ thuộc: Là số người già, trẻ em, người không có khả năng lao

động trong hộ Các nghiên cứu về nghèo đói của ngân hàng thế giới và các chuyên gia kinh tế phát triển đều nhất trí rằng tỷ lệ phụ thuộc là một yếu tố quan trọng quyết định sự sung túc hay nghèo khó của các hộ gia đình ở các địa phương Tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì thu nhập bình quân, phúc lợi mà mỗi người trong hộ nhận được càng thấp, do một người lao động phải nuôi sống nhiều người hơn

Thời gian cư trú ở địa phương: Việc sinh sống lâu năm ở địa phương cũng có

ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ Nông hộ sống lâu năm ở địa phương có nhiều mối quan hệ quen biết, uy tín, thường được người thân cũng như các tổ chức xã hội

Trang 31

giúp đỡ (vốn và kinh nghiệm sản xuất) khi cần thiết nhờ các mối quan hệ thân tộc và cộng đồng Bên cạnh đó, các hộ này cũng cò điều kiện sinh sống, sản xuất và tích lũy tốt hơn do có thời gian “an cư, lạc nghiệp” lâu hơn (Nguyễn Lan Duyên, 2014)

2.6.3 Nhóm yếu tố liên quan đến năng lực sản xuất

Diện tích đất sản xuất: người dân vùng nông thôn sống chủ yếu dựa vào sản

xuất nông nghiệp Vì vậy, đất đai là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu của các hộ Việc sở hữu nhiều đất đai có thể giúp hộ gia tăng sản xuất, đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi, qua đó cải thiện mức sống tốt hơn Các căn cứ chứng minh cho luận điểm trên là Đinh Phi Hổ (2015), Kondo & các cộng sự (2007)

Trình độ học vấn của chủ hộ: có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng thu nhập

và chi tiêu của cả hộ Trình độ học vấn càng cao thì thu nhập của hộ càng lớn Các nghiên cứu tại Việt Nam và các nghiên cứu nước ngoài như Philippines, Ấn Độ đều

có kết quả như nhau về nhận định này Học vấn quyết định lợi thế của mỗi người trong việc tạo rat hu nhập, bởi vì học vấn cao sẽ dể tiếp thu áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất và tính toán, sử dụng các nguồn lực khác hiệu quả hơn, nắm bắt, xử lý thông tin thị trường tốt hơn, qua đó làm tăng thu nhập

Lao động nông nghiệp: Là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất nông

nghiệp, không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng Trong điều kiện sản xuất ít được

cơ giới hóa thì số lượng lao động nông nghiệp sẽ là yếu tố cơ bản giúp làm tăng thu nhập cho nông hộ Tuy nhiên, do tính thời vụ và trình độ của lao động còn hạn chế nên tình trạng lao động nhàn rỗi ở nông thôn còn khá phổ biến Do đó, nông hộ có thể có nhiều lao động nhưng thu nhập không cao bởi một số lao động không trực tiếp làm ra thu nhập

Vị trí xã hội: Hộ có người tham gia chính quyền hoặc đoàn thể các cấp sẽ có

vốn xã hội tốt hơn Thông qua các mối quan hệ có nhiều thông tin hơn, tranh thủ được các nguồn hỗ trợ về vốn, khoa học kỹ thuật tốt hơn, từ đó có thể có được thu nhập cao hơn

Trang 32

Tóm lại, qua việc tổng quan một số nghiên cứu trước có liên quan, tác giả

nhận thấy rằng phần lớn các nghiên cứu trước thường sử dụng mô hình hồi quy đa biến để ước lượng Các yếu tố tác động đến thu nhập của nông hộ, bao gồm các yếu

tố thuộc về tín dụng chính thức (tham gia tín dụng chính thức, lượng vốn vay, kỳ hạn, lãi suất, …) và các yếu tố khác ngoài tín dụng (diện tích đất, trình độ học vấn, số nhân khẩu trong hộ, lao động, …), có thể được tóm tắt trong bảng sau:

Trang 33

Bảng 2.1 Các yếu tố tác động đến thu nhập qua các kết quả nghiên cứutrước

STT Tên nhân tố Tác giả đã nghiên cứu trước đây

thức Đinh Phi Hổ & Đông Đức (2015), Ngô Hải Thanh (2011)

2 Lượng vốn vay Văn Nam & Âu Vi Đức (2009), Nguyễn Lan Duyên (2014) Bùi Văn Trịnh & Nguyễn Thị Thùy Phương (2014), Mai

3 Kỳ hạn vay Bùi Văn Trịnh & Nguyễn Thị Thùy Phương (2014), Mai Văn Nam & Âu Vi Đức (2009)

4 Lãi suất vay Văn Nam & Âu Vi Đức (2009), Nguyễn Lan Duyên (2014) Bùi Văn Trịnh & Nguyễn Thị Thùy Phương (2014), Mai

5 Vốn vay sử dụng

cho sản xuất

Bùi Văn Trịnh & Nguyễn Thị Thùy Phương (2014), Mai

Văn Nam & Âu Vi Đức (2009)

7 Tuổi của chủ hộ Bùi Văn Trịnh & Nguyễn Thị Thùy Phương (2014), Mai Văn Nam & Âu Vi Đức (2009), Ngô Hải Thanh (2011)

địa phương Ngô Hải Thanh (2011), Nguyễn Lan Duyên (2014)

11 Trình độ học vấn Đinh Phi Hổ & Đông Đức (2015), Mai Văn Nam & Âu Vi Đức (2009), Ngô Hải Thanh (2011), Nguyễn Lan Duyên

16 Vị trí xã hội Lê Xuân Thái (2014), Nguyễn Lan Duyên (2014)

17 Rủi ro của nông

hộ

Bùi Văn Trịnh & Nguyễn Thị Thùy Phương (2014), Mai

Văn Nam & Âu Vi Đức (2009)

18 Thuận lợi về giao

thông Đinh Phi Hổ & Đông Đức (2015), Ngô Hải Thanh (2011)

Trang 34

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU

3.1 Phương pháp nghiên cứu

3.1.1 Phương pháp thống kê mô tả

Từ số liệu điều tra, khảo sát thu thập được tác giả tiến hành mã hóa xử lý bằng phần mền Excell để nhập dữ liệu và phân tích; kết hợp sử dụng phần mềm Stata để

mô tả dữ liệu bằng các đồ thị, sơ đồ để dễ so sánh các dữ liệu; tổng hợp dữ liệu thành các bảng số liệu; thống kê tóm tắt mô tả kết quả nghiên cứu Xây dựng các bảng, biểu

để thống kê, phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng, tác động của tín dụng chính thức

và các yếu tố ngoài tín dụng đến thu nhập của nông hộ

3.1.2 Phương pháp hồi quy đa biến

Sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ, đồng thời đánh giá được mức độ ảnh hưởng của từng nguồn lực đối với thu nhập do các hoạt động sản xuất mang lại, với biến phụ thuộc trong mô hình là thu nhập trung bình của nông hộ

Mô hình được sử dụng trong nghiên cứu này có dạng:

Y = β0 + β1X1 + β2X2 + … + βkXk + ε

Trong đó: Biến phụ thuộc Y là thu nhập trung bình của nông hộ (triệu

đồng/năm); Các biến X1, X2, X3 … X18 là các biến độc lập (biến giải thích)

Ý nghĩa của các biến độc lập và kỳ vọng về dấu của các hệ số βi trong mô hình

được trình bày trong Bảng 3.1

Trang 35

Bảng 3.1 Ý nghĩa của các biến và kỳ vọng về dấu của các hệ số βi

Biến giả, nhận giá trị 1 nếu hộ tham gia tín dụng chính thức, giá trị 0 là

X 8 giotinh Giới tính của chủ hộ Giá trị = 1 nếu chủ hộ là nam, giá trị =2 nếu chủ hộ là nữ +/-

X 9 dantoc Dân tộc của hộ Biến giả, nhận giá trị 1 nếu là dân tộc Kinh, giá trị 0 nếu là dân tộc khác +

X 10 tgcutru Thời gian sống ở địa

X 11 trinhdo Trình độ học vấn của

X 14 laodongnn Số lao động nông

+/-

X 15 dientich Diện tích đất hộ đang

X 16 vitrixh Vị trí xã hội của hộ

Biến giả, nhận giá trị 1 nếu hộ có người tham gia chính quyền/đoàn thể các cấp, giá trị 0 là ngược lại +

X 17 ruiro Rủi ro của nông hộ Biến giả, nhận giá trị 1 nếu bị ảnh

hưởng, giá trị 0 nếu ngược lại -

X 18 giaothong Thuận lợi về giao

thông

Biến giả, nhận giá trị 1 nếu có đường ôtô đi qua nhà, giá trị 0 nếu không có +

Trang 36

3.2 Dữ liệu nghiên cứu

3.2.1 Dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp của đề tài được thu thập từ các nguồn: (1) Niên giám thống kê của tỉnh, huyện qua các năm; các báo cáo chuyên đề, báo cáo tổng kết của ngành nông nghiệp trong tỉnh hàng năm; các báo cáo của UBND huyện: Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Châu Thành đến năm 2020, Báo cáo kết quả thực hiện Đề án chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành giai đoạn 2010-2015 (2) Các báo cáo chuyên đề, báo cáo năm của Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT (3) Ngoài ra, số liệu còn được thu thập trên các bài báo, tạp chí chuyên ngành, các website có liên quan vấn đề nghiên cứu, các

đề tài, dự án nghiên cứu trước đây; các báo cáo khoa học đã được công bố …

3.2.2 Dữ liệu sơ cấp

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 193 nông hộ ở 4

xã (Vĩnh Hòa Hiệp, Minh Hòa, Mong Thọ, Mong Thọ B) thuộc huyện Châu Thành qua bảng câu hỏi được chuẩn bị trước theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích Mỗi xã chọn từ 40 hộ trở lên để khảo sát, kể cả hộ có tham gia tín dụng hay không tham gia, có nhu cầu hay không có nhu cầu vay vốn

Kích cỡ mẫu: Sử dụng phương pháp xác định cỡ mẫu theo tỷ lệ Theo Trần

Tiến Khai (2013), với cách xác định cỡ mẫu theo tỷ lệ ta phải xác định tỷ lệ của tổng thể mà chúng có một thuộc tính cho trước, tỷ lệ này gọi là p Và thay vì sử dụng độ lệch chuẩn, độ biến thiên trong trường hợp này được xác định bằng p x q, trong đó q

là tỷ lệ của tổng thể không có thuộc tính đó, tức là q = (1-p)

Qua khảo sát sơ bộ, biết tỷ lệ nông hộ có tham gia tín dụng chính thức là p=50%; Ước lượng tỷ lệ thực đúng của tổng thể trong phạm vi sai số là 10% (p=0,5±0,10), với mức tin cậy của nghiên cứu là 95%

Trang 37

Mức tin cậy để ước lượng khoảng tin cậy mà ta kỳ vọng tỷ lệ tổng thể đạt được

là 95% Vì vậy, z bằng 1,96 và ta có 0,1 bằng 1,96 x σp Suy ra, σp bằng sai số chuẩn của tỷ lệ có giá trị là (0,1/1,96) = 0,051

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu theo tỷ lệ ta được:

Pq 0,5 x (1-0,5)

σ2 0,0512Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu là 96 mẫu Trong đề tài, số nông hộ được phỏng vấn thu thập thông tin là 193 hộ Với số lượng được khảo sát như vậy đã đủ lớn để đại diện cho tổng số nông hộ trên địa bàn huyện

Bảng 3.2 Cơ cấu mẫu điều tra và cỡ mẫu của nghiên cứu

STT Địa bàn điều tra điều tra Số mẫu Tỷ trọng

- Thông tin về vay vốn, trong đó dụng chính thức và các nguồn khác, thuận lợi, khó khăn…

- Thông tin về sử dụng vốn vay chính thức và 1 số thông tin khác

- Tình hình thu nhập, chi tiêu, tài sản của nông hộ

Trang 38

Lao động nông nghiệp

Thời gian cư trú

Diện tích đất sản xuất

THU NHẬP

Tỷ lệ phụ thuộc Tuổi chủ hộ

Vị trí xã hội

Trang 39

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Châu Thành

Huyện Châu Thành tiếp giáp phía Đông Nam thành phố Rạch Giá - trung tâm hành chính kinh tế của tỉnh Kiên Giang, có diện tích tự nhiên 28.544 ha (trong đó nông nghiệp 24.979ha, chiếm 87,55%, đất phi nông nghiệp 3.564,60 ha, chiếm 12,45%) Toàn huyện có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thị trấn Minh Lương

và 9 xã :Thạnh Lộc, Mong Thọ A, Mong Thọ, Mong Thọ B, Giục Tượng, Vĩnh Hòa Hiệp, Vĩnh Hòa Phú, Bình An, Minh Hòa Dân số là 154.328 người, trong đó dân tộc kinh 94.459 người, chiếm 61,21%, dân tộc Khmer 48.157 người, chiếm 31,2%, dân tộc Hoa 11.603 người, chiếm 7,52% dân số

Năm 2015, tổng giá trị sản xuất ước đạt 13.644 tỷ đồng, tăng 3,04 lần so với năm 2010, trong đó giá trị nông-lâm-thủy sản chiếm 24,36%, thương mại - dịch vụ chiếm 42,52%, công nghiệp - xây dựng chiếm 33,13% Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc rất nhiều vào ngành nông nghiệp, cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của huyện hiện nay là cây lúa

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp: tỷ trọng ngành trồng trọt (chủ yếu là trồng lúa) chiếm 72,78%, chăn nuôi chiếm 21,56%, dịch vụ nông nghiệp và các hoạt động khác chiếm 5,66% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Thời gian qua, huyện đã triển khai nhân rộng nhiều mô hình sản xuất đa canh, luân canh, sản xuất theo hướng VietGAP… đạt kết quả khá tốt, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế hộ, tăng thu nhập trên diện tích sản xuất Sản lượng lương thực 2015 đạt 308 ngàn tấn, khai thác hải sản xa bờ ước đạt 65 ngàn tấn Toàn huyện có 10 Hợp tác xã, trong đó 8 HTX sản xuất nông nghiệp, 168 tổ hợp tác sản xuất Hệ thống thủy lợi khá hoàn chỉnh, hiện nay đã chủ động bơm tát 100% diện tích, trong đó bơm tát tập thể chiếm trên 80% Xây dựng nông thôn mới, có 2 xã đạt chuẩn, 2 xã đạt 17 tiêu chí, còn lại 5 xã đạt từ

13 - 16 tiêu chí

Trang 40

Hình 4.1: Bản đồ hành chính huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên Giang (2015)

Vùng nghiên cứu

Ngày đăng: 30/12/2020, 19:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w